1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

203 573 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 203
Dung lượng 3,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảng Tên gọi Trang Bảng 4.21 Thống kê mô tả các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch TTTC CTNY 126 Bảng 4.25 Tóm tắt các kỹ thuật phân tích và phương pháp kiểm định các giả thuyết ng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH



LÊ THỊ MỸ HẠNH

MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh - NĂM 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH



LÊ THỊ MỸ HẠNH

MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kế toán – Kiểm toán

Mã số: 62 34 03 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1 PGS TS VÕ VĂN NHỊ

2 TS NGUYỄN NGỌC DUNG

Tp Hồ Chí Minh - NĂM 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tất cả những nội dung được kế thừa, tham khảo từ nguồn tài liệu khác đều được tác giả trích dẫn đầy đủ và ghi nguồn cụ thể trong danh mục các tài liệu tham khảo

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 02 năm 2015

Nghiên cứu sinh

Lê Thị Mỹ Hạnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Viết luận án là một quá trình lâu dài và vất vả nhưng cũng không kém phần thú vị với cảm giác của người đang đi khám phá một chân trời mới hoặc đang đi tìm lời giải cho một bài toán khó Có khá nhiều niềm vui, sự đam mê và thích thú đan xen khi bản thân từng bước hoàn thành những nội dung quan trọng của luận án hoặc tích lũy được nhiều kiến thức và ngày càng trưởng thành hơn về kinh nghiệm nghiên cứu; Đặc biệt là sự thú vị mỗi khi khám phá được một vấn đề mới sau một thời gian dài bị mất phương hướng

Để hoàn thành luận án này, Tôi đã nhận được sự giúp đỡ và động viên của rất nhiều người, từ các Thầy Cô, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình Trước tiên, Tôi xin bày tỏ lòng tri

ân và cảm ơn sâu sắc nhất đến Thầy hướng dẫn của Tôi, PGS TS Võ Văn Nhị, Thầy cũng

là người giúp Tôi chập chững từng bước làm quen với hoạt động nghiên cứu và cũng là người hướng dẫn Tôi từ lúc Tôi còn là sinh viên đến làm luận văn thạc sỹ và bây giờ là nghiên cứu sinh Với kinh nghiệm dày dạn và tầm cao hiểu biết, Thầy luôn lường trước các khó khăn mà Tôi gặp phải để định hướng và động viên kịp thời, giúp Tôi từng bước khám phá từng chân trời kiến thức khoa học, đặc biệt những lúc Tôi mất phương hướng hay giúp Tôi tự tin hơn để có thể hoàn thành luận án trong điều kiện bản thân có nhiều áp lực, tưởng chừng khó thể vượt qua Tôi cũng xin cảm ơn TS Nguyễn Ngọc Dung, đã luôn hỗ trợ và khuyến khích Tôi trong suốt quá trình làm luận án

Xin chân thành cảm ơn và gởi lời tri ân đến Ban giám hiệu Trường Đại học Tôn Đức Thắng, đặc biệt là Thầy Hiệu Trưởng - GS.TS Lê Vinh Danh, Cô Trịnh Minh Huyền - Phó Hiệu Trưởng Thầy và Cô đã luôn động viên, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để Tôi

có thể hoàn thành luận án một cách tốt nhất Ngoài ra, Tôi cũng xin gởi lời cảm ơn đến tình cảm, sự hỗ trợ và chia sẻ, động viên của các đồng nghiệp, các Thầy Cô của khoa Kế toán –

ĐH Tôn Đức Thắng, điều này góp phần giúp Tôi có thể hoàn thành luận án của mình

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến tất cả Quý Thầy Cô khoa Kế toán – Kiểm toán

và Viện Đào Tạo Sau Đại học - Trường Đại học Kinh Tế TP.HCM đã luôn giúp đỡ các nghiên cứu sinh nói chung và bản thân Tôi nói riêng bằng những góp ý và nhận xét thẳng thắn nhưng chân tình để giúp Tôi ngày càng hoàn thiện luận án của mình

Ngoài ra, trong quá trình viết luận án, Tôi còn được sự hỗ trợ và giúp đỡ quý báu của nhiều Thầy Cô và đồng nghiệp ở các Trường khác, các bạn bè, các nghiên cứu sinh khác trong việc chia sẻ tài liệu, kinh nghiệm, kiến thức và thông tin; Tôi cũng được nhiều tổ chức, cá nhân khác nhiệt tình trong việc cung cấp các nguồn tài liệu có giá trị Không biết nói gì hơn, Tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành đến tất cả

Cuối cùng, Tôi không thể hoàn thành luận án nếu không có sự đồng hành, động viên

và chia sẻ của những người thân trong gia đình, đặc biệt là chồng, con và ba má Tôi, đã luôn bên cạnh, giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất để Tôi có đủ nghị lực và sự tập trung để hoàn thành luận án

Một lần nữa xin gởi lời tri ân và kính chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành công đến tất cả mọi người

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 02 năm 2015

Nghiên cứu sinh

Lê Thị Mỹ Hạnh

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình vẽ, sơ đồ

MỞ ĐẦU ……… 1

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU… 5

1.1 CÁC NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI LIÊN QUAN ĐẾN TTTC VÀ MINH BẠCH 5

1.1.1 Nội dung các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài luận án 5

1.1.2 Đánh giá chung về những nghiên cứu đã thực hiện ở nước ngoài về TTTC và minh bạch TTTC 11

1.2 CÁC NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN TTTC VÀ MINH BẠCH 13

1.2.1 Nội dung các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài luận án 13

1.2.2 Đánh giá chung về những nghiên cứu đã thực hiện trong nước về TTTC, minh bạch thông tin và minh bạch TTTC 17

1.3 KHE HỔNG TRONG NGHIÊN CỨU VỀ MINH BẠCH TTTC CỦA CÁC TÁC GIẢ TRONG/NGOÀI NƯỚC VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 18

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 20

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TTTC, MINH BẠCH TTTC CỦA CÁC CTNY …….21

2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TTTC VÀ MINH BẠCH TTTC 21

2.1.1 Khái niệm TTTC 21

2.1.2 Khái niệm minh bạch TTTC và tầm quan trọng của minh bạch TTTC 21

2.1.2.1 Khái niệm minh bạch TTTC 21

2.1.2.2 Tầm quan trọng của minh bạch TTTC 24

2.1.3 Nội dung của TTTC và các hình thức chuyển tải đến người sử dụng thông tin 26

2.1.3.1 Nội dung của TTTC công bố 26

2.1.3.2 Các hình thức chuyển tải TTTC đến người sử dụng thông tin 27

2.1.4 Tiêu chuẩn đánh giá và đo lường mức độ minh bạch TTTC 29

2.1.4.1 Tiêu chuẩn đánh giá mức độ minh bạch TTTC 29

2.1.4.2 Đo lường mức độ minh bạch TTTC 32

2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch TTTC của các CTNY 34

2.2 MINH BẠCH TTTC CỦA CÁC CTNY TRÊN TTCK Ở MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM Ở VIỆT NAM 37

2.2.1 Minh bạch TTTC của các CTNY trên TTCK Thái Lan 37

2.2.2 Minh bạch TTTC của các CTNY trên TTCK Hồng Kông 40

2.2.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 41

Trang 6

2.3 MỘT SỐ LÝ THUYẾT NỀN LIÊN QUAN ĐẾN TÍNH MINH BẠCH TTTC 44

2.3.1 Lý thuyết thông tin hữu ích 45

2.3.1.1 Nội dung lý thuyết 45

2.3.1.2 Áp dụng lý thuyết cho vấn đề minh bạch TTTC của các CTNY 46

2.3.2 Lý thuyết về thông tin bất cân xứng 47

2.3.2.1 Nội dung lý thuyết 47

2.3.2.2 Áp dụng lý thuyết cho vấn đề minh bạch TTTC của các CTNY 47

2.3.3 Lý thuyết tiết kiệm chi phí thông tin 49

2.3.3.1 Nội dung lý thuyết tiết kiệm chi phí thông tin 49

2.3.3.2 Áp dụng lý thuyết cho vấn đề minh bạch TTTC của các CTNY 49

2.3.4 Lý thuyết đại diện 50

2.3.4.1 Nội dung lý thuyết đại diện 50

2.3.4.2 Áp dụng lý thuyết cho vấn đề minh bạch TTTC của các CTNY 51

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 53

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 54

3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 54

3.1.1 Thiết kế nghiên cứu 54

3.1.2 Khung nghiên cứu của luận án 55

3.1.3 Quy trình nghiên cứu 56

3.1.4 Giới thiệu thang đo mức độ minh bạch TTTC của các CTNY 58

3.2 THIẾT LẬP MÔ HÌNH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ MINH BẠCH TTTC CỦA CÁC CTNY TẠI VIỆT NAM 59

3.2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 59

3.2.2 Xây dựng các giả thuyết trong mô hình 60

3.3 NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH 65

3.3.1 Thiết kế nghiên cứu định tính 66

3.3.2 Nội dung nghiên cứu định tính 67

3.3.3 Những điều chỉnh rút ra từ nghiên cứu định tính 68

3.3.3.1 Tổng hợp nghiên cứu định tính phần một 68

3.3.3.2 Tổng hợp nghiên cứu định tính phần hai 73

3.4 NGHIÊN CỨU KIỂM ĐỊNH THÔNG QUA PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH LƯỢNG 76 73 3.4.1 Xây dựng thang đo mức độ minh bạch TTTC của các CTNY 76

3.4.1.1 Thang đo nội dung công bố thông tin 76

3.4.1.2 Thang đo phản ánh sự phù hợp tiêu chuẩn chất lượng cao về công bố TTTC 77

3.4.1.3 Thang đo phản ánh chất lượng của kiểm toán độc lập 77

3.4.1.4 Thang đo phản ánh trách nhiệm của kiểm toán độc lập 78

3.4.1.5 Thang đo sự thuận tiện của thông tin 79

3.4.2 Xây dựng cách đánh giá các đặc điểm phản ánh tính minh bạch TTTC của các CTNY 79

Trang 7

3.4.3 Xác định phương pháp đo lường và tính toán các nhân tố ảnh hưởng mức độ minh

bạch TTTC của các CTNY 83

3.4.4 Thiết kế chương trình nghiên cứu kiểm định 87

3.4.4.1 Mẫu nghiên cứu 87

3.4.4.2 Phương pháp và quy trình thu thập dữ liệu 88

3.4.4.3 Đối tượng khảo sát 89

3.4.5 Mô hình hồi quy 90

3.4.5.1 Đánh giá độ tin cậy thang đo mức độ minh bạch TTTC của các CTNY 90

3.4.5.2 Đánh giá mối quan hệ giữa các biến 91

3.4.5.3 Phương trình hồi quy đề xuất 92

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 93

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 94

4.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ………94

4.1.1 Đánh giá thực trạng mức độ minh bạch TTTC của các CTNY trên TTCK VN 4.1.1.1 Giới thiệu sơ lược tình hình hoạt động CTNY trên TTCK Việt Nam……… 94

4.1.1.2 Đánh giá tình hình lập, trình bày và công bố TTTC của các CTNY 96

a Đánh giá chung của các chuyên gia, nhà nghiên cứu và cơ quan chức năng về chất lượng TTTC và tính minh bạch thông tin của các CTNY 96

b Khảo sát sơ bộ về tình hình lập, trình bày và công bố TTTC của các CTNY trong thời gian qua 98

4.1.1.3 Đo lường và đánh giá mức độ minh bạch TTTC của các CTNY 100

a Khảo sát mức độ minh bạch TTTC của các CTNY dựa vào các đặc điểm phản ánh sự minh bạch (dựa trên khái niệm) 101

b Khảo sát mức độ minh bạch TTTC các CTNY theo đánh giá của nhà đầu tư 113

c So sánh/Tổng hợp kết quả khảo sát mức đo minh bạch TTTC của các CTNY 117

4.1.2 Đánh giá độ tin cậy và giá trị của thang đo mức độ minh bạch TTTC của các CTNY 119

4.1.2.1 Cách thức thực hiện 119

4.1.2.2 Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo 119

4.1.2.3 Kết quả đánh giá giá trị thang đo – phân tích nhân tố khám phá (EFA) 121

4.1.3 Kết quả thống kê mô tả 124

4.1.3.1 Đánh giá mức độ minh bạch TTTC của các CTNY 124

4.1.3.2 Đánh giá về sự phù hợp của các biến 125

4.1.4 Kiểm định mô hình nghiên cứu 127

4.1.4.1 Kiểm định các giả thuyết 127

4.1.4.2 Kết quả kiểm định các giả thuyết 127

4.1.5 Kết quả phân tích hồi quy đa biến 133

4.1.5.1 Kiểm định ma trận hệ số tương quan 133

4.1.5.2 Kết quả mô hình hồi quy 134

4.1.5.3 Đánh giá sự phù hợp trong kết quả của mô hình và kiểm định tương quan 137

Trang 8

4.2 MỘT SỐ BÀN LUẬN VÀ HÀM Ý TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 141

4.2.1 Bàn luận kết quả nghiên cứu 141

4.2.1.1 Đối với nhóm nhân tố phản ánh đặc điểm tài chính 141

4.2.1.2 Đối với nhóm nhân tố phản ánh đặc điểm quản trị 144

4.2.2 Một số hàm ý từ kết quả nghiên cứu 146

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 150

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 151

5.1 KẾT LUẬN 151

5.2 KIẾN NGHỊ 154

5.2.1 Đối với các CTNY 154

5.2.1.1 Tăng cường ý thức trách nhiệm của các CTNY trong việc gia tăng mức độ minh bạch TTTC 155

5.2.1.2 Đầu tư phát triển hệ thống thông tin trong doanh nghiệp 155

5.2.1.3 Hoàn thiện hệ thống quản trị công ty 156

5.2.1.4 Nâng cao công tác quan hệ với cổ đông, nhà đầu tư và công chúng 158

5.2.2 Đối với Ủy ban chứng khoán Nhà nước và Bộ tài chính 160

5.2.2.1 Hoàn thiện các quy định về CBTT và nội dung trình bày trên BCTC 160 158 5.2.2.2 Tăng cường giám sát hoạt động công bố TTTC trên TTCK 163

5.2.2.3 Tăng cường các biện pháp chế tài đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ CBTT và sự thiếu minh bạch của thông tin được công bố trên TTCK 165

5.2.2.4 Hoàn thiện quy trình công bố TTTC từ CTNY đến nhà đầu tư thông qua website của Sở GDCK 167

5.2.2.5 Triển khai mô hình tổ chức định mức tín nhiệm 167

5.2.3 Đối với các bên liên quan khác 168

5.2.3.1 Về phía các tổ chức tín dụng – các chủ nợ 168

5.2.3.2 Về phía các công ty kiểm toán 168

5.2.3.3 Về phía Hội nghề nghiệp 169

5.2.3.4 Về phía các cơ sở đào tạo 170

5.2.4 Một số kiến nghị hỗ trợ khác 170

5.2.4.1 Tăng cường khả năng đọc hiểu BCTC cho nhà đầu tư 170

5.2.4.2 Đổi mới quá trình thông tin của các CTNY 171

5.3 HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 173

5.3.1 Hạn chế của nghiên cứu 173

5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 174

Danh mục công trình của tác giả

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 9

(PricewaterhouseCoopers), E&Y (Ernst&Young), Deloitte

BTC

BKS

Bộ tài chính Ban kiểm soát

CĐKT

CP

Cân đối kế toán

Cổ phần

và phân tích tài chính quốc tế)

CK

CLSA

CT

Chứng khoán Tập đoàn môi giới chứng khoán Châu Á Chủ tịch

IASB

IFC

Hội đồng chuẩn mực Kế toán quốc tế

Tổ chức Tài chính Quốc tế

Trang 10

Từ viết tắt Nội dung

OECD

PwC

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế PricewaterhouseCoopers Việt Nam (PwC)

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu

Ủy ban chứng khoán nhà nước Hồng Kông

Sở giao dịch chứng khoán Thái Lan

SGDCK

S&P

T&D Index

Sở giao dịch chứng khoán Standard and Poor

Transparency & Disclosure Index - Chỉ số minh bạch và công bố thông tin của S&P

TNHH

TTCK

Trách nhiệm hữu hạn Thị trường chứng khoán

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Tổng hợp đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng

đến mức độ minh bạch TTTC của các CTNY

68

Bảng 3.3 Tiêu chí đo lường mức độ minh bạch TTTC của các CTNY (Đã

hiệu chỉnh lần 1)

75

Bảng 3.5 Thang đo phản ánh sự phù hợp tiêu chuẩn chất lượng cao về công

Thống kê tính thuận tiện của BCTC các CTNY

Mô tả thông tin phiếu khảo sát

112

113

Bảng 4.18 Tiêu chí đo lường mức độ minh bạch TTTC của các CTNY (hiệu

chỉnh lần 2)

123

Trang 12

Bảng Tên gọi Trang

Bảng 4.21 Thống kê mô tả các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch

TTTC CTNY

126

Bảng 4.25 Tóm tắt các kỹ thuật phân tích và phương pháp kiểm định các giả

thuyết nghiên cứu

127

Bảng 4.29 Tương quan của biến hiệu quả sử dụng tài sản với mức độ minh

bạch

129

Bảng 4.30 Kiểm định sự khác nhau giữa biến công ty được kiểm toán bởi

Big 4 và Non Big 4 với mức độ minh bạch

130

Bảng 4.33 Kiểm định sự khác nhau giữa biến kiêm nhiệm hay không kiêm

giữa giữa chủ tịch HĐQT và Tổng GĐ (Kiểm định tham số)

132

Bảng 4.34 Kiểm định sự khác nhau giữa biến kiêm nhiệm hay không kiêm

giữa giữa chủ tịch HĐQT và Tổng GĐ (Kiểm định phi tham số)

Trang 13

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ SƠ ĐỒ

Hình 2.3 Mô hình nghiên cứu của nhóm tác giả Cheung và

Hình 3.3 Mô hình nghiên cứu “các nhân tố ảnh hưởng đến

một số nước Đông Nam Á (gồm Trung Quốc và

Trang 14

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đã trải qua gần 15 năm hoạt động Đối với TTCK thì thông tin luôn là yếu tố không thể thiếu khi thực hiện các hoạt động đầu tư Trong đó, thông tin tài chính đóng vai trò rất quan trọng trong các quyết định của nhà

đầu tư Yếu tố sống còn để thị trường có chất lượng là lòng tin của nhà đầu tư Lòng tin

được xây dựng dựa trên công khai, minh bạch (IFC, 2012) Tuy nhiên, TTCK Việt Nam

thời gian qua hoạt động thiếu hiệu quả Hàng loạt những vụ sụp đổ hoặc bị ngừng giao dịch của các CTNY thời gian qua liên quan rất nhiều đến CTNY, công ty kiểm toán trên thế giới và Việt Nam khiến cho nhà đầu tư mất dần lòng tin vào chất lượng của thông tin tài chính công bố và sự đảm bảo từ phía các công ty kiểm toán Tất cả những điều đó xuất phát từ vấn đề là các thông tin tài chính được trình bày và công bố thiếu sự minh bạch Đồng thời, mặc dù TTCK Việt Nam đã hoạt động gần 15 năm nhưng tính ổn định chưa cao, các thông tin nói chung và thông tin tài chính nói riêng chưa rõ ràng, chưa

minh bạch Ngoài ra, hệ thống kế toán và kiểm toán của Việt Nam “thiếu” văn hóa minh

bạch và trách nhiệm giải trình nên chất lượng của thông tin tài chính do các tổ chức tài chính cung cấp còn yếu kém (Ngân hàng Thế giới, 2014) Chính vì vậy, báo cáo môi

trường kinh doanh 2014 của ngân hàng thế giới xếp Việt Nam ở hạng 99/189 quốc gia, trong đó, chỉ số mức độ công khai thông tin đạt 7/10, chỉ số mức độ bảo vệ nhà đầu tư chỉ đạt 3/10)

Minh bạch thông tin từ phía các công ty, đặc biệt là các CTNY, là cơ sở quan trọng làm gia tăng giá trị của các CTNY, cũng là góp phần giúp TTCK phát triển bền vững Trong các nỗ lực nhằm khôi phục niềm tin của nhà đầu tư thì yêu cầu về minh bạch thông tin là ưu tiên hàng đầu để nâng cao chất lượng BCTC, nâng cao chất lượng công bố thông tin từ các CTNY Năm 2011, thông qua chương trình Tọa đàm Châu Á,

khối OECD đã xây dựng, công bố báo cáo Ưu tiên cải cách ở Châu Á: Đưa quản trị

công ty lên tầm cao mới Trong đó, một trong hai ưu tiên chính của báo cáo này là “cần

nâng cao chất lượng, thực hiện công bố thông tin kịp thời, minh bạch” (OECD, 2011)

Trong thời gian gần đây, để khôi phục lại niềm tin của công chúng, các cơ quan chức năng, các tổ chức liên quan, các công ty kiểm toán và CTNY đang tiến hành nhiều biện pháp để thay đổi quá trình soạn lập BCTC nhằm hướng đến các tiêu chuẩn chất lượng tốt nhất cho các TTTC công bố Thực tiễn ở Việt Nam và trên thế giới thời gian qua cho thấy, các cuộc khủng hoảng kinh tế thường bắt nguồn từ hệ thống tài chính Vì thế sự minh bạch của thông tin trên BCTC là rất cần thiết vì thiếu chúng các công ty không thể xây dựng niềm tin của công chúng vào thành quả thực hiện và khả năng thu hút vốn trên TTCK Nghiên cứu nhằm lượng hóa mức độ minh bạch TTTC của các

Trang 15

CTNY và xác định các nhân tố tác động đến tính minh bạch TTTC được trình bày và công bố là chủ đề rất quan trọng và hữu ích Việc nghiên cứu những vấn đề trên góp phần giúp TTCK Việt Nam hoạt động bền vững và hiệu quả là yêu cầu cần thiết Chính

vì vậy, NCS chọn đề tài: “Minh bạch thông tin tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu

Ngoài ra, dựa trên tổng quan về các nghiên cứu đã thực hiện trước đây trên thế giới và Việt Nam về minh bạch TTTC, cũng như xem xét các cơ sở lý thuyết về TTTC

và minh bạch TTTC sẽ giúp cho luận án kế thừa những ưu việt, đồng thời khắc phục những tồn tại của các nghiên cứu trước; Từ đó luận án sẽ có những đóng góp về mặt lý luận có hàm lượng khoa học cao, và mang nhiều ý nghĩa thực tiễn hơn

2 Mục tiêu nghiên cứu

Luận án thực hiện việc đánh giá mức độ minh bạch TTTC của các CTNY trên TTCK VN để thông qua đó xác định các nhân tố và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự minh bạch TTTC của các CTNY trên TTCK VN

Từ việc nhận diện các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của chúng, luận

án gợi ý một số chính sách cần thiết nhằm tăng cường tính minh bạch TTTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam

Để đạt được các mục tiêu trên, có 2 câu hỏi nghiên cứu được đề ra như sau:

(1) Thực trạng mức độ minh bạch thông tin tài chính của các CTNY trên TTCK Việt Nam trong thời gian qua?

(2) Những nhân tố nào ảnh hưởng đến tính minh bạch TTTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố và mối tương quan giữa chúng với nhau?

3 Đối tượng nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống BCTC và các thông tin khác có liên quan, phản ánh tình hình tài chính của các CTNY trên TTCK Việt Nam Qua đối tượng nghiên cứu này, luận án nhận diện những nhân tố ảnh hưởng và mối tương quan giữa chúng đến mức độ minh bạch thông tin trình bày trên BCTC của các CTNY trên TTCK

VN

4 Phạm vi nghiên cứu của luận án

Có nhiều nhóm nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch và công bố thông tin của doanh nghiệp, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu này, luận án chỉ đề cập đến nhóm nhân tố tài chính và nhân tố quản trị công ty; Đồng thời đối với thông tin tài chính có nhiều loại thông tin trình bày trên nhiều báo cáo khác nhau cũng như có nhiều thời điểm báo cáo, nhưng luận án chỉ tập trung vào thông tin tài chính được trình bày và công bố

trên báo cáo tài chính năm của các CTNY trên TTCK TP.HCM

Trang 16

Ngoài ra, để xem xét mức độ minh bạch thông tin qua đánh giá của nhà đầu tư, luận án giới hạn phạm vi khảo sát các nhà đầu tư chủ yếu là nhà đầu tư trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM

Việc giới hạn phạm vi nghiên cứu và khảo sát gắn với TTCK TP.HCM là do điều kiện cũng như tình hình hoạt động và các quy định về nội dung TTTC, công bố TTTC ở các CTNY trên TTCK TP.HCM không có những khác biệt lớn so với các CTNY trên TTCK Hà Nội Hơn nữa hoạt động của TTCK TP.HCM có ảnh hưởng lớn đến TTCK

VN nên việc lựa chọn TTCK TP.HCM có tính đại diện, có thể phản ánh được tình hình hoạt động của TTCK VN Từ việc giới hạn này, luận án thực hiện việc khảo sát BCTC của các CTNY trên sở GDCK TP.HCM từ năm 2011-2012

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được thực hiện thông qua hai bước chính: Nghiên cứu tổng thể để khám phá bằng phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu kiểm định bằng phương pháp nghiên cứu định lượng

(1) Nghiên cứu tổng thể: thực hiện lượt khảo các kết quả nghiên cứu trước trên thế giới và ở Việt Nam để tìm hiểu sâu về những nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin tài chính công bố của các CTNY Đồng thời, tiếp tục nghiên cứu định tính bằng cách thảo luận và trao đổi trực tiếp với các chuyên gia về chứng khoán, tài chính, kế toán, các tổ chức đầu tư và các công ty có hoạt động đầu tư (phương pháp chuyên gia)

(2) Nghiên cứu kiểm định: thông qua phương pháp định lượng, thực hiện khảo sát mức độ minh bạch thông tin tài chính của các CTNY trên TTCK Việt Nam bằng bảng trả lời câu hỏi của các nhà đầu tư tham gia trên TTCK Ngoài ra, luận án cũng tiến hành

đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch TTTC của các CTNY để xây dựng mô hình hồi quy phản ánh mối tương quan giữa các nhân tố ảnh hưởng và mức độ minh bạch TTTC của các CTNY trên TTCK VN

6 Ý nghĩa của nghiên cứu

Trang 17

 Phân tích và đánh giá thực trạng mức độ minh bạch thông tin tài chính công bố của các CTNY trên TTCK Việt Nam với 2 cách tiếp cận: qua các đặc điểm về sự minh bạch mà luận án xây dựng và qua khảo sát ý kiến của nhà đầu tư

 Xây dựng mô hình mối quan hệ giữa các nhân tố tài chính và quản trị công ty đến mức độ minh bạch TTTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam

 Thông qua kết quả thực nghiệm, các đề xuất đưa ra có cơ sở thực tiễn hơn nhằm

hỗ trợ cho các chủ thể tham gia trên TTCK cách thức để tăng cường mức độ minh bạch TTTC trên TTCK Việt Nam

7 Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu, luận án được chia làm 5 chương:

Phần mở đầu: Giới thiệu về công trình nghiên cứu

Chương 1: Giới thiệu tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết về thông tin tài chính và minh bạch thông tin tài

chính

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Danh mục công trình của tác giả

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 18

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Minh bạch thông tin tài chính là vấn đề đã được nghiên cứu của rất nhiều tác giả với nhiều công trình nghiên cứu thuộc nhiều cấp độ ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam

Để có một cái nhìn toàn cảnh về những nghiên cứu có liên quan, luận án chọn lựa và giới thiệu một số công trình nghiên cứu có tính tiêu biểu liên quan đến vấn đề này Qua

đó sẽ rút ra khe hổng nghiên cứu đối với công trình luận án

1.1 CÁC NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI LIÊN QUAN ĐẾN THÔNG TIN TÀI CHÍNH

VÀ MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH

Trong những năm trước đây, nghiên cứu về TTTC và minh bạch thông tin của các công ty được nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu dựa trên dữ liệu của nhiều công ty ở nhiều nước khác nhau Nhiều nghiên cứu trước chủ yếu tập trung nhiều vào nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin của cả những CTNY và công ty chưa niêm yết Trong nội dung này luận án tìm hiểu và trình bày các nghiên cứu ngoài nước về thông tin tài chính và minh bạch thông tin tài chính trong mối liên hệ mật thiết với nhau

1.1.1 Nội dung các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài luận án

- Những nghiên cứu trên thế giới trước đây liên quan đến TTTC và ảnh hưởng của

nó đến quyết định đầu tư trên TTCK gồm những nghiên cứu như:

Năm 1994, Carolyn Streuly với nghiên cứu có tên gọi “The primary objective of

financial reporting: How are we doing?” (Tạp chí CPA Ohio số 53.6) đã thực thiện khảo

sát với mẫu ngẫu nhiên của 1.300 các chuyên gia phân tích tài chính (CFAs) ở Mỹ Sau 3 lần tổng hợp từ các thư khảo sát, cuộc điều tra đã nhận được kết quả trả lời từ 508 thành viên trong mẫu Kết quả khảo sát cho thấy: 53% số người được hỏi cho biết các thông tin được công bố trong báo cáo hàng năm là đủ cơ sở để họ đưa ra các quyết định đầu tư Các kết quả thu được về sự đánh giá cao tính hữu ích của BCTC và các nội dung thuyết minh rõ ràng của BCTC đã cho thấy tính hữu dụng của BCTC trong việc cung cấp thông tin cho các quyết định đầu tư cũng như cung cấp bằng chứng về những kết quả đạt được trong mục tiêu chính của BCTC là cung cấp thông tin hữu ích để các nhà đầu tư, các chủ

nợ, và những người dùng khác có thể đưa ra các quyết định hợp lý

Ngoài ra, để có cơ sở cải thiện và tăng cường tính hữu dụng của BCTC, năm

2008, trong Báo cáo của Ủy ban Tư vấn SEC về Cải thiện BCTC dưới tác động của Ủy

ban giám sát kế toán công ty đại chúng (Final Report of SEC Advisory Committee on

Improvements to Financial Reporting Impacts, James Hamilton) đã đưa ra các biện pháp

Trang 19

kiểm tra nhằm tăng tính hữu dụng của BCTC và làm giảm sự phức tạp cho nhà đầu tư, người soạn lập BCTC và kiểm toán viên Báo cáo đưa ra các nguyên tắc hướng dẫn và khuyến nghị về mục đích chính của BCTC phải giúp cho các nhà đầu tư đưa ra quyết định với các thông tin đầy đủ Báo cáo cũng đề cập đến việc gia tăng nhận thức thực hành về đánh giá kế toán và kiểm toán với các tiêu chuẩn phải dựa trên các nguyên tắc

cơ bản

Một số nghiên cứu liên quan đến quan hệ giữa thông tin BCTC và các chỉ số tài chính hay giá cổ phiếu CTNY có nghiên cứu của Dimitropoulos và cộng sự (tạp chí Managerial Auditing 24 3 (2009): P248-265) về mối quan hệ giữa thông tin BCTC và

giá cổ phiếu thực hiện trên TTCK Hy Lạp với tên gọi “The value relevance of financial

statements and their impact on stock prices” Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng

mô hình hồi quy OLS và thu thập dữ liệu của 101 CTNY trên TTCK Athens từ năm

1995 – 2004 để kiểm định cho các giả thuyết đưa ra Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ vốn lưu động trên tổng tài sản và tỷ suất lợi nhuận có tác động tiêu cực đến thu nhập cổ phiếu, trong khi đó tỷ suất lợi nhuận và doanh thu trên tổng tài sản có ảnh hưởng tích cực đến thu nhập cổ phiếu

Đồng thời, trong năm 2011, nhằm xem xét vai trò của thông tin kế toán trong đầu

tư chứng khoán có nghiên cứu trong luận án Tiến sĩ của Dương Minh Châu, thực nghiệm

ở TTCK Anh Quốc với tên gọi “How market mispricing affects investor behaviour,

corporate investment and real earnings management: the UK evidence” Với việc sử

dụng dữ liệu nghiên cứu qua 20 năm trên TTCK Anh quốc, tác giả đã đưa ra bằng chứng

để khẳng định rằng, thông qua việc xem xét các thông tin BCTC cũng như việc định giá sai giá trị của thị trường có ảnh hưởng đáng kể đến các quyết định khác nhau của cả nhà đầu tư và các nhà quản lý Nghiên cứu cũng đưa ra những bằng chứng và phân tích những hành vi của nhà đầu tư và nhà quản lý phản ứng trước những thay đổi của TTCK Vương quốc Anh

- Những nghiên cứu về mức độ minh bạch trong CBTT và các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin gồm những nghiên cứu như:

Nghiên cứu xuyên quốc gia về minh bạch thông tin của Meek & Gray (1995) với

tựa đề “Factors influencing voluntary annual report disclosures by U.S., U.K., and

continental European multinational corporations” đề cập các nhân tố ảnh hưởng đến

việc công bố các thông tin tự nguyện về chiến lược, thông tin tài chính và phi tài chính trên báo cáo thường niên của các công ty đa quốc gia thuộc Mỹ, Anh và lục địa Châu âu

Hay nghiên cứu của Zarzeski (1996) với tên gọi “Spontaneous harmonization effects of

culture and market forces on accounting disclosure practices” trong tạp chí Accounting Horizons Trong đó, kết quả nghiên cứu của Zarzeski (1996) chỉ ra rằng mức độ CBTT phụ thuộc vào văn hóa và sức mạnh của thị trường thông qua các nhân tố như doanh thu

Trang 20

xuất khẩu, đòn bẩy tài chính và quy mô công ty Nghiên cứu của bà thực hiện trên 7 quốc gia với 256 công ty có quy mô nhỏ, vừa và lớn.

Năm 2002, tác giả Almazan và cộng sự đã công bố công trình “Stakeholders,

capital structure and transparency” (CEMFI Working Paper) Công trình này đã nghiên

cứu mối quan hệ giữa tính minh bạch thông tin với quyết định cơ cấu vốn trong doanh nghiệp và chỉ ra rằng mức độ minh bạch hóa thông tin càng cao thì các doanh nghiệp có

xu hướng lựa chọn cơ cấu vốn an toàn hơn

Đến năm 2003, trong bài báo “Transparency, Financial Accounting Information,

and Corporate Governance” ( Economic Policy Review), tác giả Robert M Bushman và

Abbie J Smith, nghiên cứu mối quan hệ giữa minh bạch thông tin, đặc biệt là thông tin

từ BCTC kiểm toán và vấn đề QTCT Trong nghiên cứu, nhóm tác giả đã đưa ra các tiêu chí để đánh giá mức độ minh bạch thông tin của doanh nghiệp

Trong năm 2004, nghiên cứu “Transparency, Specialization and FDI” (CESIFO

working paper No 1161) của các tác giả Assaf Razin, Efraim Sadka đã phân tích mối quan hệ giữa minh bạch thông tin và sự phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài Nghiên cứu này chỉ ra rằng các quốc gia có mức độ minh bạch thông tin kém thì dòng chảy FDI cũng suy giảm

Nhóm các đối tượng khác cũng có ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên TTCK cần phải kể đến là vai trò của các công ty kiểm toán, công ty xếp hạng tín nhiệm, các quy định pháp luật đối với mức độ minh bạch thông tin của các CTNY Vì vậy, nhiều tác giả đã có những bài viết, công trình nghiên cứu phân tích về vấn đề này Tiêu biểu là

nhóm tác giả Bartley và cộng sự (2007) đã có bài viết “Auditor Fees, Market

Microstructure, and Firm transparency” (Journal of Business Finance & Accounting),

đưa ra giả thuyết là phí kiểm toán càng cao thì rủi ro gian lận BCTC càng lớn và kết quả nghiên cứu thực nghiệm cũng chứng tỏ giả thuyết này của tác giả là đúng Ngoài ra,

nhóm tác giả Heibatollah Sami and Haiyan Zhou (2008) với công trình “Do auditing

standards improve the accounting disclosure and information environment of public companies? Evidence from the emerging markets in China” (The International Journal of

Accounting 43 (2008) 139-169) đã phân tích tác động của việc ban hành một loạt các chuẩn mực kiểm toán mới (năm 1996) đến môi trường thông tin của TTCK Trung Quốc Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, có sự cải thiện đáng kể về kết quả quản trị đối với các CTNY nhờ việc gia tăng số lượng thông tin được công bố công khai cho các nhà đầu tư

- Ngoài các nghiên cứu riêng lẻ về TTTC hoặc các nghiên cứu về minh bạch thông tin nói chung, nhiều tác giả còn nghiên cứu về tính minh bạch thông tin tài chính từ phạm vi doanh nghiệp đến phạm vi quốc gia trong các nghiên cứu như:

Trang 21

Năm 2001, nghiên cứu “What Determines Corporate Transparency?” (Journal of

Accounting Research, Vol 42, No 2) của Robert Bushman và cộng sự đã phân tích về sự minh bạch thông tin của các CTNY dựa trên 2 nhóm nhân tố: minh bạch TTTC (tính kịp thời, độ tin cậy, khả năng tiếp cận thông tin) và minh bạch thông tin quản trị Nghiên cứu này cũng đánh giá mức độ ảnh hưởng của nhân tố luật pháp và kinh tế đến tính minh bạch thông tin của doanh nghiệp thông qua mẫu khảo sát của các CTNY trên 41 đến 46 quốc gia Trong đó, Bushman và nhóm tác giả xem xét tính minh bạch của BCTC thông qua 5 nhóm nhân tố là: (1) Mức độ công bố TTTC, (2) Mức độ CBTT quản trị công ty, (3) Các nguyên tắc kế toán, (4) Thời gian công bố BCTC, (5) Chất lượng kiểm toán các BCTC được công bố Qua công trình nghiên cứu này, Bushman và nhóm tác giả kết luận rằng: minh bạch trong QTCT liên quan mật thiết với cơ chế pháp lý, trong khi đó minh bạch TTTC liên quan chủ yếu đến chính sách kinh tế Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng cho rằng minh bạch TTTC có liên quan đến quy mô doanh nghiệp Cụ thể, công ty có quy mô lớn thì mức độ minh bạch TTTC cao hơn công ty nhỏ Ngược lại, mức độ minh bạch trong QTCT không liên quan đến quy mô doanh nghiệp Tuy nhiên, nghiên cứu của Bushman và nhóm tác giả chỉ dừng lại ở mức thống kê mô tả các nhân tố liên quan đến tính minh bạch thông tin và trình bày các thước đo để đo lường tính minh bạch thông tin

mà chưa đưa ra được mối tương quan giữa các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin

Năm 2003, một nghiên cứu khác “A multinational test of determinants of

corporate disclosure” (The International Journal of Accounting, 38 (2003) 173 – 194)

của Jeffrey J Archambault và Marie E Archambault nghiên cứu mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin của các công ty Theo nhóm tác giả, ở góc độ

công ty, các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố TTTC của doanh nghiệp là: quyền

sở hữu, tình trạng niêm yết, chính sách cổ tức, kiểm toán và đòn bẩy tài chính

Ngoài ra, Jeffrey và Marie cho rằng quá trình hoạt động của doanh nghiệp ảnh hưởng

đến mức độ công bố TTTC của các CTNY Quá trình hoạt động này gồm: quy mô công

ty, lĩnh vực kinh doanh và doanh thu xuất khẩu Bằng nghiên cứu thực nghiệm để

kiểm định các giả thuyết nghiên cứu trên với mẫu khảo sát là 1.000 công ty công nghiệp hàng đầu ở 41 quốc gia (trong quá trình chạy mô hình thì chỉ còn lại 33 quốc gia), Jeffrey

J và Marie E Archambault đã đưa ra được mô hình hồi quy về sự tương quan giữa mức

độ CBTT nói chung và TTTC nói riêng của doanh nghiệp với các nhân tố ảnh hưởng đã nêu trên Jeffrey J và Marie E Archambault kết luận rằng CBTT như là một chức năng của văn hóa, hệ thống chính trị và kinh tế quốc gia và các hệ thống chính sách tài chính với hoạt động của công ty Kết quả thực nghiệm của nhóm tác giả cho thấy, mỗi nhóm nhân tố trên đều ảnh hưởng đáng kể đến quá trình CBTT, ngay cả đối với những nhân tố

mà trong các nghiên cứu trước khẳng định là không có quan hệ với quá trình CBTT thì ở

Trang 22

nghiên cứu này tác giả cũng đã chứng minh là khá quan trọng Riêng ở góc độ công ty,

kết quả thực nghiệm của nhóm tác giả cho rằng, hầu hết các nhân tố phản ánh đặc điểm tài chính và quá trình hoạt động của doanh nghiệp đều ảnh hưởng đến mức độ CBTT nói chung và TTTC nói riêng; Riêng các nhân tố như: đòn bẩy tài chính và chính sách cổ tức không ảnh hưởng đến mức độ CBTT Ngoài ra, nhóm tác giả cũng cho rằng CBTT là một

quá trình phức tạp chịu sự ảnh hưởng bởi một tập hợp các yếu tố

Tiếp theo các nghiên cứu trên, ở góc độ nghiên cứu mức độ minh bạch TTTC trong phạm vi một quốc gia, ở Châu Á, năm 2005, nhóm tác giả Cheung và cộng sự

trong nghiên cứu “Determinants of Corporate Disclosure and Transparency: Evidence

from Hong Kông and Thailand” đã xem xét các mức độ CBTT và tính minh bạch của các

CTNY ở 2 thị trường là Thái Lan và Hồng Kông Nghiên cứu đưa ra 2 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT và tính minh bạch thông tin là: nhóm nhân tố tài chính và

nhóm nhân tố quản trị công ty Trong nhóm nhân tố tài chính, các tác giả đưa ra mô

hình 5 biến tài chính có ảnh hưởng đến mức độ công bố và tính minh bạch của TTTC

gồm: quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, kết quả tài chính, tài sản đảm bảo và hiệu

quả sử dụng tài sản Đối với nhóm nhân tố về quản trị công ty, nhóm tác giả cho rằng

các biến có ảnh hưởng đến mức độ công bố và tính minh bạch của thông tin gồm: mức

độ tập trung quyền sở hữu, cơ cấu của HĐQT và quy mô của HĐQT Nghiên cứu

trên của nhóm tác giả đã thực hiện khảo sát với số lượng 265 CTNY trên TTCK Thái Lan và 148 CTNY trên TTCK Hồng Kông Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: mức độ công

bố và tính minh bạch thông tin của các công ty Thái Lan thì cao hơn nhiều so với các công ty ở Hồng Kông Về các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch của các CTNY thì

ở nhóm nhân tố tài chính: các nhân tố như quy mô công ty, hiệu quả sử dụng tài sản,

giá trị tài sản đảm bảo và khả năng sinh lợi dài hạn của doanh nghiệp ảnh hưởng đến

tính minh bạch và mức độ công khai thông tin của các CTNY ở Hồng Kông, nhưng lại không ảnh hưởng đến các công ty ở Thái Lan Trong khi đó, các nhân tố quản trị công ty

như quy mô và cơ cấu HĐQT có ảnh hưởng đến mức độ CBTT ở Thái Lan nhưng lại

không ảnh hưởng đến mức độ CBTT ở Hồng Kông Riêng biến “tỷ lệ các giám đốc điều hành không phải là thành viên của HĐQT” (trong biến cơ cấu của HĐQT) càng lớn thì tính minh bạch và mức độ CBTT của các CTNY càng cao ở cả Thái Lan và Hồng Kông Nghiên cứu cũng đã thực nghiệm để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công

bố và tính minh bạch thông tin và kết luận rằng quản trị công ty tốt dẫn đến việc công bố

và minh bạch thông tin sẽ tốt hơn ở Thị trường Thái Lan Tuy nhiên, nhóm tác giả chủ yếu chỉ so sánh mức độ ảnh hưởng của các nhân tố trên giữa 2 TTCK Thái Lan và Hồng Kông, đồng thời chỉ mới thống kê mô tả về mức độ ảnh hưởng của các nhóm nhân tố tài chính và quản trị công ty; nhưng chưa giải thích được nguyên nhân sâu xa của các kết quả từ nghiên cứu thực nghiệm, chẳng hạn vì sao hầu như các nhân tố tài chính lại không

Trang 23

ảnh hưởng đến tính minh bạch và mức độ CBTT ở các CTNY Thái Lan nhưng lại có ảnh hưởng đối với các CTNY Hồng Kông

Năm 2006, trong nghiên cứu với tên gọi “Transparency in Financial Statements:

A Conceptual Framework from a User Perspective” của nhóm tác giả Michael và cộng

sự (2006) (Journal of American Academy of Business, Cambridge) đã đưa ra mô hình về các mức độ minh bạch thông tin Nghiên cứu này chính thức hóa minh bạch là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá các BCTC theo quan điểm của người sử dụng bên ngoài Nhóm tác giả đưa ra “mô hình minh bạch đa cấp”, bao gồm 6 mức độ:

- Mức 1: minh bạch trong các nghiệp vụ kinh tế

- Mức 2: minh bạch trong các phương pháp kế toán

- Mức 3: minh bạch trong các ước tính kế toán

- Mức 4: minh bạch các tình huống kinh tế

- Mức 5: minh bạch làm cơ sở cho việc so sánh đối chiếu

- Mức 6: minh bạch trong sự thống nhất

Cũng trong năm 2006, một nghiên cứu khác nhằm chứng minh việc cần thiết phải tuân thủ các nguyên tắc được thừa nhận khi soạn lập BCTC nhằm gia tăng sự minh bạch

khi soạn lập BCTC có nghiên cứu của Bert J Zarb với tên gọi “The Quest for

Transparency in Financial Reporting: Certified Public Accountant” đăng trên CPA

Journal 76.9 Trong nghiên cứu này, tác giả cho rằng để đạt được sự minh bạch trong BCTC thì trước hết thông tin cần trình bày phải được chuẩn bị và thiết lập theo các nguyên tắc kế toán được thừa nhận chung Làm được điều đó, thông tin BCTC sẽ được

sử dụng rộng rãi cho người sử dụng ở bất kỳ quốc gia nào Ngoài ra, tác giả tin rằng cách tiếp cận tốt nhất là nên sử dụng IFRS kết hợp với US GAAP khi soạn lập BCTC và US

GAAP nên hội tụ dần với IFRS

Ngoài ra, năm 2007, nhóm tác giả Yu-Chih Lin và cộng sự trong nghiên cứu “The

relationship between information transparency and the informativeness of accounting earnings” đã dựa trên chỉ số “hệ thống xếp hạng về sự minh bạch và công bố thông tin

ITDRS” (đây là chỉ số đánh giá xếp hạng về sự minh bạch và CBTT của các CTNY được xây dựng ở Đài Loan) để xem xét mối quan hệ giữa minh bạch thông tin và thu nhập kế toán Nghiên cứu của nhóm tác giả sử dụng cơ sở dữ liệu của các CTNY trên TTCK Đài Loan trong năm tài chính 2003 và 2004 Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của nhóm tác giả cho thấy rằng, mức độ minh bạch thông tin được đo bằng chỉ số ITDRS làm giảm sút thông tin về thu nhập kế toán Tuy nhiên, nếu mức độ minh bạch thông tin được đo bằng

tỷ số các khoản đầu tư cổ phiếu dài hạn thì thông tin thu nhập kế toán sẽ gia tăng ở các công ty có mức độ minh bạch cao Kết quả cũng cho thấy, theo đánh giá của nhà đầu tư,

số liệu của kế toán hữu ích và có giá trị hơn so với kết quả xếp hạng của chỉ số ITDRS

Trang 24

Nhóm tác giả cũng cho rằng sử dụng chỉ số ITDRS không phải là cách tốt để đánh giá sự minh bạch của TTTC

Gần hơn, nhằm xem xét quan điểm soạn lập BCTC, trong năm 2010, có nghiên cứu của Thomas J Phillips et el đăng trên Academy of Accounting and Financial

Studies Journal 14.4 với tựa đề “Transparency in financial reporting: a look at

rules-based versus principles-rules-based standards” Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nhà quản lý

doanh nghiệp có mong muốn thiết lập BCTC dựa trên các chuẩn mực kế toán, trong khi các nhà đầu tư và chủ nợ lại nghiêng về quan điểm nên thiết lập BCTC dựa trên luật lệ

Phụ lục 1.1: Tổng hợp một số nghiên cứu tiêu biểu trên thế giới

1.1.2 Đánh giá chung về những nghiên cứu đã thực hiện ở nước ngoài về TTTC và minh bạch TTTC

Theo thời gian các nghiên cứu trên thế giới nhờ kế thừa các nghiên cứu trước nên ngày càng hoàn thiện hơn về mặt nội dung và ý nghĩa, các kết luận đưa ra có giá trị và cơ

sở minh chứng hơn Nhìn chung, các nghiên cứu trước và sau ở nước ngoài có những đặc điểm như sau:

(1) Các nghiên cứu gắn liền với nền kinh tế phát triển, tiếp cận theo hướng gắn kết với các chuẩn mực kế toán quốc tế (thực hiện xuyên lục địa), mang tính lịch sử với cách thức thực hiện xuyên suốt qua thời gian từ quá khứ đến hiện tại, qua không gian từ những nghiên cứu theo mức độ đa quốc gia đến các nghiên cứu của từng nhóm nước

(2) Hầu hết các nghiên cứu trước là những khởi xướng nhằm đưa ra một số nhân tố để đánh giá mức độ minh bạch và ảnh hưởng của các nhân tố đó đến minh bạch thông tin, tạo tiền đề cho những nghiên cứu tiếp theo Trong những nghiên cứu đầu tiên, chủ yếu xem xét các nhóm nhân tố một cách chung chung, chưa có sự phân nhóm các nhân tố, đồng thời ở những nghiên cứu đó chủ yếu đưa ra những nhân tố ảnh hưởng mang tính đơn lẻ, chưa có tính hệ thống và chưa có sự phân định theo các nhóm nhân tố Càng về sau, các nghiên cứu tiếp theo đã xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch và mức độ CBTT của doanh nghiệp với cách nhìn có tính hệ thống và toàn diện hơn

(3) Trong các nghiên cứu đầu, các tác giả chủ yếu thực hiện thông qua mẫu khảo sát là những công ty ở các quốc gia khác nhau (mang tính xuyên lục địa) Càng về sau, kế thừa những kết luận từ các nghiên cứu thực hiện ở các quốc gia khác nhau, các tác giả sau điều chỉnh phạm vi điều tra và thực nghiệm chủ yếu trên một hoặc một số quốc gia riêng lẽ để có những so sánh về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố trên từng quốc gia để từ đó có những nhận định cụ thể hơn Ngoài ra, tiếp nối những nghiên cứu trước, thường xem xét tính minh bạch ở cấp độ quốc gia, mang tính vĩ mô với góc nhìn rộng hơn thì ở các nghiên cứu sau ngày càng tập trung nhiều ở góc độ công ty

Trang 25

(4) Phương pháp nghiên cứu chủ yếu sử dụng trong các nghiên cứu đã thực hiện là phương pháp nghiên cứu định lượng và kế thừa những kết quả nghiên cứu trước, với cỡ mẫu ngày càng mở rộng Độ tin cậy cũng như các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch của các công ty ở những nghiên cứu sau đưa ra những phát hiện có tính mới hơn cũng như những lý luận và bằng chứng được các nhóm tác giả đưa ra có tính thuyết phục cao, khắc phục dần những hạn chế của các nghiên cứu trước

(5) Nhiều nghiên cứu có kết quả rất khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau Cụ thể, ở góc độ công ty, trong các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin của các công ty, ngoài một số nhân tố được hầu hết các nghiên cứu đồng tình thì có nhiều nhân tố được các nhóm tác giả sau khi thực nghiệm có những kết quả rất khác nhau, thậm chí trái

ngược nhau Chẳng hạn, đối với nhân tố về đòn bẩy tài chính, kết quả nghiên cứu của

Jeffrey và Marie cho rằng công ty có đòn bẩy tài chính cao sẽ CBTT nhiều hơn để giảm chi phí nợ vay (Cùng đồng ý với kết quả nghiên cứu của Jeffrey và Marie là Ahmed và Courtis (1999), còn Jaggi và Low (2000) lại cho rằng mức độ CBTT sẽ gia tăng ở các công ty có đòn bẩy tài chính cao đối với các quốc gia theo trường phái thông luật, ngược lại, ở quốc gia hệ thống pháp luật theo luật La Mã thì lại không có mối quan hệ nào giữa đòn bẩy tài chính và mức độ CBTT) Wallace (1994), Meek (1995) và Zarzeski (1996) thì lại có kết luận khác Kết quả thực nghiệm của Meek cho thấy không có mối liên hệ giữa đòn bẩy tài chính và mức độ CBTT Còn kết quả của Wallace (1994) và Zarzeski (1996) thì cho rằng công ty có đòn bẩy tài chính cao lại giảm mức độ CBTT

Qua các phân tích trên, có thể thấy rằng cần thận trọng khi xem xét các kết quả nghiên cứu, không phải chỉ dựa vào các kết quả nghiên cứu để khẳng định kết quả nào đúng, kết quả nào sai, kết quả nào là phù hợp mà cần có sự xem xét một cách toàn diện

để có cách nhìn đúng đắn và đầy đủ hơn ở mỗi kết quả nghiên cứu nhằm vận dụng một cách hợp lý trong môi trường và nền kinh tế ở Việt Nam Sự khác nhau ở một số kết quả nghiên cứu có thể là do những nguyên nhân như: sự khác biệt ở việc lựa chọn mẫu nghiên cứu khi thực nghiệm (nghiên cứu ở những quốc gia khác nhau có thể có một số khác biệt về văn hóa, kinh tế, chính trị, tập quán dẫn đến những kết quả khác nhau), sự khác biệt ở cỡ mẫu nghiên cứu khi thực nghiệm (các nghiên cứu sau thường có cỡ mẫu rộng và đa dạng hơn các nghiên cứu trước nên kết quả có thể toàn diện hơn), sự khác biệt

ở các thời điểm nghiên cứu (các khoảng thời gian được chọn để lấy mẫu nghiên cứu cũng như với thời gian lựa chọn khác nhau dẫn đến các khác biệt về kiến thức, tầm nhìn, trình

độ, kỹ thuật và công cụ phân tích…), sự khác biệt về trình độ phát triển kinh tế của các nước ở những giai đoạn thời gian khác nhau v.v…

Trang 26

1.2 CÁC NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN TTTC VÀ MINH BẠCH TTTC

1.2.1 Nội dung các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài luận án

- Các nghiên cứu trong nước liên quan đến tính minh bạch trong công bố thông tin của doanh nghiệp gồm các nghiên cứu như:

Năm 2006, tác giả Nguyễn Thị Hà với bài viết “Công khai minh bạch thông tin

trong quản trị doanh nghiệp của các nước thuộc khối OECD vào doanh nghiệp Việt Nam” đăng trên tạp chí nghiên cứu Tài chính kế toán (Số 11/40, 18-21) Trong bài viết

này, tác giả đã phân tích nguyên tắc “Công khai và minh bạch” theo yêu cầu của OECD Thông qua các nguyên tắc của OECD, tác giả trình bày các nội dung thông tin cần minh bạch và quá trình vận dụng trong điều kiện của các công ty Việt Nam

Năm 2007, liên quan đến các bài viết về tầm quan trọng của minh bạch thông tin

có kết quả nghiên cứu của tác giả Trần Đình Cung trong tạp chí chứng khoán Việt Nam

với tựa đề “Công khai hóa và minh bạch thông tin – Cơ sở để thị trường và bên ngoài

công ty thực hiện giám sát công ty” (Số 9, trang 15-18) Trong nghiên cứu này, tác giả

cho rằng có 4 nhóm thông tin cần công khai đó là: thông tin về sứ mệnh và mục tiêu của công ty, thông tin về quyền sở hữu và quyền biểu quyết, thông tin về tình hình tài chính

và kết quả hoạt động của công ty và cuối cùng là thông tin về HĐQT và cán bộ quản lý chủ chốt Tác giả cũng cho rằng công khai hóa tốt sẽ nâng cao nhận thức và hiểu biết của nhà đầu tư về công ty; qua đó, có thể huy động vốn dễ dàng hơn và góp phần làm tăng giá trị công ty Nghiên cứu cũng kết luận rằng, công ty phụ thuộc nhiều vào vốn từ bên ngoài có xu hướng công khai nhiều hơn; công ty đang có tình trạng khó khăn có thể không muốn công khai; ngược lại công ty đang có kết quả kinh doanh tốt có xu hướng công khai nhiều hơn, công ty có sở hữu vốn càng tập trung thì có thể muốn thu hẹp yêu cầu và quy mô công khai hóa Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu của tác giả chủ yếu dựa vào các phân tích định tính và chưa có các cơ sở minh chứng một cách rõ ràng và cụ thể

Tác giả Nguyễn Thị Liên Hoa trong bài viết “Minh bạch thông tin trên TTCK Việt

Nam” (2007), đăng trên tạp chí phát triển kinh tế (Số 1, trang 14-19), đã sử dụng lý

thuyết thị trường hiệu quả để phân tích và khảo sát để đánh giá tính hiệu quả thông tin của TTCK Việt Nam Trên cơ sở đó, tác giả đã đề ra giải pháp áp dụng việc xây dựng và phát triển một hệ thống CBTT số hóa để giảm bớt hiện tượng bất cân xứng thông tin trên TTCK Việt Nam

Nhắc đến tính minh bạch thông tin, không thể không nhắc đến vai trò của các

công ty kiểm toán Cũng trong năm 2007, tác giả Hà Thị Ngọc Hà với bài viết “Lựa chọn

doanh nghiệp kiểm toán – Đảm bảo tính minh bạch thông tin trên TTCK” đăng trên Tạp

chí nghiên cứu Tài chính kế toán (11 (52), trang 23-26) phân tích các điều kiện trong

Trang 27

việc lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán, cũng như phân tích các tiêu chí để các công ty kiểm toán được kiểm toán cho các CTNY mà Bộ tài chính đưa ra

Nghiên cứu trong nước đề cập đến vai trò của TTTC, tính hữu ích của thông tin

BCTC, tiêu biểu ở cấp tiến sĩ có nghiên cứu của Nguyễn Phúc Sinh (2008) về “Nâng cao

tính hữu ích trong BCTC doanh nghiệp Việt Nam hiện nay”, trong nghiên cứu này tác giả

đề cập đến vai trò của BCTC trong doanh nghiệp cũng như tính hữu ích của nó trong hoạt động của doanh nghiệp; Tác giả dựa trên nền tảng lý thuyết và thực tiễn kế toán của quốc tế và Việt Nam để phân tích, đánh giá thực trạng cung cấp thông tin hữu ích của BCTC doanh nghiệp Việt Nam; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm chuẩn hóa BCTC và nâng cao tính hữu ích của BCTC,…

Ngoài ra, nhóm tác giả Lê Trường Vinh và Hoàng Trọng (2008) cũng có bài viết

về “Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin của các doanh nghiệp niêm

yết theo cảm nhận của nhà đầu tư” đăng trên tạp chí phát triển kinh tế (Số tháng

12/2008) Trong nghiên cứu này tác giả đã xây dựng mô hình sử dụng 5 biến nguyên nhân ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin gồm: quy mô, lợi nhuận, nợ phải trả, tài sản cố định, vòng quay tổng tài sản để kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin của các CTNY tại Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM và kết luận rằng chỉ có biến kết quả tài chính đại diện là chỉ tiêu lợi nhuận – PROFIT là ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin của các CTNY Tuy nhiên, quá trình tiếp cận để đề xuất mô hình của tác giả chưa toàn diện và cỡ mẫu khảo sát của tác giả khá nhỏ so với quy mô của TTCK Việt Nam (30 CTNY)

Năm 2009, tác giả Lâm Thị Hồng Hoa với bài viết “Minh bạch thông tin – Yêu

cầu thực tiễn và mức độ đáp ứng” trong tạp chí công nghệ ngân hàng (số 38, trang

38-42) đã đưa ra 7 nguyên nhân chính dẫn đến sự thiếu minh bạch về thông tin như: tâm lý

“tốt đẹp thì khoe ra, xấu xa thì đậy lại”; quan niệm giữ bí mật trong kinh doanh bị lạm dụng; năng lực quản trị còn yếu kém, tâm lý ngại thay đổi; xây dựng các chính sách ở tầm vĩ mô và vi mô đã tạo điều kiện cho việc che dấu hoặc làm sai lệch thông tin; chưa

có chế tài cho việc xử phạt CBTT cho nhà đầu tư thiếu minh bạch; chưa có hệ thống chỉ tiêu để người sử dụng thông tin kiểm chứng thông tin đó đã minh bạch hay chưa và cuối cùng là hoạt động kiểm toán chưa thực sự góp phần làm cho thông tin được minh bạch Trên cơ sở phân tích các nguyên nhân dẫn đến sự thiếu minh bạch, tác giả đã đề ra một

số khuyến nghị

Ngoài ra, trong năm 2012, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thúy Anh với tựa đề

“Minh bạch hóa thông tin trên TTCK Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế Quốc

tế” cũng đề cập đến sự minh bạch thông tin trên TTCK Trong nghiên cứu này, tác giả đã

phân tích thực trạng minh bạch thông tin trên TTCK Việt Nam và rút ra kết luận: TTCK

Trang 28

Việt Nam mặc dù đã có nỗ lực trong việc minh bạch thông tin như ban hành khung pháp luật, việc tuân thủ của các CTNY, việc thực hiện các chức năng của trung gian tài chính như các công ty kiểm toán, xếp hạng tín nhiệm thì vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết: Khung pháp luật chưa hoàn chỉnh, chức năng quản lý Nhà nước còn yếu kém Đồng thời, thông qua việc phân tích một trường hợp vi phạm minh bạch thông tin để chỉ ra yếu kém của cơ quan quản lý Nhà nước Công trình cũng sử dụng tiêu chí xếp hạng minh bạch và CBTT của Standard và Poors để xếp hạng 89 CTNY trên sàn HSX để chỉ ra mức độ minh bạch thông tin của CTNY Việt Nam Tuy nhiên, luận án chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để lý giải và minh chứng cho các kết luận của mình cũng như

sử dụng một vài trường hợp điển hình để phân tích sự yếu kém trong mức độ minh bạch thông tin là chưa toàn diện và đầy đủ nên tính thuyết phục chưa cao

- Ngoài các nghiên cứu về minh bạch thông tin nói chung, các nghiên cứu về minh bạch thông tin tài chính được nhiều tác giả khác thực hiện như sau:

Năm 2009, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Minh Tâm, “Kế toán kiểm toán với

sự minh bạch TTTC trên thị trường” đăng trong tạp chí kiểm toán (số 4, trang 14-18), tác

giả đã đưa ra các nguyên nhân làm cho TTTC của Việt Nam chưa thực sự minh bạch như: tính minh bạch trong BCTC chưa được coi trọng đúng mức; chưa thực hiện đầy đủ các quy định chung của chuẩn mực kế toán quốc tế về lập và trình bày BCTC; trách nhiệm của các CTNY, các nhà đầu tư và các công ty kiểm toán liên quan đến tính trung thực hợp lý, công khai và minh bạch của các TTTC được công bố chưa được xử lý đúng luật; độ tin cậy của kết quả kiểm toán độc lập BCTC đối với ngân hàng thương mại Việt Nam chưa cao Đồng thời, tác giả cũng đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao tính minh bạch TTTC như hoàn thiện công tác kế toán – kiểm toán, các ngân hàng thương mại phải tự hoàn thiện mình, nâng cao chất lượng kế toán – kiểm toán trên TTCK Tuy nhiên, bài viết chủ yếu thể hiện quan điểm của tác giả và chưa có những minh chứng cụ thể cho các kết luận của tác giả

Nghiên cứu về hệ thống kiểm soát sự minh bạch thông tin ở cấp độ tiến sĩ của

Nguyễn Đình Hùng (2010) đề cập đến “Hệ thống kiểm soát sự minh bạch thông tin tài

chính công bố của các công ty niêm yết tại Việt Nam’’ Trong nghiên cứu này tác giả đã

xác định các thành phần, mối quan hệ và cơ chế hoạt động của hệ thống kiểm soát sự minh bạch TTTC bao gồm 6 thành phần: hệ thống chuẩn mực kế toán, quy định liên quan đến công bố BCTC, kiểm soát nội bộ, ban giám đốc, ban kiểm soát, kiểm toán độc lập Tuy nhiên, tác giả chỉ mới dừng lại ở việc thống kê mô tả của các biến đại diện đó

mà chưa thể hiện mối quan hệ giữa các nhân tố nghiên cứu cũng như xác định được mức

độ ảnh hưởng của các biến đó như thế nào đến sự minh bạch thông tin Đồng thời, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp định tính để biện luận cho các kết luận của mình

Trang 29

Một số công trình khoa học cấp bộ cũng đề cập đến tính minh bạch thông tin trên

BCTC như “Tính minh bạch trong BCTC của các doanh nghiệp nhỏ và vừa” (2011) của

tác giả Nguyễn Thị Hà Công trình này đã thực hiện khảo sát về tính minh bạch trong BCTC của các doanh nghiệp nhỏ và vừa để đưa ra những đánh giá về tính minh bạch thông tin BCTC của doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời phân tích các nguyên nhân của

sự thiếu minh bạch trong BCTC của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Công trình chỉ dừng lại ở việc thống kê mô tả những đánh giá về tính thiếu minh bạch trong BCTC của các

doanh nghiệp nhỏ và vừa, chưa đưa ra được mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch tài chính trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó tới tính minh bạch tài chính trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa một cách

rõ ràng, cụ thể Các công cụ và kỹ thuật sử dụng trong các phân tích của tác giả chưa đầy

đủ, từ đó các cơ sở để đưa ra giải pháp chưa có tính thuyết phục cao

Gần nhất, trong năm 2012 liên quan đến nghiên cứu hành vi của nhà đầu tư với

vấn đề minh bạch TTTC có nghiên cứu “Minh bạch TTTC và hành vi nhà đầu tư trong

TTCK Việt Nam” (tạp chí TTCK Việt Nam, tháng 11/trang 65-66) của tác giả Nguyễn

Văn Dần Trong nghiên cứu này, tác giả đã kiểm tra nhận thức của nhà đầu tư trên sàn HOSE về các thành phần biến số minh bạch TTTC, nhân khẩu nhà đầu tư và kinh nghiệm nhà đầu tư nhằm khám phá mối quan hệ giữa sự minh bạch TTTC và hành vi nhà đầu tư Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, tác giả chỉ dừng lại ở việc đưa ra cách thức nghiên cứu mà chưa giải quyết được mục tiêu đề ra ban đầu

Ngoài ra, năm 2012, ở góc độ nghiên cứu của các tổ chức quốc tế, Báo cáo Thẻ

điểm Quản trị công ty 2012 của tổ chức tài chính quốc tế (IFC) phối hợp với UBCKNN

(chương trình nghiên cứu của Word Bank), cũng đã trình bày các vấn đề liên quan đến minh bạch thông tin và quản trị công ty của các CTNY tại TTCK Việt Nam Trong nghiên cứu này, nguyên tắc, phương pháp luận của OECD và môi trường quản trị công

ty ở Việt Nam là cơ sở để nghiên cứu này xây dựng Thẻ điểm Quản trị Công ty của Việt Nam Thông qua kết quả khảo sát và dữ liệu nghiên cứu của 100 CTNY trên TTCK VN, kết quả nghiên cứu cho thấy các CTNY đã cung cấp thông tin ít hơn và chất lượng công khai, minh bạch đã giảm sút Các CTNY đã “hạ thấp tiêu chuẩn về công khai thông tin, chỉ cung cấp những thông tin chung chung, không đầy đủ ra thị trường” Kết quả nghiên cứu của IFC cũng chỉ ra rằng mức điểm trung bình về Minh bạch và công bố thông tin

chỉ đạt 40,1%, “chưa bằng một nửa điểm số cần đạt được đối với hoạt động công bố

thông tin có chất lượng” Tuy nhiên, nghiên cứu này chủ yếu đề cập đến vấn đề quản trị

công ty, trong đó minh bạch và công bố thông tin chỉ là một vấn đề đặt ra trong nội dung nghiên cứu về quản trị công ty nên kết quả phân tích chưa đi sâu về mức độ minh bạch TTTC của các CTNY Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ dừng lại ở việc phân tích thực

Trang 30

trạng về mức độ minh bạch thông tin nói chung và minh bạch TTTC nói riêng của các CTNY mà chưa đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch TTTC của các

CTNY trên TTCK Việt Nam

Phụ lục 1.2: Tổng hợp một số nghiên cứu trong nước về minh bạch thông tin và

thông tin tài chính

1.2.2 Đánh giá chung về những nghiên cứu đã thực hiện trong nước về TTTC

và minh bạch TTTC

Nhìn chung kể từ khi TTCK Việt Nam thành lập, sau một quá trình hoạt động, thị trường bị chi phối bởi tâm lý ra quyết định đầu tư theo xu hướng “bầy đàn” chiếm tỷ lệ khá cao thì vấn đề về minh bạch thông tin trên TTCK được đặt ra khá nhiều Sau nhiều thất bại trong đầu tư theo “tâm lý bầy đàn” mà không dựa trên nguồn dữ liệu TTTC và sự không công bằng trong tiếp nhận thông tin giữa các nhà đầu tư khác nhau, dẫn đến nhu cầu bức thiết đặt ra cho các CTNY về tính minh bạch trong thông tin nói chung và TTTC nói riêng Từ đó, các nhà nghiên cứu, các chuyên gia bắt đầu có những nghiên cứu về tính hữu ích của thông tin và TTTC của các CTNY trong quá trình đầu tư chứng khoán cũng như những yêu cầu về tính minh bạch thông tin và TTTC được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn Ngoài một số kết quả đạt được như đã phân tích trong từng nghiên cứu trên thì nhìn chung các nghiên cứu đã thực hiện có những đặc điểm như sau:

(1) Đưa ra bức tranh tổng quát về tình hình CBTT và TTTC của các CTNY

(2) Đưa ra các đánh giá về mức độ và tính minh bạch trong CBTT và TTTC hiện nay của các CTNY

(3) Đề ra một số giải pháp cho sự phát triển trong hệ thống CBTT của các CTNY

Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đều còn tồn tại một số hạn chế như:

(1) Các nghiên cứu trong nước hầu hết chưa đi sâu vào minh bạch thông tin mà chủ yếu nghiên cứu về thông tin một cách riêng lẻ

(2) Phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận của các nghiên cứu được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp nghiên cứu định tính làm cơ sở phân tích nhằm đưa ra các kết luận và giải pháp; cách thức tiếp cận nghiên cứu chủ yếu nặng về định tính, thiếu định lượng Rất ít các nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để làm công

cụ đo lường và xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin, đặc biệt là TTTC của các CTNY

(3) Một số nghiên cứu sử dụng các bảng câu hỏi khảo sát để hỗ trợ và làm cơ sở cho các phân tích, các kết luận của mình, từ đó đề ra các giải pháp có liên quan Tuy nhiên,

cỡ mẫu nghiên cứu của hầu hết nghiên cứu đều chưa rộng và chưa đầy đủ Ngoài ra, các nghiên cứu sau khi thực hiện khảo sát chưa sử dụng các kỹ thuật và công cụ phân tích hỗ trợ để có những cái nhìn tổng quát và toàn diện hơn về kết quả khảo sát đó Hầu hết đạt ở

Trang 31

mức độ đưa ra những nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin hoặc TTTC ở mức

độ thống kê, mô tả hiện tượng, chưa đưa ra được mối tương quan và mức độ tương quan giữa các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin

(4) Các nghiên cứu trước khi xem xét các quy định về chuẩn mực kế toán, chưa gắn kết với yêu cầu hội tụ của kế toán quốc tế cũng như chuẩn mực kế toán quốc tế; chưa gắn kết và làm rõ đặc thù của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hội nhập

(5) Đa phần các nghiên cứu chủ yếu đề cập đến TTTC hoặc minh bạch thông tin, rất

ít nghiên cứu có sự gắn kết giữa TTTC và minh bạch TTTC

1.3 KHE HỔNG TRONG NGHIÊN CỨU VỀ MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC TÁC GIẢ TRONG/NGOÀI NƯỚC VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

Qua việc tổng quát hóa các kết quả nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về minh bạch thông tin nói chung và minh bạch TTTC nói riêng cho thấy, có rất nhiều nhân

tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin và minh bạch TTTC Các nhân tố đó được xem xét ở nhiều góc độ từ vĩ mô như hệ thống kinh tế, chính trị, văn hóa đến vi mô như các đặc điểm tài chính hay đặc điểm quản trị công ty Tác động của từng nhóm nhân tố đến sự minh bạch thông tin nói chung và TTTC nói riêng là cả một quá trình phức tạp, đa dạng và không phải các biểu hiện bên ngoài lúc nào cũng giống nhau về cách thể hiện

Trong đó, Archambault (2003) cho rằng, sự minh bạch thông tin hay quá trình CBTT là

một quá trình phức tạp, chịu sự ảnh hưởng bởi một tập hợp các nhân tố Những đất nước

khác nhau, những nền văn hóa khác nhau, những nền kinh tế khác nhau thì sự tác động của từng nhóm nhân tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin nói chung và TTTC nói riêng có thể có kết quả khác nhau, thậm chí ngược nhau Nghiên cứu của các tác giả trên thế giới hầu như xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch TTTC tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau với mẫu khảo sát/đánh giá thông qua nhiều quốc gia, rất ít nghiên cứu đi sâu vào một thị trường cụ thể, trong đó chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng Ngoài ra, các nghiên cứu trên thế giới hầu như rất ít thực hiện bước nghiên cứu tổng thể bằng phương pháp định tính để khám phá các nhân tố mới mà chủ yếu kế thừa và vận dụng đầy đủ các nhân tố đã thực hiện ở các mô hình trước với cỡ mẫu ngày càng rộng hơn Trong khi đó, các nghiên cứu trong nước chủ yếu tập trung vào nghiên cứu tính minh bạch thông tin của các nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa hoặc nhóm các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam ở góc độ công ty Tuy nhiên, các nghiên cứu liên quan đến tính minh bạch thông tin của các nghiên cứu trong nước còn đơn lẻ, tính hệ thống chưa cao; phương pháp nghiên cứu chủ yếu sử dụng là phương pháp định tính, đa phần tập trung vào nghiên cứu tính minh bạch của thông tin nói chung, rất ít các nghiên cứu chỉ đề cập đến thông tin tài chính Đối chiếu các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước, có thể thấy, trong những nước có nền kinh tế đang phát

Trang 32

triển, đặc biệt là những nền kinh tế chuyển đổi như ở Việt Nam thì các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin có những điểm khác biệt lớn so với những nền kinh tế đã phát triển Thông qua kết quả tổng hợp các nghiên cứu tại Việt Nam trước đây,

có thể nhận thấy rằng, ở góc độ công ty, những nghiên cứu về sự tác động của các nhóm

nhân tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch TTTC là rất ít Đặc biệt là các nghiên cứu

thực nghiệm và các nghiên cứu lượng hóa được mức độ minh bạch TTTC cũng như ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ minh bạch TTTC trên TTCK là rất hiếm Ngoài ra,

việc đánh giá mức độ minh bạch TTTC của các CTNY trên TTCK VN dưới góc độ cảm nhận của nhà đầu tư cũng là nội dung chưa được thực hiện trong các nghiên cứu trước đây Đây chính là khe hổng trong nghiên cứu lý luận và thực tiễn về tính minh bạch TTTC của các CTNY trên TTCK VN Từ việc xác định khe hổng trong nghiên cứu, luận

án tập trung xem xét mức độ minh bạch TTTC của các CTNY ở Việt Nam và các nhân tố ảnh hưởng bằng cách sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để tổng quan các kết quả nghiên cứu trước trong và ngoài nước cũng như thảo luận và trao đổi với các chuyên gia am hiểu và có kinh nghiệm thực tiễn về tình hình hoạt động của TTCK VN Luận án tiến hành lựa chọn nguyên tắc quản trị của OECD làm nền tảng của thước đo về minh bạch TTTC để đánh giá mức độ minh bạch TTTC của các CTNY dưới góc độ cảm nhận của nhà đầu tư Luận án cũng sử dụng phương pháp định lượng để kiểm định mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch TTTC của các CTNY Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu của các tác giả trên thế giới, đặc biệt là kết quả và mô hình nghiên cứu về mức độ công bố và tính minh bạch TTTC ở góc độ công ty của nhóm tác giả Robert Bushman và cộng sự (2001), Archambault (2003), Cheung và cộng sự (2005), luận án sẽ điều chỉnh và vận dụng cho phù hợp với những đặc điểm của TTCK Việt Nam Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn liên quan đến tính minh bạch TTTC, lượng hóa tính minh bạch TTTC và các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch TTTC của các CTNY ở Việt Nam Từ đó, luận án đề ra các giải pháp tăng cường tính minh bạch TTTC của các CTNY, góp phần tạo nên một TTCK hoạt động hiệu quả và bền vững

Trang 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương này, luận án đã trình bày tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến TTTC, một số nghiên cứu về minh bạch thông tin, nghiên cứu về minh bạch TTTC cũng như các nghiên cứu kết hợp về TTTC và minh bạch TTTC Đồng thời, luận án cũng khái quát hóa các nghiên cứu đã thực hiện trên thế giới và Việt Nam về TTTC và minh bạch TTTC

Luận án đã phân tích và tổng kết những ưu điểm và hạn chế của các kết quả nghiên cứu trước về TTTC và minh bạch TTTC Từ đó, luận án đã kế thừa những kết quả nghiên cứu trước, cân nhắc xem xét vận dụng trong điều kiện của Việt Nam với nền kinh tế đang phát triển có đặc điểm và văn hóa khác biệt với các nước để hiệu chỉnh, xây dựng mô hình và cách thức nghiên cứu phù hợp

Thông qua các nghiên cứu đã thực hiện trong nước, luận án rút kinh nghiệm cũng như kế thừa các kết quả nghiên cứu đó, khắc phục những tồn tại của các nghiên cứu đã thực hiện trong nước để kết quả nghiên cứu mang tính khác biệt hơn Từ đó, luận án đưa

ra kết quả nghiên cứu có nhiều phát hiện mới với những minh chứng và cơ sở lập luận có tính thuyết phục cao hơn trong các phần tiếp theo

Trang 34

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THÔNG TIN TÀI CHÍNH,

MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT

2.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THÔNG TIN TÀI CHÍNH VÀ MINH BẠCH

THÔNG TIN TÀI CHÍNH

2.2.1 Khái niệm thông tin tài chính

Sự phát triển ngày càng cao của công nghệ thông tin và tính ứng dụng của nó trong công tác kế toán - tài chính giúp cho thông tin kế toán – tài chính trở thành công cụ

hỗ trợ đắc lực cho việc phân tích, xử lý thông tin, góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính nói chung và TTCK nói riêng Có thể nói TTTC là thông tin phản ánh các tác động tài chính của các sự kiện tài chính được thu thập, xử lý và báo cáo nhằm thông tin một cách hữu ích cho nhiều người sử dụng đưa ra các quyết định kinh tế

Đứng ở góc độ hệ thống thông tin kế toán thì BCTC được xem là kết quả đầu ra của một hệ thống thông tin kế toán, được xử lý và cung cấp bởi quy trình nghiệp vụ kế toán tài chính; hoặc ở góc độ người sử dụng thông tin, BCTC là nguồn cung cấp TTTC hữu ích cho việc ra quyết định kinh tế Trong phạm vi nghiên cứu, vì TTTC là kết quả của quá trình soạn thảo BCTC và quá trình CBTT chủ yếu qua BCTC nên thuật ngữ

“TTTC” xét trên phạm vi hẹp có nghĩa tương đồng với “thông tin trên BCTC”, do vậy

luận án sử dụng thuật ngữ TTTC cũng có nghĩa là muốn nhắc đến thông tin trên BCTC

Như vậy, TTTC là những thông tin liên quan đến dòng tiền, kết quả kinh doanh

và tình hình tài chính của DN ở những thời kỳ xác định, được xác định vào những thời điểm nhất định TTTC có thể là thông tin trong quá khứ hoặc thông tin mang tính dự báo, thông thường được biểu hiện bằng đơn vị tiền tệ TTTC thường được thể hiện trên các BCTC của doanh nghiệp (Nivra, 2008)

Nói cách khác TTTC là thông tin có được thông qua các BCTC của doanh nghiệp như: thông tin về tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí của doanh nghiệp, do doanh nghiệp cung cấp và chủ yếu có được từ công tác kế toán tài chính của doanh nghiệp qua các BCTC gồm: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh BCTC gắn liền với thời gian

2.2.2 Khái niệm minh bạch TTTC và tầm quan trọng của minh bạch TTTC

Trang 35

Tùy thuộc vào từng ngữ cảnh thực tế hoặc từng góc nhìn mà có nhiều khái niệm khác nhau về minh bạch cũng như minh bạch thông tin Để hiểu minh bạch hóa thông tin

là gì, luận án tiến hành làm rõ khái niệm minh bạch và minh bạch thông tin

Theo nghĩa đen thông thường, minh bạch, hay chính xác hơn là sự minh bạch (tiếng Anh là transparency) là sự có thể nhìn rõ được, nhìn xuyên qua sự vật hiện tượng

từ bên này sang bên kia, là sự rõ ràng, trong sạch, trong suốt Transparency là một từ

ghép có nguồn gốc từ hai khái niệm độc lập là trans và parent, trong đó Trans có nghĩa

là sự di chuyển và Parent có nghĩa là nhìn thấy được

Như vậy, sự minh bạch ban đầu chỉ được hiểu là sự rõ ràng, khách quan và thẳng thắn trong việc cung cấp thông tin khi được yêu cầu, và sự minh bạch mang tính “công khai thụ động” theo kiểu “hỏi thì trả lời” Cùng với sự phát triển của kinh tế tri thức, khái niệm về sự minh bạch thường đi kèm với thông tin, do đó có khái niệm về sự minh bạch thông tin Sự minh bạch thông tin hay chính xác hơn là sự cung cấp thông tin một cách rõ ràng, đầy đủ và cụ thể Việc cung cấp thông tin như vậy sẽ cho phép mọi người đều có thể nhìn thấy sự thật nếu muốn hoặc cho mọi người thời gian, công việc và kỹ năng để quan sát hay nhìn thấy sự thật hoặc bản chất của đối tượng quan sát

Có nhiều định nghĩa về sự minh bạch thông tin được đưa ra bởi nhiều tổ chức và trong nhiều nghiên cứu trước đây, như:

Trong một báo cáo của World Bank (Trích Tara Vishwanath và Kaufmann, 1999) công bố về sự minh bạch thông tin trong lĩnh vực tài chính, sự minh bạch thông tin trên thị trường tài chính được hiểu là việc các chủ thể kinh tế (người dân, doanh nghiệp, hoặc chính phủ) có thể cập nhật thông tin liên quan đến thị trường tài chính một cách tin cậy,

kịp thời và có thể tiếp cận một cách dễ dàng Các tác giả nhấn mạnh “minh bạch là sự

đầy đủ, tin cậy và kịp thời trong việc CBTT và sự tiếp cận dễ dàng từ phía công chúng đối với sự đầy đủ, tin cậy và kịp thời đó”

Khái niệm minh bạch thông tin một cách chủ động, thể hiện trách nhiệm của tổ chức CBTT thông qua các định nghĩa của một số tác giả và tổ chức như: Ủy ban Basle về giám sát ngân hàng đưa ra khái niệm minh bạch thông tin trong lĩnh vực ngân hàng như sau: “minh bạch thông tin trong hoạt động ngân hàng là việc công bố ra công chúng thông tin kịp thời, tin cậy nhằm đảm bảo người sử dụng thông tin đó có thể đánh giá chính xác về tình hình và kết quả tài chính của ngân hàng, hoạt động kinh doanh và các rủi ro liên quan” (Basle, 1998, p.15) Tương tự như vậy, OECD (2004) cho rằng sự minh bạch thông tin là việc cung cấp thông tin kịp thời và đầy đủ từ phía cơ quan công quyền

về thể chế kinh tế, các quy định của pháp luật, các số liệu, các thông tin liên quan đến chính sách tài chính, chính sách tiền tệ theo cách thức mà công chúng có thể tiếp cận được

Ở góc độ công ty, minh bạch TTTC được các nhà nghiên cứu, các tổ chức định nghĩa như sau:

Trang 36

Theo Robert Bushman và cộng sự (2001), minh bạch TTTC là sự sẵn có của

thông tin cụ thể về công ty cho các nhà đầu tư và cổ đông bên ngoài Đồng thời

Bushman và nhóm tác giả đã đo lường cơ chế cung cấp thông tin theo 3 nhóm:

(1) Những quy định trong BCTC của công ty gồm: mức độ, nguyên tắc và tính kịp thời của BCTC, chất lượng kiểm toán và mức độ công khai thông tin quản trị (Ví dụ như:

có thể xác định được thông tin về mức thù lao, số lượng cổ phần nắm giữ của nhân viên

và ban giám đốc cũng như các cổ đông lớn,…);

(2) Mức độ đáp ứng được các thông tin riêng biệt của doanh nghiệp;

(3) Mức độ phổ biến của thông tin gồm khả năng tiếp cận thông tin qua các phương tiện truyền thông

Trên quan điểm của người sử dụng thông tin, nghiên cứu của nhóm tác giả

Blanchet (2002) và Prickett (2002) trích trong Kulzick (2004) cho rằng minh bạch thông

tin là việc cung cấp thông tin phải đảm bảo các đặc điểm như: thông tin phải chính xác, nhất quán, thích hợp, đầy đủ, rõ ràng, kịp thời và thuận tiện Các đặc điểm đó được diễn

giải như sau:

- Sự chính xác (Accuracy): thông tin phản ánh chính xác dữ liệu tổng hợp từ những

- Sự đầy đủ (Completeness): thông tin phản ánh đầy đủ các sự kiện đã phát sinh và các đối tượng có liên quan;

- Sự rõ ràng (Clarity): thông tin truyền đạt được thông điệp và dễ hiểu;

- Sự kịp thời (Timeliness): thông tin có sẵn cho người sử dụng trước khi thông tin giảm khả năng ảnh hưởng đến các quyết định;

- Sự thuận tiện (Convenience): thông tin được thu thập và tổng hợp dễ dàng

- Quản trị và thực thi (Governance and enforcement): cần xây dựng các chính sách phù hợp để đảm bảo đạt được các mức độ minh bạch

OECD (2004), liên quan đến vấn đề CBTT và tính minh bạch cho rằng: “Khuôn

khổ quản trị công ty phải đảm bảo việc CBTT kịp thời và chính xác về mọi vấn đề quan trọng liên quan đến công ty, bao gồm tình hình tài chính, tình hình hoạt động, sở hữu và

Trang 37

quản trị công ty” Những vấn đề mà OECD đặt ra có những ý nghĩa lý luận quan trọng

trong việc xem xét tính minh bạch của thông tin nói chung và TTTC nói riêng

Theo Bert J. Zarb, (2006), dưới góc độ nghề nghiệp của kế toán viên công chứng,

để TTTC được hữu ích và kịp thời, thì TTTC được công bố phải đáng tin cậy, so sánh được, nhất quát và minh bạch Để đạt được sự minh bạch trong BCTC thì thông tin phải

được thiết lập với một chất lượng cao và tuân thủ theo các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung (GAAP)

Các khái niệm về MBTT như đã nêu ở trên không chỉ đòi hỏi chất lượng của thông tin công bố, nội dung của các thông tin cũng như mối quan hệ với công chúng và cách thức CBTT mà minh bạch thông tin còn đòi hỏi các điều kiện cần thiết về khung pháp lý, về quản lý vĩ mô của nhà nước, về chức năng hoạt động của các công ty kiểm toán, xếp hạng tín nhiệm, về việc CBTT của các doanh nghiệp phát hành Có thể nói, minh bạch thông tin trên TTCK đặt ra yêu cầu cho cả hệ thống các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp khi CBTT trên TTCK

Phụ lục 2.1: Bảng tổng hợp các khái niệm về minh bạch thông tin và TTTC

Từ những phân tích cũng như những ghi nhận thông qua các khái niệm trên, theo quan điểm của NCS:

“Minh bạch TTTC là việc cung cấp các TTTC một cách tin cậy, kịp thời, chính xác, đầy

đủ và nhất quán theo cách thức mà công chúng có thể tiếp cận một cách thuận tiện”

Trên cơ sở nghiên cứu các khái niệm, đặc điểm và yêu cầu của minh bạch thông tin và các lý thuyết liên quan đến thông tin trong mối quan hệ với minh bạch thông tin,

có thể thấy rằng sự minh bạch thông tin trên TTCK nói chung và minh bạch TTTC nói riêng là hết sức cần thiết và là một yêu cầu mang tính khách quan Nhiều kết quả nghiên cứu trước đây cũng cho thấy, minh bạch TTTC có vai trò rất quan trọng không chỉ đối với các công ty công bố, người sử dụng thông tin mà còn cho cả hệ thống thị trường tài chính và cho cả nền kinh tế Điều này là yêu cầu, là mong muốn của các bên liên quan cũng như bản thân TTCK Cụ thể như sau:

- Minh bạch TTTC góp phần giảm thiểu rủi ro đối với nhà đầu tư Các nhà đầu tư thực chất là những người mua trên TTCK Họ thường rơi vào lựa chọn bất lợi khi không

có thông tin đầy đủ so với những nhà quản lý bên trong doanh nghiệp hay các cổ đông chiến lược Do đó, họ có thể bị thiệt hại nếu chọn phải những chứng khoán xấu hoặc phải tốn nhiều chi phí để sàng lọc thông tin và kiểm soát việc sử dụng vốn của các doanh nghiệp để hạn chế rủi ro đạo đức trên thị trường

Trang 38

- Minh bạch TTTC giúp giảm thiểu chi phí trung gian, giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư Trên TTCK, nhà đầu tư là đối tượng có khả năng bị thiệt hại về lợi ích lớn nhất Thiệt hại có thể do các nhà đầu tư bên ngoài doanh nghiệp bị các nhà quản lý doanh nghiệp che dấu thông tin dẫn đến đưa ra các quyết định mua bán chứng khoán không hợp

lý Đối tượng thường chịu thiệt hại lớn nhất là các nhà đầu tư thiểu số, mua chứng khoán với số lượng ít Enron, Worldcom ở Mỹ hay gần đây là Olympus ở Nhật là những ví dụ

rõ ràng về tác hại của sự không minh bạch thông tin Cuối cùng sự phá sản của Enron, Worldcom hay Olympus đã gây ra những thiệt hại lớn cho nhà đầu tư và chủ nợ của họ, đồng thời cũng làm mất niềm tin của công chúng về những công bố của các công ty cũng như các quy định kiểm soát các công ty đại chúng mà nguyên nhân xuất phát từ sự thiếu minh bạch TTTC

Từ những luận cứ trên, minh bạch TTTC là điều cần thiết nhằm bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư trên TTCK, giúp họ tránh được những rủi ro khi tham gia vào TTCK

- Minh bạch TTTC giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định chính xác hơn Minh bạch TTTC sẽ giúp nhà đầu tư có quyền kiểm soát chất lượng của những chứng khoán trên thị trường Qua đó họ sẽ xác định mức giá giao dịch tối ưu nhất cho mình Đối với các thông tin khác trên TTCK, đặc biệt là thông tin tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp mà các nhà đầu tư quan tâm, minh bạch hóa thông tin sẽ cho họ biết doanh nghiệp đó đang trong tình trạng nào, đang có những thuận lợi hay khó khăn gì và tương lai ra sao Qua

đó, các nhà đầu tư sẽ đưa ra quyết định đùng đắn và thích hợp hơn

Như vậy, dưới góc độ nhà đầu tư, minh bạch TTTC mang đến niềm tin và sự bảo

vệ, đồng thời giúp nhà đầu tư đưa ra các quyết định hợp lý và hiệu quả

Với việc tiếp cận dễ dàng mọi thông tin trên TTCK, việc cung cấp thông tin đầy

đủ, chính xác và kịp thời hơn, các cơ quan quản lý nhà nước có được cái nhìn tổng quát

và sát thực hơn về TTCK Từ đó, các cơ quan này sẽ có những biện pháp phù hợp để hạn chế và ngăn chặn các hành vi vi phạm trên TTCK, thực hiện các chức năng quản lý vĩ

mô hiệu quả hơn, đảm bảo lợi ích của các nhà đầu tư và các bên tham gia trên thị trường

Do đó, Ở góc độ nhà nước, minh bạch TTTC giúp cho việc quản lý, giám sát thị

trường của các cơ quan quản lý được dễ dàng và hiệu quả hơn

- Minh bạch TTTC góp phần xây dựng một TTCK hoạt động hiệu quả

Theo lý thuyết thị trường hiệu quả, một thị trường không minh bạch thông tin nói chung, TTTC nói riêng, với quá nhiều thông tin bị che giấu, nơi mà các giao dịch và giá

cả của các loại chứng khoán không phản ánh đầy đủ, kịp thời các thông tin liên quan đến

Trang 39

doanh nghiệp phát hành, chính là biểu hiện của thị trường không hiệu quả Khi đó, nhà đầu tư sẽ ngại không muốn tham gia, các công ty làm ăn tốt không muốn phát hành chứng khoán trên thị trường do lo sợ vì định giá thấp Như vậy, hàng hóa, người mua, người bán trên thị trường đều thưa thớt Điều này, sẽ giảm tính thanh khoản của TTCK

và tính hiệu quả của thị trường cũng suy yếu Khi đó, các nguồn vốn trong nền kinh tế sẽ không được huy động và phân bố một cách hiệu quả, gây tác động tiêu cực đối với nền kinh tế về nhiều mặt

- Minh bạch TTTC là một trong những nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh của TTCK quốc gia trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Quá trình hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ thì TTCK các nước trên thế giới ngày càng liên kết nhiều hơn, điều đó, giúp các nhà đầu tư có thể tìm ra những cơ hội đầu tư mới trên các TTCK khu vực và thế giới Do đó, minh bạch TTTC sẽ là một tiêu chí quan trọng để TTCK của một quốc gia có thể thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, quyết định khả năng cạnh tranh với các TTCK tại các nước khác

Như vậy, ở góc độ thị trường, minh bạch TTTC sẽ giúp giá chứng khoán phản

ánh đúng giá trị thực của nó, đây cũng là nhân tố thể hiện khả năng cạnh tranh của TTCK các nước trong điều kiện hội nhập và là đặc trưng của thị trường hiệu quả và bền vững

Từ những phân tích trên có thể thấy, MBTT nói chung và TTTC nói riêng là đặc điểm vô cùng quan trọng quyết định sự phát triển của TTCK, là cơ sở để khai thác tiềm năng đầu tư vào TTCK cũng như giúp cho TTCK hoạt động hiệu quả và bền vững

2.1.3 Nội dung của thông tin tài chính và các hình thức chuyển tải đến người

sử dụng thông tin

TTTC được thể hiện qua BCTC của doanh nghiệp Hệ thống BCTC của doanh nghiệp trong khuôn mẫu kế toán hoặc chuẩn mực kế toán mà các tổ chức hay mỗi quốc gia quy định có thể có các yêu cầu khác nhau Tuy nhiên, theo xu hướng hội tụ kế toán,

về bản chất, đa phần có chung quan điểm với IASB, nghĩa là hệ thống BCTC của doanh nghiệp gồm các báo cáo: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Bản thuyết minh BCTC

BCTC phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh

và sự thay đổi trong tình hình tài chính của doanh nghiệp Mục đích của BCTC là cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các dòng tiền của doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế Để đạt mục đích này, BCTC thông thường phải cung cấp những thông tin của doanh nghiệp về: Tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, doanh thu/thu nhập khác, chi phí/chi phí khác, lãi/lỗ, các dòng tiền Trong đó, theo khuôn mẫu về BCTC của IASB (Tháng 9/2010) (Đoạn 4.4 đến 4.35; trang A40-A45), các nhân tố cụ thể của BCTC gồm:

Trang 40

a Tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu là các nhân tố trực tiếp phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp, trong đó:

- Tài sản: là nguồn lực được kiểm soát bởi các doanh nghiệp Nguồn lực này là kết quả của các giao dịch hoặc sự kiện trong quá khứ giúp đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho các doanh nghiệp

- Nợ phải trả: là nghĩa vụ hiện tại của các doanh nghiệp phát sinh từ các giao dịch hoặc sự kiện trong quá khứ Việc thanh toán các nghĩa vụ này được cho là sẽ làm giảm các lợi ích kinh tế trong tương lai của doanh nghiệp

- Vốn chủ sở hữu: là lợi ích còn lại trong tổng tài sản của doanh nghiệp sau khi trừ đi tất cả nợ phải trả

b Lợi nhuận thường sử dụng như là thước đo hiệu quả hoạt động Các nhân tố trực tiếp liên quan đến đo lường lợi nhuận là doanh thu/thu nhập khác và chi phí/chi phí khác:

- Doanh thu/thu nhập khác: là các gia tăng lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới dạng các dòng tiền vào hoặc sự tăng thêm tài sản hoặc sự giảm bớt nợ phải trả Các gia tăng lợi ích kinh tế này dẫn đến sự gia tăng trong vốn chủ sở hữu, không tính đến sự tăng lên trong vốn chủ sở hữu có liên quan đến việc góp vốn của các chủ sở hữu Doanh thu phát sinh từ các hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp Thu nhập khác có thể

có hoặc có thể không phát sinh trong các hoạt động thông thường của doanh nghiệp

- Chi phí/chi phí khác là các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới dạng các dòng tiền ra hoặc sự tổn hao tài sản hoặc sự gia tăng nợ phải trả Các khoản làm giảm lợi ích kinh tế này dẫn đến sự giảm sút trong vốn chủ sở hữu, không tính đến khoản làm giảm liên quan đến việc phân phối cho chủ sở hữu Chi phí phát sinh từ các hoạt động thông thường của tổ chức/doanh nghiệp báo cáo Chi phí khác có thể có hoặc có thể không phát sinh từ các hoạt động thông thường của doanh nghiệp

Các thông tin này cùng với các thông tin trình bày trong Bản thuyết minh BCTC giúp người sử dụng dự đoán được các dòng tiền trong tương lai và đặc biệt là thời điểm

và mức độ chắc chắn của việc tạo ra các dòng tiền và các khoản tương đương tiền

Ngoài BCTC, doanh nghiệp có thể lập báo cáo quản lý trong đó mô tả và diễn giải những đặc điểm chính về tình hình kinh doanh và tài chính, cũng như những sự kiện không chắc chắn chủ yếu mà doanh nghiệp phải đối phó nếu ban giám đốc xét thấy chúng hữu ích cho những người sử dụng trong quá trình ra các quyết định kinh tế

Đối với các CTNY, TTTC được công bố qua BCTC năm thông thường phải kèm theo Báo cáo kiểm toán về BCTC năm

2.1.3.2 Các hình thức chuyển tải TTTC đến người sử dụng thông tin

Dựa trên các mục tiêu khác nhau, mỗi tổ chức có thể có những loại thông tin khác nhau Tuy nhiên, tất cả các loại thông tin đó được thể hiện thông qua những dạng sau:

Ngày đăng: 30/03/2015, 18:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ tài chính, 2003. Chuẩn mực kế toán số 21: Trình bày báo cáo tài chính. Quyết định số 234/2003/QĐ-BTC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn mực kế toán số 21: Trình bày báo cáo tài chính
Tác giả: Bộ tài chính
Năm: 2003
2. Bộ tài chính, 2003. Chuẩn mực kế toán số 21: Trình bày báo cáo tài chính. Quyết định số 234/2003/QĐ-BTC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn mực kế toán số 21: Trình bày báo cáo tài chính
3. Bộ tài chính, 2010. Hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán. Thông tư số 09/2010/TT-BTC ngày 15/1/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
4. Bộ tài chính, 2012. Hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán. T hông tư số 52/2012/TT-BTC ngày 5/4/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
5. Bộ tài chính, 2012. Quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng. T hông tư số 121/2012/TT-BTC ngày 26/7/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng
6. Đặng Thị Thanh Hương và Hồ Vũ Hạ Trắng, 2011. Nghiên cứu thực nghiệm các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ thuyết minh báo cáo tài chính và một số giải pháp đề xuất nhằm tăng tính minh bạch của BCTC. Đề tài nghiên cứu khoa học SV Eureka 2011 do PGS.TS. Vũ Hữu Đức hướng dẫn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực nghiệm các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ thuyết minh báo cáo tài chính và một số giải pháp đề xuất nhằm tăng tính minh bạch của BCTC
Tác giả: Đặng Thị Thanh Hương, Hồ Vũ Hạ Trắng
Nhà XB: Đề tài nghiên cứu khoa học SV Eureka 2011
Năm: 2011
7. Đinh Văn Sơn, 2010. Thông tin chứng khoán và giao dịch chứng khoán tại sở giao dịch chứng khoán Hà Nội. Sách chuyên khảo, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin chứng khoán và giao dịch chứng khoán tại sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
Tác giả: Đinh Văn Sơn
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2010
8. Hà Thị Ngọc Hà, 2007. Lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán – Đảm bảo tính minh bạch thông tin trên TTCK. Tạp chí nghiên cứu Tài chính kế toán số 11 (52), trang 23-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán – Đảm bảo tính minh bạch thông tin trên TTCK
Tác giả: Hà Thị Ngọc Hà
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu Tài chính kế toán
Năm: 2007
9. Hoàng Trọng, Chu Mộng Ngọc, 2008. Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS. NXB Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS
Nhà XB: NXB Hồng Đức
10. Hội kiểm toán viên hành nghề (VACPA), 2012. Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2011 và phương hướng hoạt động năm 2012 của các công ty kiểm toán. Công văn số 090-2012/VACPA ngày 8/5/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2011 và phương hướng hoạt động năm 2012 của các công ty kiểm toán
11. International Finance Corporation (World Bank Group), 2004. Các Nguyên tắc Quản trị Công ty của OECD. Dịch từ tiếng Anh. Tổ chức Tài chính Quốc tế tại Việt Nam (IFC), 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Nguyên tắc Quản trị Công ty của OECD
Tác giả: International Finance Corporation (World Bank Group)
Nhà XB: Tổ chức Tài chính Quốc tế tại Việt Nam (IFC)
Năm: 2004
12. Lâm Thị Hồng Hoa, 2009. Minh bạch thông tin – Yêu cầu thực tiễn và mức độ đáp ứng. Tạp chí công nghệ ngân hàng, số 38 tháng 5, trang 38-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Minh bạch thông tin – Yêu cầu thực tiễn và mức độ đáp ứng
13. Lê Hoàng Tùng, 2009. Thành viên hội đồng quản trị độc lập: Qui định và thực Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành viên hội đồng quản trị độc lập: Qui định và thực
Tác giả: Lê Hoàng Tùng
Năm: 2009
14. Lê Trường Vinh và Hoàng Trọng, 2008. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin của doanh nghiệp niêm yết theo cảm nhận của nhà đầu tư. Tạp chí phát triển kinh tế, số tháng 12/2008: mục Nghiên cứu và trao đổi Sách, tạp chí
Tiêu đề: inh bạch thông tin của doanh nghiệp niêm yết theo cảm nhận của nhà đầu tư
15. Lê Vinh Triển, 2006. Góp bàn về các công ty cổ phần, công ty nhà nước và các PMU ở Việt Nam – Phân tích quan hệ giữa giám đốc và cổ đông theo “Lý thuyết người đại diện”. Tạp chí chứng khoán Việt Nam, số 6/2006, trang 29-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp bàn về các công ty cổ phần, công ty nhà nước và các PMU ở Việt Nam – Phân tích quan hệ giữa giám đốc và cổ đông theo “Lý thuyết người đại diện”
Tác giả: Lê Vinh Triển
Nhà XB: Tạp chí chứng khoán Việt Nam
Năm: 2006
16. Mark Saunders, Philip Lewis and Adrian Thornhill, 2007. Phương pháp nghiên cứu trong kinh doanh. Dịch từ tiếng Anh. Người dịch ThS. Nguyễn Văn Dung, 2008. Nhà xuất bản Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu trong kinh doanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
17. Ngân hàng thế giới, 2014. Báo cáo đánh giá khu vực tài chính – Việt Nam, tháng 6/2014. Văn phòng phó chủ tịch phụ trách phát triển khu vực tài chính và tư nhân - khu vực Đông Á và Thái Bình Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá khu vực tài chính – Việt Nam, tháng 6/2014
19. Nguyễn Bích Liên, 2011. Hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp và chất lượng thông tin kế toán. Tạp chí Ngân hàng, số 21, 11/2011, trang 34-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp và chất lượng thông tin kế toán
20. Nguyễn Đình Hùng, 2010. Hệ thống kiểm soát sự minh bạch thông tin tài chính công bố của các công ty niêm yết tại Việt Nam. Luận án tiến sỹ. Đại học Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống kiểm soát sự minh bạch thông tin tài chính công bố của các công ty niêm yết tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình Hùng
Nhà XB: Đại học Kinh tế TP.HCM
Năm: 2010
21. Nguyễn Đình Thọ, 2011. Phương pháp nghiên cứu trong khoa học kinh doanh. NXB Lao Động Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu trong khoa học kinh doanh
Nhà XB: NXB Lao Động Xã Hội

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Hệ thống thông tin - MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Hình 2.1 Hệ thống thông tin (Trang 41)
Hình 2.2 – Mô hình CBTT của doanh nghiệp (Jeffrey và Marie E. Archambault) - MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Hình 2.2 – Mô hình CBTT của doanh nghiệp (Jeffrey và Marie E. Archambault) (Trang 49)
Hình 2.3 – Mô hình nghiên cứu của nhóm tác giả Cheung và cộng sự - MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Hình 2.3 – Mô hình nghiên cứu của nhóm tác giả Cheung và cộng sự (Trang 50)
Hình 3.1: Khung nghiên cứu của luận án - MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Hình 3.1 Khung nghiên cứu của luận án (Trang 68)
Hình 3.2: Quy trình nghiên cứu - MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Hình 3.2 Quy trình nghiên cứu (Trang 70)
Hình 3.3–Mô hình nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch TTTC - MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Hình 3.3 –Mô hình nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch TTTC (Trang 73)
Bảng 3.2: Bảng tổng hợp kết quả thảo luận sâu với các chuyên gia - MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Bảng 3.2 Bảng tổng hợp kết quả thảo luận sâu với các chuyên gia (Trang 84)
Hình 3.4: Mô hình nghiên cứu chính thức - MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Hình 3.4 Mô hình nghiên cứu chính thức (Trang 85)
Bảng 4.2 - Số lượng CTNY sàn HNX phân theo lĩnh vực hoạt động - MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Bảng 4.2 Số lượng CTNY sàn HNX phân theo lĩnh vực hoạt động (Trang 109)
Bảng 4.9: Thống kê tính thuận tiện của BCTC các CTNY - MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Bảng 4.9 Thống kê tính thuận tiện của BCTC các CTNY (Trang 125)
Bảng 4.13: Trích lọc kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo – Lần 1 - MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Bảng 4.13 Trích lọc kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo – Lần 1 (Trang 133)
Bảng 4.16: Kết quả kiểm định KMO – điều kiện thực hiện EFA - thang đo lường MĐMB - MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Bảng 4.16 Kết quả kiểm định KMO – điều kiện thực hiện EFA - thang đo lường MĐMB (Trang 135)
Bảng 4.25 - Tóm tắt các kỹ thuật phân tích và phương pháp kiểm định - MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Bảng 4.25 Tóm tắt các kỹ thuật phân tích và phương pháp kiểm định (Trang 140)
Hình 5.1: Sơ đồ chỉ số phát triển bền vững của Việt Nam và một số nước - MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Hình 5.1 Sơ đồ chỉ số phát triển bền vững của Việt Nam và một số nước (Trang 164)
Hình 5.2: Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch TTTC của các CTNY - MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Hình 5.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch TTTC của các CTNY (Trang 165)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w