và trước tiên là kĩ năng giao tiếp… Con người khi sinh ra không phải ai cũng đã có sẵn những kĩ năng mà nó là kết quả của một quá trình rèn luyện, trau dồi trong hoạt động và phải thông
Trang 1- 1 -
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ NGỌC BÍCH
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG DIỄN ĐẠT VIẾT CHO HỌC SINH HUYỆN THANH LIÊM TỈNH HÀ NAM TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI CỔ ĐẠI VÀ TRUNG ĐẠI LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN LỊCH SỬ)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ BÍCH
HÀ NỘI, 2012
Trang 2iv
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn ……… i
Danh mục viết tắt……… ii
Danh mục các sơ đồ, bảng……… iii
Mục lục……… iv
MỞ ĐẦU……… 1
Chương 1: RÈN LUYỆN KĨ NĂNG DIỄN ĐẠT VIẾT CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG – LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 14
1.1 Cơ sở lí luận 14
1.1.1 Cơ sở xuất phát của việc rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông 14
1.1.2 Quan niệm 23
1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của việc rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết cho học sinh ở trường phổ thông 28
1.1.4 Những yêu cầu khi rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết cho học sinh 35
1.1.2 Cơ sở thực tiễn 41
1.3 Những định hướng rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết cho học sinh 52 Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG DIỄN ĐẠT VIẾT CHO HỌC SINH HUYỆN THANH LIÊM TỈNH HÀ NAM TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI CỔ ĐẠI VÀ TRUNG ĐẠI LỚP 10 TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN
57
2.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung phần lịch sử thế giới cổ, trung đại - lớp 10 THPT (Chương trình chuẩn) 57
2.1.1 Vị trí 57
2.1.2 Mục tiêu 57
2.1.3 Nội dung 59
Trang 3v
2.2 Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết cho học sinh
huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam trong dạy học lịch sử thế giới cổ đại
và trung đại lớp 10 THPT (Chương trình chuẩn) 65
2.2.1 Rèn kĩ năng hành văn, viết đúng ngữ pháp khi diễn đạt viết về một nội dung lịch sử 65
2.2.2 Rèn kĩ năng diễn đạt viết cho học sinh qua đọc sách, báo, tạp chí để chuẩn bị kiến thức nền 67
2.2.3 Tăng cường luyện tập cách diễn đạt viết qua các bài tập về nhà 72 2.2.4 Xây dựng sổ tay tư liệu lịch sử để rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết 76 2.2.5 Sử dụng các bài kiểm tra, đánh giá để rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết 79
2.3 Thực nghiệm sư phạm 84
2.3.1 Mục đích thực nghiệm 84
2.3.2 Đối tượng thực nghiệm 84
2.3.3 Nội dung thực nghiệm 84
2.3.4 Phương pháp tiến hành thực nghiệm 84
2.3.5 Kết quả thực nghiệm 85
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 95
Trang 5DANH MỤC SƠ ĐỒ
Trang
Sơ đồ 1.1 Các bước hình thành kĩ năng 27
Sơ đồ 2.1 Các bước đọc sách 70
Trang 6thành công chủ nghĩa xã hội. Để thực hiện nghị quyết trên trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đất nước đang tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi Việt Nam cần nguồn nhân lực không chỉ có trình độ học vấn mà còn phải có năng lực giao tiếp, năng lực sáng tạo, hợp tác, tìm tòi, khám phá,
xử lí thông tin, vận dụng và giải quyết vấn đề…
Muốn phát triển năng lực đòi hỏi phải thuần thục nhiều kĩ năng như tự học, làm việc theo nhóm và trước tiên là kĩ năng giao tiếp… Con người khi sinh ra không phải ai cũng đã có sẵn những kĩ năng mà nó là kết quả của một quá trình rèn luyện, trau dồi trong hoạt động và phải thông qua giao tiếp mà quan trọng nhất là qua ngôn ngữ diễn đạt Diễn đạt như thế nào cho trôi chảy
để người nghe, người đọc hiểu được ý đồ của mình, tin tưởng, hợp tác với mình là điều vô cùng cần thiết Cho nên, đây là kĩ năng không thể thiếu đối với mỗi người trong cuộc sống và cùng với gia đình, môi trường giáo dục nhà trường chính là một trong những nơi tiếp tục hình thành và phát triển kĩ năng diễn đạt cho HS
Với mỗi con người nói chung, HS nói riêng, kĩ năng diễn đạt có vai trò truyền tải thông tin đến người khác dễ hiểu và thuyết phục hơn, như
A.Đixtenvec - nhà giáo dục học người Đức đã khẳng định “Không nên quên một nguyên lý sau đây: chúng ta chỉ có thể hiểu rõ cái mà chúng ta có thể nói lên được, chúng ta chỉ hiểu rõ cái mà chúng ta có khả năng diễn tả
Trang 7- 2 -
thành lời Không có một phương tiện nào đúng đắn hơn để dành cho bản thân và cho người khác những kiến thức khúc chiết và những tư tưởng rõ ràng bằng cách buộc mình và những người khác diễn tả tư tưởng của bản thân một cách công khai, sáng tỏ, xác định và nhanh chóng Ai đã từng quan sát bản thân cũng biết rằng, chúng ta chỉ thực sự nắm vững hoàn toàn một biểu tượng hay một tư tưởng nào đó, khi tìm thấy những từ thích hợp nhất để diễn tả chúng” [40; tr.69]
Rèn luyện kĩ năng tư duy ngôn ngữ cho HS dạy học là một nhiệm vụ của nhà trường phổ thông Trong QTDH nói chung, DHLS nói riêng thì ngôn
ngữ diễn đạt nói và viết đóng vai trò chủ đạo đối với cả GV và HS Bởi vì
“không có phương pháp dạy học nào, phương tiện dạy học nào được sử dụng lại không kèm theo lời nói Diễn đạt nói dễ hiểu, rõ ràng giúp học sinh hiểu
rõ được quá khứ lịch sử như nó đã tồn tại mà còn giúp các em biết suy nghĩ, tìm tòi rút ra kết luận, hình thành khái niệm, gây xúc cảm mạnh mẽ cho các
em Diễn đạt viết cũng có ý nghĩa như dùng lời nói Nếu viết lủng củng, không đúng ngữ pháp thì người đọc không thể hiểu được Song khi diễn đạt viết mạch lạc, rõ ràng, đúng ngữ pháp thì sẽ giúp người đọc hiểu sâu sắc những ý cần thiết và gợi dậy trong tâm hồn họ xúc cảm lịch sử qua những lời văn hay,
ý đẹp” [6, tr.21] Thông qua diễn đạt, GV thực hiện được các kế hoạch sư
phạm của mình, đồng thời HS cũng thể hiện được năng lực và tính tích cực chủ động chiếm lĩnh tri thức khoa học
Tuy nhiên, trong học tập của HS hiện nay vẫn còn tồn tại một thực trạng đó là nhiều em kém về kĩ năng diễn đạt Khi viết, làm bài kiểm tra, các
em còn phạm các lỗi sai ngữ pháp, chấm câu bừa bãi, hành văn lủng củng, không làm nổi bật được ý cần nói, diễn đạt thường khô khan, công thức, lập luận không chặt chẽ Hoặc các em thường mắc khuyết tật trong phát âm như nói ngọng, nói lắp, nói nhanh, nói ngắt quãng hoặc thêm những liên từ không cần thiết làm cho lời nói lủng củng, trúc trắc không rõ ràng Cho nên, đối với diễn đạt viết, trong chấm bài kiểm tra của HS hiện nay nhiều GV chỉ quan
Trang 8Thanh Liêm là một huyện của tỉnh Hà Nam - tỉnh cửa ngõ phía Nam thủ đô Hà Nội Trong những năm học vừa qua, số HS dự thi tốt nghiệp và đại học có tỉ lệ đỗ tương đối cao Tuy nhiên, ở các kì thi này điểm thi môn lịch
sử mà HS đạt được không cao, chủ yếu điểm trung bình còn điểm giỏi chiếm
số lượng rất ít Nguyên nhân là do HS dự thi chủ yếu các khối A, B,và D, có rất ít HS dự thi khối C (20-25 HS/ trường), các em không chú trọng đầu tư thời gian và công sức học tập các môn xã hội như văn học, lịch sử Hơn nữa, Thanh Liêm - Hà Nam là một huyện đồng bằng do văn hóa, lịch sử để lại trong ngôn ngữ của cư dân còn mang nặng tính địa phương ở cách phát âm đã ảnh hưởng nhiều đến khả năng diễn đạt của HS trong học tập Thực tế này cùng với quan niệm học lịch sử chỉ cần đỗ tốt nghiệp nên GV cũng chưa chú trọng đến việc rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết cho HS và bản thân các em cũng không tự ý thức rèn luyện kĩ năng đó Diễn đạt viết là một kĩ năng rất cần thiết đối với HS không chỉ khi còn ngồi trên ghế nhà trường để giúp các
em lĩnh hội kiến thức sâu sắc hơn mà sau này trong cuộc sống dù làm bất cứ công việc gì cũng đòi hỏi các em phải vận dụng kĩ năng này
Để khắc phục tình trạng trên, chúng tôi đã quyết định lựa chọn đề tài
“Rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết cho học sinh huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam trong dạy học lịch sử thế giới cổ đại và trung đại lớp 10 Trung học phổ thông chương trình chuẩn” với mong muốn góp phần bồi dưỡng cho HS
Trang 9- 4 -
năng lực giao tiếp - giao tiếp bằng ngôn ngữ viết và nâng cao chất lượng dạy học môn lịch sử ở trường THPT
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Thực hành kĩ năng diễn đạt là một hoạt động thực hành Nghiên cứu vấn
đề rèn luyện kĩ năng nói chung, kĩ năng diễn đạt viết nói riêng dưới góc độ hoạt động thực hành cũng đã sớm được các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu
2.1 Tài liệu nước ngoài
Nhận thức đúng vai trò của việc thực hành diễn đạt các nhà giáo dục nước ngoài rất quan tâm tới vấn đề rèn luyện các kĩ năng thực hành để phát huy tính tích cực của HS trong dạy học
T.A.Ilina trong cuốn “Giáo dục học” tập II, Nxb Giáo dục năm 1973
đã xem thực hành các kĩ năng như một PPDH tích cực giúp HS hiểu sâu hơn bài học và phát huy được tính độc lập, sáng tạo của mình Trong tác phẩm này ông đã đề cập đến nhiều kĩ năng thực hành của HS: kĩ năng làm việc với SGK; kĩ năng học tập ở phòng thí nghiệm, thực nghiệm; kĩ năng luyện tập, ôn tập, làm bài tập… và nhấn mạnh việc luyện tập, ôn tập, làm bài tập bằng sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt chính là một dạng thực hành
Trong cuốn “Giáo dục học” Nxb Giáo dục năm 1978, tác giả
H.V.Savin đã nhấn mạnh mục đích của công tác thực hành là để đảm bảo việc củng cố và cụ thể hóa các tri thức lý luận mà HS đã thu nhận được, thực hiện đầy đủ hơn mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn Cũng theo tác giả việc mở rộng khối lượng các công việc thực hành trong học tập đã thúc đẩy lý luận dạy học tìm kiếm các điều kiện để nâng cao hiệu quả của chính các biện pháp này Như vậy, H.V.Savin đã khẳng định rõ mục đích, ý nghĩa của hoạt động thực hành trong dạy học, song ông lại chưa đi sâu vào các vấn đề khác của hoạt động thực hành, phân loại các dạng thực hành hoặc làm thế nào để rèn luyện các kĩ năng thực hành cho HS, đặc biệt là kĩ năng thực hành diễn đạt
M A Alecxeep trong công trình nghiên cứu “Phát triển tư duy học sinh” -Nxb Giáo dục, 1976 đã nhấn mạnh “Chỉ có thể lĩnh hội được tri thức khi tư
Trang 10- 5 -
duy tích cực của bản thân học sinh được phát triển và nhờ sự hướng dẫn của giáo viên các em biết phân tích và khái quát tài liệu có nội dung sự kiện cụ thể và rút ra được những kết luận cần thiết” [36; tr.64] Tác giả còn khẳng định QTDH không chỉ bao gồm việc GV truyền thụ tri thức và HS ghi nhớ tri thức Tính hiệu quả của việc dạy học đấy không chỉ là kết quả của thông tin
mà HS thu nhận được từ bên ngoài (từ lời nói của GV và từ bài vở trong SGK) mà còn là sản phẩm của những hành động tìm tòi, mang tính chất thông tin của riêng HS, của tư duy tích cực của bản thân các em
Nhà giáo dục học Nga P.F.Captêriôp cũng khẳng định rằng mỗi tiết học
tốt có 3 yếu tố cơ bản: “Lĩnh hội đầy đủ tài liệu học tập, nghiên cứu nó tỉ mỉ
và diễn tả rành mạch, nghĩa là tái hiện kiến thức” [41; tr.69]
M.N.Sacđacôp, trong cuốn “Tư duy của học sinh” (1970), đã đánh giá
cao vai trò của tri giác tài liệu là phương tiện trực quan đối với hoạt động tư
duy Ông nhận định: “Tư duy diễn ra trong mối liên hệ chặt chẽ với tri giác… nhờ tri giác mà ta thu nhận được thuộc tính và phẩm chất bản chất hoặc không bản chất bên ngoài” [43; tr.20]
Có thể thấy các tài liệu trên đã đề cập đến vấn đề thực hành ở góc độ khái niệm, phân loại… nhưng lại chưa chỉ ra cụ thể các con đường biện pháp
để rèn luyện kĩ năng thực hành cho HS
F.Khar-la-mốp trong cuốn: “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào” (1976) cho rằng HS phải tự khám phá kiến thức cho bản
thân dù chỉ là “khám phá lại” Sự khám phá này phải thông qua việc thực
hành giải các bài tập chứ không phải chỉ là học thuộc lòng “Học tập là quá trình nhận thức tích cực trong đó có bước ôn tập kiến thức đã học, đào sâu,
hệ thống hoá kiến thức Việc học tập ở nhà của học sinh hay việc ôn tập bài
cũ có ý nghĩa tích cực không chỉ với việc phát huy tính tích cực của học sinh
mà còn giúp các em củng cố, nắm vững kiến thức” [40, tr.68 q2] Vấn đề đặt
ra là GV cần lựa chọn nội dung, tổ chức các hoạt động thực hành ôn tập sao
Trang 11- 6 -
cho HS có thể phát huy tính sáng tạo và nắm vững kiến thức cơ bản nhất: làm bài tập thực hành, trả lời câu hỏi, tóm tắt kiến thức cơ bản về sự kiện lịch sử
Trong cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?”của tác giả
N.G.Đairi do Đặng Bích Hà dịch đã nêu ra những yêu cầu trong một giờ học
lịch sử, một trong những yêu cầu quan trọng là “Ngôn ngữ chính xác của thầy giáo, đáp ứng một loạt những yêu cầu về sư phạm (phù hợp với những tiêu chuẩn ngôn ngữ, tính truyền cảm, những quãng ngắt hơi, cách nhấn mạnh, tính xúc cảm, nhịp độ thích hợp…), phát triển ngôn ngữ của học sinh, cùng với việc làm phong phú vốn từ lịch sử của học sinh” [45; tr.9]
Như vâ ̣y, các nhà giáo dục nước ngoài khi nghiên cứu về vấn đề diễn đạt của HS hầu hết đều quan tâm tới hoạt động thực hành nói chung mà chưa chú trọng nhiều tới việc phát triển ngôn ngữ diễn đạt cho các em Các tác giả mới chỉ nhấn mạnh vai trò của hoạt động thực hành diễn đạt , sự cần thiết phải rèn luyện khả năng ngôn ngữ , kĩ năng diễn đạt cho HS nhưng lại chưa đề cập cụ thể đến các cách thức, biện pháp rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết cho HS như
thế nào cho có hiệu quả
2.2 Tài liệu trong nước
Các tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt trong cuốn “Giáo dục học” tập
I, Nxb Giáo dục 1987 nhấn mạnh một trong những nguyên tắc cơ bản của lí luận dạy học là nhất định phải gắn tri thức HS đã được tiếp nhận với thực tiễn bằng những hoạt động cụ thể, có như vậy mới đảm bảo nguyên tắc thống nhất giữa lí luận với thực tiễn, qua đó tổng hợp được các tri thức, rèn kĩ năng, kĩ xảo cho HS Trong quá trình thực hành này kĩ năng diễn đạt phải được rèn luyện, củng cố thường xuyên thì kiến thức mà các em tiếp nhận được mới tồn tại một cách vững chắc
Trong cuốn “Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên” của Nxb Đại
học sư phạm, các tác giả Phạm Trung Thanh, Nguyễn Thị Lý đã đề cập đến vị trí, vai trò, ý nghĩa của việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên trong quá trình đào tạo GV và cũng đã nêu ra những phương pháp giúp sinh viên sư
Trang 12- 7 -
phạm rèn luyện những kĩ năng nghề nghiệp cần thiết, như kĩ năng nói và trình bày trước đám đông, kĩ năng viết bảng, kĩ năng diễn đạt viết qua làm bài tập, bài kiểm tra Song các tác giả lại chưa đề cập đến vai trò, ý nghĩa và biện pháp giúp HS rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết như thế nào
Rõ ràng, các tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt và Phạm Trung Thanh tuy đều đã quan tâm đến việc rèn luyện kĩ năng thực hành trong QTDH, nhưng lại chưa đề cập đến việc rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết như thế nào cho HS để đạt được kết quả cao
Các tác giả Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng và Nguyễn Thị Côi
trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử”, tập 1 (Nxb Đại học sư phạm, Hà
Nội, 2009) trong phần viết về mục tiêu của bộ môn lịch sử ở trường phổ thông đã xác định rõ mục tiêu về kĩ năng và nhấn mạnh đến mục tiêu phát
triển năng lực trình bày viết của HS: “Phải bồi dưỡng kĩ năng học tập và thực hành bộ môn: tự “làm việc” với sách giáo khoa và các loại tài liệu khác có liên quan, nâng cao năng lực trình bày nói và viết, làm và sử dụng đồ dùng trực quan, ứng dụng thành tựu công nghệ thông tin vào học tập, tổ chức và thực hiện những hoạt động ngoại khóa của môn học” [24; tr.69]
Trong tài liệu học tập chuyên đề “Phát triển tư duy học sinh trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông cấp III – Khoa lịch sử, 1971-1972, tác giả Phan Ngọc Liên với bài viết “Về phát triển tư duy biện chứng cho học sinh trong khi dạy học lịch sử” đã nhấn mạnh tới vai trò của ngôn ngữ và lời nói: “Tư duy diễn ra dưới hình thức ngôn ngữ, được hoàn thiện trong sự trao đổi bằng ngôn ngữ của con người, ngược lại, ngôn ngữ được hình thành nhờ có tư duy Khi phát triển ngôn ngữ rõ ràng, khúc chiết và chính xác ở học sinh, giáo viên đồng thời phát triển tư duy chính xác và đúng đắn ở học sinh Trong quá trình bồi dưỡng tư duy thì ngôn ngữ cũng phát triển và nhờ đó mà những ý nghĩ rõ ràng của học sinh cũng được thể hiện trong những hình thức ngôn ngữ khúc chiết… Tiếng nói là hình thức, cái vỏ vật chất của tư duy Lời nói không chỉ là phương tiện để hiểu ý người khác, để truyền đạt ý nghĩ của mình mà còn là phương tiện để hiểu chính
Trang 13tác giả đã đi sâu trình bày hệ thống các kĩ năng thực hành cần rèn luyện cho
sinh viên sư phạm và cũng đã dành một chương với tiêu đề “Rèn luyện kĩ năng diễn đạt” đề cập đến kĩ năng diễn đạt Về vấn đề này, các tác giả đã khẳng định vị trí, vai trò, ý nghĩa của kĩ năng diễn đạt (nói và viết): "Diễn đạt (nói và viết) có vai trò, ý nghĩa to lớn trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông Lời nói đóng vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học lịch sử Bởi vì không có phương pháp dạy học nào, phương tiện dạy học nào được sử dụng lại không kèm theo lời nói Diễn đạt nói dễ hiểu, rõ ràng giúp học sinh hiểu
rõ được quá khứ lịch sử như nó đã tồn tại mà còn giúp các em biết suy nghĩ, tìm tòi rút ra kết luận, hình thành khái niệm, gây xúc cảm mạnh mẽ cho các
em Diễn đạt viết cũng có ý nghĩa như dùng lời nói Nếu viết lủng củng, không đúng ngữ pháp thì người đọc không thể hiểu được Song khi diễn đạt viết mạch lạc, rõ ràng, đúng ngữ pháp thì sẽ giúp người đọc hiểu sâu sắc những ý cần thiết và gợi dậy trong tâm hồn họ xúc cảm lịch sử qua những lời văn hay,
ý đẹp.” [6; tr.21] Các tác giả cũng đã thống nhất cho rằng: “Để thể hiện đúng vai trò, ý nghĩa của diễn đạt nói và viết trong dạy học lịch sử, cần thiết phải gia công rèn luyện, khắc phục những khuyết tật thường gặp” [6; tr.22] Như
vậy, tác giả đã định hướng những yêu cầu cụ thể để rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết như phải khắc phục yếu kém thường gặp trong diễn đạt viết, phải diễn đạt mạch lạc, súc tích, câu văn viết gọn, rõ ràng, đúng ngữ pháp Ngoài ra, tác giả cũng chỉ ra cụ thể những biện pháp để giúp sinh viên rèn luyện kĩ năng diễn
đạt viết như ôn tập, nắm vững một số điểm về ngữ pháp tiếng Việt; thường xuyên đọc sách báo để trau dồi kiến thức; luyện tập cách diễn đạt qua các bài tập ở nhà; trong thực tập sư phạm và dạy học tránh những yếu kém thường
Trang 14Tác giả Nguyễn Thu Quyên với bài viết: “Tổ chức cho học sinh thuyết trình - một biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường THPT” trên tạp chí Giáo dục số 233 năm 2010 đã trình bày những đề xuất các biện pháp để rèn luyện kĩ năng thuyết trình cho HS Tác giả nhấn
mạnh đây là một biện pháp để nâng cao hiệu quả DHLS thông qua việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS Thuyết trình cũng là cách để HS trình bày, diễn đạt những ý kiến, sự sáng tạo của mình trên cơ sở đã được chuẩn bị kỹ lưỡng bài viết ở nhà và trình bày trên lớp Đây cũng là một cách
để HS tự học tích cực, biết ăn nói lưu loát, phát biểu ý kiến một cách tự nhiên,
triển kĩ năng nói: “Nói (trình bày) một chủ đề, một luận điểm vừa đầy đủ, đúng đắn có tính khoa học, thuyết phục, tạo sự đồng cảm ở người nghe đâu phải là ai cũng có thể đạt được nếu như không có quá trình rèn luyện thường xuyên và có khoa học” [4; tr.15]
Trong bài viết “Rèn luyện và phát triển kĩ năng nói cho học sinh THCS”
in trên tạp chí Giáo dục số 131 năm 2006 của tác giả Nguyễn Thúy Hồng đã
khẳng định: “Nếu như nghe, đọc là hai kĩ năng quan trọng của hoạt động tiếp
Trang 15Việc rèn luyện kĩ năng diễn đạt còn được lựa chọn làm đề tài nghiên cứu
trong các khóa luận Tốt nghiêp Trong khoá luận mang tên“Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng trình bày miệng cho học sinh trong dạy học chương Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỉ XVI đến cuối thế kỉ XVIII - lớp 10 THPT- chương trình chuẩn” của tác giả Phan Thị Thanh Loan, Khoa Sử, Đại học Sư
phạm Hà Nội, 2011, đã khẳng định vai trò, ý nghĩa của kĩ năng trình bày miệng đối với HS và nêu ra các cách trình bày miệng của HS trong học tập môn lịch
sử gồm tường thuật, miêu tả, giải thích, nêu đặc điểm sự kiện, nhân vật Đồng thời, khoá luận cũng đề xuất một số biện pháp để rèn luyện kĩ năng trình bày
miệng cho HS trong dạy học chương “Các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỉ XVI đến cuối thế kỉ XVIII –lớp 10 THPT- chương trình chuẩn” như: hướng dẫn
HS sử dụng SGK trình bày những sự kiện chính xác, cơ bản; kết hợp lời nói với sử dụng đồ dùng trực quan… Diễn đạt nói và viết đều có vai trò quan trọng trong giao tiếp đối với HS Tuy nhiên, lại chưa có khóa luận, luận văn, luận án
nào đề cập tới việc rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết
Như vậy, các nguồn tài liệu viết về vấn đề rèn luyện kĩ năng thực hành diễn đạt đã khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc rèn luyện kĩ năng diễn đạt nói và viết của cho HS và đều chỉ ra rằng để có được hai kĩ năng đó phải cần có một quá trình rèn luyện trau dồi Tuy nhiên, đối với rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết, các tác giả chưa đề cập đến các biện pháp cụ thể để rèn luyện kĩ năng này cho
HS Các công trình nghiên cứu trên tuy chưa đề cập cụ thể các biện pháp để
Trang 16- 11 -
rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết cho HS nhưng đã khẳng đi ̣nh vai trò , tầm quan trọng của việc rèn luyện các kĩ năng cho HS trong đó có kĩ năng diễn đạt phát triển tư duy và ngôn ngữ cho HS trong da ̣y ho ̣c Đây nguồn tài liệu quý giá để chúng tôi vận dụng và đề xuất một số biện pháp giúp HS rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết trong quá trình học tập bộ môn lịch sử ở trường THPT
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu : của đề tài là quá trình rèn luyện kĩ năng diễn đạt
viết cho HS trong DHLS ở lớp 10 THPT
3.2 Phạm vi nghiên cứu: là khóa trình lịch sử thế giới cổ đại và trung đại lớp
10 THPT (chương trình chuẩn) vận dụng cho đối tượng HS THPT huyện Thanh Liêm – tỉnh Hà Nam
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết đối với HS THPT nói chung, đề tài đi sâu xác định nội dung, tiêu chí của kĩ năng diễn đạt viết và đề xuất biện pháp rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết phù hợp với HS huyện Thanh Liêm - tỉnh Hà Nam
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu lí luận và thực tiễn dạy học ở trường phổ thông làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết cho
HS THPT huyện Thanh Liêm - tỉnh Hà Nam trong DHLS
- Nghiên cứu chương trình, SGK để xác định nội dung cơ bản khóa trình lịch sử thế giới cổ đại và trung đại lớp 10 THPT (chương trình chuẩn) làm căn cứ cho việc xác định nội dung, tiêu chí rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết cho HS nói chung, HS huyện Thanh Liêm - tỉnh Hà Nam nói riêng
- Điều tra thực tiễn việc rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết cho HS trong DHLS ở trường THPT
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm qua một bài kiểm tra lịch sử cụ thể ở
trường phổ thông để xác định tính hiệu quả, khả thi của các biện pháp đề xuất
Trang 17- 12 -
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở phương pháp luận
- Cơ sở phương pháp luận của đề tài là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về giáo dục, và giáo dục lịch sử
- Cơ sở lí luận về tâm lý học, giáo dục học, phương pháp DHLS của
các nhà giáo dục và giáo dục lịch sử liên quan đến đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng các phương pháp lịch sử, logic, phương pháp tổng hợp, phân tích để nghiên cứu các tài liệu lí luận có liên quan đến đề tài, các tác phẩm của Đảng ta về giáo dục, các công trình của các nhà khoa học giáo dục và
giáo dục lịch sử
- Điều tra, khảo sát tình hình thực tế của việc rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết cho HS trong DHLS ở trường THPT thông qua dự giờ, trao đổi với GV,
HS, tổng hợp xử lý thông tin và rút ra nhận xét khái quát
- Soạn và thực nghiệm một bài kiểm tra cụ thể trong khóa trình lịch sử thế giới cổ đại và trung đại lớp 10 THPT (Chương trình chuẩn) để chứng minh tính hiệu quả của các biện pháp đề xuất
- Sử dụng phương pháp toán học thống kê: tập hợp và xử lý các số liệu thu được qua điều tra thực tế, thực nghiệm bằng cách lập bảng, tính tỉ
lệ phần trăm
6 Ý nghĩa của đề tài
Kết quả của đề tài góp phần khẳng định tầm quan trọng của việc rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết cho HS trong quá trình DHLS, môn lịch sử ở trường phổ thông hoàn toàn có khả năng rèn luyện các “kĩ năng mềm” cho
HS
7 Giả thuyết khoa học
Nếu rèn luyện tốt các kĩ năng diễn đạt viết cho HS trong DHLS theo các biện pháp luận văn đề xuất thì sẽ góp phần bồi dưỡng năng lực toàn
Trang 18- 13 -
diện cho HS huyện Thanh Liêm - tỉnh Hà Nam, nâng cao chất lượng dạy học bộ môn lịch sử ở trường THPT
8 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 2 chương:
Chương 1 Rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông - Lí luận và thực tiễn
Chương 2 Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết cho học sinh huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam trong dạy học lịch sử thế giới cổ đại và trung đại lớp 10 trường trung học phổ thông trình chuẩn
Trang 19- 14 -
CHƯƠNG 1 RÈN LUYỆN KĨ NĂNG DIỄN ĐẠT VIẾT CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG – LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Cơ sở xuất phát của việc rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
* Từ mối quan hệ giữa thầy và trò trong quá trình dạy học
Xét theo quan điểm hệ thống thì QTDH ở trường phổ thông là một chỉnh thể thống nhất bao gồm các nhân tố tạo thành là mục tiêu dạy học, nội dung, hình thức tổ chức dạy học, PPDH (hoạt động của thầy và trò) và kiểm tra, đánh giá Các nhân tố này có mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau trong QTDH để đạt được mục tiêu dạy học đặt ra… Nhân tố trung tâm, quan trọng nhất của QTDH chính là hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò cùng đóng vai trò tích cực, có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Trong đó, GV là chủ thể của hoạt động dạy, đảm bảo việc dạy học được tiến hành theo đúng mục đích và nội dung quy định, còn HS là đối tượng của hoạt động dạy và chủ thể của hoạt động học Hai nhân tố này chi phối các nhân tố khác của QTDH và các nhân tố ấy đều phải thông qua hoạt động của thầy - trò nhằm đánh giá được kết quả so với mục tiêu dạy học đặt ra
Trong DHLS cũng như vậy, một mặt HS đóng vai trò là đối tượng của hoạt động dạy, lĩnh hội kiến thức cơ bản là các sự kiện, hiện tượng lịch sử từ phía người thầy Mặt khác, HS còn là chủ thể của hoạt động học, chịu sự chỉ đạo từ việc dạy của GV, song vẫn mang tính sáng tạo, chủ động chứ không phải bị động tiếp nhận kiến thức Với tư cách là chủ thể của quá trình nhận thức, HS phải tự mình bằng những nỗ lực của bản thân để rèn luyện các kĩ năng cần thiết dưới sự hướng dẫn chỉ bảo của thầy Tuy nhiên, tri thức do HS
tự tìm ra dễ mang tính chủ quan, phiến diện, thiếu khoa học Chỉ khi nào HS thực hiện tốt vai trò chủ thể thì các em mới tiếp thu một cách có ý thức và
Trang 20Như vậy, từ mối quan hệ thầy - trò trong QTDH đã đặt ra yêu cầu cho người GV là phải luôn chú ý tới việc định hướng diễn đạt cho HS và chú ý sửa lỗi diễn đạt cho các em Đồng thời GV phải chú ý cách diễn đạt của mình sao cho khoa học, chính xác và logic để là một tấm gương sáng cho HS học tập Các em luôn phải là người tích cực, chủ động và sáng tạo trong khi tìm hiểu kiến thức lịch sử bởi chỉ có vậy HS mới hiểu sâu sắc vấn đề và có khả năng diễn đạt thành lời một cách trôi chảy, mạch lạc, logic
* Mục tiêu, nhiệm vụ của bộ môn lịch sử ở trường THPT
Cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ, sự bùng
nổ về lượng thông tin trên toàn cầu đã đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ mới cho ngành giáo dục và nhà trường là phải đào tạo và bồi dưỡng thế hệ những con
người vừa hồng vừa chuyên, có đủ tài đức, có đủ các phẩm chất đức, trí, thể,
mỹ, lao động… có năng lực thích ứng với đời sống kinh tế - xã hội Để làm
được điều đó, không có con đường nào khác là phát huy nội lực của HS Điều
Trang 21- 16 -
này được thể hiện rõ trong điều 2, Luật giáo dục sửa đổi, bổ sung năm 2010
là “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, trí thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Từ mục tiêu chung của giáo dục, mục tiêu của giáo dục THPT được
cụ thể hóa như sau: “Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”
[Điều 27, mục 2, chương 2, luật giáo dục 2010]
Chiến lược phát triển giáo dục (2010 - 2020) cũng đã xác định: Một trong những giải pháp thực hiện mục tiêu giáo dục là đổi mới phương pháp giáo dục, chuyển việc truyền đạt tri thức thụ động thầy giảng, trò ghi sang hướng người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức, dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống
và có tư duy phân tích tổng hợp, phát triển được năng lực của mỗi cá nhân, tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của bản thân
Trên cơ sở mục tiêu chung của giáo dục, quan điểm, đường lối của Đảng về sử học, đồng thời cũng căn cứ vào nội dung, đặc trưng của hiện thực lịch sử và nhận thức lịch sử, yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ cách mạng hiện nay, mục tiêu của bộ môn lịch sử ở trường THPT được xây dựng cụ thể:
Về kiến thức: bộ môn lịch sử ở trường phổ thông nhằm hoàn thiện, bổ
sung những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới
mà các em đã được học ở trường THCS, góp phần hình thành thế giới quan khoa học
Về thái độ: giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, tự hào dân tộc, lý
tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tinh thần đoàn kết quốc tế, tình
Trang 22- 17 -
hữu nghị với các dân tộc đấu tranh cho độc lập, tự do, tiến bộ xã hội; niềm tin vào sự phát triển hợp quy luật của xã hội loài người và dân tộc dù trong tiến trình lịch sử có những lúc quanh co, khúc khuỷu Đồng thời, giáo dục cho HS
có ý thức làm tròn nghĩa vụ công dân, hình thành những phẩm chất cần thiết trong cuộc sống cộng đồng
Về kĩ năng: rèn luyện, bồi dưỡng năng lực tư duy, hành động, thái độ
ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội cho HS
Ngoài những kĩ năng trên, DHLS ở trường phổ thông không chỉ nhằm trang bị cho HS những kiến thức khoa học, hiện đại của lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc; giáo dục tư tưởng, phẩm chất đạo đức, giúp HS hình thành nhân cách mà còn giúp các em phát triển các kĩ năng cần thiết trong học tập bộ môn Đó là kĩ năng sử dụng SGK, sử dụng đồ dùng trực quan, kĩ năng giao tiếp diễn đạt trình bày nói và viết, phân tích, so sánh, đánh giá các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử… Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của bộ môn, khi rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết cho HS, GV chỉ nên đóng vai trò là người hướng dẫn, định hướng cho HS, còn HS phải phát huy tính sáng tạo của mình khi trình bày các sự kiện, hiện tượng lịch sử không nên viết lại những điều đã có sẵn, viết nguyên xi những gì có trong
vở ghi và SGK Đồng thời, HS cũng phải không ngừng nỗ lực, tích cực, tự giác trau dồi và rèn luyện kĩ năng diễn đạt của mình
Như vậy, mục tiêu của giáo dục nói chung, mục tiêu, nhiệm vụ của việc DHLS ở trường THPT nói riêng chính là hướng tới phát triển toàn diện năng lực của người học và đảm bảo giúp các em thành thục các kĩ năng giao tiếp, giải quyết vấn đề (nêu vấn đề, điều tra, xử lý thông tin, nêu
dự kiến giải quyết vấn đề, tổ chức giải quyết vấn đề…)
* Đặc trưng của tri thức lịch sử
Lịch sử cũng như các bộ môn khác trong trường phổ thông góp phần giáo dục và phát triển toàn diện thế hệ trẻ của đất nước Bô ̣ môn li ̣ch sử ngày càng có vị trí qu an tro ̣ng giúp HS hiểu được sự phát triển hợp quy luâ ̣t của
Trang 23- 18 -
lịch sử nhân loại và lịch sử dân tộc Tri thứ c li ̣ch sử có những đă ̣c trưng riêng làm nên đă ̣c trưng của bô ̣ môn cũng như đă ̣c trưng của quá trình DHLS
ở trường phổ thông:
Thứ nhất là tính quá khứ : lịch sử là quá trình phát triển hợp quy luật
của xã hội loài người từ lúc con người và xã hội loài người hình thành đến nay Tất cả những sự kiê ̣n , hiê ̣n tượng li ̣ch sử được chúng ta nhắ c đến đều là những chuyê ̣n đã xảy ra, chúng ta không thể trực tiếp quan sát được mà chỉ có thể nhận thức được chúng một cách gián tiếp thông qua các tài liệu được lưu lại hoặc dựa vào các hiện tượng lịch sử tương tự của cái mới, của các dân tộc khác Đây là mô ̣t đă ̣c trưng cơ bản nhất của tri thức li ̣ch sử chi phối tới cả quá trình dạy và học lịch sử của cả thày và trò Do đó, khi diễn đạt viết HS phải tìm những từ ngữ thích hợp diễn đạt những sự kiện , hiê ̣n tượng li ̣ch sử đã xảy
ra trong quá khứ nhưng có thâ ̣t , tồn ta ̣i thâ ̣t tránh viê ̣c “hiê ̣n đa ̣i hóa li ̣ch sử” Đồng thời các em cũng biết phải biết cách trình bày một vấn đề lịch sử rõ ràng, logic, diễn đạt đúng bản chất và có một vốn từ, thuật ngữ lịch sử phong phú Ngoài ra, khi diễn đạt viết một vấn đề lịch sử, HS phải biết phân tích, khái quát, có cái nhìn so sánh, đối chiếu, liên hệ sự kiện lịch sử đó với những
sự kiện tương tự diễn ra trong những không gian và thời gian khác
Thư ́ hai là tính không lặp lại:mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xảy ra
trong một không gian và thời gian nhất định, trong những không gian và thời gian khác nhau Không có một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào xảy ra cùng thời điểm, trong các thời kì khác nhau là hoàn toàn giống nhau dù có điểm giống nhau, lặp lại thì đó cũng chỉ là sự giống nhau, lặp lại trên cơ sở của sự
kế thừa, phát triển Chính điều này, buộc GV và HS khi diễn đạt viết một sự kiện, một hiện tượng lịch sử nào đó thì phải đặt chúng trong một không gian
và thời gian cụ thể Tuy nhiên, phải nhận thấy các sự kiện lịch sử tuy diễn ra trong một không gian và thời gian cụ thể, riêng biệt song nó có mối quan hệ
kế thừa với các sự kiện lịch sử khác chứ không riêng lẻ, độc lập hoàn toàn Ví như: khi trình bày về sự kiện lịch sử văn hóa cổ đại phương Tây là Hi Lạp và
Trang 24- 19 -
Rô-ma, HS phải nêu được những thành tựu cụ thể về văn hóa của các quốc gia phương Tây như: lịch, chữ viết, khoa học, văn học, nghệ thuật kiến trúc… Nhưng các em cũng luôn luôn phải so sánh nó với những thành tựu văn hóa của các quốc gia cổ đại phương Đông để thấy rằng: nền văn hóa cổ đại Hi Lạp
và Rô - ma phát triển được như thế một phần là do đã tiếp thu kế thừa nền văn
hóa của các quốc gia cổ đại phương Đông
Thứ ba la ̀ tính cụ thể : lịch sử là khoa học ngh iên cứu tiến trình li ̣ch sử
cụ thể của các nước , các dân tộc khác nhau và quy luật của nó Lịch sử của mỗi nước, mỗi dân tô ̣c đều có diê ̣n ma ̣o riêng do những điều kiê ̣n li ̣ch sử quy
đi ̣nh Mă ̣t khác, các quốc gia, các dân tộc khác nhau sống trên những khu vực khác nhau, tuy bi ̣ tác đô ̣ng của những quy luâ ̣t chung , trải qua quá trình phát triển, trình độ sản xuất không ngừng nâng cao, đời sống văn hóa tinh thần của con người ngày càng phong phú , đa dạng nhưng tiến trình phát triển của mỗi quốc gia, dân tô ̣c không hoàn toàn giống nhau Ví như, phần lớn các quốc gia
ở khu vực châu Âu đều trải qua tiến trình lịch sử từ xã hội nguyên thủy, qua
xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến đến tư bản chủ nghĩa, song ở nhiều các quốc gia châu Á thì quá trình đó lại không diễn ra tuần tự như vậy mà có thể bỏ qua một hình thái kinh tế - xã hội nào đó để phát triển cao hơn như ở Việt Nam đã bỏ qua chế độ chiếm hữu nô lệ và bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa…Thậm chí, cùng một loại hình thái kinh tế -xã hội, các dân tộc, quốc gia khác nhau cũng có các lĩnh vực kinh tế, thể chế nhà nước khác nhau Ví
dụ như chế độ phong kiến ở các quốc gia phương Tây là chế độ phong kiến phân quyền khác với chế độ phong kiến tập quyền ở các quốc gia phong kiến phương Đông hay chế độ phong kiến của Trung Quốc khác với chế độ phong kiến ở Việt Nam Chính đặc điểm này đòi hỏi GV và HS khi trình bày các sự kiê ̣n, hiê ̣n tượng lịch sử càng cu ̣ thể , càng sinh động bao n hiêu la ̣i càng hấp dẫn bấy nhiêu GV cũng đồng thời phải đi ̣nh hướng cho HS trình bày các sự kiê ̣n, hiê ̣n tượng li ̣ch sử mô ̣t cách rõ ràng , cụ thể, tránh việc nói chung chung,
đa ̣i khái; luôn gắn các sự kiê ̣n, hiê ̣n tượng, nhân vâ ̣t lịch sử với không gian và
Trang 25- 20 -
thời gian nhất đi ̣nh , phân biê ̣t được các sự kiê ̣n cùng loa ̣i để HS không nhầm lẫn các sự kiê ̣n, hiê ̣n tượng, nhân vâ ̣t với nhau
Thư ́ tư là tính hê ̣ thống (tính logic lịch sử): nô ̣i dung tri thức li ̣ch sử rất
phong phú, đề cập đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội loài người , bao gồm
cả chính trị , quân sự, kinh tế , văn hóa, nghê ̣ thuâ ̣t, khoa ho ̣c kỹ thuâ ̣t… Sự toàn diện và hệ thống của tri thức lịch sử đặt ra một yêu cầ u với bô ̣ môn li ̣ch sử ở trường phổ thông là phải cung cấp cho HS những kiến thức phong phú
và hệ thống của lịch sử đã qua, bao gồm cả li ̣ch sử thế giới và li ̣ch sử dân tô ̣c
Nó đòi hỏi GV giảng dạy lịch sử phải tích lũy những kiến thức phong phú về các lĩnh vực của đời sống xã hội và kèm theo đó là hệ thống những thuật ngữ của các lĩnh vực tương ứng Đặc trưng này cũng đặt ra một yêu cầu đối với
HS là khi trình bày hay diễn đa ̣t bất kỳ một vấn đề nào đó cũng phải chú ý tới tính logic của vấn đề Trình bày vấn đề phải gãy gọn, logic, có đầu, có cuối và các em cũng phải tích lũy một vốn từ phong phú thì mới có thể diễn đạt tốt các vấn đề củ a li ̣ch sử Ví như: khi chứng minh các nước Đông Nam Á chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, HS phải trình bày một cách logic và hệ thống bao gồm những nội dung sau: Trước tiên là văn hóa Ấn Độ đã ảnh hưởng đến các nước Đông Nam Á bắt đầu từ đầu Công nguyên, thông qua việc giao lưu, buôn bán Tiếp theo, HS chứng minh sự ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đối với các nước Đông Nam Á trên các lĩnh vực chữ viết, văn học, nghệ thuật,
kiến trúc và điêu khắc Cuối cùng HS phải định rằng: tuy văn hóa Ấn Độ ảnh hưởng khá toàn diện và sâu sắc đến các nước Đông Nam Á nhưng mỗi dân tộc Đông Nam Á vẫn xây dựng cho mình một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc
Thứ năm là tính thống nhất giữa “sử” và “luận ”: sử ho ̣c là mô ̣t ngành
khoa ho ̣c xã hô ̣i Nó xuất hiện từ rất sớm Những ghi chép về quá trình phát triển xã hô ̣i loài người từ những góc đô ̣ khác nhau là những nô ̣i dung quan tro ̣ng của di sản văn hóa nhân loại Trong đó, hai yếu tố “sử” và “luâ ̣n” có sự thống nhất chă ̣t chẽ với nhau
Trang 26- 21 -
Chúng ta cũng phải lưu ý rằng , giữa các đă ̣c điểm trên của tri thức li ̣ch sử có mối liên hê ̣ nô ̣i ta ̣i thống nhất với nhau Vì vậy, khi trình bày mô ̣t vấn đề li ̣ch sử nào đó cả GV và HS cũng phải lưu ý tới những đă ̣c trưng trên và tìm cách diễn đa ̣t sao cho gãy go ̣n , súc tích, đúng đă ̣c trưng của bô ̣ môn và đảm bảo được sự chính xác , sâu sắc của vấn đề Ngoài ra, đặc trưng thống nhất giữa
“sử’ và “luận’ cũng đặt ra yêu cầu cho HS khi trình bày viết một sự kiện lịch
sử không chỉ đơn thuần dừng lại ở việc mô tả sự kiện, hiện tượng đó mà phải giải thích nguyên nhân của sự kiện đó và phân tích ý nghĩa, hệ quả của sự kiện đó như thế nào Ví như: khi HS trình bày về các cuộc phát kiến địa lí cuối thế kỉ XV-đấu thế kỉ XVI, các em phải trình bày được nguyên nhân dẫn đến các cuộc phát kiến địa lí là gì? Kết quả của các cuộc phát kiến địa lí này
ra sao? Các cuộc phát kiến địa lí đó đã để lại những ý nghĩa như thế nào? Như vậy, có nắm vững các đặc điểm của tri thức lịch sử trong học tập bộ môn lịch sử ở trường phổ thông mới giúp các em hiểu và diễn đạt các vấn đề lịch sử một cách trôi chảy, mới giải thích được căn nguyên, nguồn gốc của các sự kiện, hiện tượng lịch sử đã diễn ra
* Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử
Vấn đề đổi mới trong giáo dục nói chung, đổi mới PPDH nói riêng là yêu cầu cấp thiết trong cải cách giáo dục Nghị quyết Hội nghị Ban chấp
hành Trung ương Đảng lần thứ hai, khóa VIII đã chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục đào tạo cần được đổi mới, chưa phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học.”Việc đổi mới PPDH theo hướng “khuyến khích tự học”, “áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy, sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề” (Nghị quyết Hội
nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tư, khóa VII) Nghị quyết
Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai, khóa VII đã chỉ rõ thêm: “Đổi mới phương pháp giáo dục, đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đamr
Trang 27Đổi mới PPDH lịch sử không có nghĩa là xóa bỏ tất cả những kinh nghiệm quý giá được đúc kết trong thực tiễn trường phổ thông từ trước đến nay mà cần tiếp nhận những mặt cơ bản, đúng, tích cực để phát triển cao hơn, phù hợp với yêu cầu và giáo dục hiện nay; đồng thời kiên quyết xóa bỏ những mặt tiêu cực, lạc hậu
Diễn đạt các nội dung học tập theo yêu cầu của việc đổi mới PPDH đặt ra đòi hỏi GV và HS phải rèn luyện tốt các kĩ năng diễn đạt Trong khi rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết cho HS, GV phải tạo điều kiện tốt nhất để HS phát huy được tính chủ động trong việc trình bày các sự kiện, hiện tượng lịch
sử chứ không nên chỉ yêu cầu HS ghi chép lại nguyên xi những gì đã có trong SGK, vở ghi GV cần bồi dưỡng cho HS phương pháp tự học, tự khám phá để tự lực chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện các kĩ năng thực hành và năng lực vận dụng những tri thức vào thực tiễn cuộc sống HS cũng cần phải chủ động, tích cực, không ngừng tự rèn luyện và trau dồi ngôn ngữ, kĩ năng diễn đạt của mình
* Đặc điểm trong diễn đạt viết của học sinh Thanh Liêm - Hà Nam
Do đặc điểm lịch sử, văn hóa địa phương, HS Thanh Liêm - Hà Nam thường gặp phải những khó khăn trong diễn đạt viết:
Trước hết là HS hay viết sai chính tả giữa “n” và “l” như “nô lệ” thành
“lô lệ”, giữa “ch” và “tr” như “tranh giành” thành “chanh giành”
Ngoài ra, HS còn hay viết hoa không đúng, viết không có dấu chấm câu
hoặc dấu chấm câu không đúng Ví như: “Trong các lãnh địa Tây Âu, các
Trang 28- 23 -
lãnh chúa sống cuộc đời nhàn rỗi, xa hoa, thời bình họ luyện tập cung, kiếm, cưỡi ngựa hoặc tổ chức những buổi tiệc tùng, hội hè trong những Lâu đài nguy nga tráng lệ Còn nông nô là những người sản xuất chính trong lãnh địa họ bị gắn chặt với ruộng đất và lệ thuộc vào lãnh chúa, ngoài ra Nông nô ngoài nộp tô cho lãnh chúa còn phải nộp nhiều thứ thuế khác như thuế thân, thuế cưới xin tuy vậy nông nô vẫn được tụ do trong quá trình sản xuất.”
Khi diễn đạt viết HS còn thường diễn đạt câu văn còn lủng củng, lập
luận không logic, chặt chẽ Ví như: “Vương triều Hồi giáo Đê-li đã góp phần tạo ra sự giao lưu văn hóa Đông Tây được thúc đẩy.Nó còn giúp truyền bá đạo Hồi ra một số nước Đông Nam Á.”
Nếu không rèn luyện để khắc phục những lỗi diễn đạt này không được rèn luyện kịp thời lâu dần sẽ thành nếp trong HS, thành giá trị văn hóa khuyết thiếu không chọn vẹn và về lâu dài sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến bản thân các
em Trước hết, các em sẽ không hiểu được các khái niệm và các vấn đề lịch
sử Do đó mà việc lĩnh hội kiến thức của các em sẽ không thể sâu sắc và đầy
đủ được Ngoài ra, năng lực giao tiếp của HS – một năng lực rất cho các em trong cuộc sống sẽ khó có thể hình thà và hoàn thiện
Trang 29- 24 -
những điểm chung nhất về “kĩ năng” Người có kĩ năng về một hành động nào
đó là người phải đạt các yêu cầu sau:
Có tri thức, kinh nghiệm về hành động tức là nắm được nội dung, mục đích, cách thức thực hiện hành động, các điều kiện thực hành hành động Đây
là một trong những yêu cầu quan trọng bởi mục đích chính là kết quả hành động mà người ta dự kiến trước khi bắt tay vào hành động Nếu không xác định được mục đích thì sẽ không có hướng hành động và khó có thể nắm được cách thức hành động để đạt được kết quả mong muốn Xác định đúng mục đích hành động sẽ giúp việc lập kế hoạch và tìm ra được các biện pháp hành động phù hợp Sau khi nhận thức được mục đích hành động thì cần phải nắm vững cách thức tiến hành các thao tác thực hiện hành động Việc lĩnh hội này có thể do con người tự học hay cũng có thể do người khác dạy cho Việc hiểu biết kiến thức chỉ mới dừng lại là tiếp nhận lí thuyết, nó giúp con người không phải mày mò và đỡ mất nhiều thời gian Song để những kiến thức đó trở thành kiến thức của bản thân thì đòi hỏi con người phải thường xuyên rèn luyện, trau dồi bằng các hành động cụ thể, thuần thực, trở thành kĩ năng
Thực hiện hành động đúng với yêu cầu của nó với thời gian thực hiện trong giới hạn tương ứng
Đạt được hiệu quả của hành động như mục đích đã đặt ra
Có thể hành động đạt kết quả với những hành động tương tự trong những điều kiện khác
Cho nên, có thể hiểu kĩ năng là sự thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép
Để có kĩ năng, đòi hỏi con người phải có tri thức về hành động và các kinh nghiệm cần thiết Song, bản thân tri thức và kinh nghiệm chưa phải là kĩ năng Muốn có kĩ năng, con người phải vận dụng vốn tri thức và kinh nghiệm thu nhận được vào hành động và đạt được kết quả cao Hành động có kết quả khi nào hành động phù hợp với điều kiện cụ thể cho phép Khi đã rèn luyện
Trang 30- 25 -
được kĩ năng, có thể vận dụng và vận dụng có kết quả những hiểu biết, kinh nghiệm thì dù trong điều kiện nào, HS vẫn có thể đạt được mục đích, hoàn thành nhiệm vụ đề ra Từ đây, có thể nhận thấy rằng những tri thức, kinh nghiệm về hành động không chỉ bao gồm việc nắm mục đích, yêu cầu của hành động mà cả cách thức, phương tiện, kĩ năng hành động Bất cứ hành động nào cũng có những yêu cầu, những cách thức tiến hành và bản thân những yêu cầu, cách thức tiến hành cũng nằm ngay trong hành động đó Người có kĩ năng phải lĩnh hội được những cách thức đó mới có thể hành động có kết quả Tri thức, kinh nghiệm là những điều kiện để hình thành kĩ năng, thiếu các điều kiện này kĩ năng không thể hình thành được Song có tri thức, kinh nghiệm mà chưa vận dụng được thì cũng không thể xem là có kĩ năng Bởi vì, chỉ như thế con người mới nắm vững lí thuyết mà chưa thực hành được Khi nào thực hiện được hành động có kết quả thì mới gọi là có kĩ năng
Từ sự phân tích trên cho thấy rõ ràng quá trình hình thành kĩ năng được chia làm 2 bước:
Một là, phải nắm vững các tri thức về hành động
Hai là, phải thực hiện hành động theo các tri thức đó
Để thực hiện hành động có kết quả cần có sự tập dượt, quan sát mẫu và làm thử theo mẫu.Công việc này giúp người ta thấy được khả năng vận dụng tri thức vào hoạt động, xem hành động có những ưu điểm, nhược điểm như thế nào, cái nào cần phát huy, cần sửa chữa và có tác dụng củng cố vốn tri thức đã nắm Việc làm thử ngắn hay dài tuỳ thuộc vào năng lực mỗi người Người có năng lực yếu thì phải làm thử nhiều lần, người có năng lực thực sự thì việc làm thử không cần nhiều Sau khi làm thử, người học phải tiến hành luyện tập.Giai đoạn này sẽ giúp cho các thao tác, các bước thực hiện hành động dần dần được chính xác hơn Đồng thời các tri thức và cách thức thực hiện hành động được ôn luyện sẽ làm cho HS nắm chắc hành động hơn Việc luyện tập đạt kết quả cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó sự nỗ lực của người hoc giữ vai trò quan trọng Cho nên, để hình thành kĩ năng thì người học phải hiểu đầy đủ về hành động, phải thường xuyên luyện tập, phải
có sự kiểm tra và tự kiểm tra, đánh giá và phải có tính tự giác trong làm việc
Trang 31- 26 -
* Rèn luyện kĩ năng
Theo tác giả Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng trong
cuốn sách: “Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm” Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2001, thực chất của việc hình thành kĩ năng là “hình thành cho học sinh nắm vững một hệ thống phức tạp các thao tác nhằm biến đổi và sáng
tỏ những thông tin chứa đựng trong bài tập, trong nhiêm vụ và đối chiếu chúng với những hành động cụ thể” [11; tr.133]
Muốn vậy, khi hình thành kĩ năng cho HS cần :
Giúp HS biết cách tìm tòi để nhận xét ra yếu tố đã cho, yếu tố phải tìm
và mối quan hệ giữa chúng
Giúp HS hình thành một mô hình khái quát để giải quyết các bài tập, các đối tượng cùng loại
Xác lập được mối liên quan giữa bài tập mô hình khái quát để giải quyết các bài tập, các đối tượng cùng loại
Việc hình thành kĩ năng tuỳ thuộc vào đặc điểm tâm lý của mỗi cá nhân Tuy nhiên có thể khái quát thành những bước sau:
Bước 1: Huớng dẫn lí thuyết Trong quá trình hình thành các kĩ năng,
tri thức có vai trò quan trọng, nhận thức càng đầy đủ, tích cực các tri thức này,
kĩ năng càng được nhanh chóng hoàn thiện sớm hơn Vì vậy, các thầy cô giáo cần cung cấp những tri thức rõ ràng về mục đích, tính chất bài luyện tập, tri thức về hành động cần nắm vững, người học cần ghi nhớ kĩ mục đích, điều kiện, qui trình của việc thực hiện hành động
Bước 2: Làm mẫu Người dạy thao tác mẫu, người học quan sát mẫu
nhiều lần, giải thích các thao tác và ý nghĩa của thao tác, những quy định, điều kiện của hành động, những điều cần tránh
Bước 3: Người học xây dựng kế hoạch thực hiện Căn cứ vào những
tri thức về cách tiến hành hoạt động và biểu tượng về những thao tác, người học vạch cho mình kế hoạch, cách thức, thứ tự các thao tác thực hiện
Trang 32- 27 -
Bước 4: Thực hành và luyện tập Người học lặp lại các thao tác như thao tác
của GV và luyện tập các thao tác đó trong những tình huống khác nhau
Bước 5: Tự kiểm tra HS tiến hành so sánh, đối chiếu với các thao tác mẫu,
phát hiện ra các thiếu sót, phân tích nguyên nhân dẫn đến sai lầm trong hành động và sửa chữa Trong các bước này sự đánh giá kịp thời, chính xác chất lượng thao tác có tác dụng lớn đối với việc củng cố hành động, nếu thao tác đúng chúng ta sẽ được củng cố, những thao tác không đúng, sai lầm sẽ được khắc phục kịp thời
Bước 6: Thao tác sáng tạo Việc hình thành kĩ năng là phải tiến hành hành
động trong các tình huống khác nhau tức là biết vận dụng một cách linh hoạt, mềm dẻo vào hoàn cảnh, tình huống mới Vì vậy, GV cần phải xây dựng các tình huống khác nhau để người học giải quyết
Qui trình hình thành các kĩ năng được biểu diễn bằng sơ đồ sau:
Thao tác sáng tạo Thực hành và luyện tập
Tự kiểm tra
Trang 33- 28 -
* Kĩ năng diễn đạt viết
Con người khi sinh ra không phải ai cũng đã có sẵn những kĩ năng mà
nó là kết quả của một quá trình rèn luyện, trau dồi trong hoạt động và phải thông qua giao tiếp mà trước tiên là diễn đạt Diễn đạt bằng ngôn ngữ nói hoặc viết là một trong những kĩ năng không thể thiếu đối với mỗi người trong cuộc sống Nó chính là phương tiện để biểu đạt ý tưởng
Đối với mỗi con người nói chung, HS nói riêng, kĩ năng diễn đạt có vai trò rất quan trọng giúp truyền tải thông tin đến người khác dễ hiểu và thuyết phục hơn Qua diễn đạt, giúp HS có thể tự kiểm tra, củng cố lại kiến thức đã học, phát triển tư duy và rèn luyện ngôn ngữ cho các em và là cách tốt nhất hình thành cho các em khả năng ngôn ngữ, cách diễn đạt logic, mạch lạc và
có được một hệ thống từ ngữ, thuật ngữ phong phú
Rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết chính là việc các em thường xuyên sử dụng
ngôn ngữ viết để diễn đa ̣t mô ̣t cách ma ̣ch la ̣c, ngắn go ̣n, sâu sắc sự hiểu biết của mình, cụ thể ở đây là những kiến thức li ̣ch sử bao gồm các sự kiê ̣n, hiê ̣n tượng, nhân vâ ̣t li ̣ch sử, những khái niê ̣m, quy luâ ̣t, bài học lịch sử mà các em đã lĩnh
hô ̣i được trong quá trình ho ̣c tâ ̣p bô ̣ môn
1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của việc rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết cho học sinh
ở trường phổ thông
Từ thực tiễn mối quan hệ của thầy - trò trong QTDH cho thấy diễn đạt
viết có vai trò, ý nghĩa to lớn trong DHLS ở trường phổ thông
Đối với giáo viên
Qua việc diễn đạt viết của HS từ giải các bài tập, các bài kiểm tra giúp
GV biết được khả năng nắm kiến thức của HS, hiểu được việc rèn luyện kĩ năng cũng như khả năng sử dụng ngôn ngữ và nắm vững hệ thống thuật ngữ lịch sử của các em Đồng thời, thông qua đó, GV có cơ hội nhìn nhận và đánh giá lại kiến thức và PPDH của mình, từ đó có điều chỉnh kịp thời sao cho phù hợp với trình độ nhận thức của HS cũng như đảm bảo mục tiêu DHLS ở trường phổ thông Ví như, khi HS trả lời câu hỏi: Khái niệm công trường thủ
Trang 34- 29 -
công là gì? Nó xuất hiện ở đâu? Vào thời gian nào? Nó có gì khác biệt so với xưởng thợ? như sau:
“Công trường thủ công là đơn vị sản xuất trên cơ sở phân công lao động
và kĩ thuật làm bằng tay là chủ yếu Nó tồn tại và phát triển ở các thành thị Tây Âu, xuất hiện từ thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XVIII
Kĩ thuật sản xuất ở công trường thủ công vừa bằng tay, vừa bằng máy, bước đầu có sự chuyên môn hóa trong các công đoạn làm ra sản phẩm Quan
hệ sản xuất là chủ thợ Đây là thời kì quá độ, bước chuẩn bị cho việc chuyển sang giai đoạn sản xuất bằng máy móc của chủ nghĩa tư bản ở thời kì sau cách mạng công nghiệp
So với xưởng thợ thì công trường thủ công có những điểm khác biệt sau đây:
Trước hết về quy mô sản xuất, công trường thủ công có quy mô lớn hơn
có khi gồm 2-3 cơ sở sản xuất
Nếu như trong xưởng thủ công, người chủ vừa trực tiếp lao động, vừa quản lí sản xuất thì trong công trường thủ công, người chủ không lao động
mà chỉ giám sát công việc của người làm thuê
Điểm khác biệt tiếp theo đó là về quan hệ trong lao động sản xuất Nếu như trong xưởng thủ công, những người thợ (thợ cả, thợ phụ) lao động, người học việc giúp đỡ thì trong công trường thủ công, mọi công việc sản xuất được chia cho từng nhóm người chuyên lao động, tiến hành phân công lao động Trong xưởng thủ công thì chủ xưởng và tất cả những người thợ đều là lực lượng lao động còn trong công trường thủ công, chỉ có người làm thuê mới lao động
Như vậy, nét đặc trưng cơ bản của công trường thủ công là: sản xuất thủ công và có sự phân công lao động.”
Qua kiến thức trả lời câu hỏi của HS như trên, GV có thể biết được rằng
HS đã hiểu rõ thuật ngữ lịch sử công trường thủ công và khả năng diễn đạt của HS trên khá lưu loát, em đã có so sánh, phân tích để chỉ ra sự khác biệt
Trang 35- 30 -
của công trường thủ công với xưởng thợ Từ đó, GV cũng thấy được PPDH của mình khi dạy về khái niệm công trường thủ công là hợp lí và đạt được hiệu quả
Đối với học sinh
Diễn đạt viết có vai trò rất quan trọng trong quá trình học tập nói chung
và học tập lịch sử nói riêng Bởi khi trình bày viết một vấn đề lịch sử nào đó thì kiến thức của HS một lần nữa lại được củng cố, khắc sâu Đồng thời, các
em sẽ kiểm tra được kiến thức của mình về sự kiện, vấn đề lịch sử đó đã chính xác, đầy đủ hay còn có những thiếu xót, hạn chế gì Từ đó, sẽ định hướng cho các em phương pháp học tập tiếp theo Ngoài ra, trong quá trình diễn đạt viết vấn đề lịch sử, HS còn phải vận dụng đầy đủ các thao tác của tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh để trình bày Như vậy qua đó, tư duy của HS sẽ ngày càng phát triển và ngôn ngữ của HS ngày càng được gọn
rũa, trau chuốt Ví như, khi HS trả lời câu hỏi: “chứng minh thời kì Ăng-co
là thời kì phát triển của vương quốc Cam-pu-chia” như sau: “Thời kì Ăng –
co (802-1432) là thời kì phát triển của vương quốc Cam-pu-chia Nhờ sự ổn định vững chắc về kinh tế, xã hội, các vua Cam-pu-chia đã không ngừng mở rộng quyền lực của mình ra bên ngoài Trong các thế kỉ X-XII, Cam-pu-chia trở thành một trong những vương quốc mạnh và ham chiến trận nhất Đông Nam Á” Qua câu trả lời trên, HS có thể nhận thấy rằng cách trả lời của em
còn chung chung Em chưa chứng minh được sự phát triển về kinh tế và sự
ổn định về xã hội của đất nước Cam-pu- chia thời kì Ăng-co Ngoài ra về chính trị thì em còn thiếu những dẫn chứng chứng minh việc các vua Cam-pu-chia không ngừng mở rộng quyền lực ra bên ngoài Từ đó, nó sẽ giúp em điều chỉnh phương pháp học tập cũng như cách diễn đạt của mình để có thể đạt được kết quả cao hơn
Từ vai trò của việc rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết cho HS trong dạy
học cho thấy việc rèn luyện kĩ năng kĩ năng này có ý nghĩa to lớn đối với việc học tập bộ môn lịch sử ở trường THPT
Trang 36- 31 -
Về giáo dưỡng
HS chỉ có thể diễn đạt một cách logic và mạch lạc khi các em nắm vững và hiểu sâu sắc kiến thức Trong học tập lịch sử, khi HS trình bày những hiểu biết và suy nghĩ của mình về một vấn đề lịch sử nào đó cũng đồng nghĩa với việc các em đã tri giác tài liệu về những sự kiện, hiện tượng lịch sử có liên quan Quá trình tri giác tài liệu cùng với sự uốn nắn của GV giúp HS trình bày, nhận thức vấn đề sâu sắc hơn, kiến thức sẽ được in sâu vào trong trí nhớ
của các em “Không nên quên một nguyên lý sau đây: chúng ta chỉ có thể hiểu
rõ cái mà chúng ta có thể nói lên được, chúng ta chỉ hiểu rõ cái mà chúng ta
có khả năng diễn tả thành lời” [40; tr 69] Sau khi hoàn tất ngôn ngữ diễn đạt
viết, HS có khả năng vận dụng để giải quyết nhiệm vụ học tập mới đặt ra, như trả lời câu hỏi của GV, làm bài tập, giải thích những sự kiện, hiện tượng có
liên quan Như vậy, việc rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết còn giúp HS lĩnh hội
kiến thức sâu và có hiệu quả hơn, sẽ ghi nhớ kiến thức lâu bền hơn Cụ thể,
khi diễn đạt viết, khả năng ngôn ngữ của HS cũng được rèn luyện Tư duy của
HS được thể hiện dưới hình thức ngôn ngữ (nói và viết), được hoàn thiện trong quá trình trao đổi trong trình bày miệng và làm bài Sác -đa - côp trong
cuốn “Tư duy của học sinh” đã viết: “Khi phát triển ngôn ngữ rõ ràng, khúc chiết và chính xác ở học sinh, giáo viên đồng thời cũng phát triển tư duy chính xác và đúng đắn ở học sinh Trong quá trình bồi dưỡng tư duy thì ngôn ngữ cũng phát triển và nhờ đó mà những ý nghĩ của học sinh cũng được thể hiện trong những hình thức ngôn ngữ khúc chiết” [43; tr.25]
Như vậy, diễn đạt viết là cách tốt nhất hình thành cho các em khả năng ngôn ngữ, cách diễn đạt logic, mạch lạc để từ đó các em hoàn thiện vốn từ, có được một hệ thống từ ngữ, thuật ngữ phong phú, góp phần củng cố, hoàn thiện kiến thức đã được tiếp thu vững chắc hơn
Về giáo dục
Hoàn thiện nhân cách, giáo dục tư tưởng, đạo đức cho HS là một trong những nhiệm vụ quan trọng ở trường phổ thông Trong đời sống xã hội, lịch
Trang 37- 32 -
sử đóng vai trò quan trọng, nó vừa là một công cụ của công tác sư phạm, lại
có tác dụng giáo dục trí tuệ và thái độ tình cảm, tư tưởng cho HS“Tri thức lịch sử là một trong những bộ phận quan trọng nhất của nền văn hóa chung của nhân loại và không có bộ phận quan trọng này thì không thể coi việc giáo dục con người đã hoàn thành đầy đủ” [24; tr.185]
Thực tế dạy học ở trường phổ thông cho thấy tất cả các môn học (cả tự nhiên và xã hội) ở những mức độ khác nhau đều góp phần giáo dục tư tưởng, tình cảm, thực hiện một phần mục tiêu dạy học của nhà trường Môn Địa lí dạy cho HS hiểu rõ đất nước mình để tăng thêm lòng yêu Tổ quốc, yêu quê hương, nâng cao trách nhiệm bảo vệ thiên nhiên Môn Văn học, giúp HS hiểu giá trị, yêu thích thơ văn, để càng quý hơn con người, dân tộc và văn hóa Việt Nam Cũng như các môn học khác, lịch sử có nhiều ưu thế trong giáo dục thái
độ, tình cảm, tư tưởng, đạo đức, thẩm mĩ… Những con người và những việc thực của quá khứ có sức thuyết phục, có sự rung cảm mạnh mẽ với các thế hệ trẻ phải được thể hiện qua ngôn ngữ, qua những hành động cụ thể Một bài viết cảm động về tấm gương hy sinh của một nhân vật lịch sử nào đó, một lời chú thích thể hiện sự khâm phục, tin yêu trước bức ảnh về những việc làm lặng thầm của những người chiến sĩ giữ đảo Trường Sa… Rõ ràng, bằng ngôn ngữ diễn đạt viết các em đã thể hiện được thái độ, tình cảm của mình đối với các nhân vật, sự kiện lịch sử và tình yêu đó cứ lớn dần, vun đắp tình yêu quê hương đất nước qua các bài học lịch sử
Việc HS trình bày được những hiểu biết của mình về khả năng diễn đạt viết trong quá trình DHLS không chỉ đơn giản là các em diễn đạt lại những kiến thức có sẵn hay trả lời câu hỏi của GV mà nó còn chứng tỏ các em đã chú ý, quan tâm và hiểu được sâu sắc bản chất vấn đề lịch sử đó Khi hiểu lịch
sử cũng đồng nghĩa với việc các em tự rút ra cho mình những bài học quý giá, biết đánh giá, nhận xét sự kiện, nhân vật lịch sử Các em sẽ tự nhận thức được cho bản thân những điều cần học và nên học Đồng thời, việc trình bày được những kiến thức lịch sử còn giúp các em HS bày tỏ được cảm xúc của mình
Trang 38- 33 -
khi đứng trước một vấn đề, một sự kiện, một nhân vật lịch sử như: lòng say
mê cái đẹp, yêu quý lao động, sự khâm phục sức sáng tạo và tài năng của con người hay lòng căm ghét sự áp bức bóc lột… Ví như, khi HS tìm hiểu những thành tựu văn hóa của các quốc gia phương Đông thời cổ đại, các em viết được một bài giới thiệu ngắn về một thành tựu văn hóa cụ thể: quá trình xây dựng Kim tự tháp ở Ai Cập, việc xây dựng hệ thống dẫn nước tưới ở vườn treo Babilon… các em không chỉ đơn thuần hiểu về các thành tựu lao động của quần chúng nhân dân trong việc xây dựng các công trình kiến trúc, văn hóa đồ sộ, nguồn gốc của các phát minh khoa học, kĩ thuật để lại cho nhân loại một di sản quí giá mà qua đó các em còn thể hiện được lòng ngưỡng mộ,
sự khâm phục tài năng, sức sáng tạo của con người Đồng thời, các em xác định trách nhiệm của mình đối với việc xây dựng đất nước, khơi dậy tinh thần lao động sáng tạo, ý thức bảo vệ, phát huy di sản văn hóa dân tộc và tinh hoa nhân loại
Về phát triển
Hoạt động rèn kĩ năng thực hành diễn đạt viết không chỉ được đặt dưới
sự hướng dẫn của GV mà nó còn đòi hỏi HS phải bỏ nhiều công sức để tự rèn luyện và xem đây như một năng lực tự học Trong quá trình học tập nói chung, học tập lịch sử nói riêng, để diễn đạt được một nội dung nào đó một cách mạch lạc thì điều tiên quyết là các em phải hiểu sâu sắc nội dung mình muốn diễn đạt Để làm được điều đó đòi hỏi HS phải xây dựng ý thức tự học độc lập nghiên cứu SGK, tài liệu học tập, chú ý nghe giảng và quan trọng là
tự mình khám phá kiến thức mới Khi HS diễn đạt được nội dung đó thành lời tức là các em đã thực hiện quá trình tự học đạt hiệu quả, các mức độ đạt được phụ thuộc vào sự hướng dẫn của GV và năng lực tư duy sáng tạo của các em Hoạt động rèn kĩ năng thực hành diễn đạt viết còn góp phần phát triển tư duy HS Một trong những đặc trưng của tư duy là tính gián tiếp, gắn bó với ngôn ngữ một cách hữu cơ, lấy ngôn ngữ làm phương tiện biểu đạt Không có ngôn ngữ thì không có tư duy Những tư tưởng và sự trừu tượng hóa không thể tồn tại
Trang 39- 34 -
độc lập mà nhất thiết phải được vật chất hóa dưới dạng âm thanh (ngôn ngữ nói) hay kí hiệu (ngôn ngữ viết) Tư duy trở thành ý nghĩ của bản thân mình cũng như ý nghĩ của người khác qua ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Nhờ ngôn ngữ,
tư duy con người không mất đi mà trở thành hệ thống tri thức truyền từ thế hệ
này sang thế hệ khác Các Mác cho rằng ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng Tư tưởng chỉ có thể thể hiện một cách hiện thực trong ngôn ngữ Mặc dù
vậy, sự phát triển của tư duy cũng không làm cho hình thức vật chất bên ngoài của ngôn ngữ mất đi mà ngược lại, nó luôn được duy trì và phát triển Có thứ ngôn ngữ sắc gọn như toán học, trừu tượng, phức hợp như triết học nhưng tất cả ngôn ngữ đều dựa trên tư duy Tư duy là nền tảng của văn minh nhân loại
Để có thể trình bày được nội dung kiến thức thành lời, HS cần phải vận dụng các thao tác của tư duy, như phân tích, tổng hợp, so sánh – đối chiếu, khái quát hóa - trừu tượng hóa, hệ thống hóa, diễn dịch, quy nạp, cụ thể hóa kiến thức… Trên cơ sở đó, các em lựa chọn từ ngữ diễn đạt kết quả thực hiện các quá trình tư duy đó sao cho phản ánh được bản chất khoa học của nội dung kiến thức lĩnh hội được Vì vậy, khi HS tìm được ngôn ngữ, từ ngữ diễn đạt hiệu quả nhất đối với một nội dung lịch sử nào cũng đồng nghĩa với việc
HS đã thành thạo ở mức cao hơn các thao tác tư duy cần thiết Ví như, khi yêu
cầu HS trình bày về khái niệm “Nền dân chủ chủ nô A-ten” sau khi học xong Bài 4: “Các quốc gia cổ đại phương Tây - Hi Lạp và Rô-ma”, ngoài việc HS
phải đọc những kiến thức về hình thành khái niệm này trong SGK, thì các em
còn phải tìm đọc những cuốn tài liệu tham khảo khác như Thuật ngữ lịch sử phổ thông hay Tư liệu lịch sử lớp 10 để có thêm thông tin Như vậy, qua đó
năng lực tự học, tự nghiên cứu của HS sẽ dần dần hình thành và phát triển
Ngoài ra, khi trình bày về khái niệm “Nền dân chủ chủ nô A-ten”, HS phải tiến hành phân tích, so sánh chỉ ra được sự khác biệt giữa khái niệm “chuyên chế cổ đại” ở phương Đông với khái niệm “Nền dân chủ chủ nô A-ten”,
thông qua hoạt động thực hành này tư duy của HS phát triển
Trang 40- 35 -
Như vậy, diễn đạt viết có ý nghĩa và vai trò to lớn trong DHLS ở trường phổ thông Viết lủng củng, chưa đúng ngữ pháp thì người đọc không thể hiểu được Song, nếu khi diễn đạt HS viết mạch lạc, rõ ràng, đúng ngữ pháp thì sẽ giúp người đọc hiểu sâu sắc những ý cần thiết và khơi dậy trong tâm hồn họ những xúc cảm qua những lời văn hay, ý đẹp
1.1.4 Những yêu cầu khi rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết cho học sinh
Rèn luyện kĩ năng nói chung và kĩ năng diễn đạt viết nói riêng cho HS nằm trong mục tiêu của giáo dục và dạy học, do đó trong quá trình rèn luyện
kĩ năng này cho HS, GV phải đảm bảo được những yêu cầu nhất định của môn học và cấp học Trong quá trình rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết cho HS,
GV cần đảm bảo các yêu cầu:
Về nội dung
Đạt được mục tiêu của việc học tập lịch sử Mục tiêu của việc học tập
lịch sử được thể hiện ở mục tiêu đặt ra cho mỗi bài học học đạt được cả ba mặt kiến thức, kĩ năng và thái độ Nó cũng chính là thước đo chất lượng học tập HS cần đạt và hiệu quả của việc dạy học Do vậy, trong quá trình DHLS,
để rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết cho HS dù GV có sử dụng PPDH nào và
vì mục đích gì thì cũng phải đạt được mục tiêu trên Ví như, rèn kĩ năng diễn
đạt viết cho HS khi học Bài 9: “Vương quốc Cam-pu-chia và vương quốc Lào” ở lớp 10 trườngTHPT (Chương trình chuẩn), cần phải đáp ứng đầy đủ