1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Vận dụng lý thuyết về sự khác biệt của cá nhân vào giải quyết các tình huống quản lý tâm lý của tổ chức mình

11 736 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 49,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vận dụng lý thuyết về sự khác biệt của cá nhân vào giải quyết các tình huống quản lý tâm lý của tổ chức mình BÀI LÀM Sự khác biệt trong mỗi cơ quan, tổ chức dẫn đến những xung đột, mâu t

Trang 1

Vận dụng lý thuyết về sự khác biệt của cá nhân vào giải quyết các tình huống quản lý tâm lý của tổ chức mình

BÀI LÀM

Sự khác biệt trong mỗi cơ quan, tổ chức dẫn đến những xung đột, mâu thuẫn là điều không thể tránh khỏi Trong những khác biệt đó có những khác biệt có thể tạo ra được những nét mới đặc sắc góp phần phát triển và nâng cao vị thế của cơ quan, tổ chức, song cũng có những khác biệt tạo ra những mâu thuẫn, xung đột ảnh hưởng xấu đến chất lượng và hiệu quả của một tổ chức Điều quan trong là chúng ta biết tìm ra được những hướng khắc phục phù hợp trên cơ sở tôn trọng những khác biệt có thể chấp nhận được vì lợi ích chung của đơn vị

I LÝ THUYẾT SỰ KHÁC BIỆT CỦA CÁ NHÂN

TRONG TỔ CHỨC

1 Hai chiều khác biệt cá nhân

1.1 Chiều thứ nhất (sơ cấp): là những khác biệt cá nhân

ảnh hưởng quan trọng đến sự xã hội hóa từ lúc còn nhỏ của chúng ta và có ảnh hưởng mạnh mẽ và ổn định xuyên suốt các giai đoạn của cuộc đời Chiều sơ cấp bao gồm:

Trang 2

a Tuổi tác

b Định hướng, giới tính

c Giới

d Khả năng và đặc điểm thể chất/tinh thần

e Chủng tộc

f Truyền thống dân tộc

1.2 Chiều thứ hai (thứ cấp): bao gồm những đặc điểm cá

nhân mà con người có được, loại bỏ hay biến đổi trong cuộc đời của mình Chiều thứ cấp bao gồm:

a Tiếng mẹ đẻ

b Giáo dục

c Kinh nghiệm quân ngũ

d Tôn giáo

e Phong cách làm việc

f Phong cách giao tiếp

g Thu nhập

h Kinh nghiệm công tác

i Tình trạng gia đình

k Nơi cư trú

l Vai trò, địa vị xã hội trong tổ chức

Trang 3

2 Tự ý thức: Tôi và cái tôi trong tổ chức

- Tự ý thức: sự tự nhận thức của cá nhân về bản thân mình như một thực thể tinh thần, xã hội và thể chất

- Nhận thức: Tri thức, ý kiến hoặc niềm tin của một

cá nhân về môi trường, về bản thân hoặc về hành vi của mình

- Tự tôn trọng: niềm tin của cá nhân về sự tự xứng đáng/ đánh giá của chính mình dựa trên sự tự đánh giá toàn diện về bản thân

- Tự tôn trọng bên trong tổ chức: giá trị tự nhận thức được mà cá nhân có về bản thân mình với tư cách thành viên của một tổ chức và đang hoạt động trong bối cảnh của tổ chức đó

- Tự hiệu quả: niềm tin của cá nhân vào khả năng của mình trong việc hoàn thành một nhiệm vụ

- Tự điều chỉnh: quan sát hành vi của bản thân mình

và khiến hành vi đó thích nghi với hoàn cảnh, tình huống

3 Nhân cách: Sự kết hợp các đặc trưng ổn định về thể

chất và tinh thần của một cá nhân, cho phép mỗi người có được bản sắc riêng của mình, Những đặc trưng hoặc nét

Trang 4

tính cách này bao gồm việc mỗi người nhìn nhận, suy nghĩ, hành xử và cảm xúc như thế nào – là sản phẩm của

sự ảnh hưởng tương tác qua lại giữa di truyền và môi trường

5 chiều nhân cách với thể hiện tích cực

1 Tính hướng ngoại Thân mật, thoải mái, ưa

chuyện; dễ chan hòa; quyết đoán

2 Tính dễ chịu Tin người; hiền hòa; đôn

hậu

3 Tính có ý thức Tin cậy được; có trách

nhiệm, có định hướng thành công; kiên trì

4 Tính ổn định cảm xúc Thanh thản, thoải mái; yên

tâm; không lo âu hồi hộp

5 Tính cởi mở đối với sự

trải nghiệm

Có trí thông minh, có óc tưởng tượng ham hiểu biết;

tư duy thoáng

Trang 5

4 Thái độ và hành vi

- Thái độ: thiên hướng/bẩm chất có được phản ánh lại theo cách tích cực hoặc không tích cực có tính nhất quán đối với một đối tượng nhất định

- Thái độ và giá trị: Giá trị biểu hiện niềm tin có tính tổng thể tác động đến hành vi xuyên suốt mọi tình huống còn thái độ ảnh hưởng, tác động đến hành vi chỉ đối với những tình huống, con người, đối tượng cụ thể

- Thái độ được chuyển thành hành vi thông qua dự định hành vi

- Niềm tin ảnh hưởng đến thái độ: hệ thống niềm tin của một con người là một biểu tượng tinh thần về môi trường xung quanh con người đó, gắn bó chặt chẽ với quan hệ nhân quả

Niềm tin là kết quả của quan sát trực tiếp và những suy diễn từ các quan hệ đã biết trước đó

Niềm tin ảnh hưởng đến thái độ: một con người sẽ có thái

độ tích cực hoàn tất một hành vi khi họ tin rằng hành vi đó

sẽ dẫn đến kết quả tích cực

Trang 6

Mối quan hệ giữa niềm tin và thái độ: không quá mạnh mẽ hoặc quá chặt chẽ, vì niềm tin có thể thay đổi khi môi trường, hoàn cảnh thay đổi

- Niềm tin ảnh hưởng đến chuẩn mực khách quan: Chuẩn mực khách quan: áp lực xã hội mà cá nhân nhận thức được khi hoàn thành một hành vi cụ thể Chuẩn mực khách quan như một đòi hỏi/niềm tin rằng một con người phải hoàn thành hay không nên hoàn thành một hành vi nào đó

5 Khả năng và thành quả

- Khả năng: đặc trưng rộng và bền vững của con người hướng tới đạt được thành quả tối đa cả về phương siện thể chất lẫn tinh thần

- Kĩ năng: năng lực cụ thể, chuyên biệt khi thao tác với những sự vật, hiện tượng nhất định

6 Trí thông minh và khả năng nhận thức

- Trí thông minh thể hiện năng lực cá nhân trong tư duy kiến tạo, lập luận và giải quyết vấn đề

- 7 khả năng tinh thần cơ bản làm nền tảng cho thành quả hoạt động:

Trang 7

+ Hiểu ngôn ngữ.

+ Lưu loát ngôn ngữ

+ Tính toán nhanh

+ Xác định không gian tốt

+ Ghi nhớ sâu

+ Nhận biết nhanh

+ Lập luận quy nạp tốt

7 Cảm xúc

Phức hợp những phản ứng của con người trước những thành tựu hoặc những cản trở của mình

Các cảm xúc tích cực và tiêu cực:

Tội lỗi/xấu hổ

Đố kỵ/ghen tức

II TÌNH HUỐNG XUNG ĐỘT CÁ NHÂN VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT

* Tình huống xung đột

Trang 8

Trong cơ quan công tác của tác giả đã và đang có những

sự khác biệt và xung đột và nhiều khi ảnh hưởng đến chất lượng công việc và bầu không khí của cơ quan Đó là trường hợp của đồng chí Phó bí thư Đoàn thanh niên của nhà trường Đây là một đồng chí có chuyên môn tốt, có khả năng tổ chức và dẫn chương trình tốt trong các ngày

lễ, chương trình ngoại khóa chuyên đề của cơ quan Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ đồng chí này thường có thói quen

và cũng có thể hơi quá tự tin về khả năng dẫn dắt chương trình của mình nên gần như không bao giờ chuẩn bị trước hoặc không chu đáo cho công việc đó của mình, một đặc điểm nữa là trong nhiều trường hợp khi được góp ý dù đúng hay sai đồng chí này cũng phải phản đối lại Chính

vì thói quen đó đã dẫn đến những thiệt thòi trong công việc và một sai lầm khá đáng tiếc đã xảy ra trở thành sự mâu thuẫn lớn giữa hiệu trưởng và đồng chí này trong lễ khai giảng năm học trước Cụ thể, năm học 2009 – 2010 trường vinh dự được đón danh hiệu “lá cờ đầu” trong khối các trường THPT của tỉnh, trong lễ khai giảng hôm đó nhà trường được đón các đồng chí lãnh đạo của Tỉnh, Sở Giáo

Trang 9

dục và Đào tạo, UBND huyện và các ban ngành đoàn thể trong tỉnh Mặc dù đã được chuẩn bị về kịch bản cho lễ khai giảng nhưng do chủ quan không chuẩn bị và cũng không xem trước nên sai xót đã xảy ra ngay từ phần giới thiệu đại biểu, tiếp đến là những sai xót trong khâu tổ chức chương trình làm rối loạn chương trình lễ khai giảng

và để lại một ấn tượng không tốt trong lòng đại biểu tới

dự Sau lễ khai giảng Hội đồng nhà trường đã tiến hành họp và rút kinh nghiệm, trong đó có nội dung thầy hiệu trưởng phê bình đồng chí Phó bí thư Đoàn thanh niên – người làm công tác tổ chức Tuy nhiên, đồng chí này không những không thừa nhận khuyết điểm mà còn cãi lại

và bảo vệ ý kiến của riêng mình đồng thời còn chỉ ra rằng khi còn làm hiệu phó thầy hiệu trưởng cũng đã bị thầy nguyên hiệu trưởng phê bình do làm công tác tổ chức không tốt trong lễ kỉ niệm Ngày nhà giáo Việt Nam 20 –

11 Và đến đây không khí buổi họp trở nên vô cùng căng thẳng và buổi họp kết thúc trong không khí nặng nề Hệ quả của sự tranh cãi đó là việc có quyết định thôi không làm Phó bí thư Đoàn thanh niên của Hiệu trưởng đối với

Trang 10

đồng chí này và tất nhiên ấn tượng không tốt của thầy Hiệu trưởng và các đồng chí khác trong nhà trường từ đó cũng đã xuất hiện cho đến một thời gian dài sau đó

* Hướng giải quyết sự khác biệt

Trong trường hợp này việc giải quyết sẽ đặt nhiều lên vai thầy Hiệu phó và các tổ chức đoàn thể Trước tiên cần đặt việc giải quyết trên tinh thần tôn trong sự khác nhau về quan điểm của từng người Tình huống này cần giải quyết theo các hướng sau:

- Trong cuộc họp khi xung đột xảy ra cần sử dụng giải pháp né tránh để tránh những xung đột quá mức cần thiết

- Sử dụng giải pháp dàn hòa để tạo ra bối cảnh xoa dịu đặc biệt với thầy Hiệu trưởng khi thầy đang đứng trước tình huống bị coi thường và hạ thấp

- Sự chủ quan, quá tự tin đã dẫn đến những hậu quả không tốt cho bản thân đồng chí giáo viên này, vì vậy cần gặp gỡ trao đổi nhẹ nhàng để họ nhận thấy được với phong cách làm việc như vậy sẽ không có lợi cho bản thân họ và ảnh hưởng đến lợi ích và bộ mặt của cơ quan

Trang 11

- Thắng thắn chỉ rõ cho đồng chí giáo viên có thể thấy và

ý thức được địa vị của mình trong nhà trường, việc làm của mình đã sai còn phản ứng và thậm chí bôi nhọ thủ trưởng đơn vị của mình – sự giao tiếp rất thiếu văn minh

và thực sự là rất sai lầm và nếu vẫn tiếp tục như vậy sẽ rất khó khăn cho thời gian công tác còn lại của đồng chí đó, thậm chí nghiêm trọng hơn là một chỗ đứng ở đơn vị có thể sẽ bị thay đổi

- Kết hợp các đoàn thể nhà trường cùng yêu cầu đồng chí giáo viên tự kiểm điểm và có lời xin lỗi với thầy Hiệu trưởng và Hội đồng nhà trường, đồng thời cũng dành những lời tham mưu với thầy Hiệu trưởng để tránh đưa ra những quyết định quá khắc nghiệt hoặc thậm chí thù hằn cá nhân với đồng chí giáo viên Cùng phân tích, góp ý để đồng chí giáo viên thấy việc thầy Hiệu trưởng phê bình là đúng vì lợi ích chung nhà trường và mong thầy Hiệu trưởng cảm thông trước những cá tính có phần cá biệt của đồng chí giáo viên đó.

Học viên

Nguyễn Tiến Dũng

Ngày đăng: 29/03/2015, 21:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w