Theo pháp lênh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính ngày24/05/1990 điều 1, khoản 1 của Việt Nam:” Ngân hàng thương mại là tổchức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu v
Trang 1tổ chức, cá nhân,mọi thành phần kinh tế ( vốn tạm thời nhàn rỗi được giảiphóng từ quá trình sản suất, từ nguồn tiết kiệm cảu dân cư…), thong quanghiệp vụ tín dụng, ngân hàng thương mại đã cung cấp vốn cho nền kinh tế,đáp ứng đầy đủ kịp thời cho qua trình sản xuất Chính nhờ hoạt động của hệthồng ngân hàng thương mại, đặc biệt là hoạt động tín dụng, các doanh nghiệp
có điều kện cải thiện hoạt động kinh doanh của mình, góp phần nâng cao hiệuquả của cả nề kinh tế Vì vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng chủ thểchínhđáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh chính là ngânhàng
Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường, hoạt động của NHTM nếu
có hiệu quả sẽ thực sự trở thành công cụ hữu hiệu để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế Thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giwuax các NHTM trong hệ thong, các NHTM đã góp phần mở rộng hay thu hẹp lượng tiển tronglưu thông Hơn nữa, bằng việc cấp các khoản tín dụng cho nền kinh tế,
NHTM thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp, phân chia vốn cảu thị trường, điều khiển chúng một cách có hiệu quả, thực thi vai trò điều tiết vĩ môđúng theo phương châm “ Nhà nước điều tiết ngân hàng, ngân hàng dẫn dắt thị trường
Trang 2Với tầm quan trọng như vậy của ngân hàng đối với sự phát triển của nền kinh tế cũng như với sự ổn định về mặt xã hội thì việc nghiên cứu về các hoạt động ngân hàng là vô cùng quan trọng và cấp thiết Nhất là với đội ngũ cử nhân ngành ngân hàng thì việc năm bắt rõ được hoạt động thực tiễn của các ngân hàng cũng như nhận thức vè phương hướng phát triển của các ngân hàng
là rất quan trọng
Sau một thời gian thực tập tại phòng Tư vấn và Quản lý tài sản cá nhân –
ngân hàng TMCP Tiên Phong em đã chọn viết đề tài: “ Một số giải pháp nhằm mở rộng quy mô hoạt động của phòng Tư vấn và Quản lý tài sản cá nhân – ngân hàng TMCP Tiên Phong” Với mong muốn tìm hiểu kĩ hơn về
hoạt động ngân hàng nói chung và về cách thức hoạt động của phòng chăm sóc khách hàng VIP nói riêng
Do thời gian nghiên cứu và tìm hiểu thực tế còn hạn chế nên trong bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót rất mong được sự góp ý của các thầy cô cùng bạn bè
Em xin trân thành cám ơn các anh chị trong Phòng Tư vấn và Quản lý tài sản cá nhân cũng như các anh chị trong ngân hàng TMCP Tiên Phong đã tạo điều kiện giúp em hiểu thêm về thực tế và có thế hoàn thành chuyên đề này Đồng thời cũng xin trân thành cám ơn các thầy cô giáo trường Học Viện Ngân Hàng đã tân tình giúp đỡ em trong thời gian qua
Trang 3Phần 1: Ngân hàng cà các hoạt động cơ bản
của ngân hàng
1 Khái quát về ngân hàng và hoạt động ngân hàng
1.1 Khái niệm và vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế.
Lịch sử hình thanh và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử phát triểncủa nền sản xuất hàng hóa Trả qua hàng trăm năm, đến nay hoạt động củacác ngân hàng thương mại đã trở thành một yếu tố không thế thiếu gắn liềnvới nền kinh tế của mọi quốc gia trên thế giới
Ngân hàng là một sản phẩm độc đáo của nền sản xuất hàng hóa, một động lựcquan trọng cho sự phát triển của nền sản xuất xã hội Với vai trò đó, mỗinước đề xây dựng những khung pháp lý quy định, giưới hạn hoạt động củangân hàng cho riêng mình Mỗi nước khác nhau sẽ có một khái niệmvà môhình tổ chức ngân hàng khác nhau Thông thường, người ta phải dựa vào tínhchất, mục đích và đối tượng hoạt động của nó trên thị trường tài chính
Trong điều 1 Luật ngân hàng của Pháp ( ngày 13/06/1941 ) có ghi: “Ngânhàng là những xí nghiệp hay cơ sở mà ngề nghiệp thường xuyên là nhận tiềnbạc của công chúng dưới hình thức ký thác hay dưới hình thức khác và sửdụng tài nguyên đó cho chính họ, trong các nghiệp vụ chiết khấu và làmphương tiện thanh toán”
Theo pháp lênh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính ngày24/05/1990 ( điều 1, khoản 1) của Việt Nam:” Ngân hàng thương mại là tổchức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiềngửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó cho vay,thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”
Trang 4NHTM ra đời do yêu cầu của sự phát triển của nền kinh tế: cơ sở nền sảnxuất và lưu thong hàng hóa, và nền kinh tế ngày càng phát triển càng cần đếnhoạt động của NHTM Thông qua việc thực hiện các chức năng, vai trò củamình nhất là chức năng trung gian tín dụng, NHTM đã trở thành một bộ phậnthúc đẩy nền kinh tế phát triển Sự đóng góp này thể hiện như sau:
Ngân hàng là nơi cung cấp vồn cho nề kinh tế.
Với hoạt động đứng ra huy động các nguồn vốn tạm thời nhà rỗi ở mọi tổchức, cá nhân,mọi thành phần kinh tế ( vốn tạm thời nhàn rỗi được giải phóng
từ quá trình sản suất, từ nguồn tiết kiệm của dân cư…), thong qua nghiệp vụtín dụng, ngân hàng thương mại đã cung cấp vốn cho nền kinh tế, đáp ứng đầy
đủ kịp thời cho qua trình sản xuất Chính nhờ hoạt động của hệ thồng ngânhàng thương mại, đặc biệt là hoạt động tín dụng, các doanh nghiệp có điềukện cải thiện hoạt động kinh doanh của mình, góp phần nâng cao hiệu quả của
cả nề kinh tế Vì vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng chủ thể chính đáp ứngnhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh chính là ngân hàng
Ngân hàng thương mại là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường, hoạt động của NHTM nếu cóhiệu quả sẽ thực sự trở thành công cụ hữu hiệu để nhà nước điều tiết vĩ mônền kinh tế Thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giwuax các NHTMtrong hệ thong, các NHTM đã góp phần mở rộng hay thu hẹp lượng tiển tronglưu thong Hơn nữa, bằng việc cấp các khoản tín dụng cho nền kinh tế,NHTM thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp, phân chia vốn của thịtrường, điều khiển chúng một cách có hiệu quả, thực thi vai trò điều tiết vĩ môđúng theo phương châm “ Nhà nước điều tiết ngân hàng, ngân hàng dẫn dắtthị trường”
Trang 51.2 Các hoạt động cơ bản của ngân hàng.
Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa, cung cấp vốn nềnkinh tế Với sự phát triển kinh tế và công nghệ hiện nay, hoạt động ngân hàng
đã có những bước tiến rất nhanh, đa dạng và phong phú hơn song ngân hàngvẫn duy trì các nghiệp vụ cơ bản sau:
Nghiệp vụ huy động vốn:
Dây là nghiệp vụ cơ bản quan trọng nhất, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt độngcủa ngân hàng Vốn được huy động dưới hình thức tiến gửi, đi vay, phát hànhgiấy tờ có giá Mặt khác trên cơ sở nguôn vốn huy động được, ngân hàng tiếnhành cho vay phục vụ như cầu phát triển sản xuất, cho các mục tiêu phát triểnkinh tế của địa phương và cả nước Nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàngngày càng mở rộng, tạo uy tín của ngân hàng ngày càng cao, các ngân hàngchủ động trong hoạt động kinh doanh, mở rộng quan hệ tín dụng với cácthành phần kinh tế và các tổ chức dân cư, mang lại lợi nhuận cho ngân hàng
Do đó các ngân hàng thương mại phải căn cứ vào chiến lược, mục tiêu pháttriển kinh tế của đất nước, của địa phương Từ đó đưa ra các loại hình huyđộng vốn cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Nghiệp vụ sử dụng vốn:
Đây là nghiệp vụ trực tiếp mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, nghiệp vụ sửdụng vốn của ngân hàng có hiệu quả sẽ nâng cao uy tín của ngân hàng, quyếtđịnh năng lực cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường Do vậy ngân hàng
Trang 6cần phải nghiên cứu và đưa ra chiến lược sử dụng vốn của mình sao cho hợp
lí nhất
Một là, ngân hàng tiến hành cho vay
Cho vay là hoạt động quan trọng nhất của các NHTM Theo thong kê, nhìnchung thì có khoảng 60-75% thu nhập của ngân hàng tùy thuộc chủ yếu vàoviệc thực hiện kế hoạch tín dụng và thành công của tín dụng xuất phát từchính sách cho vay của ngân hàng Các loại cho vay có thể phân loại bằngnhiều cách, bao gồm: mục đích, hình thức bảo đảm, kỳ hạn, nguôn gốc vàphương pháp hoàn trả…
Hai là, tiến hành đầu tư
Đi đôi với sự phát triển của xã hội là sự cuất hiện của hàng loạt những nhucầu khác nhau Với tư cách là một chủ thể hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ,đòi hỏi ngân hàng phải luôn nắm bắt được thong tin, đa dạng các nghiệp vụ đểcung cấp đầy đủ kịp thời nguồn vốn cho nền kinh tế Ngoài hình thức phổbiến là cho vay ngân hàng còn sử dụng vốn để đầu tư Có hai hình thức chủyếu mà ngân hàng thương mại có thể tiến hành là:
- Đầu tư vào mua bán kinh doanh các chứng khoán hoặc đầu tư góp vốn vàocác doanh nghiệp các công ty khác
- Đầu tư vào trang thiết bị TSCĐ phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngânhàng
Ba là nghiệp vụ ngân quỹ
Trang 7Lợi nhuận luôn là mục tiêu cuối cùng mà chỉ thể khi tham gia tiến hành sảnxuất kinh doanh Tuy nhiên, đằng sau mục tiêu quan trọng đó là hàng loạt cácnhân tố cần quan tâm Một trong những nhân tố đó là tính an toàn Nghề ngânhàng là một nghề kinh doanh đầy mạo hiểm, trong hoạt động của mình, ngânhàng không thể bỏ qua sự “an toàn” Vì vậy , ngoài việc cho vay và đầu tư đểthu lợi nhuận, ngân hàng còn phải sử dịg một phần nguồn vốn huy động được
để bảo đảm an toàn về khả năng thanh toán và thực hiện các quy định về dựtrữ bắt buộc do Trung ương đề ra
ủy thác cấp phát, ủy thác giải ngân và thu hộ…
Như vậy các nghiệp vụ trên nếu thực hiện tốt sẽ đảm bảo cho ngân hàng tồntại và phát triển vững mạnh trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắtnhư hiện nay Vì các nghiệp vụ trên có mối liên hệ chặt chẽ thường xuyên tácđộng qua lại với nhau Nguồn vốn huy động ảnh hưởng tới quyết định sửdụng vốn, ngược lại nhu cầu sử dụng vốn ảnh hưởng tới quy mô, cơ cấu củanguồn vốn huy động Các nghiệp vụ trung gian tạo thêm thu nhập cho ngân
Trang 8hàng nhưng mục đích chính là thu hút khách hàng, qua đó tạo điều kiện choviệc huy động và sử dụng vốn có hiệu quả.
2 Hai nghiệp vụ chính của ngân hàng
2.1 Nguồn vốn huy động
Nguồn tiền gửi:
Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhát của ngân hàngthương mại Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là mởcác tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách
đó ngân hàng huy động tiền của các doanh nghiệp, các tổ chức của dân cư Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiềncủa ngân hàng Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để cónguồn tiền có chất lượng ngày càng cao, các ngân hàng đã đưa ra và thực hiệnnhiều hình thức huy động khác nhau
phân lợi thoeo thời hạn:
- Tiền gửi ko kỳ hạn
Đây là khoản tiền đúng như tên gọi của nó là thời gian gửi tiền ko xác định,khách hàng (cá nhân, tổ chức có quyền rút tiền ra bất cứ lúc nào Mục đíchcủa khách hàng đối với loại tiền này là hưởng những tiện ích trong thanh toánkhi có nhu cầu chi trả trong hoạt động sản xuất kinh doanh tiêu dung Vì vậyđây là bộ phận tiền chỉ nhàn rồi tạm thời chứ không phải là khoản để dành
- Tiền gửi có kỳ hạn:
Ngược với khoản tiền gửi không kỳ hạn, đây là khoản tiền gửi với thời gianxác định Nguyên tắc tiến hành khoản tiền gửi này là người gửi chỉ được rúttiền khi đến thời hạn như đã thỏa thuận có thể là 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9
Trang 9tháng, 1 năm hoặc hơn thế nữa Theo quy định, ngân hàng có quyền từ chốiviệc rút tiền trước thời hạn của người gửi tiền Tuy nhiên ở một số nước, quyđịnh này đã đượcnới lỏng: các ngân hàng cho phép người gửi tiền được rút ratrước hạn nhưng phải báo trước cho ngân hàng một khoảng thời gian nhấtđịnh,, nếu không báo trước người gửi sẽ không được hưởng lãi suất hoặc rấtthấp.
phân lọai theo đối tượng:
- Tiền gửi của dân cư
Các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập tạm thời chưa sử dụng đến.Trong điều kiện có khả năng tiếp cận ngân hàng, họ đều có thể gửi tiết kiệmvới mục tiêu đảm bảo an toàn và sinh lời đối với các khoản tiết kiệm, đặc biết
là nhu cầu bảo toàn Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm, các ngânhàng khuyến khích dân cư thay đổi thói quen giữ vàng và tiền mặt tại nhàbằng cách mở rộng mạng lưới huy động, đưa ra các hình thức huy động đadạng và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn…
- Tiền gửi của các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội.
Các doanh nghiệp do yêu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh nên các đơn
vị này thường gửi một khối lượng lớn tiền vào ngân hàng để hưởng tiện íchtrong thanh toán NHTM là một trung gian tài chính, nó quan hệ với các đốitượng này thong qua việc mở tài khoản, nhận tiền gửi của các tổ chức kinh tế
và đáp ứng nhu cầu thanh toán của họ Do đó sự đan xen giữa các khoản phảithu và các khoản thanh toán nên ngân hàng luôn tồn tại một số dư tiền gửinhất định, điều này lí giải vì sao ngân hàng huy động được nhiều nguốn vốnnhất trong lĩnh vực này, có chi phí thấp và được sử dụng cho vay không chỉngắn hạn mà còn cả trung hạn Tuy nhiên nguồn này có hạn chế là tính ổnđịnh và độ lớn phụ thuộc vào quy mô, loại hình của doanh nghiệp
phân loại theo mục đích:
Trang 10- Tiền gửi tiết kiệm:
Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền để dành của mội cá nhân được gửi vào ngânhàng, nhằm hưởng lãi suất theo quy định Tiền gửi tiết kiệm là bộ phận thunhập bằng tiền của các cá nhân chưa sử dụng được gửi vào các tổ chức tíndụng Nó là một dạng đặc biệt của tích lũy tiền tệ, trong tiêu dung cá nhân.Khi gửi tiền, người gửi được giao một sổ tiết kiệm coi như giẩy chứng nhậntiền gửi vào ngân hàng Đến thời hạn khách hàng rút tiền ra được nhận mộtkhoản tiền lãi trên tổng số tiền gửi tiết kiệm Có hai loại tiền gửi tiết kiệm làtiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
- Tiền gửi giao dịch hoặc tiền gửi thanh toán
Đây là khoản tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng để nhờngân hàng giữ và thanh toán hộ Trong phạm vi số dư cho phéop, các nhu cầuchi trả của doanh nghiệp hoặc cá nhân đều được ngân hàng thực hiện Cáckhoản thu bằng tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân đều có thể được nhâp vàotiền gửi thanh toán theo yêu cầu Lãi suất của khoản tiền này rất thấp, thayvào đó chủ nhân tài khoản có thể được hưởng các dịch vụ của ngân hàng vớimức phí thấp
- Tiền gửi “lai” (vừa tiết kiệm vừa giao dịch)
Đây là loại tiền gửi mà người gửi vừa có thể yêu cầu ngân hàng thanh toán hộ,vừa có thể hưởng lãi suất định kỳ như một khoản tiền gửi tiết kiệm Tuynhiên, lãi suất của khoản tiền này thường không cao như lãi suất tiền gửi tiếtkiệm bởi tính cố định của khoản gửi, ngân hàng có thể không sử dụng đượchoặc sử dụng rất ít số vốn huy động này để cho vay hoặc đầu tư
2.2 Tín dụng
2.2.1 Khái niêm tín dụng:
Tín dụng ngân hàng là một phạm trù kinh tế tồn tại qua các hình thức xã hộikhách nhau Tín dụng là nghiệp vụ chính cơ bản nhất của các NHTM chính vì
Trang 11vậy những vấn đề về tín dụng đã được các nhà kinh tế nghiên cứu từ rất lâu.Tùy theo các cahs tiếp cận khác nhau mà người tat a đưa ra những khái niệmkhác nhau về tín dụng.
Theo cách hiểu thong thường, tín dụng là mối quan hẹ giao dịch giữa hai chủthể dựa trên nguyên tắc tin tưởng nhau Trong đó một bên chuyển giao tiềnhoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định Đồng thời bênnhận tiền hay tài sản cam kết hoàn trả theo thời giai thỏa thuận Hay nói cáchkhác, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị dưới hình thứchiện vật hay tiền tệ từ người sờ hữu sang người sử dụng, sau đó hoàn trả tạimột thời điểm nhất định trong tương lai với một lượng giá trị lớn hơn
Theo luật NHNN, tín dụng được định nghĩa như sau: “Cấu thành một nghiệp
vụ tín dụng là bất cứ động tác nào qua đó người đưa hay người hứa đưa vốncho người khác dùng, hoặc cam kết bằng chữ ký cho người này như đảmbảo,bảo chứng hay bảo lãnh thu tiền”
- Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một khoảng thời gian nhấtđịnh Sau khi hết hạn thoe thỏa thuận phải trả lại cho người cho vay
- Giá trị được hoàn trả thong thường lớn hơn giá trị lúc cho vay hay nói cáchkahcs người đi vay phải trả theem một phần lợi tức
Như vậy ở đây – tiền không bỏ ra để thanh toán hay để bán mà để cho vay,tiền chỉ được nhượng đi với điều kiện là nó sẽ quay lại trong một thời giannhất định Đó là đặc trưng thuộc về bản chất của ngành ngaah hàng Ngoài ra
Trang 12sự hoàn trả đó không chỉ phải bảo tồn về mặt giá trị mà còn cần có phần tănglên dưới hình thức lợi tức Lợi tức về tín dụng là thu nhập của người đi chovay nhận được từ khoản cho vay, nó là giá cả của hàng hóa cho vay.
2.2.3 Phân loại tín dụng:
Tín dụng là một trong những hoạt động cơ bản nhất và cũng mang lại lợinhuận chủ yếu cũng như rủi roc ho các ngân hàng Chính vì vậy, các ngânhàng luôn phải tìm ra các tiêu thức phân loại tín dụng để dễ dàng quản lý,kiểm tra từ đó phòng tránh rủi ro tín dụng Dựa vào hình thức khác nhau ta cóthể phân loại tín dụng như sau:
Căn cứ vào thời gian khoản vay:
Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về thời gian cho vay theo hai loại:tín dụng ngắn hạn và tín dụng trung, dài hạn
Tín dụng ngắn hạn: Đây là hình thức tín dụng thường có thời gian dưới 12
tháng và mục đích thường để đáp ứng nhu cầu thiếu vốn tạm thời như phục vụcho thanh tóa tiền, hàng hóa, tài trợ vốn lưu động hay thanh toán ngoạithương
Tín dụng trung, dài hạn:
Tín dụng trung hạn: Đây là hình thức tín dụng có thời gian từ 12 thánh đến
5 năm Các khoản vay thường với mục đích để đầu tư, cải tiến máy móc, trangthiết bị, đầu tư vào một ngành kinh doanh mới Tuy nhiên các máy móc trangthiết bị này cần có thời gian khấu hao không quá dài, hay dự án kinh doanhcần có kế hoạch thu hồi vốn sớm để có thể kịp thời hoàn trả vốn cho ngânhàng
Tín dụng dà hạn: Đây là các khoản tín dụng được cấp có thời hạn từ 5 nămtrở lên và cũng thường được sử dụng với mục đích xây nhà xưởng, đầu tư dâychuyền sản xuất lớn, và những dự án có thời gian thu hồi vần dài
Căn cư theo hình thức bảo đảm:
Trang 13Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản: Trong trường hợp này ngân
hàng cấp tín dungjc ho khách hàng mà không cần có tài sản thế chấp, cầm cốhay bảo lãnh àm dựa vào uy tín của khách hàng Những khách hàng được cấploại tín dụng này là những khách hàng quen, đã có uy tín với ngân hàng vềviệc trả nợ đúng hạn từ trước tới nay
Tín dụng có tài sản bảo đảm: Ngân hàng cấp tín duchj cho khách hàng dựa
trên cơ sở có tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh Tài sản dùng để thế chấpcàm cố có thể là giấy tờ có giá hay bất động sản hình thành từ vốn vay Ngoài
ra, để đảm bảo cho khoản vay còn có thể được bảo đảm bằng tài sản, uy yinscủa bên thứu ba
Căn cứ vào mục đích sử dụng:
Cho vay sản suất kinh doanh: các khoản vay này thường được sử dụng để
tài trợn vốn lưu động cũng như vốn đầu tư ban đầu vào các dự án kinh doanhcủa khách hàng
Cho vay tiêu dung: Chủ yếu phục vụ cho nhu cầu mua sắm của các hộ gia
đình và cá nhân như mua nhà, mua xe…
Căn cứ vào phương thức cho vay:
Cho vay theo hạn mức: Theo hình thức này ngân hàng và khách hàng thỏa
thuận và kí kết một hợp đồng hạn mwucs tín dụng duy trì theo thời gian nhấtđịnh hoặc theo chu kỳ sản suất kinh doanh Mà trong ký này khcsh hàng cóthể rút tiền hoặ trả tiền làm nhiều lần miễn là số tiền mà khách hàng sử dụngcủa ngân hàng không vượt qua hàn mức mà ngân hàng đã cấp cho mình
Cho vay từng lần: Đây là hình thức ngân hàng cấp tín dụng cho kachs
hàng tùy vào nhu cầu sử dụng vốn theo từng thời điểm nhất định và kháchhàng sẽ phải có hợp đồng riêng cho mỗi khoản vay
Cho vay theo dự án đầu tư: Đây là hình thức ngân hàng cho khách hàng
của mình vay để đầu tư vào một dự án cụ thế nào đó Ngân hàng sẽ xác định
Trang 14nhu cầu vồn mà khách hàng cần để thực hiện dự ấn đó để quyết định chokhách hàng vao bao nhiêu Việ giải ngân cho các khoản vay này thường đượcgiải ngân theo tiến độ dự án.
Cho vay hợp vốn: Đối với nhứng khoản vay lớn cho những dự án lớn thì
một ngân hàng không thể đáp ứng đủ nhu cầu của khoản vay nên sẽ tiến hanhfcho vay theo hình thứu hợp vốn Theo đó một ngân hàng sẽ đứng ra nhận hồ
sơ vay và kêu gọi các ngân hàng khách tham gi cùng cho vay teho nhữn tỷ lệnhất định
Căn cứ vào phương thức trả nợ:
Cho vay trả nợ một lần: Theo hình thức này thì ngân hàng và khách hàng
tiến hành thỏa thuận với nhau về việc khách hàng chỉ tar gốc và lãi vào mộtthới điểm nhất định trong thời gian vay thường là cuối kỳ
Cho vay trả nợ nhiều lần: Theo hình thwucs này thì khách hàng vay ngân
hàng có thể tar nợ ngân hàng làm nhiều lần trong suốt thời gian vay
2.2.4 Vai trò của tín dụng:
- Điều hòa vốn, thúc đẩy sản xuất và lưu thong hàng hóa, đầy nhanh quá
trình tái sản xuất mở rộng trong nền kinh tế Ngân hàng là chiếc cầu nối giữanhững người có vốn tạm thời nahfn rỗi trong nền kinh tế với những người cầnvốn để mở rộng sản xuất, kinh doanh, tiêu dung… Trên cơ sở huy động nguồnvốn trong đân cư và các tổ chức kinh tế thặng dư vốn, ngân hàng tiến hànhcho các thành phần kinh tế đang thiếu vốn vay để sản xuất và tiêu dùng
Các doanh ngiệp không thể tiến hành sản xuất kinh doanh nếu thiều vốn Nhờnguồn vốn mà ngân hàng cho vay doanh nghiệp không những đảm bảo quátrình sản xuất mà còn mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệhiện đại nhằm giảm giá thành sản xuất tăng cường tính cạnh tranh của mặthàng Từ đoa doanh nghiệp sẽ thúc đẩy sản xuất lưu thong hàng hóa, đẩynhanh quá trình tái sản xuất một cách hiệu quả hơn Như vậy tín dụng ngân
Trang 15hàng đã biến các phương tiện hoạt động có hiệu quẩ, thu hút nhanh chóng cácvật tuwlao động, những tiềm năng sẵn có khác vào sản xuất.
- Tín dụng ngân hàng giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Tín dụng ngân hàng là
một trong những công cụ hữu hiệu để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế.Nếu muốn khuyến khích ngành nghề hay thành phần kinh tế nào phát triển,ngân hàng sẽ thwucj hiện ưu đãi tín dụng với ngành nghề đó Tù đó hỗ trợnguồn vốn giúp cho các doanh nghiệp khu vực đó, ngành nghề đo có cơ hộitiếp cận vói khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới nhằm tăng tính cạnhtranh và hiệu quả sản xuất từ đó thú đẩy khu vực phát triển
Để thực hiên được việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo mục đích đã định, cácnhà ngân hàng cần phải nghiên cứu và thực thi chính sách tín dụng phù hợp
để có thế tác động vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Điều này đang làmột vấn đề hết sức quan trọng ở nước ta, trong tình trạnh cơ cấu kinh tế hiệnnay còn nhiều bất hợp lý Đặc biệt trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế,hội nhập kinh tế quốc tế
- Kích thích tính năng động của các doanh nghiệp: Trong thời đại ngày nay,
khi thông tin và công nghệ thong tin thay đổi liên tục và phát triển một cáchrất nhanh chóng, các doanh nghiệp luôn đứng trước yêu cầu phải tahy đồi phùhợp với nhu cầu của thời đại Để thực hiện được diều này đòi hỏi các doanhnghiệp phải thường xuyên tahy đồi máy móc, kỹ thuật hay nâng cấp nhàxưởng, đổi mới sản phẩm… và ngân hàng chính là nơi cung cấp vồn trung vàdài hạn tốt nhất cho các doanh nghiệp Qua đó, ngân hàng sẽ mang đến chodoanh nghiệp cơ hội để đổi mới, kích thích tính năng động của doanh nghiệp.Không chỉ vậy tín dụng ngân hàng còn thường xuyên bổ xung nguồn vốn lưuđộng cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động giúp doanh nghiệp nắm bắtđược cơ hội đầu tu để phát triển
Trang 16- Tín dụng ngân hàng giúp tăng nhanh vòng quay của vốn, giảm lượng tiền
mặ trong lưu thông.
- Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy quá trình mở rộng quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế: Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế,
mối quan hệ giữa các nước trên thế giới và các nước trong khu vực được mởrộng và phát triển đa dạng cả về chiều rộng và chiều sâu Đây là một trongnhững nhân tố quan trọng tạo điều kiện dặc biệt cho các nước đang phát triểntrên thế giớ trong đó có nước ta Thực hieenjc hủ trương mở rộng hợp tác kinh
tế, tăng cường các quan hệ đối ngoại do đó đầu tưu vốn tín dụng thúc đẩy xuấtkhẩu hàng hóa là mối quan tâm của các ngân hàng trong tình hình hiện nay.Ngân hàng với tư cách là tổ chức kinh doanh tiền tệ, thông qua hoạt động chovay sẽ trở thành nền tảng, là người cung cấp vốn cho các nhà đầu tư kinhdoanh xuất nhập khẩu hàng hóa Từ đó ngân hàng sẽ trwor thành đòn bẩy thúcđẩy quá trình mở rộng và giao lưu kinh tế quốc tế
Qua đó ta thấy, tín dụng ngân hàng có một vai trò đặc biệt quan trọng đối vớinền kinh tế, là phương tiện, công cụ của nhà nước không chỉ sử dụng để quản
lý, kiểm soát nền kinh tế àm còn được sử dụng để thúc đẩy sự phát triển củanền kinh tế
Trang 17Phần 2: Thực tiễn hoạt đông huy động và cho vay tại phòng Tư vấn và Quản lý tài sản cá nhân
Ngân hàng TMCP Tiên Phong
1 Giới thiệu chung về ngân hàng TMCP Tiên Phong:
1.1 Ngân hàng TMCP Tiên Phong:
Được thành lập bởi Công ty cổ phần FPT, Công ty thông tin di động VMS (MobiFone) và Tổng Công ty Cổ phần Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (Vinare), TienPhongBank được kế thừa các thế mạnh về công nghệ thông tin,
công nghệ viễn thông di động, tiềm lực tài chính và vị thế của các cổ đông lớnnày mang lại TienPhongBank xác định phát huy các ưu thế này để xây dựng cho mình một nền tảng bền vững và mang đến cho khách hàng cuộc sống tài chính đơn giản và hiệu quả hơn
FPT là cổ đông lớn nhất với 12% cổ phần, đóng vai trò quan trong việc hỗ trợ
công nghệ và kinh nghiệm khai thác các giải pháp công nghệ thông tin trong hoạt động của Ngân hàng Các khách hàng của TienPhongBank cũng được hưởng lợi khi sử dụng các sản phẩm, dịch vụ khác của FPT như viễn thông, máy tính, điện thoại di động, chứng khoán, đầu tư…nhờ các gói dịch vụ trọn gói của TienPhongBank phối hợp với FPT
Công ty Thông tin di động VMS (MobiFone) là cổ đông lớn của
TienPhongBank với số vốn góp 10% VMS (MobiFone) đóng vai trò chiến lược trong việc hỗ trợ các giải pháp về việc sử dụng các dịch vụ ngân hàng thông qua kênh điện thoại di động (Mobile Banking) với chất lượng dịch vụ
Trang 18cao Mobile Banking là một yếu tố không thể thiếu của một ngân hàng hiện đại nhằm phục vụ các khách hàng một cách nhanh chóng và thuận tiện Các khách hàng của MobiFone cũng sẽ được hưởng lợi khi có thêm sự lựa chọn trong việc sử dụng dịch vụ ngân hàng thông qua mạng di động chất lượng cao
mà họ gắn bó
Tổng Công ty Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (Vinare) cũng là cổ đông lớn
của TienPhongBank với số vốn góp 10% Vinare góp phần quan trọng cho TienPhongBank về tiềm lực tài chính, hệ thống đối tác rộng khắp và kinh nghiệm, chuyên môn sâu trong lĩnh vực quản trị tài chính
Tháng 8/2009, số vốn điều lệ của TienPhongBank đạt 1.250 tỷ đống Tới 31/12/2009, mức vốn điều lệ của TienPhongBank đã tăng lên thành 1.750 tỷ
đồng, và sẽ tăng lên ít nhất 3000 tỷ đồng vào cuối 2010.
TienPhongBank xác định sứ mệnh đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ
thông tin viễn thông và các giải pháp công nghệ trong hoạt động ngân hàng
nhằm mang tới giải pháp tài chính mới, phong cách và chất lượng dịch vụ mới, mô hình hoạt động và quản trị tiên tiến, đóng góp vào sự phát triển của ngành ngân hàng trong nước Với số lượng người sử dụng máy tính và điện thoại di động ngày càng tăng, sự bùng nổ về việc ứng dụng CNTT trong đời sống mọi mặt của người Việt Nam, chiến lược của TienPhongBank là khai thác các ứng dụng công nghệ để tạo ra một hệ thống tích hợp nhằm mang tới những sản phẩm dịch vụ đa dạng phong phú và tiện lợi tới đông đảo người dân Việt Nam
Chỉ với một chiếc điện thoại di động hay một máy tính nối mạng, bạn đã có
Trang 19thể sử dụng các dịch vụ của TienPhongBank mà không nhất thiết phải tới các điểm giao dịch của ngân hàng Với những khách hàng ưa thích cách giao dịch truyền thống, TienPhongBank cung cấp dịch vụ thông qua mạng lưới phòng giao dịch (PGD) và chi nhánh hoặc phục vụ tận nhà hay cơ quan Trong năm
2008, TienPhongBank đã có mặt tại 2 thành phố lớn nhất của cả nước là Hà nội và TP Hồ Chí Minh Trong năm 2009, TienPhongBank sẽ mở rộng sự hiện diện của mình tại Hải Phòng, Cần Thơ và Đà Nẵng
TienPhongBank cam kết mang lại một cuộc sống tài chính hiệu quả và giản
đơn cho các thành viên liên quan:
Với khách hàng: cung cấp những sản phẩm và dịch vụ tài chính ngân hàng
giúp khách hàng tối ưu hóa hiệu quả tài chính cùng với sự thuận tiện và giản đơn khi tiếp cận và sử dụng các sản phẩm và dịch vụ
Với cổ đông: là một tổ chức kinh tế hoạt động bền vững và hiệu quả mang tới
cổ đông lợi ích kinh tế cao, đều đặn và dài hạn
Với cán bộ nhân viên: là ngôi nhà thứ hai mang tới từng thành viên một cuộc
sống sung túc và đầy đủ về kinh tế và tinh thần
Với cộng đồng và xã hội: là tổ chức có trách nhiệm xã hội, tích cực, chủ
động tham gia vào các hoạt động cộng đồng, xã hội, góp phần làm hưng thịnhquốc gia
Trang 20Ký kết hợp tác chiến lược toàn diện với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)và khung hợp tác chung với Ngân hàng Citi
Tháng 8 – 2008:
Khai trương TienPhongBank chi nhánh Hà Nội
Chính thức tham gia mạng thanh toán lớn nhất Việt Nam – SmartLink
Ra mắt hệ thống ngân hàng tự động MiniBank 24/7
Tháng 9 – 2008:
Chính thức là công ty đại chúng
Tháng 10 -2008:
Khai trương TienPhongBank Chi nhánh Tp HCM
Ra mắt dịch vụ Internet Banking dành cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp
Trang 21 Tháng 9 - 2009:
Khai trương chi nhánh Đà Nẵng
Tháng 12 – 2009
Hoàn thành kế hoach tăng vốn điều lệ lên thành 1750 tỷ đồng
Sơ đồ tổ chức hội sở ngân hàng TMCP Tiên Phong
Trang 23Hội đồng quản trị
Ủy ban tín dụng Hội đồng ALCO
Ban điều hành
Hội đồng tín dụng
Hội đồng đầu tư
Phòng sản phầm chính sách KHDN
Phòng pháp chế tuân thủ
Phòng quản trị nguồn nhân lực
Phòng PR Marketing
Trung tâm công nghệ thông tin
Trung tâm thanh toán
Văn phòng khu vực phía nam
Phòng thanh toán trong nước
Phòng vận hành
hệ thống
Văn phòng Phòng
đào tạo
Phòng chất lượng dịch vụ KH
Phòng sản phẩm chính sách KHCN
Ban kiểm soát
Kiểm toán nội bộ
dụng
Phòng thanh toán quốc tế
Phòng sản phẩm ứng dụng
Phòng phát triển mạng lưới
Phòng tài chính
kế toán
Trang 241.2 Phòng Tư vấn và Quản lý tài sản cá nhân:
Phòng Tư vần bà Quản lý tài sản cá nhân được thành lập từ những ngày đầutiên thành lập ngân hàng Theo sơ đồ tổ chức của ngân hàng thì phòng trựcthuộc khối nguồn vốn
Hiện nay trụ sở chính của Phòng nằm tại Tòa nhà FPT, Lô B2, cụm sản xuấtTTCN và CNN, Phường DỊch Vọng Hậu, quận Cầu GIấy, Hà Nội Được xâydựng trên cơ sở là mô hình Private Banking, khối khách hàng mà phònghướng tới là lực lượng khách hàng VIP những người có thu nhập cao trongxaz hội với mục tiêu chăm sóc khách hàng với dịch vụ tốt nhất và tiện lợinhất
chế tài chính
Phòng
thẩm
định
tài sản
Trang 25 Cơ cấu tổ chức của phòng:
2 Thực tiễn hoạt động huy động và cho vay của phòng TV&QL tài sản cá nhân.
2.1 Hoạt động huy động vốn.
Giám đốc kinh doanh Bà: Bùi Thu Hà
Chuyên viên khách hàng khu vực phía nam
Chuyên viên khách
hàng khu vực phía bắc
Các phòng ban khác trực thuộc
ngân hàng (VD: Hỗ trợ tín dụng, Trung tâm thanh toán…)
Bộ phận hỗ trợ kinh
doanh