1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

29. Vai trò của toà án trong phá sản doanh nghiệp theo luật phá sản 2004

17 1,5K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 97,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Điều 3 Luật Phá sản năm 2004 quy định “Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì được coi là lâm vào tình trạng phá sả

Trang 1

Mục Lục LỜI NểI ĐẦU

NỘI DUNG

I Tổng quan về phỏp luật phỏ sản trong giai đoạn hiện nay

1 Thực trạng phỏ sản doanh nghiệp ở Việt Nam

2 Thủ tục phỏ sản doanh nghiệp

3 Tỏc động của Luật phỏ sản đến doanh nghiệp đang vào tỡnh trạng phỏ sản.

a Đối với chớnh doanh nghiệp,

b Đối với chủ thể kinh doanh:

c Đối với chủ nợ:

d Đối với người lao động

II/ Thực trạng thực hiện luật phá sản 2004 của tòa án đối với doanh nghiệp lõm vào tình trạng phá sản

III/ vai trũ của tũa ỏn trong phỏ sản doanh nghiệp hiện nay.

1/ Lý do mở thủ tục phỏ sản doanh nghiệp

2/ Vai trũ của Toà ỏn trong việc giải quyết yờu cầu mở thủ tục phỏ sản doanh nghiệp

3/ Vai trò của tòa án trong việc thanh lý tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

4/ Ra quyết định mở thủ tục thanh lý và là chủ thể có quyền điều hành hoạt động thanh lý

a/ Toà án có quyền ra quyết định mở thủ tục thanh lý đối với doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản.

b/Tòa án có thẩm quyền tham gia điều hành thủ tục thanh lý tài sản của doanh ghiệp lâm vào tình trạng phá sản

5/ Quyền quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản của toà án khi hội nghị chủ nợ không thành

6/ Tòa án có quyền thu hồi, quản lý và bảo toàn tài sản

KẾT LUẬN

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Như bất cứ một quy luật nào trong xã hội, nền kinh tế thị trường mang lại nhiều lợi ích nhưng cũng không ít rủi ro Những doanh nghiệp nào có chiến lược kinh doanh tốt, công việc kinh doanh đạt hiệu quả thì tiếp tục tồn tại và dần khẳng định được vị trí của mình Ngược lại, doanh nghiệp nào hoạt động kém hiệu quả, không thích ứng được với nền kinh tế thị trường thì tất yếu bị đào thải Việc chấm dứt sự tồn tại của một doanh nghiệp có ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của rất nhiều chủ thể khác tham gia vào quá trình hoạt động của doanh nghiệp Vì vậy, việc chấm dứt hoạt động đó cần phải tiến hành ra sao và yêu cầu các thủ tục gì Tại Điều 3 Luật Phá sản năm 2004 quy định “Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì được coi là lâm vào tình trạng phá sản” Vậy doanh nghiệp khi tiến hành phá sản thì có những chủ thể nào tham gia và cơ quan nào tiến hàn thủ tục này Tại Điều 7 Luật phá sản quy định:

“ 1 Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuôc tỉnh (sau đây gọi chung là toà án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện đó

2 Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây là toà án nhân dân cấp tỉnh) có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh ngiệp, hợp tác xã đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh đó

Trong trường hợp cần thiết toà án nhân dân cấp tỉnh lấy lên để tiến hành thủ tục phá sản đối với hợp tác xã thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân cấp huyện

3 Toà án nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá

Trang 3

sản đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đó” Như vậy, việc tiến hành thủ tục phá sản của một doanh nghiệp là do Toà án Vì thủ tục phá sản của một doanh nghiệp có rất nhiều chủ thể tham gia và có các quyền lợi khác nhau nên vai trò của toà án trong lĩnh vực này là rất quan trọng Nhằm làm rõ hơn vai trò của Toà án trong lĩnh vực này mà tôi lựa chọn đề

tài “ “Vai trò của tòa án trong phá sản doanh nghiệp theo Luật phá sản năm 2004” làm đề tài tiểu luận của mình Với phạm vi nghiên cứu và trình

độ còn ở giới hạn nhất định nên nội dung đề tài còn rất nhiều thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong sẽ nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo để bài viết được hoàn thiện hơn

Trang 4

NỘI DUNG

I Tổng quan về pháp luật phá sản trong giai đoạn hiện nay

1 Thực trạng phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam

Phá sản doanh nghiệp là một hoạt động có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với một doanh nghiệp và đặc biệt ý nghĩa đối với chủ doanh nghiệp Trong điều kiện nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, nguy cơ lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn của một doanh nghiệp là hoàn toàn có thể xảy ra mà chính các chủ doanh nghiệp không mong muốn Phá sản được coi là một giải pháp tốt để giúp các chủ nợ thoát khỏi tình trạng làm ăn thua lỗ kéo dài cũng là giải pháp giúp các chủ nợ có thể thu hồi công nợ một cách hợp pháp

Đối với một doanh nghiệp cụ thể, có thể vì nhiều lý do như: xác định phương hướng đầu tư, lựa chọn ngành nghề đầu tư không đúng hoặc gặp phải sự cố, rủi ro trên thương trường dẫn đến tình trạng kinh doanh gặp phải khó khăn, thua lỗ Việc phá sản doanh nghiệp được coi là một cơ hội

để doanh nghiệp rút ra khỏi thương trường một cách có trật tự để có điều kiện tìm kiếm một cơ hội kinh doanh khác Phá sản doanh nghiệp là cần thiết cho sự phát triển, thủ tục này làm lành mạnh hoá môi trường kinh doanh

Việt Nam đang xây dựng một nền kinh tế thị trường theo định hướng

xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà nước cũng có nghĩa là phải chấp nhận các thuộc tính, quy luật vốn có của nó, trong đó có vấn đề phá sản doanh nghiệp Trước yêu cầu đó, pháp luật về phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam với tư cách là một bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật kinh tế

đã được hình thành là một tất yếu khách quan Điều 3 - Luật Phá sản năm

2004 quy định “Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình

Trang 5

trạng phá sản” Như vậy, tiêu chí xác định doanh nghiệp phá sản của pháp luật Việt Nam tương đối giống với pháp luật của các nước trên thế giới

2 Thủ tục phá sản doanh nghiệp

Các thủ tục đòi nợ và thanh toán nợ trong phá sản được coi là một thủ tục tố tụng đặc biệt trong mối quan hệ với thủ tục đòi nợ dân sự truyền thống, chính vì vậy thủ tục phá sản doanh nghiệp có những đặc thù riêng như:

Phá sản doanh nghiệp là việc đòi nợ và thanh toán nợ mang tính tập thể.

Khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán nợ đến hạn, các chủ nợ có quyền gửi đơn đến Toà án yêu cầu mở thủ tục phá sản Trong thời hạn nhất định kể từ ngày Toà án thụ lý đơn, tất cả các chủ

nợ phải gửi giấy đòi nợ đến Quyền đòi nợ của các chủ nợ là bình đẳng và mỗi chủ nợ đều được thanh toán nợ của mình theo tỷ lệ tương ứng trong giá trị tài sản còn lại Danh sách chủ nợ sẽ được Toà án niêm yết công khai Sau khi lập xong danh sách chủ nợ, tất cả các chủ nợ có tên trong danh sách được tham gia hội nghị chủ nợ để bàn bạc và thông qua các giải quyết nhằm khắc phục tình trạng của doanh nghiệp, các vấn đề này đều được thông qua trên cơ sở của sự thoả thuận, nhất trí Còn trong dân sự có thể gặp tình huống việc thực hiện nghĩa vụ về tài sản có biện pháp bảo đảm mà tài sản bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ là có sự tham gia của nhiều chủ thể có quyền đối với khoản nợ Nếu coi các nghĩa vụ có cùng thời gian đến hạn thì có thể thấy hình thức khá gần với thủ tục đòi nợ trong phá sản, thế nhưng giữa những người có quyền không có sự thoả thuận về việc giải quyết tài sản bảo đảm nên không thể hiện được tính tập thể trong thủ tục đòi nợ như ở phá sản

Việc đòi nợ và thanh toán nợ trong phá sản doanh nghiệp được thực hiện thông qua cơ quan đại diện có thẩm quyền.

Trang 6

Toà án Kinh tế sau khi nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp thì xem xét và quyết định có mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp hay không Toà án Kinh tế là cơ quan duy nhất trong việc giải quyết vấn đề này, còn trong lĩnh vực dân sự cơ quan nào giải quyết là dựa vào sự thoả thuận của các bên

Đây là những điểm đặc thù của thủ tục này, có thể nói đây là một thủ tục tố tụng đặc biệt của thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế và nó còn tạo được mối quan hệ với thủ tục đòi nợ dân sự truyền thống

Việc đòi nợ và thanh toán nợ được thực hiện trên cơ sở tài sản còn lại của con nợ.

Trong phá sản doanh nghiệp nghĩa vụ trả nợ dựa vào tài sản thực tế còn lại của con nợ Còn trong lĩnh vực dân sự thì chỉ khi nào người có nghĩa vụ thực hiện xong hết nghĩa vụ thì nghĩa vụ mới được coi là hoàn thành

Việc đòi nợ và thanh toán nợ trong phá sản doanh nghiệp, hợp tác

xã chỉ được thực hiện khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Một doanh nghiệp, hợp tác xã chỉ bị coi là lâm vào tình trạng phá sản khi mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn Bên cạnh đó, doanh nghiệp, hợp tác xã không còn khả năng phục hồi trên thực tế thì sau khi áp dụng các bước cần thiết Toà án mới ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã Nếu như doanh nghiệp, hợp tác xã mang đầy đủ các dấu hiệu phá sản nhưng nếu Toà án kinh tế vẫn chưa ra quyết định thì doanh nghiệp, hợp tác xã đó vẫn tồn tại và vẫn chịu sự điều chỉnh của pháp luật

3 Tác động của Luật phá sản đến doanh nghiệp đang vào tình trạng phá sản.

a Đối với chính doanh nghiệp,

Trang 7

Khi một doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản đồng nghĩa với nó là sự chấm dứt hoạt động Nếu một doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động kém hiệu quả, làm ăn thua lỗ thì chấm dứt hoạt động là điều đương nhiên, thế nhưng kéo theo nó là hậu quả không nhỏ đối với nền kinh tế, đặc biệt là những doanh nghiệp hoạt động trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước Từ lúc này doanh nghiệp không những không thể tạo ra bất kỳ nguồn lợi nào cho xã hội mà còn nếu tiêu tốn không ít kinh phí để chi cho việc giải quyết phá sản, giải quyết việc làm cho người lao động, khắc phục hậu quả doanh nghiệp để lại Có lẽ chúng ta thấy đối với một doanh nghiệp thì chi phí này không lớn lắm nhưng nếu đem nó đối chiếu với tình trạng nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã làm ăn thua lỗ, nợ đọng như hiện nay thì chi phí này quả là một con số đáng kể

b Đối với chủ thể kinh doanh:

Xin đề cập đến những người trực tiếp tham quản lý doanh nghiệp Theo Luật doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luật hợp tác xã thì những người này có thể bị cách chức và không được tham gia vào công tác quản lý doanh nghiệp trong vòng 3 năm Đây là tổn thất lớn, họ bị mất uy tín và không thể phát huy những kinh nghiệm của mình trong nền kinh tế đang biến đổi nhanh chóng và khi họ được trở lại tham gia vào công tác quản lý thì kinh nghiệm đã trở lên lạc hậu mà trong đó có những người có trình độ, lý do phá sản là do những rủi ro trong kinh doanh không thể nào lường trước được

c Đối với chủ nợ:

Việc thanh toán nợ của doanh nghiệp luôn là vấn đề đáng quan tâm, đặc biệt có những khoản nợ mang ý nghĩa sống còn đối với một chủ nợ, ta

có thể thấy điều này một cách rõ ràng trong xã hội hiện nay, với tình trạng

nợ dây chuyền Có một điều hiển nhiên là khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản thì cơ hội lấy lại được những khoản nợ là rất thấp, nhất là các chủ

Trang 8

nợ khụng cú bảo đảm hoặc cỏc chủ nợ cú bảo đảm một phần Nếu theo thứ

tự ưu tiờn thanh toỏn thỡ cỏc chủ nợ này chỉ được sau khi tài sản của doanh nghiệp phỏ sản được chi cho phỏ sản và cỏc khoản nợ lương, trợ cấp đối với người lao động Điều này ảnh hưởng khụng nhỏ đến niềm tin trong kinh doanh của mỗi người

d Đối với người lao động

Những ảnh hưởng của phỏ sản đối với người lao động là tiờu cực nhất Mỗi một doanh nghiệp, hợp tỏc xó phỏ sản là rất nhiều người bỗng chốc trở thành thất nghiệp, đời sống của họ sẽ trở nờn khú khăn, cơ hội tỡm việc mới là khụng nhiều đặc biệt là những người cao tuổi Ở đõy sự thất nghiệp và nghốo đúi cú thể song hành cựng nhau và là một trong những yếu tố gõy mất an ninh chớnh trị và trật tự an toàn xó hội

Phỏ sản doanh nghiệp - một ảnh hưởng khụng nhỏ đến nền kinh tế,

là nhõn tố gõy nờn sự hoang mang cho nhà đầu tư, là một trong những nguyờn nhõn dẫn đến sự thu nhỏ quy mụ kinh doanh, là một khả năng dẫn đến sự sụp đổ dõy chuyền của cỏc chủ thể kinh doanh Những ảnh hưởng tiờu cực của phỏ sản doanh nghiệp là rất lớn vỡ nú cú những tỏc động trực tiếp làm thay đổi theo chiều hướng xấu đi bộ mặt của đất nước Chớnh vỡ vậy cần cú những giải phỏp để hạn chế những ảnh hưởng tiờu cực này

II/ Thực trạng thực hiện luật phá sản 2004 của tòa án đối với doanh nghiệp lõm vào tình trạng phá sản

Về các doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản ở nớc ta còn rất ít, từ 1993 đến 2003 là chặng đờng dài 10 năm nhng các cấp toà án chỉ giải quyết đợc 151 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp và chỉ

46 doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản Nh vậy số doanh nghiệp bị áp dụng thủ tục thanh lý cũng chỉ nằm ở con số 46 hoặc dới 46 doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản

Theo báo cáo tổng kết năm 2005 và phơng hớng nhiệm vụ công tác năm 2006 của ngành toà án do toà án nhân dân tối cao tổng kêt thì trong năm 2005 các toà án phải giải quyết 14 vụ trong đó thụ lý mới 11 vụ và 3

Trang 9

vụ của năm 2004 chuyển qua Các toà án mới giải quyết đợc 1 vụ đạt 1,19

% còn laị 13 vụ cha giải quyết Nh vậy lợng đơn xin phá sản gửi toà án tăng hơn năm 2004 (năm 2004 chỉ thụ lý 5 vụ) là do Luật phá sản 2004 khả thi hơn trớc đây, tuy nhiên con số này vẫn quá khiêm tốn so với thực tế các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

Luật phá sản 2004 ra đời là một bớc tiến quan trọng, một bớc ngoặt trong việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã của toà án nhân dân Hầu hết những vớng mắc bất hợp lý của Luật phá sản

1993 đã đợc sửa đổi bổ sung, có nhiều vấn đề đã tiếp cận đợc Luật phá sản của các nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển trong khu vực và châu lục

nh : Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản trong trờng hợp đặc biệt mà luật phá sản 1993 không có Luật cũ quy định quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp đó Luật cũng quy định quyền nộp

đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nớc, các

cổ đông của công ty cổ phần và thành viên công ty hợp danh Nh vậy sẽ khắc phục đợc trờng hợp ngời đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cố tình lẩn tránh việc đa đơn xin mở thủ tục phá sản doanh nghiệp vì những lý

do động cơ khác nhau

III/ vai trũ của tũa ỏn trong phỏ sản doanh nghiệp hiện nay 1/ Lý do mở thủ tục phỏ sản doanh nghiệp

Theo quy định tại điều 3 Luật Phỏ sản năm 2004 “Doanh nghiệp, hợp tỏc xó khụng cú khả năng thanh toỏn được cỏc khoản nợ đến hạn khi chủ nợ cú yờu cầu thỡ coi là lõm vào tỡnh trạng phỏ sản” Đõy là điều kiện tiờn quyết để việc mở thủ tục phỏ sản cú thể thực hiện

Về nguyờn tắc, mọi doanh nghiệp thuộc mọi hỡnh thức sở hữu, hợp tỏc xó hay liờn hiệp hợp tỏc xó được thành lập và hoạt động theo quy định của phỏp luật Việt Nam khi lõm vào tỡnh trạng phỏ sản thỡ đều thuộc phạm

vi điều chỉnh của luật phỏ sản Ngoài ra, chớnh phủ cú quy định riờng đối với những doanh nghiệp đặc biệt trực tiếp phục vụ quốc phũng an ninh Doanh nghiệp, hợp tỏc xó hoạt động trong lĩnh vực tài chớnh ngõn hàng, bảo hiểm và trong nhiều lĩnh vực khỏc thường xuyờn trực tiếp cung ứng

Trang 10

sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu, cụ thể đây là những doanh nghiệp có liên doanh đến quốc kế dân sinh, đến lợi ích của cả cộng đồng mà trong nhiều trường hợp phải duy trì không thể dễ dàng tuyên bố phá sản như những doanh nghiệp khác

2/ Vai trò của Toà án trong việc giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp.

Luật phá sản doanh nghiệp quy định hai chủ thể có quyền thụ lý giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp là Toà án nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Tuy nhiên, để phù hợp với Luật tổ chức toà án nhân dân đã được sửa đổi, bổ sung (bỏ chế độ xét xử sơ chung thẩm, thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử), Luật phá sản doanh nghiệp và hợp tác xã 2003 đã mở rộng thẩm quyền giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản bằng quy định thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản của toà án theo hai cấp là cấp tỉnh và cấp huyện Thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản được quy định cụ thể trong Luật phá sản nghiệp như sau:

- Toà án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với hợp tác xã đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện đó

- Toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh đó; trong trường hợp cần thiết toà án nhân dân cấp tỉnh lấy lên để tiến hành thủ tục phá sản đối với trường hợp thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân cấp huyện

Toà án nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đó

Ngày đăng: 30/03/2015, 17:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w