1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN MỘT VÀI KINH NGHIỆM TRONG GIẢNG DẠY TỪ HÁN VIỆT Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

14 2K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 90 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với học sinh ở các trờng THCS hiện nay, việc dạy cho các em hiểu dúng nghĩa của các từ Hán Việt có trong từng tác phẩm văn học mà các em đợc học là một điều đã khó.. Chính vì suy ngh

Trang 1

Tên đề tài:

MỘT VÀI KINH NGHIỆM TRONG GIẢNG DẠY TỪ HÁN VIỆT Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ



ngời thực hiện: Nguyễn Xuân Trờng

Chức vụ: Phó hiệu trởng

Năm học 2008 - 2009

Trang 2

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Độc lập - Tự do -Hạnh Phúc

-o0o -Sáng kiến kinh nghiệm

I Sơ yếu lý lịch:

 Trình độ chuyên môn: Đại học Văn

 Đơn vị công tác: Trờng THCS Tân Minh

 Bộ môn giảng dạy: Văn - Tiếng Việt

 Khen thởng: Chiến sĩ thi đua cơ sở

A Lý do chọn đề tài

Do vị thế địa lý và hoàn cảnh lịch sử, trong tiếng Việt có một lớp

từ gốc Hán rất phong phú về mặt số lợng, có giá trị nhiều mặt, thờng đợc gọi dới dạng cái tên chung là từ Hán - Việt

Lớp từ này đã góp một phần tích cực vào việc làm cho tiếng Việt thêm giàu có, tinh tế, chuẩn xác và uyển chuyển, đủ khả năng đáp ứng

Trang 3

một cách tốt nhất mọi yêu cầu do cuộc sống văn hoá xã hội phát triển và

sự cảm nhận cái hay, cái đẹp trong mỗi tác phẩm văn học qua việc hiểu cặn kẽ những từ Hán Việt trong mỗi tác phẩm đó

Đối với học sinh ở các trờng THCS hiện nay, việc dạy cho các em hiểu dúng nghĩa của các từ Hán Việt có trong từng tác phẩm văn học mà các em đợc học là một điều đã khó Song để các em từ "hiểu đúng" đến

"dùng đúng" và "hay" trong mỗi câu văn các em viết hoặc nói lại là điều càng khó hơn nhiều

Chính vì suy nghĩ đó, sau nhiều năm giảng dạy môn Văn -Tiếng Việt ở trờng THCS, tôi nhận thấy trong việc sử dụng từ ngữ Hán Việt của các em học sinh đôi khi rất tuỳ tiện, nhiều khi đã trở thành thói quen không đúng và việc sử dụng tuỳ tiện từ Hán Việt đó dẫn đến việc ngời

đọc, ngời nghe hiểu lầm, không hiểu nổi các em định viết gì, nói gì

Mặt khác, từ Hán Việt là một lớp từ khó, vừa "quen" lại vừa

"lạ".Nếu chúng ta - những ngời giáo viên giảng dạy về từ ngữ văn chơng không có hớng uốn nắn và sửa chữa những sai sót không đáng có của học sinh sẽ tạo ra thói quen không tốt trong việc sử dụng từ Hán Việt mà không hiểu từ đó mang ý nghĩa gì

Từ đó tôi đã suy nghĩ và chọn đề tài: "Một vài kinh nghiệm trong

giảng dạy từ Hán Việt ở trờng trung học cơ sở"

B Quá trình thực hiện

I Tình hình thực tế

Hàng chục năm giảng dạy môn Văn -Tiếng Việt ở trờng THCS, tôi

đợc giảng dạy hầu hết ở các khối lớp từ lớp 6 đến lớp 9 Tôi nhận thấy việc dùng sai từ Hán Việt là do các em cha hiểu hoặc do các nguyên nhân sau mà ta thờng gặp là:

1 Lầm lẫn từ Hán Việt đ ợc vay m ợn là đảo vị trí các yếu tố tạo thành từ ghép song âm tiết (nh ng vẫn giữ nguyên ý nghĩa)

VD:

Lệ ngoại (Hán) - Ngoại lệ (Việt) Hán (H), Việt (V)

Trang 4

Ngoại hớng (H) - Hớng ngoại (V); cải hoán (H) - hoán cải (V); khai triển (H)- triển khai (V)

Sự thay đổi này cũng có giới hạn Cần lu ý những trờng hợp đảo vị trí dẫn đến ý nghĩa khác hoặc một từ khác.VD: "lai vãng" và "vãng lai" trong Hán ngữ ý nghĩa không thay đổi, nhng tiếng Việt "vãng lai" có ý nghĩa chung là lu động, không cố định, (" tới rồi lại đi nh khách vãng lai", còn "lai vãng" cũng có ý nghĩa chung là qua lại, tới, đến nhng ngữ khí nặng nề mang ý răn đe, ngăn cấm VD: "Từ nay tam cấm cửa không cho mày lai vãng đến đây nữa!"

2 Lầm lẫn trong việc phân biệt ý nghĩa của các từ, từ tố Hán Việt

đồng âm

a Đồng âm giữa từ Hán Việt với từ Hán Việt: nh có em đã viết:

"Cới vợ thờng đón dâu vào buổi chiều (hoàng hôn), nên mới gọi là hôn lễ" Em học sinh đó đâu hiểu rằng "hôn" trong"hoàng hôn" có nghĩa là tối (cả nghĩa đen và nghĩa bóng nh: "hôn quân" chẳng hạn) và "hôn" trong "lễ thành hôn" là "kết duyên vợ chồng"

b Đồng âm giữa từ Hán Việt và từ thuần Việt: nh "ngoan" trong Hán ngữ có nghĩa là cứng đầu, cứng cổ, bớng bỉnh cố chấp, cứng cỏi" chỉ xuất hiện với t cách là yếu tố trong từ ghép Hán Việt nh "ngoan cố, ngoan cờng", nhng trong từ thuần Việt nh "phiếu bé ngoan"chẳng hạn

Từ những nguyên nhân trên, tôi đã mở một cuộc điều tra nho nhỏ ở khối lớp 7 giữa năm học 2002 - 2003 bằng cách đa ra 10 từ Hán Việt để các em giải nghĩa và sau đó đặt câu với những từ đó Kết quả là:

Lớp Sĩ số

Số điểm - tỷ lệ

Với kết quả điều tra trên, tôi không khỏi suy nghĩ là làm thế nào

để các em "hiểu đúng" và "dùng đúng" từ Hán Việt

Trang 5

II Nội dung thực hiện

Phần I Lý luận chung

Trớc hết, chúng ta thấy từ Hán Việt của cả một quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Việt - Hán kéo dài ít nhất là hai thiên niên kỷ trong những hoàn cảnh đặc biệt Vì vậy ta thấy từ Hán Việt lại vừa "quen" lại vừa

"lạ"

Ta thấy từ Hán Việt "quen" bởi vì cái vỏ ngữ âm của nó đã đợc Việt hoá đến cao độ nên không xa lạ gì với ngữ cảm, với cảm quan thính giác của ngời Việt chúng ta nói chung và học sinh nói riêng

VD: "Tất cả mọi ngời sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm đợc, trong những quyền

ấy có quyền đợc sống, quyền tự do và quyền mu cầu hạnh phúc"

(Tuyên ngôn độc lập 2/9/1945 - Hồ Chí Minh)

Hay: ((Mai cốt cách tuyết tinh thần

Mỗi ngời một vẻ mời phân vẹn mời ))

<Truyện Kiều -Nguyễn Du>

Chúng ta thấy "Sinh, quyền, bình đẳng, tạo hoá, xâm phạm, mu cầu, hạnh phúc" hay "mai,cốt cách, tuyết,tinh thần" rõ ràng là quen thuộc gần gũi và chiều sâu có ý nghĩa hơn

Một số từ xét về cội ngồn cũng là từ gốc Hán, nhng vì chúng vào Việt Nam khá sớm, qua thời gian lâu dài đã hoà nhập vào hẳn từ vựng tiếngViệt cho nên nêú không tìm hiểu tận cội nguồnthì khó nhận ra đợc lai lịch nh: Cờ, xe, cô,cậu,buồng, buồm, vạn, triệu Một số từ khác dung lợng ngữ nghĩa khá sâu rộng nhng vì đã gắn bó chặt chẽ với lịch sử, văn hoá, xã hội của ta và cũng đã từng đợc sử dụng phổ biến nên trở thành quen thuộc dễ hiểu nh: quân vơng, khanh tớng, công hầu, quân tử, tiểu nhân, hiếu đễ, trung tín Đối với học sinh học tiếng Việt đặc biệt là từ

Trang 6

Hán Việt thì làm cho các em hiểu đợc ý nghĩa sâu sắc (chứ không phải là nghĩa đối chiếu trực dịch) của những từ nh: thiên hạ, quân tử, tiểu nhân, chẳng hạn từ "tiểu nhân"; học sinh các em sẽ hiểu là từ để chỉ kẻ xấu chứ không phải là để nói về chuyện vóc dáng con ngời lớn bé, cao thấp nh một em chỉ hiểu từng từ tố rồi ghép nghĩa kiểu nh: tiểu (nhỏ), nhân (ng-ời)  ngời bé Và các em học sinh hiẻu rằng đây là từ chỉ kẻ xấu Các

em có thể nêu ra hàng loạt tính nết, hành vi, cách ứng xử của kẻ "tiểu nhân" để minh hoạ

Còn từ Hán Việt "lạ" chủ yếu là do kết cấu ngữ nghĩa của từ Hán Việt Những từ nh "cứu cánh, bình sinh, nhân thân, trầm kha" tuy cũng thờng xuyên xuất hiện trong lời nói trên văn bản nhng chẳng phải là dễ hiểu đối với mọi ngời, nhất là đối với học sinh ở bậc THCS

Tóm lại, cái "lạ" trong từ ngữ Hán Việt là phổ biến đối với đại đa

số các em học sinh THCS Để các em không còn xa lạ đối với lớp từ quan trọng này tôi đã dùng nhiều biện pháp giúp các em "hiểu đúng" và "dùng

đúng" từ Hán Việt

1 Nhận diện từ Hán Việt bằng cách nắm đợc đặc điểm của từ vựng Hán ngữ cổ - từ vựng văn ngôn, nòng cốt của lớp từ Hán Việt

- Từ ghép trùng lập: là hai từ đơn có kết cấu âm tiết và ý nghĩa nội hàm hoàn toàn giống nhau, sau khi lắp ghép thành một chỉnh thể trở thành một từ ghép song âm

Ví dụ:

nhân dân: mọi ngời, tất cả mọi ngời, ai nấy (đều )

xứ xứ: khắp nơi, khắp trốn, mọi nơi gia gia: mọi nhà

niên niên: hàng năm, năm này qua năm khác

- Từ ghép kết hợp hai từ đơn có ý nghĩa giống nhau hoặc tơng tự nhau tạo thành một nghĩa mới hàm ý nói chung hoặc tăng thêm sắc thái ý nghĩa

Ví dụ:

bằng hữu: bạn bè hiểm trở: địa thế không thuận lợi cho việc đi lại Một điều cần lu ý là nhiều thành tố của loại từ ghép này vẫn có thể xuất hiện với t cách là một từ đơn (đơn âm) với những sắc thái ý nghĩa riêng biệt

Ví dụ:

bằng hữu: bạn bè (nói chung) bằng: đứng riêng là một từ đơn lại có nghĩa là bạn bè cùng chung chí hớng, trình độ học vấn, sở thích nếp sống

hữu: là bạn bè chỗ quen biết nói chung

Trang 7

- Từ ghép kết hợp hai từ đơn trái nghĩa

+ Tạo ra nghĩa chung, bao hàm ý nghĩa của cả hai thành tố

Ví dụ:

nam nữ: trai gái, nam nữ (nói chung)

tử sinh: sống chết (nói chung)

+ Tạo ra nghĩa riêng không bao hàm nghĩa riêng của từng thành tố

Ví dụ:

tả hữu: vốn nghĩa là bên trái, bên phải chuyển nghĩa thành bề tôi thân tín

+ Nghĩa của một thành tố trở thành nghĩa của từ ghép

Ví dụ:

đắc thất: đắc (đợc), thất (mất) thì đắc thất có nghĩa chung là mất, thất bại

-Từ ghép kết hợp hai từ đơn theo quan hệ chính phụ

Trong loại từ ghép này, nghĩa của thành tố này quy định, hạn chế,

bổ sung ý nghĩa của thành tố kai để tạo lên một nghĩa hoàn chỉnh Các nét nghĩa của thành tố gắn bó hữu cơ với nhau

Ví dụ:

Tổ quốc: tổ quốc

Bất nghĩa: bất nghĩa

Phi thờng: phi thờng

- Từ ghép kết hợp kại hai từ đơn thành một chỉnh thể, mang một nghĩa nội hàm hoàn chỉnh, riêng biệt

Ví dụ:

quân tử: quân tử

tiểu nhân: tiểu nhân

túc hạ: từ tôn xng ngời đối thoại với mình

Mặt khác, còn phải cho học sinh nắm đợc một từ (một chữ) Hán có thể có nhiều nghĩa nhng cũng lại có hiện tợng một ý nghĩa có thể đợc biểu đạt bằng rất nhiều từ (chữ) khác nhau Tuy nhiên mỗi từ (chữ) này, ngoài nghĩa chung nhất còn mang nhiều sắc thái khác nhau

Ví dụ: Để định danh sự vật là "con ngựa" bên cạnh từ "mã" còn có nhiều

từ khác để chỉ các loại ngựa khác nhau:

VD: "Câu": ngựa còn non tuổi, khoẻ mạnh, sung sức, đẹp mã

"Tuyết in sắc ngựa câu giòn

Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời"

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

Trang 8

- Ô thông: ngựa sắc lông đen nhánh, cao khoẻ còpn gọi tắt là ô

(ngựa ô)

"Vân Tiên đầu đội kim khôi Tay cầm siêu bạc mình ngồi ngựa ô"

(Lục Vân Tiên)

- Bát: ngựa khoảng tám tuổi

- Li: ngựa sắc lông đen

- Đích: ngựa có mảng lông trắng ở trán

- Hà: ngựa hồng đốm trắng

Hoặc bên cạnh từ Sơn để chỉ núi còn có:

- hỗ: núi có cây, có cỏ

- dĩ: núi trọc

- hộc: núi có nhiều tảng đá

- ngao: núi có nhiều đá nhỏ

2 Từ việc giúp các em nhận diện từ Hán Việt, sau đó chỉ ra cho các em thấy từ việc hiều sai đến chỗ dùng sai từ Hán Việt, chẳng hạn nh

đã có em viết là:

Ví dụ:

a) "Bạn Nam không chăm học, đó là yếu điểm của bạn ấy."

b) "Cố Bộ trởng Bộ giáo dục đang nghỉ hu tại một vùng quê yên tĩnh"

c) "Sắp đến giờ đi học rồi, em phải khẩn cấp làm xong bài tập ở nhà để có bài tập nộp cho cô giáo"

Ta thấy: ở câu (a)

Yếu điểm và điểm yếu khác nghĩa nhau hoàn toàn.

Yếu điểm là một từ Hán Việt (yếu: quan trọng, VD: chủ yếu, trọng

yếu)  "yếu điểm" là điểm quan trọng

Nh vậy cần sửa câu trên là: "Bạn Nam không chăm học, đó là điểm yếu của bạn ấy"

Cũng tơng tự nh vậy, trong câu (b): Cố bộ trởng và Cựu bộ trởng:

từ cố trong chữ Hán có nhiều nghĩa khác nhau Cố là cũ (cố nhân: ngời quen cũ) Cố có gốc là từ trớc (cố hơng, cố quốc) Cố còn có nghĩa là chết (quá cố) Vậy Cố bộ trởng là ông bộ trởng đã qua đời, nên không

thể đang nghỉ hu ở một vùng quê yên tĩnh nh câu văn đã viết Phải chữa

lại là: "Ông cựu bộ trởng " Cựu có nghĩa là cũ, từ dùng để chỉ ngời thôi

giữ chức vụ

Trờng hợp ở câu (c): khẩn cấp và khẩn trơng

Câu văn dùng sai từ khẩn cấp, phải sửa lại thành " khẩn trơng làm xong bài tập " Khẩn nghĩa là gấp rút phải làm ngay mới đợc; cấp

Trang 9

nghĩa là vội, gấp rút, nên  khẩn cấp chỉ công việc cần kíp phải làm

ngay để đối phó với một nguy cơ nguy hiểm nào đó VD: Tin bão khẩn cấp

Còn khẩn trơng (trơng nghĩa là căng, căng thẳng) ý nói việc gấp

phải làm, việc căng thẳng hết sức nhanh chóng kịp thời có kết quả

3 Từ việc nhận diện từ Hán Việt, chỉ ra chỗ dùng sai từ Hán Việt, tôi đã tổng hợp mấy phơng án học từ Hán Việt sau:

* Phơng án "học ít biết nhiều"

Theo tác giả Phan Thiều trong "Dạy học sinh nắm yếu tố và các quan hệ ngữ nghĩa trong các đơn vị định danh" cho rằng các từ ghép mang nội dung ngữ nghĩa nhất định mà đại đa số trong các trờng hợp ta

có thể suy ra đợc

1 Biết nghĩa của các yếu tố thành phần

2 Biết quan hệ ngữ nghĩa của các yếu tố

Phơng án này giúp tiết kiệm thời gian Một con tính nho nhỏ sau giúp ta hình dung khả năng tiết kiệm thời gian lớn đến dờng nào:giả sử

có 5 từ tố A, B, C, D, E làm gốc để lắp ráp từng cặp thành những từ ghép nhất định kiểu AB, BC, CD, DE ta sẽ có công thức toán học về khả năng lắp ráp n(n - 1): 2, trong đó n là số lợng các yếu tố dùng để lắp ráp

ta có: 5 x 4 : 2 =10 (từ ghép) Đó là cha kể ghép nhờ cách đảo vị trí (AB

và BA)

-Học từ tố Hán Việt cha đủ mà còn nắm đợc công thức cấu tạo nghĩa của từ ghép Hán Việt nữa Nếu A, B là những từ tố Hán Việt; a, b

là nghĩa của từ tơng ứng, x là nét nghĩa không có trong A, B nhng có thể suy ra từ ngữ cảnh ta sẽ có:

AB =ab (ái quốc = yêu nớc)

AB =ba (đảng kỳ = cờ đảng)

AB = a (x) b (tranh thủ =giành mà nắm lấy)

AB = b (x) a (quốc lộ = đờng do nhà nớc quản lý)

Tuy thế, phơng án này chỉ thích hợp với những em thông minh, có

kỹ năng nhất định trong sử dụng tiếng Việt

* Phơng án "học ít hiểu kỹ"

Đối với học sinh phổ thông thì điều quan trọng không phải số từ nhiều hay ít mà là nắm ý nghĩa từng từ và biết sử dụng cho chính xác, nghĩa là đúng chữ, đúng nghĩa, đúng lúc, đúng màu sắc tu từ, đúng thể loại

Nguyên tắc là dạy ít, bày cho học sinh phơng pháp tìm hiểu chắc chắn, so sánh với những từ đồng âm, đồng nghĩa, gần nghĩa và đa ra cách

Trang 10

sử dụng thích hợp ở trờng phổ thông trí óc các em lớp dới cha phát triển khi dạy từ Hán Việt nên đặt từ vào văn cảnh cụ thể giúp các em tiếp nhận

ý nghĩa từ một cách chính xác, không nên tách rời văn cảnh, tạo cho các

em thói quen dùng từ chính xác Tất nhiên cách tiếp nhận này thờng bị thu hẹp trong văn cảnh cụ thể, còn nếu đổi văn cảnh, học sinh có thể hiểu sai, dùng sai, vì vậy các em hiểu rộng hơn bằng cách phân tích các yếu tố thành phần, hiểu nghĩa từng yếu tố rồi suy ra nghĩa của từ, nghĩa đen và nghĩa bóng, nghĩa cụ thể và trừu tợng, nghĩa rộng và nghĩa hẹp

Theo phơng án này hứa hẹn nhiều kết quả tốt đẹp

4 Muốn học sinh dùng đúng từ Hán Việt cần cho học sinh nắm

đ-ợc mấy điểm sau:

a Phải hiểu đúng nghĩa khái quát tổng hợp của từ ngữ Hán Việt chứ không nên hiểu theo cách đơn giản cộng nghĩa những yếu tố Hán trong từ ngữ Hán Việt

+ Không thể hiểu theo cách rộng nghĩa các yếu tố Hán: Độc: một mình; lập: đứng  đứng một mình

+ Phải hiểu theo nghĩa khái quát tổng hợp trong 2 trờng hợp:

- Sống độc lập: Sống dựa vào sức mình không ỷ lại phụ thuộc vào ngời khác

- Đất nớc độc lập: Nớc giữ đợc chủ quyền mọi mặt không bị nớc khác thống trị

b Phải hiểu theo nghĩa ngời Việt hiểu Có những từ Hán Việt dùng theo nghĩa khác hẳn gốc Hán

Ví dụ: hùng hổ, thiết tha, liên chi hồ điệp Chẳng hạn: hùng hổ nghĩa

gốc Hán là con gấu và con hổ; nghĩa Việt là vẻ hung hãn dữ tợn

c Phải chú ý đến hoàn cảnh nói năng, hoàn cảnh nào thì dùng từ Hán Việt thì phù hợp, hoàn cảnh nào thì không phù hợp

- Dùng từ Hán Việt cho trang trọng:

Ví dụ: Bà Hoàng Thị Loan là thân mẫu Hồ Chủ Tịch

- Trờng hợp thân mật không dùng từ Hán Việt:

Ví dụ: Mẹ ơi! Con mời mẹ vào xơi cơm.

Còn nếu viết: "Con đề nghị (hoặc "thỉnh cầu") mẹ vào xơi cơm thì cách nói này sẽ cầu kỳ, không phù hợp

Phần 2 Bài tập ứng dụng thực hành

Ngày đăng: 30/03/2015, 22:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w