địa vị pháp lý của doanh nghiệp liên doanh×bài giảng địa vị pháp lý của doanh nghiệp×địa vị pháp lý của chủ doanh nghiệp tư nhân×địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân×địa vị pháp lý của doanh nghiệp bảo hiểm×địa vị pháp lý của doanh nghiệp×địa vị pháp lý của doanh nghiệp liên doanh×bài giảng địa vị pháp lý của doanh nghiệp×địa vị pháp lý của chủ doanh nghiệp tư nhân×địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân×địa vị pháp lý của doanh nghiệp bảo hiểm×địa vị pháp lý của doanh nghiệp×
Trang 1MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU
Phần Nội Dung
I Khái quát về doanh nghiệp tư nhân và pháp luật về doanh nghiệp tư nhân
1 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam
2 Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân
2.1 Khái niệm
2.2 Đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân.
II Pháp luật về hình thành và chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp tư nhân
1 Đăng kí kinh doanh doanh nghiệp tư nhân
1.1 Điều kiện đăng kí kinh doanh
1.2 Trình tự và thủ tục đăng kí kinh doanh.
2 Chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp tư nhân
2.1 Giải thể doanh nghiệp tư nhân
2.2 Phá sản doanh nghiệp
3 Quyền và nghĩa vụ cơ bản của doanh nghiệp tư nhân
3.1 Quyền của doanh nghiệp tư nhân
3.2 Nghĩa vụ của doanh nghiệp tư nhân
III Một số đề xuất và kiến nghị
KẾT LUẬN
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Phát triển nền kinh tế đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa là mục tiêu của Đảng và nhà nước ta Từ khi đại hội VI diễn ra nước ta đã thừa nhận kinh tế tư nhân và quan tâm, chú trọng nhiều hơn đến việc khai thác, huy động các nguồn lực để phát triển kinh tế Để điều chỉnh các vấn đề kinh doanh Luật doanh nghiệp năm 1999 ra đời đánh dấu cho quá trình hoàn thiện khung pháp luật của nước ta về các loại hình doanh nghiệp Tuy nhiên, trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường thì luật doanh nghiệp 1999 không còn đáp ứng được những yêu cầu đặt ra của nền kinh tế Và để đáp ứng được những đòi hỏi đó Luật doanh nghiệp 2005 đã ra đời, thể hiện sự thống nhất trong việc điều chỉnh địa vị pháp lý của các doanh nghiệp, thể hiện vai trò của doanh nghiệp tư nhân so với các loại hình doanh nghiệp khác Luật doanh nghiệp 2005 là sự thống nhất của Luật doanh nghiệp năm 1999, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987, Luật đầu tư năm 1996 (đã được sửa đổi,
bổ sung năm 2000) Về nội dung cơ bản, Luật doanh nghiệp năm 2005 không
có nhiều thay đổi so với Luật doanh nghiệp năm 1999, nhưng những quy định mới của Luật này quy định chi tiết, đầy đủ và toàn diện hơn, trong đó có các quy định về địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân Với mong muốn tìm hiểu thêm về các quy định của Luật doanh nghiệp 2005 làm rõ địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân đồng thời thấy được những điểm tích cực và những mặt còn hạn chế của các quy định đó mà tôi lựa chọn đề tài “Địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân theo luật doanh nghiệp 2005” làm đề tài tiểu luận của mình Việc nghiên cứu đề tài này trong giai đoạn hiện nay rất có ý nghĩa khi Đảng và nhà nước đang có chính sách phát triển tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho việc phát triển loại hình doanh nghiệp này với những đóng góp của nó cho việc phát triển kinh tế xã hội
Trang 3PHẦN NỘI DUNG
I Khái quát về doanh nghiệp tư nhân và pháp luật về doanh nghiệp tư nhân.
1 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam.
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Nhà nước đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật thừa nhận kinh tế tư nhân và tạo khung pháp lý cho kinh tế tư nhân nói chung và doanh nghiệp tư nhân nói riêng Ngay sau Đại hội hai năm tức là năm 1988 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 27/HĐTB
đã cho phép các cá thể kinh doanh đạt lợi nhuận cao được mở rộng thêm quy
mô kinh doanh trở thành công ty tư nhân hoặc kết hợp với nhau thành đơn vị lớn hơn gọi là công ty tư doanh Tới năm 1990 Nhà nước đã ban hành Luật doanh nghiệp tư nhân, theo đó Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân, thừa nhận sự bình đẳng trước pháp luật với các loại hình doanh nghiệp khác Trong thời kỳ này mặc dù đã có khung pháp lý điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp tư nhân tuy nhiên loại hình doanh nghiệp này vẫn chưa thực sự phát triển
Gần 10 năm sau ngày ban hành Luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990, để
có thể tạo một khung pháp lý hoàn thiện hơn cho doanh nghiệp tư nhân, để phù hợp hơn với tình hình kinh tế xã hội trong thời ký mới thì Quốc hội đã ban hành Luật doanh nghiệp năm 1999 trong đó có quy định địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân Có thể nói Luật doanh nghiệp 1999 đã quy định về doanh nghiệp tư nhân một cách khá đầy đủ và chi tiết từ cơ cấu tổ chức , trình
tự thành lập, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của doanh nghiệp cũng như chủ doanh nghiệp tư nhân Đó là cơ sở cho Doanh nghiệp tư nhân phát triển bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp khác
Bước sang thế kỷ XXI cùng với xu hướng chung của thế giới là toàn cầu hoá và khu vực hoá, Việt Nam đang chuẩn bị những bước cuối cùng để có thể tham gia vào sân chơi chung của thế giới về kinh tế đó là vào tổ chức thương
Trang 4mại thế giới Để có thể được tham gia vào sân chơi này chúng ta phải có một
hệ thống pháp luật minh bạch, rõ ràng, phù hợp với thông lệ và pháp luật thế giới nói chung và hệ thống pháp luật về doanh nghiệp và đầu tư nói riêng Vì vậy, ngày 29/11/2005, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật doanh nghiệp thay thế cho Luật doanh nghiệp năm 1990; Luật doanh nghiệp nhà nước 2003 và Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996, Luật sửa đổi bổ sung năm
2000 Luật doanh nghiệp năm 2005 ra đời đã thống nhất điều chỉnh địa vị pháp lý của các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam, không phân biệt đó là doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần hay doanh nghiệp tư nhân Điều này một lần nữa khẳng định vị trí vai trò của doanh nghiệp tư nhân bên cạnh các loại hình doanh nghiệp khác
2 Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân.
2.1 Khái niệm
Trước hết, doanh nghiệp tư nhân cũng là một loại hình doanh nghiệp Theo đó nó cũng sẽ có những đặc điểm của một doanh nghiệp nói chung Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật doanh nghiệp năm 2005 thì “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng
ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” Bên cạnh những dấu hiệu chung để nhận biết một doanh nghiệp, thì doanh nghiệp tư nhân cũng có những nét đặc thù mà thông qua đó
có thể phân biệt doanh nghiệp tư nhân với các loại hình doanh nghiệp khác Theo quy đinh tại Điều 141 Luật doanh nghiệp năm 2005 thì “ Doanh nghiệp
tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp; Doanh nghiệp
tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào; Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân” Từ định nghĩa của Luật doanh nghiệp ta có thể thấy một số đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân
Trang 52.2 Đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân.
Thứ nhất, Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ.
Đặc điểm để phân biệt đầu tiên và cũng là rõ nét nhất của doanh nghiệp
tư nhân với các loại hình doanh nghiệp khác là doanh nghiệp tư nhân chỉ do một cá nhân làm chủ Theo quy định của pháp luật Việt Nam trước đây quy định về các doanh nghiệp cũng như Luật doanh nghiệp năm 2005 thì doanh nghiệp tư nhân được xếp vào nhóm doanh nghiệp một chủ cùng với doanh nghiệp nhà nước và công ty trách nhiệm hữu hạn một chủ Mặc dù có các loại hình doanh nghiệp khác cũng do một chủ sở hữu nhưng doanh nghiệp tư nhân vẫn có những đặc điểm riêng, đó là: doanh nghiệp tư nhân chỉ có duy nhất một cá nhân làm chủ sở hữu Vì vậy, trong doanh nghiệp tư nhân không xuất hiện sự góp vốn giống như những công ty có nhiều chủ sở hữu, nguồn vốn của doanh nghiệp cũng chủ yếu xuất phát từ tài sản của một cá nhân Từ đặc điểm trên chúng ta có thể phân tích sâu thêm một số đặc điểm liên quan tới việc một chủ sở hữu trong doanh nghiệp tư nhân
- Vấn đề sở hữu vốn trong doanh nghiệp tư nhân
Nguồn vốn ban đầu của các loại hình doanh nghiệp là vốn điều lệ được các thành viên cam kết góp vào công ty Tuy nhiên, với doanh nghiệp tư nhân thì vốn ban đầu của doanh nghiệp xuất phát chủ yếu từ tài sản của một cá nhân, phần vốn này do chủ doanh nghiệp tự khai báo với cơ quan đăng ký kinh doanh, đây là vốn đầu tư ban đầu của chủ doanh nghiệp Theo quy định tại khoản 1 Điều 142 Luật doanh nghiệp 2005 thì “Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tự đăng ký Chủ doanh nghiệp tư nhân
có nghĩa vụ đăng ký chính xác tổng số vốn đầu tư, trong đó nêu rõ vốn bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi và các tài sản khác, đối với vốn bằng tài sản khác phải ghi rõ loại tài sản, số lượng và giá trị còn lại của mỗi loại tài sản” Như vậy, cá nhân là chủ doanh nghiệp tư nhân sẽ đưa vào kinh doanh một số vốn nhất định trong khối tài sản thuộc sở hữu của cá nhân mình
Trang 6và theo nguyên tắc tài sản đưa vào kinh doanh đó là tài sản của doanh nghiệp
tư nhân Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thì chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư, việc tăng hoặc giảm vốn đầu tư này phải được ghi chép vào sổ kế toán Trong trường hợp giảm vốn xuống dưới mức vốn đầu tư đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh thì phải báo cáo với cơ quan đăng ký kinh doanh và chỉ được giảm khi cơ quan này cho phép (theo tinh thần của khoản 3 Điều 142 Luật doanh nghiệp năm 2005) Từ những quy định của pháp luật về vốn đối với doanh nghiệp tư nhân như vậy nên chúng ta không thể phân biệt được đâu là vốn và tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân và đâu là phần vốn và tài sản của doanh nghiệp tư nhân, trong mọi thời điểm việc thay đổi mức vốn đưa vào kinh doanh đều có thể diễn ra,
vì vậy ranh giới giữa tài sản và vốn đưa vào kinh doanh và phần tài sản còn lại của chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ tồn tại một cách tạm thời, tương đối hay nói cách khác là hai phần tài sản này không có sự phân biệt rạch ròi và rõ ràng Đây là sự khác biệt nổi bật của chủ doanh nghiệp tư nhân với chủ sở hữu vốn trong các loại hình doanh nghiệp khác
- Mối quan hệ giữa quyền quản lý và quyền sở hữu
Doanh nghiệp tư nhân chỉ có một chủ đầu tư duy nhất, vì vậy, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan tới tổ chức
và hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời chủ doanh nghiệp tư nhân cũng là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tư nhân Có thể nói quyền tự chủ trong tổ chức và hoạt động của chủ doanh nghiệp tư nhân là một ưu điểm cua doanh nghiệp tư nhân, chủ doanh nghiệp tư nhân không phải chia sẻ quyền quản lý doanh nghiệp với bất kỳ chủ thể nào, chủ doanh nghiệp có quyền định đoạt tất cả mọi vấn đề để doanh nghiệp hoạt động tốt nhất, chủ doanh nghiệp tư nhân có thể tự mình hoặc thuê người quản lý doanh nghiệp Trong trường hợp thuê người quản lý doanh nghiệp thì chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải tự mình chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp dưới sự điều hành, quản lý của người được thuê Giới hạn trách nhiệm
Trang 7giữa chủ doanh nghiệp và người được thuê quản lý được thông qua một hợp đồng, tuy nhiên về cơ bản chủ doanh nghiệp vẫn là người chịu trách nhiệm chính và trực tiếp trước pháp luật và với bên thứ ba
- Về phân phối lợi nhuận
Vấn đề phân phối lợi nhuận không được pháp luật đặt ra đối với doanh nghiệp tư nhân, vì doanh nghiệp này chỉ có một chủ sở hữu duy nhất Như vậy, toàn bộ lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được sẽ thuộc về chủ doanh nghiệp sau khi đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước và với bên thứ ba Lợi nhuận của doanh nghiệp cũng không phải chia cho người quản lý (nếu chủ doanh nghiệp thuê người quản lý) trong mối quan hệ giữa chủ doanh nghiệp với người quản lý đơn thuần chỉ là quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động, vấn đề lợi nhuận sẽ không được đặt ra trong hợp đồng giữa chủ doanh nghiệp tư nhân với người được thuê quản lý Lật lại vấn
đề chủ doanh nghiệp là người duy nhất được hưởng lợi nhuận cũng đồng nghĩa là cá nhân duy nhất đó phải gánh chịu toàn bộ trách nhiệm và chịu mọi rủi ro trong kinh doanh mà không thể chia sẻ với người khác
Có thể nói đây là vấn đề có tính hai mặt một cách rõ nét, vấn đề không chia sẻ lợi nhuận, không chia sẻ quyền quản lý đã thúc đẩy các nhà đầu tư lựa chọn mô hình doanh nghiệp tư nhân, đồng thời việc không thể chia sẻ rủi ro cũng là một điểm hạn chế lớn, là nguyên nhân khiến cho không ít nhà đầu tư không muốn kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân
Thứ hai: tư cách pháp lý của doanh nghiệp tư nhân
Theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2005 thì doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân (mặc dù luật không quy định là không có, tuy nhiên, bốn loại hình doanh nghiệp còn lại luật đều ghi nhận là có tư cách pháp nhân nhưng doanh nghiệp tư nhân thì luật không quy định) vì vậy, có thể nói doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp duy nhất theo Luật doanh nghiệp 2005 không có tư cách pháp nhân Trước đây theo Luật doanh nghiệp năm 1999 thì luật quy định doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh
Trang 8không có tư cách pháp nhân vì liên quan tới quan hệ vốn và tài sản của doanh nghiệp không độc lập với vốn và tài sản của chủ doanh nghiệp và như vậy nếu quy định nó có tư cách pháp nhân thì nó đã trái với quy định của Bộ luật dân
sự Tuy nhiên, theo Luật doanh nghiệp năm 2005 thì luật quy định công ty hợp danh vẫn có tư cách pháp nhân mặc dù tài sản của công ty hợp danh với tài sản của chủ sở hữu cũng chưa có sự tách biệt rõ ràng Việc doanh nghiệp
tư nhân không có tư cách pháp nhân nó đã phần nào làm hạn chế hoạt động thương mại của doanh nghiệp
Thứ ba: Chủ doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn trước mọi khoản nợ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp tư nhân
Do tính chất độc lập về tài sản của doanh nghiệp không có nên chủ doanh nghiệp tư nhân sẽ là người chịu trách nhiệm duy nhất trước mọi rủi ro của doanh nghiệp và trách nhiệm này là vô hạn Vấn đề này có thể hiểu là chủ doanh nghiệp tư nhân không chỉ chịu trách nhiệm trong phần vốn đầu tư đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh mà phải chịu trách nhiệm bằng toàn
bộ tài sản của mình trong trường hợp phần vốn đăng ký đầu tư không đủ để thực hiện nghĩa vụ về tài sản với nhà nước và với bên thứ ba Một doanh nghiệp tư nhân khi lâm vào tình trạng phá sản thì tất cả tài sản thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp tư nhân đều nằm trong diện tài sản phá sản của doanh nghiệp
Cũng từ tính chịu trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp tư nhân mà pháp luật quy định doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất ký loại chứng khoán nào và chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ được thành lập duy nhất một doanh nghiệp tư nhân
Trang 9II Pháp luật về hình thành và chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp tư nhân
1 Đăng kí kinh doanh doanh nghiệp tư nhân
Đăng kí kinh doanh là thủ tục luật định nhằm khai sinh về mặt pháp lý cho công ty (thừa nhận tư cách pháp lý của công ty) và công ty sẽ được đảm bảo về mặt pháp lý kể từ khi hoàn tất thủ tục đăng kí kinh doanh
1.1 Điều kiện đăng kí kinh doanh
Thứ nhất: về chủ thể được quyền thành lập doanh nghiệp tư nhân Theo
quy định của Luật doanh nghiệp năm 2005 thì “ Tổ chức cá nhân Việt Nam,
tổ chức cá nhân nước ngoài có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của luật này” (khoản 1 Điều 13 Luật doanh nghiệp 2005) trừ trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 13 của Luật doanh nghiệp Theo đó thì một doanh nghiệp tư nhân sẽ được đăng kí nếu như chủ thể không rơi vào một trong các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 13
Thứ hai: điều kiện về vốn Trước đây, theo Luật doanh nghiệp năm
1990 để thành lập doanh nghiệp tư nhân đòi hỏi chủ doanh nghiệp phải có vốn pháp định, đây là điều kiện bắt buộc đối với các chủ doanh nghiệp Tuy nhiên, đến Luật doanh nghiệp năm 1999 và bây giờ là Luật doanh nghiệp năm
2005 thì đã bỏ quy định này, mà pháp luật chỉ đòi hỏi vốn pháp định đối với một số ngành nghề nhất định Như vậy, để thành lập doanh nghiệp tư nhân thì chủ doanh nghiệp không phải đáp ứng điều kiện bắt buộc về một số vốn nhất định, số vốn ban đầu là do chủ doanh nghiệp tự khai
Ngoài hai yêu cầu trên thì nhà đầu tư muốn đăng ký kinh doanh doanh nghiệp tư nhân thì phải đáp ứng một số yêu cầu theo quy định của pháp luật như đối với điều kiện về ngành nghề kinh doanh, điều kiện về tên doanh nghiệp…
Trang 101.2 Trình tự và thủ tục đăng kí kinh doanh.
Doanh nghiệp tư nhân là một trong những loại hình doanh nghiệp được Luật doanh nghiệp năm 2005 điều chỉnh, vì vậy, để đăng kí kinh doanh thì doanh nghiệp tư nhân cũng phải tuân theo trình tự thủ tục luật định Để đăng
ký kinh doanh doanh nghiệp tư nhân các nhà đầu tư phải thực hiện các bước sau:
- Nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh tới cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền Trong hồ sơ phải có các giấy tờ sau: giấy đề nghị đăng ký kinh doanh theo mẫu thống nhất, bản sao chứng thực cá nhân hợp pháp, và các giấy tờ khác nếu doanh nghiệp kinh doanh các ngành nghề có điều kiện
- Nộp lệ phí đăng ký kinh doanh
- Sau khi nhận giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh chậm nhất 30 ngày doanh nghiệp phải công bố sự ra đời của mình trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật
Hồ sơ đăng kí kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Luật doanh nghiệp bao gồm:
- Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh theo mẫu thống nhất do cơ quan đăng
ký kinh doanh có thẩm quyền quy định
- Bản sao Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác
- Văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có vốn pháp định
- Chứng chỉ hành nghề của Giám đốc và cá nhân khác đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có chứng chỉ hành nghề