1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

12 một số vấn đề về vốn và cấu trúc vốn trong CTCP

20 305 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 119,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

cấu trúc vốn và cấu trúc tài chính×Phần 1 : một số vấn đề về lý thuyết Những yếu tố kích thích trong Quảng Cáo phần 2 : Thực trạng sử dụng các yếu tố kích thích ở việt nam trong thời gian qua và những giảI pháp hoàn thiện×một số vấn đề về vốn và đầu tư×Một số vấn đề về quản lý ngoại hối của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam trong thời gian qua và giải pháp khắc phục×một số vấn đề về thu hút và quản lý vốn đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoáng×Một số vấn đề về lãi xuất và thực trạng điều hành lãi xuất ở Việt Nam× cấu trúc vốn và cấu trúc tài chính×Phần 1 : một số vấn đề về lý thuyết Những yếu tố kích thích trong Quảng Cáo phần 2 : Thực trạng sử dụng các yếu tố kích thích ở việt nam trong thời gian qua và những giảI pháp hoàn thiện×một số vấn đề về vốn và đầu tư×Một số vấn đề về quản lý ngoại hối của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam trong thời gian qua và giải pháp khắc phục×một số vấn đề về thu hút và quản lý vốn đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoáng×Một số vấn đề về lãi xuất và thực trạng điều hành lãi xuất ở Việt Nam×

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ VAI TRÒ

2 Vai trò của vốn và cấu trúc vốn trong công ty cổ phần 4 CHƯƠNG II: CẤU TRÚC VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 7

1 Cấu trúc vốn của CTCP trước khi ban hành Luật DN năm 1999 7

2 Cấu trúc vốn của CTCP theo quan điểm của Luật doanh nghiệp

năm 1999 và đã được thay thế bằng Luật doanh nghiệp năm 2005 8

1 Nhận xét khái quát các quy định trong luật doanh nghiệp 2005

2 Một vài đề xuất nhằm thực thi có hiệu quả các quy định về vốn

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do nghiên cứu đề tài

Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, vốn được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau và quan niệm về vốn đã có những thay đổi căn bản Để thực hiện các hoạt động kinh doanh, ngoài nguồn vốn bằng tiền, doanh nghiệp còn huy động nhiều nguồn vốn không phải bằng tiền nhưng có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận, vốn có thể là nguồn tài sản (kể cả sức lao động) để làm tăng giá trị của doanh nghiệp, hoặc vốn có thể là toàn bộ hàng hoá, tài sản, những sở hữu khác được dùng làm ra lợi nhuận Cũng như các chủ thể kinh doanh khác, để thực hiện các hoạt động kinh doanh Công ty cổ phần phải có vốn Vốn của Công ty cổ phần là vấn đề phức tạp, không chỉ liên quan đến bản chất kinh tế, khả năng tài chính mà còn là yếu tố xác định vị thế, năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần trên thị trường, liên quan đến hàng loạt các vấn đề pháp lý như quyền sở hữu, chuyển nhượng, thế chấp Không thể không nhận thấy rằng vốn của công ty cổ phần

là cơ sở vật chất cho hoạt động của nó, có thể nói sự tồn tại và độ tin cậy của một công ty cổ phần trước các đối tác chủ yếu phụ thuộc vào cấu trúc vốn và

tư cách pháp lý của nó Những yếu tố đó được các đối tác của công ty quan tâm đến nhiều nhất

Xuất phát từ những thực tiễn đó , tôi chọn đề tài “ Một số vấn đề về vốn

và cấu trúc vốn trong công ty cổ phần” làm đề tài cho tiểu luận của mình

Dựa trên cơ sở nghiên cứu những khái quát chung về công ty cổ phần, từ đó

đi vào tìm hiểu những quy định cơ bản của Luật doanh nghiệp 2005 về vốn của CTCP , đồng thời qua nghiên cứu tôi cũng đề xuất một số ý kiến nhằm thi hành có hiệu quả luật doanh nghiệp 2005 trên khía cạnh sử dụng vón của CTCP

Trang 3

2 Kết cấu của đề tài

Kết cấu bài viết gồm 3 phần :

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của đề tài gồm 03 phần

Chương I : Khái niệm công ty cổ phần và vai trò của vốn trong công ty

cổ phần

Chương II : Cấu trúc vốn của công ty cổ phần

Chương III : Một số nhận xét và đề xuất nhằm thực thi hiệu quả các quy

định của Luật doanh nghiệp 2005 về vốn trong công ty cổ phần

Trong khuôn khổ của một bài tiểu luận, cùng với những hạn chế về kiến thức hiểu biết về pháp luật không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô giáo và các bạn học viên để nhằm hoàn thiện hơn cho tiểu luận của mình

Trang 4

CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ VAI TRÒ CỦA VỐN, CẤU TRÚC VỐN TRONG CTCP

1 Khái niệm công ty cổ phần (CTCP)

Điều 77 luật doanh nghiệp năm 2005 đã đưa ra dấu hiệu nhận biết CTCP: CTCP là doanh nghiệp trong đó

a Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần,

b Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là 3 và không hạn chế số lượng tối đa

c Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp

Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 điều 81 và khoản 5 điều 84 của luật này CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

2 Vai trò của vốn và cấu trúc vốn trong công ty cổ phần

Vốn của doanh ngiệp nói chung là giá trị được tính bằng tiền của những tài sản thuộc quyền sở hữu của hoặc sử dụng hợp pháp được doanh nghiệp sử dụng trong kinh doanh

Trong nền kinh tế thị trường ngoài nguồn vốn là tài sản hoặc các quyền tài sản thì lợi thế, uy tín, danh dự và thị phần trên thị trường mà doanh nghiệp

đó đang có cũng được coi là vốn của doanh nghiệp, nguồn vốn này không thể xác định và tìm thấy ngay trước mắt, mà nằm ở lợi thế tương lai có vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Như vậy, ngoài nguồn vốn bằng tiền với chức năng phương tiện thanh toán, phương tiện cất

Trang 5

trữ, là thước đo trong quá trình lưu thông, trao đổi phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp còn có nguồn vốn không phải bằng tiền Như vậy, vốn bao gồm nhiều loại khác nhau, song điểm chính nhất vốn là tất cả giá trị (vật chất, phi vật chất) được doanh nghiệp sử dụng để làm ra lợi nhuận đó

là tiền, giấy tờ được trị giá bằng tiền, tài sản, quyền tài sản, lao động, chất xám, kỹ năng, lợi thế của doanh nghiệp

Cũng như các chủ thể kinh doanh khác, để thực hiện các hoạt động kinh doanh Công ty cổ phần phải có vốn Vốn của Công ty cổ phần là vấn đề phức tạp, không chỉ liên quan đến bản chất kinh tế, khả năng tài chính mà còn là yếu tố xác định vị thế, năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần trên thị trường, liên quan đến hàng loạt các vấn đề pháp lý như quyền sở hữu, chuyển nhượng, thế chấp Không thể không nhận thấy rằng vốn của công ty cổ phần

là cơ sở vật chất cho hoạt động của nó, có thể nói sự tồn tại và độ tin cậy của một công ty cổ phần trước các đối tác chủ yếu phụ thuộc vào cấu trúc vốn và

tư cách pháp lý của nó Những yếu tố đó được các đối tác của công ty quan tâm đến nhiều nhất

Trong Công ty cổ phần, cấu trúc vốn phản ánh vị thế, quy mô, uy tín của Công ty cổ phần trên thị trường Một cấu trúc vốn mềm dẻo, linh hoạt sẽ đáp ứng được các nhu cầu khác nhau của các nhà đầu tư, đáp ứng được các hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Vốn của Công ty cổ phần bao gồm: vốn do cổ đông góp dưới dạng mua cổ phần được xác định là vốn điều lệ và vốn vay dưới dạng các hợp đồng tín dụng, hoặc phát hành trái phiếu Mỗi bộ phận nằm trong cấu trúc vốn của Công ty cổ phần có những đặc điểm, vai trò

và tính chất riêng, thể hiện đúng bản chất của nó, đồng thời có mối quan hệ chặt chẽ và bổ sung cho nhau Qua nghiên cứu cho thấy thành phần cơ bản trong cấu trúc vốn hay những công cụ tài chính mà Công ty cổ phần sử dụng

về cơ bản bao gồm hai bộ phận chủ yếu đó là: Vốn điều lệ và vốn vay (tuy

Trang 6

nhiên ở các nước trong khối ASEAN không sử dụng thuật ngữ Vốn điều lệ

mà gọi là vốn cổ phần) Cấu trúc vốn của công ty theo Luật công ty Singapore, bao gồm hai bộ phận cơ bản: vốn cổ phần và vốn vay Vốn cổ phần được phân thành Vốn điều lệ (authorized capital), vốn phát hành (issued capital) và vốn đã nộp (paid-up capital) Vốn vay (hay gọi là tài chính nợ) bao gồm trái phiếu, trái khoán công ty và giấy nhận nợ Như vậy, so với cấu trúc vốn của Công ty trách nhiệm hữu hạn, của Hợp tác xã về cơ bản cũng bao gồm vốn điều lệ và vốn vay, cấu trúc vốn của Công ty cổ phần tương đối hoàn thiện, phản ánh đúng bản chất và lợi thế của Công ty cổ phần trong nền kinh

tế thị trường

Trang 7

CHƯƠNG II: CẤU TRÚC VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN

1 Cấu trúc vốn của CTCP trước khi ban hành Luật DN năm 1999

Cấu trúc vốn của công ty cổ phần bao gồm: Vốn điều lệ và vốn pháp định Tuy nhiên, hoạt động thực tế của công ty cổ phần có một loại vốn đó là vốn pháp định, vậy vốn pháp định có nằm trong cấu trúc của công ty cổ phần không?

Theo Luật công ty 1990 vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có để thành lập công ty do pháp luật quy định đối với từng ngành nghề (Điều 3 - Luật công ty 1990) Như vậy, theo quy định tại Điều 15, Luật công ty 1990 vốn pháp định là một điều kiện quan trọng để thành lập công ty Muốn thành lập công ty các nhà đầu tư bắt buộc phải có vốn điều lệ tối thiểu phải bằng hoặc lớn hơn mức vốn pháp định quy định đối với ngành nghề đăng ký kinh doanh

Nghị định 26/CP ngày 07/05/1998 của Chính phủ quy định ba nhóm ngành nghề: Chế biến nông lâm thuỷ sản; công nghiệp xây dựng; du lịch khách sạn Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân kinh doanh trong những nhóm ngành nghề đó phải có vốn điều lệ tối thiểu bằng vốn pháp định mà pháp luật quy định Như vậy, trong quan hệ kinh doanh, nhiều khi đối tác chỉ nhìn vào vốn pháp định để xác định độ tin cậy đối với bạn hàng của mình

Thực tiễn 10 năm thực hiện Luật công ty cho thấy, việc quy định về vốn pháp định mang tính hình thức, bất hợp lý Thực chất vốn pháp định của nhiều công ty chỉ là vỏ bao bên ngoài, không có thật dẫn đến tình trạng vốn pháp định "ma" đã được hợp pháp hoá khiến cho các đối tác nhầm lẫn Trong thực tế có nhà đầu tư vay ngân hàng A sau đó gửi vào ngân hàng B lấy xác nhận có tài khoản ở ngân hàng để được thành lập công ty và đăng ký kinh doanh Việc hợp pháp hoá vốn vay của nhà đầu tư trở thành vốn điều lệ là hành vi lừa đảo các đối tác Mặt khác việc quy định vốn pháp định với các thủ tục phức tạp, gây phiền hà cho các nhà đầu tư Nếu đặt ra mức vốn pháp định

Trang 8

cao thì cản trở đầu tư, ảnh hưởng đến việc thành lập công ty Có những nhà đầu tư có khả năng quản lý, có bí quyết kinh doanh nhưng do mức vốn thấp hơn vốn pháp định nên đã không thành lập được công ty để thực hiện ý tưởng đầu tư kinh doanh của mình Ngược lại nếu quy định vốn pháp định thấp thì điều này làm mất đi ý nghĩa thực hiện quản lý Nhà nước đối với công ty cổ phần trong thành lập, đăng ký kinh doanh và bảo vệ lợi ích của các chủ nợ Mặt khác, vốn pháp định không phản ánh giá trị thực của công ty cổ phần khả năng kinh doanh, khả năng trả nợ không phụ thuộc vào vốn pháp định mà phụ thuộc vào năng lực tài chính thực sự của công ty

Luật doanh nghiệp 1999 về cơ bản đã bỏ vốn pháp định đối với hầu hết các ngành nghề kinh doanh Đây là bước đột phá trong thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh đối với các doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần nói riêng, đồng thời cũng là bước đột phá trong việc rỡ bỏ rào chắn về vốn để các nhà đầu tư có cơ hội đầu tư vào những ngành nghề kinh doanh phù hợp với khả năng của họ Việc bỏ vốn pháp định là hoàn toàn phù hợp với cải cách hành chính trong việc quản lý doanh nghiệp, là bước thực hiện việc chuyển đổi từ cơ chế tiền kiểm sang cơ chế hậu kiểm Tuy nhiên, việc bãi bỏ vốn pháp định không phải là bỏ hẳn, cũng không đồng nghĩa với sự buông lỏng quản lý Nhà nước Tuy nhiên, đối với một số ngành nghề kinh doanh như: tiền tệ, bảo hiểm, chứng khoán, kinh doanh vàng vẫn cần có quy định về vốn pháp định

Như vậy, có thể nói rằng vốn pháp định không nằm trong cấu trúc vốn của công ty cổ phần, việc quy định vốn pháp định chỉ là điều kiện thành lập

và đăng ký kinh doanh Vốn pháp định không thể phản ánh khả năng tài chính của Công ty cổ phần

2 Cấu trúc vốn của CTCP theo quan điểm của Luật doanh nghiệp năm

1999 và đã được thay thế bằng Luật doanh nghiệp năm 2005

Cấu trúc vốn của CTCP theo quan điểm của Luật doanh nghiệp 1999 đến nay được xem xét ở hai bộ phận: Vốn điều lệ và vốn vay

Trang 9

2.1 Vốn điều lệ (Vốn chủ sở hữu)

Vốn điều lệ là số vốn do các nhà đầu tư góp khi thành lập doanh nghiệp

và được ghi vào điều lệ doanh nghiệp, bao gồm tài sản hữu hình và cả những tài sản vô hình Những tài sản vô hình không thể nhìn thấy được ngay nhưng

có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp trong quá trình hoạt động kinh doanh như quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết kỹ thuật, lợi thế, uy tín của của doanh nghiệp Như vậy, toàn bộ những tài sản hữu hình và tài sản vô hình được các cổ đông góp và được ghi vào điều lệ gọi là vốn điều lệ của công ty

cổ phần

Trong Luật doanh nghiệp năm 2005, điểm a khoản 1 Điều 77 quy định: “ CTCP là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần ” Phần vốn điều lệ này do các cổ đông đóng, được ghi vào Điều lệ của công ty và phải đăng kí với cơ quan nhà nước có thẩm quyền Như vậy, cổ phần là một đại lượng chuẩn thuận trong bản Điều lệ của CTCP, đại lượng đó được căn cứ vào số lượng cổ phần và vốn góp của các cổ đông

Cổ đông góp vốn vào CTCP bằng cách mua cổ phần mà thực chất là mua quyền sở hữu của CTCP Như vậy, điểm nhất quán ở đây là tài sản khi được các cổ đông góp và ghi vào điều lệ của công ty cổ phần - gọi là vốn điều lệ của công ty cổ phần

Trong cấu trúc vốn của công ty cổ phần, vốn điều lệ đóng vai trò quan trọng, là chỉ số kinh tế phản ánh năng lực tài chính Tuy nhiên, vốn điều lệ không hẳn phản ánh giá trị thực của công ty cổ phần có thể cao hơn hoặc thấp hơn vốn điều lệ Thực tế, vốn điều lệ chỉ phản ánh một phần giá trị thực của công ty cổ phần, giá trị của công ty cổ phần phụ thuộc vào nhiều chỉ số khác nhau trong đó có vốn điều lệ Vốn điều lệ trong công ty cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau Các cổ đông góp vốn vào công ty cổ phần bằng cách mua cổ phần mà hình thức thể hiện là cổ phiếu

Trang 10

2.2 Vốn vay

Vốn vay của công ty cổ phần bao gồm: Vốn vay của ngân hàng, của các

cá nhân tổ chức khác, vay thông qua kênh phát hành trái phiếu và vay thông qua thuê tài chính Thực tế, công ty cổ phần không thể tiến hành hoạt động kinh doanh nếu chỉ dựa vào vốn điều lệ mà không có sự huy động vốn từ bên ngoài Như trên đã phân tích, nguồn vốn vay của công ty cổ phần rất đa dạng

và phong phú So với các loại hình doanh nghiệp khác như: công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần có lợi thế hơn trong việc huy động vốn nhờ cấu trúc vốn linh hoạt mềm dẻo, trong đó có một bộ phận quan trọng đó là vốn vay

Vậy vốn vay có thuộc quyền sở hữu của công ty cổ phần không? hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về vốn vay của công ty cổ phần Có quan điểm cho rằng vốn vay không thuộc sở hữu của công ty cổ phần và đặc biệt là vay thông qua hình thức thuê tài chính Quan điểm khác cho rằng vốn vay thuộc sở hữu của công ty cổ phần, trừ vay thông qua hình thức thuê tài chính

Để lý giải vấn đề này, vốn vay được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau Dưới góc độ kinh tế, vốn vay là do công ty cổ phần huy động từ bên ngoài, vốn vay không phản ánh năng lực tài chính của công ty cổ phần Vì vậy, khó có thể nói vốn vay thuộc sở hữu của công ty cổ phần

Dưới góc độ tài chính, vốn vay là khoản nợ phải trả của công ty cổ phần.Vì vậy, các khoản vốn vay phải được hạch toán vào các khoản nợ và được chia thành các khoản nợ ngắn hạn, nợ dài hạn để công ty cổ phần có phương án trả nợ Vốn vay không phản ánh năng lực tài chính thực sự của công ty cổ phần Công ty cổ phần được sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định Nếu sử dụng đúng mục đích có hiệu quả sẽ làm tăng lợi nhuận cho công ty cổ phần

Dưới góc độ pháp lý "vay là một hình thức cấp tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi"

Trang 11

Theo quy định của Bộ luật Dân sự bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay và kể từ thời điểm nhận tài sản đó Như vậy, vốn vay được công ty cổ phần chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trong hoạt động kinh doanh làm tăng lợi nhuận của công ty Công ty cổ phần có thể sử dụng vốn vay bổ sung vào vốn lưu động để mở rộng phạm vi, quy mô kinh doanh hoặc mua sắm tài sản cố định Những tài sản cố định được Công ty cổ phần mua sắm bằng nguồn vốn vay như máy móc, thiết bị, nhà xưởng sẽ thuộc quyền định đoạt của công ty

cổ phần và khi các khoản nợ đã đến kỳ đáo hạn công ty cổ phần phải có nghĩa

vụ thanh toán cả gốc và lãi Như vậy, dưới góc độ pháp lý vốn vay là vốn của công ty cổ phần trừ vay thông qua hình thức thuê tài sản, thuê tài chính Vốn vay phản ánh phạm vi quy mô, ưu thế của Công ty cổ phần trên thị trường Ngoài việc huy động vốn vay trực tiếp thông qua các tổ chức tín dụng, công ty cổ phần còn huy động vốn vay thông qua việc phát hành trái phiếu:

"Trái phiếu là một loại chứng khoán được phát hành dưới hình thức chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận nghĩa vụ trả nợ (bao gồm vốn gốc và lãi) của tổ chức phát hành đối với người sở hữu trái phiếu

Bản chất của trái phiếu là chứng chỉ ghi nợ Việc phát hành trái phiếu ra công chúng là một hình thức vay nợ của Công ty cổ phần Khác với các hình thức vay khác như vay của các tổ chức tín dụng, của các cá nhân tổ chức khác, phát hành trái phiếu là hình thức vay thông qua việc phát hành chứng khoán Trong các nguồn vốn vay của công ty cổ phần nguồn vốn vay từ việc phát hành trái phiếu có vị trí quan trọng, thể hiện rõ ưu thế của công ty cổ phần so với các loại hình doanh nghiệp khác trong việc huy động vốn Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam hiện nay các công ty cổ phần huy động vốn vay chủ yếu bằng hình thức vay tín dụng, còn hình thức vay thông qua phát hành trái phiếu các công ty cổ phần không "mặn mà" lắm Hiện nay trên thị trường chứng khoán không có công ty cổ phần nào niêm yết trái phiếu mà phần lớn chỉ có trái phiếu Chính phủ

Ngày đăng: 30/03/2015, 16:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w