1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rèn luyện tư duy văn học cho học sinh trung học phổ thông bằng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao (sách giáo khoa ngữ

98 1,4K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp với đề tài "Rèn luyện tư duy văn học cho học sinh Trung Học Phổ Thông bằng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng trong dạy tác phẩm "Chí Phèo" của

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

VŨ THỊ MẬN

RÈN LUYỆN TƯ DUY VĂN HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BẰNG CÂU HỎI LIÊN TƯỞNG, TƯỞNG TƯỢNG TRONG DẠY HỌC TÁC PHẨM "CHÍ PHÈO" CỦA NAM CAO

(SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 11 BAN CƠ BẢN)

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Chuyên ngành : LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN NGỮ VĂN)

Mã số : 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học : GS.TS Nguyễn Thanh Hùng

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp với đề tài "Rèn luyện tư duy văn học

cho học sinh Trung Học Phổ Thông bằng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng trong dạy tác phẩm "Chí Phèo" của Nam Cao (Sách giáo khoa Ngữ văn 11 ban Cơ Bản), em đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ đạo rất nhiệt tình; sự quan

tâm, động viên rất lớn của GS.TS Nguyễn Thanh Hùng - người thầy trực tiếp hướng dẫn đề tài luận văn của em Em còn nhận được sự giảng dạy nhiệt tình, tâm huyết của các thầy cô giáo chuyên ngành Lí luận và phương pháp giảng dạy Ngữ Văn - Trường Đại Học Giáo Dục - Đại học Quốc Gia Hà Nội Sự giảng dạy của các thầy cô đã cung cấp cho em có phương pháp tư duy, lý luận khoa học, cũng như những kiến thức bổ ích giúp em vận dụng vào đề tài luận văn

Qua đây em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc, chân thành tới GS.TS Nguyễn Thanh Hùng cùng các thầy cô giáo chuyên ngành Lí luận và phương pháp giảng dạy Ngữ Văn - Trường Đại Học Giáo dục - Đại học Quốc Gia Hà Nội

Hà Nội, tháng 11 năm 2010

Tác giả

Vũ Thị Mận

Trang 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1 SGK: Sách giáo khoa

2 THPT: Trung học phổ thông

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12

5 Đóng góp mới của luận văn 12

6 Phương pháp nghiên cứu 12

7 Cấu trúc của luận văn 13

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 14

1.1 Tư duy văn học 14

1.1.1 Tư duy 14

1.1.2 Tư duy văn học 18

1.2 Rèn luyện tư duy văn học bằng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng 29

1.2.1 Liên tưởng, tưởng tượng 29

1.2.2 Các loại câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm văn chương 38

1.2.3.Những điều cần lưu ý khi giáo viên xây dựng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm văn chương 41

1.2.4 Những điều cần lưu ý khi giáo viên sử dụng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng trong quá trình lên lớp 42

Chương 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN TƯ DUY VĂN HỌC CHO HỌC SINH THPT BẰNG CÂU HỎI LIÊN TƯỞNG, TƯỞNG TƯỢNG 44

2.1 Thực tiễn tư duy văn học của học sinh THPT và vấn đề rèn luyện tư duy văn học 44

2.1.1.Thực tiễn tư duy văn học của học sinh THPT qua sự liên tưởng, tưởng tượng 44

2.2.2.Thực tiễn vấn đề rèn luyện tư duy văn học cho học sinh THPT qua sự liên tưởng, tưởng tượng 45

2.2 Thực tiễn việc sử dụng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm văn chương 46

2.3 Đánh giá chung về thực tiễn 47

Trang 5

2.3.1 Ưu điểm 47

2.3.2 Nhược điểm 47

2.3.3 Nguyên nhân của tình trạng trên 48

2.3.4 Cách khắc phục 49

Chương 3: THIẾT KẾ VÀ THỂ NGHIỆM DẠY HỌC TÁC PHẨM

"CHÍ PHÈO" CỦA NAM CAO 51

3.1 Thiết kế giáo án thể nghiệm 51

3.1.1 Mục đích thiết kế 51

3.1.2 Nội dung thiết kế 51

3.1.3 Ý nghĩa giáo án thể nghiệm 51

3.1.4 Hình thức đánh giá thiết kế giáo án thể nghiệm 51

3.1.5 Thiết kế giáo án thể nghiệm 52

3.1.6 Tự đánh giá thiết kế thể nghiệm 79

3.2 Thể nghiệm sư phạm 80

3.2.1 Mục đích, ý nghĩa của thể nghiệm sư phạm 80

3.2.2 Đối tượng và địa bàn thể nghiệm 80

3.3.3 Phương pháp tiến hành thể nghiệm 80

3.3.4 Nội dung thể nghiệm 81

3.3.5 Đánh giá kết quả thể nghiệm 81

3.3.6 Kết luận chung về quá trình thể nghiệm 82

KẾT LUẬN 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Từ việc đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học hướng đến tư duy học sinh

Cuộc cách mạng khoa học công nghệ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, làm nền tảng cho sự phát triển kinh tế tri thức Thế giới đang hướng tới cuộc cách mạng công nghiệp, lấy tri thức làm động lực phát triển Sự phát triển của khoa học công nghệ đã làm thay đổi sâu sắc nội dung phương pháp giáo dục trong các nhà trường, đồng thời đòi hỏi giáo dục phải cung cấp được nguồn nhân lực có trình độ cao Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có

ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước Giáo dục ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Chính vì vậy,việc đổi mới mạnh mẽ trong giáo dục Việt Nam đã giành được sự quan tâm đặc biệt của Đảng, nhà nước, các ban ngành, các nhà nghiên cứu, các nhà sư phạm.Và trong việc đổi mới phương pháp giáo dục, mục đích rèn luyện tư duy học sinh đều được đề cập đến Trong Luật Giáo Dục của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua

ngày 14 tháng 06 năm 2005 tại Điều 5 nêu rõ “ Phương pháp giáo dục phải

phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên"[1,tr 19] Trong văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc

lần thứ X của Đảng cũng nêu " Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo

dục, phát huy tính tích cực, sáng tạo ở người học, khắc phục lối truyền thụ một chiều" [12,tr 97] Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2009-2020 của

Bộ Giáo Dục- Đào Tạo có quan điểm chỉ đạo “ Giáo dục và đào tạo phải góp

phần tạo nên một thế hệ người lao động có tri thức, có đạo đức có bản lĩnh

Trang 7

trung thực, có tư duy phê phán, sáng tạo, có kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết vấn đề và kỹ năng làm việc hiệu quả trong môi trường toàn cầu hoá vừa hợp tác vừa cạnh tranh Điều này đòi hỏi phải có những thay đổi căn bản về giáo dục từ nội dung, phương pháp dạy học đến việc xây dựng những môi trường giáo dục lành mạnh và thuận lợi giúp người học có thể chủ động, tích cực, kiến tạo kiến thức, phát triển kỹ năng và vận dụng những điều đã học vào cuộc sống biến quá trình học tập thành quá trình tự học có hướng dẫn và quản lý của giáo viên”.Từ quan điểm đúng đắn đến những định hướng, yêu

cầu cụ thể, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học đều hướng tới rèn luyện tư duy cho học sinh nghĩa là thông qua việc học tập, học sinh biết cách suy nghĩ,nhận thức, phát hiện và khám phá Điều này trở thành một nguồn động lực mạnh mẽ, tác động trực tiếp, làm thay đổi về chất hoạt động giáo dục trong nhà trường, trong đó có môn Ngữ Văn Giáo viên Ngữ Văn cần xác định học sinh là chủ thể thẩm mĩ trong quá trình học tập và phải hướng đến rèn luyện tư duy văn học cho học sinh đặc biệt là khi dạy học tác phẩm văn

chương M.Gorki từng kêu gọi nhà văn, nhà giáo “ Cần phải làm cho trẻ em

thấy rõ ngay từ bé mới 6,7 tuổi sức mạnh thần diệu của tư duy, phải giảng giải cho các trẻ em hiểu ý nghĩa của những hiện tượng xã hội là cho các em dần dần thấy được khả năng của chính mình” Còn thủ tướng Phạm Văn

Đồng nhắc nhở anh chị em giáo viên rằng “ Chúng ta phải xem lại cách dạy

văn trong nhà trường phổ thông chúng ta, không nên dạy như cũ bởi vì dạy như cũ thì không chỉ việc dạy văn không hay mà sự đào tạo cũng không hay

Vì vậy dứt khoát chúng ta phải có cách dạy khác, phải dạy cho học sinh biết suy nghĩ bằng trí óc của mình và diễn tả sự suy nghĩ đó theo cách của mình như thế nào cho tốt” [21, tr 396] Như vậy từ việc đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học nói chung đến đổi mới phương pháp dạy học Ngữ Văn nói riêng, vấn đề tư duy học sinh luôn được đề cập như một mục đích trong giáo dục

Trang 8

1.2.Từ mục tiêu thay đổi lại chương trình, sách giáo khoa Ngữ Văn với vấn

đề tư duy học sinh

Thực hiện Nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc Hội và chỉ thị số 14/2001/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa phổ thông, đổi mới phương pháp dạy học, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã cho triển khai biên soạn bộ chương trình và sách giáo khoa trung học phổ thông mới Việc thay sách lần này được xem như một dấu mốc quan trọng trong quá trình cải cách không ngừng của giáo dục nước nhà.Cũng từ đây quan điểm dạy học hiện đại phát huy vai trò chủ thể học sinh, phát huy được khả năng tư duy sáng tạo độc lập của học sinh đã quán xuyến, chi phối một cách toàn diện tất cả các khâu, các phương diện của quá trình dạy học Ngày 18 tháng 8 năm 2003, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã quyết định tổ chức dạy thí điểm chương trình và sách giáo khoa mới.Từ đây sách giáo khoa Ngữ Văn ra đời thay thế cho ba quyển sách Văn học, Làm văn, Tiếng Việt Đồng thời tên gọi bộ môn Ngữ Văn xuất hiện Sau đó chương trình Ngữ Văn Trung học phổ thông mới được thực hiện trên toàn quốc từ năm học 2006-2007 phản ánh những thành tựu tiên tiến của các ngành khoa học Tiếng Việt, Văn học và Làm văn những năm đầu thế kỷ XXI, phản ánh thành tựu của các ngành Tâm

lí học, Lí luận dạy học hiện đại và phản ánh quan điểm dạy học hướng vào

người học.“Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ Văn” xác định một trong những mục tiêu của môn Ngữ Văn là : “Hình thành và phát triển ở học

sinh các năng lực sử dụng tiếng Việt, tiếp nhận văn học, cảm thụ thẩm mĩ; phương pháp học tập tư duy,”[4, tr 5] Như vậy từ việc thay đổi lại sách giáo khoa, chương trình để rồi xác định mục tiêu môn Ngữ Văn thấy rõ được hơn tầm quan trọng của việc rèn luyện tư duy học sinh

Trang 9

1.3 Từ đặc trưng của tác phẩm văn học và vấn đề rèn luyện tư duy văn học

Được coi là ngành nghệ thuật “ trò diễn bằng ngôn từ”, tác phẩm văn

học thể hiện đời sống tinh thần qua hình tượng Bêlinxki, nhà phê bình Nga

nổi tiếng thế kỷ XIX viết “ Nhà triết học nói bằng phép tam đoạn luận, nhà

thơ nói bằng các hình tượng và bức tranh.” [ 14, tr.26 ] Hình tượng là

phương tiện đặc thù của tác phẩm văn học để phản ánh hiện thực khách quan,

nó là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ PGS Nguyễn Viết Chữ nhận định “ Có

thể nói rằng: hình tượng quyết định sự tồn vong của nghệ thuật văn chương.”

[8, tr 21].Và với vị trí là môn nghệ thuật thì kiểu tư duy đặc thù của môn Ngữ Văn thiên về tư duy hình tượng chứ không phải kiểu tư duy lôgic Vậy khi đứng trước một tác phẩm giàu hình tượng học sinh có muôn hình vạn trạng cách cảm nhận, suy nghĩ , phát hiện, khám phá nghĩa là có sự tư duy văn học khác nhau Điều quan trọng là giáo viên Ngữ Văn cần phải biết đọc hình tượng, nói hình tượng để rèn cho học sinh nghe hình tượng, nói hình tượng, viết hình tượng, nghĩa là rèn cho học sinh biết tư duy văn học góp phần khám phá giá trị tác phẩm một cách đúng đắn Mặt khác lí luận văn học hiện đại đã chỉ ra cấu trúc đa tầng của tác phẩm văn chương Trong một tiết học Ngữ Văn, giáo viên không thể khai thác cạn kiệt toàn bộ cái hay, cái đẹp của cấu trúc đa tầng ấy mà phải kích thích thể nào để hình tượng nghệ thuật được phát triển và âm vang mãi trong tâm hồn học sinh Đấy phải chăng là vấn đề tư duy văn học của học sinh

Những thành tựu về lí thuyết tiếp nhận văn học cũng cho thấy, tác

phẩm “như một máy thu có nhiều dải sóng mà người nhận là kẻ chỉnh sóng để

bắt được đúng chương trình mà mình mong đợi” Cũng theo lí thuyết này, tác

phẩm văn học như là một đối tượng tiếp nhận: nó là một quá trình tồn tại qua nhiều giai đoạn: ý đồ, tưởng tượng, văn bản, sự khách thể hoá ý đồ trong một cấu trúc có tính kí hiệu, sự cảm thụ của người thưởng thức.Vậy ở đây vừa có

sự biến đổi của hình thức tác phẩm vừa có quá trình biến đổi của chính nó phụ

Trang 10

thuộc vào sự cảm nhận của người đọc và sự biến đổi của hiện thực xung quanh Vì thế, tác phẩm không phải là hiện thực được “vật chất hoá” hoàn bị

và đông cứng trong tính trọn vẹn của nó Trái lại, bất cứ tác phẩm nào cũng gồm một phần có thực, khách quan và một phần khác do người đọc phát hiện Điều này giúp chúng ta nhận thức được rằng tác phẩm văn học chính là “một

đề án tiếp nhận”, “một mã nghệ thuật”, “một sơ đồ”… mà những đề án đó chỉ được thực hiện nhờ sự phát hiện có sự sáng tạo riêng hay nói đúng hơn là tư duy văn học của người đọc

1.4 Từ vai trò của câu hỏi trong dạy học tác phẩm văn chương

Thực tế giảng dạy cho thấy trong quá trình lên lớp thì việc gắn kết các khâu ở bài giảng, sự phối hợp hoạt động giữa thầy và trò; tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh được thể hiện đều tập trung xung quanh việc đặt câu hỏi, bài tập của thầy Đặc biệt ở môn Ngữ Văn tính liền mạch thường được chú trọng trong khi dạy học tác phẩm văn chương thì việc đặt câu hỏi của thầy và việc trả lời của trò càng được quan tâm Câu hỏi sẽ có tác dụng kết nối các khâu trong quá trình dạy học

Mặt khác việc chuyển đổi nội dung kiến thức bài học thành một hệ thống câu hỏi có tác dụng phát huy trí lực, khơi dậy sự tò mò tìm hiểu, hứng thú tiếp nhận của học sinh, học sinh chủ động khám phá kiến thức Trong trong giờ dạy tác phẩm văn chương, câu hỏi được đưa ra dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh chú ý suy nghĩ trả lời, giờ dạy trở nên hào hứng, sinh động, tạo nên bầu không khí văn chương Khi đó học sinh thực sự trở thành chủ thể của quá trình nhận thức, chất lượng, hiệu quả giờ dạy tăng lên rất nhiều Bài học không đi vào lối mòn kiểu thuyết trình nặng về giảng văn truyền thống: Thầy nghĩ, thầy cảm nhận rồi thầy nói cái nghĩ, cái cảm ấy của mình, học sinh nghe rồi ghi lại cái nghĩ, cái cảm ấy của thầy Hệ thống câu hỏi được tiến hành trong giờ dạy tác phẩm văn chương cũng giúp học sinh hình thành và rèn luyện phương pháp tự tìm hiểu, tự khám phá và cảm nhận

Trang 11

về một tác phẩm văn học Giáo viên cần nhận thức được có bao nhiêu học sinh thì có bấy nhiêu cách suy nghĩ, cảm nhận văn chương Giáo viên không thể áp đặt tất cả mọi điều vào trong đầu óc học sinh Vậy làm cách nào để giáo viên khơi dậy sự suy nghĩ, tư duy tích cực nơi học sinh để học sinh chiếm lĩnh tác phẩm Không còn cách thức nào khác là giáo viên phải sử dụng

hệ thống câu hỏi Nó cũng giúp giáo viên xây dựng phương án dạy học tối ưu, thích hợp với hoàn cảnh và đối tượng dạy học

Khi nghiên cứu đặc điểm của tư duy người ta nhận thấy rằng tư duy chỉ nảy sinh khi gặp hoàn cảnh có vấn đề Đó là những tình huống mà ở đó nảy sinh những mục đích mới và những phương tiện, phương pháp hoạt động cũ

đã có trước đây trở nên không đủ ( mặc dù là cần thiết) để đạt được mục đích

đó Nhưng muốn kích thích được tư duy thì hoàn cảnh có vấn đề phải được cá nhân nhận thức đầy đủ, được chuyển thành nhiệm vụ tư duy của cá nhân- nghĩa là cá nhân phải xác định được cái gì đã biết, cái gì chưa biết cần phải tìm và có nhu cầu tìm kiếm.Trong quá trình dạy học thì hệ thống câu hỏi được

sử dụng chính là hoàn cảnh có vấn đề góp phần quan trọng rèn luyện tư duy học sinh

1.5 Từ góc độ tâm lí học với câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm văn chương

Theo Tâm lý học, mỗi biểu hiện của tình cảm đều gắn với động cơ hoạt động của con người Tình cảm không tự nhiên bột phát, mà nó thường bộc lộ trong một điều kiện cụ thể, có tính xác định Hoàn cảnh có vấn đề sẽ làm nảy sinh cảm xúc Cảm xúc càng hưng phấn mạnh mẽ, trí nhớ càng được huy động tối đa và theo đó hình dung liên tưởng, tưởng tượng được mở rộng và tăng cường khả năng nhạy bén Đồng thời khi hình dung liên tưởng, tưởng tượng được đẩy mạnh, sức hút dẫn đối tượng( người đọc) vào tác phẩm càng lớn thì cảm xúc của chủ thể tiếp nhận càng nhân lên dồi dào.Trong hệ thống câu hỏi được giáo viên Ngữ Văn sử dụng thì loại câu hỏi liên tưởng, tưởng

Trang 12

tượng đáp ứng tốt nhất điều đó Câu hỏi nhằm phát huy liên tưởng, tưởng tượng nghệ thuật của học sinh là một bộ phận trong hệ thống các câu hỏi sáng tạo của quá trình dạy học tác phẩm văn chương; đó là những câu hỏi dựa trên đặc trưng của tư duy văn học, hướng vào mục đích khai thác tính nghệ thuật của tác phẩm, tính lôgíc khoa học của kiến thức trên cơ sở phù hợp với khả năng tự phát triển của học sinh Câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng nhằm mục đích gợi mở, vận dụng trí nhớ, lựa chọn và huy động tối đa kinh nghiệm cá nhân, hướng học sinh vào hiện thực tâm lý của tác phẩm bằng những yêu cầu trả lời kiến thức, xác lập mối quan hệ giữa tác phẩm với nội dung bài học Điều quan trọng là loại câu hỏi này vừa đảm bảo bám sát đặc trưng bộ môn vừa phát huy tối ưu nhất việc rèn luyện tư duy văn học cho học sinh THPT Loại câu hỏi này càng phát huy trí lực, khả năng của học sinh trong thời đại ngày nay Dưới ánh sáng của tâm lý học hiện đại còn cho thấy: Học sinh bậc THPT đã hoàn toàn làm chủ nhận thức của mình, cảm giác và tri giác đạt đến

độ phát triển cao, tri giác chủ động chiếm ưu thế và đạt tới mức rất cao, sự quan sát trở nên có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và toàn diện hơn Ở lứa tuổi này học sinh có tính độc lập, tích cực thể hiện sự sáng tạo lớn, có sức khái quát cao và có xu hướng đi sâu giải thích các nguyên nhân, các hiện tượng, có kết luận sâu sắc và học sinh nhanh chóng tiếp thu cái mới cũng như các phạm trù đạo đức, thẩm mĩ… Tất cả tạo tiền đề cho tư duy lí luận phát triển

1.6 Từ hiệu quả đạt được khám phá sâu sắc hơn giá trị tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao trong quá trình dạy học

Tác phẩm “ Chí Phèo” của Nam Cao được nghiên cứu dưới nhiều góc

độ, được giảng dạy bằng nhiều phương pháp và tưởng tác phẩm này không còn mảnh đất trống để thế hệ sau nghiên cứu Song từ thực tiễn giảng dạy tác phẩm này khi giáo viên sử dụng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng học sinh được rèn luyện tốt về tư duy văn học, học sinh khám phá sâu sắc hơn giá trị

Trang 13

tác phẩm “Chí Phèo” đồng thời dẫn đến hiệu quả về việc đổi mới phương

pháp dạy học

Xuất phát từ những lý do như đã trình bày ở trên, chúng tôi chọn đề tài

“ Rèn luyện tư duy văn học cho học sinh Trung học phổ thông bằng câu hỏi

liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao (Sách giáo khoa Ngữ Văn 11 ban Cơ Bản)”

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

- Nghiên cứu tư duy văn học của học sinh không còn là vấn đề quá mới

mẻ Ở từng giai đoạn lịch sử giáo dục khác nhau, tương ứng với nhiệm vụ, mục tiêu, với nội dung, chương trình, định hướng phương pháp cụ thể của bộ môn mà vấn đề này được đề cập đến trên những phương diện khác nhau, với quan điểm khác nhau Song dù trực tiếp hay gián tiếp đề cập đến và dưới góc

độ nào thì tầm quan trọng của việc rèn luyện tư duy cho học sinh nói chung

và tư duy văn học nói riêng cũng đều được khẳng định Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra các biện pháp hướng đến rèn luyện tư duy văn học cho học sinh trong đó có nhắc đến việc sử dụng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng

+ Rèn luyện tư duy qua giảng dạy văn học (GS Phan Trọng Luận) đề

cập đến vấn đề rèn tư duy qua giảng dạy văn học một cách có hệ thống GS

nhận định “ Trong giáo dục và giảng dạy vấn đề tư duy cũng là vấn đề được

đặt ra từ lâu, nhưng nhận thức được sâu sắc vai trò quan trọng cũng như vận dụng được khả năng của nó vào trong hoạt động thực tế sư phạm hằng ngày, nhất là trong giảng dạy lại là chuyện còn khó khăn, lúng túng về mặt lí luận cũng như thực hành”[35, tr 3] Từ những vấn đề chung cả về lí luận và thực tiễn - tư duy với chức năng của nhà trường, đưa ra hướng tiếp cận bằng quan niệm dạy học đúng đắn, công trình đã triển khai bàn đến các phương diện như bồi dưỡng và rèn luyện tư duy lôgic qua giảng dạy văn học, bồi dưỡng và rèn luyện tư duy hình tượng cho học sinh Trong đó nhiều vấn đề cụ thể gắn với công việc giảng dạy văn học trong nhà trường được đề cập, phân tích như cải

Trang 14

tiến giáo án, cải tiến cấu tạo giờ dạy, hứng thú học tập và nhận thức, công khai hoá quá trình lĩnh hội và vận dụng kiến thức, cá biệt hoá công việc học tập, giáo dục thói quen hoạt động tự lập Bên cạnh đó các phương diện đặc thù của tư duy văn học cũng đã được đưa ra bàn bạc trong mối liên hệ với hoạt động giảng văn trong nhà trường: đặc trưng của văn học và bộ môn văn học, quá trình cảm thụ và năng lực cảm thụ văn học, kĩ năng sáng tác văn học, năng lực cảm thụ cái đẹp trong đời sống Tác giả đã nhấn mạnh đến việc làm sao để cải tiến phương pháp giảng dạy nhằm phát huy năng lực cảm thụ văn học và tư duy hình tượng cho học sinh, lưu ý việc đảm bảo cân bằng giữa

phân tích lôgic và cảm thụ Gần đây trong chuyên luận "Văn chương bạn đọc

sáng tạo", GS Phan Trọng Luận tiếp tục bàn đến vấn đề năng lực văn học,

việc định hướng phát triển chúng cho học sinh phổ thông Nhìn chung tất cả những vấn đề được bàn đến là để phục vụ nhằm nâng cao hiệu quả của công việc giảng văn của người giáo viên đến học sinh trong cơ chế giảng văn Trong công trình của mình tuy GS Phan Trọng Luận chưa bàn sâu đến vai trò của hệ thống câu hỏi đặc biệt là loại câu hỏi liên tưởng tưởng tượng nhằm rèn luyện tư duy văn học cho học sinh THPT nhưng những vấn đề lí luận trong các công trình của GS giúp ích cho chúng tôi rất lớn trong việc tìm hiểu về tư duy văn học

+ Giáo trình phương pháp dạy- học văn: Các tác giả đã dành một

chương để bàn về hệ thống cấc trúc năng lực văn cần hình thành cho học sinh Đây cũng được coi là nguồn tài liệu bổ ích cho chúng tôi khi nghiên cứu về tư duy văn học

+ Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương

(TS Nguyễn Trọng Hoàn) thực sự là nguồn tài liệu bổ ích cho đề tài của chúng tôi Công trình đưa ra một hướng tiếp cận bài bản về vấn đề rèn luyện

tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy học tác phẩm văn chương.Từ những tiền đề khoa học của hoạt động tâm lí, tâm lý sáng tạo nghệ thuật, tính chất

Trang 15

đặc thù của tư duy cảm thụ và tiếp nhận văn học, đến việc khảo sát hiện tượng liên tưởng, tưởng tượng của học sinh, tác giả đi sâu phân tích đối tượng, mục đích, xác định phương thức tiếp nhận thẩm mĩ, cơ chế liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm văn chương.Quan trọng hơn trong khi đưa ra những giải pháp cụ thể rèn luyện tư duy sáng tạo, TS Nguyễn Trọng Hoàn đã đề cập đến giải pháp xây dựng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương

+ Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường (PGS-

TS Nguyễn Viết Chữ) khi bàn về phương pháp, biện pháp trong dạy học văn

đã đề cập đến việc tìm hiểu tác phẩm văn chương qua hệ thống câu hỏi và có chú ý đến hệ thống câu hỏi liên tưởng và tưởng tượng Theo tác giả trong hệ thống câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng có hệ thống câu hỏi hình dung, tưởng tượng, tái hiện và hệ thống câu hỏi hình dung, tưởng tượng, tái tạo

+ Câu hỏi và bài tập với việc dạy- học tác phẩm văn chương trong nhà

trường( Nguyễn Quang Cương) Tác giả nhấn mạnh:“ Hệ thống câu hỏi và bài tập văn học sẽ đóng một vai trò rất to lớn trong việc hình thành và rèn luyện kĩ năng tự tiếp nhận, tự phân tích và đánh giá tác phẩm văn học- một kĩ năng hết sức cần thiếtt cho học sinh cả khi còn ngồi trên ghế nhà trường cũng như khi đã bước vào đời” [9, tr 5].Trong công trình của mình, tác giả đã nghiên cứu về hệ thống câu hỏi trong SGK Văn học và việc vận dụng chúng theo tinh thần đổi mới dạy học, hệ thống bài tập văn học và việc hình thành năng lực tiếp nhận tác phẩm văn chương cho học sinh…

+ Phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học ở trường phổ thông trung

học (Nguyễn Thị Thanh Hương) khi đề cập đến các phương pháp và biện

pháp cụ thể để hướng dẫn học sinh tiếp nhận tác phẩm văn học trong nhà trường THPT, tác giả có bàn đến việc xây dựng hệ thống câu hỏi nhằm từng bước tạo ra bầu không khí văn chương trong lớp học Từ đó câu hỏi sẽ thúc đẩy quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học ở mỗi học sinh

Trang 16

+ Văn học giáo dục thế kỉ XXI ( GS Phan Trọng Luận) trong chương

“Tiếp tục giải bài toán khó”, khi GS bàn đến vấn đề cấu trúc năng lực văn thì

năng lực liên tưởng trong tiếp nhận văn học cũng được đề xuất

Các công trình trên cung cấp về mặt lí thuyết các biện pháp rèn luyện tư duy cho học sinh, việc sử dụng câu hỏi như một phương pháp dạy học văn trong nhà trường và có bàn đến loại câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng Song các công trình trên hoặc là bàn theo chiều rộng hoặc chỉ điểm xuyết về câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng nhằm rèn luyện tư duy văn học cho học sinh Ở đề tài này chúng tôi muốn đi hệ thống và tìm hiểu sâu hơn về tư duy văn học; hiện tượng liên tưởng, tưởng tượng; về loại câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng nhằm giúp giáo viên nhìn nhận rõ hơn về vai trò của loại câu hỏi này trong việc rèn luyện

tư duy nói chung và rèn luyện tư duy văn học nói riêng cho học sinh THPT

+ Các loại giáo án, thiết kế bài giảng tác phẩm "Chí Phèo" của Nam

Cao đề cập đến phương pháp giảng dạy tác phẩm cũng như cung cấp hệ thống câu hỏi trong khi giảng dạy nhưng chưa chú ý tới việc sử dụng loại câu hỏi liên tưởng tưởng tượng Ở đề tài này chúng tôi áp dụng việc sử dụng loại câu

hỏi liên tưởng tưởng tượng trong việc dạy học tác phẩm "Chí Phèo" của Nam

Cao một cách cụ thể

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Câu hỏi liên tưởng tưởng tượng trong dạy học tác phẩm văn chương

- Tư duy văn học của học sinh THPT

- Tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao (SGK Ngữ văn 11 ban Cơ bản của GS

Phan Trọng Luận)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Các loại câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng; cách thức soạn câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng trong day học tác phẩm văn chương SGK Ngữ Văn ban Cơ bản

Trang 17

và việc sử dụng câu hỏi liên tưởng,tưởng tượng khi lên lớp góp phần rèn luyện tư duy văn học cho học sinh THPT

- Câu hỏi liên tưởng tưởng tượng và cách thức sử dụng khi dạy học tác phẩm

“Chí Phèo” của Nam Cao ( SGK Ngữ Văn 11 ban Cơ bản của GS Phan

Trọng Luận )

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

- Đề xuất cách thức góp phần rèn luyện tư duy văn học cho học sinh THPT

bằng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm “Chí Phèo” của

Nam Cao (SGK Ngữ văn 11 ban Cơ bản)

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu loại câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng khám phá giá trị tác phẩm góp phần rèn luyện tư duy văn học cho học sinh THPT

5 Đóng góp mới của luận văn

- Giúp đồng nghiệp xây dựng cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn về hệ thống câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng góp phần rèn luyện tư duy văn học cho học sinh trong quá trình dạy học tác phẩm văn chương

- Giúp đồng nghiệp vận dụng hệ thống câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng vào dạy học tác phẩm văn chương một cách hiệu quả

6 Phương pháp nghiên cứu

Trang 18

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, tài liệu tham khảo nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương

Chương 1 : Cơ sở lí luận của đề tài

Chương 2 : Cơ sở thực tiễn của việc rèn luyện tư duy văn học cho học

sinh THPT bằng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng

Chương 3: Thiết kế và thể nghiệm dạy học tác phẩm “Chí Phèo” của

Nam Cao

Trang 19

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tư duy văn học

1.1.1 Tư duy

1.1.1.1.Khái niệm tư duy

Theo từ điển Tiếng Việt tư duy là "giai đoạn cao của quá trình nhận

thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí" [49,tr 1070]

Theo triết học duy vật biện chứng, tư duy là một trong những đặc tính của vật chất phát triển đến trình độ tổ chức cao Về lí thuyết Karl Marx cho

rằng " Vận động kiểu tư duy chỉ là sự vận động của hiện thực khách quan

được di chuyển vào và được cải tạo/ tái tạo trong đầu óc con người dưới dạng một sự phản ánh"

Tóm lại , tư duy là quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất bên trong của sự vật hiện tượng, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết.Về mặt bản chất, kết quả của quá trình tư duy là sự phản ánh thế giới khách quan, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan V.I.Lênin đã từng chỉ ra

rằng:"Thế giới là một sự vận động có quy luật của vật chất và nhận thức của

chúng ta- sản phẩm cao nhất của giới tự nhiên- thì chỉ có thể phản ánh tính quy luật đó mà thôi" [14, tr.17-18]

1.1.1.2.Tư duy và ngôn ngữ

Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy là một câu hỏi lâu đời Trong qúa khứ có hai quan điểm bao quát: một là nắm được vấn đề ngôn ngữ chỉ đơn thuần là phương tiện truyền bá hoặc chỉ là vỏ bọc bên ngoài của tư duy; hai là xác nhận dòng ngôn ngữ và tư duy là một, tư duy chỉ là lời nói không có âm thanh

Thực tế các nhà nghiên cứu đã khẳng định tư duy có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ Tư duy của con người gắn liền với ngôn ngữ, lấy ngôn ngữ làm

Trang 20

phương tiện Trong giáo trình Ngôn ngữ học đại cương, Sassure nói rằng khi

chưa có ngôn ngữ thì con người không thể phân biệt được hai khái niệm khác nhau( nghĩa là chưa có tư duy) Khi ấy tư duy cũng như âm thanh chỉ là một thể liên tục, không định hình Trên quá trình phát triển lao động, ngôn ngữ xuất hiện giữa hai cái thực thể không định hình này và chia cắt cả hai thành những đơn vị phân lập như ta cắt hai mặt của một tờ giấy Như thế ngôn ngữ

và tư duy cùng xuất hiện một lúc Mác cũng khẳng định" ngôn ngữ là hiện

thực trực tiếp của tư duy" và " ý tưởng không thể tồn tại ngoài ngôn ngữ được" Cả những khi người ta suy nghĩ thầm lặng bằng cái gọi là ngôn ngữ

bên trong thì mối quan hệ ấy vẫn khăng khít với nhau Vậy ngôn ngữ và tư duy là một thể thống nhất Trong thực tế ngôn ngữ loài vật dù có hoàn thiện đến đâu cũng chỉ là một hệ thống tín hiệu thông báo có tính chất bản năng Trái lại ngôn ngữ của loài người gắn bó khăng khít với tư duy và do cái nguyên lí sáng tạo ấy chi phối nên không bị lệ thuộc vào một điều kiện bên ngoài nào kiềm toả nổi Nó luôn luôn đổi mới để đáp ứng mọi yêu cầu diễn đạt và có thể

nói như Herder " Con người là một tạo vật sinh ra với ngôn ngữ"

Giữa ngôn ngữ và tư duy luôn có mối tương quan lẫn nhau Ngôn ngữ

có vai trò quan trọng trong những hoạt động đa dạng của tư duy Về phần này, riêng ở mặt thông hoá, ngôn ngữ cũng có tính chất ưu việt hơn so với các hệ thống thông tin khác mà con người sử dụng Nhờ có khả năng diễn đạt tiềm tàng vô tận ấy mà ngôn ngữ không chỉ giới hạn ở chỗ trao đổi tư tưởng, tình cảm giữa con người với nhau Trong những hoạt động của tư duy trừu tượng,

nó vẫn giữ vai trò đặc biệt cần thiết Vì trong thực tế hằng ngày, suy nghĩ là mình nói với mình Trong những lĩnh vực hết sức trừu tượng như toán học, nhà nghiên cứu cũng phải dùng đến ngôn ngữ, Einstein cũng đã thừa nhận: "

Không có nhà bác học nào suy nghĩ bằng công thức" Người ta suy nghĩ bằng

từ, bằng cái gọi là " tiếng nói bên trong" Nhờ ngôn ngữ nên những thao tác

muôn màu vẻ của tư duy mới thực hiện và phát triển được Trong thời đại

Trang 21

ngày nay tư duy lôgic của con người đã đạt đến một trình độ hoàn thiện phi thường trong cách phản ánh hiện thực và có thể đi trước thực tế một bước để

có những dự kiến về tương lai Nhưng sự phát triển này không phải là bột phát cũng không phải là độc lập, riêng rẽ Cùng sinh ra với ngôn ngữ, tư duy cũng phát triển song song với nó Những hiện tượng nhân chủng học và ngôn ngữ học lịch sử đã chứng minh điều này

Nếu ngôn ngữ có tác dụng đến tư duy thì ngược lại tư duy cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của ngôn ngữ vì cả hai chỉ lập thành một đơn vị thống nhất Không thể quan niệm có cái này mà không có cái kia như Mác đã chỉ

ra:" Ngôn ngữ không có tư tưởng thì không thể tồn tại, còn tư tưởng thì phải

được thể hiện trong cái chất tự nhiên của ngôn ngữ" Cho nên điều tiên quyết

cho một lời nói hình thành là nó phải có nội dung Những âm không có nghĩa

dù đẹp đẽ đến đâu cũng không thể tồn tại vì chúng không phục vụ cho một mục đích nào cả

Như vậy tư duy phản ánh sự vật, hiện tượng một cách gián tiếp bằng ngôn ngữ Tư duy được biểu hiện trong ngôn ngữ Các quy luật, quy tắc, các

sự kiện, các mối liên hệ và sự phụ thuộc được khái quát và diễn đạt trong các

từ Tư duy của con người gắn liền với ngôn ngữ, lấy ngôn ngữ làm phương tiện.Tư duy của con người không thể tồn tại ngoài ngôn ngữ được, ngược lại ngôn ngữ cũng không thể có được nếu không dựa vào tư duy Tư duy và ngôn ngữ thống nhất với nhau nhưng không đồng nhất và tách rời nhau được

Văn học được coi là " trò diễn bằng ngôn từ" Dạy Ngữ Văn, giáo viên cần thấy được mối liên hệ này để rèn luyện tư duy cho học sinh

1.1.1.3.Các kiểu tư duy

Tuỳ thuộc vào tiêu chí khác nhau có nhiều cách phân loại tư duy khác nhau Người ta thường nhắc tới cách phân loại tư duy của Bloom theo mục tiêu giáo dục bao gồm các cấp bậc: Biết, hiểu, vận dụng, phân tích, tồng hợp, đánh giá Vào năm 1999, Tiến sĩ Lorin Anderson cùng những đồng nghiệp

Trang 22

của mình đã xuất bản phiên bản mới được cập nhật về phân loại tư duy của Bloom Tư duy bao gồm các cấp độ: Nhớ, hiểu, vận dụng, phân tích, đánh giá

và sáng tạo Tuy nhiên ở đây chúng tôi muốn đề cập tới cách phân loại kiểu tư duy khác Đó là kiểu tư duy logíc và tư duy hình tượng Cách phân chia này xuất phát từ mục đích và phương tiện nhận thức

Tư duy lôgíc là kiểu tư duy đặc thù của khoa học Đó là quá trình thâm nhập vào bản chất của đối tượng để tìm ra bản chất và quy luật nội tại của chúng Trong quá trình tư duy lôgíc, những cái ngẫu nhiên, cá biệt từng bước

bị gạt bỏ để nắm bắt cái cốt lõi, cái phổ quát, cái chung của các lớp sự vật, hiện tượng Sự trừu tượng hoá trong tư duy lôgíc là quá trình phản ánh thế giới bằng các khái niệm, phán đoán, công thức, mô hình Dựa trên cơ sở suy

lí, tiên đề, định lý, tư duy lôgíc tiến đến chân lý khách quan ngày càng sâu sắc

và đầy đủ hơn.Tư duy lôgíc phản ánh đối tượng một cách khái quát trừu tượng nhưng không vì thế mà xa rời hiện thực Điều đó đã được Lênin khẳng

định :"Những sự trừu tượng về vật chất, về quy luật tự nhiên, sự trừu tượng về

giá trị tóm lại, tất cả những sự trừu tượng khoa học (đúng đắn, nghiêm túc, không tuỳ tiện) phản ánh giới tự nhiên sâu sắc hơn, trung thành hơn, đầy đủ hơn." [14, tr.19]

Tư duy hình tượng là kiểu tư duy đặc thù của nghệ thuật Mục đích của

tư duy nghệ thuật cũng là tìm đến bản chất của sự vật và hiện tượng để nắm bắt quy luật đời sống khách quan Nhưng ở đây tư duy hình tượng phản ánh cái chung qua cái cụ thể mang tính đại diện, mang tính quy luật Khi đó trong

tư duy hình tượng, "cái cụ thể biểu hiện là quá trình tổng hợp, là kết quả, chứ

không phải là điểm xuất phát, mặc dù nó là điểm xuất phát thực sự và do đó cũng là điểm xuất phát của trực quan, của biểu tượng." [14, tr.19] Từ những

phát hiện về "cái phổ biến" trong "cái đặc thù" ,"cái cá thể", tư duy hình tượng giữ lại cảm giác và biểu tượng để xây dựng hình tượng - một phương tiện phản ánh hiện thực giàu tính thẩm mĩ Sự phản ánh trong tư duy hình

Trang 23

tượng không phải là sự sao chép hiện thực một cách bàng quan mà mang đậm dấu ấn chủ quan Vì bản thân "cái phản ánh" là kết quả của quá trình cảm nhận và đồng hoá hiện thực một cách tích cực và sáng tạo

Trong quá trình dạy Ngữ Văn, người giáo viên cần chú ý rèn luyện cho học sinh cả hai kiểu tư duy này.Tuy nhiên do đặc trưng bộ môn mà giáo viên cần nghiêng về kiểu tư duy hình tượng

1.1.2 Tư duy văn học

1.1.2.1 Khái niệm tư duy văn học

Trong quá trình nghiên cứu, tìm tòi tài liệu để phục vụ luận văn, chúng tôi chưa thấy bất kì tài liệu nào đưa ra khái niệm tư duy văn học Ở đây chúng tôi không tham vọng có thể đưa ra một khái niệm chuẩn mực mà chỉ trình bày một cách hiểu về tư duy văn học

Vì Văn học là một môn nghệ thuật nên kiểu tư duy đặc thù của nó là tư duy hình tượng Tuy nhiên không thể đồng nhất giữa tư duy hình tượng và tư duy văn học được.Tư duy hình tượng là một khái niệm rộng áp dụng cho tất

cả các ngành nghệ thuật Một mặt tư duy văn học mang những đặc điểm chung của tư duy hình tượng, mặt khác, vì nó là loại hình nghệ thuật có những đặc thù riêng, là loại hình nghệ thuật ngôn từ cho nên nó đồng thời còn có những đặc điểm riêng

Như vậy, điểm đầu tiên đáng lưu ý là : cũng như các loại hình nghệ thuật khác, tư duy văn học dựa trên một nền tảng tâm sinh lý khắc hẳn với tư

duy lý luận Lênin viết : " Trong mọi sự khái quát dù đơn giản nhất, trong

một ý niệm dù đó là sơ đẳng nhất cũng đều có một mẩu nhất định của trí tưởng tưởng" [56, tr 169] M.Gorki viết :" Trong cuộc đấu tranh để sống, bản năng sinh tồn phát triển trong con người hai sức sáng tạo mãnh liệt: nhận thức và tưởng Nhận thức là khả năng quan sát, so sánh, nghiên cứu tưởng tượng thiên nhiên và những sự kiện trong sinh hoạt xã hội, nói gọn hơn nhận thức: là tư duy Xét về bản chất, tưởng tượng cũng là tư duy về vũ trụ, nhưng

Trang 24

phần lớn là tư duy bằng hình tượng, đó là một " tư duy nghệ thuật."

[18, tr 238] Tưởng tượng không phải là đặc quyền của nghệ thuật, cũng như

tư duy hình tượng không phải chỉ nghệ thuật mới sử dụng, nhưng yếu tố

tưởng tượng trong tư duy đã khiến cho kiểu tư duy này lấy biểu tượng, tượng

trưng có thể trực quan được làm phương tiện Cho nên, "Bằng trí tưởng tượng

sáng tạo vốn có là chất xúc tác của hoạt động tư duy nghệ thuật, nghệ sĩ xây

dựng các giả thiết, làm sáng tỏ các bộ phận còn bị che khuất của thực tại, lấp

đầy các "lỗ hổng chưa biết." [47, tr 324-325]

Thứ hai nói tới văn học là người ta nói tới một loại hình nghệ thuật

sáng tạo bằng ngôn từ Nếu như tính hình tượng là dấu hiệu đặc trưng cơ bản

để có thể phân biệt giữa văn học với các lĩnh vực khác cũng sử dụng ngôn từ

làm phương tiện diễn đạt, thì chính dấu hiệu đặc trưng về chất liệu ngôn từ lại

giúp ta phân biệt giữa văn học với các loại hình nghệ thuật khác - với chất

liệu khác Hình tượng của văn học, do thế, là hình tượng "phi vật thể", có thể phản ánh quá trình vận động không ngừng của đời sống trong không gian và

thời gian ở bất kì giới hạn nào, có khả năng tái hiện lời nói và thế giới tư

tưởng của con người

Từ đó có thể hiểu tư duy văn học là cách suy nghĩ dựa trên lí trí, dựa

trên cảm xúc, thẩm mĩ trước đối tượng văn học; là sự hài hoà giữa suy nghĩ, lí

trí và cảm xúc, thẩm mĩ của học sinh trước đối tượng văn học Tư duy văn

học bắt đầu từ việc suy nghĩ trên phạm vi sử dụng và diễn đạt ngôn từ trong

tác phẩm, tính " phi vật thể " của hình tượng Khi người giáo viên muốn dạy

tư duy văn học cho học sinh cần hướng học sinh suy nghĩ trên cấp độ ngôn

ngữ ( đơn vị ngôn ngữ được sử dụng trong tác phẩm thấp nhất là từ đến câu,

đoạn ), học sinh phát hiện triệt để các tu từ( từ, hình ảnh, chi tiết, phương

tiện biểu hiện có tính chất tu từ), tín hiện nghệ thuật được nhà văn sử dụng

những biểu tượng xuất hiện trong tác phẩm, quan niệm nghệ thuật của nhà

văn về con người, phong cách nghệ thuật, cá tính sánh tạo riêng, tư duy riêng

Trang 25

của nhà văn Đối với từng tác phẩm, học sinh cần nắm được thông điệp nhà văn gửi gắm Từ đó khám phá giá trị tác phẩm sâu sắc hơn

Mặt khác sáng tạo và tiếp nhận là hai phương diện cơ bản của tư duy nghệ thuật Đó cũng là hai phương diện cơ bản của tư duy văn học Điểm này cũng thể hiện ở năng lực tư duy văn học của học sinh trong quá trình dạy học môn Ngữ Văn ở nhà trường phổ thông Riêng trong trục tích hợp đọc - hiểu văn bản văn học thì vấn đề năng lực tư duy văn học đặt ra chủ yếu trên phương diện tiếp nhận Trong quá trình dạy học tác phẩm văn chương, người giáo viên cần tiến hành những hoạt động, phương pháp tối ưu để nâng cao hiệu quả trong việc tiếp nhận của học sinh Đó cũng chính là cách giáo viên rèn luyện tư duy văn học cho học sinh

1.1.2.2 Đặc trưng của tư duy văn học

* Đặc trưng tư duy văn học gắn với ngôn ngữ hình tượng

Trước hết, khả năng nghệ thuật của ngôn từ biểu hiện ở tính hình tượng của nó Có thể nói, ngôn từ mang tính hình tượng từ trong bản chất Từ ngữ không chỉ là những khái niệm trừu tượng mà còn là hình ảnh của thế giới

khách quan, là "hiện thực trực tiếp của tư duy" như Mác đã nói Từ ngữ khi

được sử dụng trong hoạt động ngôn ngữ bao giờ cũng hướng về những đối tượng cụ thể nhằm tái hiện và gợi về đối tượng đó Bản thân từ ngữ chưa nói lên bản chất cụ thể về sự vật và hiện tượng nhưng từ ngữ có khả năng gợi lên trong tâm trí con người những liên tưởng về đối tượng cụ thể Vì vậy xét trong bình diện hoạt động ngôn ngữ, từ ngữ vừa có tính cụ thể vừa có tính khái quát Chính nhờ đặc tính này mà từ ngữ là cơ sở tất yếu để xây dựng những hình tượng vừa mang tính cụ thể vừa mang tính khái quát

Tính hình tượng của ngôn từ được biểu hiện rất đa dạng, trên nhiều cấp

độ khác nhau Ở cấp độ từ vựng, tính hình tượng thường thể hiện rõ rệt nhất qua những từ ngữ mang tính tượng hình, tượng thanh Ở cấp độ cú pháp, những câu trần thuật hoặc miêu tả có khả năng tái hiện những bức tranh khác

Trang 26

nhau về hiện thực Đặc biệt là các phương thức chuyển nghĩa không những có khả năng biểu hiện nội dung của sự vật và hiện tượng mà còn làm cho chúng hiện lên với tính tạo hình cụ thể

Tính hình tượng của ngôn từ không chỉ biểu hiện qua từ vựng, qua các phương thức chuyển nghĩa mà còn biểu hiện ở bất cứ lời nói và lời viết nào Lời nói trong ngữ cảnh cụ thể không những chứa đựng nội dung vốn có của từ vựng mà còn chứa đựng những nội dung do ngữ cảnh gợi lên Từ những ngữ cảnh riêng, ngôn từ có thể tái hiện đối tượng một cách độc đáo, cá biệt, mang tính nghệ thuật cao

Ngôn từ là chất liệu xây dựng hình tượng, và thông qua hình tượng để phản ánh hiện thực đời sống khách quan Hiện thực khách quan mà văn học hướng tới để phản ánh bao giờ cũng được soi sáng qua con người Con người trong mối quan hệ xã hội là đối tượng chủ yếu của văn học Con người xuất hiện trong tác phẩm văn học hiện ra với tư cách "người mang lời nói" và những người ấy một phần bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ và bản chất của mình qua lời nói Như vậy, lời nói không chỉ là chất liệu xây dựng hình tượng văn học

mà còn là đối tượng miêu tả Một tác phẩm văn học bao giờ cũng là tổng thể những lời phát ngôn của người kể chuyện, của cái tôi trữ tình của các nhân vật qua độc thoại hoặc đối thoại Ở đây khả năng nghệ thuật của ngôn từ lại biểu hiện qua chủ thể phát ngôn Vì vậy, bạn đọc có thể nhận diện ra giọng điệu, tình cảm, tư tưởng và tính cách của các nhân vật và hình tượng người kể chuyện

Do chỗ vừa tái hiện đời sống hiện thực bằng lời nói, vừa tái hiện bản thân lời nói trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ, văn học có khả năng to lớn trong việc phản ánh con người và đời sống xã hội Qua văn học, chúng ta không những thấy được những bức tranh đời sống mà còn nghe thấy tiếng nói của mọi tầng lớp người trong các thời đại khác nhau với những giọng điệu khác nhau

Trang 27

Gắn liền với hoạt động lời nói là hoạt động tư duy của con người Tư duy và ngôn ngữ gắn bó chặt chẽ với nhau như hai mặt của vấn đề Ngôn ngữ chính là hiện thực trực tiếp của tư duy Vì vậy, với chất liệu ngôn từ, văn học

có điều kiện thuận lợi nhất trong việc tái hiện quá trình tư duy của con người Các loại hình nghệ thuật khác nhau chỉ tái hiện tư duy của con người một

cách gián tiếp Chẳng hạn, bức tượng "Nhà tư tưởng" của Rôđanh muốn biểu

hiện những suy nghĩ cao thượng nào đó đòi hỏi con người phải tập trung cao

độ sức mạnh tâm hồn Nhưng ngay trong tác phẩm này, chúng ta cũng không tìm thấy sự tái hiện những tư tưởng cụ thể Còn văn học lại có khả năng tái hiện quá trình tư duy con người một cách cụ thể và trực tiếp Quá trình tư duy của con người được thể hiện qua những lời nói độc thoại, đối thoại của các nhân vật và những lời trần thuật của tác giả Nhờ tái hiện được quá trình tư duy, văn học có thể khắc hoạ được các chân dung tư tưởng của con người Mỗi lời nói, ý nghĩa của nhân vật đều chứa đựng thái độ, quan điểm đối với con người và cuộc sống Và đặc biệt, qua các nhân vật hoặc qua những lời phát biểu trực tiếp, nhà văn có thể nêu lên những quan điểm của mình về nhân sinh và về nghệ thuật Sức hấp dẫn của ngôn ngữ thật lạ lùng bởi tính đa nghĩa, đa thanh, tính phức điệu, tính đối thoại sức hấp dẫn của ngôn ngữ trong văn bản văn học cũng được nhân lên gấp bội trong tư duy của người đọc

* Đặc trưng tư duy văn học gắn với cảm xúc thẩm mĩ:

Cảm xúc thẩm mỹ là các cảm xúc được tạo nên bởi văn học, nghệ thuật Cảm xúc thẩm mỹ ( hay cảm xúc nghệ thuật) vừa là chất xúc tác, vừa là động lực thúc đẩy quá trình tư duy văn học Cảm xúc thẩm mỹ góp phần định hướng tư duy theo tiêu chí Chân-Thiện-Mĩ Cảm xúc thẩm mỹ tạo ra hưng phấn và động cơ sáng tạo tích cực trong tiếp nhận văn học Không có cảm xúc, tác phẩm sẽ không thể trở thành mối quan tâm hay bất cứ một sự đồng cảm nào của người đọc, đồng thời việc đọc sẽ thật khó đem lại những kết quả

Trang 28

như mong muốn Nói cách khác, không có cảm xúc, tác phẩm không thể trở thành đối tượng, càng không thể trở thành " một sự kiện" gây nên những xung động thẩm mỹ và khả năng nhạy cảm tinh tế trong tâm hồn người thưởng thức.Vậy muốn học sinh tiếp nhận tốt tác phẩm văn học thì giáo viên cần phải khơi nguồn cảm xúc thẩm mĩ nơi học sinh về tác phẩm văn học đó Có như vậy học sinh mới hứng thú tập trung vào bài học và phát hiện những vấn đề giáo viên yêu cầu tìm hiểu

* Đặc trưng tư duy văn học gắn với sự sáng tạo của nhà văn:

Tư duy văn học không thể tách rời sự sáng tạo của nhà văn Sự sáng tạo của nhà văn thể hiện ở những nét riêng, nét độc đáo mà chúng ta thường gọi

là cá tính sáng tạo của nhà văn Nét riêng, nét độc đáo đó đã trở thành phong cách sáng tác của nhà văn Nó thể hiện ở quan niệm nghệ thuật về con người, phong cách nghệ thuật, tư duy văn học Khi dạy học tác phẩm văn chương, giáo viên cần tìm cách cho học sinh phát hiện ra điều này Sự sáng tạo của nhà văn thể hiện trong tác phẩm sẽ đem lại hứng thú, cảm xúc say mê tìm hiểu tác phẩm của học sinh Từ đó học sinh sẽ phát hiện ra giá trị sâu sắc của tác phẩm được thể hiện qua những nét sáng tạo đó

1.1.2.3 Biểu hiện của tư duy văn học

* Tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng

M.Gorki đã phát biểu rất xác đáng về vai trò của ngôn ngữ trong văn

học : "ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học" Với tư cách là hình thái hoạt

động, hoạt động ngôn ngữ mang ý nghĩa thẩm mĩ Ngôn ngữ văn học được sử dụng để phục vụ nhiệm vụ trung tâm là xây dựng hình tượng văn học và giao tiếp nghệ thuật

Hình thức biểu hiện của ngôn ngữ văn học không giống biểu hiện

"ngôn ngữ" của các loại hình nghệ thuật khác vì ngôn ngữ trong văn học mang "tính phi vật thể" Cho nên tri giác ngôn ngữ là bước đầu tiên trong hành trình đi vào chiều sâu văn bản văn học Từ việc tri giác ngôn ngữ các lớp

Trang 29

nghĩa mới dần dần xuất hiện Không có năng lực hiểu từ ngữ, câu, đoạn trong tính chỉnh thể của văn bản thì cũng không có cơ hội phát huy những năng lực tiếp theo Đây là hoạt động cơ bản, tiên quyết trong hoạt động đọc - hiểu văn bản văn học, cũng là một kỹ năng quan trọng trong hệ thống các kĩ năng của

tư duy văn học Tác phẩm văn học, hình tượng văn học chỉ thực sự bắt đầu

"sống" từ hoạt động tri giác ngôn ngữ này: " Tri giác ngôn ngữ để tìm hiểu

không chỉ các tầng lớp ý nghĩa của lớp từ và câu mà còn thức tỉnh cảm xúc, khơi dậy năng lực liên tưởng, tưởng tượng để tái hiện thế giới nghệ thuật của tác phẩm." [31, tr 24].Đồng thời, tri giác ngôn ngữ còn là cảm thụ TS

Nguyễn Trọng Hoàn khi nghiên cứu tư duy sáng tạo văn học của học sinh đã

nhấn mạnh vai trò của năng lực cảm thụ ngôn ngữ :" Ngôn ngữ trong tác

phẩm không chỉ là phương tiện nghệ thuật nhằm phản ánh đời sống, mà bản thân ngôn ngữ còn thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng của nhà văn Khả năng khơi gợi, tính hàm súc của ngôn ngữ đòi hỏi sự cảm thụ chính xác nhằm tạo ra cơ sở đúng đắn, khách quan cho việc khai thác những phương tiện vi tế của tác phẩm." [23, tr 64] Tri giác ngôn ngữ trong hoạt

động đọc văn bản không thể tách rời với cảm thụ

"Hình tượng là khái niệm trừu tượng, nó có thể xuất hiện trong giao tiếp nghệ thuật giữa nhà văn và bạn đọc thông qua những rung động và xúc cảm tinh tế, thông qua sự gặp gỡ thầm lặng giữa " dự đồ sáng tạo" và " đề án tiếp nhận" để hình thành chân lý nghệ thuật Hình tượng tác phẩm là điểm gặp gỡ và tạo nên mối đồng cảm thẩm mỹ giữa người sáng tác với người thưởng thức Hình tượng nghệ thuật là tổ chức cao nhất, bản chất nhất của tác phẩm; đó cũng là nơi hội tụ tập trung nhất và là căn cứ khoa học nhất của liên tưởng, tưởng trong sáng tác cũng như trong tiếp nhận."[23, tr 103-104]

"Hình tượng nghệ thuật là sản phẩm của trình độ tư duy nghệ thuật, trình độ thẩm mỹ của người nghệ sĩ trước cuộc sống."[32, tr.24].Và cũng vì thế, cùng với biểu hiện của tri giác ngôn ngữ trong tư duy văn học là biểu hiện của khả

Trang 30

năng tái hiện hình tượng Người đọc văn bản phải " đi từ vỏ ngôn ngữ của tác

phẩm để nhận ra thế giới nghệ thuật của tác phẩm do tác giả dựng lên Muốn cho thế giới nghệ thuật của tác phẩm hiện hình lên, người đọc phải có khả năng tái hiện bằng hoạt động tưởng tượng Có thể nói, tri giác ngôn ngữ là bước đánh thức cánh cửa các ký hiệu của tác phẩm và tưởng tượng tái hiện

là bước giúp người đọc nhìn ra thế giới bên trong của tác phẩm nằm dưới các

ký hiệu ngôn ngữ." [42, tr 194] " Đôi khi từ sự biểu đạt của tác giả mà xung

quanh hình tượng xuât hiện một quầng sáng Quầng sáng ấy có khả năng động viên, kích thích suy nghĩ, óc tưởng tượng, trí tò mò của bạn đọc, khiến

họ khám phá, phát hiện mở rộng, làm cho hình tượng nghệ thuật đôi khi lớn hơn sự phản ánh." [ 32, tr.24] Vì vậy người giáo viên có vai trò kích hoạt để

vận hành khâu này trong tư duy học sinh

* Trí nhớ, liên tưởng, tưởng tượng

Trí nhớ có thể được hiểu là " Sự ghi lại, giữ lại và làm xuất hiện( tái

hiện) những gì cá nhân thu được trong hoạt động sống của mình Nói như vậy chúng ta muốn nhấn mạnh rằng: những quá trình tâm lý này không tự nhiên

mà có, không diễn ra một cách tự động."[19, tr 266] Nhờ có quá trình vận

hành của trí nhớ, con người mới có khả năng phản ánh, lưu giữ được những hình ảnh hay những sự kiện từng trải qua trong quá khứ Theo TS Nguyễn Trọng Hoàn trí nhớ hoạt động có quá trình, bao gồm một số giai đoạn cơ bản Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn ghi nhớ các vật thể và các hiện tượng đã được tri giác ( ghi nhớ tri giác) Đây là giai đoạn đầu tiên của trí nhớ, trong đó con người trong quá trình tri giác đã ghi lại được biểu tượng của sự vật và lưu giữ, duy trì biểu tượng đó trong não một thời gian nhất định Giai đoạn thứ hai, nhớ lại những gì đã ghi nhớ ( ghi nhớ biểu tượng) Có thể xem đây là giai đoạn kết quả của quá trình ghi nhớ Nếu tự nhiên người ta nhớ lại một đối tượng nào đó thì gọi là nhớ lại không chủ định Còn khi cần thiết phải nhớ lại một đối tượng thì gọi là nhớ lại có chủ định Điều này rất có ý nghĩa đối với

Trang 31

vấn đề huy động trí nhớ để hồi cố lại những kí ức tình cảm và vốn sống, vốn văn học trong việc xây dựng biểu tượng

Còn liên tưởng và tưởng tượng là hiện tượng mang tính phổ biến không chỉ phản ánh các quá trình tâm lí, mà nó còn phản ánh sâu rộng đến nhiều lĩnh vực khác của đời sống con người, phản ánh nét đặc trưng trong tâm lý sáng

tạo nghệ thuật Đúng như F.Xôtxuya khẳng định : "Trong cuộc sống tồn tại

bao nhiêu thứ quan hệ thì trong đầu óc con người có bấy nhiêu chuỗi quan hệ liên tưởng" [28, tr.5]

K.Pauxtôpki kể lại một câu chuyện nhỏ thú vị : "L.Tônxtôi trông thấy

một cây ngưu bàng bị gãy và một tia chớp loé lên: ý tưởng sáng tạo cuốn truyện dài tuyệt tác về Khátgi - Murát đã xuất hiện Nhưng nếu L.Tônxtôi không có Kápkadơ, khôngđược biết, không được nghe người ta kể chuyện Khátgi - Murát thì tất nhiên cây ngưu bàng kia cũng chẳng gợi được ý đó trong ông." [48, tr 59- 60] Điều này không những đúng đối với sáng tác mà

còn đúng đối với cả hoạt động tiếp nhận văn học

Đọc văn bản văn học là một quá trình "đồng sáng tạo" Điều này cũng đúng với hoạt động đọc - hiểu trong nhà trường Người đọc không thể "đồng sáng tạo nếu không có một "tầm đón đợi", một "trường liên tưởng" Ở góc độ

từ vựng - ngữ nghĩa, " trường liên tưởng" gồm:

- Trường liên tưởng có tính dân tộc (do sự tác động của hoàn cảnh sống, lịch sử , tâm lý của các dân tộc quyết định)

- Trường liên tưởng có tính thời đại ( một mặt do những khác biệt và những sự kiện lớn lao ở từng giai đoạn mà hình thành những trung tâm liên tưởng không giống nhau; một mặt do màu sắc tình cảm, nội dung cảm xúc mà các từ ngữ có thể gợi ra , từ ngữ của mỗi thời đại thường được viền quanh nó một vùng cảm xúc riêng)

- Trường liên tưởng có tính cá nhân (do hoàn cảnh, lứa tuổi, trình độ văn hoá, sự giáo dục, kinh nghiệm sống) [5,tr 47]

Trang 32

Khi con người đứng trước hoặc nghĩ tới một thực tế nào đó (đối với đọc

văn bản văn học thì thực tế này đem đến trong hoạt động tri giác, tái hiện hình

tượng, gợi lên bằng từ ngữ, ) thì với một khả năng nhạy cảm, một vốn kinh

nghiệm sống nào đó thì thực tế này sẽ gợi lại những sự vật, hiện tượng, sự

kiện liên quan, đã từng xảy ra trước đó Cơ chế hoạt động của trường liên

tưởng này có khi " như một nút bấm làm loé sáng các ngọn đèn mắc trên

cùng một mạch" và "các từ ngữ trong một trường liên tưởng được phát động

có thể theo hai tuyến: tuyến trường ý niệm và tuyến trường ý nghĩa."

[5, tr 48]

Quá trình liên tưởng chịu sự tác động của các yếu tố chủ quan và khách

quan Trong đó phải kể đến sự tác động trực tiếp, mạnh mẽ của yếu tố cảm

hứng; khả năng huy động của chủ thể tiếp nhận; khả năng nhạy cảm của chủ

thể khi xác định thông tin chính, mã trung tâm của văn bản; khả năng cảm

thụ, cắt nghĩa ngôn ngữ; khả năng tưởng tượng,

Tóm lại, chỉ có thông qua hoạt động liên tưởng thì thế giới nghệ thuật

của tác phẩm mới " đi được vào thế giới tâm linh của người đọc" Đây là một

năng lực mà tư duy văn học của học sinh phải được chú ý bồi dưỡng, định

hướng

* Phân tích hình tượng theo đặc trưng thể loại

Đặc trưng thể loại là vấn đề mang ý nghĩa định hướng quan trọng trong

hoạt động tiếp nhận văn học Tư duy văn học không thể thiếu đi năng lực này

Hình tượng nghệ thuật không tồn tại ở đâu khác ngoài tác phẩm, mà

tác phẩm thì bao giờ cũng tồn tại trong một hình thức thể loại nhất định Mỗi

một hình thức thể loại có một phương thức tái hiện, cắt nghĩa, lý giải đời sống

riêng Trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm, hình tượng phải được tái hiện

chân thực trong hình thức thể loại của nó Không xác định được tác phẩm ấy,

văn bản ấy thuộc thể loại nào, đặc điểm thể loại ấy trong tiến trình lịch sử cụ

thể có đặc trưng gì thì không thể xác định được hướng khai thác, phân tích,

Trang 33

khái quát các giá trị nội dung cũng như nghệ thuật của nó một cách chính xác được Và không những là việc định hướng về thao tác (như xác định phương diện khai thác: nhân vật, tính cách, cốt truyện, lời thoại, màu sắc cảm xúc, nhân vật trữ tình, xung đột cho đúng với đặc trưng thể loại của tác phẩm)

mà còn là vấn đề bản chất thẩm mĩ, đặc trưng thẩm mĩ của hình tượng

Để hình thành được năng lực này, nhất thiết phải có sự hỗ trợ của lý luận về tri thức thi pháp thể loại văn học Làm sao để định hướng tiếp nhận tác phẩm theo đặc trưng thể loại trở thành kỹ năng, một khả năng trong tư duy văn học của học sinh

* Cụ thể hoá, khái quát hoá nghệ thuật

Mỗi tác phẩm văn học là một chỉnh thể Trong đó, tính cụ thể cảm tính bao giờ cũng thống nhất hữu cơ với tính khái quát Đây cũng là đặc trưng của phương thức phản ánh nghệ thuật

Cảm thụ chi tiết nghệ thuật có khi là một từ ngữ, một hình ảnh, một chi tiết, một sự kiện, một trạng huống tâm trạng, một câu văn, một hành động, một nhân vật nhưng đi đôi với nó bao giờ cũng phải là việc cắt nghĩa, lí giải

nó một cách khái quát trong cấu trúc chỉnh thể của tác phẩm, trong hệ thống thống nhất của chủ đề, cảm hứng, tư tưởng của người sáng tác Đây cũng là một năng lực cơ bản quan trọng mà việc bồi dưỡng tư duy văn học không thể

bỏ qua

Hai mặt cụ thể và khái quát, chi tiết và hệ thống bao giờ cũng tồn tại trong mối tương quan chặt chẽ hai chiều Nếu không nhạy cảm với những chi tiết cụ thể trong tác phẩm thì người đọc không thể tiếp cận được với máu thịt của tác phẩm; còn nếu như không khái quát hoá được sự thể hiện chi tiết thì người đọc xem như mới chỉ dừng ở bề ngoài, ở từng bộ phận riêng lẻ, dễ mất phương hướng, rơi vào tuỳ tiện Nhất là đối với những biểu hiện thẩm mĩ mà tác giả dụng công, thể hiện hồn cốt, tập trung chủ đề tư tưởng, là điểm sáng thẩm mĩ của tác phẩm thì càng cần thiết phải có năng lực khái quát hoá để lột

Trang 34

tả chính xác, sâu sắc bản chất thẩm mĩ của tác phẩm, hình dung ra hình tượng tác giả

* Bình giá nghệ thuật

Đây là loại năng lực mà ở đó người đọc bộc lộ cá tính, bản lĩnh tiếp

nhận, khả năng đánh giá của mình " Nếu như năng lực tự nhận thức là năng

lực đi từ tác phẩm đến sự nhận thức về bản thân mình, thì năng lực đánh giá tác phẩm là năng lực nhìn nhận, phát hiện giá trị của tác phẩm ở tầm khái quát, vĩ mô trong nhiều quan hệ giữa tác phẩm với tác giả, với những tác phẩm khác của các tác giả khác, với đời sống xã hội phát sinh của tác phẩm, với đời sống xã hội ngày nay."[ 42, tr 202]

Có thể xem thưởng thức, bình giá nghệ thuật là biểu hiện mang tính tổng hợp cao của tư duy văn học Nó đòi hỏi có sự kết hợp giữa những thao tác thuộc những khả năng khác như tri giác ngôn ngữ, tái hiện hình tượng, liên tưởng, tưởng tượng, năng lực cụ thể hoá, khái quát hoá, năng lực phân tích hình tượng theo đặc trưng thể loại

1.2 Rèn luyện tư duy văn học bằng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng

1.2.1 Liên tưởng, tưởng tượng

Liên tưởng, tưởng tượng có vai trò quan trọng trong tiếp nhận văn học, được coi là những phẩm chất tâm lý trong cảm thụ- phân tích tác phẩm văn học Nó còn là một biểu hiện quan trọng của tư duy văn học

1.2.1.1 Liên tưởng

* Khái niệm liên tưởng và các kiểu liên tưởng

- Khái niệm liên tưởng

Ở trên chúng tôi đã đề cập đến vấn đề trí nhớ Thực tế cho thấy trong

vỏ não, mỗi lần có sự nhớ lại thì lại xảy ra một quá trình tâm lý mới không phải sự sao chép đúng hoàn toàn cái đã xảy ra khi tri giác; vì vậy- biểu tượng được nhớ lại trong trí nhớ cũng không phải sự sao chép hoàn toàn những tri giác đã có trước đây, mà có sự biến dạng ít nhiều Về hiện tượng này,

Trang 35

P.A.Ruđích lý giải " Bất kỳ sự ghi nhớ hay học thuộc nào cũng đòi hỏi phải

thiết lập các mối quan hệ thần kinh tương ứng hay còn gọi là liên tưởng."

[51, tr 293] Như vậy hiện tượng liên tưởng có mối quan hệ với hiện tương trí

nhớ "Liên tưởng chỉ mối liên hệ giữa các yếu tố tâm lí, nhờ đó sự xuất hiện

của một yếu tố này trong những điều kiện nhất định gây nên một yếu tố khác liên quan với nó" [23, tr 25] Liên tưởng là sự tái hiện hiện thực nhờ liên hệ

giữa hiện thực đang có với hiện thực đã từng có, đã qua, có nghĩa là từ việc này, hình ảnh này đang diễn ra trong quá trình tâm lí thì nghĩ đến việc khác, hình ảnh khác có thể cùng loại, cũng có thể khác loại, nhưng cùng nằm trong một trường liên tưởng

- Các kiểu liên tưởng

Tâm lý học phân biệt ba loại liên tưởng Liên tưởng gần nhau Đây là loại liên tưởng diễn ra theo cơ chế tác động hệ quả, thể hiện mối liên hệ lôgíc thứ tự hô ứng do ký ức gợi ra Chẳng hạn khi đọc thuộc lòng một bài thơ, xong câu này dường như cũng là lúc câu tiếp theo xuất hiện.Có trường hợp do khả năng liên tưởng kém, việc đọc bị chậm lại hoặc bị gián đoạn

Liên tưởng giống nhau( liên tưởng tương đồng) là loại liên tưởng dựa vào các mối liên hệ thần kinh do hai đối tượng giống nhau gây nên Chúng xảy ra trong trường hợp sự tri giác về một vật thể nào đó sẽ gây nên trong trí nhớ sự nhớ lại một vật thể tương tự ngay cả lúc nó không được tri giác đồng thời hay bên cạnh vật thứ nhất Hiện tượng liên tưởng này có ý nghĩa tích cực

vì nó tạo cho chủ thể có cơ sở so sánh, đồng thời làm cho việc ghi nhớ có chủ đích đạt hiệu quả tốt hơn

Liên tưởng tương phản : Đây là loại liên tưởng có hình thức gần với liên tưởng giống nhau nhưng ở đây sự tri giác một vật thể nào đó lại gây nên trong trí nhớ hồi ức về một vật thể khác có những dấu hiệu ( đặc điểm, tính chất) hoàn toàn ngược lại So với liên tưởng giống nhau đã kể trên, loại liên

Trang 36

tưởng này giúp cho con người có khả năng tư duy so sánh rõ hơn [23, tr.25-26]

* Liên tưởng trong dạy học tác phẩm văn chương

Tâm lý học sáng tạo nghệ thuật cho rằng: Ý niệm con người gợi lên từ

một cảnh vật, một hành động, một tình cảm, một ý nghĩ không phải đơn độc

mà thường gợi lên cả một hệ thống tiềm tàng Từ đấy người ta có thể đối lập

giữa các yếu tố khác nhau trong từng hệ thống Trong dạy học tác phẩm văn

chương cần chú ý tới liên tưởng trong sáng tác văn học Liên tưởng trong

sáng tác văn học có thể phân loại theo hình thức biểu hiện bao gồm

- Liên tưởng ký ức

- Liên tưởng gần giống

- Liên tưởng giống nhau

- Liên tưởng tương phản

- Liên tưởng nhân quả

- Liên tưởng bên trong tất yếu

- Liên tưởng bên ngoài không bắt buộc

- Liên tưởng trực tiếp

- Liên tưởng gián tiếp [ 23, tr 37-38]

" Liên tưởng là đầu mối của những rung động thẩm mỹ Liên tưởng

không những là cần thiết để lĩnh hội được bề trong của hìng tượng, mà còn

giúp mở rộng và đào sâu sự sống chứa đựng trong đó."[23, tr 90]

Khi dạy học tác phẩm văn chương, giáo viên cần chú ý tới một số hình

thức liên tưởng quen thuộc, có tính phổ biến và dễ nhận diện:

- Liên tưởng gần giống thể hiện mối quan hệ tất yếu, tiềm tàng giữa tín

hiệu vật chất hiện tại và kinh nghiệm, dựa trên những nét gần nhau về bộ

phận Hình thức liên tưởng này trong dạy học tác phẩm văn chương khi giáo

viên cho học sinh phát hiện các hoán dụ nghệ thuật Một số ví dụ:

Trang 37

"Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biét nói gì hôm nay"

( Việt Bắc- Tố Hữu)

"Chồng ta áo rách ta thương Chồng người áo gấm xông hương mặc người"

( Ca dao)

"Mà hình đất nước hoặc còn hoặc mất Sắc vàng nghìn xưa sắc đỏ tương lai"

( Người đi tìm hình của nước- Chế lan Viên)

- Liên tưởng giống nhau thể hiện mối quan hệ bản chất, tương đồng giữa vật liên tưởng và vật được liên tưởng Hình thức liên tưởng này trong dạy học tác phẩm văn chương khi giáo viên cho học sinh phát hiện các ẩn dụ nghệ thuật.Ví dụ

" Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ"

( Viếng Lăng Bác- Viễn Phương)

" Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền"

Trang 38

Ví dụ:

"Trước sau nào thấy bóng người Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông"

( Truyện Kiều- Nguyễn Du)

" Em là ai ? Cô gái hay nàng tiên

Em có tuổi hay không có tuổi Mái tóc em đây, hay là mây là suối Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm đông Thịt da em hay là sắt là đồng?"

( Người con gái Việt Nam- Tố Hữu)

" Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm"

( Tây Tiến- Quang Dũng)

Liên tưởng hồi ức là liên tưởng xuất hiện do sức gợi của các yếu tố sự vật trong hiện thực về phía kỉ niệm Ví dụ

"Xanh đã ngủ ở dưới trời yên tĩnh

Đỏ còn ngân trong tiếng nói dịu dàng

Ta mơ màng thấy gió đang sóng sánh Trống sân trường văng vẳng đánh mười năm"

( Phượng mười năm- Xuân Diệu)

Liên tưởng theo quan hệ không gian là liên tưởng được mở ra đa chiều

do sức gợi của các yếu tố hiện thực có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp Ví dụ:

"Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất Khăn thương nhớ ai Khăn vắt lên vai Khăn thương nhớ ai

Trang 39

Khăn chùi nước mắt Đèn thương nhớ ai

Mà đèn không tắt Mắt thương nhớ ai

Mắt ngủ không yên Đêm qua em những lo phiền

Lo vì một nỗi không yên một bề"

( Ca dao)

Nhìn chung, liên tưởng tạo cho nhà văn khả năng nối kết những hình

ảnh vốn rời rạc xa nhau trở thành một thành phẩm của chất liệu mới, lớp

nghĩa mới, tạo ra những tính chất linh hoạt và năng động, đa nghĩa của hình

tượng nghệ thuật Nhiệm vụ của giáo viên là hướng đẫn học sinh phát hiện ra

các hình thức liên tưởng đó và phân tích ý nghĩa của hình tượng nghệ thuật

dưới những hình thức liên tưởng được nhà văn sử dụng

1.2.1.2 Tưởng tượng

* Khái niệm tưởng tượng và các kiểu tưởng tượng

- Khái niệm tưởng tượng

" Con người không biết tưởng tượng vẫn có thể thu thập được sự kiện

Nhưng nếu không có tưởng tượng sẽ không thể có những phát minh vĩ đại,

loài người sẽ không phát triển cả văn minh vật chất và văn minh tinh thần."

( Ti-mi-ria- zep) Tưởng tượng là con người dựng lên trong óc mình những

hình ảnh con người, sự vật, sự kiện mới chưa từng được tri giác hoặc chưa có

trong hiện thực." Tưởng tượng là sự hoạt động của nhận thức mà trong quá

trình nhận thức ấy con người tạo ra những biểu tượng, tình huống trong ý

nghĩ, tư tưởng, đồng thời dựa vào những hình tượng còn giữ lại trong kí ức từ

kinh nghiệm cảm giác trước kia và có đổi mới, biến đổi các thứ ấy."

[ 52, tr.197] Hoặc có thể nói: " Tưởng tượng là một quá trình tâm lý phản

Trang 40

ánh những cái chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã biết [ 19, tr 167]

- Các kiểu tưởng tượng

Các nhà tâm lý học chia tưởng tượng làm hai loại:

Tưởng tượng tiêu cực: Về bản chất, tưởng tượng là một hoạt động sáng tạo của cá nhân hướng vào sự cải tổ thế giới xung quanh, song ở một số hoàn cảnh nhất định, những hình ảnh do tưởng tượng mà có được sẽ có thể xuất hiện như là một vật thay thế cho hoạt động, dẫn con người vào địa hạt của những biểu tượng hoang đường Trong đó tưởng tượng tiêu cực xảy ra một cách có chủ định được gọi là mơ mộng.Tưởng tượng tiêu cực nảy sinh không chủ định là ảo giác, hoang tưởng

Tưởng tượng tích cực là loại tưởng tượng tạo ra những hình ảnh phù hợp nhằm đáp ứng những nhu cấu bức xúc, kích thích tính tích cực và tính thực tế của con người, nó biểu hiện ở hai cấp độ:

Cấp độ thứ nhất, tưởng tượng tái tạo là quá trình tưởng tượng tạo ra những hình ảnh chỉ là mới đối với cá nhân người tưởng tượng và dựa trên cơ

sở miêu tả hoặc gợi ý của người khác Nó được thực hiện bởi thao tác "hình dung lại" để xác định đối tượng nhận thức Đó cũng là nhiệm vụ đầu tiên của học sinh khi tiếp xúc với các môn học trong nhà trường

Cấp độ thứ hai, tưởng tượng sáng tạo là quá trình xây dựng hình ảnh mới một cách độc lập Những hình ảnh được xây dựng được coi là mới với cả bản thân người tưởng tượng và mới với cả xã hội đồng thời, chúng được hoặc (có khả năng) hiện thực hoá trong các sản phẩm vật chất độc đáo và có giá trị, mang dấu ấn riêng của từng cá nhân [19, tr 173-174]

* Tưởng tượng trong dạy học tác phẩm văn chương

" Tưởng tượng như chiếc cầu nối người đọc với người viết Tưởng tượng nâng tâm hồn, suy nghĩ người đọc đến gần với người viết".[ 38, tr 92]

Ngày đăng: 30/03/2015, 15:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1- Hoàng Anh. Luật Giáo dục năm 2005. Nxb Lao Động, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục năm 2005
Nhà XB: Nxb Lao Động
2.Vũ Quốc Anh cùng nhiều tác giả. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ Văn. NXB Giáo Dục Việt Nam, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ Văn
Nhà XB: NXB Giáo Dục Việt Nam
3. M.Arnauđôp.Tâm lý học sáng tạo văn học. Nxb Văn học, 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học sáng tạo văn học
Nhà XB: Nxb Văn học
4. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo. Chương trình Giáo dục Phổ thông môn Ngữ Văn. Nxb Giáo Dục, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Giáo dục Phổ thông môn Ngữ Văn
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
5. Đỗ Hữu Châu, Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
6. Nguyễn Hải Châu( chủ biên). Giới thiệu giáo án Ngữ văn 11 tập 1. Nxb Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu giáo án Ngữ văn 11 tập 1
Nhà XB: Nxb Hà Nội
7. Nguyễn Viết Chữ. Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo thể loại. Nxb ĐHSP Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo thể loại
Nhà XB: Nxb ĐHSP Hà Nội
8. Nguyễn Viết Chữ. Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường. Nxb Giáo Dục Việt Nam, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường
Nhà XB: Nxb Giáo Dục Việt Nam
9. Nguyễn Quang Cương. Câu hỏi và bài tập với việc dạy- học tác phẩm văn chương trong nhà trường. Nxb Quốc gia Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu hỏi và bài tập với việc dạy- học tác phẩm văn chương trong nhà trường
Nhà XB: Nxb Quốc gia Hà Nội
10. M. Donalson. Hoạt động tư duy của trẻ em. Nxb Giáo Dục, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động tư duy của trẻ em
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
11. Phạm Minh Diệu( chủ biên). Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 11 chương trình chuẩn. Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 11 chương trình chuẩn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
12. Đảng Cộng Sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính Trị Quốc Gia, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Nhà XB: Nxb Chính Trị Quốc Gia
13. Phạm Văn Đồng. Tuyển tập văn học. Nxb văn học, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập văn học
Nhà XB: Nxb văn học
14. Hà Minh Đức cùng các tác giả. Lí luận văn học. Nxb GD, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Nhà XB: Nxb GD
15. Hà Minh Đức- Lê Bá Hán. Cơ sở lí luận văn học, tập 2. Nxb ĐHTHCH, 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lí luận văn học, tập 2
Nhà XB: Nxb ĐHTHCH
16. Hà Minh Đức. Tuyển tập Nam Cao. Nxb Văn học, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Nam Cao
Nhà XB: Nxb Văn học
17. Nguyễn Văn Đường ( chủ biên).Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 11, tập 1.Nxb Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 11, tập 1
Nhà XB: Nxb Hà Nội
18. M.Gorki. Bàn về văn học( 2 tập). Nxb Văn học, Hà Nội, 1970 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về văn học( 2 tập)
Nhà XB: Nxb Văn học
19. Phạm Minh Hạc ( chủ biên). Tâm lí học, 2 tập. Nxb Giáo Dục, 1988-1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học, 2 tập
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
20. Đỗ Đức Hiểu ( chủ biên) .Từ điển văn học. Nxb Thế giới, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Nhà XB: Nxb Thế giới

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình mà còn thay đổi cả - Rèn luyện tư duy văn học cho học sinh trung học phổ thông bằng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm Chí Phèo  của Nam Cao (sách giáo khoa ngữ
Hình m à còn thay đổi cả (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w