Thực trạng hiệu quả chuyển giao công nghệ bằng xây dựng mô hình trình diễn cho nông dân nuôi trồng thuỷ sản ở Hải Phòng……… 41 2.6.. Khoa học công nghệ phải đi trước một bước để đẩy nhan
Trang 1Tr-ờng đại học khoa học xã hội & nhân văn
Khoa khoa học quản lý
-
Thuyết minh đề c-ơng luận văn
Những yếu tố cản trở hiệu quả chuyển giao công nghệ cho nông dân nuôi
luận văn thạc sỹ
Chuyên ngành quản lý khoa học và công nghệ
hà nội- 2009
Trang 2Tr-ờng đại học khoa học xã hội & nhân văn
Khoa khoa học quản lý
-
Thuyết minh đề c-ơng luận văn
Những yếu tố cản trở hiệu quả chuyển giao công nghệ cho nông dân nuôi
đại học quốc gia hà nội
Tr-ờng đại học khoa học xã hội & nhân văn
luận văn thạc sỹ
Chuyên ngành quản lý khoa học và công nghệ
Mã số: 603472
Giảng viên h-ớng dẫn: PGS.TS Phạm Huy Tiến
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Danh mục chữ viết tắt……… 3
Phần 1 Mở đầu……… 4
1 Lý do chọn đề tài……… 4
2.Tổng quan tình hình nghiên cứu……… 5
3 Mục tiêu nghiên cứu……… 6
4 Phạm vi nghiên cứu……… 6
5 Mẫu khảo sát……… 7
6 Câu hỏi nghiên cứu……… 7
7 Giả thuyết nghiên cứu……… 7
8 Phương pháp chứng minh giả thuyết……… 7
9 Kết cấu luận văn……… 11
Phần 2 Nội dung nghiên cứu……… 12
Chương 1 Cơ sở lý luận……… 12
1.1 Một số khái niệm về công nghệ và chuyển giao công nghệ………… 12
1.2 Chuyển giao công nghệ trong nuôi trồng thuỷ sản……… 18
1.3 Vai trò của việc xây dựng mô hình trình diễn để CGCN trong NTTS 21 Chương 2 Thực trạng chuyển giao công nghệ cho nông dân nuôi trồng thuỷ sản ở Hải Phòng………
27 2.1.Vài nét về địa bàn nghiên cứu……… 27
2.2 Khái quát về tình hình nuôi trồng thuỷ sản ở Hải Phòng……… 28
Trang 42.3 Đặc điểm chuyển giao công nghệ cho nông dân nuôi trồng thuỷ sản ở
Hải Phòng………
30 2.4 Thực trạng các hình thức chuyển giao công nghệ cho nông dân nuôi trồng thuỷ sản ở Hải Phòng………
33 2.5 Thực trạng hiệu quả chuyển giao công nghệ bằng xây dựng mô hình trình diễn cho nông dân nuôi trồng thuỷ sản ở Hải Phòng………
41 2.6 Đánh giá hiệu quả chuyển giao công nghệ bằng xây dựng mô hình trình diễn cho nông dân nuôi trồng thuỷ sản ở Hải Phòng………
63 Chương 3 Xây dựng mô hình trình diễn để nâng cao hiệu quả chuyển giao công nghệ cho nông dân nuôi trồng thuỷ sản ở Hải Phòng………
65 3.1 Các căn cứ để xây dựng mô hình trình diễn……… 65
3.2 Các giải pháp mang tính vĩ mô của Nhà nước để xây dựng mô hình trình diễn………
67 3.3 Các giải pháp từ phía các đơn vị làm công tác chuyển giao công nghệ 69 3.4 Các giải pháp về phía nông dân tiếp nhận công nghệ……… 72
3.5 Kết quả thực hiện một số giải pháp……… 73
Phần 3 Kết luận và khuyến nghị……… 84
1 Kết luận……… 84
2 Khuyến nghị……… 85
Tài liệu tham khảo……… 87
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CHNTTS Chi hội nuôi trồng thuỷ sản
Trang 6PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thành phố Hải Phòng là trung tâm nghề cá của vùng Duyên Hải Bắc
Bộ Đây là thành phố loại 1 cấp quốc gia Trung ương đã có nghị quyết số 32- NQ/TƯ ngày 5/8/2003 của Bộ chính trị về phát triển Hải Phòng, xác định ngành nuôi trồng thuỷ sản là ngành kinh tế mũi nhọn, trong đó phát triển nuôi trồng thuỷ sản là trọng tâm Thành phố có Nghị quyết 06-NQ/TU ngày 20/10/2006 và chương trình hành động theo Quyết định 321/QĐ- UBND ngày
28 tháng 2 năm 2008 về phát triển thuỷ sản
Hiện nay, Hải Phòng có khoảng 40.000ha có khả năng nuôi trồng thuỷ sản, trong đó đã đưa vào nuôi 17.000ha, Nghị quyết 06- NQ/TU của Thành uỷ
đã khẳng định “Trọng tâm phát triển ngành nuôi trồng thuỷ sản theo hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá Khoa học công nghệ phải đi trước một bước
để đẩy nhanh quá trình này”
Chuyển giao công nghệ trong nuôi trồng thuỷ sản tạo nên những cơ hội tốt đẹp cho nông dân nếu học làm chủ được công nghệ Ngược lại, chuyển giao công nghệ sẽ là nguy cơ lớn nếu không thành công Nó sẽ đẩy người nông dân vào tình trạng có công nghệ song kinh tế không tăng trưởng tương ứng với mức đầu tư, vốn vay cho mua trang thiết bị, chi phí giống, thức ăn, chế phẩm sinh học khác để phục vụ sản xuất không trả được, làm cho mức sống của người nông dân không được nâng lên mà còn tiềm ẩn những nguy
cơ nhất định
Chuyển giao công nghệ trong nuôi trồng thuỷ sản cho nông dân chỉ kết thúc khi đã nắm vững và sử dụng nó có hiệu quả Vì vậy, nâng cao hiệu quả chuyển giao công nghệ trong nuôi trồng thuỷ sản là việc làm rất cần thiết Tuy nhiên, việc làm này ở Hải Phòng còn nhiều vấn đề chưa hợp lý, dẫn đến chất
Trang 7quả chuyển giao công nghệ, thực hiện có hiệu quả hơn ngành kinh tế mũi nhọn nuôi trồng thuỷ sản theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá
Vì lý do thực tiễn chuyển giao công nghệ của địa phương Hải Phòng
còn nhiều vấn đề chưa hợp lý, chúng tôi chọn nội dung nghiên cứu “Nâng
cao hiệu quả chuyển giao công nghệ cho nông dân nuôi trồng thuỷ sản bằng mô hình trình diễn”
Về ý nghĩa khoa học, đề tài sẽ góp phần hiện thực hoá các lý thuyết của chuyên ngành quản lý khoa học công nghệ trong nông nghiệp nông thôn nói chung và thuỷ sản nói riêng Vấn đề thực tiễn của đề tài giúp cho các nhà quản lý, nhà khoa học hoạch định chính sách đúng đắn hơn, đưa ra những quyết định chính xác, hiệu quả
Đối với người nông dân, đề tài hướng đến việc áp dụng công nghệ ở cấp cơ sở, để nông dân có hướng lựa chọn phương thức ứng dụng công nghệ, học tập, thực hành phục vụ phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chuyển giao công nghệ cho nông dân nuôi trồng thuỷ sản là một lĩnh vực được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Ở những góc độ khác nhau của ngành, đã có những nhà nghiên cứu đi sâu vào từng chuyên đề như: đề tài của
thành phố “Đánh giá môi trường chiến lược để phát triển ngành nuôi trồng
thuỷ sản Hải Phòng đến năm 2010” PGS.TS Trịnh Thị Thanh, Khoa Môi
trường, Trường Đại học khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội [2003]
Đề tài trọng tâm đưa ra dự báo môi trường, trong đó có dự báo nhu cầu chuyển giao công nghệ trong nuôi trồng thuỷ sản ở Hải Phòng Đề tài của
thành phố: “Đánh giá hiệu quả chuyển đổi mô hình ruộng trũng sang nuôi
trồng thuỷ sản ở Hải Phòng CN Vũ Minh Hào, Viện tài nguyên môi trường
biển [2007] Đề tài nghiên cứu hiệu quả mô hình chuyển đổi, đề xuất giải pháp mô hình chuyển giao công nghệ nuôi trồng thuỷ sản
Trang 8Trong cơ quan chuyên môn làm công tác chuyển giao công nghệ, có đề tài nghiên cứu: “Đánh giá hoạt động khuyến ngư về chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển thuỷ sản ở Việt nam” của TS Nguyễn Huy Điền, Giám đốc Trung tâm khuyến ngư Quốc gia, đề tài tập trung vào đánh giá kết quả tiếp nhận công nghệ, tác động của chuyển giao công nghệ đến môi trường Kết quả nghiên cứu đề tài định hướng vào chuyển giao công nghệ trong xây dựng
575 mô hình ương, nuôi cá Kết luận của đề tài đánh giá cụ thể tác động chuyển giao công nghệ trong 4 năm, từ năm 2001 đến năm 2004 trong chương trình chuyển giao công nghệ của Trung tâm khuyến ngư Quốc gia
Trung tâm khuyến ngư Hải Phòng có chuyên đề về chuyển giao công nghệ qua các mô hình trình diễn, báo cáo tổng kết 10 năm công tác khuyến ngư chuyển giao công nghệ cho nông dân 1993- 2003 Bài đăng tin trên báo khuyến ngư: Phương pháp khuyến ngư, nhiệm vụ của khuyến ngư trong việc xây dựng mô hình trình diễn…
Các công trình nghiên cứu và báo cáo, bài báo nêu trên đề cập đến rất nhiều vấn đề về chuyển giao công nghệ, ứng dụng công nghệ, giải pháp, định hướng trong chuyển giao công nghệ Nhưng cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào chuyên sâu về chuyển giao công nghệ cho nông dân nuôi trồng thuỷ sản Đặc biệt, về mặt triển khai và xây dựng mô hình để chuyển giao công nghệ cho nông dân, đồng thời so sánh đối chiếu đánh giá việc triển khai mô hình, thực hiện mô hình với các hình thức chuyển giao công nghệ khác
3 Mục tiêu nghiên cứu
Nâng cao hiệu quả chuyển giao công nghệ cho nông dân nuôi trồng thuỷ sản ở Hải Phòng
4 Phạm vi nghiên cứu
Quy mô và tính chất: Nghiên cứu giới hạn trong phạm vi ngành nuôi
Trang 9- Không gian: Thành phố Hải Phòng
- Thời gian: 5 năm
+ Nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả chuyển giao công nghệ cho nông dân nuôi trồng thuỷ sản ở Hải Phòng
+ Giải pháp nâng cao hiệu quả chuyển giao công nghệ cho nông dân nuôi trồng thuỷ sản bằng xây dựng mô hình trình diễn ở Hải Phòng
5 Mẫu khảo sát
- Trung tâm khuyến ngư Hải Phòng
- Trung tâm chuyển giao công nghệ thuỷ sản và thuỷ sinh vật Miền Bắc
- Phòng kĩ thuật nuôi, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
- Trung tâm giống Thuỷ sản Hải Phòng
- Phòng Nông nghiệp, Kinh tế các quận huyện
- Cộng đồng nông dân làm nghề NTTS
6 Câu hỏi nghiên cứu
Làm thế nào để nâng cao hiệu quả chuyển giao công nghệ cho nông dân nuôi trồng thuỷ sản ở Hải Phòng?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Chuyển giao công nghệ cho nông dân bằng mô hình trình diễn phù hợp với thực tiễn sản xuất Tạo mọi điều kiện thúc đẩy nhanh các hình thức nhân
rộng mô hình
8 Phương pháp chứng minh giả thuyết
Kết hợp các phương pháp chủ yếu sau:
- Điều tra phân tích tài liệu: Tổng hợp các nguồn tài liệu trong nước và
nước ngoài có liên quan đến chuyển giao công nghệ, xây dựng mô hình trình diễn (MHTD) trong nuôi trồng thuỷ sản Tổng hợp tìm các tài liệu, đề tài, báo
cáo, khai thác thông tin trên mạng Internet
Trang 10- Khảo sát thực tế: Chọn mẫu 400 nông dân chưa được tập huấn NTTS
và 400 nông dân được tập huấn nuôi trồng thuỷ sản, ở ba khu vực tiêu biểu nuôi trồng thuỷ sản nước lợ, mặn, ngọt Khảo sát 40 người đã được xây dựng
mô hình trình diễn
- Phỏng vấn 9 chuyên viên quản lý thuỷ sản của 9 quận huyện Phỏng
vấn sâu 6 người là nhà quản lý làm chuyển giao công nghệ của 6 cơ quan tiêu biểu có liên quan đến chuyển giao công nghệ, xây dựng mô hình cho nông
dân trên địa bàn Hải Phòng
- Trong trường hợp có hạn chúng tôi chỉ chú trọng vào các nội dung: tập huấn kỹ thuật, xây dựng mô hình, hội thảo, hội nghị, hội thi, hội chợ
- Thực hiện điều tra bằng cách trưng cầu ý kiến qua bảng hỏi, phỏng vấn để ghi chép điền vào bảng hỏi
- Trong khi thực hiện đề tài, chúng tôi khảo sát trực tiếp các mô hình
trình diễn Tuy nhiên, quá trình thực nghiệm không được đủ thời gian là 5 năm Chính vì vậy, chúng tôi thí điểm giải pháp mà chúng tôi có thể thực hiện được Trong đó chúng tôi chọn chủ yếu các giải pháp của các cơ quan làm công tác CGCN Đó là xây dựng mô hình và thúc đẩy nhanh các giải pháp
nhân rộng mô hình
- Vì có điều kiện về tài chính nên chúng tôi tổ chức 5 cuộc hội thảo phục vụ cho đề tài:
+ Hội thảo ứng dụng công nghệ trong khu vực nông nghiệp nông thôn
ở Huyện Thuỷ Nguyên
+ Hội thảo Bàn về ứng dụng công nghệ trong nuôi tôm sú ở Quận Hải An + Hội thảo Giải pháp nhân rộng mô hình công nghệ ở huyện Thuỷ Nguyên + Hội thảo Bàn về phát triển nuôi thuỷ sản ở Quận Dương Kinh
+ Hội thảo ứng dụng, nhân rộng mô hình ở khu vực chuyển đổi ruộng
Trang 11+ Ký kết chương trình kế hoạch khung, chuẩn bị thủ tục với các tổ chức
để có kinh phí, cho các hộ nông dân làm mô hình vay vốn ưu đãi của ngân hàng, kết hợp với vốn tự có của chủ mô hình để có đủ kinh phí xây dựng và nhân rộng mô hình
+ Thí điểm thúc đẩy nhanh nhân rộng mô hình bằng cách: tăng cường, thông tin tuyên truyền, học tập đầu bờ, thăm quan, tổng kết Tập trung đào tạo nâng cao trình độ vận hành quy trình cho nông dân theo hướng thực nghiệm, thực hành phù hợp với các chương trình xây dựng ở địa phương
+ Khoảng biến thiên: R= Xmax- Xmin
Trong đó R: Khoảng biến thiên
Xmax: Lượng biến thiên lớn nhất
Xmin: Lượng biến thiên nhỏ nhất
* Luận cứ lý thuyết
- Hiện nay, có nhiều hình thức được coi là chuyển giao công nghệ cho
nông dân nuôi trồng thuỷ sản khác nhau như: Tập huấn, toạ đàm, hội nghị, hội
Trang 12thảo, hội thi, hội chợ, @ công nghệ…nhưng nông dân chưa có khả năng tiếp cận, học tập nên xây dựng mô hình trình diễn để chuyển giao công nghệ cho nông dân nuôi trồng thuỷ sản có hiệu quả hơn;
- Người nông dân nuôi trồng thuỷ sản trong nhóm xã hội có trình độ dân trí thấp, quen lao động chân tay hơn lao động trí óc nên xây dựng mô hình trình diễn thì phù hợp hơn với trình độ, tập quán địa phương hơn những hình thức chuyển giao khác; Xây dựng mô hình trình diễn người nông dân được học tập và thao tác, phối hợp thực hiện với các cơ quan, tổ chức có chuyên môn, với cán bộ của bên giao nên mang tính thiết thực, cụ thể cho bên nhận công nghệ là nông dân;
- Thực hiện mô hình trình diễn nâng cao được trách nhiệm của nông dân và cán bộ chuyển giao kĩ thuật, vì họ cùng phải trao đổi, bàn luận, phân tích đầu tư kinh phí, thời gian, lao động, hoạch toán kinh tế… nên có hiệu quả hơn;
- Thực hiện mô hình trình diễn, người nông dân có cơ hội được hỗ trợ một phần kinh phí, được tiếp cận các nguồn vốn vay nhờ sự cam kết của chính quyền địa phương, các tổ chức ngân hàng và bên chuyển giao công nghệ
- Bên chuyển giao công nghệ đưa được công nghệ vào sản xuất, đồng thời tiếp tục hoàn thiện quy trình để phù hợp hơn với điều kiện kinh tế xã hội, điều kiện tự nhiên của nông dân, địa phương
* Luận cứ thực tế: Luận cứ có được từ:
- Phân tích, tổng hợp tài liệu có liên quan
- Kết quả điều tra khảo sát, lập phiếu điều tra, bảng câu hỏi, phỏng vấn các cơ quan chuyên môn, chuyên gia có liên quan và cộng đồng nông dân
nuôi trồng thuỷ sản ở Hải Phòng
+ Thực trạng chuyển giao và tiếp nhận công nghệ nuôi trồng thuỷ sản ở Hải Phòng;
Trang 139 Kết cấu của luận văn
Luận văn được chia thành 3 phần chính:
Phần 1 Mở đầu
Phần 2 Nội dung nghiên cứu
Chương 1 Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2 Thực trạng chuyển giao công nghệ cho nông dân nuôi trồng thuỷ sản ở Hải Phòng
Chương 3 Xây dựng mô hình trình diễn để nâng cao hiệu quả chuyển giao công nghệ cho nông dân nôi trồng thuỷ sản ở Hải Phòng
Phần 3 Kết luận và khuyến nghị
Trang 14PHẦN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Một số khái niệm về công nghệ và chuyển giao công nghệ
1.1.1 Khái niệm công nghệ
Trong thực tế có nhiều khái niệm khác nhau của công nghệ Tuỳ theo góc độ nghiên cứu, tiếp cận mà có các khái niệm khác nhau Theo từ điển
bách khoa Việt Nam tập 1 “Công nghệ là môn khoa học ứng dụng, nhằm vận
dụng các quy luật của tự nhiên và nguyên lý khoa học, đáp ứng nhu cầu vật chất tinh thần của con người” Công nghệ là phương tiện kĩ thuật, là sự thể
hiện vật chất hoặc các tri thức ứng dụng khoa học Công nghệ là một tập hợp các tri thức, các phương pháp dựa trên cơ sở khoa học và được sử dụng vào sản xuất trong các ngành sản xuất khác nhau để tạo ra sản phẩm vật chất và
dịch vụ [18, tr 583]
Trong một số tài liệu, công nghệ thường được hiểu là quá trình tiến hành một công đoạn sản xuất, là thiết bị để thực hiện một công việc nên nó thường đi theo cụm từ: quy trình công nghệ, thiết bị công nghệ, dây chuyền công nghệ Cách hiểu này được định nghĩa theo quan điểm của Liên Xô trước đây “Công nghệ là tập hợp các phương pháp gia công, chế tạo làm thay đổi trạng thái, tính chất, hình dáng nguyên vật liệu hay bán thành phẩm sử dụng trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh” Theo quan niệm này công nghệ chỉ liên quan đến sản xuất vật chất
Mặc dù được sử dụng khá rộng, nhưng khái niệm công nghệ còn sử dụng chưa thống nhất Có khía cạnh đề cập đến khả năng làm ra đồ vật Khía cạnh thứ hai, nhấn mạnh công nghệ là một sản phẩm của con người Ở khía canh kiến thức thì lại bác bỏ quan niệm công nghệ là vật thể mà phải là kiến thức Theo Trung tâm chuyển giao công nghệ khu vực Châu Á và Thái Bình
Trang 15coi công nghệ hàm chứa trong 4 thành phần: kỹ thuật (technoware), kĩ năng con người (humanware), thông tin (inforware) và tổ chức(orgaware) Uỷ ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á- Thái Bình Dương (Economic and Social
Commission for Asian and the Pacific- ESCAP) đưa ra khái niệm: Công nghệ
là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin Nó bao gồm kiến thức, kĩ năng, thiết bị, phương pháp và các hệ
thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ” Theo khái niệm này, không chỉ sản xuất vật chất mới dùng công nghệ, mà khái niệm công nghệ được mở rộng ra tất các lĩnh vực hoạt động của xã hội Trong nhiều trường hợp khi cần thiết, người ta vẫn thừa nhận khái niệm công nghệ khác
cho một mục đích nào đó Trong luật khoa học công nghệ Việt Nam “Công
nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kĩ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”
Trong khái niệm này cần lưu ý: Công nghệ là tập hợp chứ không phải
là tổng số; nguồn lực bao gồm vật lực, nhân lực, tài lực; Sản phẩm bao gồm hữu hình và vô hình, dưới dạng vật thể và phi vật thể
* Các bộ phận cấu thành của một công nghệ
- Công nghệ hàm chứa trong các vật thể;
- Công nghệ hàm chứa trong kỹ năng công nghệ của con người làm việc trong công nghệ;
- Công nghệ hàm chứa trong khung thể chế để xây dựng cấu trúc tổ chức;
- Công nghệ hàm chứa trong các dữ liệu đã được tư liệu hoá được sử dụng trong công nghệ [2, tr.8-11]
1.1.2 Khái niệm chuyển giao công nghệ
Theo luật chuyển giao công nghệ: Chuyển giao công nghệ (CGCN) là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công
Trang 16nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ [18, điều 3]
Có những khái niệm mang tính rộng hơn, chuyển giao công nghệ là việc đưa kiến thức, kĩ thuật ra khỏi ranh giới nơi sản sinh ra nó Theo quan điểm quản lý công nghệ: Chuyển giao công nghệ là tập hợp các hoạt động thương mại và pháp lý nhằm làm cho bên nhận công nghệ có được năng lực công nghệ như bên giao công nghệ, trong khi sử dụng công nghệ đó vào một mục đích đã định Theo quan điểm thương mại, chuyển giao công nghệ là hình thức mua và bán công nghệ trên cơ sở hợp đồng CGCN đã được thoả thuận phù hợp với các quy định của pháp luật Bên bán có nghĩa vụ chuyển giao các kiến thức tổng hợp của công nghệ hoặc cung cấp các thiết bị máy móc, dịch vụ, đào tạo…kèm theo các kiến thức công nghệ cho bên mua và bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, để tiếp thu sử dụng các kiến thức công nghệ đó theo các điều kiện đã thoả thuận ghi nhận trong hợp đồng chuyển giao công nghệ
Theo luật chuyển giao công nghệ: Chuyển giao công nghệ là chuyển
giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao sang bên nhận công nghệ [2, tr.217]
Như vậy, có thể hiểu khái niệm công nghệ một cách rộng hơn là: quá trình đưa công nghệ từ một môi trường này sang môi trường khác bằng mọi hình thức khác nhau Cách hiểu hẹp hơn CGCN là mua bán thương mại: Nó gồm hai phần, phần cứng (máy móc, thiết bị), phần mềm (quy trình, công thức, bí quyết) Phạm trù chuyển giao công nghệ chủ yếu thuộc phần mềm của công nghệ, còn thiết bị máy móc thuộc về phần cứng được mua bán theo cách thương mại bình thường Tuy nhiên, do phầm mềm được thể hiện thông qua các phương tiện, thiết bị nên CGCN phải giải quyết mối quan hệ giữa hai
Trang 17Theo luật chuyển giao công nghệ, điều 18, chuyển giao công nghệ bao gồm:
- Chuyển giao tài liệu về công nghệ;
- Đào tạo cho bên nhận công nghệ nắm vững và làm chủ công nghệ theo thời hạn trong hợp đồng đã định;
- Cử chuyên gia tư vấn kỹ thuật cho bên nhận công nghệ, đưa công nghệ vào sản suất với chất lượng sản phẩm đạt các chỉ tiêu và tến độ trong hợp đồng
Theo phân loại các hoạt động khoa học công nghệ thì có ba hoạt động KHCN chính là: Nghiên cứu triển khai, chuyển giao công nghệ và dịch vụ KHCN, tương ứng với ba loại hình hoạt động là các loại hình tổ chức (Hình 1) [8, tr 30- 31]
Có hai cách chuyển giao cơ bản:
- Chuyển giao dọc: Chuyển giao từ khuc vực nghiên cứu và triển khai (R&D) vào khu vực sử dụng
Chuyển giao dọc có ưu điểm là mang đến cho bên nhận một công nghệ hoàn toàn mới, nhưng có độ rủi ro cao
- Chuyển giao ngang: Công nghệ được chuyển giao đã vào thị trường
Nó có ưu điểm là rủi ro thấp hơn chuyển giao dọc, nhưng phải chấp nhận cạnh tranh
Về hình thức chuyển giao đang phổ biến 3 hình thức:
- Chuyển giao công nghệ không kèm theo hợp đồng licence, trường hợp này không đòi hỏi giấy phép về quyền sử dụng, không ràng buộc pháp lý giữa hai bên
Trang 18Hình 1 Vị trí của chuyển giao công nghệ trong hoạt động khoa học
công nghệ(cơ sở để phân loại tổ chức KHCN)
- Chuyển giao có kèm theo hợp đồng licence Đây là CGCN có kèm
theo ràng buộc về pháp lý
- Chuyển giao công nghệ có phối hợp đầu tư vốn Đây là trường hợp
hai bên cùng ăn chia sản phẩm, lợi nhuận về kinh tế hay lợi ích xã hội
Có 4 mức chuyển giao công nghệ khác nhau:
- Trao kiến thức: Chuyển giao chỉ dừng lại ở việc huấn luyện, truyền
NC chuyên đề
NC nền tảng (ĐTCB)
Hoạt động KHCN
NCCB thuần tuý
NC định hướng
Trang 19- Trao chìa khoá: Đây là cách nói hình tượng, bên chuyển giao hoàn thành lắp đạt thiết bị, hướng dẫn quy trình, công thức, bí quyết cho đến hoàn tất toàn bộ sản xuất
- Trao sản phẩm: Trường hợp này bên nhận muốn bên giao có thêm trách nhiệm Trường hợp này rất phổ biến trong CGCN
- Trao thị trường: Bên nhận gánh thêm phần trách nhiệm bàn giao một khu vực mà bên giao công nghệ đang có phát triển khả quan Đây là phương thức dẫn đến sự phối hợp đầu tư và nó dễ dàng thoả thuận khi hai bên đều có quyền lợi, nghĩa vụ [10, tr.20-26]
1.1.2 Khái niệm về mô hình trình diễn chuyển giao công nghệ trong nuôi trồng thuỷ sản
Mô hình: là hình mẫu, điển hình hoá những mối quan hệ đặc trưng
quan trọng nhất mang tính bản chất của các sự vật hiện tượng, của các quá trình diễn ra trong tự nhiên và trong đời sống xã hội [10, tr 24-25]
Do tính chất điển hình hoá, nên khi nói đến mô hình người ta dễ hình dung ra những đặc trưng quan trọng nhất của sự vật hiện tượng và những mối liên hệ chủ yếu của bản thân sự vật đó Vì vậy, có thể thử nghiệm mô hình đó vào thực tiễn và nhân rộng nó trở thành phổ biến hoặc có thể thu hẹp, xoá bỏ nếu thấy mô hình đó kém hiệu quả, không phù hợp với thực tiễn
Mô hình trình diễn trong nuôi trồng thuỷ sản là điển hình hoá của công nghệ nuôi, nó có đặc trưng cơ bản:
- Mô hình trình diễn nuôi trồng thuỷ sản ( NTTS) là một hình thức hoạt động cụ thể nào đó được tái tạo lại hoặc mới được tạo ra tại một điểm trong khu vực hất định nhằm làm mẫu để nghiên cứu, rút kinh nghiệm, tham quan học tập, từ đó có thể nhân ra diện rộng [5, tr 21]
- Mô hình trình diễn nuôi trồng thuỷ sản ở dạng triển khai thử nghiệm hoặc sản xuất bán đại trà của công nghệ, hoặc ở diện mở rộng công nghệ
Trang 20trong áp dụng bán đại trà và đại trà Trong đó có bên giao và bên nhận: bên giao là các cơ quan nghiên cứu, đơn vị sự nghiệp, các đơn vị thuộc ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, bên nhận thường là nông dân ở vùng nông thôn có diện tích nuôi trồng Cơ quan làm chuyển giao công nghệ cho nông dân chính ở nông thôn thường là Trung tâm khuyến ngư, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các hội, chi hội, câu lạc bộ chuyên ngành nuôi trồng thuỷ sản
- Trong các hoạt động chuyển giao công nghệ nuôi trồng thuỷ sản có nhiều quan điểm khác nhau Quan điểm thứ nhất, cho rằng đây chỉ là hướng dẫn kỹ thuật thuần tuý Quan điểm thứ hai, cho là chuyển giao kỹ thuật tiến
bộ Quan điểm thứ ba, cho là huấn luyện kỹ thuật và kèm theo đầu tư Quan điểm thứ tư, cho rằng đây là một hình thức của chuyển giao công nghệ
1.2 Chuyển giao công nghệ trong nuôi trồng thuỷ sản
1.2.1 Đặc điểm chuyển giao công nghệ cho nông dân nuôi trồng thuỷ sản
Vì chuyển giao công nghệ cho nông dân nuôi trồng thuỷ sản nên có những đặc điểm riêng như sau:
- Nông dân ở nông thôn thường có trình độ dân trí thấp, ở nhóm xã hội tiếp cận thông tin kém Nên cần lựa chọn công nghệ phù hợp với các điều kiện kinh tế xã hội của nông dân; mới đầu phải làm một vài mô hình nhỏ sau
đó hướng dẫn kỹ thuật, cho thăm quan học tập, làm thử, tiếp đến thì mới chuyển giao công nghệ và mở rộng công nghệ;
- Do nông dân thiếu vốn, tư liệu sản xuất hạn chế, nên chọn mức độ đầu tư thu hồi vốn nhanh, đưa công nghệ tận dụng sản phẩm sẵn có của nông dân như: cỏ, rau, cám, các loại phụ phẩm khác thì nông dân dễ tiếp nhận hơn
là công nghệ cao theo hướng thâm canh sử dụng máy công nghiệp;
- Trình độ nhận thức hạn chế, khó đưa công nghệ cao vào ngay cho
Trang 21đến với nông dân phải tập huấn kỹ thuật chi tiết, hướng dẫn nhiều lần, dẫn đến những nơi đã làm, đang làm để cùng thuyết phục người dân về hiệu quả kinh tế;
- Chuyển giao công nghệ cho nông dân thường phải cùng với vận động quần chúng, vận động về mặt tư tưởng Với nông dân, chưa chắc có lợi
về kinh tế họ đã làm theo, mà phải tìm thấy điểm chung của hoàn cảnh xã hội, làng xã, văn hoá, thói quen để họ sẵn sàng tiếp nhận công nghệ mới
- Chuyển giao công nghệ cho nông dân thường kèm theo đầu tư, hỗ trợ và có các tổ chức chính trị xã hội hoặc tổ chức xã hội nghề nghiệp đứng ra bảo lãnh, thế chấp để cùng vận động, chỉ đạo chương trình Đây là đặc điểm riêng chỉ nông dân mới thể hiện rõ nhất Vì không có những đầu tư đi kèm thì công nghệ ấy sẽ bị méo mó đi, hoặc chuyển thể ở dạng khác ngay sau khi ký hợp đồng triển khai
- Chuyển giao công nghệ cho nông dân thuỷ sản thường miễn phí chuyển giao, hợp đồng ràng buộc có mức dao động tương đối Vì nuôi trồng thuỷ sản phụ thuộc nhiều vào mùa vụ, thời tiết, tính rủi ro cao [7, tr 87-92]
1.2.2 Các hình thức chuyển giao công nghệ cho nông dân nuôi trồng thuỷ sản
Hình thức chuyển giao công nghệ cho nông dân rất đa dạng và phong phú Nhưng phổ biến nhất là dạng CGCN kèm theo đầu tư Đầu tư ở đây có thể là đầu tư toàn bộ hoặc đầu tư một phần con giống, thức ăn Kỹ thuật trong công nghệ thường hướng dẫn miễn phí
Ở dạng thực hiện có hợp đồng thì chủ yếu ràng buộc ở dạng pháp lý
để có điều kiện bên giao phổ biến rộng công nghệ, có quyền tham gia, quyết định mức độ phổ biến, thông tin tuyên truyền Ở dạng cùng góp vốn nhưng thường không phân chia lợi nhuận, thị trường; Bên giao là các đơn vị sự nghiệp hoặc quản lý nhà nước được hỗ trợ về ngân sách Với tổ chức chính
Trang 22trị- xã hội thì thực hiện theo chương trình miễn phí với mục đích: mở rộng công nghệ dưới dạng mô hình để nhiều người được tiếp cận kỹ thuật mới, công nghệ mới có hiệu quả hơn
Với hình thức chuyển giao: chuyển giao dọc thường ở các trung tâm nghiên cứu chuyển cho nông dân như: Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản, Trạm nghiên cứu của các tổ chức, Trung tâm nghiên cứu ứng dụng Nhiều chuyên gia cho rằng, chuyển giao dọc đến với nông dân là rất khó, vì lý do nông dân chưa thể nhận thức đầy đủ nên chưa phân tích được tính khả thi của công nghệ Nông dân thường phải chắc chắn về mặt lợi nhuận họ mới đầu tư Như vậy, chuyển giao ngang phù hợp với người dân, nhưng xác định đối tượng mới, công nghệ mới để đưa vào từng khu vực tính cạnh tranh của công nghệ không cao, sản phẩm nhanh bão hoà trên thị trường…
Hiện nay, ở trong nuôi trồng thuỷ sản có hình thức chuyển giao công nghệ bằng tập huấn kỹ thuật Ở dạng này có nhiều chuyên gia cho rằng, nó không còn là huấn luyện đơn thuần mà ở dạng CGCN Vì mỗi công nghệ thường kèm theo quy trình kỹ thuật, mà ở dạng quy trình kèm theo các kỹ năng, bí quyết, phương pháp để có được sản phẩm tương tự thì nó ở dạng CGCN Nên có nhiều quan điểm cho là công nghệ (phần mềm) ở dưới dạng này phần mềm chính là công nghệ
Các hình thức thăm quan học tập, tổng kết, hội thảo đầu bờ, thông tin, hội thi… Ở mức độ khác nhau có quan điểm cho là một hình thức chuyển giao công nghệ, nhưng ở mức độ không có liên hệ chặt chẽ ràng buộc về mặt pháp lý; có thể chuyển giao một phần trong quy trình sản xuất hoặc toàn bộ quy trình ở dưới dạng bản vẽ, sơ đồ, quy trình, thuyết trình…
1.2.3 Chuyển giao công nghệ bằng xây dựng mô hình trình diễn trong nuôi trồng thuỷ sản
Trang 23Đây là dạng chuyển giao công nghệ có ràng buộc về mặt pháp lý Bên chuyển giao là các cơ quan chuyên môn có chức năng như: Viện nghiên cứu, Trung tâm khuyến ngư, Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, các tổ chức Hợp Tác xã (HTX), hội, chi hội, câu lạc bộ (CLB) Mô hình trình diễn này thường là đối tượng mới, quy trình mới hoặc phương pháp mới được các
cơ quan đơn vị chuyển cho nông dân Khi đưa ra thực hiện hai bên có thực hiện một số hợp đồng nhưng thường là hợp đồng ở dạng miễn phí chuyển giao, bên giao kèm theo đầu tư vốn, kỹ thuật Thường ở dạng này bên giao đưa công nghệ mới có năng suất cao, giá trị kinh tế cao hơn cho nông dân với sản xuất thành sản phẩm đến khi thu hoạch, thị trường thì cho bên nhận tự quyết định
Công nghệ được chuyển giao dưới dạng mô hình trình diễn là ở dạng thử nghiệm hoặc sản xuất bán đại trà, đại trà Sau khi triển khai công nghệ nông dân có quyền chuyển công nghệ ấy cho người khác; Các cơ quan, đơn vị mong muốn công nghệ ấy được nhân rộng ra càng nhiều càng tốt Đây là một đặc điểm khác biệt với CGCN trong các lĩnh vực khác
1.3 Vai trò của việc xây dựng mô hình trình diễn để chuyển giao công nghệ trong nuôi trồng thuỷ sản
1.3.1 Vai trò của mô hình trình diễn đối với cơ quan chuyển giao công nghệ
Khi thực hiện CGCN cho nông dân trong nuôi trồng thuỷ sản bên giao công nghệ là các Viện, Trung tâm, các cơ quan đơn vị đồng thời thực hiện được công nghệ, thử nghiệm thực tế theo nhiều quy mô, hình thức khác nhau mà ở điều kiện thí nghiệm không thể thực hiện được Các cơ quan tổ chức này CGCN nhưng đồng thời sửa những khuyết điểm của công nghệ trong khi áp dụng Đối với các cơ quan làm mục đích chính sách, xã hội nhờ
có MHTD trong nuôi trồng thuỷ sản thực hiện các mục tiêu chính sách xã hội, phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo
Trang 24Trong chuyển giao công nghệ làm cho chi phí của sản xuất thử nghiệm
rẻ hơn, bao gồm chi phí về nhân công, vật liệu và cơ sở hạ tầng khác Trong nuôi thuỷ sản, nhiều cơ quan CGCN với mục đích bán sản phẩm thức ăn, giống, chế phẩm sinh học, các loại thuốc phòng trị bệnh; bán phụ tùng thay thế, tận dụng nguồn lao động dôi dư của địa phương; Đồng thời đây là một cách để thâm nhập vào thị trường
Một việc rất quan trọng khác là, khi đầu tư CGCN cho nông dân các cơ quan, đơn vị thường được miễn các loại thuế, được ưu đãi đầu tư, ưu đãi về đất đai, mặt bằng… Các ngân hàng, các sơ quan cùng tham gia vào để giúp cho quá trình CGCN được nhanh hơn, hiệu quả hơn Đây là đầu tư về dài hạn
và có nhiều ưu đãi
1.3.2 Vai trò của mô hình trình diễn với nông dân tiếp nhận công nghệ
Với nông dân khi tiếp nhận công nghệ, có mong muốn thông qua CGCN tranh thủ chất xám, kỹ thuật, vốn, tận dụng đất đai, nhanh chóng đổi mới, có điều kiện nâng cao trình độ, rút ngắn thời gian…
Thông qua CGCN, nông dân có thể được đầu toàn bộ hoặc một phần thức ăn, giống, thiết bị từ các cơ quan, tổ chức để từ đó có điều kiện phát triển nhanh kinh tế gia đình
Thực hiện chủ trương của nhà nước thì các cấp chính quyền cũng ủng
hộ việc tiếp nhận công nghệ, từ đó người nông dân dễ dàng quan hệ, giao tiếp cho các việc khác của bản thân, gia đình và củng cố vai trò ở địa phương, tranh thủ xin kéo dài hợp đồng sử dụng đất, hợp thức hoá các diện tích mở rộng…
Mặt khác, tham gia xây dựng mô hình, các chủ hộ tận dụng được nguồn lực sẵn có là lao động nông nhàn của địa phương mà gia đình chưa khai thác hết, tăng thu nhập cho người lao động
Trang 25- Nhanh chóng đáp ứng được nhu cầu cấp bách, thiết yếu của xã hội, nhu cầu đổi mới quy trình công nghệ, sức ép cạnh tranh những đối tượng nuôi
cũ, tranh thủ được giá cả, thị trường
- Có điều kiện nhanh chóng nâng cao trình độ công nghệ, năng lực vận hành, áp dụng vào sản xuất, học tập được các phương pháp quản lý tiên tiến,
áp dụng kỹ thuật tiến bộ, làm gia tăng nhanh lợi nhuận, tạo ra sản phẩm hàng hoá có chất lượng cao, sức cạnh tranh tốt
- Tránh được rủi ro, không cần phải thử nghiệm nhiều trên ao đầm của mình lại không cần phải mua công nghệ Sự thành công cao hơn nhiều so với không được cơ quan tổ chức chuyển giao cho Việc thành công này đi tắt đón đầu công nghệ hiện đại có xu thế tốt
Với các cơ quan quản lý, cơ quan đứng ra thế chấp, tạo điều kiện cho
về hành lang pháp lý, cơ sở mặt bằng Ngân hàng sẵn sàng cho vay vốn theo
mô hình, đặc biệt là các hộ nghèo dược vay ưu đãi lãi xuất thấp, hoặc được cho vay không lấy lãi Đây là chính sách đang được triển khai nếu cơ quan, người dân tiếp cận được
1.3.3 Vai trò của mô hình trình diễn đối với sự phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo
Vì đặc điểm của mô hình là điển hình Mô hình mang bản chất của những mối liên hệ cơ bản nhất của công nghệ trong nuôi trồng thuỷ sản Chính vì vậy, nó có tác dụng to lớn cho chính sách xoá đói giảm nghèo ở nhiều nơi, nhất là vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo đặc biệt khó khăn:
- Mô hình là nơi để các hộ thăm quan học tập trao đổi kinh nghiệm, từ
mô hình nhân ra diện rộng để nhiều người cùng làm, cùng sản xuất nên người nghèo có thể học nhau, vận dụng, làm theo mà không cần phải mất nhiều chi phí, thời gian;
Trang 26- Do đặc thù của nông dân là ngại tư duy, trình độ dân trí thấp nên học tập theo mô hình có hiệu quả hơn là học trên lớp Nguời dân dễ học nhau và học theo kiểu thực hành thì họ tiếp thu nhanh hơn, vận dùng vào thực tế phù hợp hơn Chính vì vậy, mô hình nuôi thuỷ sản đáp ứng được đặc tính này
- Đối với vùng nông thôn nghèo việc được làm mô hình được đầu tư kèm theo kỹ thuật, giống, thức ăn, thuốc phòng bệnh cho tôm, cá Đây chính
là nhân tố để từ đó phát trển kinh tế gia trạng, trang trại, giúp cho nông dân xoá được đói, giảm dược nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng
- Người nông dân khi có mô hình đuợc tạo điều kiện vay vốn vủa ngân hàng, đặc biệt là Ngân hàng Chính sách Xã hội, nên được đầu tư vốn ưu đãi, được tham gia vào tổ chức làm cho quan hệ xã hội được mở rộng hơn, biết nhiều cách sử dụng vốn, cách làm kinh tế tốt hơn
- Các cơ quan quản lý, đơn vị làm chính sách xã hội lấy mô hình trình diễn làm công cụ chuyển đến nông dân những kiến thức, chính sách, kinh phí
hỗ trợ để nông dân giảm đói, xoá nghèo
1.3.4 Chính sách thúc đẩy chuyển giao công nghệ nuôi trồng thuỷ sản theo mô hình trình diễn ở Hải Phòng
Chính sách để thúc đẩy chuyển giao công nghệ của Hải Phòng đã được thể hiện qua các Nghị quyết của trung ương, thành uỷ: Trung ương đã có nghị quyết số 32- NQ/TƯ ngày 5/8/2003 của Bộ chính trị về phát triển Hải Phòng, xác định ngành nuôi trồng thuỷ sản là ngành kinh tế mũi nhọn, trong đó phát triển nuôi trồng thuỷ sản là trọng tâm Thành phố có nghị quyết 06-NQ/TU ngày 20/10/2006 và chương trình hành động theo quyết định 321/QĐ- UBND ngày 28 tháng 2 năm 2008 về phát triển thuỷ sản Nghị quyết 12 của Thành
uỷ về phát triển nuôi trồng thuỷ sản Trong các nghị quyết này trọng tâm là
phát triển kinh tế thuỷ sản và nuôi trồng thuỷ sản là mũi nhọn Ưu tiên phát
triển nuôi trồng thuỷ sản theo quy hoạch, phát triển nuôi trồng theo hướng
Trang 27đại hoá ngành thuỷ sản, thành phố xây dựng 16 dự án quy hoạch theo hướng công nghiệp hiện đại như khu vực Kiến Thụy- Đồ Sơn, Lập Lễ Thuỷ Nguyên, Phù Long, Xuân Đán- Cát Hải, Vinh Quang, Tây Hưng- Tiên Lãng, Vịnh Lan
Hạ, Bến Bèo- Cát Bà…
Thể hiện qua các chương trình hành động của thành phố, ngành là ưu tiên nghiên cứu đối tượng mới, khuyến khích các tổ chức cá nhân đầu tư vào nuôi trồng thuỷ sản, ứng dụng công nghệ cao như: công nghệ nuôi bền vững sinh thái, công nghệ nuôi thâm canh sử dụng thức ăn công nghiệp, công nghệ sản xuất giống các đặc sản như: cá bống bớp, cua xanh, cá giò…Đặc biệt có chính sách hỗ trợ tiền thuế, giải phóng mặt bằng cho các khu thực hiện dự án nuôi trồng thuỷ sản, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất tập trung theo hướng hàng hoá Ngoài ra, thành phố ưu tiên phát triển công nghệ chế biến bảo quản sau thu hoạch, hỗ trợ thu mua chế biến sản phẩm nuôi trồng
Nhìn chung, các chính sách về phát triển ứng dụng và chuyển giao công nghệ đã có hành lang pháp lý, có chương trình đề án cụ thể Tuy nhiên, so với tiềm năng lợi thế của Hải Phòng thì chưa tương xứng Có nhiều lý do dẫn đến kết quả thấp, nhưng riêng chuyển giao công nghệ ở lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản của Hải Phòng chưa hấp dẫn các nhà đầu tư, người nông dân chưa có công nghệ hợp lý để cho sản xuất lâu dài bền vững mà vẫn quanh quẩn với cách thả cá, tôm cũ Việc này cần phải được thể chế hoá từ chính sách đến hành động cụ thể, để chính sách ưu đãi chuyển giao công nghệ trong nuôi trồng thuỷ sản thiết thực và hiệu quả [16, tr 5-6]
1.3.5 Quy định tạm thời đánh giá kết quả, hiệu quả mô hình trình diễn nuôi trồng thuỷ sản
Các quy định tạm thời tuỳ theo từng cơ quan đơn vị quy định, thành phố chưa có hướng dẫn và có quy định cụ thể về tiêu chí đánh giá kết quả, hiệu quả của mô hình Hiện nay, các cơ quan cũng rất khó khăn trong việc xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả mô hình trình diễn trong nuôi trồng thuỷ
Trang 28sản Tiêu chí tạm thời được các cơ quan xây dựng cơ bản tập trung vào những chỉ tiêu như sau:
- Đúng vùng, địa phương cần có mô hình
- Đúng đối tượng ngành khuyến khích phát triển
- Quy mô diện tích phù hợp
- Đúng theo hướng dẫn kỹ thuật
- Đúng kế hoạch tiến độ thời gian
- Đúng kinh phí dự toán, đủ thủ tục, giấy tờ, chứng từ
- Đạt năng suất sản lượng theo hợp đồng
1.3.6 Phương pháp tiếp cận đánh giá kết quả, hiệu quả các hình thức CGCN nuôi trồng thuỷ sản
* Mục đích đánh giá: Đánh giá kết quả và hiệu quả nhằm đưa ra mức
độ của các hình thức CGCN, để biết đạt được những kết quả, hiệu quả như thế nào Từ đó để so sánh với các hình thức CGCN khác nhau, cuối cùng là đưa
ra những giải pháp để thực hiện có hiệu quả nhất
* Các cách tiếp cận đánh giá kết quả, hiệu quả
- Tiếp cận thông tin: Theo cách tiếp cận thông tin là hiệu quả thông tin
- Tiếp cận kinh tế: Đánh giá bằng hiệu quả kinh tế thực hiện các CGCN cho nông dân nuôi trồng thuỷ sản
- Tiếp cận xã hội: Đánh giá về hiệu quả mặt xã hội, đây là hiệu quả tất yếu của các hình thức CGCN cho nông dân
* Chỉ báo đánh giá hiệu quả:
- Tác động dương tính: tác động dẫn đến hiệu ứng có lợi theo các hướng tiếp cận nêu trên
- Tác động âm tính: Tác động dẫn đến hậu quả bất lợi theo hướng tiếp cận nêu trên
- Tác động ngoại biên: Tác động dẫn đến hậu quả ngoài dự kiến Tác động này có thể là dương tính hay âm tính, hoặc ngoại biên, tức là ngoại biên
Trang 29CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ CHO NÔNG DÂN NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN Ở HẢI PHÒNG
2.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
Hải Phòng là thành phố ven biển, nằm phía Đông miền Duyên hải Bắc
Bộ, có tổng diện tích tự nhiên là 152.318,49 ha (số liệu thống kê năm 2007) chiếm 0,45% diện tích tự nhiên cả nước
Về ranh giới hành chính: Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh Phía Tây
giáp tỉnh Hải Dương Phía Nam giáp tỉnh Thái Bình Phía Đông giáp biển
Đông Thành phố có toạ độ địa lý: Từ 200
Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.600 - 1.800 mm Bão thường xảy ra từ tháng 6 đến tháng 9 Thời tiết của Hải Phòng có 4 mùa rõ rệt, xuân,
hạ thu, đông Khí hậu tương đối ôn hoà Do nằm sát biển, về mùa đông, Hải Phòng ấm hơn 10C và về mùa hè mát hơn 10C so với Hà Nội Nhiệt độ trung bình hàng tháng từ 20 - 230C, cao nhất có khi tới 400C, thấp nhất ít khi dưới
50C Độ ẩm trung bình trong năm là 80% đến 85%, cao nhất là 100% vào những tháng 7, tháng 8, tháng 9, thấp nhất là vào tháng 12 và tháng 1 Trong suốt năm có khoảng 1.692,4 giờ nắng Bức xạ mặt đất trung bình là 117 Kcal cm/phút
Trang 30Hải Phòng có mạng lưới sông ngòi dày đặc, mật độ trung bình từ 0,6 - 0,8 km trên 1 km2 Sông ngòi Hải Phòng đều là các chi lưu của sông Thái Bình đổ ra vịnh Bắc Bộ Sông Cầu bắt nguồn từ vùng núi Văn ôn ở độ cao trên 1.170 m thuộc Bắc Cạn, về đến Phả Lại thì hợp lưu với Sông Thương và Sông Lục Nam, là nguồn của sông Thái Bình chảy vào đồng bằng trước khi
đổ ra biển với độ dài 97 km và chuyển hướng chảy theo Tây Bắc - Đông Nam Từ nơi hợp lưu đó, các dòng sông chảy trên độ dốc ngày càng nhỏ, và sông Thái Bình đã tạo ra mạng lưới chi lưu các cấp như sông Kinh Môn, Kinh Thầy, Văn úc, Lạch Tray, Đa Độ đổ ra biển bằng 5 cửa sông chính Hải Phòng có 16 sông chính toả rộng khắp địa bàn Thành phố với tổng độ dài trên
300 km, bao gồm: Sông Thái Bình dài 35 km là dòng chính chảy vào địa phận Hải Phòng từ Quí Cao và đổ ra biển qua cửa sông Thái Bình làm thành ranh giới giữa hai huyện Vĩnh Bảo và Tiên Lãng Sông Lạch Tray dài 45 km là nhánh của sông Kinh Thầy từ Kênh Đồng ra biển bằng cửa Lạch Tray qua địa phận Kiến An, An Hải và cả nội thành
Dân số thành phố Hải Phòng tính đến cuối năm 2008 là 1.812.700 người, thu nhập bình quân đầu người đạt 720 USD/năm Theo số liệu từ Sở Nông nghiệp- PTNT, diện tích đất nông nghiệp từ 62.128 ha (năm 2005), giảm xuống còn hơn 53 nghìn ha (năm 2007) [20, tr 3-8]
2.2 Khái quát về tình hình nuôi trồng thuỷ sản ở thành phố Hải Phòng
Tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản năm 2008 là 17.690 ha Trong đó
diện tích nuôi nước ngọt là 7.413 ha, nước mặn, lợ 10.277 ha Hầu hết khu
vực nước lợ nuôi theo phương thức quảng canh cải tiến và bán thâm canh do khả năng đầu tư của người nuôi còn thấp Một số dự án nuôi công nghiệp đã hoàn thành song bị thu hồi diện tích phục vụ ngành khác, số còn lại chưa hoàn thành do nhiều nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan Như vậy, chỉ có
Trang 31buộc điều kiện nuôi đối với đối tượng này Toàn bộ diện tích nuôi tôm sú theo phương thức nuôi quảng canh cải tiến, do thiếu nguồn vốn đầu tư và môi trường vùng nuôi chưa đảm bảo; sản lượng thu hoạch tôm sú năm 2007- 2008
thủy sản khác 1.267 tấn
Thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu sản xuất, một số địa phương như Thuỷ Nguyên, Tiên Lãng, An Lão, Vĩnh Bảo đã tích cực chuyển dịch diện tích cấy lúa năng suất thấp sang nuôi trồng thuỷ sản, từng bước đổi mới
cơ cấu giống nuôi các đối tượng có giá trị kinh tế Ngoài các đối tượng nuôi truyền thống: rô phi đơn tính, mè, trôi, trắm, chép có năng suất tương đối cao, một số hộ mạnh dạn thả những loại giống mới như: cá điêu hồng, cá vược, cá sấu, ba ba, ếch sản lượng bình quân khu vực nuôi nước ngọt đạt
3,6 tấn/ha Hệ thống các cơ sở sản xuất giống có tổng số 17 trại, trong đó 6
trại sản xuất giống mặn, lợ (3 trại sản xuất giống tôm nước lợ, 1 trại sản xuất giống cá biển, 2 trại sản xuất giống cua, ghẹ) và 11 trại sản xuất giống nước ngọt (7 trại sản xuất giống cá, 1 trại sản xuất giống tôm càng xanh và 3 trại sản xuất giống rô phi đơn tính) Hàng năm sản xuất được khoảng trên 1.270 triệu con giống các loại Trong đó giống cá nước ngọt truyền thống là 1.200 triệu cá bột; Giống cá biển 2,5 triệu con; Giống tôm biển 50 triệu P15(tôm giống ở 15 ngày tuổi); Giống tu hài 10 triệu con; Giống tôm càng xanh 5,5 triệu P15; Giống cua 3,5 triệu con Lượng giống nước ngọt, cua ghẹ, tôm rảo,
Trang 32tôm càng xanh… Phần giống nước lợ không đủ cho nhu cầu nuôi trồng tại địa phương, phải nhập bổ sung từ các tỉnh miền Trung; giống cá biển chủ yếu
nhập từ Trung Quốc
Trên địa bàn có 06 cơ sở sản xuất thức ăn công nghiệp, sản lượng khoảng 1.200 tấn, sản phẩm chủ yếu xuất bán ra tỉnh ngoài Các cơ sở nuôi tôm chủ yếu dùng thức ăn của Công ty CP, KP90, UP ngoại trừ các diện tích nuôi thâm canh năng suất cao dùng thức ăn công nghiệp, còn lại chủ yếu
sử dụng nguồn thức ăn tự chế Khu vực nuôi cá lồng bè đã có một số doanh nghiệp vào thí điểm sử dụng thức ăn công nghiệp song chưa có kết quả công
bố, hiện người nuôi vẫn sử dụng cá tạp làm thức ăn để nuôi gây ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường vùng nuôi
Tổng số lao động nghề cá của thành phố trên 30.000 lao động, trong đó lao động nghề nuôi trồng thuỷ sản 16.000 người, chiếm 53,3% [11, tr 3-7]
2.3 Đặc điểm chuyển giao công nghệ cho nông dân nuôi trồng thuỷ sản ở Hải Phòng
2.3.1 Các giai đoạn phát triển chuyển giao công nghệ nuôi trồng thuỷ sản
* Giai đoạn nuôi trồng tự phát theo hướng quảng canh
Đây là giai đoạn tương ứng với giai đoạn các công ty, xí nghiệp, hộ nông dân đào đắp heo hướng tự phát, thu hoạch bằng nguồn lợi tự nhiên qua việc tháo cống, thu hoạch Đây là giai đoạn phổ biến công nghệ xây dựng công trình, thu lấy giống, đánh tỉa thả bù Trong giai đoạn này chủ yếu nông dân học tập kinh nghiệm sản xuất qua các tài liệu của ngành, nghe phổ biến
kinh nghiệm, thực hiện theo kinh nghiệm
* Giai đoạn nuôi quảng canh cải tiến
Trong thời gian này, do nguồn lợi đã giảm dần và do nhu cầu tăng mật
độ trên một đơn vị đất đai, nhiều tổ chức, cá nhân đã mua giống(chủ yếu là
Trang 33vẫn có lấy giống tự nhiên Kỹ thuật chủ yếu là xác định đối tượng nuôi chính
có hiệu quả để thả thêm giống, cho thức ăn tươi sống hoặc tự chế để rút ngắn
mùa vụ, nâng cao năng suất, sản lượng
* Giai đoạn nuôi bán thâm canh, thâm canh
Phát huy những thành công trong nuôi quảng canh cải tiến, nhiều hộ chuyển sang nuôi đơn, nuôi ghép, nuôi một đối tượng Trong quy trình, tập trung vào ghép hợp lý các đối tượng ở tầng nước khác nhau, tận dụng các loại thức ăn tự nhiên, chú trọng cho ăn thức ăn công nghiệp giàu chất đạm Trong nuôi thâm canh đã sử dụng thiết bị phụ trợ như máy quạt nước, sục khí để làm tốt môi trường Đầu tư nuôi mật độ dày, phát triển trang trại, dự án để tạo ra hàng hoá lớn, ứng dụng công nghệ tiên tiến trong nước và nước ngoài Đặc biệt, công nghệ nuôi cá biển bằng lồng bè nhập từ Na uy, Đan Mạch, Thái Lan được phổ biến ở khu vực nước mặn, nuôi tôm sú, cá vược, tôm rảo, cua xanh ở nước lợ; Nuôi cá rô phi, cá quả, cá chim trắng, cá trắm cỏ ở nước
Đã có nơi nuôi hàng trăm ha theo hình thức này, đáng kể nhất là khu vực các huyện Kiến Thụy, Đồ Sơn, Phù Long Cát Hải, Quận Hải An Công nghệ chủ
Trang 34yếu là nuôi tôm sú công nghiệp sử dụng vi sinh cải tạo môi trường, công nghệ
sản xuất giống sạch bệnh, công nghệ xử lý nước bằng các vi sinh học… 2.3.2 Một số dặc điểm chủ yếu của chuyển giao công nghệ nuôi trồng thuỷ sản Hải Phòng
* Giai doạn trước năm 1986
Giai đoạn này hầu như chưa có chuyển giao công nghệ, các đầm nuôi chủ yếu lấy giống tự nhiên Nguồn lợi tôm cá tự nhiên của Hải Phòng còn phong phú nên khu vực nước lợ chủ yếu tháo cống mở cống để lấy giống tự nhiên Các phương thức này chủ yếu theo kinh nghiệm lấy giống qua con nước thuỷ triều Trong nước ngọt đã phát triển nuôi ghép các loại cá để sử dụng thức ăn tự nhiên, có bổ sung các loại cỏ rau bèo, một số nơi có bổ sung thức ăn tinh, nhưng vẫn theo truyền thống Khu vực nước mặn chưa phát triển
nuôi trồng mà tập trung vào khai thác nguồn lợi sẵn có
Một số cơ quan của nhà nước đã có nhập công nghệ sản xuất giống trong nước ngọt như: công nghệ cho cá truyền thống, nuôi vỗ, cho đẻ, công nghệ sản xuất ương giống… Công nghệ nuôi đặc sản như ba ba, cá sấu, rắn được một số nông dân ứng dụng nhưng ở quy mô nhỏ, yếu tố khoa học chưa
rõ và công nghệ chưa thực sự mang lại đột phá sản xuất theo hướng hàng hoá
* Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1996
Đây là thời gian nuôi trồng thuỷ sản phát triển nhanh nhất ở Hải Phòng Sau khi xoá bỏ kinh tế bao cấp, các công ty nhà nước đã chuyển sang tự hoạch toán, các khu vực nuôi trồng thuỷ sản chính được giao khoán về sản lượng, tự chủ về sản xuất, nên yêu cầu về trách nhiệm với tư liệu sản xuất và đóng góp mức cao hơn, do đó nhiều khu vực nuôi đã mua công nghệ và mạnh dạn áp dụng những công nghệ nuôi mới vào sản xuất Công nghệ nuôi tôm bán thâm canh, công nghệ sản xuất giống tôm sú, cá giò, tôm he Nhật Bản
Trang 35xuất giống cá song, cá giò…Các công nghệ này đã được nông dân tiếp nhận
và đưa vào sản xuất có hiệu quả
* Giai đoạn từ năm 1996 đến nay
Từ năm 1996, công nghệ có hàm lượng tri thức cao được chuyển giao cho nông dân Hải Phòng tiếp nhận đã tăng lên rõ rệt Các công ty xuyên quốc gia, các Viện, Trung tâm nghiên cứu tích cực chuyển giao cho nông dân công nghệ nuôi mới, áp dụng công nghệ cao vào sản xuất Công nghệ nuôi tôm sú, tôm he chân trắng bằng quạt nước của tập đoàn CP group, Công ty Bay- ơ của Đức về vi sinh cải tạo ao, Công nghệ xử lý nước của Sinh Long, Hải Long- Trung Quốc… Các quy trình xử lý nước và làm ổn định pH trong ao nuôi,
công nghệ nuôi cấy vi sinh làm thức ăn tự nhiên trong ao nuôi công nghiệp
Về các hình thức chuyển giao đa dạng: từ cơ quan nghiên cứu đến nông dân, từ Công ty đến nông dân, từ cơ quan CGCN đến nông dân Thậm chí các
tổ chức Hội, Chi hội, các hộ nông dân cũng làm công tác chuyển giao công nghệ nuôi trồng thuỷ sản để thông qua đó thực hiện các chức năng nhiệm vụ
của cơ quan, tổ chức và lợi ích kinh tế của tập thể, cá nhân
2.4 Thực trạng các hình thức chuyển giao công nghệ cho nông dân nuôi trồng thuỷ sản ở Hải Phòng
2.4.1 Chuyển giao công nghệ bằng tập huấn kĩ thuật
Theo cách đặt vấn đề của chúng tôi và để thuận tiện cho cách nhìn nhận chung nhất, tránh vấn đề nhạy cảm trong chuyển giao công nghệ trong nuôi trồng thuỷ sản ở Hải Phòng, chúng tôi theo quan điểm tập huấn kỹ thuật cũng
là một hình thức CGCN Theo khảo sát những cơ quan, đơn vị làm công tác
tập huấn kỹ thuật (THKT) cho nông dân nuôi trồng thuỷ sản ở Hải Phòng chúng tôi có kết quả như sau:
Từ bảng 2.1 trên chúng ta thấy, Trung tâm khuyến ngư Hải Phòng là đơn vị CGCN cho nông dân thực tổ chức nhiều nhất các lớp tập huấn chiếm
Trang 3649,31%; thứ hai là Phòng Kinh tế, Phòng NN&PTNT (Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) các huyện chiếm 24,5%, đứng thứ 3 là các tổ chức ở cơ sở 11,28%; các tổ chức khác là các công ty nước ngoài, công ty trong nước, các
tổ chức phi chính phủ, các cá nhân với cá nhân 7,22%
Bảng 2 1: Số lượng nông dân được tập huấn kỹ thuật từ năm 2004-
2008 của thành phố Hải Phòng(sử dụng kinh phí ngân sách trung ương
và địa phương cấp)
Đơn v ị
Số lớp tập huấn đã
tổ chức
Số lượt nông dân được tập huấn KT
Tỉ lệ lượt nông dân (%)
Trung tâm chuyển giao công nghệ
thuỷ sản và thuỷ sinh vật miền Bắc 25 1.500 1,7 Phòng kỹ thuật nuôi, Sở Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn 40 2.800 3,16 Trung tâm giống thuỷ sản Hải Phòng 50 2.500 2,82 Phòng Nông nghiệp, Kinh tế các
Trang 37không áp dụng được quy trình thì rất nhiều: Có 320 phiếu, chiếm 80% trả lời
là thiếu vốn, quy trình không phù hợp với nông dân; 80 phiếu, chiếm 20% còn lại là do thiếu lao động, thiếu nguồn giống, nguồn thức ăn, thiếu thị trường Trong khi đó, khảo sát 400 nông dân chưa được tập huấn lần nào thì có
387 phiếu, chiếm 96,75% trả lời là sản xuất chưa hiệu quả là do không có kỹ thuật, chưa được tập huấn kỹ thuật; 3,5% còn lại chưa sản xuất có hiệu quả là
do lao động và quy hoạch chưa hợp lý, nên không mạnh dạn đầu tư sản xuất
Từ hai kết quả trên, chúng tôi thấy ở đây có một vấn đề nổi lên là người dân chưa được tập huấn thì cho là chưa được, chưa có kỹ thuật là chính Nhưng khi được tập huấn thì lại không có các điều kiện đi kèm để thực hiện quy trình chuyển giao cho nông dân, hoặc quy trình đó là không phù hợp với thực tế của nông dân, có phương pháp đến với nông dân cho phù hợp, hiệu quả Vì thế, hiệu quả của tập huấn rất thấp, cả nông dân và cơ quan chuyên môn đang lúng túng chưa biết nên làm như thế nào để nông dân có được công nghệ nhanh nhất, thực hiện phát triển kinh tế mũi nhọn của Hải Phòng
Theo thống kê ở trên thì có 1.483 lớp tập huấn NTTS trong 5 năm, như vậy 1 năm trung bình các cơ quan tổ chức của Hải Phòng tập huấn được 296,6 lớp/năm; Với số kinh phí dành cho tập huấn tương đương 862,8 triệu/năm Năm sau số lớp lại tăng hơn năm trước khoảng 15%, số kinh phí tăng tương ứng 15- 20% Số lượt người được tập huấn tăng lên tương ứng theo số kinh phí Tuy nhiên, theo kết quả trên thì chỉ có 7%, tức là khoảng 6.200 người áp dụng được, chưa nói là áp dụng tốt, có hiệu quả quy trình; Số còn lại 82.380 người, chiếm 93% nông dân được tập huấn là chỉ có lợi ích một phần(áp dụng được một phần quy trình) Trong đó, phải kể đến 26.574 nông dân được tập huấn không sử dụng được được quy trình; 55.805 lượt người tập huấn chỉ áp dụng được một phần quy trình, nhưng việc áp dụng một phần quy trình đã làm cho quy trình không còn là công nghệ chuẩn nữa mà chuyển sang dạng nuôi cải tiến theo quy mô gia đình Điều này, đã minh chứng cho thực tế sản
Trang 38xuất thuỷ sản của Hải Phòng, tại sao lại hiệu quả thấp, mặc dù tiềm năng nuôi thuỷ sản của thành phố là rất lớn
2.4.2 Chuyển giao công nghệ bằng tổ chức hội nghị
Hàng năm Hải Phòng tổ chức nhiều hội nghị về nuôi trồng thuỷ sản Việc tổ chức này chủ yếu ở các đơn vị có triển khai các dự án, các chương trình, nhiệm vụ theo kế hoạch hàng năm
Ở phạm vị nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ tến hành khảo sát chủ yếu các cơ quan có làm công tác chuyển giao công nghệ tại địa bàn thành phố
Bảng 2 2: Số lượng hội nghị tổng kết phổ biến các công nghệ nuôi
trồng thuỷ sản ở Hải Phòng từ năm 2004- 2008
Đơn v ị
Số lượng buổi tổng kết
đã tổ chức
Số lượt nông dân tham dự
Tỉ lệ lượt nông dân tham gia (%)
Trung tâm chuyển giao công
nghệ thuỷ sản và thuỷ sinh vật
miền Bắc
Phòng kỹ thuật nuôi, Sở Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn 10 500 3,76 Trung tâm giống thuỷ sản Hải
Phòng Nông nghiệp, Kinh tế
Các tổ chức Hội, Câu lạc bộ 80 4.000 30,12 Các tổ chức, đơn vị khác 20 2.000 15,06
Trang 39Kết quả, có 214 lần tổ chức tổng kết, về các mô hình công nghệ phổ bến cho nông dân nghe, xem và áp dụng quy trình Trung tâm khuyến ngư thành phố chiếm cao nhất 31,63%, đứng thứ 2 là các tổ chức hội, câu lạc bộ nuôi trồng thuỷ sản, các tổ chức khác chiếm 15,06% chủ yếu là các công ty nước ngoài có chuyển giao công nghệ cho nông dân, nhưng các công ty này tổ chức ở những năm 2004-2005, sau năm 2006 thì các công ty không tổ chức tổng kết, do quá trình phát triển ngành nuôi trồng thuỷ sản của Hải Phòng đi xuống, các công ty nước ngoài và trong nước chuyển giao công nghệ cao đã không triển khai chương trình của họ tại Hải Phòng
Trung tâm chuyển giao công nghệ thuỷ sản Miền Bắc, Phòng kỹ thuật nuôi, mỗi đơn vị tổ chức được 10 lần; nhưng hai đơn vị này chủ yếu là tổng kết để đánh giá kết quả, hiệu quả việc ứng dụng, tiếp thu tiếp nhận công nghệ, báo cáo kết quả của ngành, đơn vị mà không chuyên sâu về phổ biến, chuyển giao công nghệ cho nông dân
Cơ quan Phòng kinh tế, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Phòng NN&PTNT) tổ chức được 22 lần/5năm cho 1.600 lượt người, ở đây chủ yếu là tổng kết các mô hình sản xuất, đánh giá, phổ biến, nêu những biện pháp khắc phục và phương hướng sản xuất, thực hiện quy trình kỹ thuật
Theo kết quả khảo sát, việc tổ chức hội nghị để phổ biến và chuyển giao công nghệ cho nông dân chưa thực sự hiệu quả Vì qua 400 phiếu điều tra, 100% nông dân đều cho rằng, việc tổ chức hội nghị để CGCN không có hiệu qủa bằng các hình thức khác như: thăm quan học tập đầu bờ, làm mô hình, tập huấn kỹ thuật theo chuyên đề Ở đây chủ yếu mang tính báo cáo kết quả, hiệu quả, chưa thực sự mang đặc điểm của CGCN, nên nhiều chuyên gia khẳng định rằng: ở phạm vi CGCN thì tổ chức hội nghị là hiệu quả chưa cao
2.4.3 Chuyển giao công nghệ bằng hình thức hội thảo
Trang 40Trong nuôi trồng thuỷ sản ở Hải Phòng có hai dạng hội thảo, đó là hội thảo khoa học mang tính kỹ thuật phổ biến công nghệ do các đơn vị cấp huyện triển khai, một hội thảo khác là hội thảo đầu bờ để phổ biến công nghệ cho nông dân Trong đề tài này, chúng tôi chỉ đề cập đến Hội thảo đầu bờ để CGCN cho nông dân Trong khảo sát, chúng tôi thực hiện ở các đơn vị có liên quan đến chuyển giao công nghệ
Bảng 2 3: Số lượng và tỉ lệ lượt nông dân tham gia hội thảo đầu bờ nuôi trồng thuỷ sản từ năm 2004- 2008 thành phố Hải Phòng
Đơn v ị
Số lượng hội thảo đã
tổ chức
Số lượt nông dân tham dự
Tỉ lệ lượt nông dân tham dự (%)
Trung tâm chuyển giao
công nghệ thuỷ sản và thuỷ