1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỌC NGỮ VĂN CHO HỌC VIÊN QUA HƯỚNG DẠY HỌC TÍCH HỢP

19 731 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 162,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

­Tích hợp là sự phối hợp các tri thức có liên quan gần gũi, mật thiết với nhau trong thực tiễn để chúng hỗ trợ tác động vào nhau nhằm tạo nên kết quả tổng hợp nhanh chóng và vững trắc.­Môn Ngữ Văn trước hết là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, điều đó nói lên tầm quan trọng của nó trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Môn Ngữ Văn còn là một môn học thuộc nhóm công cụ. Điều đó nói lên mối quan hệ giữa Ngữ Văn và các môn khác. Học môn Ngữ Văn sẽ có tác động tích cực đến kết quả học tập các môn khác và các môn khác cũng góp phần giúp học tốt môn Ngữ Văn. ­Từ thực tế dạy học, tôi nhận ra rằng vốn kiến thức về Ngữ văn ( Văn học – Làm văn – Tiếng Việt) của các em bị hổng khá nhiều nguyên nhân chủ yếu là do các em chưa biết xâu chuỗi, liên hệ và vận dụng được những kiến thức mình đã được học trong bộ môn hoặc các môn ban Xã hội ( Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân) . Các em vẫn cho rằng các phân môn là riêng biệt không liên quan với nhau. Chính vì vậy kiến thức các em có được vô cùng rời rạc, có ngọn mà không có gốc dẫn đến khả năng cảm nhận một tác phẩm văn học còn hạn chế, chưa sâu sắc hoặc sai một số kiến thức cơ bản không đáng có. Đễ nâng cao chất lượng trong giờ Ngữ văn, giúp các em có cái nhìn toàn diện hơn tôi đã chọn đề tài này.

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI

Đơn vị: Trung tâm GDTX TP Biên Hòa

Mã số:

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỌC NGỮ VĂN CHO HỌC VIÊN QUA HƯỚNG DẠY HỌC TÍCH HỢP Người thực hiện: Nguyễn …. Lĩnh vực nghiên cứu: Quản lý giáo dục 

Phương pháp dạy học bộ môn: 

Phương pháp giáo dục 

Lĩnh vực khác: 

Có đính kèm:

 Mô hình  Phần mềm  Phim ảnh  Hiện vật khác

Năm học: 2011-2012

BM 01-Bia SKKN

Trang 2

SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC

I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN

1 Họ và tên: Nguyễn …

2 Ngày tháng năm sinh: 20/12/1987

3 Nam, nữ: nữ

4 Địa chỉ: 20B2, tổ 12, khu …

5 Điện thoại: … (CQ)/ (NR); ĐTDĐ: 0985…

7 Chức vụ: Giáo viên

8 Đơn vị công tác: Trung tâm GDTX

II TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO

- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân

- Năm nhận bằng: 2009

- Chuyên ngành đào tạo: Sư phạm môn Ngữ Văn

III.KINH NGHIỆM KHOA HỌC

- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: môn Ngữ Văn

Số năm có kinh nghiệm: 2

- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:

BM02-LLKHSKKN

Trang 3

Tên sáng kiến kinh nghiệm: Nâng cao hiệu quả học Ngữ văn cho học viên qua

hướng dạy học tích hợp

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Tích hợp là sự phối hợp các tri thức có liên quan gần gũi, mật thiết với nhau trong

thực tiễn để chúng hỗ trợ tác động vào nhau nhằm tạo nên kết quả tổng hợp nhanh chóng và vững trắc

Môn Ngữ Văn trước hết là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, điều đó nói lên tầm quan trọng của nó trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh Môn Ngữ Văn còn là một môn học thuộc nhóm công cụ Điều đó nói lên mối quan hệ giữa Ngữ Văn và các môn khác Học môn Ngữ Văn sẽ có tác động tích cực đến kết quả học tập các môn khác và các môn khác cũng góp phần giúp học tốt môn Ngữ Văn

Từ thực tế dạy học, tôi nhận ra rằng vốn kiến thức về Ngữ văn ( Văn học – Làm văn – Tiếng Việt) của các em bị hổng khá nhiều nguyên nhân chủ yếu là do các em

chưa biết xâu chuỗi, liên hệ và vận dụng được những kiến thức mình đã được học

trong bộ môn hoặc các môn ban Xã hội ( Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân) Các

em vẫn cho rằng các phân môn là riêng biệt không liên quan với nhau Chính vì vậy kiến thức các em có được vô cùng rời rạc, có ngọn mà không có gốc dẫn đến khả năng cảm nhận một tác phẩm văn học còn hạn chế, chưa sâu sắc hoặc sai một

số kiến thức cơ bản không đáng có Đễ nâng cao chất lượng trong giờ Ngữ văn, giúp các em có cái nhìn toàn diện hơn tôi đã chọn đề tài này

II THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI

1 Thuận lợi

Ngữ văn là bộ môn có tính tích hợp cao Tích hợp ngay trong phân môn (Văn học-Tiếng Việt-Làm văn) và tích hợp ngoài phân môn giữa Ngữ văn với các môn học khác Vì vậy việc dạy học theo hướng tích hợp là không hề khó

Học viên có khả năng tích hợp nhưng các em không chịu tư duy, thụ động trong suy nghĩ, hoạt động thiếu tích cực Nên thầy cô giáo phải là người khơi gợi, dẫn dắc các em trong quá trình đi đến tri thức

BM03-TMSKKN

Trang 4

Mục đích của môn Ngữ văn là hướng học viên đến cái chân, thiện, mĩ thông

qua khả năng cảm thụ tác phẩm Để cảm thụ tốt các em phải hiểu sâu sắc vấn đề

Đó là ưu thế của hướng dạy tích hợp

Từ những cơ sở nêu trên ở mỗi tiết dạy dù là Văn học, Tiếng Việt hay Làm văn tôi đã vận dụng triệt để hướng dạy học tích hợp để có thể nâng cao chất lượng môn Ngữ văn

2 Khó khăn

- Học sinh: xuất phát từ đặc thù của học viên bổ túc, các em vừa học vừa làm nên thời gian ôn bài và làm bài rất hạn hẹp Hơn thế nữa độ tuổi của các em không giống như học sinh phổ thông, quá trình học không liên tục nên khả năng tiếp thu bài của các em còn chậm, một số kiến thức các em sẽ không nắm vững vì vậy cần phải kiên trì khi dạy học theo hướng tích hợp

- Giáo viên: phải là người nắm vững kiến thức về Ngữ văn từ các cấp học, các khối lớp, có khả năng tổng hợp và khái quát vấn đề Bởi đây là những kiến thức chủ yếu là do kinh nghiệm giảng dạy đem lại chứ không có trong bất cứ giáo án nào Không những vậy giáo viên còn phải là người am hiểu về xã hội và các môn học khác, vì vậy đòi hỏi giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian, công sức Làm được điều này chủ yếu là những giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy

- Ngoài ra còn hạn chế từ chính đề tài: nếu nội dung nào cũng tích hợp bài học sẽ rất dài, không đảm bảo được thời gian của giờ dạy, vì vậy giáo viên phải có kế hoạch dạy học hợp lý, chỉ tích hợp những nội dung cơ bản trọng tâm thật cần thiết cho học viên

3 Số liệu thống kê

Qua một năm giảng dạy 3 khối lớp (Lớp 10, 11, 12) tôi đã áp dụng hướng dạy học này cho học viên và rút ra nhận xét :

- Trước khi dạy, các em hầu như tiếp thu kiến thức hoàn toàn mới mẻ, các em chưa biết liên hệ kiến thức giữa các phân môn và các môn học khác

- Sau khi ứng dụng cách dạy, trong vòng một năm kết quả đã nâng cao rõ rệt, những học viên năm trước học lớp 10 và 11, nay là học viên 11, 12 các em nắm bắt vấn đề khá nhanh, cảm thụ tác phẩm văn học đã có hồn hơn, vốn từ ngữ được nâng cao, đặc biệt là phương pháp làm bài các em nắm khá vững

III NỘI DUNG ĐỀ TÀI

Trang 5

1 Cơ sở lý luận

- Về phía học viên : trước khi học bài mới học viên phải đọc bài trước ở nhà , tìm hiểu những nội dung trong sách giáo khoa đã hướng dẫn

- Về phía giáo viên: chuẩn bị bài kĩ, ngoài ra giáo viên còn phải giúp học viên nhận biết lượng những kiến thức cũ đã được học và kiến thức mới để những kiến thức đó thành một hệ thống logic, chặt chẽ

2 Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài.

a Tùy theo từng bài mà giáo viên gợi dẫn cho học viên theo hướng tích hợp sao

cho hợp lí nhất Giáo viên có thể tích hợp theo những hướng sau:

- Tích hợp ngang: là kiểu tích hợp giữa ba phân môn Văn - Tiếng Việt -Tập làm

văn Điều này thể hiện trong việc bố trí các bài học giữa ba phân môn một cách đồng bộ và sự liên kết với nhau trên nhiều mặt nhằm hỗ trợ nhau, bổ sung làm nổi bật cho nhau Phân môn này sẽ củng cố, hệ thống hóa lại kiến thức cho phân môn khác

- Tích hợp dọc: là cách vận dụng quan điểm tích hợp trong cùng một phân môn với nhau tức là giữa Văn bản với Văn bản , giữa Tiếng Việt với Tiếng Việt , giữa Làm văn với Làm văn trong cùng một khối (lớp) hoặc khác khối (lớp) theo chiều dọc từ trên xuống

Tích hợp ngoài Văn: mở rộng kiến thức trong bài học Ngữ văn với các kiến thức

của các bộ môn KHTN-KHXH các ngành khoa học, nghệ thuật khác với các kiến thức đời sống mà học viên tích lũy được từ cuộc sống cộng đồng, qua đó làm giàu thêm vốn hiểu biết và phát triển nhân cách cho học viên

b. Trong quá trình viết sách giáo khoa, các tác giả đã thể hiện hướng tích hợp rất

rõ nét ở việc sắp xếp bài học ở các khối lớp ( từ thấp đến cao: Tiểu học- THCS-THPT) và ở từng phân môn ( Văn học-Tiếng Việt- làm Văn) trong cùng khối lớp theo trình độ nhận thức của học viên Vì vậy tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên trong quá trình dạy học Tuy nhiên, trong quá trình dạy học giáo viên không ý thức tích hợp cho học viên thì kết quả đạt được lại không cao Có thể trong vấn đề này tôi quá chú trọng đến khối lượng kiến thức nhưng cũng không phải là không có lí

bởi: muốn hướng học viên đến chức năng “thẩm mĩ” thì trước hết các em phải

hiểu, phải nắm thấu đáo và sâu sắc vấn đề Từ đó các em mới thấy được cái hay, cái đẹp của văn chương như chính tên của bộ môn đã thể hiện Ngữ văn được chia

Trang 6

làm 3 phân môn: Văn học-Tiếng Việt- Làm Văn Trong sáng kiến này tôi xin đưa

ra một số ý nhỏ khi dạy các phân môn theo hướng tích hợp như sau:

- Phân môn Văn học: Khi dạy học thông thường giáo viên sẽ chú trọng đến

những vấn đề sau

Về tác giả: cuộc đời - hướng học viên đến thời đại tác giả sống (Lịch sử) để

học sinh thấy rõ những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến con người và phong cách sáng tác của tác giả đó Qua đó liên hệ với những tác giả sống cùng thời đại để thấy được sự giống và khác nhau về giọng thơ, văn của từng người

Về tác phẩm: thể loại- thuộc thể loại nào? Hướng học viên đến đặc trưng thể

loại thông qua những tác phẩm các em đã được học từ các lớp dưới; hoàn cảnh sáng tác - chú ý vào những sự kiện liên qua đến sự ra đời của tác phẩm (thể loại, hoàn cảnh ra đời ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung và hình thức của tác phẩm) ; giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật- trong quá trình tìm hiểu, giáo viên gợi cho học sinh thấy được cái hay cái đẹp qua từ ngữ, hình ảnh và từng chi tiết trong tác phẩm Ngoài ra, giáo viên còn phải liên hệ với những tác phẩm cùng thời để thấy được nét chung, nét riêng, sự mới lạ cũng như những hạn của tác phẩm từ đó học viên mới cảm thụ được tác phẩm một cách sâu sắc, toàn diện hơn

 Quá trình trên đều là hướng tích hợp trong dạy học

Ví dụ cụ thể: khi tìm hiểu về tác phẩm “Việt Bắc”của nhà thơ Tố Hữu có những

nội dung tôi đã vận dụng hướng tích hợp như sau:

 GV: Em hãy cho biết những yếu tố nào ảnh hưởng đến phong cách thơ của

Tố Hữu?

 HS: Quê hương, gia đình và quá trình hoạt động cách mạng

 GV: Tại sao quê hương, gia đình và quá trình hoạt động cách mạng lại ảnh hưởng đến phong cách thơ Tố Hữu?

Đây là câu hỏi mang hướng tích hợp khiến các em phải vận dụng những hiểu biết về lịch sử, địa lý và văn hóa: Tố Hữu sinh ra ở quê hương Thừa Thiên-Huế mảnh đất của núi Ngự Bình và dòng sông Hương thơ mộng, không những thế nơi đây còn là nơi giàu giá trị văn hóa bởi từng là cố đô của một thời Thân sinh của

Tố Hữu là nhà nho nghèo, cả hai người đã truyền lại cho con tình yêu tha thiết đối với văn học dân gian Chính vì vậy quê hương, gia đình đã tạo nên cho Tố Hữu giọng thơ đậm chất trữ tình Tố Hữu giác ngộ lí tưởng và hoạt động cách mạng từ

Trang 7

rất sớm (Bài thơ “Từ ấy” Ngữ văn 11) ông sáng tác thơ để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng nên thơ ông phản ánh rõ nhất nhất những sự kiện chính trị của đất nước

ta Qua những yếu tố trên ta thấy thơ Tố Hữu mang tính chất trữ tình chính trị rất sâu sắc- đây cũng chính là phong cách thơ cần chú ý nhất của Tố Hữu

 GV: Em hãy cho biết Bài thơ Việt Bắc được ra đời trong hoàn cảnh nào?

 HV: Liên hệ đến sự kiện lịch sử 7-1954 hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được kí kết, 10- 1954 trung ương Đảng và chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại thủ đô Hà Nội

Đây là khiến thức lịch sử vô cùng quan trọng mà HS cần phải nắm kĩ cần liên

hệ để các em biết rằng Lịch sử và Văn học gắn bó chặt chẽ với nhau

 GV: Em hãy cho biết bài thơ được sáng tác theo thể thơ gì?

 HV: Bài thơ được sáng tác theo thể thơ lục bát

 GV: Em hãy nhắc lại đặc trưng về thơ và một số hiểu biết về thơ lục bát (Học viên đã được học trong chương trình 11)

 HV: Thơ tiêu biểu cho loại trữ tình, thơ thể hiện cảm xúc tâm trạng con người bằng ngôn ngữ cô đọng, gợi cảm và giàu nhạc điệu Lục bát là thể thơ thuần dân tộc, đây là thể thơ có khả năng thể hiện tình cảm của con người Việt Nam một cách chân thật và sâu sắc nhất

Nếu học viên không nhớ được giáo viên phải nhắc lại cho các em vì nếu nắm được đặc trưng thể loại các em sẽ tiếp nhận bài một cách dễ dàng Đặc trưng thể loại rất quan trọng, tác phẩm Văn học nào cũng gắn liền với một thể loại nếu vì vậy học viên sẽ không khó khăn trong việc nắm kiến thức này nếu như giáo viên

ôn lại cho các em qua mỗi bài Qua đó khi nghị luận một tác phẩm hoặc một đoạn

trích thơ các em cũng sẽ biết được phải đi vào từ ngữ và hình ảnh để từ đó làm nổi

bật nội dung và nghệ thuật của tác phẩm thơ

Hoặc về hai câu thơ:

“Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”

 GV: Hai câu thơ trên là lời của ai? Em có nhận xét gì về cách xưng hô?

 HV: Là lời của người Việt Bắc tỏ bày với người chiến sĩ khi chia tay, cách

xưng hô “mình-ta”.

Trang 8

 GV: Cách xưng hô ấy có quen thuộc không ? Em đã gặp ở đâu?

 HV: Cách xưng hô quen thuộc, đã bắt gặp trong văn học dân gian

 GV: Các em đã trả lời rất chính xác, chúng ta đã bắt gặp cách xưng hô “mình – ta” rất giản dị, mộc mạc mà ẩn chứa biết bao tình cảm qua những câu ca dao

Mình về ta chẳng cho về

Ta nắm vạt áo ta đề câu thơ Hoặc

Một đàn cò trắng bay quanh Cho loan nhớ phượng, cho mình nhớ ta

Qua cách xưng hô này ta thấy được tình cảm chân thành, thắm thiết của người Việt Bắc và những người chiến sĩ Tình cảm được thể hiện chân thành đằm thắm như tình cảm của những đôi lứa yêu nhau

GV: “Mười lăm năm ấy” theo các em là khoảng thời gian nào?

 HV: Đó là khoảng thời gian từ năm 1940 thời kì kháng chiến chống Nhật và tiếp theo là phong trào Việt Minh đến năm 1954

 GV: Mười lăm năm vừa là con số cụ thể vừa là con số tượng trưng nói lên chiều dài gắn bó thương nhớ vô vàn “thiết tha mặn nồng” Câu thơ còn gợi cho em nhớ đến tác phẩm nào chúng ta đã được học?

HV: Tác phẩm “Truyện Kiều” Nguyễn Du.

 GV: Câu thơ mang dáng dấp của một câu Kiều, mười lăm bằng thời gian Kim-Kiều xa cách thương nhớ mong đợi hướng về nhau

“ Những là rày ước mai ao Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình”

Cảm xúc đậm đà chất dân gian,đậm đà chất Kiều, với âm điệu ngọt ngào giọng thơ nồng ấm, tình cảm do vậy mà dạt dào tha thiết

 Qua hai câu thơ ta thấy hướng tích hợp được thể hiện rất rõ nét, học viên không chỉ củng cố được những kiến thức lịch sử cơ bản mà còn ôn lại được được kiến thức về văn học từ văn học dân gian đã dược học từ những năm học dưới đến văn học viết với những tác phẩm nổi tiếng như “Truyện Kiều” Nếu như không dạy theo hướng tích hợp học sinh sẽ cảm nhận câu thơ rất đơn thuần

là “Tình cảm của những người Việt Bắc dành cho người chiến sĩ”, học viên sẽ

thừa hưởng giá trị văn hóa dân gian, văn học viết trong cách thể hiện tình cảm

Trang 9

tình cảm thắm thiết của con người Việt Nam được thể hiện qua thể thơ thuần dân tộc

- Phân môn Tiếng Việt: Tiếng Việt vô cùng quan trọng, khi bắt đầu cầm bút

những chữ các em viết đầu tiên là Tiếng Việt, hàng ngày các em sử dụng Tiếng Việt để giao tiếp Có thể sử dụng đúng tiếng Việt nhưng sử dụng hay Tiếng Việt thì không phải học viên nào cũng làm được Mục đích của phân môn Tiếng Việt trong chương trình THPT là hướng học viên sử dụng Tiếng Việt đúng và hay Từ những kiến thức đã có từ các cấp học trước, các em vận dụng để tạo lập một văn bản sao cho từ ngữ thật rõ ràng, câu văn thật trong sáng Để làm được điều ấy trong quá trình dạy giáo viên phải tích hợp rất nhiều nguồn: phải lấy những ngữ liệu từ văn bản Văn học phân tích cho các em thấy cách sử dụng từ ngữ, câu văn, liên kết đoạn văn của tác giả, cách sử dụng ấy có tác dụng gì trong việc thể hiện tư tưởng tình cảm, từ cơ sở đó giúp các em tạo lập văn bản qua tiết Làm văn

Ví dụ cụ thể: Khi dạy bài “ Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt” tôi đã tích

hợp theo hướng sau:

GV: Như những ngôn ngữ khác trên thế giới, tiếng Việt đã trải qua hàng ngàn

năm tồn tại, trong suốt quá trình đó cha ông ta đã không ngừng sàng lọc, mài giũa

để tiếng Việt đến ngày hôm nay đạt được phẩm chất trong sáng Vậy, em hiểu như thế nào về sự trong sáng của tiếng Việt ( Muốn hiểu được các em phải giải nghĩa

được: “Trong” là gì? “Sáng” là gì? Đây là vốn từ hàng ngày chúng ta vẫn hay sử

dụng)

HV: “Trong” là không đục, “sáng” là tỏ rạng.

 GV: Các em trả lời rất đúng, khi hiểu rõ về nghĩa của từ các em đã và đang giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt (Ngoài ra giáo viên cho các em hiểu thêm qua bài

“ Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” – Phạm Văn Đồng , “Sáng nghĩa, trong lời” – Xuân Diệu trích trang 46SGK Ngữ Văn 12 tập 1).

 GV: Sự trong sáng của tiếng Việt được thể hiện qua những phương diện nào?

 HS: Tiếng Việt có hệ thống chuẩn mực các quy tắc về phát âm, chữ viết, về dùng từ, đặt câu, về cấu tạo lời nói, bài văn…

 GV: Các em hãy lấy một số ví dụ đễ chứng tỏ tiếng Việt có hệ thống chuẩn mực các quy tắc về phát âm, chữ viết, về dùng từ, đặt câu, về cấu tạo lời nói, bài văn…?

Trang 10

 HS: Ví dụ

 Trong tiếng Việt có nguyên âm, phụ âm và các thanh điệu

 Tiếng do sự kết hợp của các âm và thanh theo quy tắc nhất định

Tiếng là đơn vị cấu tạo nên từ: “ Đất”- là một tiếng cũng là một từ, “đẹp

đẽ” là một từ nhưng được cấu tạo bởi hai tiếng-> tiếng có thề có nghĩa

nhưng cũng có thể không có nghĩa, từ thì bắt buộc phải có nghĩa

 Cấu tạo câu theo quy tắc như: câu ghép chỉ quan hệ nguyên nhân- kết quả bằng cặp quan hệ từ vì….(cho) nên…và hai cụm chủ vị) như vì tôi chăm chỉ nên tôi đã làm hết bài tập…

 …

 GV: Các em cho ví dụ rất đúng ( thực ra những kiến thức này ở bậc THPT các

em đã được học rất kĩ qua bài “Những yêu cầu về sử dụng Tiếng Việt”- Ngữ văn

10 tập 2, “Từ ngôn ngữ chung đến lới nói cá nhân”- Ngữ văn 11 tập 1 Nhưng qua kinh nghiệm dạy tôi thấy rằng khi yêu cầu các em cho ví dụ về những chuẩn mực

và quy tắc về từ, câu, đoạn văn các em rất lúng túng không cho được ví dụ Vậy

để học viên nắm vững vấn đề này giáo viên phải tích hợp từ hai bài đã được dạy ở chương trình 10 và 11)

 GV: Vậy, muốn giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt chúng ta cần phải làm gì?

 HV: Khi nói và viết chúng ta phải sử dụng đúng theo hệ thống chuẩn mực và quy tắc của tiếng Việt

 GV: Trong thực tế các em đã nói đúng Tiếng Việt chưa? Rất nhiều bạn khi nói thiếu chủ ngữ, khi viết thì không sử dụng dấu câu, như thế các em đã giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt chưa? (GV có thể cho học viên thấy được lỗi sai của mình qua bài viết số 1 các em mới làm, yêu cầu các em sửa lại lỗi sai, đễ đạt hiệu quả thao tác này giáo viên phải chuẩn bị trước, sẽ không có gì thiết thực hơn việc học viên thấy được lỗi sai của chính mình, tự sửa được bài Khi tiến hành thao tác này tức chúng ta đã biến khối lượng kiến thức khô cứng thành những ứng dụng thiết thực của việc dạy và học tiếng Việt Đây cũng chính là sự tác động qua lại giữ phân môn Tiếng Việt và Làm văn)

 GV: Tiếng Việt có những chuẩn mực nhưng chúng ta cũng không phủ nhận những sự chuyển đổi linh hoạt và sáng tạo miễn là cái sáng ạo và cái mới phù hợp

Ngày đăng: 30/03/2015, 22:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w