1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

2 một số điểm mới của luật doanh nghiệp năm 2005

19 393 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 113,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật Doanh nghiệp năm 2005×những điểm mới của luật thương mại năm 2005×văn bản luật doanh nghiệp năm 2005×giáo trình luật doanh nghiệp năm 2005×văn bản hướng dẫn luật doanh nghiệp năm 2005×Những điểm mới của Luật Thương mại năm 2005× Luật Doanh nghiệp năm 2005×những điểm mới của luật thương mại năm 2005×văn bản luật doanh nghiệp năm 2005×giáo trình luật doanh nghiệp năm 2005×văn bản hướng dẫn luật doanh nghiệp năm 2005×Những điểm mới của Luật Thương mại năm 2005×

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG I: NHỮNG NỘI DUNG THỂ HIỆN ĐIỂM MỚI CƠ

1 Luật Doanh nghiệp với tư cách là luật chung cho các loại hình

6 Các quy định về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 6

7 Các quy định về công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên

9 Các quy định về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 8 CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ VỀ NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trang 2

Việc ban hành Luật Doanh nghiệp năm 2005 là một bước phát triển mới trong pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam, là sự tiếp tục của Luật doanh nghiệp năm 1999 và các đạo luật quan trọng khác về doanh nghiệp Với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2005,các doanh nghiệp Việt Nam đã có được một công cụ pháp lý quan trọng để vận hành và phát triển bình đẳng trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

Luật Doanh nghiệp năm 2005 ra đời đánh dấu một sự thay đổi lớn trong pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam, đồng thời phản ánh được tư tưởng và mục tiêu nổi bật của luật Doanh nghiệp năm 2005 là hình thành một khung pháp lý chung, bình đẳng áp dụng thống nhất cho mọi loại hình doanh nghiệp Đây là lần đầu tiên nước ta ban hành một văn bản pháp luật chung điều chỉnh thống nhất tất cả các loại hình doanh nghiệp Với việc ban hành Luật Doanh nghiệp năm 2005, các doanh nghiệp Việt Nam đã có điều kiện để hoạt động bình đẳng trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng đáp ứng được yêu cầu đối xử bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Một số điểm mới của Luật doanh nghiệp năm 2005” sẽ giúp cho chúng ta thấy được tính tiến bộ của Luật

doanh nghiệp nói chung và pháp luật Việt Nam nói riêng

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm giúp chúng ta nhìn nhận được một

số điểm mới tiến bộ của Luật doanh nghiệp năm 2005, đánh giá những mặt tích cực và nhìn nhận một số bất cập còn tồn tại của Luật doanh nghiệp năm

2005 để làm cơ sở hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật của Việt Nam

3 Kết cầu của đề tài

Trong khuôn khổ của bài viết, ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của đề tài gồm 02 phần

Trang 3

Chương I: Những nội dung thể hiện điểm mới cơ bản của Luật doanh

nghiệp năm 2005

Chương II: Đánh giá về những điểm mới của Luật doanh nghiệp năm

2005

CHƯƠNG I: NHỮNG NỘI DUNG THỂ HIỆN ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2005

1 Luật Doanh nghiệp với tư cách là luật chung cho các loại hình doanh nghiệp

Trang 4

Luật Doanh nghiệp năm 2005 thay thế cho Luật Doanh nghiệp năm

1999, Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003, các quy định về tổ chức quản

lý và hoạt động của doanh nghiệp tại Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000 Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã tạo lập môi trường pháp lý chung cho hoạt động của các doanh nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam

2 Các quy định về đăng ký kinh doanh

Khác với Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005

đã có những quy định cụ thể về từng loại hồ sơ đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp Thay cho việc có Đơn đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã quy định về Giấy đề nghị đăng

ký kinh doanh, Luật năm 2005 cũng có những quy định cụ thể về hồ sơ đăng

ký kinh doanh của từng loại hình doanh nghiệp bao gồm hồ sơ đăng ký kinh doanh đối với doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng đã quy định

cụ thể về tên của doanh nghiệp, trong đó có cách đặt tên cho doanh nghiệp, những trường hợp cấm về cách đặt tên doanh nghiệp, đặt tên doanh nghiệp trong trường hợp tên doanh nghiệp viết bằng tiếng nước ngoài, tên viết tắt của doanh nghiệp và những trường hợp tên trùng và tên gây nhầm lẫn Một điểm mới khác của luật Doanh nghiệp năm 2005 theo hướng là luật chung cho các loại hình doanh nghiệp, là gắn thủ tục đăng ký kinh doanh với thủ tục đăng ký đầu tư Điều này xuất phát từ quan điểm đổi mới, đơn giản hoá tối đa các thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp gia nhập thị trường và thực hiện các hoạt động đầu tư Hồ sơ, trình tự, thủ tục, điều kiện

và nội dung đăng ký kinh doanh, đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài lần đầu tiên đầu tư vào Việt Nam được thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 và pháp luật về đầu tư Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

3 Các quy định về điều lệ công ty

So với Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã

có nét đột phá khi đi theo hướng chỉ quy định những vấn đề cơ bản, có tính

Trang 5

nguyên tắc về nhiều nội dung trong quản trị nội bộ doanh nghiệp, cho phép Điều lệ công ty quy địn thêm những vấn đề cụ thể để đáp ứng yêu cầu điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các doanh nghiệp có quyền quy định trong Điều lệ của mình các quan hệ ứng xử nội bộ và cách thức quản

lý, điều hành cụ thể trong hoạt động nội bộ của doanh nghiệp Mối quan hệ giữa các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 với các yêu cầu của quản trị doanh nghiệp ghi trong Điều lệ công ty được thể hiện trong nhiều điều khoản của Luật này Cách quy định này của Luật Doanh nghiệp năm 2005 nhằm hình thành khung quản trị nội bộ tiên tiến của doanh nghiệp

4 Các quy định về nhóm công ty

Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã lần đầu tiên nêu lên khái niệm nhóm công ty, theo đó nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác Nhóm công ty bao gồm các hình thức: công ty mẹ-công ty con Tập đoàn kinh tế và các hình thức khác Tập đoàn kinh tế là nhóm công ty có quy mô lớn Đạo luật cũng đã làm rõ quyền và trách nhiệm của công ty mẹ đối với công ty con, quy định cụ thể về báo cáo tài chính của công ty mẹ và công ty con Đây là một bước phát triểm mới của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam trong việc tạo ra cơ sở pháp lý để hình thành các tập đoàn kinh tế lớn có khả năng cạnh ranh trên thị trường trong nước và quốc tế

5 Các quy định về công ty hợp danh

Điểm mới nổi bật của Luật Doanh nghiệp năm 2005 về công ty hợp danh là Luật đã thừa nhận tư cách pháp nhân của loại hình công ty này Đây

là một quy định mới so với quy định của Luật Doanh nghiệp năm 1999 Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng đã quy định cụ thể hơn về Hội đồng thành viên

và điều hành kinh doanh của công ty hợp danh

6 Các quy định về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Điểm mới nổi bật của Luật Doanh nghiệp năm 2005 về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là Luật cho phép một cá nhân có thể thành lập

Trang 6

công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và đã đưa ra quy định về cơ cấu

tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân Đạo luật cũng đã đưa ra những quy định cụ thể về người đại diện theo pháp luật của công ty Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty Người đại diện theo pháp luật của công ty phải thường trú tại Việt Nam, trường hợp vắng mặt ở Việt Nam trên 30 ngày thì phải uỷ quyền bằng văn bản cho người khác làm người đại diện theo pháp luật của công ty theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty

7 Các quy định về công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã đưa ra quy định cụ thể khác biệt và cụ thể hơn so với Luật Doanh nghiệp năm 1999 về người đại diện theo pháp luật đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, theo đó Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty Người đại diện theo pháp luật của công ty phải thường trú tại Việt Nam, trường hợp vắng mặt

ở Việt Nam trên 30 ngày thì phải uỷ quyền bằng văn bản cho người khác theo quy định tại Điều lệ công ty để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của công ty

Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã đưa ra quy định về người đại diện theo

uỷ quyền Đây là quy định mới so với Luật Doanh nghiệp năm 1999 Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005, việc chỉ định người đại diện theo

uỷ quyền phải bằng văn bản, được thông báo đến công ty và cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày chỉ định

8 Các quy định về công ty cổ phần

Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã có quy định mới về nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị là năm năm, nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản trị không quá năm năm Thành viên Hội đồng quản trị có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ

Trang 7

không hạn chế Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng có những quy định khác biệt so với Luật Doanh nghiệp năm 1999 về việc thông qua quyết định của Đại hội đồng cổ đông Theo Luật mới, quyết định của Đại hội đồng cổ đông được thông qua tại cuộc họp khi có đủ một trong các điều kiện:

(1)được số cổ đông đại diện ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất

cả cổ đông dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do điều lệ công ty quy đinh;

(2) Đối với quyết định về loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán, sửa đổi, bổ sung theo Điều lệ công ty; tổ chức lại, giải thể công ty, đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu Điều lệ công ty không có quy định khác thì phải được ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả số cổ động dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định;

(3) Việc biểu quyết bầu thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát phải thực hiện theo phương thức bầu dồn phiếu, theo đó mỗi cổ đông có tổng

số phiếu biểu quyết tương ưúng với tổng số cổ phần sở hữu nhân với số thành viên được bầu của Hội đồng quản trị hoặc Ban kiểm soát và cổ đông có quyền dồn hết tổng số phiếu bầu của mình cho một hoặc một số ứng cử viên;

(4) Các quyết định được thông qua tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông với số cổ đông trực tiếp và uỷ quyền tham dự đại diện 100% tổng số cổ phần

có quyền biểu quyết là hợp pháp và có hiệu lực ngay cả khi trình tự và thủ tục triệu tập, nội dung chương trình họp và thể thức tiến hành họp không được thực hiện đúng quy đinh;

(5)Trường hợp thông qua quyết định dưới hình thức lấy ý kiến bằng văn bản thì quyết định của Đại hội đồng cổ đông đại diện ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định

9 Các quy định về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Xác định cụ thể thời hạn (chậm nhất là bốn năm) kết thúc quá trình chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty

Trang 8

cổ phần, tổ chức quản lý và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp Việc xác định thời hạn 4 năm xuất phát từ yêu cầu đẩy nhanh quá trình sắp xếp, tổ chức lại và nâng cao hiệu quả quản lý doanh nghiệp nhà nước, yêu cầu tạo lập môi trường kinh doanh bình thường, không phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp theo thành phần kinh tế, đồng thời, đã tính đến các điều kiện, các vấn đề cần phải xử lý trong quá trình chuyển đổi

Như vậy, lộ trình chuyển đổi DNNN đã được luật hoá, theo đó các quy định hiện hành về DNNN sẽ chỉ được áp dụng trong khoảng thời gian 4 năm,

kể từ ngày Luật doanh nghiệp 2005 có hiệu lực Sau thời gian này, các doanh nghiệp không kể thành phần kinh tế đều hoạt động trong một hành lang pháp

lý chung về doanh nghiệp và đầu tư

CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ VỀ NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT DN 2005

1 Những mặt tích cực đạt được

Từ 1-7-2006, Luật Doanh nghiệp 1999 được thay thế bằng Luật Doanh nghiệp 2005 Đây là một cải cách cơ bản trong hệ thống pháp luật về doanh nghiệp, cả nội dung, tính thống nhất, chặt chẽ dựa trên những thành công đã được thừa nhận của Luật Doanh nghiệp năm 1999

Trang 9

Qua hơn 6 năm thực hiện Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã có tác động tích cực loại bỏ những cản trở, trở thành nền tảng quan trọng đối với sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân Người dân được quyền tự do kinh doanh những gì luật pháp không cấm, góp phần giải phóng, phát triển sức sản xuất

và tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy mạnh mẽ việc hình thành và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, đồng thời góp phần đổi mới cơ bản phương thức và công cụ quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp Luật Doanh nghiệp năm 1999 thay thế Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân đã khơi dậy tư duy sáng tạo về ý tưởng kinh doanh, tạo ra sự thay đổi tích cực trong quan niệm xã hội về doanh nghiệp, doanh nhân Thực

tế cho thấy, từ khi có Luật Doanh nghiệp, mọi tầng lớp nhân dân đã có hành lang pháp lý để thực hiện ý chí làm giàu cho mình và đất nước Theo số liệu thống kê của Cục Phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa (Bộ Kế hoạch-Đầu tư),

từ đầu năm 2000 đến hết năm 2005, trên cả nước đã có khoảng 160.752 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, gấp 3,3 lần so với tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập giai đoạn 1991-1999 Nhờ đó tỷ trọng đầu tư của dân cư và doanh nghiệp trong tổng đầu tư phát triển toàn xã hội liên tục tăng qua các năm Vốn đầu tư của các doanh nghiệp dân doanh đã đóng vai trò quan trọng, thậm chí

là nguồn vốn đầu tư chủ yếu đối với phát triển kinh tế địa phương Tại Bắc Ninh, trước năm 2000 chỉ có gần 100 doanh nghiệp, nhưng đến hết năm 2005

đã có gần 1.600 doanh nghiệp đang hoạt động trên nhiều lĩnh vực Rõ ràng Luật Doanh nghiệp năm 1999 như luồng gió mới tạo ra sự sôi động trong đầu

tư, sản xuất kinh doanh Nhiều doanh nghiệp có quy mô lớn, tiếp cận vốn công nghệ, phương thức làm ăn mới có hiệu quả, từng bước thích ứng với điều kiện hội nhập Theo báo cáo của Ban Quản lý các KCN tỉnh, trong nửa đầu năm nay đã có gần 40 lượt nhà đầu tư, chủ yếu là đầu tư nước ngoài đến tìm hiểu và có ý định đầu tư vào Bắc Ninh Doanh nghiệp phát triển nhanh cả

về số lượng, chất lượng đã giải quyế t hàng chục nghìn lao động, nộp ngân sách Nhà nước hàng chục tỷ đồng mỗi năm, góp phần vào tốc độ tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, là động lực thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển

Trang 10

nhanh và bền vững Với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp, phương thức và công cụ quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp cũng được đổi mới từ "năng lực quản lý đến đâu thì mở đến đó" bằng "năng lực quản lý phải được xây dựng, tăng cường đủ mức thúc đẩy và quản lý được quá trình phát triển" Phương thức quản lý theo hướng kiểm tra, kiểm soát là chủ yếu từng bước chuyển sang hợp tác và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh Từ ưu điểm của luật và sự nỗ lực phối hợp có hiệu quả giữa các cơ quan liên quan đã đẩy lùi cơ bản hiện tượng thành lập d oa nh nghiệp không nhằm mục đích kinh doanh, nhất là để mua bán hoá đơn Đồng thời thúc đẩy thêm công cuộc cải cách hành chính và nâng cao năng lực bộ máy hành chính Nhà nước phù hợp với yêu cầu của thể chế kinh tế thị trường Luật Doanh nghiệp năm 2005 được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá XI Trên cơ sở kế thừa và phát triển Luật Doanh nghiệp năm

1999, Luật Doanh nghiệp 2005 tiếp tục là cuộc cải cách, trao quyền cho người dân theo đúng quy luật và phù hợp nguyện vọng, yêu cầu của nhân dân Từ đó

sẽ phát huy được tác dụng trong huy động nguồn lực, sáng kiến và trí tuệ của dân để phát triển Điều quan trọng là các cơ quan thi hành luật cần phân biệt

rõ việc đầu tư, tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh là của người đầu tư, của doanh nghiệp Như vậy mới bảo đảm tính đồng bộ giữa quyền tự do, tự chủ kinh doanh và hệ thống pháp luật, hạn chế những vướng mắc, rào cản đối với doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh Đó cũng là tiếp tục khơi dậy nhiệt huyết lập doanh nghiệp, tích cực sản xuất kinh doanh của mọi tầng lớp nhân dân, thu hút mạnh đầu tư nước ngoài, là động lực khởi nguồn thúc đẩy sự phát triển đất nước

2 Những bất cập còn tồn tại

2.1 Thủ tục gia nhập thị trường của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp ở nước ta vẫn còn phức tạp và tốn kém

Ngày đăng: 30/03/2015, 16:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w