Tác động môi trường của hoạt dộng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Là một huyện miền núi nên hoạt động sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp còn chưa phát triển mạnh.. Trên địa
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI• • «
TRUỒNG ĐẠI H Ọ C K H O A H Ọ C T ự N H I Ê N
ĐẾ TÀI TRỌNG ĐIẾM CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA NGHIÊN CỨU QUY HOẠCH MÔI TRƯỜNG CÂP HUYỆN, ÚNG DỤNG CHO CÁC HUYỆN ĐẶC TRƯNG (THƯỜNG XUÂN, THỌ XUÂN,
HẬU LỘC) CỦA TỈNH THANH HOÁ
IỈIÍO c n o CHUV6N f>€
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MỚI TRƯỞNG HOẠT DỘNG KINH TÊ XÃ HỘI VÀ ĐỊNH HƯỞNG QUY
HOẠCH MÕI TRƯỞNG HUYỆN THƯỞNG XUAN
ThS Đoàn Thị Anh Tú Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
đ a i h ọ c q u õ c g i a h a n o i
t r ư n g t à m t h õ n g tin 'HU ỵỊẸN
HÀ NỘI, 2007
Trang 2I MỞ ĐẦU
Thưòng Xuân là huyện nằm ở phía Tây Nam tỉnh Thanh Hoá, cách thanh phố Thanh Hoá 52 km và cách thị trấn Lam Sơn 6 km đều về phía Tây, có ranh giới: Phía Bắc giáp huyện Ngọc Lặc và huyện Lang Chánh; phía Nam giáp huyện Như Xuân, huyện Triệu Sơn và huyện Như Thanh; phía Tây giáp với Nghệ An, có đường biên vói nước Lào dọc huyện Sầm Tớ; phía Đông giáp huyện Thọ Xuân Huyện Thường Xuân giao lưu với Lào qua đường quốc lộ 47, cửa khẩu Bát Mọt
Huyện lỵ Thường Xuân là huyện trọng điểm phát triển lâm nghiệp và với hệ thống thuỷ vẫn chính là dòng sông Chu với các nhánh Sông Khao, sông Âm, sông Đạt, sông Đằng và hồ chứa thuỷ điện cửa Đạt Đây là nguồn cung cấp nước ngọt khá dồi dào cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của phần lớn dân cư trong huyên
Tuy nhiên, do là một huyện miền núi, nên các chính sách phát triển vẫn chủ yếu thiên vể kinh tế, chưa chú trọng đến môi trường Huyện đã xây dựng được quy hoạch phát triển kinh tế xã hội đến năm 2010 Tuy nhiên, công tác quy hoạch môi trường vẫn chưa được gắn kết với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội
II TÁC ĐỘNG M ÔI TRƯỜNG CỦA HOẠT ĐÔNG KINH TÊ XẢ HỘI
2.1 Tác động môi trường của hoạt dộng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Là một huyện miền núi nên hoạt động sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp còn chưa phát triển mạnh Trên địa bàn huyện Thường Xuân có một số nhà máy
xí nghiệp và các cơ sở sản xuất nhỏ, đặc biệt là 3 cụm khoáng sán chính là Xuân Lệ, Lương Sơn, Ngọc Phụng
Ngoài ra, một số làng nghề tiểu thủ công nghiệp cũng đang dần dần được khôi phục và phát triển như dệt, mây thổ cẩm, mây tre đan,
Hoạt động của các cơ sở sản xuất cũng như các làng nghề thủ công chủ yếu gây
ô nhiễm cục bộ tại các làng nghề và các khu vực khai thác khoáng sản, vật liệu xảy dựng
Kết quả khảo sát cho thấy, ở hầu hết các khu \ỊTC làng nghề, các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp và các khu vực khai thác khoáng sản trẽn địa bàn huyện, công lác bảo vệ môi trường còn chưa được chú trọng Các chất thải tạo ra hoàn toàn không dược
xử lý mà được xả thải trực tiếp ra môi trường tự nhiên, đặc biệt là các hệ thống thuỷ vực như sông, suối trên địa bàn huyện
Theo báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Thanh Hóa nhiểu năm cho thav chấí lượng nước sõng Chu cụ thể như sau:
- Độ pH dao động trong khoảng 6,0 - 7,95
I
Trang 3- Độ đục (NTU) so sánh vói chỉ tiêu của nước uống là 5NTU của WHO thì mầu
đơ chất lượng nước vượt 1,5 -2,5 lần
- Nitrit: theo tiêu chuẩn nước mặt loại A là 0,01mg/l thì nước sông có hàm lượng nitrit vượt quá tiêu chuẩn cho phép 20-30 lần, nếu đối chiếu với tiêu chuẩn nước sinh hoạt nitrit là Omg/1 thì bị ô nhiễm
- Nitrat: đối chiếu với TCCP thì nước sông có hàm lượng nitrat nằm trong giới hạn cho phép (nhỏ hơn 10mg/l)
- Chất rắn lơ lửng nước sông cao hơn TCCP A đối với nước mật (20mg/I)
- BOD5: so với TCCP A (<4mg/l) của nước mặt thì có nước trên đập Bái Thượng
có giá trị nhỏ hơn
- COD: tiêu chuẩn của nước mặt loại A là nhỏ hơn 10mg/l thì trên đập Bái Thượng, nước sông Chu đạt tiêu chuẩn cho phép
- Amoniac (tính theo N) vượt tiêu chuẩn cho phép từ 2 đến 4 lần
- Sắt tổng số: so với TCCP A đối với nước mặt (lmg/1) thì giá trị phân tích nước sông gấp đôi so với giá trị cho phép
- Coliform tổng số: Nếu lấy TCCP là 5000 MPN/100ml thì có giá trị nhỏ hơn TCCP
- Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật ở sông Chu có giá trị nho hơn TCCP
2.2 Tác động môi trường của hoạt động nông lảm nghiệp
Với tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện là 111.055,86 ha Trong đó:
- Đất nông nghiệp ố.877,05 ha chiếm 6,25% diện tích tự nhiên
- Đất lâm nghiệp có rừng: 57.256,34 ha, chiếm 51,81%
- Đất chuyên dùng diện tích 1.718,39 ha, chiếm 1,56%
- Đất ở: 766,53 ha, chiếm 0,69%
- Đất chưa sử dụng: 43.887,55 ha, chiếm 39,72%
Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người là 873 rrr/người (tỉnh 663 m2/người) Đất nông nghiệp được phân thành các loại như sau:
+ Đất trồng cây hàng năm: 5.091,37 ha, chiếm 74,03% so VỚI đất nông nghiệp Bình quân đầu người là 646 m2/người
+ Đất trồng lúa, lúa màu: 3.069,06 ha, chiếm 60,28% so với đất canh tác và 44,63% so với đất nòng nghiệp Bình quân đất lúa, lúa màu trên đầu người là 90m2/người
+ Đàt nương rây: 274,24 ha, chiêm 5,39% đất canh tác Trong đó: nưi^ng trổng lúa: 200.00 ha; ruicmg rẫy khác: 74,22 ha
Trang 4+ Đất trồng cây hàng năm khác; 1.748,07 ha, chiêm 84,33% so với đất canh tác.
+ Đất chuyên màu và cây công nghiệp: 1.315,64 ha
+ Đất vườn: 1.014,69 ha, chiếm 47,76 % so với diện tích đất nông nghiệp Đây
là diện tích đất quanh nhà của các hộ trong khu vực thổ cư với cây trồng chủ yếu là cây lâu năm, xen cây hàng năm
+ Đất trồng cây lâu năm: 42,37 ha, chiếm 0,62% so với diện tích đất nông nghiệp, khả năng khai thác kém hiệu quả
+ Đất cỏ dùng vào chân nuôi: 566,67 ha, chiếm 8,24% so với diện tích đất nông nghiệp, đều do UBND các xã quản lý Xã Xuân Mỷ có diện tích lớn nhất: 125,33 ha, tiếp theo là Vạn Xuân: 85,33 ha, Xuân Lộc: 62,88 ha Các xã không có là Luận Thành, Ngọc Phụng, Xuân Cao, thị trấn Thường Xuân, Xuân Trinh, Xuân Dương, Xuân Liên, Yên Nhân Đồng cỏ dùng vào chăn nuôi thường là các đồi cỏ, đồng cỏ tự nhiên dùng làm nơi chăn thả gia súc, hàng năm không được đầu tư, cải tạo nên chất lượng đồng cỏ kém, diện tích không ổn định, thường bị các cây trồng khác lấn bớt
+ Đất có mặt nước nuôi trổng thuỷ sản: 161,95 ha, chiếm 2.35% so với diện tích đất nông nghiệp, trong đó nuôi cá: 130,55 ha; nuôi trồng thuỷ sán khác: 31,40 ha
Đối với đất lâm nghiệp: Tổng điện tích đất lâm nghiệp có rừng trên toàn huyện
là 57.256,34 ha, trong đó khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên quản lý đất có rừng là 23.844,80 ha; Lâm trường Sông Đằng là 6.606,70 ha; Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn là 6.700 ha; UBND xã quản lý 191,00 ha; hộ gia đình và cá nhân sử dụng 19.913,84 ha Trong tổng sô' diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện:
+ Đất có rừng tự nhiên: 50.885,9 ha, chiếm 88,87% so với đát lâm nghiệp
+ Đất có rừng trồng: 6.368,44 ha, chiếm 11,12% so với đất lâm nghiệp
+ Đất ươm cây giống: 2,00 ha, chiếm 0,01% diện tích đất lâm nghiệp có rừng Hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp được coi là một ngành kinh tế mũi nhọn và chiếm tỷ trọng khá lớn của huyện Tuy nhiên, theo đánh giá thì việc canh tác nông nghiệp và hoạt động khai thác lâm nghiệp không hợp lý đang gây ra nhiều vấn đề đối với môi trường đất và nước khu vực
Hiện nay nhiều vùng đất trồng cây hàng nãm đang bị kiệt màu do kỹ thuật canh tác không hợp lý, cường độ canh tác đất quá cao, thiếu biện pháp bồi bổ, cải tạo đất Ngoài ra, đất còn bị thoái hoá do quá trình xói mòn rửa trôi, ngập úng, sạt lở đất, dặc biệt là lũ lụt hàng nătn
Tinh trạng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật cùng với phãn vô cơ, hữu cơ dã dẫn đến hiện tượng một ỉượng NPK, chất hữu cơ dư thừa và dư lượng thuốc bảo vệ ihực vật
bị rửa trôi xuống ao, hổ, sông ngòi, thâm nhập vào các nguon nước làm ô nhiễm môi trường đất
3
Trang 5Kết quả phân tích nhiều 11 mẫu đất trên địa huyện cho thấy, có 10/11 mẫu có pH<4,5; Phốt pho và Kali tổng số thuộc loại nghèo; hàm lượng mùn khá đến giàu; Nitơ
tổng số trung bình.
Hàm lượng Fe tổng số cao, chiếm ưu thế trong phức hệ hấp thu của đất Quá trình tích luỹ sắt, nhôm và rửa trôi Ca, Mg làm cho đất ngày càng chua, sắt nhiều kết hợp với nguyên tố dinh dưỡng tạo thành hợp chất khó hoà tan cây trồng không hấp thu được
2.3 Hiện trạng môi trường khu vực khai thác khoáng sản
Thường Xuân là một huyện có lợi thế về tiềm năng khoáng sản, đặc biệt là các loại khoáng sản cao lanh, sét và một số loại khoáng sản khác như vàng, kim loại,, Tuy nhiên, việc khai thác chế biến khoáng sản không theo quy hoạch, tự phát đã và đang gây biến đổi cảnh quan khu vực, làm mất đi vẻ đẹp tự nhiên, mất đất bề mặt, phá vở hộ sinh thái bề mật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến mất càn bằng sinh th á i
Khu vực khai thác chế biến khoáng sản bị ô nhiễm bởi bụi, khí thái của phương tiện khai thác, vận chuyển khoáng sản, khí NO3 CO, C 02 khi nổ mìn Mức độ ô nhiễm không khí bởi khí độc hại không lớn nhưng nồng độ bụi trong khu vực khai thác, đặc biệt trên đường vận chuyển khoáng sản vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 1,5-10 lần TCCP
Hoạt động khai thác khoáng sản gây ra độ ồn rất lớn do khoan, nổ mìn, chế
biến đá và hoạt động của các phương tiện giao thông chuvên ch ở
Trong khai thác các mỏ kim loại có sử dụng các hoạt chất để tuyến quặng, sàng rửa, chế biến đã gây ô nhiễm môi trường nước Môi trường nước bị ô nhiễm bởi các chất rắn lơ lửng, độ đục cao, phèn, axit và các kim loại nặng Vi dụ như khai thác caolanh làm nước nhiễm phèn Ngoài ra, hoạt động khai thác mò còn tác động xấu đến chế độ thuỷ văn khu vực như bồi lắng, lấp đầy dòng sông, suối, hổ
Các mỏ khai thác khoáng sản thường không thực hiện tốt hoàn nguyên môi trường mặt đất, không phục hổi cảnh quan, tái tạo các hệ sinh thái nên làm tăng diện tích đất trống, đồi trọc, gây ra hiện tượng sói lở, bồi lắng, sụt lở đất canh tác; nhất là khu vực mỏ có lượng đất đá bị bóc và đổ thải lớn như khai thác Cao lanh ớ Lương Sơn Các chất độc hại, phế thải rắn, nước thải và khí thải của các ngành khai thác khoáng sản sẽ lan truyền vào đất, nước, và gây ảnh hướng lớn đến sinh thái động thực vật quanh vùng khai thác
Một sô' điểm nóng về ô nhiễm môi trường trong khai thác mỏ là các điểm khai thác khoáng sản, vật liệu xây dựng: đá, cát, sỏi, sản xuất gạch thủ còng của tư nhân
ở Thọ Thanh, Lương Sơn, Ngọc Phụng, Vạn Xuân, đặc biệt là ở xã Xuân Chinh nơi đang diền ra tình trạng đào đãi vàng trái phép
Hoạt động khai thác khoáng sản còn tạo ra các chất thải rắn là các vó bao bì đựng vật liệu nổ, vật liệu phụ trợ cho khâu chế biến đá; rác thái sinh hoạt cùa cóng nhàn và dầu mỡ từ các phương tiện vận chuyển, bôi trơn các thiẽi bị nshiền sàn"
Trang 62.4 Tác động môỉ trường của hoạt động giao thông đường thuỷ và dường
b ộ
Tính nay hệ thống đường giao thông trong huyện được coi là một yếu tô quan trọng giúp cho việc phát triển kinh tế xã hội Toàn huyện hiện có 230,06km đường ố tô Trong đó đường Hồ Chí Minh l l ,6km; tỉnh lộ 70km; liên xã 35km; đường thôn xã 114km Tuy nhiên số lượng km đường được nhựa hoá còn hạn chê, chủ yếu là Đường
Hổ Chí Minh và tuyến đường Bái Thượng đi Cửa Đạt, còn lại hầu hết vẫn là các tuyến đường rải cấp phôi, hoặc đường đất, đi lại gặp nhiều khó khăn, nhât là mùa mưa Ngoài đường bộ, huyện còn có gần 30km đường thuỷ chạy trên hệ thống Kênh De- Sông Lèn - Sông Mã
Nhìn chung hệ thống giao thông, nhất là giao thông nòng thôn còn kém phát triển (xã Xuân Liên còn chưa có đường ô tô đến) đã hạn chế rất lớn đên việc phát triển kinh tế, xã hội
Hoạt động giao thông dược coi là một trong những nguồn chính gây tác động đến môi trường không khí Tuy nhiên, đối với huyện Thường Xuãn, những tác động của các hoạt động giao thông đến mồi trường được đánh giá là không đáng kể bởi Thường Xuân là một huyện miền núi, nằm giáp với biên giới Lào Mật đố giao thông trên các tuyến đường không lớn, do đó những tác động của hoại động giao thông đến môi trường chủ yếu mang tính chất cục bộ và nhất thời
Theo các kết quả phân tích của Sở Tài nguyên và Môi trường Thanh Hoá từ năm
2000 đến 2006 cho thấy, nhìn chung nồng độ các khí thải như c o , N 0 2, S 0 2, NH3, Clo,
Pb dọc theo các tuyến đường giao thông chính vẫn còn dưới TCVN 5937: 2005
2.5 Tác động môi trường của hoạt động thương nghiệp và dịch vụ
Hệ thống thương mại và dịch vụ cũng được đánh giá là một trong những ngành kinh tế quan trọng của huyện (chiếm khoảng 22,5% cơ cấu kinh tê) Hệ thống thương mại và dịch vụ được phát triển ở hầu hết các khu dân cư trong huyện Tuy nhiên, quy
mô của các cơ sở dịch vụ này chủ yếu mang tính chất nhỏ lẻ, hộ gia đình Do đó những tác động của các hoạt động thương mại và dịch vụ đến môi trường là không đánh kể, chủ yếu là sự gia tăng ỉượng rác thải sinh hoạt
Theo kết quả điều tra và khảo sát thì, đối với các hộ gia đình có kinh doanh dịch
vụ, lượng rác thải tạo ra có lưu lượng lớn hơn so với các hộ thông thường từ 2-3 lần và chủ yếu là rác thải sinh hoạt, có chứa hàm lượng các chất hữu cơ cao (khoảng 70%) Các chất thải rắn này hầu hết được vứt ra môi trườno tự nhiên mà không được thu gom và xử lý Điều này đã làm ảnh hưởng tới cảnh quan và điều kiện vệ sinh môi trường khu vực
III ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH MÔI TRƯỜNG
3.1 Định hưởng s ử dụng các nguồn tài nguyên mỏi trường
5
Trang 73.1.1 Định hướng sử dụng tài nguyên đất
a Quy hoạch vùng canh tác nông nghiệp
Như đã nói, huyện Thường Xuân là một huyện miền núi có địa hình chia cắt mạnh, điều kiện giao thông đi lại còn khó khăn Tuy nhiên, đời sống của người dân hiện nay vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp So với các huyện khác trong tỉnh, áp lực của việc phát triển các khu công nghiệp, thương mại và dịch vụ đối với đất nông nghiệp
là không lớn
Tuy nhiên, để nâng cao năng suất cây trồng, ổn đinh phát triển kinh tế xã hội thì việc quy hoạch các vùng canh tác nông nghiệp là vấn đề cần thiết
Với đặc điểm điều kiện về địa chất, địa hình, khí tượng và thuỷ văn cùa khu vực huyện Thường Xuân, kết hợp với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của huyện trong giai đoạn tới thì những vùng có thể phát triển cây trồng nông nghiệp cụ thê như sau:
- Đối với 4 xã nằm dọc theo quốc lộ 15 gồm: Luận Thành, Luận Khê, Tân Thành và Xuân Cao có thể phát triển trồng râu, nuôi tàm và các loại cây rau màu như ngô, khoai,
- Vùng trồng sắn có thể phát triển tại khu vực xã Như Xuân
- Các loại cây công nghiệp ngắn ngày như lúa có thô' phát triển ở các xã dọc theo sông Chu như Vạn Xuân, Xuân cẩm , Xuân Cao, Thọ Thanh, Thị trấn Thường Xuân Ngoài ra các xã như Xuân Lộ, Xuân Chinh, Xuân Thắng, Tân Thành và Xuân Lộc cũng là vùng có tiềm năng nước dưới đất rất lớn
Song song với việc quy hoạch vùng canh tác các loai cây trống trong nông nghiệp, việc nghiên cứu đưa các loại giống cây trồng và vật nuôi cỏ năng suất cao, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp cũng là vấn dề rất cẩn thiết nhằm đảm bảo an ninh lưcmg thực
b Quy hoạch và phát triển đất lảm nghiệp
Căn cứ theo kết quả rà soát, phân loại rùns đặc dụng theo Quyết định số 62/2005/QĐ-BNN ngày 12/10/2005 của Bộ NN&PTNT tổna diên lích đất lãm nghiệp trên toàn huyện là 57.256,34 ha, trong đó khu bảo tồn thiên nhién Xuân Liên quán lý là 26.303,6 ha thuộc địa bàn 5 xã Bát Mọt, Yên Nhân, Lương Sơn, V m Xuân và Xuán cẩm (trong đó 2.828,6 ha là diện tích ngập nước hồ Cửa r Lain trườr Sông Đằng là 6.606,70 ha; Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn ia 6 ìp h;i; UHND xà ú'iản lý 191,00 ha; hộ gia đình và cá nhân sử dụng 19.913.84 ha
Vì vậy, để quản lý và phát triển quỷ đất lâm 11' MKV i Ịn \d tai nguyên rùng nói riêng thì việc quy hoạch thành các phàn í ! o í ấn lie < in thiết
và được đặt lên hàng đầu Trong đó, việc phân khu ỉxu ! i b II > n Xuân Liên đóng vai trò rất quan trọng
* Phân khu bào vệ nghiêm ngặt:
Trang 8Trên cơ sở Quyết định 62/2005/QĐ-BNN về việc ban hành bản quy định về tiêu chí phân loại rừng đặc dụng, trong giai đoạn mới phân khu bảo vệ nghiêm ngặt có diện tích 10.846,1 ha (giảm 8.953,9 ha so với Quyết định 3029/QĐ-UB) chiếm 41,23% diện tích khu bảo tồn bao gồm các tiểu khu 484, 485, 486, 489, 495, 497, 498, 505, 487,
499, 508, 515, 516 và một phần tiểu khu 507) thuộc các xã Bát Mọt, Vạn Xuân, Yên Nhân, trong đó:
+ Đất rừng : 10.234,25 ha, chiếm 94,36 % diện tích phân khu.
+ Đất chưa có rừng: 611,85 ha, chiếm 5,64 % diện tích phân khu.
Diện tích này bao gồm cả rùng nguyên sinh và thứ sinh Đây là nơi tập trung tới 80% các loài thú lớn, các loài trong Bộ Linh trưởng và các loài chim lớn trong khu vực Phân khu này có các chức năng, nhiệm vụ cơ bản là:
+ Chức năng: bảo vệ nghiêm ngặt nguyên vẹn các hệ sinh thái và các hệ động thực vật có trong phân khu Chống mọi hoạt động làm thay đổi thành phần và cấu trúc cùa rừng Đây là phân khu chủ yếu dành cho mục tiêu bảo tồn nguồn gen, nghiên cứu khoa học, tham quan gắn với nghiên cứu học tập
+ Phương thức quản lý: Nghiêm cấm mọi hoạt động ảnh hưởng tiêu cực tới tài nguyên rừng
* Phân khu phục hổi sinh thái:
Phân khu này chủ yếu nằm trong vùng có rừng và đất rừng đã bị tác động mạnh mẽ, thám thực bì hiện nay phần lớn là rùng gồ thứ sinh, rừng hỗn giao gỗ nứa, rừng giang nứa thuận loại và đất trống cây bụi, thảm cỏ diện tích này cần phục hồi lại rừng, làm giàu rùng
Phân khu này bao gồm diện tích còn lại của khu Bảo tồn thuộc các xã Lương Sơn,
Yên Nhân, Xuân cẩm , Vạn Xuân với tổng diện tích 12.362,9 ha, chiếm 47,0 % diện
tích khu bảo tồn gồm các tiểu khu 494, 496, 500, 501, 502, 504, 509, 510, 512, 513,
519, 520, 521, 522, 524 (so với diện tích đã được phê duyệt tại Quyết định 3029/QĐ-
UB, phân khu này tăng 4.997,18 ha, bởi lý do: nãm 2003 khu bảo tồn đã mở rộng tại địa bàn 2 xã Xuân Mỹ, Vạn Xuân theo Quyết định số 2834/QĐ-CT ngày 5/9/2003 của Chủ tịch UBND tình Thanh Hoá, các diện tích này được quy hoạch vào phân khu phục hồi sinh thái; kết quả rà soát, phân loại rừng đặc dụng theo Quvết định sô 62/2005/QĐ- BNN ngày 12/10/2005 của Bộ NN&PTNT giảm diện tích phân khu bảo vệ nghiêm ngặt chuyển sang phân khu phục hồi sinh thái)
+ Đất có rừng: 10.020,65 ha chiếm 81,05 % diện tích phân khu.
+ Đất không có rừng: 2.342,25 ha chiếm 18,95 % diện tích phân khu.[2]
Phân khu này có các chức năng, nhiệm vụ cơ ban là:
+ Chức nàng: Bảo vệ phục hồi lại nhũng diện tích rim 2 na heo kiệt hiện còn do hoại động khai thác quá mức trước đây, khoanh nuôi tái sinh phục hồi rừng và trồng rừng bằng các
Trang 9loài cây bản địa, quí hiếm; nâng cao tính năng phòng hộ bảo vệ nguồn nước cho sông Chu, sông Khao và sông Đặt
+ Phương thức quản lý: khuyến khích các hoạt động làm giàu rừng, trồng rừng, hoạt động khai thác du lịch sinh thái - tham quan học tập và nghiêm cấm, hạn chế các hoạt động làm suy giảm tài nguyên rừng (Phụ lục 10)
* Phân khu hành chính dịch vụ:
Năm 2005 để phù hợp với mục tiêu xây dựng Vườn sưu tập thực vật, cơ sở ha tầng du lịch; đảm bảo đủ điện tích để triển khai công tác sưu tập, quy tập các loài động thực vật có trong khu bảo tồn và ở các vùng khác, xây dựng cơ sở hạ tầng cho chưoug trình du lịch sinh thái Diện tích phân khu được quy hoạch tăng 3.023,79 ha trên địa bàn 3 xã Xuân cẩm , Vạn Xuân, Yên Nhân Phân khu này nằm liền kề với phân khu phục hổi sinh thái vói tổng diện tích 3.094,57 ha, chiếm 11,76% diện tích khu bảo tồn gồm khu vực văn phòng Ban và vùng ngập lòng hồ Cửa Đạt (thuộc một phần diện tích các tiểu khu: 513, 517, 519, 510, 502, 504, 501, 508)
Phân khu hành chính dịch vụ có chức năng, nhiệm vụ cơ bản như sau: Đáp ứng được yêu cầu về qui hoạch: Đủ diện tích bố trí xây dựng trụ sở làm việc của ban quản lý, nhà bảo tàng, cơ sở hạ tầng dịch vụ du lịch phục vụ khánh thăm quan, khu sưu tập thực vật - cây cảnh, khu cứu hộ động vật, khu trồng cây giáo dục cộng đổng, khu vườn ươm, hồ nước tạo cành quan - dự trữ cung cấp nước tưới kết hợp phòng cháy chữa cháy rừng
* Vùng đệm:
Với quy mô mở rộng, đề nghị quy hoạch vùng đệm với diện tích 40.367,4 ha (thuộc các xã có diện tích rừng và đất rừng qui hoạch cho khu bảo tổn: Bát Mọt, Yên Nhân, Lương Sơn, Xuân cẩm , Vạn Xuân và xã có ranh giới tiếp giáp với khu bảo tồn
xã Luận Khê, Xuân Cao) Vùng đệm có chức nàng là vành đai bảo vệ, là hàng rào chắn phòng hộ cho khu bảo tồn Vùng đệm kết hợp với khu bảo tồn nâng cao đòi sống của nhân dân, sử dụng đất đai và tài nguyên một cách hợp lý và bền vững, phục hồi lại hệ sinh thái, tạo các điều kiện thuận lợi về kinh tế cho địa phương, nhằm giảm
áp lực vào khu bảo tồn
3.1.2 Định hướng quy hoạch và khai thác tài nguvên khoáng sản
Huyện Thường Xuân là huyện có tiềm năng rất lớn vé tài nguyên khoáng sản
- Đá ở Vạn Xuân, Tân Thành, Xuân Cao;
- Sản xuất gạch, ngói ở Ngọc Phụng, Tân Thành Thọ Thanh Xuân Dương:
- Sét cao lanh ở Lương Sơn, Luận Thành;
- Cát sòi ở Thọ Thanh, Xuân cẩm
Trang 10- Đá vôi trữ lượng lớn ở các xã Xuân Cao, Luận Khê, Luận Thành, Tân Thành,
Xuân Lộc, Vạn Xuân, Xuân Mỹ, Bát Mọt,
Ngoài ra theo nghiên cứu của Viện nghiên cứu Địa chất và khoáng sản, xã Xuân Trinh có tiềm năng chứa vàng
Vì vậy, việc quy hoạch và khai thác nguồn tài nguyên khoáng sản này đóng vai trò rất quan trọng trong phát trién kinh tế và xã hội khu vực Bởi hoạt động khai thác khoáng sản nếu không được quy hoạch và có kế hoạch khai thác, quản lý một cách hợp
lý sẽ gây những tác động tiêu cực tới môi trường, đặc biệt gây ô nhiểm và suy thoái nguồn nước sản xuất nông nghiệp
Căn cứ theo điểu kiện địa hình, trữ lượng và đặc điểm của khoáng sản có thể quy hoạch thành 3 cụm khái thác khoáng sản chính là cụm khai thác khoáng sản mỏ xã Xuân Lệ, cụm mỏ xã Lương Sơn và cụm mỏ xã Ngọc Phụng
Bảng 15 Quy hoạch đất khai thác khoáng sản và nguyên vật liệu xây dựng đến
năm 2010 của huyện Thường Xuãn
Loại đất
Diện tích khai thác của các xã (ha)
Lương Sơn
Luận Thành
Ngọc Phụng
Tân Thành
Tho Thanh
Vạn Xuân
Xuân Cao
Xuân Dương Đất khai thác
-Đ ít làm nguyên vật
Để giảm thiểu cho các tác động của quá trinh khai thác khoáng sản đến môi trường, cần có những quy hoạch cho việc thoát nước, xử lý nước và bãi đổ thải chất thải một cách cụ thể:
9