1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế sách điện tử (E-BOOK) chương dao động cơ chương sóng cơ và sóng âm (chương trình vật lí 12 trung học phổ thông) theo hướng tăng cường năng lực tự học

119 466 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 2,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các E-book Vật lí 12 thì có E-book nội dung theo SGK cũ, có E-book chưa chú ý tới nội dung luyện tập cho HS, chưa hướng dẫn HS cách tự học, chưa sát chương trình sách giáo khoa Vật

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

—————————

Lấ THỊ PHƯƠNG DUNG

THIẾT KẾ SÁCH ĐIỆN TỬ(E-BOOK) CHƯƠNG“DAO ĐỘNG CƠ”, CHƯƠNG“SểNG CƠ VÀ SểNG ÂM”(CHƯƠNG TRèNH VẬT LÍ 12 TRUNG HỌC PHỔ THễNG) THEO HƯỚNG TĂNG CƯỜNG NĂNG

LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÍ

(yêu cầu bìa 1: bìa màu, trình bày nh- mẫu này, chú ý cân đối giữa các phần trong

trang bìa, chỉ dùng chữ Times New Roman (chữ In hoa) cỡ chữ phù hợp cân đối,

không viết tắt, khung đậm)

HÀ NỘI – 2009

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

—————————

LÊ THỊ PHƯƠNG DUNG

THIẾT KẾ SÁCH ĐIỆN TỬ(E-BOOK) CHƯƠNG“DAO ĐỘNG CƠ”, CHƯƠNG“SÓNG CƠ VÀ SÓNG ÂM”(CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG) THEO HƯỚNG TĂNG CƯỜNG NĂNG

LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÍ Chuyên ngành: LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẬT LÍ

Mã số: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS.TÔN TÍCH ÁI

TS.TÔN QUANG CƯỜNG

HÀ NỘI – 2009

Trang 3

MỤC LỤC

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Khách thể, đối tượng nghiên cứu 3

5 Giả thuyết nghiên cứu ( Luận điểm khoa học) 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Những đóng góp mới của đề tài 5

8 Cấu trúc của luận văn 5

Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Một số vấn đề về phương pháp dạy học Vật lí 6

1.1.1 Đối tượng của phương pháp dạy học Vật lí 6

1.1.2 Nhiệm vụ của phương pháp dạy học Vật lí 6

1.1.3 Tính đặc thù của phương pháp dạy học Vật lí – Phương pháp nhận thức Vật lí 6

1.2 Xu hướng đổi mới PPDH Vật lí 7

1.2.1 Xác định nhu cầu, phong cách học môn Vật lí của học sinh 9

1.2.2 Xây dựng hệ thống mục tiêu dạy học môn Vật lí 9

1.2.3 Xác định yêu cầu về nội dung bài dạy học môn Vật lí 10

1.2.4 Lựa chọn phương pháp, phương tiện, môi trường dạy học 15

1.2.5 Xây dựng kế hoạch kiểm tra đánh giá(KTĐG), tích hợp KTĐG trong dạy học vật lí 20

1.2.6 Xây dựng kế hoạch đánh giá cải tiến, phát triển nghề nghiệp đối với giáo viên dạy Vật lí 24

1.3 Ứng dụng CNTT trong dạy học Vật lí 27

1.3.1 Giáo dục và công nghệ 27

1.3.2 Vai trò của CNTT trong dạy học Vật lí 28

1.3.3 Khai thác và sử dụng một số phần mềm để dạy học môn Vật lí 28

1.3.4 Ưu điểm và hạn chế của việc ứng dụng CNTT trong dạy học Vật lí 29

1.4 Giới thiệu về E-Learning 31

Trang 4

1.4.1 Khái niệm E-learning 31

1.4.2 Một số hình thức E-learning 31

1.4.3 Tình hình phát triển và ứng dụng E-learning trên thế giới 32

1.4.4 Tình hình phát triển và ứng dụng E-learning ở Việt Nam 33

1.5 Cơ sở lí thuyết về E-Book 34

1.5.1 Khái niệm về E-book 34

1.5.2 ưu và nhược điểm của E-book 35

1.5.3 Các yêu cầu của việc thiết kế E – book 36

1.6 Lựa chọn phần mềm thiết kế E-book 37

1.6.1 Giới thiệu về Macromedia Dreamweaver 37

1.6.2 Làm việc với Macromedia Dreamweaver 38

Kết luận chương 1 41

Chương 2 : THIẾT KẾ SÁCH ĐIỆN TỬ (E-BOOK) CHƯƠNG “DAO ĐỘNG CƠ”, CHƯƠNG “SÓNG CƠ VÀ SÓNG ÂM” (CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG) THEO HƯỚNG TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH 42

2.1 Giới thiệu khái quát chương trình SGK Vật lí 12 42

2.1.1 Quan điểm xây dựng và phát triển chương trình Vật lí 12 42

2.1.2 Mục tiêu xây dựng chương trình môn Vật lí lớp 12 43

2.1.3 Nội dung SGK Vật lí 12 44

2.1.4 Điểm mới của SGK Vật lí 12 ( theo chương trình chuẩn) so với SGK CCGD 44

2.2 Phân tích nội dung kiến thức chương “Dao động cơ”, chương “Sóng cơ và sóng âm” 45

2.2.1 Phân tích nội dung kiến thức chương “Dao động cơ” 45

2.2.2 Phân tích nội dung kiến thức chương “Sóng cơ và sóng âm” 54

2.3 Kiến thức, kỹ năng học sinh cần có sau khi học chương “Dao động cơ”, chương “Sóng cơ và sóng âm” (Chương trình Vật lí 12 THPT) 59

2.3.1 Chương “Dao động cơ” 59

2.3.2 Chương “Sóng cơ và sóng âm” 63

2.4 Tìm hiểu tình hình dạy chương “Dao động cơ”, chương “Sóng cơ và sóng âm” (Chương trình Vật lí 12 THPT) ở trường THPT 66

Trang 5

2.4.1 Nội dung tìm hiểu 66

2.4.2 Phương pháp điều tra tìm hiểu 67

2.4.3 Kết quả điều tra tìm hiểu 67

2.4.4 Nguyên nhân dẫn đến những khó khăn và sai lầm của học sinh 73

2.4.5 Ý tưởng sư phạm của việc xây dựng E-book chương “Dao động cơ”, chương “Sóng cơ và sóng âm” 74

2.5 Thiết kế và sử dụng E-book chương “Dao động cơ”, chương “Sóng cơ và sóng âm”(Chương trình Vật lí 12 THPT) 75

2.5.1 Xây dựng cấu trúc nội dung của khóa học 75

2.5.2 Quy trình thực hiện E-book 75

2.5.3 Sử dụng E-book Vật lí 12 chương “Dao động cơ”, chương “Sóng cơ và sóng âm” ( Chương trình Vật lí 12 THPT) 80

Kết luận chương 2 92

Chương 3 : THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 93

3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 93

3.1.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 93

3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 93

3.2 Kế hoạch thực nghiệm sư phạm 93

3.2.1 Lựa chọn đối tượng thực nghiệm sư phạm 93

3.2.2 Chuẩn bị thực nghiệm sư phạm 94

3.3 Kết quả thực nghiệm sư phạm 95

3.3.1 Kết quả đánh giá của GV và HS 95

3.3.2 Kết quả thực nghiệm sư phạm của các lớp TN và ĐC 97

Kết luận chương 3 105

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 107

1 Kết luận 107

2 Khuyến nghị 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

PHỤ LỤC

Trang 6

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BTVL : Bài tập vật lí CNTT : Công nghệ thông tin CSVC : Cơ sở vật chất CCGD : Cải cách giáo dục ĐHQGHN : Đại học quốc gia Hà Nội

GV : Giáo viên

HS : Học sinh MTĐT : Máy tính điện tử PPDH : Phương pháp dạy học SGK : Sách giáokhoa

THPT : Trung học phổ thông

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thế kỷ 21, thế kỷ của sự bùng nổ thông tin và khoa học kỹ thuật thể hiện là

sự phát triển như vũ bão của công nghệ truyền thông vào các mặt của đời sống xã hội Trong xã hội tri thức, con người là chủ thể kiến tạo nên xã hội, lấy tri thức xác định vị thế xã hội Yêu cầu xã hội đặt ra đối với giáo dục phải giải quyết mâu thuẫn

là tri thức phát triển rất nhanh mà thời gian đào tạo có hạn, giáo dục phải tạo ra con người mới có năng lực đáp ứng thị trường lao động, có khả năng hoà nhập, cạnh tranh quốc tế

Trong những năm gần đây, chúng ta chú trọng đặc biệt đến việc áp dụng CNTT trong dạy học như là một hướng đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) tích cực góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học Chỉ thị số 29/2001/CT- BGD&ĐT của Bộ trưởng BGD&ĐT ngày 30/07/2001 về việc ứng dụng CNTT trong giáo dục giai đoạn 2001-2005 Một trong bốn mục tiêu là:”Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp giảng dạy học tập ở tất cả các môn học”

Cùng với sự bùng nổ thông tin, sự phát triển đi lên của xã hội lượng kiến thức mà mỗi học sinh phải học ngày càng nhiều do đó việc rèn luyện cho các em phương pháp học tập là cần thiết Một trong những phương pháp học tập tích cực nhất là tự học Chỉ có tự học học sinh mới có lòng say mê học tập phát huy hết năng lực sáng tạo của mình Có nhiều hình thức tự học khác nhau trong đó có thể sử dụng E-book trong tự học E-book có những lợi thế mà sách in thông thường không thể

có được đó là: rất gọn nhẹ, có thể tinh chỉnh về kích cỡ, màu sắc và các thao tác cá nhân tùy theo sở thích của người học Một đặc điểm nổi bậc đó là khả năng lưu trữ thông tin, chuyển tải được thông tin kiến thức đầy đủ thông qua các media Tuy nhiên trong quá trình dạy học có những điểm khác biệt giữa học tập theo lớp học có

GV giảng dạy và học tập từ xa thông qua E-book

Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm, việc áp dụng các phương tiện trực quan vào quá trình dạy học là cần thiết, đặc biệt là việc sử dụng các thí nghiệm Tuy

Trang 8

nhiên trong quá trình dạy học không phải lúc nào giáo viên cũng có thể dùng các mô hình, tranh vẽ hay thí nghiệm cho HS sử dụng nhất là các thí nghiệm phức tạp không thể thực hiện do các điều kiện về thời gian, CSVC Nhờ sự phát triển của CNTT ứng dụng vào quá trình dạy học sử dụng các video ghi lại các quá trình Vật lí (bằng các chức năng quay nhanh, chậm, làm dừng hình và có thể xem nhiều lần nhờ MTĐT), cho phép ta quan sát cẩn thận và có thể nghiên cứu (dưới dạng khảo sát) sâu và rộng hơn, xoá bỏ ngăn cách giữa nhà trường và tự nhiên gây hứng thú học tập cho học sinh, tiết kiệm thời gian, giải phóng học sinh khỏi những thao tác không cần thiết

Về phần mềm dạy học có thể khai thác từ nhiều nguồn: Sản phẩm nước ngoài hiện bán tự do trên thị trường khá phong phú và rẻ, nhưng nói chung không sát hợp với chương trình giáo dục Việt nam; sản phẩm nội địa, chuyên nghiệp có bản quyền như “sách giáo khoa điện tử”, “Gia sư”, Phần mềm dạy học Vật lí của các tác giả Phạm Xuân Quế, Nguyễn Thượng Chung, phần mềm dạy học Vật lí của Công ty thiết bị giáo dục II- Bộ GD&ĐT phát hành, phần mềm dạy Vật lí do trờng Đại học Bách khoa Hà Nội sản xuấtv.v , phần mềm dạy học có thể khai thác trên Net (Internet, Intranet ) miễn phí; sản phẩm do giáo viên tự làm như VatLy_Student_Soft của thầy giáo Nguyễn Thành Tương Thực tế ở Việt Nam các tài liệu hướng dẫn tự học đặc biệt là E-book Vật lí chưa nhiều Trong các E-book Vật lí 12 thì có E-book nội dung theo SGK cũ, có E-book chưa chú ý tới nội dung luyện tập cho HS, chưa hướng dẫn HS cách tự học, chưa sát chương trình sách giáo khoa Vật lí 12 xuất bản năm 2008… Từ những lý do trên để góp phần nâng cao chất lượng dạy học Vật lí, chúng tôi lựa chọn đề tài:

Thiết kế sách điện tử (E-book) chương “Dao động cơ”, chương “Sóng cơ

và sóng âm” (chương trình Vật lí 12 trung học phổ thông) theo hướng tăng cường năng lực tự học của học sinh

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Đề xuất một cách thiết kế sách điện tử (E-book), đưa ra giải pháp hoàn thiện sách điện tử (E-book) chương “Dao động cơ”, chương “Sóng cơ và sóng âm” (chương trình Vật lí 12 trung học phổ thông) nâng cao năng lực tự học của học sinh

Trang 9

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Nghiên cứu và lựa chọn các tài liệu hướng dẫn sử dụng các phần mềm thiết

kế và hỗ trợ cho việc xây dựng E-book

- Nghiên cứu lý luận về quá trình dạy học, các xu hướng đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá, ứng dụng CNTT trong dạy học Vật lí

- Nghiên cứu nội dung chương trình Vật lí 12 trung học phổ thông (SGK xuất bản năm 2008) chương “Dao động cơ”, chương “Sóng cơ và sóng âm” Tìm kiếm các tư liệu hỗ trợ cho HS khi học chương “Dao động cơ”, chương “Sóng cơ và sóng âm”lớp 12

- Thiết kế E-book chương “Dao động cơ”, chương “Sóng cơ và sóng âm” (chương trình Vật lí 12 trung học phổ thông SGK xuất bản năm 2008) dưới dạng website với nhiều kênh thông tin, hình thức đa dạng - giao diện đơn giản, dễ sử dụng

- Đánh giá năng lực tự học của HS khi sử dụng E-book trên trong học tập thông qua thực nghiệm sư phạm

Thời gian: 8 tuần kì 1 năm học 2009-2010

4 Khách thể, đối tƣợng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy và học môn Vật lí chương “Dao động cơ”, chương “Sóng cơ và sóng âm” (chương trình Vật lí 12 trung học phổ thông) của giáo viên và học sinh lớp 12 trung học phổ thông

- Đối tượng nghiên cứu: Xây dựng hệ thống nội dung bài học và bài tập luyện tập chương “Dao động cơ”, chương “Sóng cơ và sóng âm” (chương trình Vật

lí 12 trung học phổ thông) dưới dạng số hóa hỗ trợ quá trình tự học của học sinh

Trang 10

5 Giả thuyết nghiên cứu ( Luận điểm khoa học)

Việc thiết kế được sách điện tử (E-book) chương “Dao động cơ”, chương

“Sóng cơ và sóng âm” (chương trình Vật lí 12 trung học phổ thông) theo hướng tăng cường năng lực tự học của học sinh, kết hợp dạy học bằng E-book này với các hình thức dạy học khác sẽ tăng cường năng lực tự học của HS và nâng cao chất lượng việc dạy học Vật lí ở trường phổ thông

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu các tài liệu lí luận dạy học, các tài liệu về PPDH ở trường phổ thông, các xu hướng đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới PPDH Vật lí, đổi mới kiểm tra đánh giá để làm sáng tỏ những quan điểm đề tài sẽ vận dụng về việc tổ chức tình huống học tập, hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề trong dạy học Vật lí

- Nghiên cứu chương trình, nội dung sách giáo khoa, sách giáo viên và các tài liệu tham khảo đặc biệt là nội dung chương trình Vật lí 12 trung học phổ thông (SGK xuất bản năm 2008) chương “Dao động cơ”, chương “Sóng cơ và sóng âm”, các tư liệu về dao động cơ , sóng cơ và sóng âm lớp xác định mức độ nội dung các kiến thức những khái niệm Vật lí mà học sinh cần nhớ, hiểu, vận dụng ở hai chương này

- Nghiên cứu các tài liệu hướng dẫn sử dụng các phần mềm thiết kế xây dựng E-book, ứng dụng CNTT trong dạy học Vật lí trên thế giới và ở Việt Nam

6.2 Nghiên cứu thực tiễn

- Tìm hiểu việc dạy, việc học trên lớp và tự học chương “Dao động cơ”, chương “Sóng cơ và sóng âm” ở trường THPT nhằm sơ bộ đánh giá tình hình dạy học hai chương này

- Tìm hiểu việc sử dụng hệ thống mạng máy tính và máy tính phục vụ giảng dạy các môn học ở trường THPT

Quan sát (thông qua dự giờ), phỏng vấn và điều tra bằng bảng hỏi (GV và HS) về áp dụng CNTT trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông hiện nay; đánh giá của GV, HS về giờ học có sử dụng CNTT; ý kiến của GV, HS về vấn đề ứng dụng CNTT

Trang 11

- Thực nghiệm sư phạm: Tiến hành giảng dạy song song lớp đối chứng và lớp thực nghiệm ở trường THPT theo phương án đã thiết lập Phân tích định tính và định lượng kết quả thu được trong quá trình thực nghiệm sư phạm, từ đó rút ra kết luận của đề tài

7 Những đóng góp mới của đề tài

Về mặt lí luận

- Tổng quan về cơ sở lí luận của việc đổi mới PPDH Vật lí

- Giới thiệu về E – learning và tình hình ứng dụng E – learning trong dạy học

Về mặt thực tiễn:

- Sử dụng CNTT để thiết kế các bài học dưới dạng E-book

- Thiết kế E-book chương “Dao động cơ”, chương “Sóng cơ và sóng âm” (chương trình Vật lí 12 trung học phổ thông)

- Tiến hành áp dụng E-book chương “Dao động cơ”, chương “Sóng cơ và sóng âm” (chương trình Vật lí 12 trung học phổ thông) vào giảng dạy tại các trường THPT

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong ba chương

Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài

Chương 2: Thiết kế sách điện tử (E-book) chương “Dao động cơ”, chương

“Sóng cơ và sóng âm” (chương trình Vật lí 12 trung học phổ thông)

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 12

1.1.1 Đối tượng của phương pháp dạy học Vật lí

Phương pháp dạy học Vật lí nghiên cứu quá trình dạy học môn Vật lí trong trường phổ thông nhằm góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo

Dựa vào những kết luận, nguyên tắc, quy luật của lí luận dạy học đại cương – một bộ phận quan trọng của khoa học giáo dục – phương pháp dạy học Vật lí nghiên cứu và giải quyết những nhiệm vụ quan trọng của việc dạy học bộ môn ở trường phổ thông: đó là các nhiệm vụ trí dục (giáo dưỡng), phát triển và giáo dục

1.1.2 Nhiệm vụ của phương pháp dạy học Vật lí

Phương pháp dạy học Vật lí giải đáp ba câu hỏi lớn sau:

- Dạy và học Vật lí để làm gì? (mục đích và nhiệm vụ của môn Vật lí)

- Dạy và học cái gì? (nội dung môn học)

- Dạy và học như thế nào? (phương pháp, tổ chức của việc dạy và của việc học)

1.1.3 Tính đặc thù của phương pháp dạy học Vật lí – Phương pháp nhận thức Vật lí

Trong trường phổ thông hiện nay những phương pháp nhận thức Vật lí phổ biến hay dùng là phương pháp thực nghiệm, phương pháp mô hình, phương pháp

Trang 13

tương tự, phương pháp thí nghiệm lí tưởng Trong khi áp dụng các phương pháp nhận thức Vật lí ta thường phải phối hợp sử dụng các phương pháp suy luận logic như phân tích, tổng hợp quy nạp, diễn dịch phương pháp suy luận logic này ứng dụng trong tất cả các giai đoạn của quá trình nhận thức nên cần rèn luyện cho HS thường xuyên

1.2 Xu hướng đổi mới PPDH Vật lí

Giáo dục của thế kỉ 21 đang đứng trước sự phát triển như vũ bão của các tiến

bộ khoa học kĩ thuật trên thế giới, đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của CNTT Đất nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với mục tiêu đưa nước ta tiến lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp vào năm 2020 Nhân tố quyết định sự thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước chính là nguồn lực con người Trước yêu cầu mới của xã hội, con người có học vấn hiện đại không chỉ có khả năng lấy tri thức ra từ trí nhớ ở dạng có sẵn, đã được học ở trường mà còn phải biết tự mình chiếm lĩnh, sử dụng linh hoạt các tri thức đã học vào từng trường hợp cụ thể một cách sáng tạo, mang lại hiệu quả công việc cao nhất Chính vì thế mà một trong những yêu cầu cấp bách hiện nay là đổi mới phương pháp dạy học

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định “Đổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực đào tạo của người học, coi trọng thực hành, thực nghiệm, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay, đổi mới và thực hiện nghiêm minh chế độ thi cử… ” Như vậy mục tiêu của việc đổi mới phương pháp dạy học là giúp cho học sinh tích cực chủ động sáng tạo trong học tập, xóa bỏ thói quen học tập thụ động Từ những nhận định trên có thể thấy rằng việc đổi mới PPDH cần phải đặt trong một hệ thống chứ không thể coi PPDH là một thành tố độc lập

Trang 14

Hình 1.1: Tóm tắt quy trình lập kế hoạch dạy học

Đánh giá cải tiến, phát triển chuyên môn

Xác định, phân tích nhu cầu người học

Xác định mục đích, mục tiêu

Thiết kế cấu trúc Nội dung

Lựa chọn hình thức tổ chức dạy học

Xác định hình thức, PP kiểm tra đánh giá

KTĐG thường xuyên

Trang 15

1.2.1 Xác định nhu cầu, phong cách học môn Vật lí của học sinh

Môn học vật lí được triển khai bắt đầu từ việc tìm hiểu và nhận diện được nhu cầu và phong cách học tập của học sinh Các thông tin đầy đủ về nhu cầu, kỳ vọng và phong cách học tập của học sinh sẽ giúp giáo viên phác họa được kế hoạch

tổ chức triển khai và quản lí hiệu quả việc dạy học, thúc đẩy các quá trình tìm kiếm

cơ hội hỗ trợ cho học sinh trong suốt quá trình dạy học Các phương pháp tìm hiểu học sinh Giáo viên có thể áp dụng nhiều phương pháp để thu thập thông tin về học sinh Các phương pháp cần đảm bảo tính tích hợp, đa chiều, mở và đơn giản (bằng các con đường tự nhiên nhất)

1.2.2 Xây dựng hệ thống mục tiêu dạy học môn Vật lí

Xây dựng hệ thống mục tiêu dạy học môn Vật lí được coi là khâu trọng tâm cho việc lập kế hoạch dạy học và kiểm tra đánh giá sau này

Mục tiêu dạy học được xây dựng nhằm thực hiện 2 chức năng chính:

- Định hướng trong dạy và học

- Căn cứ để kiểm tra đánh giá kết quả tiến bộ của học sinh

Dựa trên mục tiêu yêu cầu của phân phối chương trình, giáo viên cần cụ thể hóa các mục tiêu đáp ứng các chỉ số về các tiêu chí hành vi (làm được gì?), tiêu chí thực hiện (làm được bao nhiêu là đủ) và tiêu chí điều kiện (làm được trong điều kiện nào?)

Tham khảo tiêu chí SMART trong xây dựng mục tiêu:

S (specific): cụ thể, chi tiết, rõ ràng, dễ hiểu

M (measuable): quan sát được, đo đếm được

A (achiveable): khả thi, vừa sức

R (realistic): thực tế

T (time-scale): có giới hạn về thời gian

Gợi ý xây dựng mục tiêu dạy học môn Vật lí

- Xác định mục tiêu chuẩn (trung bình) cần phải đạt

- Bắt đầu bằng tuyên bố: “sau bài học này (phần này, chương này ) người học sẽ/có thể/phải:……….”

- Sử dụng các động từ chỉ hành vi, có thể quan sát, lượng hóa được

Trang 16

- Sử dụng 6 thang bậc tư duy nhận thức của B.J.Bloom để phân cấp mức mục tiêu:

- Gộp nhóm các mục tiêu cùng cấp

- Hệ thống hóa các mục tiêu theo ma trận

- Chia sẻ ý kiến đồng nghiệp

1.2.3 Xác định yêu cầu về nội dung bài dạy học môn Vật lí

1.2.3.1 Quá trình “cấu trúc hóa” lại nội dung cho phù hợp với điều kiện dạy học

cụ thể

Nội dung chương trình (ND1) và nội dung dạy học cụ thể trên lớp (ND2)

ND1: là toàn bộ nội dung kiến thức được thiết kế mang tính tổng thể, chung cho một cấp học, chương trình học, được được trình bày theo một trật tự

logic khoa học, được qui định và thể chế hóa (chương trình sách giáo khoa)

ND2: là những nội dung dạy học theo chương trình nhưng đã được cấu trúc lại nhưng vẫn đảm bảo tính hệ thống, logic khoa học, được trình bày trong các hình thức dạy học khác nhau mang dấu ấn cá nhân của giáo viên (trong từng trường

Việc cấu trúc lại nội dung chương trình dạy học giúp cho giáo viên:

- Tăng khả năng áp dụng đa dạng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học (trong và ngoài giờ lên lớp)

- Phân bổ thời gian triển khai một cách hợp lý (có thể coi là một trong những giải pháp “giảm tải” hiện nay)

Trang 17

- Tăng cơ hội dạy học phân hóa (cho toàn lớp/ nhóm/cá nhân)

- Tăng cơ hội học tập tích cực cho học sinh

Trong đó: N1 …… N10 là các nội dung theo yêu cầu của chương trình

N1, N3, N7 là những nội dung cốt lõi (ND2CL)

N2, N5, N4, N9 là những nội dung cơ bản (ND2CB)

N6, N8, N10 là những nội dung bổ trợ (ND2BT) Như vậy chẳng hạn đối với ND2CL (gồm N1, N3, N7) giáo viên có thể sẽ sử dụng nhiều thời gian hơn để giảng bài trên lớp, cho học sinh làm bài luyện tập, tăng cường hơn các phương pháp tích cực… nhằm giúp học sinh lĩnh hội kiến thức một cách chắc chắn

Nhưng đối với các nội dung bổ trợ ND2BT (gồm N6, N8, N10), giáo viên có thể không dạy trực tiếp trên lớp mà tích hợp vào các bài tập nghiên cứu, tình huống… để giao cho học sinh về nhà làm (có hướng dẫn và tiêu chí kiểm tra đánh giá)

1.2.3.2 Lí luận về bài tập Vật lí

Khi giáo viên thực hiện quá trình “cấu trúc hóa” lại nội dung cho phù hợp với điều kiện dạy học cụ thể thì công việc quan trọng, tốn nhều công sức và thời gian là lựa chọn thiết kế hệ thống BTVL

Thông thường, trong sách giáo khoa và tài liệu lí luận dạy học bộ môn Vật lí, người ta hiểu những bài tập Vật lí là những bài luyện tập được lựa chọn một cách phù hợp với mục đích chủ yếu là nghiên cứu các hiện tượng Vật lí, hình thành các khái niệm, phát triển tư duy Vật lí của học sinh và rèn luyện kĩ năng vận dụng các kiến thức của họ vào thực tiễn.Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì sự tư duy định hướng tích cực luôn luôn là việc giải bài tập Về thực chất, mỗi một vấn đề mới xuất hiện

Trang 18

do nghiên cứu tài liệu sách giáo khoa trong mỗi tiết học Vật lí chính là một bài tập đối với học sinh

Một trong những đặc trưng của phương pháp dạy học mới, hiện đại- phương pháp dạy học tích cực là tôn trọng vai trò chủ đạo của người học, kích thích tính độc lập, sáng tạo, trau dồi khả năng tự giáo dục cho mỗi người Giáo viên giúp học sinh nắm được phương pháp chiếm lĩnh kiến thức, phương pháp hoạt động học tập (nhận thức) cũng như phương thức hoạt động trong cuộc sống xã hội Qua việc tự giành lấy kiến thức ở học sinh hình thành phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, năng lực giải quyết vấn đề Nói cách khác, học sinh phát triển trong hoạt động và học tập diễn ra trong hoạt động Chính vì lẽ đó, học sinh cần phải được huấn luyện ngay từ khâu xây dựng kiến thức cho đến khâu vận dụng nó vào thực tế Giải bài tập Vật lí

là một trong những hình thức luyện tập chủ yếu và được tiến hành nhiều nhất Do vậy, các bài tập Vật lí có tác dụng cực kì quan trọng trong việc hình thành rèn luyện

kĩ năng kĩ xảo vận dụng và tìm tòi kiến thức cho học sinh Chúng được sử dụng trong các tiết học theo các mục đích khác nhau:

- Hình thành và rèn luyện kĩ năng kĩ xảo, vận dụng kiến thức vào thực tiễn

- Kiến thức sẽ được nắm vững thực sự nếu học sinh có thể vận dụng thành thạo chúng vào việc hoàn thành những bài tập lí thuyết và thực hành

- Hình thành kiến thức mới (kể cả cung cấp những kiến thức thực tiễn)

- Ôn tập những kiến thức đã học, củng cố những kiến thức cơ bản của bài giảng,

- Phát triển tư duy Vật lí

Trong thực tiễn dạy học, tư duy Vật lí thường được hiểu là “kĩ năng quan sát các hiện tượng Vật lí, phân tích một hiện tượng phức tạp thành những bộ phận thành phần và xác lập ở trong chúng những mối liên hệ giữa các mặt định tính và định lượng của các hiện tượng và của các đại lượng Vật lí, đoán trước hệ quả từ các

lí thuyết và áp dụng được kiến thức của mình Trừ một số bài tập đơn giản chỉ đề cập đến một hiện tượng Vật lí , đa số các hiện tượng nêu lên trong những bài tập là phức tạp Để giải được chúng phải phân tích hiện tượng phức tạp ấy thành các hiện tượng đơn giản, thành phần, nghĩa là phải phân tích một bài tập phức tạp thành các

Trang 19

bài tập đơn giản, thành phần Đồng thời thông thường trong quá trình giải quyết các tình huống cụ thể nêu lên trong bài tập, học sinh phải vận dụng các thao tác tư duy

để tìm hiểu, giải quyết vấn đề và rút ra kết luận cần thiết Nhờ thế, tư duy được phát triển và năng lực làm việc tự lực của học sinh được nâng cao

- Kiểm tra, đánh giá kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo, đặc biệt là giúp phát hiện trình độ, phát triển trí tuệ, làm bộc lộ những khó khăn, sai lầm của học sinh trong học tập đồng thời góp phần giúp họ vượt qua những khó khăn và khắc phục những sai lầm đó

- Giáo dục tư tưởng, đạo đức, kĩ thuật tổng hợp và hướng nghiệp

1.2.3.3 Sử dụng bài tập Vật lí trong dạy học Vật lí Những yêu cầu chung trong

 Dùng bài tập hình thành kiến thức mới

 Dùng bài tập để củng cố, bổ sung, hoàn thiện những kiến thức

lí thuyết đã học

 Lựa chọn bài tập điển hình nhằm hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức đã học để giải, từ đó hình thành phương pháp giải chung cho mỗi loại bài tập đó

 Dùng bài tập để kiểm tra,đánh giá chất lượng kiến thức của học sinh + Sắp xếp các bài tập đã chọn thành một hệ thống, định rõ kế hoạch và mục đích sử dụng trong tiến trình dạy học

+ Kế hoạch sử dụng bài tập Vật lí trong dạy học

Số thứ tự

bài ở SGK Nội dung tiết học

Ra bài tập và giải ngay

tại lớp

Ra về nhà các bài tập

Giải ở lớp các bài tập

đã ra về nhà

Hình thành kiến thức mới Củng cố

Trang 20

- Dạy cho học sinh biết vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề đặt ra, rèn cho học sinh kĩ năng giải những bài toán cơ bản

- Coi trọng việc phát triển tư duy

Phân loại bài tập Vật lí: Bài tập trắc nghiệm khách quan

đồ thị

Trắc nghiệm khách quan

Kĩ thuật tổng hợp

Bài tập luyện tập

Bài tập sáng tạo

Bài tập định tính

Bài tập định lượng

Bài tập thí nghiệm

Cơ Nhiệt Điện Quang

Phương thức cho điều kiện vàphương thức giải

Nội dung

Bài tập vật lí

Yêu cầu phát triển tư duy

Trang 21

+ Chú ý thích đáng về số lượng và nội dung các bài tập nhằm giúp học sinh vượt qua những khó khăn chủ yếu, khắc phục những sai lầm phổ biến

+ Các bài tập đưa ra phải có tính hệ thống

+ Các bài tập phải đảm bảo tính vừa sức đối với học sinh đại trà, đồng thời có chú ý đến sự phân hóa học sinh

1.2.4 Lựa chọn phương pháp, phương tiện, môi trường dạy học

Việc lựa chọn các hình thức tổ chức và phương pháp dạy học, phương tiện

và môi trường dạy học đóng vai trò quyết định đến tính hiệu quả và hiệu suất của quá trình dạy học Vật lí, nó đòi hỏi sự sáng tạo của giáo viên, năng lực sư phạm (và đương nhiên cả năng lực chuyên môn), khả năng dự báo các tình huống khó khăn cũng như hiểu biết thấu đáo về đối tượng học sinh trong lớp Việc triển khai, tổ chức các hình thức và phương pháp dạy học cần bám sát vào mục tiêu, nội dung và đối tượng người học

1.2.4.1 Yêu cầu của việc lựa chọn hình thức tổ chức dạy học:

- Đa dạng, tạo cơ hội đáp ứng phong cách học của học sinh

- Khả thi

- Thúc đẩy hứng thú, tích cực của học sinh

1.2.4.2 Yêu cầu của việc lựa chọn phương pháp dạy học:

- Khoa học và hiệu quả (phù hợp với mục tiêu, nội dung dạy học…)

- Khả thi (phù hợp năng lực, điều kiện khách quan, chủ quan, thời gian…)

- Hỗ trợ học tập tích cực (tạo cơ hội để dạy học phân hóa, tương tác…)

1.2.4.3 Yêu cầu của việc lựa chọn phương tiện dạy học:

- Tính sư phạm

- Tính kinh tế

- Tính khả thi

1.2.4.4 Yêu cầu tạo dựng môi trường học tập

- An toàn (môi trường bên ngoài và bên trong học sinh)

- Thân thiện

Trang 22

- Công bằng

Các hoạt động của giáo viên và học sinh cần được tính toán, cân nhắc, triển khai thử nghiệm và rút kinh nghiệm, cải tiến thường xuyên Việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, cải tiến, khắc phục những nhược điểm của từng phương pháp cần được tiến hành thường xuyên song song với việc lấy ý kiến phản hồi từ học sinh và đồng nghiệp

Mặt khác, việc lựa chọn phương pháp, phương tiện và môi trường dạy học còn bị chi phối bởi triết lý giảng dạy và sự nhận thức của chính giáo viên về vai trò của bản thân và học sinh

Một số vai trò mới của người giáo viên theo quan điểm lí luận dạy học hiện đại:

Nguồn học liệu này bao gồm:

- Học liệu hỗ trợ dạy học trên lớp

- Học liệu hỗ trợ học sinh tự học ở nhà

- Học liệu hỗ trợ kiểm tra đánh giá

- Học liệu phát triển chuyên môn (dành cho giáo viên) Kết quả các nghiên cứu về quá trình dạy học đã chỉ ra sự thay đổi căn bản trong giáo dục (dạy học) hiện nay:

- Chuyển từ người dạy làm trung tâm sang người học làm trung tâm

- Chuyển từ xu hướng truyền đạt, trình bày sang xu hướng kiến tạo (cùng kiến tạo), phát triển

- Chuyển từ tiếp cận hành vi (hoạt động) sang tiếp cận mục tiêu, tiếp cận nhận thức

Trang 23

Học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì có hạn Sự bùng nổ thông tin làm cho người thầy không có cách nào truyền thụ hết kiến thức cho trò, trò phải học cách tự học, tự đào tạo để không bị rơi vào tình trạng tụt hậu

Tự học là gì ?

Theo từ điển Giáo dục học – NXB Từ điển Bách khoa 2001: “…tự học là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng thực hành…”

Tiến sĩ Võ Quang Phúc cho rằng: “Tự hoc là một bộ phận của học, nó cũng được hình thành bởi những thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của người học trong hệ thống tương tác của hoạt đông dạy học Tự học phản ánh rõ nhất nhu cầu bức xúc về học tập của người học, phản ánh tính tự giác và sự nỗ lực của người học trong hệ thống hoạt động dạy học, phản ánh năng lực tổ chức tự điều khiển của người học nhằm đạt được kết quả nhất định trong hoàn cảnh nhất định với nội dung học tập nhất định.”

Tự học thể hiện bằng cách tự đọc tài liệu giáo khoa, sách báo các loại, nghe radio, truyền hình, nghe nói chuyện, báo cáo, thăm quan bảo tàng, triển lãm, xem phim, kịch, giao tiếp với những người có học, các chuyên gia và những người hoạt động thực tiễn trong các lĩnh vục khác nhau Người tự học phải biết cách lựa chọn tài liệu, tìm ra những điểm chính, điểm quan trọng trong các tài liệu đã đọc, đã nghe, phải biết cách ghi chép những điều cần thiết, biết viết tóm tắt, làm đề cương, biết cách tra từ điển và sách tham khảo, biết cách làm việc trong thư viện…Đối với

HS, tự học còn thể hiện bằng cách tự làm các bài tập chuyên môn, tham gia các câu lạc bộ, các nhóm thực nghiệm và các hoạt động ngoại khóa khác Tự học đòi hỏi phải có tính độc lập tự chủ, tự giác và kiên trì cao

Những thành công hay thất bại của tự học phụ thuộc vào động cơ học tập và

đã được mô hình hóa bởi Keller, 1987 ARCS

Trang 24

Vai trò của tự học

- Tự học có ý nghĩa quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi người

- Tự học là con đường tự khẳng định của mỗi người Tự học giúp con người giải quyết mâu thuẫn giữa khát vọng cao đẹp về học vấn với hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống cá nhân

- Tự học khắc phục nghịch lý Đối với học sinh THPT quỹ thời gian 3 năm không đủ để tiếp thu hết tất cả các kiến thức khổng lồ của chương trình Vì vậy, tự học là một giải pháp khoa học để giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức đồ

sộ với quỹ thời gian ít ỏi ở trường

- Tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người Quá trình tự học khác với quá trình học tập thụ động, nhồi nhét, áp đặt Quá trình tự học diễn ra theo đúng quy luật của hoạt động nhận thức Kiến thức có được do tự học là kết quả của sự hứng thú, sự tìm tòi, lựa chọn nên bao giờ cũng vững chắc bền lâu Có phương pháp học tốt sẽ đem lại kết quả học tập cao hơn Khi HS biết cách tự học,

HS sẽ “có ý thức và xây dựng thời gian tự học, tự nghiên cứu giáo trình, tài liệu, gắn lý thuyết với thực hành, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo.”

- Người học phải biết cách tự học vì học tập là một quá trình suốt đời Đối với HS THPT nếu không có khả năng tự học, tự nghiên cứu thì khi lên các bậc học cao hơn như cao đẳng, đại học HS sẽ khó thích ứng với cách học đòi hỏi phải tự lực học tập và sẽ không có kết quả tốt được

Trang 25

- Tự học với HS THPT còn có vai trò quan trong đối với việc đổi mới PPDH nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường THPT Nếu cứ giữ theo lối dạy học nhồi nhét như hiện nay, HS khó có thể tự học và có thể có thời gian tự học có hiệu quả Đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa người học sẽ tạo cơ hội cho HS phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo trong học tập và ngày càng nâng cao khả năng tự học Như vậy có thể nói tự học là con đường phát triển phù hợp với quy luật phát triển của nhân loại và là biện pháp sư phạm đúng đắn cần được áp dụng ở các trường THPT

- Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học trong cả tiết học có giáo viên hướng dẫn, không chỉ tự học bằng sách giáo khoa mà còn tự học bằng các phương tiện hỗ trợ khác

Tự học qua mạng

- Tự học qua mạng

Tự học qua mạng là hình thức của tự học mà không dùng lời nói trực tiếp để giao lưu với nhau, phương tiện để giao tiếp là máy tính có kết nối mạng Internet Người học chủ động tìm kiếm tri thức để thoả mãn những nhu cầu hiểu biết của mình tự cũng cố, tự phân tích, tự đào sâu, tự đánh giá, rút kinh nghiệm…với sự hỗ trợ của máy tính

- Lợi ích của tự học qua mạng

Trong thời đại “bùng nổ thông tin”, mỗi người muốn thoát khỏi lạc hậu với khoa học và kĩ thuật, phải có thói quen và tự học suốt đời vì không phải ai, vào bất

cứ lúc nào, cũng được giúp đỡ hướng dẫn được tổ chức chu đáo Tự học qua mạng

ra đời nhằm cung cấp sự hướng dẫn cho bất cứ ai muốn học một chương trình nào

đó hoặc xem lại, bổ sung, mở rộng phần kiến thức đã học ở trường lớp Sự hướng dẫn này có cấp độ chung và cấp độ cụ thể Cấp độ chung soi sáng cho cấp độ cụ thể

và cụ thể minh hoạ, củng cố cấp độ chung Cả hai cấp độ hướng dẫn này khi vào

Trang 26

học sẽ hoà quyện vào nhau, tác động lẫn nhau để tạo nên một phong cách tự học có hiệu quả, người học sẽ có trong tay một công cụ cơ bản để học suốt đời

Tự học qua mạng, người học không bị ràng buộc vào thời khoá biểu chung, một kế hoạch, có thời gian để suy nghĩ sâu sắc một vấn đề, phát hiện ra những khía cạnh xung quanh vấn đề đó và ra sức tìm tòi học hỏi thêm Dần dà, cách tự học đó trở thành thói quen, giúp người học phát triển được tư duy độc lập, tự phê phán, tư duy sáng tạo

Tự học qua mạng giúp người học có thể tự tìm kiếm nhanh chóng và dễ dàng một khối lượng lớn thông tin bổ ích Về mặt này, người học hoàn toàn thuận lợi so với việc tìm kiếm trên sách báo

Như vậy, có thể coi tự học có vai trò hết sức quan trọng nhưng tự học sẽ không có kết quả nếu không có sự hướng dẫn, chỉ dẫn của người thầy Chính vì vậy, “trong nhà trường điều chủ yếu không phải là nhồi nhét cho học trò một mớ kiến thức hỗn độn… mà là giáo dục cho học trò phương pháp suy nghĩ, phương pháp nghiên cứu, phương pháp học tập, phương pháp giải quyết vấn đề ” ( Thủ tướng Phạm Văn Đồng - 1969) GV cần giúp cho HS tìm ra phương pháp tự học thích hợp và cung cấp cho HS những phương tiện tự học có hiệu quả Dạy cho HS biết cách tự học qua mạng cũng là giúp cho HS tìm ra cách để có thể mở ra kho tàng văn hoá của nhân loại

1.2.5 Xây dựng kế hoạch kiểm tra đánh giá(KTĐG), tích hợp KTĐG trong dạy học vật lí

Theo quan điểm lí luận dạy học hiện đại, việc kiểm tra đánh giá cần phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, định kỳ, vì sự tiến bộ của người học Nói cách khác, kiểm tra đánh giá là quá trình thu thập các thông tin và minh chứng về sự tiến bộ của người học, giúp người học định hướng rõ ràng nhất về cách đạt được những mục tiêu dạy học.Kiểm tra đánh giá cần phải được coi là một thành phần bắt buộc trong kế hoạch dạy học vật lí Trong quá trình lập kế hoạch kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh để tích hợp vào trong suốt quá trình dạy học

Trang 27

1.2.5.1 Đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá

- Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lí thông tin về trình độ khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh, về tác động và nguyên nhân của tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của GV và nhà trường, cho bản thân HS để họ học tập ngày một tiến bộ hơn

- Trong dạy học người HS cần được đánh giá ở cả ba lĩnh vực là lĩnh vực nhận thức, lĩnh vực tâm vận động, lĩnh vực cảm xúc ba lĩnh vực này luôn đan xen với nhau Lĩnh vực nhận thức được chia thành các mức độ từ đơn giản đến phức tạp như sau (B.J Bloom 1956):

Định hướng đổi mới hiện nay:

- Đổi mới về mục tiêu kiểm tra: Việc kiểm tra phải đồng thời thực hiện hai mục tiêu của đánh giá là vừa cung cấp thông tin phản hồi về quá trình dạy học vừa

là cơ chế điều khiển hữu hiệu chính quá trình này Việc kiểm tra kết quả học tập của

HS phải nhằm góp phần thực hiện những yêu cầu cơ bản: đảm bảo thực hiện mục tiêu giáo dục, đảm bảo tính hệ thống và toàn diện, đảm bảo tính khách quan, đảm bảo tính công khai, đảm bảo tính khả thi

- Đổi mới về nội dung kiểm tra

- Đổi mới về hình thức kiểm tra: từ năm 2007 đến nay trong các kì thi cấp trường thường sử dụng hình thức thi trắc nghiệm(trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan) trong các kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông, thi tuyển sinh đại học môn Vật lí đã sử dụng hình thức thi trắc nghiệm khách quan dùng câu hỏi nhiều lựa chọn

Trang 28

1.2.5.2 Nguyên tắc biên soạn câu trắc nghiệm tự luận, trắc nghiệm khách quan

- Nguyên tắc biên soạn câu trắc nghiệm tự luận:

+ Câu hỏi phải ngắn gọn, vừa đủ để vấn đề được nêu rõ ràng Nêu chủ đề nhằm mục đích kiểm tra năng lực trả lời chứ không phải là khả năng đoán được những gì mà người ra đề dự định hỏi gì Từ vựng được sử dụng và những khái niệm được thể hiện trong chủ đề không được quá khó đối với HS bình thường để có thể hiểu được nhanh chóng mà làm bài.Một chủ đề khó chỉ phân biệt được giữa những

HS rất giỏi với số còn lại Bên cạnh đó việc đọc hiểu khó khăn sẽ biến cuộc trắc nghiệm thành trắc nghiệm khả năng đọc

+ Bản thân câu hỏi cần phải cung cấp một nguyên lí tổ chức để viết tự luận + Nên nhắm đến việc kiểm tra, đánh giá các mục tiêu quan trọng ở mức trí lực cao (nhận thức và tư duy bậc cao) để luyện tập người học tư duy và áp dụng sáng tạo những điều đã học, hơn là hỏi những điều vụn vặt chỉ cần trí nhớ

+ Phải tránh ý nghĩa của câu không rõ ràng , chung chung, trống rỗng, không

có yêu cầu, không có giới ha ̣n về câu trả lời, phạm vi trả lời quá rộng, quá mở

+ Mỗi câu đều phải có ha ̣n chế về thời gian và số chữ trả lời

+ Người viết câu hỏi nên viết ra đáp án và xác định xem đề ra có thực sự đòi hỏi câu trả lời đó hay không Người viết câu hỏi cũng nên cố gắng thử trả lời câu hỏi trong khoảng thời gian giới hạn cho phép, điều này giúp cho thấy được tính hợp

lý của thời gian dành cho thí sinh để viết câu trả lời

- Nguyên tắc xây dựng câu trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn :

+ Câu nên xác đi ̣nh rõ ràng ý nghĩa muốn biểu đa ̣t , từ dùng trong câu phải rõ ràng, chính xác, không có sai sót và không được lẫn lộn

+ Số lượng phương án lựa cho ̣n càng nhiều thì k hả năng đoán đúng càng nhỏ Sau mô ̣t chủ đề thường thiết kế 4 đến 5 phương án lựa cho ̣n ( Các kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông, thi tuyển sinh đại học thường có 4 phương án lựa cho ̣n) Để tính điểm được thuâ ̣n tiê ̣n , số lượng phương án lựa cho ̣n nên thống nhất là tốt nhất, hoă ̣c mô ̣t bô ̣ phâ ̣n đề có 4 phương án lựa cho ̣n , mô ̣t bô ̣ phâ ̣n đề khác có 5 phương án lựa cho ̣n, không nên sử du ̣ng xen kẽ

Trang 29

+ Lựa cho ̣n cách biểu đa ̣t , yêu cầu là thống nhất , đơn giản Tốt nhất là ngắn gọn dễ hiểu, những từ đã dùng trong câu dẫn thì không dùng la ̣i ở bất kì phương án lựa cho ̣n nào nữa

+ Không thể có những dấu hiệu nào đối với viê ̣c đúng sai của các phương án + Không thể sử du ̣ng các phươn g án sai quá rõ ràng , mà nên sử dụng những phương án có liên hê ̣ lôgíc nhất đi ̣nh tới chủ đề , tức là có tính chân thực giả đi ̣nh hoă ̣c hình như hợp lí , đồng thời tăng thêm tính tương đồng giữa các phương án lựa chọn Trong quá trình biên soạn câu trắc nghiệm , nguồn gốc của những phương sai chủ yếu lấy từ trong giờ học học sinh đưa ra câu hỏi , hay trong bài tâ ̣p ngoài giờ , thường có những sai sót Để có được những phương án làm nhiễu hoă ̣c nhiều kh i có thể đi ̣nh ra những câu trả lời có nô ̣i dung tương ứng để cho người trả lời , sau đó căn cứ vào những sai sót người trả lời đưa ra trong khi trả lời mà la ̣i đi ̣nh ra các phương

án nhiễu

+ Trong các phương án lựa cho ̣n không nên s ử dụng rộng rãi phương án lựa chọn như “tất cả các phương án trên đều sai” và “tất cả các phương án trên đều đúng”, đă ̣c biê ̣t là “tất cả các phương án trên đều sai” không thể là mô ̣t lựa cho ̣n trong câu nhiều lựa cho ̣n có hì nh thức tốt nhất Nó chỉ có thể dùng trong câu nhiều lựa cho ̣n hình thức khẳng đi ̣nh Nhưng nó cũng không thích hợp làm mô ̣t đáp án chính xác

“Tất cả các phương án trên đều đúng” cũng không thích hợp sử du ̣ng với những câu nhiều lựa cho ̣n hình thức phủ đi ̣nh chỉ có mô ̣t đáp án chính xác Vì loại câu này chỉ có mô ̣t đáp án chính xác , vì thế phương án “tất cả các phương án trên đều đúng” rất dễ được học sinh đoán ra là phương án sai

Tóm lại khi sử dụng phương án “tất cả các phương án trên đều sai” và “tất

cả các phương án trên đều đúng” thì cần đặc biệt thận trọng

+ Cố gắng tránh sử du ̣ng những câu nhiều lựa cho ̣n phủ đi ̣nh mà sử du ̣ng câu trần thuâ ̣t để biểu thi ̣ nên in đâ ̣m những từ phủ đi ̣nh hay đánh gạch dưới từ phủ

đi ̣nh

+ Phương án trong các câu lựa cho ̣n nên đô ̣c lâ ̣p với nhau , tránh việc trùng

lă ̣p

Trang 30

+ Trong điều kiện có thể thì các phương án lựa cho ̣n nên sắp xếp theo tr ật tự lôgíc và trâ ̣t tự thời gian

+ Vị trí đáp án chính xác của các câu không nên cố định , để tránh đối tượng

có thể đoán đúng đáp án từ vị trí của các phương án Phương pháp của nó là, nếu có thể sắp xếp theo lôg íc hoặc thời gian thì sắp xếp theo lôgíc hoặc thời gian Còn đối với những lựa cho ̣n khó sắp xếp theo lôgíc hoă ̣c thời gian thì có thể sắp xếp tùy cơ

1.2.6 Xây dựng kế hoạch đánh giá cải tiến, phát triển nghề nghiệp đối với giáo viên dạy Vật lí

Một trong những năng lực quan trọng của người giáo viên Vật lí hiện nay là đánh giá và tự đánh giá Các thông tin liên quan đến toàn bộ quá trình dạy học Vật

lí cần được ghi chép đầy đủ, có hệ thống làm căn cứ cho kế hoạch nâng cao năng lực chuyên môn và phát triển kỹ năng nghề Do đó, quá trình đánh giá cải tiến (đánh giá phát triển) được coi như công đoạn cuối cùng của qui trình vòng xoáy liên tục cho bước lập kế hoạch dạy học tiếp theo

Từ những nhận định trên có thể thấy rằng phương pháp chung của việc tích cực hóa người học trong dạy học bộ môn Vật lí là quan tâm và tạo mọi điều kiện để người học trở thành chủ thể của hoạt động sáng tạo trong giờ học

Trong dạy học Vật lí để HS trở thành chủ thể của hoạt động chủ động sáng tạo trong giờ học ta cần thực hiện một số biện pháp

- Khai thác đặc thù môn Vật lí tạo ra các hình thức hoạt động đa dạng phong

phú giúp học sinh chủ động tự chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng trong giờ học

Đó là tăng cường sử dụng các thí nghiệm Vật lí, các phương tiện trực quan, các phương tiện kỹ thuật trong dạy học Vật lí, sử dụng phối hợp nhiều hình thức hoạt động của HS, nhiều phương pháp dạy học của GV nhằm giúp HS được hoạt động chủ động, tích cực, sáng tạo

Khi lựa chọn phối hợp các PPDH của GV và các hình thức hoạt động của

HS, cần chú ý lựa chọn ưu tiên các hình thức hoạt động và các PPDH thể hiện được phương pháp nhận thức đặc trưng của bộ môn Vật lí Trong trường phổ thông hiện nay những phương pháp nhận thức Vật lí phổ biến hay dùng là : phương pháp thực nghiệm, phương pháp tương tự, phương pháp mô hình, phương pháp thí nghiệm lí

Trang 31

tưởng Cần đổi mới PPDH của GV phục vụ cho việc đổi mới phương pháp học tập cho HS, làm cho HS được tự học, tự khám phá tri thức Vật lí một cách tích cực, tự phát hiện và giải quyết vấn đề

Khi sử dụng thí nghiệm Vật lí và phương tiện trực quan cần lưu ý thực hiện các yêu cầu sau đây:

+ HS phải tự quan sát, nhận xét hiện tượng thí nghiệm, mô hình, tranh ảnh hay bằng phim…

+ HS được làm thí nghiệm khi học bài mới, khi ôn tập củng cố, tự lắp ráp

Có thể thực hiện bằng nhiều cách sau đây:

+ Giảm thuyết trình của GV xuống 40 – 50% của thời gian tiết học Tăng thời gian đàm thoại (vấn đáp) giữa thầy và trò, trong đó ưu tiên sử dụng phương pháp đàm thoại phát hiện Tập luyện cho HS được thảo luận, tranh luận

+ Khi HS tự nghiên cứu SGK tại lớp, cần yêu cầu HS trả lời những câu hỏi

có tính chất tổng hợp đòi HS phải so sánh khái quát hóa, suy luận nhằm khắc sâu và vận dụng kiến thức sáng tạo Cần nêu những câu hỏi yêu cầu HS phải gia công thêm

mà không chỉ chép (đọc) nguyên từ SGK

+ Dành thời gian thích đáng để chỉ dẫn uốn nắn phương pháp học (trong đó

có phương pháp tự học) của HS trên cơ sở luyện tập cho HS được trình bày về phương pháp tiếp cận vấn đề và vận dụng tổng hợp, sáng tạo kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề trong học tập và trong thực tiễn

+ Tăng mức độ hoạt động trí lực chủ động, tích cực, sáng tạo của HS

Có thể thực hiện bằng nhiều cách:

+ Thường xuyên sử dụng tổ hợp PPDH phức hợp – dạy học giải quyết vấn

đề, dạy cho HS giải quyết các vấn đề học tập (bài toán nhận thức) và các vấn đề có liên quan đến thực tiễn từ thấp đến cao

Trang 32

Tổ hợp PPDH phức hợp - giải quyết vấn đề gồm hai khâu quan trọng: tạo tình huống có vấn đề và dạy HS giải quyết vấn đề Nhiều sách lí luận dạy học Vật lí trước đây thường chỉ đề cập đến khâu thứ nhất là tạo tình huống có vấn đề mà ít đề cập đến khâu thứ hai Để đạt được tính hiệu quả trong dạy học Vật lí việc hình thành và phát triển các kĩ năng giải quyết vấn đề cần đặt lên hàng đầu và nên triển khai theo các bước như sau

 Phát biểu vấn đề

 Xác định phương hướng giải quyết Đề xuất giả thuyết

 Lập kế hoạch giải theo giả thuyết

 Thực hiện kế hoạch giải

 Đánh giá việc thực hiện kế hoạch giải Với mỗi giả thuyết thực hiện một

kế hoạch giải và đánh giá

 Nếu xác nhận giả thuyết là đúng thì chuyển sang bước 7

 Nếu phủ nhận giả thuyết thì quay trở lại bước 3 chọn giả thuyết khác

 Kết luận về lời giải, GV chỉnh lý, bổ sung và chỉ ra kiến thức cần lĩnh hội

 Kiểm tra lại và ứng dụng các kiến thức vừa thu được

- Tăng cường sử dụng các bài tập (câu hỏi) và bài toán đòi hỏi HS phải suy

luận, sáng tạo, trong đó có những bài tập HS phải sử dụng hình vẽ

Tăng cường đổi mới công tác kiểm tra đánh giá nhằm đánh giá cao và ngày càng cao những biểu hiện chủ động sáng tạo của HS và đánh giá kiến thức cao về thí nghiệm Vật lí, kỹ năng thực hành cũng như kỹ năng biết vận dụng sáng tạo kiến thức để giải quyết các vấn đề có liên quan đến thực tiễn

- Sử dụng phương tiện kỹ thuật dạy học đặc biệt là CNTT trong dạy học

Vật lí

Các phương tiện kỹ thuật dạy học bao gồm các phương tiện nghe nhìn và các máy móc dạy học, trong đó các phương tiện nghe nhìn chiếm vị trí quan trọng nhất Các phương tiện nghe nhìn này lại bao gồm:

Các giá mang thông tin (bản trong, phim, băng từ âm – hình, đĩa ghi âm…)

Trang 33

Các máy móc chuyển tải thông tin ghi ở các giá mang thông tin như đèn chiếu, máy chiếu phim, rađio, catset, ti vi, máy vi tính…

1.3 Ứng dụng CNTT trong dạy học Vật lí

1.3.1 Giáo dục và công nghệ

Công nghệ có nghĩa đơn giản là kỹ thuật hoặc công cụ và những phương pháp có thể áp dụng được để giải quyết các vấn đề cụ thể hoặc thực hiện một mục tiêu nhất định

Hiểu được như thế thì ngôn ngữ và sách vở là những dạng công nghệ đã được sử dụng từ rất lâu trong lịch sử của nhân loại Đầu tiên là ngôn ngữ, một công

cụ rất mạnh giúp cho kiến thức tích lũy có thể được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Hàng ngàn năm sau đó xuất hiện chữ viết, cho phép các suy nghĩ và ý tưởng

có thể truyền thụ vượt qua mọi giới hạn về thời gian Tiếp theo là kỹ thuật in ấn cho phép tốc độ và số lượng thông tin được chuyển giao tăng vọt Suốt một thời gian dài công cụ giảng dạy chủ yếu là sách và tập vở

Cuối thế kỉ XX, các phát minh về máy tính, video, công nghệ thông tin và truyền thông đã và đang có những tác động mạnh trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: giáo dục, khoa học, giải trí…Các phương tiện truyền thông cùng với hệ thống mạng toàn cầu internet đã và đang làm thay đổi cách con người tiếp cận tri thức: không chỉ đọc để biết, mà còn nghe, thấy, cảm nhận sự kiện ở xa như đang diễn ra trước mắt Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ trong thập niên cuối thế

kỉ XX đến nay đã tạo ra một khối lượng thông tin khổng lồ, chính vì thế khả năng thu nhận và xử lý thông tin một cách chính xác và nhanh chóng là một yêu cầu hết sức quan trọng Như vậy những tiêu chí đào tạo trong xã hội cần phải được thay đổi: cần phải thay khả năng ghi nhớ bằng khả năng tìm kiếm, thu nhận và xử lí thông tin để đạt tới một mục tiêu đặt ra

Hiện nay tất cả mọi người đều công nhận rằng HS phải tiếp cận được máy vi tính, video và các công nghệ hiện đại khác, công nghệ này là cần thiết vì khả năng

sử dụng chúng là đặc điểm thiết yếu cho việc chuẩn bị nghề nghiệp của HS

Trang 34

1.3.2 Vai trò của CNTT trong dạy học Vật lí

Vai trò của CNTT trong dạy học đã thật sự trao quyền chủ động cho HS và thay đổi cả PPDH của GV Từ vai trò quyết định trong việc học hiện nay người thầy chuyển sang giữ vai trò điều khiển (theo kiểu dạy học lấy HS làm trung tâm) Kiểu dạy học hướng vào HS và hoạt động hóa người học có thể thực hiện được một cách tốt hơn với sự giúp đỡ của máy tính và mạng internet Với các chương trình dạy học đa môi trường (mutilmedia) và được chuẩn bị chu đáo có thể truy cập được nhờ các phương tiện siêu môi trường (hypermedia) giúp cho việc tự học của HS dễ dàng hơn

Đối với ngành Vật lí, ứng dụng CNTT trong dạy học sẽ là một bước chuyển trong qúa trình đổi mới nội dung và PPDH Cụ thể là:

- CNTT là một công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc xây dựng các kiến thức mới

- CNTT tạo môi trường để khám phá kiến thức nhằm hỗ trợ cho quá trình học tập

- CNTT tạo môi trường để hỗ trợ học tập qua thực hành, qua cộng đồng và qua phản ánh

- CNTT giúp cho việc đánh giá định tính và định lượng Vật lí chính xác, công bằng hơn

Nhờ các công cụ đa dạng của máy tính như: văn bản (text), đồ họa (graphic), hình ảnh (image), âm thanh (sound) … GV sẽ xây dựng bài học một cách sinh động, thu hút sự chú ý của HS Có thể sử dụng phối hợp nhiều PPDH như: dạy học nêu vấn đề, dạy học tạo tình hống… Qua đó giúp cho HS thật sự tích cực chủ động học tập

1.3.3 Khai thác và sử dụng một số phần mềm để dạy học môn Vật lí

Phần mềm Vật lí có thể kể đến sau đây: Phần mềm Crocodile Physics là phần mềm được dùng để thiết kế các thí nghiệm ảo môn Vật lítrong nnhaf trường phổ thông; PAKMA là một phần mềm chuyên dụng cho bộ môn Vật lí phần mềm eXe

để tập huấn giúp giáo viên thiết kế nội dung học tập môn Vật lí; Working Model để thiết kế thí nghiệm mô phỏng Vật lí…

Trang 35

Các đĩa CD về thí nghiệm Vật lí, các mô hình, các câu hỏi trắc nghiệm tự kiểm tra … Xu hướng chung của thế giới hiện nay là làm thế nào cho các phần mềm

dễ sử dụng như dùng các đĩa CD âm nhạc, phim, phim hoạt hình, trò chơi điện tử, tất nhiên người đọc phải biết tiếng Anh và biết sử dụng vi tính ở mức độ tối thiểu nào đó

Phần mềm dạy học có thể hiểu là các phần mềm dùng cho việc dạy và học trên máy vi tính (có thể nối mạng LAN, WAN, và WWW), phần mềm dạy học Vật

- Biểu diễn các mô hình để xây dựng các khái niệm trừu tượng

- Thực hiện các thí nghiệm mô phỏng trên máy

- Xem các thí nghiệm thực hiện trên đĩa

Sử dụng phần mềm trong giảng dạy là công cụ không thể thiếu được trong công nghệ giáo dục nhằm phát huy khả năng sáng tạo của học sinh Xu hướng học tập và giảng dạy đó đang được phổ biến ở các nước tiên tiến Tuy nhiên phần mềm dạy học không thể thay thế được vai trò của người thầy, SGK, các giáo trình, các công cụ dạy học khác Các thí nghiệm mô phỏng và các thí nghiệm ảo không thể thay thế được các thí nghiệm thật ở các phòng thí nghiệm dù là còn thô sơ Việc sử dụng phần mềm trong giảng dạy là một hướng nghiên cứu còn mới mẻ cần được quan tâm nghiên cứu để tiếp tục phát triển

1.3.4 Ưu điểm và hạn chế của việc ứng dụng CNTT trong dạy học Vật lí

1.3.4.1 Ưu điểm

- Là công cụ đắc lực, hỗ trợ cho việc xây dựng kiến thức

- Giúp HS dễ hiểu bài, hiểu một cách sâu sắc hơn và nhớ bài lâu hơn do việc thu nhận thông tin từ các sự vật hiện tượng một cách sinh động, chính xác đầy đủ từ

đó nâng cao hứng thú học tập, nâng cao lòng tin của học sinh vào khoa học

- Giúp HS tiếp cận và làm việc với các khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại

Trang 36

- Giúp cho bài học của HS thêm sinh động, phong phú, hấp dẫn đối với HS

- Giúp tiết kiệm thời gian trong mỗi tiết học

- Giải phóng được người thầy khỏi khối lượng công việc tay chân, do đó làm tăng khả năng nâng cao chất lượng dạy học

Đặc biệt nếu áp dụng hình thức đào tạo điện tử (E-Learning) sẽ đáp ứng được mọi tiêu chí : Hình thức đào tạo đa dạng, học mọi nơi, học mọi lúc, học mọi thứ và học mềm dẻo, học một cách mở, học suốt đời và tiết kiệm chi phí cho cả người dạy lẫn người học Bởi đặc điểm của E-Learning là hệ thống giảng bài và tài liệu học tập được ghi dưới dạng số hóa, được đặc trưng bởi tính đa dạng và siêu phương tiện, có sự tương tác giữa người học, hệ thống dạy học và người dạy

Với các lý do nêu trên, việc ứng dụng CNTT trong dạy học Vật lí sẽ tạo ra một bước chuyển cơ bản trong quá trình đổi mới nội dung chương trình và PPDH

1.3.4.2 Hạn chế

Tuy nhiên, không thể nói việc ứng dụng CNTT trong dạy học Vật lí không

có những hạn chế Có thể nêu một số hạn chế thường gặp như sau:

- Chi phí đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất lớn

- Đòi hỏi đội ngũ GV và HS phải có trình độ tin học, ngoại ngữ nhất là tiếng Anh ở mức độ nhất định

- Khi sử dụng máy tính điện tử, người ta dễ đánh mất cảm giác chân thực thiếu đi những cảm xúc, xúc giác và ấn tượng thực Do đó CNTT chỉ hỗ trợ chứ không thay thế được các thí nghiệm thực hành

Việc sử dụng CNTT tự phát đã tạo ra nhiều bài giảng chỉ đơn thuần là đưa nội dung bài học trong sách giáo khoa sang văn bản bảng điện tử với màu sắc sỡ, đồ họa vui nhộn Và người GV dùng máy tính để dạy học cần phải biết chắc rằng, mình thiết kế cái gì, mình trình bày cái gì trước, cái gì sau Nếu không chú ý có thể làm lộ thông tin mà đáng lẽ HS phải là người khám phá và phát hiện

Như vậy, ta có thể khẳng định rằng “Đổi mới phương pháp dạy học Vật lí bằng CNTT là xu thế của thời đại ngày nay ” Tuy nhiên việc ứng dụng làm sao để khai thác hợp lí và hiệu quả CNTT vào dạy học nói chung và dạy học Vật lí nói riêng lại cần phải có những nghiên cứu cụ thể và nghiêm túc

Trang 37

1.4 Giới thiệu về E-Learning

Nền kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn kinh tế tri thức Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục, đào tạo sẽ là nhân tố sống còn quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia, công ty, gia đình và cá nhân Hơn nữa, việc học tập không chỉ bó gọn trong việc học phổ thông, học đại học mà là học suốt đời E-learning chính là một giải pháp hữu hiệu giải quyết vấn đề này

E-learning là một thuật ngữ thu hút được sự quan tâm, chú ý của rất nhiều người hiện nay Tuy nhiên, mỗi người hiểu theo một cách khác nhau và dùng trong các ngữ cảnh khác nhau Do đó, chúng ta sẽ tìm hiểu các khía cạnh khác nhau của E-learning Điều này sẽ đặc biệt có ích cho những người mới tham gia tìm hiểu lĩnh vực này

1.4.1 Khái niệm E-learning

E-learning (viết tắt của Electronic Learning) là thuật ngữ mới Hiện nay, theo các quan điểm và dưới các hình thức khác nhau có rất nhiều cách hiểu về E-learning Theo quan điểm hiện đại, E-learning là sự phân phát các nội dung học sử dụng các công cụ điện tử hiện đại như máy tính, mạng vệ tinh, mang Internet … trong đó nội dung học có thể thu được từ các website, đĩa CD, băng video, audio… thông qua một máy tính hay TV; người dạy và người học có thể giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức như: e-mail, thảo luận trực tuyến (chat), diễn đàn (forum), hội thảo video…

1.4.2 Một số hình thức E-learning

Có một số hình thức đào tạo bằng E-learning, cụ thể như sau:

- Đào tạo dựa trên công nghệ (TBT - Technology-Based Training) là hình thức đào tạo có sự áp dụng công nghệ, đặc biệt là dựa trên công nghệ thông tin

- Đào tạo dựa trên máy tính (CBT - Computer-Based Training) Hiểu theo nghĩa rộng, thuật ngữ này nói đến bất kỳ một hình thức đào tạo nào có sử dụng máy tính Nhưng thông thường thuật ngữ này được hiểu theo nghĩa hẹp để nói đến các ứng dụng (phần mềm) đào tạo trên các đĩa CD-ROM hoặc cài trên các máy tính độc lập, không nối mạng, không có giao tiếp với thế giới bên ngoài Thuật ngữ này được hiểu đồng nhất với thuật ngữ CD-ROM Based Training

Trang 38

- Đào tạo dựa trên web (WBT - Web-Based Training): là hình thức đào tạo

sử dụng công nghệ web Nội dung học, các thông tin quản lý khoá học, thông tin về người học được lưu trữ trên máy chủ và người dùng có thể dễ dàng truy nhập thông qua trình duyệt Web Người học có thể giao tiếp với nhau và với giáo viên, sử dụng các chức năng trao đổi trực tiếp, diễn đàn, e-mail thậm chí có thể nghe được giọng nói và nhìn thấy hình ảnh của người giao tiếp với mình

- Đào tạo trực tuyến (Online Learning/Training): là hình thức đào tạo có sử dụng kết nối mạng để thực hiện việc học: lấy tài liệu học, giao tiếp giữa HS với nhau và với GV

- Đào tạo từ xa (Distance Learning): Thuật ngữ này nói đến hình thức đào tạo trong đó người dạy và người học không ở cùng một chỗ, thậm chí không cùng một thời điểm

1.4.3 Tình hình phát triển và ứng dụng E-learning trên thế giới

E-learning phát triển không đồng đều tại các khu vực trên thế giới E-learning phát triển mạnh nhất ở khu vực Bắc Mỹ Ở châu Âu E-learning cũng rất có triển vọng, trong khi đó châu Á lại là khu vực ứng dụng công nghệ này ít hơn Trong những gần đây, châu Âu đã có một thái độ tích cực đối với việc phát triển công nghệ thông tin cũng như ứng dụng nó trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, đặc biệt là ứng dụng trong hệ thống giáo dục Các nước trong Cộng đồng châu Âu đều nhận thức được tiềm năng to lớn mà công nghệ thông tin mang lại trong việc mở rộng phạm vi, làm phong phú thêm nội dung và nâng cao chất lượng của nền giáo dục

Tại Mỹ, dạy và học điện tử đã nhận được sự ủng hộ và các chính sách trợ giúp của Chính phủ ngay từ cuối những năm 90 Theo số liệu thống kê của Hội Phát triển và Đào tạo Mỹ (American Society for Training and Development, ASTD), năm 2000 Mỹ có gần 47% các trường đại học, cao đẳng đã đưa ra các dạng khác nhau của mô hình đào tạo từ xa, tạo nên 54.000 khoá học trực tuyến Năm 2000 là năm bùng nổ các khóa đào tạo trực tuyến và số lượng sinh viên tham gia Đại học Stanford hiện tại đã có hơn 50 chương trình đào tạo trực tuyến khác nhau, hầu hết là trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật

Trang 39

Tài liệu nghiên cứu tình hình học và đào tạo trực tuyến ở Mỹ năm 2006

“Making the Grade, Online Education in the United States” của tổ chức Sloan

Consortium cho biết số lượng sinh viên Mỹ tham gia ít nhất một khoá học trực

tuyến tăng từ 1.602.907 người năm 2002 lên đến 3.488.381 năm 2006, tăng hơn

117,6% Theo các chuyên gia phân tích của công ty Dữ liệu quốc tế (International

Data Corporation, IDC), cuối năm 2004 có khoảng 90% các trường đại học, cao

đẳng Mỹ đưa ra mô hình e-learning, số người tham gia học tăng 33% hàng năm

trong khoảng thời gian từ 1999 – 2004

Tại châu Á, E-learning vẫn đang ở trong tình trạng sơ khai, chưa có nhiều

thành công Tuy nhiên, các quốc gia châu Á đang dần dần phải thừa nhận tiềm năng

không thể chối cãi mà E-learning mang lại Một số quốc gia, đặc biệt là các nước có

nền kinh tế phát triển hơn tại châu Á cũng đang có những nỗ lực phát triển E-learning tại đất nước mình như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan,Trung

Quốc,

1.4.4 Tình hình phát triển và ứng dụng E-learning ở Việt Nam

Vào khoảng năm 2002 trở về trước, các tài liệu nghiên cứu, tìm hiểu về E-learning ở Việt Nam không nhiều Trong hai năm 2003-2004, việc nghiên cứu E-learning ở Việt Nam đã được nhiều đơn vị quan tâm hơn Gần đây các hội nghị,

hội thảo về công nghệ thông tin và giáo dục đều có đề cập nhiều đến vấn đề E-learning và khả năng áp dụng vào môi trường đào tạo ở Việt Nam như: Hội thảo

nâng cao chất lượng đào tạo ĐHQGHN năm 2000, Hội nghị giáo dục đại học năm

2001 và gần đây là Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về nghiên cứu phát triển

và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT/rda 2/2003, Hội thảo khoa

học quốc gia lần II về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và

truyền thông ICT/rda 9/2004, và hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-learning” do Viện Công nghệ Thông tin (ĐHQGHN) và Khoa Công nghệ Thông

tin (Đại học Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa

học về E-learning đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam

Các trường đại học ở Việt Nam cũng bước đầu nghiên cứu và triển khai E-learning Một số đơn vị đã bước đầu triển khai các phần mềm hỗ trợ đào tạo và

Trang 40

cho các kết quả khả quan: Đại học Công nghệ - ĐHQGHN, Viện CNTT - ĐHQGHN, Đại học Bách Khoa Hà Nội, ĐHQG TP HCM, Học viện Bưu chính Viễn thông…

Việt Nam đã gia nhập mạng E-learning châu Á (Asia E-learning Network - AEN, www.asia-elearning.net) với sự tham gia của Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Khoa học - Công nghệ, trường Đại học Bách Khoa, Bộ Bưu chính Viễn Thông

Điều này cho thấy tình hình nghiên cứu và ứng dụng loại hình đào tạo này đang được quan tâm ở Việt Nam Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực E-learning ở Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu còn nhiều việc phải làm mới tiến kịp các nước

1.5 Cơ sở lí thuyết về E-Book

1.5.1 Khái niệm về E-book

E-book là từ viết tắt của electronic book (E - book) Hiểu theo cách đơn giản nhất, E - book (E-books hay digital books) là phiên bản dạng số ( hay điện tử) của sách Nội dung của sách số có thể lấy từ sách giấy hoặc nội dung độc lập tùy theo người biên soạn Một số người còn dùng thuật ngữ này để chỉ luôn cả thiết bị dùng

để đọc sách dạng số ( còn gọi là book – reading appliances hay E-book readers)

Giống như E – mail ( thư điện tử) E-book có thể dùng các công cụ máy tính như máy vi tính, máy trợ giúp kĩ thuật số cá nhân để xem

- Sách điện tử cũng có những “định dạng” khác nhau Nói một cách dễ hiểu

là sách có nhiều tập tin mở rộng như PDF, PRC, CHM v.v… Những tập tin này sở

dĩ khác nhau là vì chúng được làm từ những chương trình khác nhau và vì thế, muốn đọc được chúng, bạn cần phải có những chương trình tương ứng

- Một số ví dụ về e-Book:

• E-Book có thể là một cuốn tiểu thuyết 400 trang với nhiều tranh ảnh minh hoạ hay một truyện ngắn

• E-Book có thể là một cuốn sổ tay đào tạo nhân sự trong doanh nghiệp

• Là một cuốn sách chuyên ngành, giải quyết một tình huống cụ thể nào đó

• E-Book có thể là một CD-ROM đa năng có đầy đủ âm thanh, hình ảnh và video clips

Ngày đăng: 30/03/2015, 15:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tôn Tích Ái. Phần mềm toán cho kĩ sư. NXB ĐHQG Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phần mềm toán cho kĩ sư
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
2. GS.Dương Trọng Bái. Chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi Vật lí trung học phổ thông tập 1: Cơ học. NXB Giáo dục, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi Vật lí trung học phổ thông tập 1: Cơ học
Nhà XB: NXB Giáo dục
3. Lương Duyên Bình – Dư Trí Công- Nguyễn Hữu Hồ. Vật lí đại cương tập 2: Điện-Dao động- Sóng. NXB Giáo dục, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lí đại cương tập 2: Điện-Dao động- Sóng
Tác giả: Lương Duyên Bình, Dư Trí Công, Nguyễn Hữu Hồ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1994
4. Lương Duyên Bình (chủ biên)- Nguyễn Hữu Hồ-Lê Văn Nghĩa- Nguyễn Quang Sính. Bài tập Vật lí đại cương tập 2: Điện-Dao động- Sóng. NXB Giáo dục, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập Vật lí đại cương tập 2: Điện-Dao động- Sóng
Tác giả: Lương Duyên Bình, Nguyễn Hữu Hồ, Lê Văn Nghĩa, Nguyễn Quang Sính
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
5. Lương Duyên Bình(Tổng chủ biên)- Vũ Quang(Chủ biên)-Nguyễn Thƣợng Chung-Tô Giang-Trần Chí Minh-Ngô Quốc Quýnh. Vật lí 12.NXB Giáo dục, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lí 12
Nhà XB: NXB Giáo dục
6. Lương Duyên Bình(Tổng chủ biên)- Vũ Quang(Chủ biên)-Nguyễn Thƣợng Chung-Tô Giang-Trần Chí Minh-Ngô Quốc Quýnh. Vật lí 12- Sách giáo viên. NXB Giáo dục, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lí 12-Sách giáo viên
Nhà XB: NXB Giáo dục
7. Tôn Quang Cường.Tài liệu tập huấn dành cho giáo viên các trường THPT chuyên. Tài liệu tập huấn Đại học Giáo dục ĐHQGHN,2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn dành cho giáo viên các trường THPT chuyên
8. Hồ Ngọc Đại. Tâm lí học dạy học. NXB Giáo dục,1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học dạy học
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1993
9. Vũ Cao Đàm. Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học. NXB Giáo dục, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Nhà XB: NXB Giáo dục
10. Nguyễn Văn Đồng (chủ biên). Phương pháp giảng dạy Vật lí ở trường phổ thông, tập 1 và tập 2. NXB Giáo dục, 1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giảng dạy Vật lí ở trường phổ thông, tập 1 và tập 2
Nhà XB: NXB Giáo dục
11. Nguyễn Kế Hào. Dạy học lấy học sinh làm trung tâm. Tạp chí nghiên cứu giáo dục số 6/1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Tác giả: Nguyễn Kế Hào
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu giáo dục
Năm: 1994
12. Bùi Quang Hân. Giải toán Vật lí 12 tập 1: Dao động và sóng cơ học (dùng cho học sinh các lớp chuyên). NXB Giáo dục, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải toán Vật lí 12 tập 1: Dao động và sóng cơ học (dùng cho học sinh các lớp chuyên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
13. TS. Nguyễn Thị Phương Hoa. Lí luận dạy học hiện đại. Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học hiện đại
Tác giả: TS. Nguyễn Thị Phương Hoa
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2008
14. Nguyễn Thế Khôi (Tổng chủ biên)-Vũ Thanh Khiết(Chủ biên) Nguyễn Đức Hiệp- Nguyễn Ngọc Hƣng- Nguyễn Đức Thâm- Vũ Đình Túy-Phạm Quý Tƣ. Vật lí 12 nâng cao. NXB Giáo dục, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lí 12 nâng cao
Nhà XB: NXB Giáo dục
15. Nguyễn Thế Khôi- Vũ Thanh Khiết (Đồng chủ biên)- Nguyễn Đức Hiệp- Nguyễn Ngọc Hƣng- Nguyễn Đức Thâm- Vũ Đình Túy-Phạm Quý Tƣ.Bài tập Vật lí 12 nâng cao. NXB Giáo dục, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập Vật lí 12 nâng cao
Tác giả: Nguyễn Thế Khôi, Vũ Thanh Khiết, Nguyễn Đức Hiệp, Nguyễn Ngọc Hƣng, Nguyễn Đức Thâm, Vũ Đình Túy, Phạm Quý Tƣ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
16. Lê Nguyên Long. Thử đi tìm những phương pháp dạy học hiệu quả. NXB Giáo dục, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử đi tìm những phương pháp dạy học hiệu quả
Nhà XB: NXB Giáo dục
17. Lê Nguyên Long (chủ biên). Giải toán Vật lí trung học phổ thông-Một số phương pháp, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ). Giải toán Vật lí trung học phổ thông
19. PGS.TS. Lê Đức Ngọc. Bài giảng Đo lường và đánh giá thành quả học tập trong giáo dục, Hà Nội 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: PGS.TS. Lê Đức Ngọc
20. Vũ Quang. Những phương pháp nhận thức trong bộ môn Vật lí ở nhà trường phổ thông. Viện Khoa học giáo dục, tư liệu Vật lí số 2/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phương pháp nhận thức trong bộ môn Vật lí ở nhà trường phổ thông
21. Tống Đình Quỳ. Giáo trình xác xuất thống kê. NXB Giáo dục, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình xác xuất thống kê
Nhà XB: NXB Giáo dục

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức dạy học khác nhau mang dấu ấn cá nhân của giáo viên (trong từng trường  hợp dạy học cụ thể) - Thiết kế sách điện tử (E-BOOK) chương dao động cơ  chương  sóng cơ và sóng âm (chương trình vật lí 12 trung học phổ thông) theo hướng tăng cường năng lực tự học
Hình th ức dạy học khác nhau mang dấu ấn cá nhân của giáo viên (trong từng trường hợp dạy học cụ thể) (Trang 16)
Hình thành  kiến thức  mới  Củng cố - Thiết kế sách điện tử (E-BOOK) chương dao động cơ  chương  sóng cơ và sóng âm (chương trình vật lí 12 trung học phổ thông) theo hướng tăng cường năng lực tự học
Hình th ành kiến thức mới Củng cố (Trang 19)
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ phân loại bài tập Vật lí - Thiết kế sách điện tử (E-BOOK) chương dao động cơ  chương  sóng cơ và sóng âm (chương trình vật lí 12 trung học phổ thông) theo hướng tăng cường năng lực tự học
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ phân loại bài tập Vật lí (Trang 20)
Bảng 3.2: Đánh giá của GV về giờ học có sử dụng máy vi tính và các phần  mềm dạy học - Thiết kế sách điện tử (E-BOOK) chương dao động cơ  chương  sóng cơ và sóng âm (chương trình vật lí 12 trung học phổ thông) theo hướng tăng cường năng lực tự học
Bảng 3.2 Đánh giá của GV về giờ học có sử dụng máy vi tính và các phần mềm dạy học (Trang 102)
Bảng 3.3. Bảng  thống kê điểm số  ( lớp 12A,12B trường THPT chuyên Lê Hồng Phong) - Thiết kế sách điện tử (E-BOOK) chương dao động cơ  chương  sóng cơ và sóng âm (chương trình vật lí 12 trung học phổ thông) theo hướng tăng cường năng lực tự học
Bảng 3.3. Bảng thống kê điểm số ( lớp 12A,12B trường THPT chuyên Lê Hồng Phong) (Trang 104)
Bảng 3.4.  Xử lí kết quả  (lớp 12A,12B trường THPT chuyên Lê Hồng Phong) - Thiết kế sách điện tử (E-BOOK) chương dao động cơ  chương  sóng cơ và sóng âm (chương trình vật lí 12 trung học phổ thông) theo hướng tăng cường năng lực tự học
Bảng 3.4. Xử lí kết quả (lớp 12A,12B trường THPT chuyên Lê Hồng Phong) (Trang 104)
Bảng 3.6. Bảng tần suất và tần suất tích luỹ   (lớp 12A,12B  trường THPT chuyên Lê Hồng Phong) - Thiết kế sách điện tử (E-BOOK) chương dao động cơ  chương  sóng cơ và sóng âm (chương trình vật lí 12 trung học phổ thông) theo hướng tăng cường năng lực tự học
Bảng 3.6. Bảng tần suất và tần suất tích luỹ (lớp 12A,12B trường THPT chuyên Lê Hồng Phong) (Trang 105)
Hình  3.2 : Đ-ờng phân bố tần suất tích luỹ (hội tụ lùi  i ( ) %) - Thiết kế sách điện tử (E-BOOK) chương dao động cơ  chương  sóng cơ và sóng âm (chương trình vật lí 12 trung học phổ thông) theo hướng tăng cường năng lực tự học
nh 3.2 : Đ-ờng phân bố tần suất tích luỹ (hội tụ lùi  i ( ) %) (Trang 106)
Bảng 3.8. Xử lí kết quả  (lớp 12A 1 ,12A 2  trường THPT Trần Hưng Đạo) - Thiết kế sách điện tử (E-BOOK) chương dao động cơ  chương  sóng cơ và sóng âm (chương trình vật lí 12 trung học phổ thông) theo hướng tăng cường năng lực tự học
Bảng 3.8. Xử lí kết quả (lớp 12A 1 ,12A 2 trường THPT Trần Hưng Đạo) (Trang 108)
Bảng 3.7. Bảng  thống kê điểm số  (lớp 12A 1 ,12A 2  trường THPT Trần Hưng Đạo) - Thiết kế sách điện tử (E-BOOK) chương dao động cơ  chương  sóng cơ và sóng âm (chương trình vật lí 12 trung học phổ thông) theo hướng tăng cường năng lực tự học
Bảng 3.7. Bảng thống kê điểm số (lớp 12A 1 ,12A 2 trường THPT Trần Hưng Đạo) (Trang 108)
Bảng 3.10. Bảng tần suất và tần suất tích luỹ   (lớp 12A 1 ,12A 2  trường THPT Trần Hưng Đạo) - Thiết kế sách điện tử (E-BOOK) chương dao động cơ  chương  sóng cơ và sóng âm (chương trình vật lí 12 trung học phổ thông) theo hướng tăng cường năng lực tự học
Bảng 3.10. Bảng tần suất và tần suất tích luỹ (lớp 12A 1 ,12A 2 trường THPT Trần Hưng Đạo) (Trang 109)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w