Trong yêu cầu đó, Bộ nhấn mạnh giáo viên phải : “Thực sự coi trọng phương tiện dạy học với tư cách là công cụ nhận thức một cầu của nhà trường, của Bộ, mỗi giáo viên phải làm gì khi ĐDDH
Trang 1LÀM VÀ SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG DẠY HỌC TRONG MƠN
NGỮ VĂN
A ĐẶT VẤN ĐỀ
Một trong những yêu cầu của nhà trường về việc thực hiện chương trìnhthay sách mới là giáo viên (GV) phải có đồ dùng dạy học (ĐDDH) và sử dụngĐDDH trong tiết dạy Yêu cầu này, chính là cụ thể hoá yêu cầu của Bộ đối vớitất cả giáo viên đứng lớp Trong yêu cầu đó, Bộ nhấn mạnh giáo viên phải :
“Thực sự coi trọng phương tiện dạy học với tư cách là công cụ nhận thức một
cầu của nhà trường, của Bộ, mỗi giáo viên phải làm gì khi ĐDDH từ trên cấpxuống cho trường còn quá ít? Nhất là đối với môn ngữ văn Như vậy chỉ còn mộtcách là mỗi giáo viên phải tự làm DDDH Nhưng làm ĐDDH như thế nào để bấtcứ giáo viên nào cũng làm được và sử dụng có hiệu quả? Đó là điều đặt ra chotôi những trăn trở để viết nên đề tài này
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ :
I CÁCH LÀM ĐDDH
1 Chuẩn bị :
a Vật dụng :
- Giấy rô –ki
- Bút lông đen (hoặc xanh đậm) và đỏ loại to
Trang 2- Keo con voi loại thường.
- Các miếng dán xé (gồm 2 miếng : Gọi A là miếng ni – lông xơ cứng, Blà miếng ni – lông tơi mềm Khi cần ta dán B vào A hoặc xé B ra khỏi A)
- Thước, bút chì đen, kéo
- Ống nhựa để nẹp tờ rô – ki
b Nội dung kiến thức và phương pháp truyền thụ :
* Phần văn học :
- Nghiên cứu tác phẩm rút ra các chi tiết cốt lõi
- Gợi mở cho học sinh (HS) phát hiện những mối quan hệ
- Định hướng hệ thống các câu hỏi, dẫn dắt HS chủ động hiểu được nghệ
- thuật, nội dung, chủ đề của tác phẩm
- Lựa chọn nội dung giảng bình
* Phần từ ngữ, ngữ pháp :
- Chuẩn bị những mẫu câu, mẫu đoạn tiêu biểu
- Định hướng cách gợi mở, dẫn dắt
- Tiên liệu mức độ HS phát hiện, hình thành khái niệm
- Dự trù các phương án sưả chữa thích hợp
2 Cách làm :
* Trước hết dùng bút chì và thước để gạch hàng và can nháp số lượng từ đểviết từ cho đủ với diện tích của mỗi tờ rô – ki (tuỳ số lượng từ nhiều hay ít mà kẻcác ô li khác nhau từ 1,5 cm đến 2,5 cm)
* Sau đó dùng 2 tờ rô – ki :
Trang 3- Một tờ rô – ki lớn ( để nguyên ) dùng bút lông đen ( hoặc xanh) viết trựctiếp mẫu câu, mẫu đoạn vào đó, gacïh chân ( bằng bút đỏ) những từ ngữ cần thiết.
- Một tờ rô – ki lớn cắt thành những miếng rô – ki nhỏ có diện tích tươngứng với diện tích của mẫu câu, mẫu đoạn ở tờ rô – ki lớn Trên các mảnh rô – kinhỏ này sẽ ghi đề mục hoặc đáp án tương ứng với mẫu câu, mẫu đoạn ở tờ rô –
ki lớn
* Tiếp đến ta cắt các dây dán xé A,B (2) thành mẩu có diện tích : 4 cm2 Dùngkeo con voi, xịt nhẹ và nhanh (3) vào mặt sau của mẩu dán xé B (2 mẩu) ịn nhanhvào 2 vị trí cân xứng ở mặt sau của miếng rô – ki nhỏ, để 2 mẩu dán xé này dínhchặt vào mặt sau của miếng rô – ki nhỏ Dùng kim đâm từ tâm của 2 miếng dánxé B xuống 2 vị trí của tờ rô – ki lớn Ở 2 vị trí xác định này ịn nhanh 2 miếngdán xé A (đã bôi keo) cho dính chặt vào bề mặt tờ rô – ki lớn
* Kế nữa, ta dùng bút chì đánh dấu ngang, dọc trên tờ rô – ki lớn để dễ dánmảnh rô – ki nhỏ có hai mảnh dán xé B ở mặt sau khớp với vị trí của hai miếngdán xé A ở bề mặt tờ rô – ki lớn
* Cuối cùng dùng bút lông xanh đóng khung chu vi tờ rô – ki lớn, xếp mép tờrô- ki này (1 cm) rồi đút ống nhựa vào vừa để làm nẹp, vừa để treo ĐDDH lên
- Trong quá trình giảng, dẫn dắt để hình thành kiến thức, từng bước giáoviên dán kiến thức ở mảnh rô – ki nhỏ vào vị trí của tờ rô – ki lớn có mẫu câu,mẫu đoạn tương ứng Nếu dạy nhiều lớp cùng khối thì dạy ở lớp này xong, xécác mảnh rô ki nhỏ ra khỏi tờrô ki lớn, đến lớp khác tiếp tục thao tác dán chúngvào tờ rô ki lớn trong quá trình giảng
Trang 4Nếu hình thành kiến thức cần có nhiều mẫu câu thì cắt thêm những mảnhrô – ki nhỏ, ghi mẫu câu, mẫu đoạn cần thiết vào đó ( phía sau của các mảnh rô– ki này cũng như trên bề mặt của tờ rô ki lớn phải có đôi miếng dán xé A, Bđược dán ở những vị trí đã xác định) Sau khi mẫu câu trên đã phân tích xong thìlần lượt dán mẫu câu, mẫu đoạn khác vào Cần hạn chế viết mẫu câu hàng loạtsẽ làm HS mất tập trung vào mẫu câu, mẫu đoạn mà ta phân tích.
II CÔNG DỤNG :
Đồ dùng dạy học làm theo cách này có những ưu điểm sau :
- Dễ làm và dễ sử dụng : Chỉ cần mỗi giáo viên thực sự có trách nhiệm với
HS, đầu tư kĩ vào bài dạy thì sẽ làm được và rất tự nhiên sẽ có những thao tácrành rẽ, chuẩn xác khi sử dụng chúng trong tiết dạy
- Có thể vận dụng với những mục đích khác nhau như : kiểm tra bài cũ,hình thành kiến thức mới, ôn tập hệ thống kiến thức toàn chương, rèn kỹ năngnhận biết, lựa chọn, tư duy cho HS
- Có thể sử dụng được nhiều năm, nếu bảo quản tốt
- Có thể ứng dụng dạy cho tất cả các bộ môn, đặc biệt với hình thức trắcnghiệm
- Là một bảng phụ dễ lắp tháo, dễ dịch chuyển, ít phí tổn
Nếu trường lớn, một khối lớp sẽ có nhiều giáo viên giảng dạy, hãy chianhau làm và cùng nhau sử dụng Được như vậy, số lượng ĐDDH sẽ đủ cho nhữngtiết cần thiết trong chương trình học cho cả năm
III VẬN DỤNG ĐDDH TRÊN VÀO TIẾT DẠY:
Trang 5Trong môn ngữ văn một trong những mục đích cuối cùng phải đạt là giúp
HS nói, viết được một vấn đề hoàn chỉnh Chất liệu nói, viết đó hay hoặc dở phụthuộc vào nhiều yếu tố như : Kiến thức về cuộc sống, về văn học, vốn từ ngữ,mức độ cảm thụ tác phẩm, cách diễn đạt … Trong đó cung cấp kiến thức văn học,vốn từ ngữ, ngữ pháp là trách nhiệm của giáo viên đối với học sinh Thông quaquá trình dạy, GV văn phải giúp học sinh: “ Hiểu được chính tác phẩm văn họclà kết quả của việc sử dụng hữu hiệu nhất tiếng nói của dân tộc” (4a) Khi hiểuđược điều đó, HS từng bước sẽ có ý thức chủ động “ nắm bắt những kiến thức cơsở từ các tiết học văn học, từ ngữ, ngữ pháp để tạo ra những văn bản nói và viếtvừa có tính chuẩn mực vừa có tính nghệ thuật” (4b). Do mối quan hệ mật thiết này( Văn – Tiếng – Tập làm văn), thì kiến thức cơ sở là quan trọng để tạo lập vănbản, nên trong đề tài này, tôi xin phép được minh hoạ việc sử dụng ĐDDH trongmột phần của tiết dạy và học phần văn học và từ ngữ
1.Phần văn học :
a Vai trò của ĐDDH trong tiết dạy và học phần văn học :
Như ta đã biết, một tác phẩm văn học thường mang nghĩa hàm ẩn ; nếu GVchỉ diễn giảng thao thao bằng lời thì HS trung bình, HS yếu sẽ khó tiếp thu kịp,khó cùng học sinh khá, giỏi đồng bộ tham gia xây dựng bài học được Và từ đódẫn đến thái độ nhàm chán, nảy sinh tư tưởng thụ động trong các tiết học văn,dẫn đến hậu quả HS trung bình không khá lên được và HS yếu lại càng yếu Dovậy bên cạnh giảng bằng lời, GV cần làm ĐDDH và sử dụng ĐDDH cho HSđược thấy Cùng một lúc ta huy động vừa thị giác và thính giác sẽ kích thích sựhưng phấn, gợi mở tư duy cho 3 đối tượng HS, giúp HS động não, chủ động phát
Trang 6biểu xây dựng bài giúp cho thầy hoàn thành tốt bài dạy, giúp tiết học văn sôi nổi,thú vị hơn Như vậu có thể nói ĐDDH có vai trò hỗ trợ, tiếp sức hữu hiệu chothầy và trò trong dạy và học văn.
b Minh họa cách sử dụng ĐDDH :
Trong tác phẩm “ Bức tranh” của Nguyễn Minh Châu, điều tôi ấn tượng nhấtlà bức chân dung tự họa Để hình thành nội dung kiến thức này, tôi đã sử dụngĐDDH làm theo cách trên Đây là các thao tác giúp học sinh hiểu : “ Bức chândung tự họa” qua ĐDDH đó :
- Trước hết cho HS xác định hai đoạn văn thể hiện bức chân dung
- Yêu cầu HS tự so sánh 2 bức chân dung đó : phát biểu xác định đượcđoạn cuối truyện là : “ bức chân dung hoàn chỉnh cho lương tâm ngườihoạ sĩ” sau nhiều tháng đấu tranh
- Dùng hệ thống câu hỏi để HS phát biểu các chi tiết có trên bức chândung tự họa
- Giáo viên cùng lớp trao đổi thống nhất đáp án
- Giáo viên treo tờ rô – ki lớn có ghi các chi tiết đó trên bảng vừa đểcủng cố , khắc sâu kiến thức cho HS, vừa làm cơ sở giúp HS tái hiệncác chi tiết liên quan và rút ra ý nghĩa :
- Đây là ý nghĩa các dấu hiệu có ở bề mặt tờ rô ki lớn
Ký hiệu 2 miếng dán xé A đãđược dán dính vào tờ rô – ki lớn ( dánbằng keo con voi)
Trang 7Dấu hiệu để dán mảnh rô – ki nhỏ có 2 miếng dán xé B ở mặt saukhớp với 2 miếng dán xé A ở bề mặt tờ rô ki lớn này.
I,I( A),I(B),1a, 1b,2a, 2b…Là những số hiệu tương ứng với I,
1, 2, 3 … đồng thời cũng là những ký hiệu để gọi khi diễn giải cho ngắn gọn
- Tờ rô – ki lớn này cùng các dấu hiệu trên được thiết kế theo chiều dọcvới mô hình ( đã làm trước ở nhà) như sau :
1 Một nửa mái đầu tóc tốt rợp 1a(5) 1b(5)
như một khu rừng
2 Một nửa mái đầu tóc đã cắt 2a(5) 2b(5)
như một phần bộ óc màu
xám bị mổ phanh ra
3 Không trông rõ miệng, chỉ 3a(5) 3b(5) thấy một vật đen lờ mờ nổi
bồng bềnh trên những đám
bọt xà phòng
4 Luồng ánh sáng hàng nghìn 4a(5) 4b(5) nến chiếu từ trước và trên đầu
xuống
5 Đôi mắt mở to, nghiêm khắc 5a(5) 5b(5) đang nhìn vào nội tâm
Trang 8Bức chân dung tự hoạ đó mô tả ai? Có phải là gương mặt bên ngoài mà aicũng nhìn thấy không? HS trả lời Giáo viên chốt lại – ghi bảng và HS tự ghivào vở.
- Mô tả gương mặt bên trong của người hoạ sĩ đang đối diện với lương tâm.
Giữa câu chuyện tự thú với lương tâm của người hoạ sĩ và bức chân dungtự hoạ có mối quan hệ gì? Câu chuyện tự thú là gì của bức chân dung? HS trả lời,
GV dán ảnh rô – ki có cụm từ : (6) vào vị trí I (A)
GV lần lượt dùng hệ thống câu hỏi sau để hoàn tất lời chú giải cho bứcchân dung tự hoạ :
- Phần nào trong câu chuyện tự thú ví như : “ nửa mái đầu tóc tốt rợp như
một khu rừng” ?
GV gợi mở để HS đi đến đáp án đã ghi trên mảng rô – ki nhỏ :
Lời chú giải
Trang 9(6)
và giáo viên dán mảnh rô ki này
vào vị trí 1 a
- Phần nào trong câu chuyện tự thú làm sáng tỏ chi tiết : “ một nửa mái
đầu đã cắt như một phần bộ óc màu xám đã bị mổ phanh ra” ? HS phát biểu,
GV dẫn dắt chỉnh sửa cho đúng với đáp án đã ghi ở mảnh rô – ki nhỏ :
(6)
và dán vào vị trí 2a
- Cứ tương tự như vậy GV hỏi, HS đáp, GV lấy ý kiến cả lớp, lần lượt dánmảnh rô – ki :
(6)
vào vị trí 3adán mảnh rô -ki :
(6)
vào vị trí 4a
dán mảnh rô – ki :
(6)
Không ai biết câu chuyện
giữa người hoạ sĩ và người
chiến sĩ
Một phần sự thật ở người
hoạ sĩ, người chiến sĩ năm
xưa biết rõ
Sự nhận thức chưa rõ ràng,
chưa dứt khoát của người
họa sĩ
Thái độ độ lượng,bao
dung của người chiến sĩ
Người hoạ sĩ đã nhận ra
lỗi của mình đối với người
chiến sĩ
Trang 10vào vị trí 5aNhư vậy mô hình trên bảng theo tờ rô – ki lớn sẽ là :
I Bức chân dung tự hoạ I(A)(5) I(B)(5)
1 Một nửa mái đầutóc tốt rợp 1a(5) 1b(5)
như một khu rừng
2 Một nửa mái đầu tóc đã cắt 2a(5) 2b(5)
như một phần bộ óc màu
xám bị mổ phanh ra
3 Không trông rõ miệng, chỉ 3a(5) 3b(5)
thấy một vệt đen lờ mờ nổi
bồng bềnh trên những đám
bọt xà phòng
nến chiếu từ trước và trên
đầu xuống
5 Đôi mắt mở to, nghiêm 5a(5) 5b(5)
khắc đang nhìn vào nội
tâm
Lời chú giải
Không ai biết câu chuyện giữa người hoạ sĩ và người chiến sĩ
Một phần sự thật ở người hoạ sĩ, người chiến sĩ năm xưa biết rõ
Sự nhận thức chưa rõ ràng,chưa dứt khoát của người hoạ sĩ
Thái độ độ lượng, bao dung của người chiến sĩ
Trang 11Lời chú giải cho các chi tiết trên bức chân dung tự hoạ có ý nghĩa gì? GV dánmảnh rô – ki :
Dũng cảm nhận
ra cái xấu
Người họa sĩ đã nhận ra lỗi của mình đối với người chiến sĩ
Trang 12Cuối cùng các mảnh rô – ki nhỏ có đáp án thích hợp đã được dán đầy đủ,chính xác vào tờ rô ki lớn theo thiết kế định sẵn như sau :
I Bức chân dung tự hoạ I(A) I(B)(5)
1 Một nửa mái đầutóc tốt rợp 1a 1b
như một khu rừng
2 Một nửa mái đầu tóc đã cắt 2a 2b
như một phần bộ óc màu
xám bị mổ phanh ra
3 Không trông rõ miệng, chỉ 3a 3b
thấy một vệt đen lờ mờ nổi
bồng bềnh trên những đám
bọt xà phòng
4.Luồng ánh sáng hàng nghìn 4a
nến chiếu từ trước và trên
Không ai biết câu chuyện
Trang 13Làm và sử dụng đồ dùng dạy học trong môn ngữ văn 13
Một phần sự thật ở người hoạ sĩ, người chiến sĩ nămxưa biết rõ
Sự nhận thức chưa rõràng,chưa dứt khoát của người hoạ sĩ
Điều đã khámphá
Những điều chưa rõ ràng, cònkhuất lấp
Thái độ độ lượng, baodung của người chiến sĩ
Tác dụng của đạo đức, lương tâm
Người hoạ sĩ đã nhận ra lỗi của mình đối với người chiến sĩ
Dũng cảm nhận ra cái xấu
Trang 14Từ các ý nghĩa đó, hãy cho biết tác giả nghĩ gì về thế giới bên trong củacon người? HS trả lời, lớp bổ sung – GV chốt lại và ghi bảng :
- Thế giới bên trong của con người có nhiều mảng khuất lấp, bí ẩn không
phải ai cũng nhận ra được.
Giảng hình cho HS hiểu : Bức chân dung tự hoạ gương mặt bên trong củangười hoạ sĩ có thể coi như biểu tượng chung cho thế giới bên trong của mỗingười
c Kết luận :
Tóm lại , truyện ngắn “ Bức tranh” của Nguyễn Minh Châu dài 14 trang với
hơn 7.000 chữ, ta chỉ cần phân tích một phần nhỏ trong tác phẩm, rồi khái quáthệ thống bằng một tờ rô – ki chưa đầy 180 chữ đã giúp HS tái hiện được các tìnhtiết, hiểu được mối quan hệ giữa các sự việc, nhân vật với sự biến chuyển vềnhận thức quan diểm, hiểu được mối quan hệ giữa ý nghĩa của sự việc, con ngườivới cách nhìn, cách nghĩ của nhà văn … từ đó đối chiếu và tự kiểm điểm lại bảnthân mình Nếu không có ĐDDH trên thì việc hình thành kiến thức sẽ trở nên mù
mờ như : “ cưỡi ngựa xem hoa” hoặc khá hơn là nắm được ý nghĩa của các chi
tiết trên bức chân dung một cách rời rạc, máy móc và câu chuyện tự thú vớilương tâm trở nên thừa thãi
2 Phần từ ngữ :
Trang 15a Vai trò của ĐDDH trong tiết dạy và học phần từ ngữ :
Đồ dùng dạy học trong từ ngữ, ngữ pháp không những có vai trò hỗ trợ, tiếpsức cho thầy, trò hoàn thành tốt bài dạy bằng phương pháp giao tiếp hoá tronggiảng dạy (7) như văn học mà còn có vai trò đặt nền móng cơ bản cho phươngpháp quy nạp của giáo viên, tạo điều kiện cho HS tiếp thu nhanh kiến thức, cóthời gian luyện tập thực hành nhiều Có thể nói ĐDDH trong tiết dạy – học từngữ, ngữ pháp là một công cụ không thể thiếu đối với giáo viên
b Minh hoạ cách sử dụng ĐDDH trong tiết từ ngữ :
Ở phần Tiếng Việt, các khái niệm về từ ngữ, ngữ pháp là trừu tượng, khóhiểu Nhưng nếu GV biết cách làm ĐDDH như trên và chỉ ra qua ĐDDH đó đểcụ thể cho những khái niệm thì sự tiếp thu của học sinh sẽ trở nên dễ dàng hơn.Tôi xin trình bày cách sử dụng ĐDDH trong một phần tiết dạy từ ngữ để chứngminh
Để hình thành khái niệm hoán dụ, ta cần các thao tác sau :
- Đầu tiên, ta phân chia tờ rô – ki lớn ( nguyên) thành 2 phần : phần viết vídụ, phần để dán lời diễn giải
- Ở phần ví dụ, ta viết trực tiếp mẫu câu :
“ Áo nâu liền vối áo xanh Nông thôn cùng với thị thành đứng lên”
Tiếp đó ta dán các miếng dán xé A vào các vị trí 2, 1a, 2a, để chúng dính
chặt vào bề mặt tờ rô ki lớn theo thiết kế dọc sau : ( đã làm trước ở nhà)
1 Áo nâu liền với áo xanh 1a
Nông thôn cùng với thị thành đứng lên
( Tố Hữu)
2
Trang 16Hỏi : “ Áo nâu, áo xanh” chỉ ai? Nói “ nông thôn”, nói “thị thành” đứng
lên ta phải hiểu như thế nào?
Từ các câu trả lời của HS, GV cùng HS dẫn đến đáp án :
Nông dân liền với công nhân
Người sống ở nông thôn cùng với
người sống ở thị thành đứng lên
Ngày Huế đổ máu
Chú Hà Nội về
Tình cờ chú cháu
Gặp nhau Hàng Bè
(Tố Hữu)
Trang 17Từ “đổ máu” cho em liên tưởng đến điều gì? Qua câu trả lời của HS, GV
cùng lớp chỉnh sửa, chốt lại và dán mảnh rô – ki :
Vào vị trí 2aNhư vậy trên bảng theo tờ rô – ki lớn sẽ là :
Giảng :
- “Nông dân, công nhân” là những danh từ chỉ người dựa trên những đặc
điểm, tính chất chung mà hình thành nên gọi là khái niệm
Ngày Huế xảy ra chiến tranh
Chú Hà Nội về
Tình cờ chú cháu
Gặp nhau Hàng Bè
1 Áo nâu liền với aó xanh 1a
Nông thôn cùng với thị thành đứng lên
(Tố Hữu)
Nông dân liền với công nhânNgười sống ở nông thôn cùng với người sống ở thị thành đứng lên
Ngày Huế xảy ra chiến tranhChú Hà Nội về
Tình cờ chú cháuGặp nhau Hàng Bè
Ngày Huế đổ máu
Chú Hà Nội về
Tình cờ chú cháu
Gặp nhau Hàng Bè
(Tố Hữu)