Địa vị pháp lý của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt NamĐịa vị pháp lý của cơ quan Kiểm toán Nhà nước Địa vị pháp lý của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Namđịa vị pháp lý của công ty cổ phầnđịa vị pháp lý của quỹđịa vị pháp lý của các cơ quanđịa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhânđịa vị pháp lý của các cơ quan nhà nướcđịa vị pháp lý của doanh nghiệpđịa vị pháp lý của luật sư
Trang 1MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG I: Lí LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT PHÁ SẢN THEO LUẬT
1 Khái quát thực hiện pháp luật phá sản 2004 3
2 Khái niệm pháp luật phá sản theo luật phá sản 2004 4
CHƯƠNG II: những nội dung cơ bản của Luật phá
2 Những chủ thể có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu tuyên bố
3 Tài sản phá sản và việc xác định t cách chủ nợ 9 Chơng iIi: một số điểm mới của luật phá sản năm
5 Quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản trong trờng hợp đặc biệt 12
7 Kiểm kê xác định tài sản còn lại của doanh nghiệp hợp tác xã
8 Thu hồi, quản lý và bảo toàn tài sản 14
LỜI NểI ĐẦU
Trang 21 Lý do nghiên cứu đề tài
Tại Điều 3 Luật Phá sản năm 2004 quy định : “Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì được coi là lâm vào tình trạng phá sản” Phá sản không loại trừ bất cứ một doanh nghiệp nào trong nền kinh tế thị trường khi việc kinh doanh không mang lại hiệu quả Tuy nhiên, phá sản cũng lại là cơ hội cho các doanh nghiệp phục hồi lại hoạt động kinh doanh của mình khi tiến hành thủ tục phục hồi doanh nghiệp trong trình tự phá sản Như vậy, ta có thể thấy rằng phá sản giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế nói chung và trong hoạt động của các doanh nghiệp nói riêng
Luật phá sản là một bộ phận rất quan trong hệ thống pháp luật kinh doanh của các nước trên thế giới Ở Việt Nam đã ban hành Luật phá sản đầu tiên vào năm 1993, sau một thời gian tồn tại và điều chỉnh nghiệp đã phát huy được vai trò của mình trong hoạt động của các doanh nghiệp Tuy nhiên, với tốc độ phát triển của nền kinh tế thị trường như giai đoạn hiện nay thì sự điều chỉnh của Luật phá sản năm 1993 là không còn phù hợp Luật phá sản 2004 ra đời thay thế cho Luật phá sản năm 1993 đã đáp ứng được những yêu cầu của tình hình mới
Với mong muốn tìm hiểu về những quy định mới của Luật phá sản 2004
và địa vị pháp lý trong Luật thương mại mà tôi lựa chọn đề tài “ Địa vị pháp
lý của luật phá sản và những điểm mới của luật phá sản 2004” làm đề tài
tiểu luận của mình Trong quá trình tìm hiểu và thu thập thông tin còn nhiều hạn chế nên bài tiểu luận của tôi còn rất nhiều thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn
2 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, kết cấu của đề tài gồm 03 phần
Chương I: Lý luận chung về pháp luật phá sản theo Luật phá sản 2004 Chương II: Những nội dung cơ bản của Luật phá sản 2004
Chương III: Một số điểm mới của Luật phá sản 2004 so với Luật phá sản 1999
Trang 3CHƯƠNG I: Lí LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT PHÁ SẢN THEO LUẬT PHÁ SẢN 2004
1 Khái quát thực hiện pháp luật phá sản 2004.
Về các doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản ở nớc ta còn rất ít, từ 1993 đến 2003 là chặng đờng dài 10 năm nhng các cấp toà án chỉ giải quyết đợc 151 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp và chỉ 46 doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản Nh vậy số doanh nghiệp bị áp dụng thủ tục thanh
lý cũng chỉ nằm ở con số 46 hoặc dới 46 doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
Theo báo cáo tổng kết năm 2005 và phơng hớng nhiệm vụ công tác năm
2006 của ngành toà án do toà án nhân dân tối cao tổng kết thì trong năm 2005 các toà án phải giải quyết 14 vụ trong đó thụ lý mới 11 vụ và 3 vụ của năm
2004 chuyển qua Các toà án mới giải quyết đợc 1 vụ đạt 1,19 % còn laị 13 vụ cha giải quyết Nh vậy lợng đơn xin phá sản gửi toà án tăng hơn năm 2004 (năm 2004 chỉ thụ lý 5 vụ) là do Luật phá sản 2004 khả thi hơn trớc đây, tuy nhiên con số này vẫn quá khiêm tốn so với thực tế các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Luật phá sản 2004 ra đời là một bớc tiến quan trọng, một bớc ngoặt trong việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã của toà án nhân dân Hầu hết những vớng mắc bất hợp lý của Luật phá sản 1993 đã đợc sửa đổi bổ sung, có nhiều vấn đề đã tiếp cận đợc Luật phá sản của các nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển trong khu vực và châu lục nh : Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã
bị tuyên bố phá sản trong trờng hợp đặc biệt mà luật phá sản 1993 không có Luật cũ quy định quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp đó Luật cũng quy định quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nớc, các cổ đông của công ty cổ phần và thành viên công ty hợp danh Nh vậy sẽ khắc phục đợc trờng hợp ngời đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cố tình lẩn tránh việc đa đơn xin mở thủ tục phá sản doanh nghiệp vì những lý do động cơ khác nhau
Luật phá sản 2004 không những bảo vệ lợi ích hợp pháp của các chủ nợ
mà còn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu các doanh nghiệp Nhà nớc, các cổ đông của công ty cổ phần và lợi ích của ngời lao động, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, hợp tác xã có cơ hội sớm trở lại tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh tốt hơn Mặt khác nó góp phần vào việc cơ
Trang 4cấu lại vốn, thúc đẩy lu thông nguồn vốn và tổ chức lại sản xuất kinh doanh tốt hơn
2 Khái niệm pháp luật phá sản theo luật phá sản 2004
Những quy định của Nhà nớc về điều kiện, thủ tục giải quyết các quan hệ xã hội liên quan đến phá sản tạo thành một hệ thống pháp luật về phá sản Pháp luật về phá sản là một bộ phận cấu thành nhóm các chế định pháp luật về giải quyết hậu quả của khung pháp luật kinh tế trong nền kinh tế thị trờng Trong hệ thống pháp luật phá sản thì Luật phá sản có vị trí quan trọng nhất, bởi vì, phần lớn những quy định quan trọng mang tính nguyên tắc nh phạm vi
áp dụng, điều kiện mở thủ tục, trình tự, thủ tục giải quyết, thứ tự u tiên đi phân chia tài sản phá sản…thờng chứa đựng trong đạo Luật này Song việc giải quyết phá sản cho một doanh nghiệp không chỉ có giới hạn ở những quan hệ tài sản Ngợc lại có rất nhiều quan hệ xã hội khác phát sinh từ việc mất khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp mà pháp luật phải điều chỉnh nh quyền, lợi ích hợp pháp của ngời làm công, trách nhiệm của chủ doanh nghiệp hoặc ngời tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp, chức năng, nhiệm vụ của cá nhân, tổ chức tham gia giải quyết vụ phá sản…
Việt nam đến cuối năm 1993 Luật phá sản doanh nghiệp mới ra đời nhng trớc đó trong luật công ty, Luật doanh nghiệp t nhân đã có những quy định về phá sản Tuy nhiên, do sự ra đời muộn vì thế pháp luật phá sản Việt nam chủ yếu dựa trên các quy định và thông lệ chung của pháp luật phá sản của các
n-ớc trên thế giới Để nắm bắt kịp thời với nhịp độ phát triển của nền kinh tế xã hội, đòi hỏi pháp luật phá sản doanh nghiệp Việt nam không những hoàn thiện
để phù hợp với thực trạng nền kinh tế - xã hội ở nớc ta cũng nh pháp luật phá sản trên thế giới
Pháp luật phá sản là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nớc ban hành để điều chỉnh những quan hệ phát sinh trong việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp và những vấn đề liên quan trực tiếp đến việc phá sản doanh nghiệp Pháp luật và phá sản là một chế định quan trọng và không thể thiếu
đ-ợc trong nền kinh tế thị trờng để giải quyết hậu quả cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh
3 Vai trò của pháp luật về phá sản:
Phá sản là hiện tợng riêng của nền kinh tế thị trờng Kinh nghiệm cho thấy bất kỳ ở đâu, trong giai đoạn phát triển nào, khi cạnh tranh càng trở nên nghiệt ngã thì tình trạng phá sản cũng diễn ra phổ biến và phức tạp hơn Để
Trang 5phát triển kinh tế và duy trì trật tự, kỷ cơng xã hội nhiệm vụ của Nhà nớc là phải thông qua các công cụ pháp luật tạo (sân chơi - hành lang pháp lý) an toàn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời ngăn ngừa và hạn chế những tác động tiêu cực do quan hệ kinh tế thị trờng gây ra
Trong số các chế định về giải quyết hậu qủa và hạn chế rủi ro nh tài phán kinh tế, thanh lý, giải thể…Pháp luật về phá sản có vị trí hết sức quan trọng không chỉ riêng với các chủ thể kinh doanh mà cả đối với trật tự kinh tế - xã hội nói chung Vai trò này thể hiện ở chỗ:
* Pháp luật về phá sản là công cụ để bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của ngời đầu t Pháp luật phá sản ( thiết kế ) sẵn một thủ tục đặc thù bảo đảm các quyền về tài sản của chủ nợ trớc những rủi ro mất khả năng thanh toán nợ
đến hạn của con nợ gây ra Thông qua việc yêu cầu tuyên bố phá sản đối với con nợ, chủ nợ có cơ hội thu hồi lại, thờng là một phần giá trị tài sản đầu t dới dạng cho vay Xét về bản chất, đó là cơ chế pháp lý nhằm hạn chế những rủi
ro thị trờng mà trong điều kiện cạnh tranh, bất kỳ lúc nào cũng có thể xảy ra
đối với nhà đầu t Mặt khác, vai trò bảo vệ chủ nợ còn thể hiện ở chỗ pháp luật
về phá sản góp phần bảo đảm sự bình đẳng giữa các chủ nợ với nhau trong quan hệ phá sản đối với con nợ Cụ thể đối với pháp luật về phá sản không cho phép từng chủ nợ tìm cách lợi dụng vị thế riêng của mình để đi kiện riêng rẽ con nợ bị phá sản để thu hồi nợ, coi đó nh một hành vi cạnh tranh không hợp pháp, gây thiệt hại đến quyền bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh Đồng thời với việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ, điều đáng l u ý là pháp luật còn đóng vai trò “ Chiếc lá chắn” cho con nợ trớc những sức ép và phơng thức đòi nợ mang tính chất tự phát của chủ nợ
* Pháp luật về phá sản góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
ng-ời lao động Hậu quả xã hội đáng lu ý nhất do sự phá sản doanh nghiệp gây ra
là ảnh hởng về việc làm và thu nhập của ngời lao động Vì vậy, bảo vệ quyền
và lợi ích của ngời lao động luôn là một nội dung quan trọng của pháp luật về phá sản Bằng những quy định cụ thể, pháp luật phá sản xác định những nguyên tắc, căn cứ pháp lý cho việc bảo vệ quyền và lợi ích vật chất của ngời lao động cũng nh quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp mắc nợ và các bên có liên quan Theo quy định của pháp luật phá sản nớc ta, ngời lao
động không những có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản mà các quy
định về thứ tự u tiên khi phân chia giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp, chế
độ trợ cấp, bảo hiểm, thôi việc…đều thể hiện tinh thần bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của ngời lao động khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản
Trang 6* Pháp luật về phá sản là công cụ tái tổ chức doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh thua lỗ và góp phần cơ cấu lại nền kinh tế Có thể nói đây là vai trò hết sức quan trọng mà hầu hết các đạo luật phá sản hiện đại trên thế giới
đều hớng tới Thông qua cơ chế hoà giải, tái tổ chức lại doanh nghiệp, hợp tác xã pháp luật về phá sản tạo cơ hội để doanh nghiệp, hợp tác xã đang gặp khó khăn về tài chính phục hồi lại sản xuất kinh doanh
* Pháp luật về phá sản góp phần bảo vệ trật tự kỉ cơng xã hội Nh phần trên đã đề cập việc phá sản có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng Những hậu quả này nhiều khi là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự xáo trộn, những biểu hiện tiêu cực trong đời sống xã hội Vì vậy, thông qua việc giải quyết thoả đáng mối quan hệ về lợi ích giữa chủ nợ và con nợ, giữa chủ nợ với nhau Pháp luật về phá sản góp phần hạn chế những mâu thuẫn và xung đột lợi ích giữa các chủ thể có liên quan, bảo vệ trật tự kỷ cơng xã hội
CHƯƠNG II: những nội dung cơ bản của Luật phá sản 2004
1 Phạm vi áp dụng của Luật phá sản
Điều 1 Luật phá sản quy định: “ Luật này áp dụng đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã liên hiệp hợp tác xã (hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã gọi chung là hợp tác xã ) đợc thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật”
* ở đây, chúng ta cần lu ý, tại Điều 2 Luật phá sản doanh nghiệp còn có quy định… Chính phủ quy định cụ thể danh mục và việc áp dụng Luật này đối với doanh nghiệp đặc biệt trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh; doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và trong các lĩnh vực khác thờng xuyên, trực tiếp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu…
Xét về mặt nguyên lý, dới sự tác động của quy luật cạnh tranh trong điều kiện kinh tế thị trờng, mọi doanh nghiệp, hợp tác xã không phân biệt quy mô, lĩnh vực kinh doanh và bất kể thuộc thành phần kinh tế nào đều có thể rơi vào tình trạng không có khả năng thanh toán Tuy nhiên, việc xem xét để tuyên bố phá sản lại tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố Chẳng hạn, do vai trò và tính nhạy cảm của nền kinh tế thị trờng nên ở nhiều nớc việc tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp kinh doanh tài chính, tiền tệ, kinh doanh bảo hiểm đợc áp dụng theo cơ
Trang 7chế riêng và điều này Luật các Tổ chức tín dụng đợc Quốc hội thông qua ngày 12/12/1997 và sửa đổi bổ sung tại kỳ họp thứ 5 ngày 15/06/2004, quy định tại chơng V, mục 1 điều 91: “Báo cáo khó khăn về khả năng chi trả Khi có nguy cơ mất khả năng thanh toán cho khách hàng của mình, tổ chức tài chính tín dụng phải báo cáo ngay với Ngân hàng Nhà nớc về tình trạng tài chính, nguyên nhân và các biện pháp đã áp dụng, dự kiến biện pháp khắc phục” và tại Điều 92 - áp dụng kiểm soát đặc biệt:
1 Kiểm soát đặc biệt là việc một tổ chức tín dụng đợc đặt dới sự kiểm soát trực tiếp của Ngân hàng Nhà nớc do có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán
2 Ngân hàng Nhà nớc có trách nhiệm kiểm tra, phát hiện kịp thời những trờng hợp có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán nợ khi
đến hạn
3 Tổ chức tín dụng có thể đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt trong những trờng hợp sau:
+ Có nguy cơ mất khả năng chi trả
+ Nợ không có khả năng thu hồi có nguy cơ mất khả năng thanh toán + Khi số luỹ kế của tổ chức tín dụng lớn hơn 50% tổng số vốn điều lệ thực có và các quỹ
Chỉ khi nào Ngân hàng Nhà nớc có văn bản về việc không áp dụng hàng hoặc chấm dứt áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán nợ đến hạn thì có thể bị Toà án mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản doanh nghiệp (Điều 98 Luật tố chức tín dụng)
Nh vậy, đối với một số doanh nghiệp trực tiếp phục vụ an ninh, quốc phòng và dịch vụ công cộng quan trọng, pháp luật phá sản Việt nam có một số quy định đặc thù Sở dĩ có những quy định nh vậy là việc phá sản các doanh nghiệp này trong một số trờng hợp gây ra nhiều hậu quả cho xã hội
Trang 8Việc Luật phá sản doanh nghiệp Việt nam quy định các doanh nghiệp có thể bị phá sản khi lâm vào tình trạng phá sản trên cơ sở hiến pháp năm 1992 của nớc Cộng hoà XHCN Việt nam: “Các cơ sở kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trớc pháp luật …” Sự bình đẳng này đợc xem trên cơ sở lợi ích của toàn thể quốc gia và cộng đồng xã hội Luật phá sản doanh nghiệp đã quy định : không phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp với mọi hình thức sở hữu khác nhau, quy mô kinh doanh, khi đã không có khả năng thanh toán nợ đến hạn và tình trạng trầm trọng, vô phơng cứu chữa thì bị xử lý theo Luật này Tuy nhiên, về điều kiện mở thủ tục giải quyết phá sản thì có một vài sự khác nhau nh đã phân tích ở trên
2 Những chủ thể có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản
Việc xác định những đối tợng có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu tuyên
bố phá sản doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng Nếu cho phép cá nhân, tổ chức nào cũng có quyền làm đơn ra Toà án yêu cầu tuyên bố phá sản thì khó
có thể tránh đợc sự lạm dụng cơ hội này để hạ uy tín hoặc gây khó khăn cho các đổi thủ cạnh tranh của mình Ngợc lại nếu hạn chế quyền này một cách quá đáng, tuỳ tiện, không dựa trên cơ sở khoa học nào thì hậu quả sẽ làm cho việc giải quyết phá sản khó bị phát hiện, ảnh hởng xấu đến quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các nhà kinh doanh có quan hệ làm ăn với doanh nghiệp mắc nợ Vì vậy, pháp luật phá sản của các nớc cũng nh pháp luật phá sản Việt nam đều quan tâm giải quyết vấn đề này Thực chất của thủ tục phá sản là giải quyết mối quan hệ về mặt tài sản giữa chủ nợ và con nợ Vì vậy, Luật phá sản của tất cả các nớc đều coi chủ nợ là chủ thể số một có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên
bố phá sản con nợ
3 Tài sản phá sản và việc xác định t cách chủ nợ.
Theo thông lệ chung, tài sản phá sản là tài sản của doanh nghiệp bị tuyên
bố phá sản ở thời điểm ấn định ngừng thanh toán, trong quyết định thụ lý hồ sơ phá sản doanh nghiệp Tuy nhiên, pháp luật về phá sản của các nớc khác nhau thì quy định khác nhau, chẳng hạn thời hạn đó là ba tháng, sáu tháng
tr-ớc ngày ngừng trả nợ Lý do của việc quy định này là xuất phát từ quan điểm cho rằng phá sản là một quá trình, ở vào thời điểm đó, chủ doanh nghiệp phải biết rõ tình hình tài chính của doanh nghiệp mình Do vậy, tại Điều 43 Luật
Trang 9phá sản Việt Nam quy định những hành vi giao dịch sau đây của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản đợc thực hiện trong khoảng thời gian ba tháng trớc ngày toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản bị coi là vô hiệu và trong trờng hợp giải quyết phá sản thì phải đợc thu hôi để nhập vào khối tài sản doanh nghiệp, hợp tác xã:
- Tặng cho động sản và bất động sản cho ngời khác,
- Thanh toán hợp đồng song vụ trong đó phần nghĩa vụ của doanh nghiệp, hợp tác xã rõ ràng là phần lớn hơn nghĩa vụ của bên kia
- Thanh toán các khoản nợ cha đến hạn,
- Thực hiện việc thế chấp cầm cố đối với tài sản đối với các khoản nợ Chơng iIi: một số điểm mới của pháp luật phá sản năm
2004 so vói Luật phá sản 1993
1 Về khỏi niệm phỏ sản.
Luật phá sản 1993 ra đời ngày 30-12-1993 qui định “Doanh Nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết
mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn Khái niệm này đợc hớng dẫn cụ
thể tại Nghị định 198/CP ngày 23/12/994 hớng dẫn thi hành Luật phá sản 1993
Theo Điều 3 Luật phá sản 2004 “Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp không trả đợc các khoản nợ đến hạn khi có yêu cầu của chủ nợ
Nh vậy một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản khi:
- Có nợ đến hạn
- Không thanh toán đợc khi có yêu cầu thanh toán của chủ nợ
So với Luật phá sản 1993 thì tiêu chí xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản của Luật phá sản 2004 đơn giản hơn Việc mở thủ tục phá sản sớm hơn tuy là bất lợi cho doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản nhng sẽ bảo vệ đợc quyền lợi cho chủ nợ và ngời lao động Mặt khác đối với doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, mở thủ tục phá sản sớm cũng có ý nghĩa cảnh báo với doanh nghiệp, hợp tác xã về tình trạng khó khăn của họ để sớm có biện pháp khắc phục
Trang 102 Quyền Nộp đơn.
So với luật phá sản năm 1993 thì luật phá sản năm 2004 đã quy định mở rộng hơn thành phần những ngời có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã theo hớng thuận lợi, hợp lý hơn và đơn giản hóa các điều kiện nộp đơn đối với các chủ nợ và ngời lao động Các chủ nợ không cần bắt buộc phải cung cấp các giấy tờ tài liệu chứng minh doanh nghiệp mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn Ngời lao động có quyền nộp đơn
mà không cần căn cứ trên việc doanh nghiệp không trả đợc lơng trong 3 tháng liên tiếp nh trớc đây Quy định này bảo đảm hơn quyền đợc thanh toán cho các chủ thể này
3 Mở thủ tục phá sản.
Theo luật phá sản 2004 tổ quản lý thanh lý tài sản thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ quản lý và thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản không tách làm hai tổ nh trớc đây trong luật phá sản 1993 Quy định mới sẽ tạo điều kiện để Tổ quản lý thanh lý thống nhất hoạt động, tiết kiệm chi phí và tiến hành các hoạt động của mình một cách nhanh chóng hiệu quả hơn
Tổ quản lý thanh lý tài sản phải lập danh sách chủ nợ và số nợ của từng chủ nợ gửi cho Tòa án để niêm yết công khai tại trụ sở tòa án tiến hành thủ tục phá sản và tại trụ sở chính của doanh nghiệp, hợp tác xã Mặt khác Tổ cũng phải lập danh sách những ngời mắc nợ doanh nghiệp hợp tác xã, đăng ký giao dịch bảo đảm cho doanh nghiệp hợp tác xã này nếu doanh nghiệp, hợp tác xã cho ngời khác vay có tài sản bảo đảm phải đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật Trờng hợp đối tợng của nghĩa vụ không phải là tiền thì theo yêu cầu của ngời có quyền hoặc của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, tòa án phải xác định giá trị của nghĩa vụ đó vào thời điểm
mở thủ tục phá sản để đa vào nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản
So với luật phá sản 1993 thời điểm mở thủ tục phá sản theo luật phá sản
2004 là khá sớm, nh vậy sẽ bảo đảm tốt hơn quyền đợc thanh toán cho các chủ
nợ
4 Đối với ngời lao động:
Ngời lao động là những ngời làm công ăn lơng, thậm chí đồng lơng ít ỏi của họ phải nuôi cả gia đình Khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng