1.2 Lý luận chung về tín dụng ngân hàng đối với DNNV 1.2.1 Các hoạt động cơ bản của NHTM 1.2.1.1 Khái niệm về NHTM Ngân hàng thương mại là một trong những tổ chức tài chính quan trọngnhấ
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế như ngày nay, các DNNVVthuộc các lĩnh vực khác nhau đặc biệt là lĩnh vực tư nhân đang phát triển rấtnhanh chóng và có nhiều đóng góp ngày càng quan trọng trong sự phát triểncủa Việt Nam Với những ưu điểm của mình như là bộ máy tổ chức gọn nhẹ,không đòi hỏi nhiều vốn đầu tư, dễ thích ứng với những biến động của thịtrường DNNVV đang ngày càng phát triển phù hợp với điều kiện nền kinh tếđang chuyển đổi và hội nhập của ta hiện nay, bên cạnh đó nó còn là nền tảngthúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trong quá trình phát triển hiện nay các DNNVV đang còn gặp rất nhiềukhó khăn, thách thức Khó khăn lớn nhất của các DNNVV là thiếu vốn để mởrộng sản xuất kinh doanh , tăng cường sự cạnh tranh Một nguồn vốn rất quantrọng đối với các DNNVV là nguồn vốn vay của ngân hàng, đây là nguồn vốn
có chi phí rẻ mà các doanh nghiệp còn được nhận khoản tiết kiệm về thuế.Tuy nhiên với các nhiều lý do khác nhau các DNNVV hiện còn gặp rất nhiềukhó khăn khi tiếp cận để vay và sử dụng nguồn vốn vay từ các ngân hàng
Nhận thức được tính cấp thiết của vấn đề vốn vay ngân hàng đối vớicác DNNVV hiện nay, cũng như qua tìm hiểu thực tế tình hình của hoạt độngcho vay của chi nhánh Ngân hàng Công Thương Hoàn Kiếm trong quá trìnhthực tập em đã chọn đề tài “Phát triển hoạt động cho vay doang nghiệp nhỏ vàvừa tại chi nhánh Ngân hàng Công Thương Hoàn Kiếm” cho chuyên đề tốtnghiệp của mình
Mục đích của đề tài này là tìm hiểu về hoạt động cho vay đối với doanhnghiệp nhỏ và vừa tại chi nhánh, những kết quả đạt được và những hạn chếcòn tồn tại từ đó đưa ra những giải pháp và kiến nghị để giúp ngân hàng pháttriển hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thời gian tới
Trang 2Nội dung chính của chuyên đề gồm:
Chương 1: Lý luận chung về tín dụng ngân hàng đối với DNNVV
Chương 2: Thực trạng phát triển cho vay DNNVV tại NHCT Hoàn Kiếm Chương 3: Giải pháp phát triển cho vay đối với DNNVV tại NHCT Hoàn Kiếm
Trang 3CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHO VAY DNNVV CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI 1.1 Lý luận chung về doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trong một nền kinh tế có rất nhiều loại hình doanh nghiệp cùng tồn tại,phát triển và cạnh tranh lẫn nhau Có thể hiểu một cách chung nhất doanhnghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập nhằm sản xuất, cung ứng sảnphẩm hàng hóa hoặc dịch vụ trên thị trường
Có rất nhiều cách phân loại các doanh nghiệp theo các tiêu thức khácnhau tùy theo điều kiện kinh tế, xã hội của từng nước trong từng giai đoạn cụthể Ở Việt Nam, theo điều 3 Nghị định số 90/2001/NĐ-Cp ngày 23/11/2001
về trợ giúp DNNVV được định nghĩa như sau:
“DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanhtheo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số laođộng trung bình hàng năm không quá 300 người.”
1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trong nền kinh tế thị trường thì vai trò của các DNNVV vô cùng quantrọng, đặc biệt là trong điều kiện các nước đang phát triển như Việt Nam CácDNNVV cung cấp một số lượng sản phẩm hàng hóa dịch vụ đáng kể cho nềnkinh tế
Các DNNVV của Việt Nam hiện nay chiếm khoản 90% tổng số hơn230.000 doanh nghiệp trên toàn quốc Tỷ trọng GDP cung cấp cho nền kinh tếcủa các DNNVV năm 2006 khoảng 26%, đa phần các DNNVV hoạt động ởtrên 3 lĩnh vực chính đó là thương mại dịch vụ, công nghiệp chế biến, xâydựng và vận tải
Các DNNVV có những đặc điểm cơ bản sau:
Trang 4là những vệ tinh, những xí nghiệp gia công cho những doanh nghiệp lớn cùng hệthống đồng thời là mạng lưới tiêu thụ hàng hóa cho các doanh nghiệp lớn.
Tính linh hoạt:
Xét trên phạm vi toàn cầu hiện nay tính chất cạnh tranh giữa các doanhnghiệp đang chuyển từ cạnh tranh về giá cả sang cạnh tranh về chất lượng vàcông nghệ Chính vì thế lợi thế của các DNNVV càng thể hiện rõ nét hơn, cácdoanh nghiệp này có thể sử dụng máy móc thiết bị trong nước, dễ dàng thayđổi công nghệ, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật mà không tốn kém nhiều chiphí, có thể kết hợp cả công nghệ truyền thống và công nghệ hiện đại Nhờ sựphát triển của tiến bộ khoa học và công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ thôngtin tạo khả năng to lớn trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại vào trong hoạtđộng của DNNVV Bên cạnh đó khả năng đổi mới sản phẩm của DNNVVnhanh có thể phản ứng kịp thời với xu thế của tiêu dùng
Tổ chức của các DNNVV đơn giản, chi phí thấp:
Các DNNVV thường có qui mô vốn nhỏ hay số lao động không nhiều
do đó việc tổ chức sản xuất cũng như bộ máy quản lý tương đối gọn nhẹ, có
sự gần gũi thường xuyên giữa người chủ doanh nghiệp với các nhân viên Vìvậy các quyết định, chỉ tiêu đến với người lao động một cách nhanh chóngkhông phải qua nhiều khâu trung gian, tiết kiệm chi phí
Trang 5Do qui mô nhỏ nên các DNNVV cũng cần ít diện tích xây dựng cở sởsản xuất, có khả năng phân tán sản xuất, có thể thâm nhập dễ dàng vào các thịtrường nhỏ lẻ mà các doanh nghiệp lớn còn bỏ ngỏ Nó có vai trò tích cựctrong việc khai thác thế mạnh về tài nguyên, đất đai, lao động để phát triểnkinh tế địa phương từ đó giúp phát triển cân đối giữa các vùng miền.
Có thể thấy ưu thế rõ rệt của các DNNVV trong điều kiện nền kinh tếhiện nay, tuy nhiên để hỗ trợ phát triển loại hình doanh nghiệp này cần khắcphục những hạn chế còn tồn tại Đó là:
Quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ, nguồn vốn hạn chế:
Nhìn chung ở nước ta tình trạng các DNNVV hoạt động thiếu vốn làchủ yếu, nguồn vay hầu như dựa vào nguồn vốn tự có và vay trên thị trườngphi tài chính Mặc dù đã có nỗ lực từ phía chính quyền địa phương nhưng vẫncòn sự phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế( các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, hay cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) trong các lĩnh vực như đất đai, mặtbằng sản xuất Các DNNVV cũng ít có khả năng tiếp cận nguồn tín dụng củangân hàng do không đảm bảo điều kiện cần thiết về tài sản đảm bảo hay cácđiều kiện vay vốn khác Điều này dẫn đến các doanh nghiệp thiếu mặt bằngsản xuất kinh doanh, thiếu vốn đầu tư cho sản xuất, đổi mới công nghệ, khókhăn khi muốn mở rộng thị trường Theo số liệu ước tính đến nay có đến44,44% các doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng; từ 1 tỷ đến 5 tỷ đồng có33,21%; từ 5 tỷ đến 10 tỷ đồng có 8,24% Khoảng 66,7% các doanh nghiệpgặp khó khăn trong việc tìm kiếm mặt bằng sản xuất
Trình độ quản lý còn yếu kém:
Năng lực và trình độ quản lý của đội ngũ chủ DNNVV hiện nay còn rấtthấp Phần lớn cán bộ quản lý trong các doanh nghiệp này khi thành lập doanhnghiệp và hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên kinh nghiệm là chính, chưa
Trang 6được đào tạo qua trường lớp cơ bản nên còn nhiều hạn chế trong công tácquản lý kinh tế cũng như ảnh hưởng đến việc thực hiện các quy định của phápluật trong quá trình sản xuất kinh doanh Theo số liệu thống kê hiện nay sốtiến sỹ chỉ chiếm 0,66%; thạc sĩ 2,33%; tốt nghiệp đại học là 37,82%, tốtnghiệp cao đẳng là 3.56%; tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp chiếm 12,33%
và 43,3% có trình độ thấp hơn
Trình độ tay nghề của đội ngũ lao động còn nhiều hạn chế:
Khu vực DNNVV được xem là khu vực thu hút nhiều lao động nhất,góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho người dân Tuy nhiên
do điều kiện kinh tế nước ta xuất phát từ một nước nông nghiệp lạc hậu nênhầu như lao động giản đơn chưa qua trường lớp đào tạo, chỉ làm theo kinhnghiệm truyền tay của gia đình hay của các kỹ thuật viên của doanh nghiệp
Do vậy tính năng động, sáng tạo trong việc phát huy sáng kiến cải tiến mẫu
mã hàng hóa chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa hiện đạihóa Mặt khác công tác đào tạo tay nghề cho lao động lại chưa được cácdoanh nghiệp thực sự quan tâm, hiện nay thì chỉ mới có khoảng gần 6%doanh nghiệp có nhu cầu đào tạo về tay nghề, kỹ thuật, công nghệ Những hạnchế về tay nghề của đội ngũ lao động làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanhđồng thời làm tăng chi phí về sử dụng lao động cho doanh nghiệp
Công nghệ lạc hậu:
Hiện nay các DNNVV ở Việt Nam đang sử dụng công nghệ lạc hậu
1-2 thế hệ Về trình độ công nghệ chỉ có khoảng 8%-10% số doanh nghiệp đạttrình độ công nghệ tiên tiến mà phần lớn là doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài, hầu như các doanh nghiệp trong nước đang sử dụng công nghệ cũ, lạchậu, có nhiều doanh nghiệp hiện đang sử dụng trang thiết bị không đồng bộ
và hỗn tạp do nhiều nước sản xuất Điều này dẫn đến chất lượng sản phẩmkém, giảm hiệu quả kinh doanh và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp này
Trang 7trên thị trường Thực tế này là do các DNNVV của Việt Nam còn thiếu vốn
để đầu tư đổi mới trang thiết bị, nâng cấp công nghệ sản xuất để mở rộngnăng lực sản xuất nhưng lại khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay từcác ngân hàng, trong khi chi phí vay từ các tổ chức tín dụng phi ngân hàng lạikhá cao
Khả năng tiếp cận thị trường kém:
Khả năng xúc tiến thương mại, tiếp cận thị trường trong nước và quốc
tế của các DNNVV Việt Nam còn nhiều hạn chế Các sản phẩm và dịch vụ docác doanh nghiệp này cung cấp hiện nay tuy đã có nhiều tiến bộ về chấtlượng, nhưng mới chỉ đáp ứng một phần nhu cầu của người tiêu dùng Lạithêm quy mô nhỏ bé, năng lực sản xuất chưa cao, hạn chế về vốn, thiếu khảnăng xây dựng và triển khai kế hoạch tiếp thị sản phẩm, các DNNVV gặpnhiều khó khăn để cạnh tranh trong môi trường toàn cầu hoá nhanh chónghiện nay, đặc biệt với sân chơi lớn như WTO Các sản phẩm sản xuất chấtlượng thấp, khó đáp ứng được tiêu chuẩn xuất khẩu nên chủ yếu chỉ phục vụthị trường trong nước, thậm chí trong một địa phương nhỏ hẹp Trong khi đócác doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu sự liên kết, hợp tác giữa các doanhnghiệp lớn với các doanh nghiệp nhỏ và vừa khiến cho mạng lưới phân phốisản phẩm còn bó hẹp và manh mún
Thiếu thông tin, khó khăn trong việc tiếp cận thị trường tài chính:Khu vực này bị thiếu thông tin về các thị trường đầu vào như thị trườngvốn, lao động, nguyên vật liệu, thiết bị, công nghệ; thiếu thông tin về thịtrường tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt là thị trường xuất khẩu và chưa tiếp cậnđược công nghệ thông tin trong quản lý doanh nghiệp Đặc biệt, nhiều doanhnghiệp chưa đủ năng lực lập kế hoạch kinh doanh, phương án đầu tư, chiếnlược tiếp cận thị trường, cùng với sức cạnh tranh yếu nên bỏ lỡ các cơ hộiphát triển kinh doanh, thậm chí dẫn đến chấm dứt tồn tại
Trang 8Việc tiếp cận với thông tin về hệ thống pháp luật, các văn bản liên quanđến các DNNVV… còn tản mạn và hạn chế, gây cản trở trong quá trình sảnxuất phân phối sản phẩm; đặc biệt là quá trình xuất khẩu các doanh nghiệpViệt Nam thường rất hay bị sai phạm các thông lệ, qui tắc quốc tế làm cho uytín bị giảm sút, chi phí trội lên, giảm hiệu quả kinh doanh.
Bên cạnh đó các DNNVV gặp rất nhiều khó khăn khi tiếp cận với thịtrường tài chính Họ chưa đủ lớn để tự phát hành vốn qua kênh thị trườngchứng khoán, tự huy động thì phải có thương hiệu Còn với các ngân hàng đôikhi không có tài sản thể chấp và việc lập dự án đầu tư cho hiệu quả để thuyếtphục ngân hàng cho vay cũng gặp nhiều khó khăn
1.1.3 Vai trò của DNNVV trên thị trường hiện nay
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá
trình phát triển kinh tế của các nước có nền kinh tế phát triển nói chung và cácnước đang phát triển nói riêng cũng như ở Việt Nam Điều đó được thể hiện
cụ thể trên những nét cơ bản sau:
Các DNNVV cung cấp một lượng sản phẩm hàng hóa đáng kể chonền kinh tế và đóng góp một phần quan trọng quá trình tăng trưởng kinh tế
Các DNNVV đáp ứng tích cực, kịp thời nhu cầu tiêu dùng ngày càngphong phú và đa dạng mà doanh nghiệp lớn không thể làm được Tỷ trọngGDP cung cấp cho nền kinh tế của các DNNVV có xu hướng ngày càng tăng.Nếu năm 1999 tỷ trọng GDP của các DNNVV chỉ chiếm 8,01%; năm 2002chiếm 9,02%; đến năm 2004 tỷ lệ này khoảng 24%-25% và năm 2006 đãđóng góp khoảng 26% GDP
DNNVV trong nền kinh tế góp phần tạo việc làm và thu nhập chongười lao động.
Hằng năm nước ta có khoảng hơn một triệu người đến tuổi lao độngnhưng khả năng thu hút lao động của các doanh nghiệp Nhà nước lớn ngày
Trang 9càng hạn chế Bên cạnh đó, trong tiến trình đổi mới và cải cách doanh nghiệpNhà nước đã khiến cho nhiều người lao động bị mất việc làm Trong bối cảnhnhư thế, các DNNVV đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã cóvai trò quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho người lao động bao gồmnhững người mới đến tuổi lao động, những người bị mất việc làm do tinhgiảm biên chế cũng như các quân nhân khi hoàn thành nghĩa vụ trở về Hằngnăm khu vực doanh nghiệp này thu hút hàng chục vạn lao động, góp phần giảiquyết các vấn đề xã hội của đất nước Theo số liệu ước tính năm 2006 khuvực DNNVV tạo ra khoảng 49% việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn vàchiếm từ 25%-26% lực lượng lao động cả nước.
Các DNNVV thu hút vốn đầu tư trong nền kinh tế
Qua những năm gần đây các DNNVV không ngừng tăng lên về sốlượng doanh nghiệp cũng như số vốn đăng ký kinh doanh Chỉ tính riêng 5tháng đầu năm 2007 đã có 20.300 DN thành lập, đăng ký kinh doanh với sốvốn 135.000 tỷ đồng và ước tính cả năm 2007 có khoảng gần 50.000 DNthành lập với tổng số vốn đăng ký là 350.000 tỷ đồng Tình hình trên cho thấyDNNVV đã thu hút được khá nhiều khoản tiết kiệm trong dân cư, cũng nhưcác nguồn đầu tư trong và ngoài nước
Hoạt động của các DNNVV góp phần làm cho nền kinh tế năngđộng, đạt hiệu quả kinh tế cao
Với qui mô và lao động không lớn các DNNVV dễ dàng được thànhlập, chuyển đổi mặt hàng sản xuất kinh doanh Điều đó cho thấy rằng cácdoanh nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong lưu thông hàng hóa, dịch vụ
bổ sung cho các doanh nghiệp lớn, là những vệ tinh, là những xí nghiệp giacông, đồng thời là mạng lưới tiêu thụ hàng hóa cho các doanh nghiệp lớn.Hiện nay DNNVV chiếm khoảng 31% tổng sản lượng công nghiệp hàng năm,
Trang 1078% doanh số bán lẻ trong thương nghiệp, 64% khối lượng vận chuyển hànhkhách và hàng hóa
Các DNNVV có vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế địaphương, khai thác tiềm năng thế mạnh của từng vùng, góp phần chuyển dịch
cơ cấu kinh tế
Với những lợi thế của mình các DNNVV có điều kiện len lỏi đếnnhững thị trường nhỏ lẻ, đi sâu vào các địa phương để tận dụng khai thác thếmạnh về đất đai, tài nguyên, lao động trong mọi lĩnh vực phục vụ phát triểnkinh tế địa phương như phát triển kinh tế trang trại, các làng nghề truyềnthống từ đó phát triển đồng đều giữa các vùng, khu vực trong cả nước
Các DNNVV tạo được mối liên kết chặt chẽ với các tổng công tynhà nước, các tập đoàn xuyên quốc gia
Mặc dù mối quan hệ này mới chỉ được xác lập bước đầu qua việc cungứng nguyên vật liệu, hợp đồng phụ và thành lập mạng lưới vệ tinh phân phốisản phẩm, nhưng đây là bước phát triển quan trọng đẩy nhanh sự phát triểncủa các DNNVV nói riêng và sự phát triển chung của nền kinh tế
Từ những đặc điểm và vai trò của DNNVV ta có thể khẳng định được
vị trí của các DNNVV và việc chú trọng phát triển các DNNVV là một trongnhững chiến lược quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước, đặc biệt là trong quá trình hội nhập như hiện nay Điều cấp thiết cầngiải quyết trước mắt là việc hỗ trợ tín dụng cho các DNNVV
1.1.4 Nhu cầu vay vốn của các DNNVV
Chúng ta đã thấy được vai trò quan trọng của DNNVV đối với nền kinh
tế Vì vậy chính phủ cũng đã có nhiều chính sách, giải pháp tích cực nhằmnâng cao hiệu quả hoạt động, sức cạnh tranh cũng như tiềm năng của loạihình doanh nghiệp này Tuy nhiên do đặc thù riêng của DNNVV ở Việt Nam
và xét trong hoàn cảnh chung của nền kinh tế, hiện tại DNNVV đang đứng
Trang 11trước những khó khăn cần tháo gỡ và quá trình phát triển DNNVV đã và đangbộc lộ những hạn chế nhất định Đó là do quá trình phát triển của DNNVVcòn ngắn, đang trong giai đoạn đầu nên khả năng tích lũy vốn còn hạn chế.Tình trạng thiếu vốn đang là khó khăn lớn nhất đối với các DNNVV
Những hạn chế kìm hãm sự phát triển các DNNVV do các yếu tố kháchquan tồn tại như sự phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp thuộc các thànhphần kinh tế khác nhau (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốcdoanh) mà các DNNVV chủ yếu thuộc thành phần kinh tế tư nhân Bên cạnh
đó các DNNVV lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính là do bản thân cácDNNVV thiếu các điều kiện để tiếp cận các nguồn vốn vay Vì các DNNVV
có nguồn vốn tự có ban đầu khá hạn hẹp thường chỉ dưới 10 tỷ đồng, trongkhi đó còn phải mua mặt bằng, xây dựng cơ sở sản xuất, mua trang thiết bị,…nên các DNNVV không có điều kiện tự đầu tư đổi mới trang thiết bị, nângcấp công nghệ sản xuất để mở rộng năng lực sản xuất Việc tiếp cận thịtrường tài chính các DNNVV cũng gặp rất nhiều khó khăn khi qui mô tài sản,nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nợ phải trả so với nguồn vốn cao, chưa có uy tín trênthị trường,…còn thị trường tài chính Việt Nam lại chưa phát triển ổn định vàhoàn thiện
Chính vì vậy mà hiện nay nguồn vay vốn của các DNNVV Việt Namhiện nay chủ yếu vẫn là nguồn vốn tín dụng thương mại và tín dụng ngânhàng
Nguồn tín dụng thương mại được hình thành trong quan hệ mua bánchịu hàng hóa giữa những người sản xuất kinh doanh với nhau Với hình thứcnày các doanh nghiệp có thể tiến hành thông suốt quá trình sản xuất kinhdoanh trong điều kiện chưa có tiền mặt để thanh toán các yếu tố đầu vào Đây
là nguồn tín dụng chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng nguồn vốn của cácDNNVV và trong điều kiện hiện nay được sử dụng rất nhiều do tính tiện lợi,
Trang 12rẻ, linh hoạt trong kinh doanh đồng thời mở rộng hợp tác kinh doanh lâu dài.Tuy nhiên hình thức tài trợ này có những hạn chế nhất định như khi qui môlớn thì khả năng rủi ro cao, hạn chế khả năng kiểm soát của Nhà nước.
Nguồn tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng giữa các ngân hàng vớicác tổ chức còn lại của nền kinh tế trong đó có các DNNVV, trong đó ngânhàng vừa là người đi vay vừa là người cho vay Nguồn vốn từ ngân hàng lànguồn vốn giúp các DNNVV có vốn để nâng cấp cơ sở sản xuất, đổi mớicông nghệ, đầu tư chiều sâu, từ đó tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh và nănglực cạnh tranh trên thị trường Tuy nhiên phần lớn các DNNVV hiện nay vẫnrất đang khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn ngân hàng
1.2 Lý luận chung về tín dụng ngân hàng đối với DNNV
1.2.1 Các hoạt động cơ bản của NHTM
1.2.1.1 Khái niệm về NHTM
Ngân hàng thương mại là một trong những tổ chức tài chính quan trọngnhất của nền kinh tế Ngân hàng là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất tronghầu hết mọi nền kinh tế; đóng vai trò thủ quĩ cho toàn xã hội; là tổ chức cungcấp tín dụng chủ yếu đối với các doanh nghiệp, các nhân, hộ gia đình,…vàmột phần đối với Nhà nước
Ngân hàng là một công cụ quan trọng trong chính sách kinh tế củaChính phủ, đặc biệt là chính sách tiền tệ nhằm phát triển kinh tế bền vững
Ngân hàng bao gồm nhiều loại tùy thuộc vào phát triển của nền kinh tếnói chung và hệ thống tài chính nói riêng Theo luật các tổ chức tín dụng số07/1997/QHX: Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn
bộ hoạt động và các hoạt động kinh doanh khác liên quan Các hoạt độngngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với các nộidụng thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng vàcung cấp dịch vụ thanh toán Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại
Trang 13hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngânhàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngânhàng khác.
NHTM là loại hình ngân hàng thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về qui
mô tài sản, thị phần, và số lượng các ngân hàng Theo nghị định số49/2000/NĐ-CP, NHTM là ngân hàng được thực hiện toàn bộ các hoạt độngngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợinhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước NHTM baogồm NHTM Nhà nước và NHTM cổ phần của Nhà nước và nhân dân
1.2.1.2 Các hoạt động cơ bản của NHTM
NHTM là tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhất nền kinh tế, nóđược xem là bà đỡ của nền kinh tế có vai trò cung cấp nhu cầu vốn cho sựphát triển kinh tế, nâng cao hiệu quả kinh tế, tham gia vào sự ổn định và pháttriển của thị trương tài chính và thị trường chứng khoán, tham gia kiểm soátcác hoạt động kinh tế Vai trò của NHTM thể hiện qua các hoạt động cơ bảnsau:
Hoạt động huy động huy động vốn
Hoạt động huy động vốn là hoạt động ngân hàng huy động để hìnhthành nguồn vốn, hình thành nên tài sản nợ của ngân hàng từ đó thực hiện cácnghĩa vụ của ngân hàng đối với nền kinh tế
Các hoạt động huy động vốn của NHTM:
- Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân, và các tổ chức tín dụng khácdưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửikhác
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huyđộng vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi được Thống đốcNgân hàng Nhà nước chấp nhận
Trang 14- Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác, vay vốn ngắn hạn của Ngânhàng Nhà nước
- Và các hoạt động huy động khác theo qui định của Ngân hàng Nhànước như dịch vụ ủy thác, các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt,
Trong các nguồn tiền mà ngân hàng huy động thì nguồn tiền gửi thanhtoán và tiền gửi tiết kiệm là nguồn huy động quan trọng nhất, chiếm tỷ trọngcao trong tổng nguồn tiền của ngân hàng đồng thời mang lại nguồn lợi nhuậnlớn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Hoạt động sử dụng vốn
Nghiệp vụ sử dụng vốn của ngân hàng là việc ngân hàng sử dụngnguồn vốn tự có và đã huy động được để đưa vào kinh doanh nhằm trả khoảnphí khi huy động vốn, đảm bảo an toàn trong kinh doanh và đem lại lợi nhuậncho ngân hàng, vì vậy là cơ sở để ngân hàng tồn tại và phát triển
Các hoạt động sử dụng vốn của các NHTM bao gồm các họat động cơbản sau:
- Dự trữ bắt buộc:
Các NHTM phải duy trì một một lượng dự trữ bắt buộc tại tài khoảntiền gửi ở Ngân hàng Nhà nước ( sở giao dịch hoặc chi nhánh Ngân hàng Nhànước tỉnh, thành phố) nơi ngân hàng đặt trụ sở chính theo tỷ lệ qui định cụthể: đối với tỷ lệ dự trữ bắt buộc của tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn ( tiềnVNĐ và ngoại tệ) dưới 12 tháng là 11% so với nguồn vốn, và đối với tiền gửi
có kỳ hạn trên 12 tháng tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 5% Đây là hoạt động nhằmđảm bảo an toàn cho ngân hàng và khách hàng dự phòng việc mất khả năngthanh toán
- Hoạt động cho vay:
Trong điều kiện kinh tế phát triển mạnh mẽ như hiện nay thì nhu cầuvay vốn ngày càng gia tăng và tất yếu hoạt động cho vay của các ngân hàng
Trang 15càng đóng vai trò quan trọng Hoạt động cho vay là việc ngân hàng nhườngquyền sử dụng vốn cho người khác trong những khoảng thời gian và điều kiệnnhất định như: tài sản thế chấp, lãi suất, mục đích sử dụng vốn, hoàn trả gốc,
…
- Hoạt động đầu tư:
Là hoạt động đầu tư vào chứng khoán( trái phiếu, cổ phiếu của cáccông ty có uy tín lớn) và đầu tư trực tiếp vào sản xuất kinh doanh, đầu tư gópvốn liên doanh,…hoạt động đầu tư tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng nhưng nócòn nhằm mục đích giúp ngân hàng thâm nhập vào nền kinh tế, hình thànhcác tập đoàn công nghiệp và tài chính, thu thập các thông tin phục vụ cho cáchoạt động khác, khẳng định vai trò và vị trí của ngân hàng
- Hoạt động kinh doanh ngoại tệ:
Đây là hoạt động mua bán ngoại tệ của ngân hàng để đáp ứng nhu cầu
sử dụng của khách hàng và thu phần lợi nhuận từ phần chênh lệch ngoại tệ
- Hoạt động sử dụng vốn khác:
Đây là những hoạt động không mang tính chất không thường xuyên,phổ biến, không mang lại lợi ích trực tiếp cho Ngân hàng nhưng nó tăng hìnhảnh và uy tín cho ngân hàng nhưng nay nó lại mang tính tài trợ để nghiêncứu, phát triển như: hoạt động quảng cáo, hoạt động tài trợ, trao học bổng,thực hiện các chương trình phát triển nông nghiệp-nông thôn,
Hoạt động thanh toán:
Hoạt động thanh toán qua ngân hàng mở đầu cho quá trình thanh toánkhông dùng tiền mặt, giúp cho quá trình thanh toán được an toàn, nhanhchóng, chính xác và tiết kiệm chi phí cho khách hàng và cho cả nền kinh tế.Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin ngày càng có nhiều hình thứcthanh toán phi tiền mặt tiện dụng và hiện đại Các hình thức thanh toán không
sử dụng tiền mặt khá phổ biến hiện nay như: séc, chuyển tiền điện tử, ủy
Trang 16nhiệm thu, thư tín dụng, thanh toán qua tài khoản cá nhân, thanh toán online,internet banking, phone banking, master card,…Đây là những phương tiệnthanh toán của một nền kinh tế hiện đại, tuy nhiên ở Việt Nam tỷ lệ sử dụngphương tiện này vẫn còn thấp, đòi hỏi các ngân hàng cần có những biện phápnâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm để thúc đẩy thu hút người dân
- Hoạt động ủy thác: là việc ngân hàng thay mặt khách hàng thực hiệnnghĩa vụ tài chính đối với chủ thể khác Hoạt động rất đa dạng và phong phúnhư ủy thác đầu tư, ủy thác phát hành, ủy thác cho vay hộ,…
- Hoạt động cho thuê thiết bị trung và dài hạn: đây là việc ngân hàngthuê hoặc mua tài sản (máy móc thiết bi, phương tiện vận chuyển,…) để chokhách hàng thuê theo những thỏa thuận nhất định Cuối hợp đồng khách hàngtrả lại tài sản hoặc có thể mua luôn tài sản Đây là hoạt động hỗ trợ rất nhiềucho các doanh nghiệp đặc biệt là các DNNVV trong điều kiện thiếu vốn màcần máy móc thiết bị để tiến hành mở rộng phát triển sản xuất
- Ngoài các hoạt động trên các NHTM còn cung ứng các dịch vụ như:cung ứng dịch vụ bảo hiểm, tư vấn tài chính, bảo quản hiện vật quý, giấy tờ
có giá, cho thuê tủ két,…và các NHTM được trực tiếp kinh doanh hoặc thành
Trang 17lập các công ty trực thuộc để thực hiện kinh doanh khác có liên quan đến hoạtđộng ngân hàng.
1.2.2 Phân loại tín dụng ngân hàng
Hoạt động tín dụng là hoạt động đặc trưng của các NHTM, là loại tàisản chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các NHTM.Tùy theo các tiêu thứckhác nhau mà các ngân hàng phân loại hoạt động tín dụng theo nhiều hìnhthức khác nhau
Phân theo hình thức cấp tín dụng:
Tín dụng ngân hàng bao gồm cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy
tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức tín dụng theo quiđịnh của Ngân hàng Nhà nước
Phân loại theo thời gian:
Phân loại theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vìthời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lời của tín dụng cũngnhư khả năng hoàn trả của ngân hàng Theo tiêu chí này tín dụng ngân hàngbao gồm tín dụng ngắn hạn , tín dụng trung và dài hạn
Tín dụng ngắn hạn nhằm tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sửdụng vốn ngắn hạn của Nhà nước, doanh nghiệp, hộ sản xuất Ngân hàng cóthể áp dụng cho vay trực tiếp hoặc gián tiếp, cho vay theo món hoặc theo hạnmức, có hoặc không có bảo đảm, dưới hình thức chiết khấu, thấu chi hoặcluân chuyển
Tín dụng trung và dài hạn là hình thức tài trợ trung và dài hạn cho cácdoanh nghiệp mua sắm trang thiết bị, xây dựng, cải tiến công nghệ,…; chocác dự án đầu tư của Nhà nước; thỏa mãn nhu cầu mua sắm hàng tiêu dùnglâu bền đối với người tiêu dùng Nó bao gồm: hoạt động mua trái phiếu, chovay theo dự án, cho vay đối với người tiêu dùng
Phân loại theo chủ thể được cấp tín dụng:
Trang 18Đây là cách phân loại phổ biến tại các ngân hàng Việt Nam, nó giúpcho ngân hàng dễ dàng quản lý và đáp ứng nhu cầu của khách hàng Có thểphân chia tín dụng cho khách hàng cá nhân, tín dụng cho doanh nghiệp vừa vànhỏ, tín dụng cho doanh nghiệp lớn và hình thành các phòng ban riêng biệt.
Phân loại theo rủi ro:
Tín dụng bao gồm các khoản có độ an toàn cao, khá, trung bình vàthấp Cách phân chia này giúp cho ngân hàng dễ dàng đánh giá chất lượng cáckhoản tín dụng của mình từ đó có những biện pháp dự phòng và khắc phụccần thiết
Phân loại theo tài sản đảm bảo:
Tài sản đảm bảo là một điều kiện vay vốn được chú trọng nhất trongquyết định cho vay của các NHTM tuy có những món vay không có tài sảnđảm bảo nhưng rất ít, chủ yếu là các doanh nghiệp có uy tín, đã có thươnghiệu, là khách hàng truyền thống của ngân hàng Theo tiêu chí này tín dụngngân hàng bao gồm: cho vay không có tài sản đảm bảo, cho vay có kèm tàisản đảm bảo( cầm cố hoặc thế chấp) Hình thức cấp tín dụng có tài sản đảmbảo cầm cố là hình thức theo đó người nhận tài trợ của ngân hàng chuyểnquyền kiểm soát của tài sản đảm bảo cho ngân hàng trong thời gian cam kết.Tín dụng có tài sản thế chấp là hình thức theo đó người nhận tài trợ phảichuyển các giấy tờ chứng nhận sở hữu (hoặc sử dụng) các tài sản đảm bảosang ngân hàng nắm giữ trong thời gian cam kết
Khi vay vốn ngân hàng các DNNVV có thể sử dụng các hình thức:
Phương thức cho vay trực tiếp từng lần
Đây là phương thức cho vay khá phổ biến của ngân hàng đối với cáckhách hàng không có nhu cầu thường xuyên, không có điều kiện dể cấp hạnmức thấu chi, vốn vay này chỉ tham gia một giai đoạn nhất định của chu kìsản xuất kinh doanh
Trang 19Với phương thức này cứ mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn và trìnhngân hàng phương án sử dụng vốn vay Mỗi món vay sẽ được tách biệt nhauthành các hồ sơ (khế ước nhận nợ khác nhau) Mỗi lần cho vay ngân hàng sẽphân tích từng khách hàng để xác định số lượng cho vay, thời hạn cho vay,thời hạn giải ngân, lãi suất và các điều kiện cụ thể khác, và doanh số cho vaykhông vượt quá số tiền cho vay đã thỏa thuận trong hợp đồng Số lượng tíndụng cấp từng lần sẽ căn cứ vào tỷ lệ so với tài sản đảm bảo hoặc nhu cầu vayvốn của doanh nghiệp Cụ thể:
Số lượng = nhu cầu vốn cho - Vốn chủ sở - các nguồn vốn cho vay sản xuất kinh doanh hữu tham gia khác tham gia
Nếu cho vay theo giá trị tài sản đảm bảo:
Số lượng = Giá trị tài sản x Tỷ lệ cho vay trên giá trị
cho vay đảm bảo tài sản đảm bảo
Tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản đảm bảo do từng ngân hàng cụ thể quiđịnh phù hợp với qui định của Ngân hàng Nhà nước Với hình thức này ngânhàng có thể kiểm soát từng món vay cụ thể, và trong quá trình vay ngân hàng
sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả sử dụng vốn, nếu thấy có dấu hiệu vi phạmhợp đồng ngân hàng sẽ thu nợ trước hạn, hoặc chuyển nợ quá hạn
Phương thức cho vay theo hạn mức
Phương thức cho vay theo hạn mức thường được ngân hàng áp dụngcho đối tượng các khách hàng có quá trình sản xuất kinh doanh ổn định, mặthàng đa dạng, quan hệ vay vốn thường xuyên và có mức độ tín nhiệm cao về
sử dụng vốn vay Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thoat thuận sẽcấp cho khách hàng một hạn mức cho vay
Hạn mức cho vay là mức dư nợ tối đa được duy trì trong một thời giannhất định Mỗi lần vay khách hàng chỉ cần trình bày phương án sử dụng vốnvay, nộp các chứng từ chứng minh đã mua hàng hay dịch vụ và nêu yêu cầu
Trang 20vay, từ đó ngân hàng sẽ kiểm tra tính xác thực của các chứng từ rồi đưa tiềncho khách hàng Trong kỳ khách hàng có thể vay trả nhiều lần nhưng dư nợkhông được vượt quá hạn mức tín dụng Nhưng trong trường hợp ngân hàngqui định hạn mức cuối kỳ thì dư nợ trong kỳ có thể lớn hơn hạn mức nhưngđến cuối kỳ khách hàng phải trả nợ để giảm dư nợ xuống không được vượtquá hạn mức.
Hạn mức cho vay, thời gian duy trì hạn mức cho vay, thời hạn cho vay,lãi suất cho vay được cấp trên cơ sở phương án, kế hoạch kinh doanh, nhu cầuvay vốn của khách hàng, tỷ lệ cho vay tối đa so với giá trị tài sản đảm bảo,nguồn trả nợ, khả năng hoàn trả nợ của khách hàng vay
Trong nghiệp vụ này ngân hàng không ấn định ngày trả nợ, khi kháchhàng có thu nhập, ngân hàng sẽ thu nợ, do đó tạo tính chủ động quản lý quĩcho khách hàng
Phương thức cho vay luân chuyển
Cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay dựa trên sự luân chuyển củahàng hóa Khi mua hàng doanh nghiệp có thể thiếu vốn, do đó ngân hàng cóthể cho vay để doanh nghiệp mua hàng, sau đó tiền bán hàng là nguồn trả nợcho ngân hàng Khi vay khách hàng chỉ cần làm thủ tục 1 lần đầu và khi cónhu cầu thì gửi hóa đơn nhập hàng và số tiền cần vay đến ngân hàng Cáckhoản phải thu và cả hàng hóa trong kho trở thành vật đảm bảo cho khoảnvay
Các ngân hàng thường áp dụng phương thức này đối với doanh nghiệpthương nghiệp, hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, cóquan hệ chi trả thường xuyên với ngân hàng
Phương thức cho vay trả góp
Cho vay trả góp là hình thức tín dụng theo đó ngân hàng cho phépkhách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng, thường được áp
Trang 21dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định hoặchàng lâu bền.
Trong phương thức này số tiền gốc và lãi chi trả mỗi lần được tính toánsao cho phù hợp với khả năng chi trả của khách hàng, số tiền trả lãi được tínhtrên số dư nợ thực tế và số ngày thực tế của kỳ hạn trả nợ đó
Phương thức cho vay theo hạn mức thấu chi
Đây là phương thức mà ngân hàng cho phép người vay được chi trộitrên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trongklhoảng thời gian nhất định Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi
Số lãi phải trả dựa trên số tiền thấu chi chứ không phải hạn mức thấu chi:
Số lãi phải trả = lãi suất thấu chi* thời gian thấu chi * số tiền thấu chiHình thức thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của khách hàng không phùhợp về thời gian và qui mô Nó tao điều kiện thuân lợi cho khách hàng chủđộng và kịp thời thanh toán, đặc biệt là các doanh nghiệp giải quyết trong việcchi trả lương cho nhân viên, thanh toán các khoản phải trả, tiền mua hàng,…Tuy nhiên nó chỉ thường áp dụng cho các khách hàng có độ tin cậy cao, có kỳthu nhập ngắn
Phương thức cho vay hợp vốn
Là phương thức trong đó ngân hàng cùng với một hoặc một số tổ chứctín dụng, hoặc chi nhánh của tổ chức tín dụng khác thực hiện việc cho vaymột hoặc một phần dự án, phương án, trong đó ngân hàng có thể là tổ chứcđầu mối hoặc thành viên cho vay hợp vốn
Phương thức cho vay theo dự án đầu tư
Là hình thức tài trợ của ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thựchiện các dự án dầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Phương thứcnày thường áp dụng cho những dự án có nhu cầu vốn lớn
Các phương thức cho vay khác
Trang 22Tùy theo nhu cầu của từng khác hàng và thực tế phát sinh, ngân hàng sẽxem xét cho vay theo các phương thức khác phù hợp với đặc điểm hoạt độngtrong cúng thời kỳ và không trái với qui định của pháp luật.
1.2.4 Tín dụng ngân hàng đối với DNNVV
Như chúng ta đã tìm hiểu về nhu cầu vay vốn của các DNNVV thì thấyrằng vai trò của nguồn vốn vay từ các NHTM là vô cùng quan trọng, nhất làtrong điều kiện hội nhập hiện nay khi Việt Nam đã là thành viên chính thứccủa tổ chức thương mại thế giới Đây là nguồn vốn giúp cho các doanh nghiệp
có thể đầu tư đổi mới trang thiết bị, nâng cấp công nghệ sản xuất để mở rộngnăng lực sản xuất, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của mình
Tuy nhiên việc tiếp cận nguồn vốn ngân hàng theo thống kê điều tra
của Cục phát triển doanh nghiệp chỉ có khoảng 32,38% DNNVV có khả năng
tiếp cận được các nguồn vốn của các ngân hàng; 35,24% khó tiếp cận và32,38% không thể tiếp cận được
Những nhân tố ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận vốn ngân hàng đối với các DNNVV:
Về phía bản thân các DNNVV còn rất yếu trong khâu thiết kế và chuẩn
bị các dự án vay vốn ngân hàng; Lập luận về sự cần thiết của các dự án cũngnhư việc tính toán các chỉ tiêu tài chính thường qua loa và thiếu tính khả thi,thiếu tính thuyết phục; Thiếu tài sản thế chấp; Hệ thống sổ sách kế toán, báocáo tài chính của các DNNVV không rõ ràng, minh bạch, khiến các ngânhàng không nắm được thực trạng kinh doanh của các doanh nghiệp; Lịch sửtín dụng của các DNNVV không có hoặc không rõ ràng…
Về phía ngân hàng các chính sách tài sản thế chấp khắt khe, các thủ tụchành chính phức tạp, bản thân các ngân hàng chưa thực sự có những chínhsách ưu tiên cụ thể đối với các DNNVV hoặc nếu có thì đó mới chỉ dừng lạitrên giấy tờ, chính sách chung chung; Tâm lý các ngân hàng cũng không
Trang 23muốn cho vay những dự án nhỏ lẻ, phân tán, khó quản lý Đặc biệt là đối vớicác doanh nghiệp nhỏ mới thành lập, chưa có lịch sử tín dụng rõ ràng vớingân hàng.
Về phía Nhà nước các chính sách bảo lãnh tín dụng cho các DNNVVchưa được triển khai; quỹ bảo lãnh tín dụng cho các DNNVV tại các địaphương cũng chưa thể thành lập do có sự bất cập trong các quy định củaChính phủ, trong khi đó, hầu hết các DNNVV lại thiếu tài sản thế chấp chongân hàng khi vay vốn
1.3 Phát triển hoạt động cho vay DNNVV
1.3.1 Khái niệm cho vay, phát triển hoạt động cho vay DNNVV
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng theo đó ngân hàng giao chokhách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất địnhtheo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi
Phát triển là sự biến đổi hoặc làm cho biến đổi theo chiều hướng tăng,
từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp
Phát triển hoạt động cho vay là việc gia tăng cho vay DNNVV cả vềqui mô cơ cấu, lẫn chất lượng các khoản cho vay DNNVV
Về qui mô phát triển cho vay là sự gia tăng về số lượng khách hàng,doanh số cho vay, dư nợ của ngân hàng trong một thời gian nhất định
Phát triển cơ cấu theo hướng hợp lý hơn giữa tỷ trọng cho vay ngắnhạn, trung dài hạn, hay cho vay giữa đồng nội tệ, ngoại tệ
Phát triển chất lượng cho vay ngày càng cao thể hiện nợ quá hạn, tỷ lệ
nợ quá hạn thấp, nợ xấu chiếm tỷ trọng nhỏ, đem lại sự an toàn cho các khoảnvay
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển cho vay DNNVV
Đối với các nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam vai trò của cácDNNVV ngày càng trở nên quan trọng chính vì thế phát triển tín dụng cho
Trang 24các DNNVV sẽ đem lại lợi ích to lớn cho các ngân hàng Để đánh giá được sựphát triển của hoạt động cho vay DNNVV thì các ngân hàng thường dựa vàocác chỉ tiêu :
- Doanh số cho vay: là chỉ tiêu phản ánh lượng vốn mà ngân hàng đãgiải ngân cho khách hàng trong một khoảng thời gian thường là theo năm.Doanh số cho phán ánh qui mô tuyệt đối của hoạt động cho vay của ngânhàng Khi qui mô và tốc độ tăng của doanh số cho vay phản ánh khả năngphát triển của hoạt động cho vay của ngân hàng
- Dư nợ: là chỉ tiêu phản ánh lượng vốn mà khách hàng đang nợ ngânhàng tại một thời điểm cụ thể Tổng dư nợ cho vay của một tổ chức tín dụngđối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng.Tuy nhiên theo từng mục đích vay vốn mà ngân hàng chỉ được phát triển dư
nợ cho vay đến một giới hạn nhất định Với mục đích vay vốn để đầu tưchứng khoán thì ngân hàng chỉ được có số dư nợ cho vay không có không quá20% vốn điều lệ của ngân hàng
- Tỷ trọng dự nợ DNNVV: Chỉ tiêu này phán ánh dư nợ cho vayDNNVV chiếm bao nhiêu phần trăm so với tổng dư nợ của ngân hàng Nócho chúng ta biết được ngân hàng có chú trọng vào việc cho vay DNNVV haykhông
Tỷ trọng dư nợ cho vay = Dư nợ DNNVV/ Tổng dư nợ
Trang 25cho vay DNNVV Còn nếu ngược lại thì ngân hàng đang theo đuổi chính sáchthu hẹp qui mô cho vay DNNVV.
- Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn:
Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi
đã quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn = Số dư nợ quá hạn / tổng dư nợ
Đây là chỉ tiêu phán ánh chất lượng và mức độ rủi ro của khoản tíndụng Trong nợ qua hạn có những món không có khả năng thu hồi, nên ngânhàng bị mất vốn Để phát triển hoạt động cho vay một cách an toàn thì ngânhàng cần giảm tối đa nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn
- Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu:
Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nợ nhóm 3, 4, 5
Nợ nhóm 3 là nhóm nợ dưới tiêu chuẩn bao gồm: Các khoản nợ được
tổ chức tín dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đếnhạn (nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày và nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quáhạn dưới 90 ngày) Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng đánh giá là cókhả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi
Nhóm 4 là nhóm nợ nghi ngờ bao gồm: nợ quá hạn từ 181 ngày đến
360 ngày và nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày.Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là khả năng tổn thất cao
Nhóm 5 nhóm nợ có khả năng mất vốn bao gồm: nợ quá hạn trên 360ngày, nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trên 180 ngày và nợ khoanh chờ Chính phủ
xử lý. Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không còn khả năngthu hồi, mất vốn
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ đánh giá chất lượng tín dụng củangân hàng
Trang 26- Cơ cấu dư nợ DNNVV:
Ở mỗi ngân hàng phát triển hoạt động cho vay theo những cơ cấu khácnhau tùy theo mục tiêu, chính sách của ngân hàng vào từng thời điểm, thời kỳ
Phân theo tiền tệ thì cơ cấu dư nợ cho vay bao gồm cho vay bằng nội tệ
và cho vay bằng ngoại tệ
Phân theo kỳ hạn thì dư nợ cho vay bao gồm dư nợ cho vay ngắn hạn,
dư nợ cho vay trung và dài hạn
Phân theo chủ thể cho vay bao gồm dư cho vay DN quốc doanh, dư nợcho vay DNNQD Hầu như các DNNVV là các doangh nghiệp tư nhân, nênhướng phát triển của hoạt động là đẩy mạnh cho vay đối với các doanh nghiệpngoài quốc doanh
1.3.2 Ý nghĩa của việc phát triển hoạt động cho vay DNNVV
1.3.2.1 Đối với các DNNVV
Vốn vay ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho quá trình sản xuất kinhdoanh, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho các DNNVV
Trong cơ chế nền kinh tế đang chuyển đổi đòi hỏi các DNNVV phải
mở rộng sản xuất và thay đổi trang thiết bị, nâng cấp công nghệ mới cạnhtranh được với các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp nước ngoài Vớiqui mô nguồn vốn và khả năng huy động vốn của mình thì các DNNVVkhông đủ khả năng về vốn để mở rộng sản xuất Với việc phát triển hoạt độngcho vay của các NHTM sẽ mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp tiếp cận
dễ dàng hơn với nguồn vốn vay, nâng cao qui mô vốn của mình để phục vụvào những nhu cầu trong điều kiện sản xuất mới, từ đó nâng cao được năngsuất lao động, và năng lực cạnh tranh của mình
Hình thành cơ cấu tối ưu cho các doanh nghiệp
Ngoài vốn chủ sở hữu thì các doanh nghiệp có thể sử dụng vốn từ cácnguồn khác như: vốn vay từ ngân hàng, vốn từ tín dụng hàng hóa, phát hành
Trang 27trái phiếu Trong khi đó việc huy động vốn từ thị trường tài chính đối vớicác DNNVV là khó khăn, cộng với việc huy động từ các tổ chức tài chính phingân hàng có chi phí rất cao.Nguồn vốn vay là nguồn vốn thích hợp cho cácdoanh nghiệp, bởi vì nó tốn ít chi phí hơn so với việc sử dụng vốn tự có,không ảnh hưởng đến quyền sở hữu của doanh nghiệp, ngoài ra nó còn đượchưởng khoản tiết kiệm từ thuế Chính vì thể phát triển nguồn vốn vay sẽ thiếtlập cho các DNNVV một cơ cấu vốn tối ưu, tối đa hóa được giá trị tài sản củachủ sở hữu.
Nâng cao khả năng cạnh tranh, mở rộng các quan hệ kinh doanh chocác DNNVV
Có thể nói trong điều kiện kinh tế thị trường phát triển như hiện nay thìkhả năng cạnh tranh sẽ quyết định sự sống còn của các DNNVV Để có thểnâng cao khả năng cạnh tranh thì các doanh nghiệp phải có ưu thế về sảnphẩm, có thị trường, khả năng đáp ứng những thay đổi của nhu cầu thị trường,các dịch vụ,… để làm điều đó thì phải có vốn Mặt khác các sản phẩm dịch vụcủa các NHTM không chỉ dừng lại ở nguồn vốn mà họ còn cung cấp cho cácdoanh nghiệp các dịch vụ như tư vấn , cung cấp thông tin về thị trường, kháchhàng, tìm đối tác trong và ngoài nước Đặc biệt hiện nay các DNNVV thựchiện các hoạt động xuất khẩu ngày càng tốt lên, tuy nhiên khi ra thị trường thếgiới họ vẫn còn nhiều khó khăn vì khả năng tài chính còn bé, thiếu nguồnngoại tệ, hay uy tín chưa cao Quan hệ tín dụng với ngân hàng sẽ thúc đẩynhanh hơn quá trình xuất khẩu cho các DNNVV
Nâng cao trình độ tay nghề của người lao động
Khi có nguồn vốn các doanh nghiệp có điều kiện tập trung vào đào tạotay nghề cho người lao động, đáp ứng được những thay đổi trong qui trình sảnxuất hiện đại, từ đó nâng cao được năng lực sản xuất, hạ giá thành sản phẩm
Trang 28Qua đây ta có thể thấy việc phát triển hoạt động cho vay của cácNHTM đã góp phấn rất quan trọng trong quá trình tồn tại và phát triển của cácDNNVV Nó giúp cho các doanh nghiệp có thể doanh nghiệp có thể khắcphục các hạn chế còn tồn tại của mình trong điều kiện hiện nay như: khả năngtài chính; cơ sở, trang thiết bị, công nghệ lạc hậu; khả năng nắm bắt thông tinyếu kém; trình độ tay nghề người lao động…
1.3.2.2 Đối với các NHTM
Hoạt động cho vay là hoạt động sử dụng vốn chủ yếu của các NHTM.
Phát triển cho vay DNNVV giúp các ngân hàng tăng doanh thu vàlợi nhuận từ lãi cho vay và phí phục vụ
Khi ngân hàng phát triển hoạt động cho vay thì có nghĩa là qui mô về
dư nợ, doanh số cho vay, số lượng khách hàng tăng lên từ đó có thể gia tănglợi nhuận từ lãi cho vay và phí phục vụ Bên cạnh đó khi quan hệ tín dụng vớikhách hàng doanh nghiệp thì ngân hàng thường cung cấp thêm các dịch vụnhư thanh toán, tư vấn,…từ đó có thêm nguồn thu từ những dịch vụ này
Nâng cao uy tín , hình ảnh của ngân hàng
Việc phát triển cho vay không những về số lượng mà còn cả về chấtlượng Do đó đòi hỏi ngân hàng phải có những sự phát triẻn toàn diện dịch vụcủa mình để có thể “hiểu lòng khách đến, vừa lòng khách đi” Điều đó sẽ làmnâng cao hình ảnh của khách hàng không chỉ trong khối DNNVV mà nó sẽgóp phần thúc đẩy phát triển hoạt động tín dụng ở các khối khách hàng khácnhư doanh nghiệp lớn, khối các nhân
Giúp các ngân hàng giảm thiểu rủi ro tín dụng
Hoạt động cho vay của ngân hàng không những phải có lợi nhuận màcòn đảm bảo an toàn Khi phát triển hoạt động cho vay của DNNVV các ngânhàng còn phải nâng cao chất lượng của các khoản nợ như giảm thiểu tỷ lệ nợquá hạn, tỷ lệ nợ xấu, vì thế sẽ sàng lọc được những khoản tín dụng tốt, đảm
Trang 29bảo an toàn, hạn chế khả năng mất vốn cho ngân hàng Bên cạnh đó khi mởrộng về qui mô, mà đặc điểm của các DNNVV thì nhu cầu vốn không qualớn, quay vòng nhanh, chính vì thế có thể phân tán được rủi ro.
1.3.2.3 Đối với nền kinh tế
Giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động
Chúng ta đã thấy được vai trò quan trọng của DNNVV trong nền kinh
tế Khi doanh nghiệp giải quyết được khó khăn về vốn thì sẽ phát triển rộnglớn cả về qui mô lẫn chất lượng Từ đó trở thành một khu vực thu hút mộtlượng lao động giải quyết nạn thất nghiệp cho nền kinh tế, đặc biệt đối vớinền kinh tế Việt Nam Với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì đấtcanh tác nông nghiệp giảm sút, số nông dân nhàn rỗi không ngừng tăng lên,
và các DNNVV là những doanh nghiệp có qui mô nhỏ, sản xuất giản đơn,không yêu cầu tay nghề quá phức tạp sẽ là nơi thu hút số lao động dư thừanày Mặt khác khi đã được đầu tư, năng lực sản xuất tăng, đời sống của ngườilao động cũng được quan tâm hơn, từ đó cải thiện mức sống của người dân
Thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế
Vốn vay của các ngân hàng giúp cho các DNNVV phát triển từ đó thúcđẩy nền kinh tế phát triển, giúp cân bằng giữa các vùng kinh tế, giải quyếtcông ăn việc làm cho người dân, nâng cao mức sống,…Bên cạnh đó nó cònthúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu, quan hệ thương mại quốc tế, đẩy nhanhquá trình hội nhập với kinh tế thế giới
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển hoạt động cho vay DNNVV tại các NHTM
1.3.3.1Các nhân tố thuộc về NHTM
Qui mô nguồn vốn của ngân hàng
Vốn tự có cung cấp năng lực tài chính cho quá trình tăng trưởng, mởrộng quy mô, phạm vi hoạt động cũng như cho sự phát triển của các sản phẩm
Trang 30dịch vụ mới của NHTM Vốn tự có được hình thành từ nguồn: Vốn điều lệ(Vốn tự có cấp 1 và vốn tự có cấp 2) – Các quỹ dự trữ bổ sung các tài sản nợkhác như lợi nhuận chưa chia, giá trị tăng thêm do đánh giá lại tài sản, tráiphiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi… Vốn tự có có chức năng bảo vệ NHTM,giúp NHTM chống lại rủi ro phá sản, bù đắp những thua lỗ về tài chính vànghiệp vụ; Bảo vệ người gửi tiền khi gặp rủi ro trong hoạt động kinh doanh:Nâng cao uy tín của NHTM với khách hàng, các nhà đầu tư Có thể khẳngđịnh: Vốn là yếu tố quan trọng đối với NHTM, nói nên sức mạnh và khả năngcạnh tranh của NHTM trên thị trường trong nước Đồng thời, vốn tự có đócũng là cơ sở để NHTM mở rộng hoạt động tới các thị trường tài chính khuvực và quốc tế Bên cạnh đó vốn tự có còn là tấm lá chắn an toàn cho cácNHTM, hạn chế rủi ro, giảm thiểu tổn thất khi không thu hồi được khoản chovay.
Vì vậy để phát triển hoạt động cho vay thì các NHTM phải có mộtnguồn vốn tự có đủ mạnh để mở rộng các dịch vụ của mình, gia tăng doanh sốcho vay Theo qui định của Ngân hàng Nhà nước thì các NHTM chỉ đượcphép cho vay với dư nợ không quá 15% so với vốn tự có của mình, với khoảncho vay vì mục đích kinh doanh chứng khoán thì không được quá 20%
Chính sách tín dụng
Tùy từng mục tiêu, chiến lược phát triển của ngân hang mà mỗi ngânhàng có những chính sách tín dụng riêng của mình Chính sách tín dụng lànhững qui định của ngân hàng về: qui mô, kì hạn, đảm bảo, phạm vi, cáckhoản tín dụng có vấn đề và các nội dung khác
Chính sách tín dụng phản ánh cương lĩnh tài trợ của một ngân hàng, trởthành hướng dẫn chung cho cán bộ tín dụng và nhân viên ngân hàng, tăngcường chuyên môn hóa trong phân tích tín dụng, tạo sự thống nhất chungtrong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời
Trang 31Một chính sách tín dụng phải phù hợp với mục tiêu hoạt động của ngânhàng mình mà còn phải phù hợp với định hướng phát triển của Chính phủ vàđiều kiện kinh tế sẽ giúp cho ngân hàng thuận lợi trong việc phát triển hoạtđộng cho vay của mình trong đó có cho vay DNNVV.
Qui trình tín dụng
Qui trình tín dụng là các bước mà một cán bộ tín dụng phải thực hiệnkhi ngân hàng tài trợ cho ngân hàng bao gồm: tiếp xúc khách hàng, phân tích,cho vay và thu nợ
Một ngân hàng có qui trình tín dụng đơn giản, nhanh gọn, ít khâu sẽkhông không làm mất thời gian và công sức của khách hàng Điều này sẽ gâyđược sự thiện cảm đối với khách hàng Bởi vì đặc thù của các sản phẩm củangân hàng khá giống nhau bây giờ yếu tố cạnh tranh của ngân hàng chính làchất lượng của việc dịch vụ, sự phục vụ khách hàng Nên khi khách hàngđược phục vụ cảm thấy thoải mái họ sẽ quay lại, hay quảng cáo dùm cho ngânhàng, một con đường nhanh nhất tiết kiệm nhất đển ngân hàng tiếp cận vớicác khách hàng mới
Một mặt qui trình tín dụng được thống nhất, thực hiện nghiêm túc tạochất lượng cho khoản vay, giúp cho các cán bộ nhanh chóng tìm ra đượcnguyên nhân của những sai sót là bắt nguồn từ khâu nào, tiết kiệm thời gian,tiết kiệm chi phí
Khả năng tiếp cận thông tin, yếu tố trang thiết bị công nghệ
Đồi với một ngân hàng thì thông tin chính là yếu tố quyết định sự sốngcòn của mình Đó là các thông tin về: khách hàng, môi trường kinh doanh, cácđối thủ cạnh tranh, tình hình kinh tế xã hội, các chính sách của Chính phủ,luật pháp, …Với các thông tin về khách hàng thì hoạt động tín dụng mới cóthể hình thành, đó là yếu tố đầu vào của qui trình tín dụng, từ đó mới đảm bảođược an toàn, hạn chế rủi ro khi ngân hàng quyết định tài trợ Từ những thông
Trang 32tin đó ngân hàng mới có được hướng phát triển cho các hoạt động của mìnhphù hợp với năng lực tài chính của ngân hàng đồng thời phù hợp với nhu cầucủa xã hội.
Trang thiết bị công nghệ
Trang thiết bị và công nghệ hiện đại cho phép các ngân hàng nâng caonăng lực cạnh tranh và phát triển bên vững trong điều kiện hội nhập Trangthiết bị, công nghệ hiện đại sẽ giúp cho các giao dịch được diễn ra chính xác,nhanh chóng, thuận lợi hơn; tiền đề ngân hàng phát triển đa dạng các loạihình sản phẩm; nâng cao chất lượng các dịch vụ từ đó có thể thu hút nhiềukhách hàng; tiết kiệm các khâu trung gian, chi phí quản lý
Trình độ, phẩm chất của đội ngũ cán bộ
Cán bộ, nhân viên chính là bộ mặt của ngân hàng Khi khách hàng đếnngân hàng thì họ thường trực quan ban đầu nhận xét về ngân hàng qua sựphục vụ, xử lý tình huống của nhân viên Khi nhân viên phẩm chất đạo đứctốt, giao tiếp nhẹ nhàng tôn trọng khách sẽ vừa lòng khách hàng nâng caohình ảnh của ngân hàng, thu hút được nhiều khách Khi cán bộ có trình độ cao
sẽ có nhiều sáng kiến kinh doanh, năng lực phân tích tốt giúp cho quá trìnhcho vay bớt rủi ro Phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của cán bộ công nhân viêncũng rất quan trọng Nó ảnh hưởng rất lớn đến uy tín của ngân hàng Mà vớicác ngân hàng hầu như kinh doanh đều phải dựa trên chữ tín
Trang 33với mỗi ngân hàng khi quyết định cho vay nó luôn đòi doanh nghiệp phải tìnhhình tài chính tốt như: có một hệ số tự tài trợ giới hạn tối thiểu, sản xuất kinhdoanh có hiệu quả, …Vì vậy việc phát triển hoạt động cho vay của ngân hàngcũng phải phụ thuộc vào tình hình tài chính của doanh nghiệp để đảm bảomục tiêu sinh lời và đảm bảo an toàn cho ngân hàng.
Khả năng lập phương án đầu tư
Hiện nay các DNNVV của ta rất kém trong việc lập các dự án, phương
án kinh doanh trình lên ngân hàng để vay vốn Đó là do trình độ của cán bộ,các báo cáo tài chính chưa minh bạch, vẫn tồn tại hai loại báo cáo tài chính,một gửi cho ngân hàng, một cho cơ quan thuế, vì vậy gây khó khăn cho ngânhàng trong quá trình thẩm định
Tình hình sử dụng vốn vay của doanh nghiệp
Sau khi cho vay, các ngân hàng thường xuyên phải kiểm soát quá trình
sử dụng vốn vay của doanh nghiệp Nếu khách hàng sử dụng vốn vay đúngmục đích, có hiệu quả thì ngân hàng sẽ tiếp tục cho vay và có thể duy trì quan
hệ lâu dài Còn nếu sử dụng sai mục đích thì ngân hàng có thể ngừng ngaygiải ngân khoản cho vay Còn nếu doanh nghiệp sử dụng vốn không có hiệuquả thì sẽ đem lại rủi ro mất vốn cho ngân hàng
1.3.3.3 Các nhân tố khác
Chính sách của Nhà nước
Tùy theo từng mục tiêu và điều kiện kinh tế của từng thời kỳ, Nhà nướcđều có những chính sách tài chính tiền tệ thích hợp Và khả năng phát triểnhoạt động cho vay của các ngân hàng chịu ảnh hưởng trực tiếp cũng như giántiếp từ các công cụ tiền tệ của Nhà nước như: dự trữ bắt buộc, thị trường mở,lãi suất tái chiết khấu Ví dụ khi Ngân hàng Nhà nước tăng tỷ lệ dự trữ bắtbuộc sẽ hạn chế khả năng cho vay của các ngân hàng và ngược lại Các chính
Trang 34sách của Chính phủ sẽ hạn chế nhưng cũng có thể tạo điều kiện cho các ngânhàng khả năng phát triển hoạt động cho vay
Tình hình kinh tế xã hội
Tình hình kinh tế xã hội của đất nước ảnh hưởng trực tiếp đến hoạtđộng của các doanh nghiệp và các ngân hàng Trong một môi trường kinh tế
xã hội phát triển thì nhu cầu đầu tư cũng như hiệu quả đầu tư được tăng lên,
vì vậy khả năng mở rộng cho vay của các ngân hàng cũng tăng lên cả về qui
mô lẫn chất lượng (ít rủi ro hơn, khả năng thu hồi vốn cao)
Hệ thống pháp luật và các văn bản liên quan
Hiện nay ra đời của nhiều bộ luật như luật doanh nghiệp, luật công ty,luật thương mại, luật các tổ chức tín dụng, luật Ngân hàng nhà nước, các vănbản dưới luật (quyết định, thông tư, ) đã tạo được hành lang pháp lý tươngđối an toàn thúc đẩy sự phát triển cho các doanh nghiệp và ngân hàng Một hệthống pháp luật đầy đủ, thống nhất, ổn định sẽ là tạo được môi trường kinhdoanh cạnh tranh lành mạnh, giúp cho các doanh nghiệp dễ dàng hơn trongviệc nâng cao hiệu quả hoạt động Tuy nhiên hệ thống luật pháp của ta vẫnđang trong quá trình hoàn thiện, các văn bản thường xuyên bị sửa đổi, có khicòn chồng chéo nhau gây khó khăn cho các doanh nghiệp, cũng như ngânhàng trong quá trình áp dụng vào qui trình sản xuất kinh doanh và cho vay
Trang 35CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CHO VAY DNNVV TẠI CHI
Sau 20 năm hình thành, hoạt động và phát triển NHCT Hoàn Kiếm từ
mộ quỹ tiết kiệm đã trở thành chi nhánh cấp 1 của NHCT Việt Nam Đến naychi nhánh NHCT Hoàn Kiếm đã là một trong 7 chi nhánh được xếp hạng 1trong hệ thống Ngân hàng Công Thương Việt Nam chi nhánh vẫn hoạt độngbám sát sự chỉ đạo của ngân hàng cấp trên, tranh thủ sự giúp đỡ, chỉ đạo củađịa phương, năng động, sáng tạo chủ động, nỗ lực phấn đấu và đã đạt đượcnhững kết quả đang ghi nhận
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của chi nhánh NHCT Hoàn Kiếm
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của chi nhánh
Trang 36Ban giám đốc Giám đốc Phó giám đốc
Các khối nghiệp vụ
Phòng QL rủi ro
P QL nợ có vấn đề
Khối kinh doanh
Phòng kế toán
Phòng tiền
tệ kho quỹ
Khối kinh doanh
Khối tác nghiệp
Phòng TT XNK
Phòng tổng hợp Khối hỗ trợ
Phòng tổ chức HC
Phòng thông tin ĐT
Phòng GD Đồng Xuân
Phòng GD
Hồ Gươm
Trang 37Theo quyết định số 1294/CT HK –QĐ của giám đốc NHCT Hoàn Kiếm hiệnay chi nhánh NHCT Hoàn Kiếm có các phòng ban như sau:
- Phòng thanh toán quốc tế
- Phòng tiền tệ kho quĩ
2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh NHCT Hoàn Kiếm trong những năm gần đây
Trong những năm vừa qua, dù môi trườn kinh doanh đầy thách thứcnhưng NHCT Hoàn Kiếm vẫn có những bước phát triển đáng ghi nhận, là mộttrong những ngân hàng hoạt động có hiệu quả nhất trong hệ thống NHCT Việt Nam
2.1.3.1 Hoạt động huy động vốn
Trang 38
Bảng 1: Cơ cấu nguồn vốn huy động Đơn vị: triệu đồng
Tổng nguồn vốn tính đến 31/12/2007 là 5.143 tỷ đồng giảm 1230 tỷđồng( 19%), trong đó nguồn hy động tại chỗ là 3.363 tỷ đồng, nguồn vayBHXH 1.880 tỷ đồng Trong năm có sự chuyển dịch nhẹ: Nguồn huy động từdoanh nghiệp giảm từ 84% xuống 81%; tiền gửi dân cư tăng từ 16% lên 19%
Trong năm nguồn vốn giảm là do nguồn huy động kỳ phiếu chủ yếucủa các tổ chức đến hạn phải thanh toán, trong khi đó NHCT Việt Nam không
có chủ trương huy động tiếp Tuy nhiên nguồn huy động tiền gửi doanhnghiệp, tiền gửi không kỳ hạn vẫn luôn chiếm tỷ trọng cao nó tạo thế chủđộng cho hoạt động kinh doanh của chi nhánh, đồng thời góp phần điều hòanguồn vốn chung của hệ thống NHCT Việt Nam và kết quả này thực sự làmột cố gắng lớn của chi nhánh NHCT Hoàn Kiếm trước sự phát triển mạnh
mẽ của thi trường chứng khoán với sự mở rộng không ngừng của hệ thốngNHTM hiện nay
Nguyên nhân của những kết quả đạt được của hoạt động huy động vốntrong năm 2007 là việc áp dụng các giải pháp một cách quán triệt và triển khaiđồng bộ tới các phòng ban ngay từ đầu năm Đó là những giải pháp chăm sóckhách hàng truyền thống, chủ động tìm kiếm khách hàng mới, tiếp thị và có
Trang 39những đề án hấp dẫn như: chương trình tặng quà cho khách hàng, thực hiện
mô hình giao dịch một cửa, khách hàng gửi tiền một nơi, rút tiền nhiều nơitrong phạm vi các điểm giao dịch, quĩ tiết kiệm của chi nhánh…; Bên cạnh đó
là việc phát triển mạng lưới cũng như đa dạng hóa các sản phẩm tại các điểmgiao dịch, quĩ tiết kiệm ; đặc biệt trong năm qua chi nhánh đã thành lập mới 1phòng giao dịch, nâng cấp 3 quĩ tiết kiệm thành điểm giao dịch, không ngừngnâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật tại các quĩ tiết kiệm, điểm giao dịch khác
2.1.3.2 Hoạt động tín dụng
Bảng 2: Hoạt động tín dụng qua các năm Đơn vị: triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Dư nợ cho vay 1.100.000 1.070.000 1.100.000
Cho vay ngoại tệ 210.000 291.000 223.000
Qua bảng số liệu trên cho ta thấy được tình hình hoạt động cho vay củaNHCT Hoàn Kiếm:
Dư nợ cho vay tính đến 31/12/2006 là 1.070 tỷ đồng tăng không đáng
kể so với cuối năm 2005 trong đó dư nợ ngắn hạn là 220 tỷ đồng tăng 10%,
dư nợ trung dài hạn là 850 tỷ đồng , giảm 5% so với đầu năm
Dư nợ cho vay tính đến ngày 31/12/2007 là 1.100 tỷ đồng, tăng so vớicuối năm 2006, trong đó dư nợ ngắn hạn là 410 tỷ đồng, tỷ trọng tăng từ 21%lên 37%,; dư nợ cho vay trung và dài hạn là 690 tỷ đồng, tương ứng tỷ trọnggiảm từ 79% xuống 63%; cho vay DNNN giảm từ 84% xuống 71%; cho vaykhông có tài sản đảm bảo chiếm 77%
Trang 40Về cơ cấu dư nợ theo thời gian: trong năm qua đã có sự thay đổi rõ khi
tỷ trọng dư nợ ngắn hạn tăng từ 21% lên 37% tương ứng là sự giảm xuốngcủa tỷ trọng cho vay trung và dài hạn; bên cạnh đó cơ cấu khách hàng cũng có
sự thay đổi, hướng tới nhiều hơn DNNVV, số lượng khách hàng doanhnghiệp ngoài quôc doanh đang ngày chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng dư nợ.Điều này thể hiện định hướng chiến lược của chi nhánh đã chủ động tiếp cậnkhách hàng mới, đa dạng hóa đội ngũ khách hàng, làm tiền đề phát triển sảnphẩm dịch vụ, gắn kết sản phẩm tín dụng với những sản phẩm dịch vụ ngânhàng phục khách hàng trọn gói
Về xử lý và thu hồi nợ đọng: tuy trong năm vừa qua chi nhánh chưahoàn thành được chỉ tiêu NHCT Việt Nam giao nhưng bằng những biện pháptích cực, quyết liệt chi nhánh đã thu được 356 triệu đồng nợ đã được xử lý rủiro
2.1.3.3 Các hoạt động và dịch vụ khác
Trong năm vừa qua chi nhánh đã mở rộng mạng lưới hoạt động, triểnkhai đồng bộ các dịch vụ ngân hàng đa dạng như: dịch vụ thẻ, chuyển tiền,kiều hối, thu đổi ngoại tệ, thanh toán thẻ, séc du lịch… tại các quỹ tiết kiệm,các điểm giao dịch, từ đó có thể cung cấp chuỗi sản phẩm mang tính khép kín,hàm chứa nhiều giá trị tăng đảm bảo tối đa hóa lợi ích của khách hàng, cũngnhư của ngân hàng Nhìn chung hoạt động dịch vụ của chi nhánh NHCTHoàn Kiếm trong những năm vừa qua luôn chú trọng mở rộng và nâng caocác hoạt động dịch vụ nhờ vậy thu nhập từ dịch vụ ngày càng tăng Năm 2005đạt 3.000 triệu đồng, năm 2006 đạt 3.043 triệu đồng, và năm 2007 đã cónhững chuyển biến tương đối toàn diện, vững chắc, thu dịch vụ phí đạt được3.363 triệu đồng tăng 11% so với năm trước
Bảng 3: Kết quả các hoạt động dịch qua các năm