Nguyễn Thị Sửu cùng các thầy giáo cô giáo tổ Phương pháp giảng dạy khoa Hóa đã đọc và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để giúp tôi hoàn thành luận văn này - Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HOÀNG THỊ HỒNG NHUNG
THIET KE CAC BAI GIANG HOA HOC CHUONG HALOGEN
(HOA HOC 10 NANG CAO) THEO QUY TRINH LUA CHON PHUONG PHAP DAY HOC PHÙ HÚP VỚI MỤC ĐÍCH - NỘI DUNG VÀ ĐỐI TƯỢNG DẠY HỌC ĐỀ NÂNG CAO HIỆU
QUA DAY HOC HOA HOC
CHUYEN NGANH: LY LUAN VA PHUONG PHAP DAY HOC HOA HOC
MA SO: 60.14.10
LUAN VAN THAC Si KHOA HOC GIAO DUC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ VĂN NĂM
Trang 2VINH - 2009
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
- Thầy giáo PGS.TS Lê Văn Năm, Chủ nhiệm khoa Hóa trường Đại học
Vinh đã giao đề tài, tận tình hướng dẫn khoa học và tạo mọi điều kiện thuận
lợi nhất cho việc nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
- Thầy giáo: PGS.TS Hoàng Văn Lựu; cô giáo: PGS.TS Nguyễn Thị Sửu cùng các thầy giáo cô giáo tổ Phương pháp giảng dạy khoa Hóa đã đọc và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để giúp tôi hoàn thành luận văn này
- Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học, Ban chủ nhiệm khoa Hóa đã giup
đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành luận văn này
- Ban giám hiệu và giáo viên trường THPT Hà Huy Tập, THPT Huỳnh Thúc Kháng đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực nghiệm sư phạm
- Tôi cũng xin cảm ơn tất cả những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Vĩnh, tháng 12 năm 2009
Hoàng Thị Hồng Nhung
Trang 4MỤC LỤC
Trang
)/ (0271010105 Q(ÚL 33|ÃÄÃ.,Ô 1
I Lý do chọn đỀ tầi 5 5 5 +5 1 92 3393 3E 3 3 8363185 83005111163 px 1
H Lịch sử vấn dé nghiên CỨU . 2 52 +2 + +4 ££3E2 E£3£E£sE+SEesEesesses se 3
HI Mục đích - nhiệm vụ - phương pháp nghiên cứu . - ««« 5
I G0284 9.8 21 6
V Cai m6i cla dé tad 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI -2-©2¿©e+xe+EEE+2zS+2 7 1.1 Các hình thức dạy học ở nhà trường phổ thông .- - 7
1.1.1 Hé day hoc ca n6 7
1.1.2 Hé dién gidang co 8n 7
In ái gio, 8
1.2 ©@ 130i: 50) 0n: gi 15
1.2.1 Các phương pháp dạy học truyền thống -.- - « s «+ 15 1.2.2 Các phương pháp dạy học hiện đạI1 -.- << << <<<<<<+ 20 1.2.3 NIAN X€t — 26
1.3 Các yếu tố chi phối phương pháp dạy học trong bài giảng hóa học 27
IS EI.00v (vi 0 ào 27
1.3.2 Nội dung dạy hỌọc - - - 39399551819 vớ 32 1.3.3 9) 0o 1à c2 44
Chương 2 THIẾT KẾ CÁC BÀI GIẢNG HÓA HỌC TRÊN CƠ SỞ MỐI QUAN HỆ GIỮA PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VỚI MỤC ĐÍCH - NỘI DUNG VÀ ĐỐI TƯỢNG DAY HỌC - 2 2+5 sEEctEsvEersrsrzeee 47 2.1 Quy trình lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợp với mục đích, nội S110 RS(081).9)41-83:-)0:1001277.7 47
2.1.1 Nghiên cứu nội dung tài liệu sách giáo khoa - - -«« 47
Trang 52.2 Thiết kế các bài giảng chương Halogen (hóa học 10 nâng cao) theo quy trình lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với mục đích và đối tượng dạy
3.3.2 Kết quả kiểm tra thực nghiệm . 5< s=+ss££+ss+sss2 113
Trang 6Đối chứng
Trang 7có năng lực giao tiếp, có những giá trị nhân văn đạo đức sâu sắc, phong phú
Để có thể có đội ngũ những con người nhanh, nhạy bén linh hoạt như vậy thì
đòi hỏi chúng ta phải có cách nhìn mới trong vấn đề đổi mới phương pháp học tập
Đây là một vấn đề hết sức quan trọng không chỉ đối với nền giáo dục
Việt Nam mà còn được cả toàn thế giới quan tâm Bởi “số mệnh của một quốc gia tuỳ thuộc vào nền học vấn của người dân nước đó” Hay như tác giả HonaceMamn đã từng nói ”giáo dục vượt trội mọi công cụ khác của nhân
loại, nó là sự cân bằng chủ yếu đối vơi điều kiện sống của con người, là bánh
xe thăng bằng của guồng máy xã hội” Chính vì thế đáp ứng yêu cầu chung của thời đại thì tại các nước trên thế giới và Việt Nam đang diễn ra sự đổi mới phương pháp giáo dục nói chung và phương pháp dạy học nói riêng Đối mới cả mục đích - nội dung -phương pháp và hình thức tổ chức dạy học
Thật vậy, nhà trường Việt Nam cần được đổi mới một cách đồng bộ
và hướng tới chuẩn hoá Có nghĩa là, về mục đích đào tạo không chỉ giáo
Trang 8dục đào tạo những con người có năng lực tuân thủ mà chủ yếu là những con người có đầu óc sáng tạo
Về nội dung, cần hiện đại về tri thức và kỹ năng Tức là hiện đại về câu trúc chương trình và nội dung tương thích về mục đích Bên cạnh đó về
mặt nội dung còn phải biết chấp nhận con đường chuyển giao công nghệ phù hợp
Về phương pháp, chuyển từ các phương pháp dạy học lấy người thầy làm trung tâm sang các phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Các nghị quyết TW4 (khoá VII, TW 2(khoá VII) đã khẳng định phải đổi mới mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục đào tạo, tích cực nghiên cứu chiến lược giáo dục đưa nước ta tiến vào thế kỷ 21 Bên cạnh đó văn kiện đại biểu
toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: Đổi mới phương pháp dạy và học là đổi
mới cho toàn bộ các cấp học, bậc học từ tiểu học, trung học cơ sở, trung học
phổ thông và đại học
Như chúng ta đã biết, giờ lên lớp bài giảng hoá học có một vị trí hết
sức quan trọng đối với việc lĩnh hội tri thức của học sinh Thông qua bài
giảng hoá học giáo viên có thể truyền thụ những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh Kết quả bài học phụ thuộc vào sự chuẩn bị giáo án Bài học
được chuẩn bị tốt sẽ đảm bảo cho hoạt động của giáo viên và học sinh có
mục đích rõ ràng, tạo được không khí thuận lợi cho học tập Nhưng thực tế
đã chứng minh trong các trường phổ thông thì việc triển khai các bài giảng
hoá học đang mắc phải những nhược điểm nhất định Hiện nay, phần lớn giáo viên lựa chọn phương pháp dạy học theo kinh nghiệm là chính mà thiếu
cơ sở khoa học Sự lựa chọn phương pháp dạy học như vậy sẽ không đem lại
kết quả chắc chắn Ngoài ra khi lựa chọn các phương pháp giáo viên ít chú ý
đến đặc điểm cá nhân của học sinh cũng như các phương pháp học tập của các em một cách đúng mức Và khi sử dụng các phương tiện dạy học chỉ
nhằm mục đích minh hoạ Có thể nói rằng đại đa số giáo viên giới thiệu kiến
Trang 9thức ở dạng chuẩn bị sắn Chính vì thế mà kết quả dạy học chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội
Một bài lên lớp (bài giảng) là một hệ toàn vẹn được tạo nên bởi các thành tố là: mục đích, nội dung và phương pháp Trong đó phương pháp chịu sự chi phối của mục đích và nội dung dạy học, ngoài ra phương pháp dạy học muốn có hiệu quả còn phải chú ý đến đối tượng dạy học để điều chỉnh Vấn đề đặt ra là chúng ta phải lựa chọn phối hợp các phương pháp dạy học như thế nào? Việc phối hợp các phương pháp luôn phải bắt đầu từ
sự phân tích nội dung bài giảng, xác định mục đích, và người giáo viên phải xác định được đâu là phương pháp dạy học chủ đạo chủ đạo và các phương pháp dạy học khác hỗ trợ cho phương pháp chủ đạo này Nếu không nhận thức được điều này thì hoạt động của giáo viên sẽ rối loạn khi lên lớp Chính
vì thế chúng tôi chọn đề tài “Thiết kế các bài giảng hóa học chương
Halogen (Hóa học 10 nâng cao) theo quy trình lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với mục đích - nội dung và đối tượng dạy học để nâng cao hiệu qud dạy học hóa học”
II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Phương pháp dạy học là một trong những yếu tố quan trọng nhất của quá trình dạy học Cùng một mục đích hoặc nội dung nhưng dạy như thế nào (phương pháp nào) để học sinh học tập có hiệu quả, có hứng thú và tích cực trong học tập Có để lại những dấu ấn sâu sắc và khơi dậy những tình cảm lành mạnh trong tâm hồn các em hay không? Điều đó phần lớn phụ thuộc vào việc lựa chọn và sử dụng phương pháp dạy học của người thầy vào các
bài học cụ thể
Do tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển của các vấn đề lý luận
và thực tiễn sư phạm, phương pháp dạy học luôn luôn là trung tâm chú ý của các nhà giáo dục trong và ngoài nước
Trang 10Về mặt lý luận, đã có nhiều công trình nghiên cứu về hệ thống các
phương pháp dạy học nói chung, phương pháp dạy học hóa học nói riêng, về vai trò của mục đích và nội dung dạy học đối với phương pháp dạy học
Chẳng hạn như hệ thống phương pháp dạy học của Ila.Lecne và M.N.Skatkin đề xuất Hai ông đã cho rằng để xác định được 1 hệ thống phương pháp hợp ly va 6n định thì cần nghiên cứu phương pháp trong mối quan hệ với mục đích và nội dung day học, xem phương pháp như là hệ quả tất yếu rút ra từ mục đích và nội dung.[ 10]
Tác giả Ivanôva trong cuốn sách “Bài giảng hoá học”đã đi sâu vào nghiên cứu việc phân loại bài giảng hoá học , phân tích mối quan hệ qua lại giữa mục đích, nội dung và phương pháp dạy học trong bài giảng hoá học ở
trường phổ thông.[ 1 1]
Bên cạnh đó theo như sự nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Quang
về phương pháp dạy học theo kiểu nội dung dạy học Theo ông về nội dung
dạy học, ta có 3 kiểu nội dung: [23] [25]
N,: kiến thức lý thuyết
N;: kĩ năng kĩ xảo
Nc: sáng tạo
Do đó tương ứng cũng có 3 nhóm phương pháp dạy học sau:
Với kiểu N,- thông báo- tái hiện
Với kiểu Nạ- làm mẫu- bắt chước
Với kiểu N.- nêu vấn đề- orixitic
Về thực tiễn: có nhiều tác giả nghiên cứu áp dụng các phương pháp dạy học cụ thể vào các nội dung dạy học cụ thể để nâng cao quá trình dạy
Trang 11Phạm Tư còn áp dụng phương pháp Grap dạy học và Algorit dạy học vào các nội dung hóa học
Tuy nhiên về việc đi sâu nghiên cứu những yếu tố chỉ phối phương pháp dạy học, đề xuất các phương pháp dạy học phù hợp với mục đích- nội dung và đối tượng dạy học để nâng cao hiệu quả bài giảng hoá học thì chưa
có tác giả nào quan tâm đến
II MỤC ĐÍCH- NHIỆM VỤ- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu nội dung cấu trúc bài giảng hoá học, phân tích làm rõ các yếu tố chi phối phương pháp dạy học trong bài giảng hoá học chúng tôi đã xây dựng quy trình thiết kế các bài giảng hóa học dựa trên mối quan hệ sự phụ thuộc của phương pháp dạy học vào mục đích - nội dung và đối tượng dạy học để nâng cao hơn nữa chất lượng bài hoá học theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong phạm vi luận văn tốt nghiệp, chúng tôi nhằm giải quyết những
vấn đề sau:
- Tìm hiểu về thực trạng dạy và học hoá học ở trường phổ thông hiện
nay Thực trạng sử dụng phương pháp dạy học trong các bài học hoá học
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
- Đề xuất nguyên tắc và quy trình thiết kế các bài giảng hóa học trên
cơ sở lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với mục đích- nội dung- đối tượng theo hướng hoạt động hoá nhận thức của học sinh
- Soạn một số giáo án theo nguyên tắc và quy trình trên
- Rút ra kết luận về tính hiệu quả của đề tài
3.3 Phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp nghiên cứu và tổng hợp lý thuyết:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài, hệ thống các phương pháp dạy học và bài học hoá học
Trang 12- Nghiên cứu giáo trình, sách giáo khoa hoá học, tài liệu tham khảo có liên quan
b Phương pháp điều tra cơ bản: Test, phỏng vấn, dự giờ
c Phương pháp thực nghiệm sư phạm để xác định hiệu quả của đề tài
d Phương pháp thống kê toán học: Xử lý kết quả thực nghiệm sư
phạm
IV GIA THUYET KHOA HOC
Nếu nghiên cứu xây dựng được nguyên tắc va quy trình lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợp với mục đích - nội dung và đối tượng dạy học thì sẽ nâng cao hiệu quả bài giảng hoá học
V CÁI MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Làm rõ mối quan hệ giữa mục đích- nội dung- phương pháp trong
từng nội dung dạy học cụ thể
- Đưa ra quy trình lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với mục đích, nội dung và đối tượng dạy học
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 CÁC HÌNH THỨC DẠY HỌC Ở NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG [11]
[23] [25]
Trong thực tiễn giáo dục ở nhà trường nói chung đang tồn tại các kiểu
tổ chức dạy học sau đây:
1.1.1 Hệ dạy học cá nhân
Trong hệ dạy học này, thầy giáo dạy từng cá nhân học sinh Trò tiến lên theo con đường và nhịp độ thích hợp với đặc điểm của bản thân Các nhà lý luận dạy học đánh giá cao hệ thống dạy học này vì nó đảm bảo sự học tập tự giác tích cực tự lực cao và rất thuận tiện cho việc rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo Không những thế với hệ dạy học này thì học sinh sẽ được học với nội dung và
phương pháp dạy học vừa sức Đồng thời đây cũng là điều kiện thường xuyên
để thu được mối liên hệ ngược Tuy nhiên với điều kiện dạy học như vậy thì số lượng kiến thức “nhỏ giọt” và sẽ làm lãng phí sức lực của giáo viên Cũng như không tạo điều kiện cho các em học sinh học hỏi và trao đổi kinh nghiệm với nhau - l môi trường rất cần thiết tạo nên nền tảng cho sự ganh đua trong học tập của các em Hay nói một cách khác hệ dạy học này không kinh tế
1.1.2 Hệ diễn giảng — xemina
Hình thức cơ bản của việc tổ chức dạy dọc ở đây là diễn giảng,
xemina, luyện tập, thực hành và bài tập nghiên cứu Hệ dạy học này đòi hỏi
thảo luận 1 loạt những vấn đề thông thường là những vấn đề thuộc đề tài của
bài giảng đã được trình bày hoặc 1 phần của giáo trình Hình thức này giúp phát triển ở học sinh năng lực nhận thức tài liệu nghiên cứu 1 cách mạch lạc
chặt chẽ có lý lẽ dẫn chứng Đồng thời phát triển được khả năng “nói của
học sinh”.Sự thành công của việc tiến hành giờ học xemina phụ thuộc vào 2
nhân tố:
Trang 14- Chương trình của xemina nghĩa là quy định rõ ràng phạm vi ứng
dụng của vấn đề tranh luận
- Sự chuẩn bị của học sinh
Với hệ dạy học này điều quan trọng nhất là nội dung và hình thức phát triển của học sinh làm báo cáo cũng như vai trò hướng dẫn — cầm đầu lái của giáo viên — kỹ năng mở đầu của cuộc tranh luận đó Các báo cáo đó của học sinh là ý kiến riêng của các em thu thập được qua nghiên cứu và tìm hiểu Còn người giáo viên với vai trò là “người đạo diễn “ cần phải biết đặt ra những câu hỏi có tính chất gợi vấn đề gay tranh luận, trao đổi ý kiến giữa các học sinh
Giờ học xemina được tiến hành như vậy sẽ là 1 hình thức rất tốt để đẩy mạnh hoạt động tư duy của học sinh , kích thích hứng thú độc lập làm việc cũng như khả năng sáng tạo của các em
Hệ dạy học này thường được dùng ở đại học
Hệ dạy học này thường được dùng ở trường trung học
1.1.3.1 Ba hình thức tổ chức dạy học cơ bẩn trong hệ lớp - bài ở trưòng trung học
Hệ lớp - bài bao gồm nhiều hình thức tổ chức cụ thể
Ta có thể phân chia chúng thành ba dạng cơ bản sau đây:
* Dạy học trên lớp
* Giáo dục lao động kỹ thuật tổng hợp — hướng nghiệp
* Hoạt động ngoài lớp, ngoài trường, tự chọn
Trang 15
Ba dạng cơ bản trên đây gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo nên một hệ
thống toàn vẹn các hình thức tổ chức dạy học ở trường trung học Chúng
thâm nhập vào nhau bổ sung cho nhau để thực mục tiêu đào tạo toàn diện
Nhưng “Bài lên lớp” vẫn là hình thức tổ chức dạy học hàng ngày cơ bản quan trọng nhất nên nó có ý nghĩa đặc biệt trong việc quyết định chất lượng quá trình dạy học ở trường trung học
Trong thực tế dạy học “Bài lên lớp” có nhiều tên gọi: bài học, tiết học, giờ lên lớp, giờ hoc
1.1.3.2 Nội dung khái niệm của bài lên lớp [25];[27]
Có nhiều định nghĩa về bài lên lớp
Có 2 định nghĩa cần lưu ý:
Định nghĩa 1:
Bài lên lớp là hình thức dạy học cơ bản chính yếu ở trường trung học
Nó là một quá trình dạy học sơ đẳng trọn vẹn Bài lên lớp có thời lượng xác định, sĩ số giới hạn, tập hợp thành lớp những học sinh cùng độ tuổi, cùng trình
độ học lực trung bình
Ở đây dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên , học sinh trực tiếp lĩnh hội một đoạn trọn vẹn của nội dung trí dục của môn học
Trang 16Dinh nghia 2:
Bài lên lớp là hình thức tổ chức mà trong đó giáo viên trong một khoảng thời gian xác định hướng dẫn hoạt động nhận thức cho một tập thể học sinh cố
định, cùng độ tuổi (một lớp ) có chú ý đến đặc điểm của từng học sinh trong
lớp, sử dụng các phương tiện và phương pháp dạy học để tạo ra các điều kiện thuận lợi cho tất cả học sinh nắm được nội dung kiến thức, kỹ năng, giáo dục
đạo đức và phát triển khả năng nhận thức của họ
Theo nhận xét của PGS TS.Nguyễn Thị Sửu thì hai định nghĩa trên đã
xác định cả những đặc điểm cơ bản bên ngoài và bản chất bên trong của bài lên lớp.Bài lên lớp là một hệ thống toàn vẹn và phức tạp gồm cả sự tiếp thu
kiến thức, sự phát triển trí tụê và thế giới quan, sự giáo dục tình cảm và nhân cach cho hoc sinh.[27]
Thật vậy, trong các định nghĩa trên, có những đặc điểm riêng mà chỉ bài lên lớp mới có và không có ở bất kỳ hình thức tổ chức dạy học khác Đó là nhóm học sinh có sĩ số cố định và có trình độ phát triển nhất định tạo thành
một tổ chức trọn vẹn, tham gia tập thể quá trình đào tạo, tức là lớp học sinh Giáo viên chỉ đạo hoạt động của cả tập thể, nhưng có tính đến đặc điểm nhận thức của mỗi em, giúp cả tập thể học sinh nắm vững một cách trực tiếp ngay
trên lớp đến mức tối đa những kiến thức trong nội dung của bài lên lớp Đây là hình thức tổ chức dạy học thường xuyên, bắt buộc học sinh phải tới lớp học chuyên cần
1.1.3.3 Algorit để nghiên cứu bài lên lớp theo tiếp cận hệ théng[25] Tiếp cận hệ thống đòi hỏi phải phân tích bài lên lớp theo algorit sau đây:
* Bài lên lớp là một đơn vị cấu trúc nguyên tố cơ bản và trọn vẹn của quá trình dạy học, hạn chế về mặt thời gian Bài lên lớp là một hệ toàn vẹn
* Tìm hiểu cấu trúc và chức năng của tất cả các thành tố của bài lên lớp
Trang 17* Phát hiện ra tất cả các tương tác qua lại giữa các thành tố trong bài lên lớp, thấy được logic sinh thành và phát triển của các thành tố đó, dựng được
sơ đồ grap cấu trúc bài lên lớp
* Bài lên lớp là một hệ toàn vẹn nên có tính tích hợp là thuộc tính cơ
bản và những thuộc tính nổi bật khác mà hệ toàn vẹn có
1.1.3.4 Các thành tố cơ bẩn của bùi lên lóp|25] [27]
Bài lên lớp có bốn thành tố cơ bản là:
* Mục đích của bài lên lớp (MI)
* Nội dung dạy học của bài lên lớp (N)
* Phương pháp dạy học của bài lên lớp (P)
* Kết quả tích hợp của bài lên lớp (K)
a Mục đích của bài lên lớp
Đây là yếu tố xuất phát của bài lên lớp, nó xác định con đường mà bài
+ Mục đích phát triển: trên cơ sở đặt học sinh vào vị trí chủ thể của quá trình nhận thức, thầy cô tạo điều để học sinh hoạt động tự lực tiếp nhận kiến thức một cách chủ động qua đó giúp các em phát triển những năng lực nhận thức, rèn luyện tư duy sáng tạo, biết cách tự giải quyết các vấn đề do cuộc sống đặt ra đối với bản thân
+ Mục đích giáo dục: trên cơ sở kiến thức học được (Trí), học sinh có được những hiểu biết về thế giới; từ đó hình thành trong ý thức của các em một bức tranh về thế giới (Thế giới quan) và các em sẽ có một thái độ hành
vi đúng đối với thế giới đó (Đức) Sự tương tác giữa Trí và Đức diễn ra trong hoat động sống của học sinh trong đó phần lớn thời gian nằm trong môi
Trang 18trường giáo dục ở nhà trường là nguyên nhân cơ bản tạo nên chất lượng cao của nhân cách Chính vì vậy mà cố thủ tướng Phạm Văn Đồng có nói: “Đến một trình độ cao, tri thức với tư tưởng, đức dục với trí dục là một Trí dục phải dẫn tới đạo đức, đức dục là kết quả tất yếu của sự hiểu biết”
b Nội dung dạy học của bài lên lớp
Từ mục đích, ban soạn thảo chương trình sẽ thiết kế được nội dung bài lên lớp thể hiện trong văn bản pháp quy là sách giáo khoa Theo GS TS
Nguyễn Ngọc Quang thì nội dung trí dục của bài lên lớp có thể gồm bốn kiểu nội dung bộ phận sau đây:
* N,- Hệ thống kiến thức lý thuyết về thế giới như các học thuyết về tư
tưởng, các học thuyết về khoa học, các khái niệm
* N,- Các kỹ năng, kỹ xảo hành động cụ thể
* Nc- Kinh nghiệm hoạt động sáng tạo của loài người thông qua lao
động từ nhiều thế hệ tích lũy lại
* N, - Hệ thống các quy phạm đạo đức, văn hoá truyền thống dân tộc
và nhân loại
Theo trên, nội dung của mỗi bài lên lớp hoá học bao gồm các học thuyết, khái niệm về hoá học; các kỹ năng kỹ xảo hoá học cần rèn luyện ; các kinh nghiệm hoạt động sáng tạo trong thực tế sản xuất hoặc phát minh
khoa học cần truyền lại ; đặc biệt môn hoá học có nhiều khả năng giúp học
sinh hình thành nên thế giới quan duy vật biện chứng là nền móng kết hợp truyền thống đạo đức dân tộc hình thành nên nhân cách chân chính của con người Việt Nam
c Phương pháp dạy học của bài lên lớp
Trên cơ sở mục đích và nội dung mà thầy cô giáo lựa chọn phương pháp dạy học cho phù hợp Theo GS TS Nguyễn Ngọc Quang thì khái niệm phương pháp ở đây được hiểu theo nghĩa rộng Nó bao gồm ba thành phần:
+ Phương pháp dạy học theo nghĩa hẹp tức là thao tác dạy của thầy cô
và thao tác học của học sinh trong sự phối hợp cộng tác Để phương pháp
Trang 19dạy của thầy cô phối hợp nhịp nhàng với phương pháp học của học sinh thì
thầy cô cần nắm vững năng lực nhận thức của từng em ở trong lớp để từ đó
vận dụng phương pháp cho phù hợp
+ Phương tiện dạy học và phương pháp sử dụng chúng trong bài lên lớp Trong đa số trường hợp thì phương pháp dạy học được xác định trước sau đó mới lựa chọn phương tiện dạy học phối hợp Tuy nhiên có một số trường hợp phương tiện dạy học mong muốn không có mà phải thay bằng phương tiện dạy học khác thì trong trường hợp này phương pháp dạy học cung phải thay
đổi theo
+ Hình thức tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh Thông thường
về mặt hình thức có ba kiểu tổ chức hoạt động nhận thức trong bài lên lớp
Nếu trình độ học sinh trong lớp đồng đều, thầy cô trao cho cả lớp cùng
một nhiệm vụ học tập, mỗi học sinh phải nỗ lưc hoàn thành công việc, kết quả
cả lớp đều thu được sản phẩm như nhau
Nếu trong lớp có thể có ba trình độ học sinh: khá - giỏi, trung bình, yếu
về mặt trí dục thì thầy cô có thể biên soạn những nhiệm vụ học tập phân hoá
có mức độ khó khăn phức tạp khác nhau rồi trao cho mỗi học sinh một nhiệm
vụ vừa sức với em đó Mỗi học sinh phải tự lực hoàn thành nhiệm vụ riêng của
mình và sẽ thu được sản phẩm riêng
Nếu cả lớp phải giải quyết một nhiệm vụ chung phức tạp thì thầy cô có
thể phân chia nhiệm vụ chung đó thành một số nhiệm vụ nhỏ gọi tên là nhiệm
vụ thành phần, mỗi nhóm học sinh có thể bao gồm các học sinh có trình độ khác nhau cùng giúp nhau hoàn thành một nhiệm vụ thành phần được giao, cuối cùng thầy cô cùng học sinh ráp nối các kết quả thu được từ các nhóm để được kết quả chung
Để nâng cao chất lượng của bài lên lớp thầy cô khó có thể thay đổi mục
đích và nội dung vì đây là phần cứng quy định của chương trình Tuy nhiên lựa chọn và sáng tạo phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng bài lên lớp thì phụ thuộc chủ yếu vào tâm huyết và năng lực của thầy cô
Trang 20d Kết quả của bài lên lớp
Sau một tiết lên lớp với mục đích, nội dung phương pháp mà thầy cô đã thực hiện thì học sinh lĩnh hội được điều gì ? Đó là kết quả của bài lên lớp Kết quả dạy học có bốn trình độ lĩnh hội:
công
1.1.3.5 Mối liên hệ có tính quy luật giữa bốn thành tố ruục đích (M), nội dung(N), phương pháp (P), két qua (K), của bài lên lớp [25] [27] [19]
a Bài lên lớp là một hệ toàn vẹn nên có tính tích hợp:
Tính tích hợp của hệ toàn vẹn là chất lượng mới của hệ được sinh ra từ
sự tương tác theo quy luật của các thành tố tạo nên hệ
Qua các phân tích ở trên ta thấy giữa M- N- P- K có sự liên hệ chặt chẽ trong suốt quá trình thực hiên bài lên lớp Sự phối hợp bốn thành tố này theo quy luật đặc biệt thể hiện bởi tài năng của người giáo viên sẽ làm xuất hiện
một phẩm chất đặc biệt mà trước đó chưa hề có, đó là chất lượng cao thành
công Trực rỡ của tiết học
b Trong hệ toàn vẹn, mối liên hệ giữa các yếu tố là chặt chẽ, sự thay đổi của một yếu tố sẽ dẫn đến sự thay đổi của các yếu tố khác, có khi của cả hệ
Thật vậy, nếu M (mục đích ) của bài lên lớp thay đổi thì kéo theo sự
thay đổi của N, P vào đối tượng dạy học
Trang 21c Sự tương tác giữa các yếu tố sẽ làm hình thành ở hệ chất lượng mới.Chính chất lượng mới này của hệ toàn vẹn lại tác động ngược trở lại đến
từng yếu tố một và làm cải biến tính chất của mỗi yếu tố
Điều này được thấy rõ qua thực tiễn dạy học, sau bài dạy có dự giờ thường có các ý kiến: bài dạy sẽ tốt hơn nếu thay đổi trật tự kiến thức (N) hoặc
thay thí nghiệm minh hoạ bằng thí nghiệm nêu vấn đề (P) hoặc cách đặt câu
hỏi dễ hiểu hơn (đối tượng)
Nó có nguồn gốc là những phương pháp được sử dụng từ xa xưa trong
tôn giáo (giảng giải những tín điều) trong lễ nghi và sau này là những phương
pháp nhận thức khoa học
Có hai dạng thuyết trình cơ bản:
- Thuyết trình thông báo- tái hiện
- Orixttic
a Phương pháp thuyết trình thông báo tái hiện
- Điều kiện cơ bản: tính chất thông báo lời giảng của giáo viên và tính chất tái hiện lời giảng của học sinh
- Mô hình: Đầu tiên giáo viên tác động vào đối tượng nghiên cứu, lần lượt thông báo cho học trò những kết quả tác động, đồng thời giáo viên trực tiếp điều khiển luồng thông tin đến học sinh Còn học sinh trực tiếp nhận các thông tin qua các giác quan nghe nhìn và ghi nhớ
ND |—x>| HS
Trang 22Phương pháp này chỉ cho phép học sinh đạt đến trình độ tái hiện của sự lnh hội Sự hoạt động của trò là tương đối thụ động
- Cấu trúc lôgIc của phương pháp: có 4 loại
+ B1: đặt vấn đề: Giáo viên nêu mục tiêu lớn của bài học
+ B2: Phát biểu vấn đề:
Sau khi thông báo đề tài nghiên cứu thì giáo viên vạch ra câu hỏi cụ thể hơn, khoanh những phạm vi nghiên cứu lại, vạch ra những vấn đề trọng tâm và những vấn đề cơ bản khác Bước này rất quan trọng vì nó tạo ra nhu cầu học tập của học sinh, gây hứng thú và động cơ học tập, đồng thời vạch ra nội dung hay
dàn ý nghiên cứu về mặt khoa học bộ môn
- Diễn dịch: là con đường nhận thức đi từ cái chung khái quát, từ
nguyên lí đến quy luật, đến cái đơn nhất, riêng, cụ thể
* Cả hai cách giải quyết vấn đề lại có ba biến dạng khác nhau: phân tích
- So sánh: trong giảng dạy, môn hóa học người ta thường dùng thuyết trình so sánh tuần tự
Trang 23Bên cạnh đó còn có lôgIc so sánh đối chiếu giúp nêu bật được sự khác biệt, thậm chí sự tương phản hay đối lập trong tính chất của các đối tượng nghiên cứu
B4: Kết luận:
Kết luận là những câu trả lời cô đọng cho những câu hỏi nêu ở BI, B2
b Thuyết trình ơrixitic
- Đặc điểm cơ bản: Giáo viên không trình bày đơn thuần kiến thức ở dạng
có sắn mà còn sắp xếp tài liệu như thế nào để đặt ra những vấn đề, những mâu
thuẫn mà học sinh cần phải giải quyết, sau đó chỉ ra con đường giải quyết vấn đề , piáo viên tự giải quyết các vấn đề đó nhưng khéo léo làm cho học sinh cảm
giác như họ đang tự giải quyết vấn đề, mặc dù không phát biểu ý kiến Chẳng hạn sau khi nêu ra vấn đề giáo viên dừng lại một lúc rồi cho học sinh suy nghĩ rồi
mới giải đáp Mỗi khi giải quyết được vấn đề nhỏ lại xuất hiện một mâu thuẫn
mới đòi hỏi cách giải quyết và từ đó giáo viên nêu ra vấn đề tiếp theo
1.2.1.2 Phương pháp đàm thoại [25] [27]
a Định nghĩa: Là phương pháp trao đổi dưới hình thức trò và thầy,
trong đó thầy đặt ra câu hỏi để trò trả lời, đồng thời có thể trao đổi qua lại giữa
trò với trò và trò với thầy Qua đó trò lĩnh hội được nội dung của bài học
b Các hình thức đàm thoại:
- Đàm thoại tái hiện: Thầy đặt ra những câu hỏi chỉ đòi hỏi trò nhớ lại
và trả lời trực tiếp mà không cần suy luận, chỉ cần trí nhớ đơn giản
- Đàm thoại giải thích- minh họa: Mục đích giải thích làm sáng tö một vấn đề nào đó có kèm theo những thí nghiệm minh họa cho họ lời giải thích,
nội dung giải thích được cấu tạo thành hệ thống câu hỏi lời đáp dễ hiểu và dễ
Trang 24c Cách tổ chức đàm thoại trong qúa trình dạy học:
Có 3 phương án sau:
- Phương án 1: Giáo viên đặt ra hệ thống câu hỏi riêng rẽ rồi chỉ định học sinh trả lời Mỗi học sinh trả lời một câu Kết luận cuối cùng sẽ là tổ hợp các câu hỏi giải đáp:
- Phương án 2: giáo viên đặt ra hệ thống câu hỏi chính có kèm theo gợi
ý có liên quan Thầy giáo sẽ cho học sinh lần lượt trả lời những bộ phận của câu hỏi chính đó Người sau bổ sung hoàn chỉnh cho câu trả lời của người
trước Cứ thế cho đến khi hoàn chỉnh câu trả lời
những ưu điểm, nhược điểm của các ý kiến và đưa ra những kết luận chung đúng đắn
Trang 251.2.1.3 Phương pháp dạy học trực quan [24] [25] [27]
Là phương pháp dạy học có sử dụng các phương tiện trực quan như:
+ Đối tương và quá trình: mẫu các chất, dụng cụ máy móc, thiết bị, các qúa trình vật lý và hóa học
+ Đồ dùng trực quan tạo hình: tranh ảnh, hình vẽ, phim đèn chiếu
+ Tài liệu trực quan tượng trưng: Biểu đồ, sơ đồ
Phương pháp dạy học trực quan có ưu điểm rất nổi bật, đó là kích thích
được hứng thú học tập cũng như khả năng tư duy sáng tạo của học sinh Chính
vì vậy mà hiện nay ở các nước trên thế giới, các phương tiên trực quan đang ngày càng được sử dụng nhiều trong giảng dạy
Trong phương pháp dạy học trực quan thì biểu diễn thí nghiệm hóa học được dùng phổ biến và giữ vai trò quyết định trong quá trình dạy học Tùy theo tính chất nội dung cần nghiên cứu và trình độ lĩnh hội cần đạt tới mà giáo viên nên sử dụng hình thức thí nghiệm trong 4 hình thức sau cho phù hợp nhất
- Hình thức quan sát trực tiếp: Sử dụng khi xem xét tính chất vật lý của các chất Ở đây lời nói của giáo viên có nhiệm vụ chủ yếu là hướng dẫn học
sinh quan sát để rút ra kết luận còn trò thì quan sát và tự lực rút ra kết luận
- Hình thức qui nạp: Sử dụng khi gặp hiện tượng phức tạp đòi hỏi phải
tái hiện những hiểu biết cũ, rồi biện luận thì mới có thể giải thích được
Trong hình thức này trò tự mình giải thích các hiện tượng và đi tới kết
luận Giáo viên chỉ giúp đỡ và hướng dẫn trò giải quyết
- Hình thức minh họa: Đối với hiện tượng đơn giản, giáo viên thông
báo những kết luận sau đó mới biểu diễn thí nghiệm để minh họa cho những
kết luận của mình
- Hình thức diễn dịch: Sử dụng khi nghiên cứu nội dung phức tạp
Nhưng ở đây sau khi học sinh đã hiểu được lời giảng của thầy thì mới biểu
diễn thí nghiệm để xác nhận, minh họa bài giảng đó
Trang 26- Ngoài phương pháp thí nghiệm hóa học là chính thì người ta còn sử dụng thêm cái phương tiện trực quan khác nhằm làm cho bài giảng trở nên sinh động hơn, lôi cuốn học sinh vào vấn đề mà mình đang nói hơn
Chẳng hạn như:
4) Hình vẽ của giáo viên:
Dùng các hình vẽ để mô tả các thí nghiệm không có điều kiện tiến hành được sẽ giúp giảm bớt sự trừu tượng của các hiện tượng hóa học Như vậy hình
vẽ có tác dụng cụ thể hóa bài giảng của giáo viên, giúp học sinh dễ hiểu bài
nên tiết kiệm được thời gian
b) Sử dụng phim đèn chiếu và phim xinê giáo khoa
Sử dụng vào cuối giờ học để chứng minh những điều mà học sinh đã biết hoặc có thể sử dụng ngay khi học bài mới Giáo viên chú ý không nên trình bày cả cuốn phim một lần mà phải trình bày từng ảnh từng đoạn cho phù hợp với nội dung bài dạy
1.2.2 Các phương pháp dạy học hiện đại
Trong phần này chúng tôi sẽ trình bày ngắn gọn một số phương pháp
dạy học hiện đại nhằm hình thành cho học sinh năng lực giải quyết vấn đề
(dạy học nêu vấn đề - orixitic) và phương pháp tư duy khái quát hiện đại (phương pháp dạy học và phương pháp alogrit dạy học
1.2.2.1 Day hoc néu van dé orixitic[25] [19] [6]
- Dạy học nêu vấn đề ơrixitic là tiếp cận lí luận day hoc dang phát triển Đây không phải là một phương pháp duy nhất mà là tổ hợp một phương pháp phức tạp, tức là một tập hợp nhiều phương pháp dạy học liên kết với nhau Trong đó phương pháp xây dựng bài toán ơrixitic giữ vai trò trung tâm chủ đạo gắn bó với phương pháp dạy học khác, tập hợp lại thành một hệ thống toàn vẹn
4a Định nghĩa:
Là một hệ phương pháp dạy học phức hợp có ba đặc trưng cơ bản
Trang 27+ Bao gồm một (hoặc một chuỗi) bài toán nhận thức chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã cho và cái phải tìm được cấu trúc một cách sư phạm làm cho mâu thuẫn mang tinh chat orixitic chứ không phải là tái hiện Đó lài bài toán nêu vấn đề ơrixitic, hạt nhân của phương pháp dạy học này
+ Chính mâu thuẫn orixitic nay của bài toán đã được học sinh tự giác chấp nhận như một nhu cầu bên trong cần phải giải quyết được, lúc đó sẽ đặt
học sinh vào tình huống có vấn đề
+ Trong và bằng cách tổ chức giải quyết bài toán orixitic hoc sinh chiếm lĩnh được cả tri thức, cách thức giải và cả niềm vui sướng của sự phát hiện
b Bài toán ørtxtic là gì:
Qua nghiên cứu và phân tích chúng ta hiểu được rằng tình huống có vấn
đề xuất hiện khi chứa đựng mâu thuẫn nhận thức và mâu thuẫn đó phải kích thích được tính tò mò thích khám phá của học sinh Như vậy muốn xây dựng
một bài toán nêu vấn đề ơrixitic thì cần thỏa mãn các đặc điểm sau:
+ Xuất phát từ cái quen thuộc, vừa sức đối với học sinh, không dễ quá, cũng không khó quá
+ Không có đáp số chuẩn bị sẵn, tức là nó phải chứa đựng chướng ngại nhận thức mà người giải không thể giải được bằng kiến thức cũ
+ Muốn vậy, mâu thuẫn chủ chốt của bài toán mang tính orixitic, kích thích sự tìm tòi, phát hiện của học sinh, đặt học sinh vào tình huống có vấn đề Nghĩa là phải cấu trúc lại bài toán mâu thuẫn của bài toán sao cho nó mang tính ơrixitic Đây là đặc điểm quan trọng nhất
- Những cách thức cơ bản xây dựng tình huống có vấn đề trong hóa học Thực tiễn đã chứng minh rằng trong chương trình hóa học chứa đựng
vô vàn những tài liệu quý báu để mỗi giáo viên có thể chuyển thành bài toán
Orixitic
Có 4 kiểu cơ bản xây dựng tình huống có vấn dé trong môn hóa học
Trang 28* Tình huống nghịch lí: Tình huống đưa ra vô lý ngược đời không phù hợp với những nguyên lí đã được công nhận
* Tình huống bế tác: Đó là vấn đề đưa ra tưởng chừng không thể giải
quyết bằng lí thuyết đương thời
Hai tình huống này tuy khác nhau nhưng cùng chung nguồn gốc, biểu
hiện nên ta có thể đồng nhất
* 'Tình huống lựa chọn: Mâu thuẫn xuất hiện khi học sinh đứng trước
một sự lựa chọn vừa éo le, khó khăn cả về tâm lí lẫn kỹ thuật giữa hai hay nhiều phương án giải quyết bắt buộc học sinh phải chọn một phương án duy nhất
* Tình huống nhân quả- tại sao: tình huống đặt ra cho học sinh tìm được nguyên nhân, kết quả, động cơ hành động, nguồn gốc hiện tượng Học sinh phải vận dụng kiến thức để giải thích hiện tượng hóa học và tính huống này
xuất hiện do mẫu thuẫn giữa lí thuyết và thực tiễn
c Vận dụng dạy học nên vấn đề trong thực tiễn sự phạm
* Tinh chat đa năng của dạng học nêu vấn dé orixitic
Dạy học nêu vấn đề orixitic là một phương pháp dạy học phức hợp, đa năng nghĩa là áp dụng vào mọi phương pháp dạy học khác Về mặt bản chất đây là một tiếp cận phương pháp luận, đồng thời lại là phương pháp về mặt kỹ thuật
* Mức độ ứng dụng
+ Dạy học nêu vấn đề có thể áp dụng trọn vẹn theo công nghệ, theo qui trình riêng của nó, lúc đó nó có tác dụng như một phương pháp dạy học Đây
là mức độ tối đa
+ Nó cũng có thể xâm nhập vào các phương pháp dạy học khác nếu như
ta thay các câu hỏi tái hiện ở các phương pháp đó bằng các câu hỏi orixitic,
được thiết kế theo cách thức đã nêu Lúc đó ta sẽ có phương pháp thuyết trình orixitic, dam thoai orixitic
Trang 291.2.2.2 Phuong phap Grap day hoc [6] [25] [27]
a Cơ sở khoa học
Nguyễn Ngọc Quang đã chọn phương pháp của toán học để chuyển hóa
thành phương pháp dạy học hóa học thông qua xử lý sư phạm theo công thức
+ Grap vừa trừu tượng, khái quát cao lại vừa cụ thể trực quan do đó có
ưu thế tuyệt đối trong việc mô hình hóa cấu trúc của các hoạt động
b Bản chất của phương pháp dạy học
* Biến nội dung dạy học thành grap nội dung dạy học và đỉnh là những kiến thức chủ chốt, cũng biểu thị mối liên hệ dẫn xuất giữa các kiến thức chủ chốt tức là theo lôgic phát triển của nội dung
Nội dung dạy học có thể là:
+ Một khái niệm, định luật hay học thuyết
+ Một bài lên lớp
+ Một bài toán (gồm cả đầu bài lẫn phép giải)
* Sau khi đã xây dựng được grap của nội dung, chúng ta sử dụng nó để dạy học Nó vừa là phương pháp lại vừa là mục đích dạy học Sơ đồ sau đây nói lên nguyên tắc của việc sử dụng phương pháp Grap dạy học
* Phương pháp Grap dạy học sẽ giúp học sinh có khả năng nắm vững nội dung dạy học một cách nhanh chóng và sâu sắc hơn so với khi sử dụng các phương pháp dạy học cổ truyền Không những thế nó còn rèn luyện cho học sinh kỹ năng sử dụng phương pháp Grap tự học (đọc và dịch Grap nội dung, tự mình lập Grap nội dung) Chính vì vậy mà phương pháp Grap dạy học đang càng ngày được đánh giá cao trong giảng dạy
Trang 30c Đặc điểm của phương pháp Grap
- Là phương pháp học xuất phát từ phương pháp khoa học riêng rộng
nên có các đặc điểm nổi bật sau:
+ Có tính khái quát và chuyển tải cao
+ Có tính ổn định (entropy thấp) vì xuất xứ từ những phương pháp khoa
học ổn định
+ Phương pháp khoa học tạo ra đồng thời cả phương pháp dạy và phương pháp học Có qui trình thực hiện đồng nhất với nhau, do đó làm cho hiệu quả của từng phương pháp (dạy và học) được tăng cường lên Ta nói rằng trong trường hợp này phương pháp dạy và phương pháp học cộng hưởng với nhau
1.2.2.3 Phương pháp Algortt dạy hoc[25] [27] [6]
Nếu grap cho phép mô tả cấu trúc hoạt động thì algorit cung cấp phương tiện điều khiển hoạt động Phương pháp algorit là một phương pháp hiện đại có thể đưa những thành tựu mới nhất của khoa học — kỷ thuật vào thực tiễn bài học Chính vì thế mà việc chuyển hóa phương pháp algorit của bài toán xibecnetic thành phương pháp algorit dạy học là một điều kiện rất quan trọng và cần thiết
a Khai niém Algorit
Là bản ghi chính xác tường minh tập hợp những thao tác sơ đẳng đơn trị, theo một trình tự nhất định (tùy mỗi trường hợp cụ thể) để giải quyết bất
kì vấn đề nào thuộc cùng một loại hay một kiểu
Những năm gần đây, ở các trường học bắt đầu sử dụng phương pháp algorit dạy học Vì đây là một phương pháp dạy giúp học sinh phát triển tư duy khái quát, hợp lí và có kế hoạch
b Hai kiéu Algorit day hoc
- Algorit nhận biết: là loại algorit dẫn tới kết quả và sự phán đoán kiểu xeA Với x là đối tượng nhận biết, A là một loại nào đó
Ví dụ: Có một số chất với những công thức phân tử tương ứng sau:
Trang 31Zn0, HN0,, H;0, 0,, Na0H Hãy dựa vào công thức hóa học nhận biết xem chất nào thuộc loại ox1t?
Căn cứ vào grap nội dung của định nghĩa khái niệm algorit ta có thể biên soạn được algorit nhận biết oxit dựa vào công thức phân tử Nó có dạng thành văn hoặc dạng sơ đồ bloc
- Algorit biến đổi: Tất cả những algorit không phải là algorit nhận biết
thì đều là algorit biến đổi
Ví dụ: algorit giải toán hóa học
Trong một algorit biến đổi có thể chứa đựng những thao tác (thậm chí
cả algorit) nhận biết Ngược lại, một algorit nhận biết có thể bao gồm những
thao tác (hoặc algorit) biến đối
c Ba khái niệm cơ bản của tiếp cận Algorit
Lí luận dạy học muốn chuyển hóa phương pháp algorit của toán Xibecnetu thành phương pháp algorit dạy học thì cần phân biệt 3 khái niệm sau:
- Mô tả algorit: Trước hết cần phát hiện ra cấu trúc của hoạt động và
mô hình hóa cấu trúc đó
Ví dụ: Mô tả algorit giải bài toán bằng Grap
- Bản ghi algorit: Có một chức năng điều khiển đó là điều khiển quá
trình giải bài toán Bản ghi algorit cho ta biết phải hành động như thế nào, theo lôgic nào, bắt đầu từ đâu và đi qua những bước như thế nào Từ đó ta
phân chia thành những công đoạn, những thao tác sơ đẳng của quá trình giải
các công đoạn và thao tác lại được biên soạn thành các bước dưới dạng những mệnh lệnh sơ đẳng, đơn trị theo một trình tự xác định
Ví dụ: Algorit giải bài toán: Phải phân chia bài toán thành các bước cụ
thể và giải bài toán theo các bước đó
- Quá trình algorit của hoạt động
Cuối cùng dựa trên sự hướng dẫn khách quan của bản ghi Algorit, người giải bài toán chỉ việc chấp hành chính xác những mệnh lệnh trong bản đó và
Trang 32đi tới kết quả một cách chính xác nhất Đó chính là quá trình Algorit của hoat động, hay quá trình hoạt động theo Algorit
d Những nét đặc trưng cơ bản của Aleorit dạy học
- tính xác định
Những mệnh lệnh trong thao tác algorit phải đơn trị nghĩa là hoàn toàn xác định Nội dung ngắn gọn, dễ hiểu Ngoài ra mệnh lệnh phải tương ứng với những thao tác dạy học sơ đẳng, ai cũng thực hiện được đúng, dễ dàng và như nhau
- Tính đại trà
Người ta chỉ algorit hóa những hoạt động lặp đi lặp lại nhiều lần, phổ biến, mang tính đại trà, thuộc cùng một thể loại nào đó như giải bài toán, thí nghiệm
- Tính hiệu quả
Tính chất algorit là đối cực với tính chất ơrixtic Sự tìm tòi phát hiện ra cái mới, trong tình huống chưa quen biết, bao giờ cũng đòi hỏi một sự sáng tạo
có thể thành công hoặc thất bại Còn algorit chắc chắn chỉ dẫn tới thành công
vì algorit là mô hình cấu trúc đã biết của hoạt động là bản ghi các mệnh lệnh
thao tác để thực hiện, là quá trình triển khai chính xác các mệnh lệnh đó
Như vậy một người giáo viên nếu dạy được cho học sinh chiếm Ĩnh tri thức hoá học theo con đường algorit có nghĩa là đã góp phần hóa đắc lực vào việc thực hiện mục tiêu đào tạo phát triển toàn diện cho học sinh
Algorit hóa quá trình dạy học hóa học có nghĩa là được đổi mới về chất lượng phương pháp dạy học theo tư tưởng xIbecnetic, đúng hướng của công nghệ dạy học hiện đại, đưa những thành tựu mới nhất của khoa học —
kỹ thuật vào thực tiễn dạy học
1.2.3 Nhận xét
Trên đây là hệ thống các phương pháp dạy học truyền thống và các
phương pháp dạy học hiện đại Mỗi phương pháp cụ thể đều có những ưu điểm
và nhược điểm Để nâng cao hiệu quả dạy học, một trong những biện pháp
Trang 33quan trọng là phối hợp mặt tích cực của các phương pháp dạy học truyền thống với mặt mạnh cũng như tính khả thi của các phương pháp dạy học đang phát triển Qua đó tác động đến quá trình nhận thức của các trình độ học sinh: yếu- trung bình- (khá- g1ỏ1) , làm cho học sinh chủ động tiếp thu kiến thức, rèn luyện cách phát hiện và giải quyết vấn đề trong học tập, rèn luyện tư duy khái quát từ dễ đến khó
1.3 CÁC YẾU TỐ CHI PHỐI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRONG BÀI GIẢNG HÓA HỌC [6] [19] [25] [27]
Hiệu quả bài giảng hóa học chịu sự tác động trực tiếp của phương pháp dạy học nhưng phương pháp dạy học lại phụ thuộc vào các yếu tố: Mục đích, nội dung và đối tượng dạy học Sau đây, chúng ta xét các mối quan hệ đó 1.3.1 Mục đích dạy học
Mục đích dạy học nói chung như đã trình bày ở chương I (mục 1.3.4.1)
là các mục đích: Trí dục, phát triển, giáo dục Đối với từng bài học, mục đích
dạy học cũng được cụ thể hơn là:
a Kiến thức
Đó là những kiến thức mà học sinh cần phải nắm vững sau một tiết học
Và đây cũng chính là mục tiêu đầu tiên mà người giáo viên nào cũng phải xác định được Đó là những hiểu biết bản chất nhất, mấu chốt nhất của bài giảng mà học sinh buộc phải biết để từ đó suy ra những kiến thức khác Bên cạnh đó còn có những kiến thức cơ bản cần biết và có thể biết Tùy theo mục đích cần truyền thụ cho học sinh cũng như dạng nội dung của bài dạy mà kiến thức cơ bản đựơc chia theo các mức độ truyền thụ như sau:
Trang 34+ Nhớ: là dạng kiến thức chỉ đòi hỏi người học phải học thuộc, và phải nhớ Đó là các tiểu sử của các nhà bác học, sự ra đời của các nguyên tố hóa học, tính chất vật lý của các chất
Vì đặc điểm chỉ cần nhớ nên khi truyền thụ phần kiến thức trên giáo
viên sử dụng phương pháp thuyết trình thông báo, diễn giải hoặc kể chuyện Ngoài ra có thể sử dụng thêm phương pháp làm việc độc lập đối với sách giáo khoa của học sinh (giáo viên sẽ dùng phương pháp này khi nghiên cứu trạng thái tự nhiên của các nguyên tố và hợp chất của chúng, ứng dụng của các chất nghiên cứu )
+ Hiểu: Đây là kiến thức yêu cầu học sinh phải hiểu rõ được nội dung
của vấn đề mà mình đang nghiên cứu Tức là phải hiểu sâu mọi mặt của vấn
đề đó Với dạng kiến thức này nếu học sinh chi hoc “ vet” hoac đơn thuần chỉ
là hiểu một cách đơn giản thì chỉ sau một thời gian ngắn các em sẽ quên ngay phần kiến thức mà các em đã được học, vì vậy kiến thức thuộc phần này là tính chất hóa học, cấu tạo của các chất
Khi giảng dạy đối với dạng kiến thức cần phải “ hiểu” này giáo viên nên sử dụng phương pháp đàm thoại tái hiện, đàm thoại giải thích minh họa và thậm chí có thể sử dụng phương pháp thuyết trình thông báo diễn giải
+ Vận dụng: Có nghĩa là dựa vào các kiến thức cơ bản mà thầy cô đã truyền thụ cho các em, các em sẽ vận dụng một cách linh hoạt vào các bài tập, các ví dụ cụ thể, chẳng hạn như khi học xong bài “ Hệ thống tuần hoàn” từ vị trí của nguyên tố, dựa vào định luật tuần hoàn, học sinh đi tới kết luận về tính chất của các nguyên tố
Trang 35Thí dụ 1: Biết nguyên tố thứ tự là 19 thuộc chu kì 4, nhóm IA có thể suy ra:
Nguyên tử của nguyên tố đó có 19 proton, 19 electron, có 4 lớp electron (vì số lớp electron bằng số thứ tự của chu kì), có 1 electron ở lớp ngoài cùng (vì số electron lớp ngoài cùng bằng số thứ tự của nhóm A) Đó là nguyên tố Kali
Thí dụ 2: Biết cấu hình electron nguyên tử của một nguyên tố là
1S725“2p”35”3p” có thể suy ra:
Tổng số electron của nguyên tử nguyên tố đó là 1ó, vậy nguyên tố đó chiếm ô thứ 16 trong bảng tuần (vì nguuyên tử có 16 electron, 16 proton, số đơn vị điện tích hạt nhân là 16 bằng số thứ tự của nguyên tố trong bảng tuần
Như vậy khi truyền thụ kiến thức này, học sinh không chỉ biến các kiến thức
đó thành kiến thức của mình mà quan trọng hơn hết là biết sử dụng nó một cách linh hoạt vào các bài tập cụ thể Muốn vậy người thầy giáo phải biết hướng dẫn cho học sinh đi theo con đường suy diễn hoặc qui nạp
+ Sáng tạo: Xã hội ngày càng phát triển, chính sự đi lên của thời đại đã đặt ra cho ngành giáo dục nước nhà một vấn đề cấp bách: phải đào tạo được những con người mới, có đầu óc sáng tạo và khả năng tư duy tốt Bởi vậy nhiệm vụ quan trọng nhất của mỗi người thầy giáo là phải biết nâng cao tính độc lập sáng tạo của học sinh hay nói một cách khác là phải biết “ khơi
nguồn” để khả năng sáng tạo của các em phát triển một cách tối đa
Vì vậy để có thể hình thành và phát triển tính cực sáng tạo của học sinh
thì người thầy giáo cần phải là “một đạo diễn tài ba”, khi sử dụng các phương pháp dạy học tức là bên cạnh sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề là cơ bản thì cần phải biết phối hợp nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học khác
Trang 36như thuyết trình, chứng minh với sự hỗ trợ đắc lực của các phương tiện kỹ thuật và thiết bị dạy học
b Kỹ năng
Kỹ năng là khả năng thực hiện một cách hợp lý những hành động trí tuệ và hành động chân tay trong những tình huống đã được thay đối
Kỹ năng hóa học bao gồm:
+ Kỹ năng tiến hành thao tác thí nghiệm
+ Kỹ năng quan sát và giải thích hiện tượng
+ Kỹ năng sử dụng hóa chất
+ Kỹ năng lập thí nghiệm và thiết kế thí nghiệm
+ Kỹ năng vận dụng kiến thức giải quyết các vấn đề thực tiễn
+ Kỹ năng tổ chức thí nghiệm
Thông qua bài dạy giáo viên sẽ rèn luyện cho học sinh các kỹ năng, kỹ xảo sau: Biết phân tích, quan sát và giải thích các hiện tượng thí nghiệm, biết vận dụng các kiến thức hóa học vào các bài tập cụ thể, sử dụng các thao tác thực nghiệm của hóa học
phải thực hiện một cách chuẩn xác và khoa học
- Kỹ năng lập công thức, cân bằng phương trình hóa học Sử dụng phương pháp đàm thoại gợi mở (nêu các câu hỏi dẫn dắt để học sinh trả lời)
chẳng hạn như: xác định số ôxi hóa, sau đó tiến hành cân bằng
- Kỹ năng giải bài tập hóa học
Sử dụng phương pháp thuyết trình+ đàm thoại+ việc hoạt động độc lập
sáng tạo của học sinh để tổng quát thành các dạng bài tập hóa học cụ thể
Trang 37Ra các bài tập liên quan đến kiến thức vừa truyền thụ để học sinh luyện tập Qua các bài tập đó, học sinh có cơ hội tái tạo lại kiến thức sách giáo khoa
và biến nó thành kiến thức của mình và áp dụng các kiến thức đó vào các
trường hợp cụ thể một cách linh hoạt và nhuần nhuyễn
c Phát triển tư duy
Hóa học là một môn học thực nghiệm có lập luận nên có rất nhiều khả năng trong việc phát triển những năng lực nhận thức cho học sinh Nếu như người giáo viên biết tổ chức dạy và học môn hóa học một cách đúng mức Như vậy qua các bài giảng hóa học mà giáo viên có thể rèn luyện các thao tác
tư duy cho học sinh khi phân tích, so sánh, khái quát, trừu tượng hóa Hay nói một cách khác là nhằm phát triển tư duy cho học sinh
Chẳng hạn khi nghiên cứu các khái niệm, những định luật, học thuyết
hóa học, sẽ có vai trò to lớn trong việc phát triển tư duy lôgic biện chứng, những năng lực khái quát hóa và trừu tượng hóa cho học sinh Bên cạnh đó việc sử dụng các phương tiện trực quan và thí nghiệm để nghiên cứu tính chất
và những biến đổi hóa học buộc học sinh phải huy động tất cả các giác quan cảm thụ , nhờ đó mà các giác quan này được rèn luyện và phát triển tức là phát
triển khả năng tư duy
Ví dụ: So sánh tính chất của chất vừa học (axit H,S0, và HCI, so sánh
flo với clo, brom va iot)
=> giáo viên sé sử dụng phương pháp đàm thoại, qua đó học sinh sẽ rèn luyện được các thao tác tư duy: so sánh đối chiếu và tuần tự
+ Từ đặc điểm của một chất -> hóa học -> ứng dụng Giáo viên sẽ dùng phương pháp grap dạy học tức là grap hóa bài cần dạy theo một sơ đồ grap
+ Muốn hình thành khái niệm có tính chất trừu tượng như (phân tử, nguyên tử, ion, electron ) thì phải sử dụng những mô hình cụ thể, qua đó nên luyện cho học sinh kỹ năng tư duy trừu tượng và đầu óc tưởng tượng ĐI từ các hiện tượng đến bản chất, từ các dấu hiệu quan sát bên ngoài (màu, mùi, trạng
Trang 38thái) suy ra những biến đổi bên trong thuộc bản chất của hóa học (phân tử,
trao đổi electron của nguyên tử hay ion )
d Thái độ
Hóa học với tư cách là hệ thống những kiến thức về chất và những biến
hóa về chất đã góp phần đắc lực vào sự phát triển của nền kinh tế quốc dân
Không những thế hóa học góp một phần không nhỏ vào việc hình thành thế giới quan duy vật tiến bộ, đồng thời hình thành ở học sinh lòng yêu nước, yêu lao động và hoàn thành nhân cách toàn diện cho học sinh Bên cạnh đó giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho họ sinh cũng như nêu lên tầm quan trọng của các chất có ứng dụng trong thực tiễn cuộc sống và trong công nghiệp
Để có thể thực hiện tốt mục đích giáo dục tư tưởng cho các em học sinh
trong mỗi bài giảng hóa học thì người giáo viên nên sử dụng phương pháp thuyết trình hay kể chuyện (trần thuật) với điệu bộ và giọng nói có sức lôi cuốn người học
1.3.2 Nội dung dạy học
Cũng như đã trình bày ở chương I (mục 13, 14) Nội dung dạy học bộ môn hóa học gồm các kiểu kiến thức: Kiến thức lý thuyết về các đối tượng nghiên cứu của hóa học và về các cách nghiên cứu, kiến thức về kinh nghiệm thực hiện các cách thức hoạt động, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo, thái độ đánh giá Bây giờ ta sẽ xem xét với từng loại nội dung như thế thì phải sử dụng những phương pháp nào là phù hợp và có hiệu quả
a) Kiến thức lí thuyết về thế giới
Hóa học là một môn khoa học cơ bản nên có thể nói hóa học là một trong những cơ sở của nội dung học vấn phổ thông Không những thế hóa học còn nhằm hình thành ở học sinh năng lực nhận thức thế giới, và chỉ trong điều kiện đó mới có thể hình thành ở các em bức tranh chân thực của thế giới, là cơ sở của thế giới quan khoa học
Trang 39* Hệ thống kiến thức về thế giới bao gồm
- Kiến thức về các khái niệm: chất xúc tác, cấu tạo nguyên tử, phân tử,
độ âm điện, hóa trị , hay các định luật (như định luật tuần hoàn ) và học thuyết (thuyết cấu tạo Electron )
Đây là những khái niệm của học thuyết mới vì vậy giáo viên nên sử dụng phương pháp nghiên cứu để kích thích tính độc lập, tính tích cực sáng tạo của học sinh Muốn vậy giáo viên cần phải gây được hứng thú học tập của học sinh, tức là giáo viên sẽ hướng dẫn cho học sinh xây dựng giả thuyết
Ngoài ra nên sử dụng thí nghiệm hóa học thep phương pháp nghiên cứu Khi sử dụng thí nghiệm này cần hướng dẫn học sinh quan sát và gợi ý
để học sinh tự rút ra được kiến thức mới Cần khai thác triệt để các hiện
tượng quan sát được trong thí nghiệm để khắc sâu kiến thức cho học sinh
Bên cạnh đó, giáo viên nên đưa ra các bài tập cụ thể nhằm hệ thống hóa các kiến thức mang tính trừu tượng đó vì qua việc giải các bài tập sẽ
giúp học sinh củng cố và nhớ lâu hơn các kiến thức
Như vậy bên cạnh phương pháp chủ đạo là phương pháp nghiên cứu, phương pháp trực quan (mô hình + thí nghiệm) thì tùy vào các kiến thức cụ
thể mà giáo viên có thể sử dụng thêm các phương pháp khác như phân tích
giải thích, chứng minh, suy diễn, qui nạp, đàm thoại
+ Đối với kiến thức về khái niệm chất và nguyên tố hóa học giáo viên nên sử dụng phương pháp giải thích, chứng minh nhằm làm nổi bật lên vấn
+ Dinh luật tuần hoàn và hệ thống tuần hoàn dùng phương pháp loại suy
để giải quyết những khái niệm cụ thể sau đó sử dụng phương pháp qui nạp từ
các nội dung trên
Tăng cường các loại bài tập theo ba vấn đề sau:
- Biết vị trí của một nguyên tố trong bảng HT TH suy ra cấu tạo nguyên
tử và tính chất hóa học cơ bản
Trang 40- Dựa vào các quy luật biến đổi tính chất của các nguyên tố so sánh tính chất hóa học với các nguyên tố khác
- Dự đoán tính chất hóa học của một nguyên tố chưa biết trên cơ sở vị trí của chúng
+ Khái niệm số Oxy hoá: sử dụng phương pháp suy diễn
+ Khái niệm liên kết hóa học: Đối với các loại liên kết cụ thể từ đặc
điểm liên kết của các nguyên tố cụ thể để hướng dẫn học sinh trình bày sơ đồ
liên kết sau đó phát biểu định nghĩa hay bản chất của liên kết Tức là giáo viên
sẽ phối hợp cả hai phương pháp là suy diễn và qui nạp
+ Khái niệm phản ứng hóa học: Đây là giai đoạn đầu cho việc tiếp thu khái niệm hóa học nên giáo viên sử dụng phương pháp qui nạp kết hợp với sử
dụng thí nghiệm đơn giản để học sinh có thể dễ nhận biết, đễ phân biệt
+ Khái niệm phản ứng thuận nghịch: Giáo viên cần nhấn mạnh rằng điều kiện phản ứng thuận nghịch là phản ứng xảy ra theo hai chiều trong cùng một điều kiện, giáo viên nên sử dụng thí nghiệm nghiên cứu và đàm thoại nêu
vấn đề
+ Khái niêm dung dịch, điện ly: Giáo viên sử dụng phương pháp trực quan (thí nghiệm nghiên cứu) kết hợp với việc ra các loại bài tập thực nghiệm
và bài tập định tính
+ Khái niệm axi(- bazơ, độ pH, khái niệm lưỡng tính: ở giai đoạn này
học sinh đã tiếp thu một khối lượng kiến thức lí thuyết chủ đạo để làm cơ sở
sol sáng cho các khái niệm trên nên giáo viên sẽ phối hợp các phương pháp
trực quan, đàm thoại- nêu vấn đề
- Tiểu sử các nhà hoá học
Đối với dạng kiến thức này giáo viên nên sử dụng phương pháp kể
chuyện có bổ sung những thành tựu mới trong khoa học kỹ thuật, những đổi mới trong đời sống và xã hội