Yêncầu đặt ra là học sinh nắm vững kiến thức về thành phần câu, biết cách phân tíchcấu trúc ngữ pháp của câu, xác định đúng kiểu câu và các thành phần câu đợc học và có kĩ năng vận dụng
Trang 1Phần mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
Một trong những mục tiêu của môn Tiếng Việt ở trờng tiểu học là hìnhthành và phát triển ở học sinh kĩ năng sử dụng tiếng Việt để học tập và giao tiếptrong môi trờng hoạt động của lứa tuổi Là một bình diện quan trọng của ngônngữ, ngữ pháp chi phối việc sử dụng các đơn vị ngôn ngữ để tạo thành lời nói,làm cho ngôn ngữ thực hiện đợc chức năng là công cụ giao tiếp
Vai trò của ngữ pháp trong hệ thống ngôn ngữ đã quy định tầm quan trọngcủa việc dạy ngữ pháp ở trờng tiểu học Nếu từ đợc xem là đơn vị trực tiếp nhỏnhất để tạo câu thì chơng trình ngữ pháp ở tiểu học lấy câu làm trung tâm dạyhọc, trang bị cho học sinh một hệ thống khái niệm, sự hiểu biết về cấu trúc câu vàquy luật hành chức của nó Bên cạnh đó, chơng trình cũng đặc biệt quan tâm tớivấn đề thành phần câu - một nội dung quan trọng trong ngữ pháp tiếng Việt nóiriêng và ngữ pháp học nói chung Vì vậy, ngay từ những ngày đầu đến trờng, họcsinh đã làm quen với ngữ pháp, đợc cung cấp những kiến thức sơ giản về câu vàcác thành phần câu, về cấu tạo ngữ pháp của câu Thông qua dạy câu và cácthành phần câu mà rèn luyện cho học sinh các kĩ năng về sử dụng từ theo đúng từloại, nói đúng ngữ điệu câu, sử dụng dấu câu và rèn luyện các thao tác t duy Yêncầu đặt ra là học sinh nắm vững kiến thức về thành phần câu, biết cách phân tíchcấu trúc ngữ pháp của câu, xác định đúng kiểu câu và các thành phần câu đợc học
và có kĩ năng vận dụng thành phần câu để tạo ra những câu đúng ngữ pháp, câugợi tả, gợi cảm Có nh vậy học sinh mới có đợc nền tảng để hình thành và bồi d-ỡng năng lực hoạt động ngôn ngữ, nói - viết đúng chuẩn ngữ pháp, rèn luyện tduy và phát triển năng lực thẩm mỹ cho các em Nói ngắn gọn, kiến thức và kĩnăng vận dụng câu và thành phần câu định hớng cho học sinh nói đúng, viết đúngtiếng Việt văn hoá
Thực tế hiện nay vẫn phổ biến hiện tợng học sinh tiểu học còn đặt câu saingữ pháp, còn nhiều lúng túng trong phân tích cấu tạo ngữ pháp của câu hay diễn
đạt câu mà nội dung cha trọn vẹn Chủ yếu là do học sinh cha nắm vững kiếnthức về câu và thành phần câu Vấn đề câu và thành phần câu là nội dung rấtphong phú với nhiều quan điểm khác nhau của nhiều nhà nghiên cứu song lợngkiến thức dành cho học sinh tiểu học chỉ ở một mức độ nhất định, phù hợp với lứa
Trang 2tuổi; đảm bảo cho các em có cơ sở lý thuyết để thực hành luyện tập, đặt câu,dùng câu đúng quy tắc tiếng Việt và xây dựng tiềm năng cho trẻ học lên các bậchọc cao hơn Muốn làm đợc điều đó trên cơ sở chung, mỗi giáo viên tiểu học cầntìm tòi và xác định phơng pháp dạy học về câu và thành phần câu thực sự phùhợp, có hiệu quả thiết thực.
Hiểu rõ vai trò rất quan trọng của câu trong rèn luyện kĩ năng sử dụngtiếng Việt - ngôn ngữ giao tiếp của dân tộc - đồng thời qua tìm hiểu thực tế dạyhọc của giáo viên và học sinh tiểu học cũng nh điều tra khả năng nắm bắt kiến
thức của học sinh, chúng tôi đã chọn đề tài: “ Dạy học Luyện từ và cõu cho học
sinh khối lớp 4,5 ( Kiểu bài hỡnh thành khỏi niệm về kiểu cõu và thành phần cõu)’’ Bên cạnh những ứng dụng thiết thực cho bản thân với vai trò là một giáo
viên tiểu học, đề tài sẽ góp phần cụ thể hóa lý thuyết chung về việc dạy và học ,nâng cao chất lợng dạy học câu và thành phần câu nói riêng cũng nh chất lợngdạy học tiếng Việt ở tiểu học nói chung
đề việc dạy học câu và thành phần câu ở tiểu học
- Lê Phơng Nga, Bồi dỡng kiến thức, kĩ năng ngữ pháp cho học sinh tiểu học,
các dạng bài tập và những vấn đề cần lu ý Tạp chí Giáo dục Tiểu học số 5/1997.
- Lê Phơng Nga (2002), Dạy học ngữ pháp ở tiểu học, Nxb Giáo dục HN.
- Lê Hữu Tỉnh, Trần Mạnh Hởng (1999), Giải đáp 88 câu hỏi về giảng dạy
Tiếng Việt ở Tiểu học, Nxb Giáo dục.
- Lê Phơng Nga (2004), Giáo trình phơng pháp dạy học Tiếng Việt 2, Nxb Đại
học s phạm
- Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) (2006), Hỏi đáp về dạy - học Tiếng Việt
2,3,4,5, Nxb Giáo dục, Hà Nội Tác giả đã trình bày những vấn đề chung về dạy
học Tiếng Việt và giải đáp các thắc mắc về dạy ngữ pháp ở tiểu học
- Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4,5, Nxb Giáo dục
Hà Nội
Trang 3- Bộ giáo dục và Đào tạo, Sách giáo viên Tiếng Việt lớp 2,3,4,5, Nxb Giáo dục
định hớng cụ thể cho việc dạy loại kiến thức này Vì thế đề tài của chúng tôi vẫn
có hớng đi riêng, thiết thực cho việc phục vụ giảng dạy trên một phạm vi xác
định cho học sinh tiểu học
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm ra phơng pháp dạy học có hiệu quả nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức
về câu và thành phần câu, qua đó góp phần nâng cao chất lợng dạy học phân mônLuyện từ và câu nói chung
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt đợc mục đích trên, luận văn phải giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Trình bày khái quát những vấn đề lí luận có liên quan đến câu và thànhphần câu, đặc biệt là những kiểu câu và thành phần câu đợc dạy và học ở tiểuhọc
- Hệ thống các kiểu bài và nội dung bài học về câu và thành phần câu trongSGK Tiếng Việt hiện nay (SGK Tiếng Việt sau năm 2000)
- Điều tra thực tế việc dạy và học các kiểu câu và các thành phần câu ở một
số trờng tiểu học Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệuquả dạy học về câu và thành phần câu ở tiểu học
4 Đối tợng nghiên cứu
Hoạt động dạy - học câu và thành phần câu cho học sinh lớp 4, 5
5 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài đi sâu nghiên cứu việc dạy - học câu và thành phần câu trong các bàihình thành khái niệm, không mở rộng đến các bài luyện tập về câu nói chung
Nghiên cứu trên đối tợng học sinh lớp 4, 5 của ba trờng tiểu học:
- Trờng Tiểu học Phù Lỗ A - Sóc Sơn - Hà Nội
- Trờng Tiểu học Trng Nhị - Phúc Yên - Vĩnh Phúc
- Trờng Tiểu học Phong Hải - Yên Hng - Quảng Ninh
6 Phơng pháp nghiên cứu
Trang 4Để giải quyêt đề tài một cách có cơ sở, chúng tôi đã vận dụng các phơngpháp sau:
- Phơng pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phơng pháp phân tích
- Phơng pháp điều tra, khảo sát, thống kê
- Phơng pháp thực nghiệm
Phần nội dungChơng 1: Cơ sở lý thuyết 1.1 Cơ sở tâm lý
Tâm lí học, đặc biệt là tâm lí học lứa tuổi có vai trò rất quan trọng đối vớiviệc dạy học Tiếng Việt nói chung và dạy học ngữ pháp nói riêng, thể hiện ở mốiquan hệ chặt chẽ : không có kiến thức về quá trình tâm lí ở con ngời nói chung và
ở trẻ em nói riêng thì không thể giảng dạy tốt và phát triển lời nói, rèn luyện kĩnăng sử dụng ngôn ngữ trong học tập và giao tiếp cho học sinh Rất nhiều kết quảcủa tâm lí học đợc vận dụng trong dạy học ngữ pháp ở tiểu học nh: các quy luậttiếp thu tri thức, hình thành kĩ năng kĩ xảo… Giáo viên cần nắm đ Giáo viên cần nắm đợc khái niệmngữ pháp đợc hình thành ở trẻ em ra sao, đặc điểm phát triển t duy của học sinhtiểu học qua 2 giai đoạn, vai trò của ngôn ngữ trong sự phát triển t duy,… Giáo viên cần nắm đ Tâm líhọc cung cấp cho phơng pháp những số liệu cụ thể về quá trình nắm ngữ pháp,tiếp thu khái niệm khoa hoc, cho phép xác định mức độ vừa sức của tài liệu họctập
Đặc biệt các khái niệm, đặc điểm, cấu tạo… Giáo viên cần nắm đ câu và thành phần câu nh cáckhái niệm khoa học khác đều là kết quả hoạt động nhận thức, mang tính trừu t-ợng cao trong khi ở lứa tuổi học sinh tiểu học t duy kinh nghiệm, t duy cụ thể vẫnchiến u thế (giai đoạn lớp 1,2,3); t duy trừu tợng bắt đầu phát triển và vẫn phảidựa trên t duy cụ thể (giai đoạn lớp 4,5) Mỗi khái niệm đều hàm chứa một tậphợp các đặc trng Nắm đợc khái niệm phải nắm đợc các đặc trng của nó và cácmối quan hệ của nó trong hệ thống Vì vậy, nắm khái niệm về câu và thành phầncâu là quá trình lâu dài và phức tạp đối với học sinh tiểu học, có thể nói là việckhó đối với các em Quá trình truyền thụ, giúp học sinh nắm vững các vấn đề vềcâu và thành phần câu cũng không đơn giản Và ngời giáo viên cần dựa vào tâm
lý học, sử dụng hiệu quả các kết quả nghiên cứu của tâm lý học lứa tuổi (đặc
Trang 5điểm bậc tiểu học, đặc điểm quá trình nhận thức của học sinh tiểu học, nhữngtiền đề phát triển tâm lý học sinh tiểu học, dấu hiệu bản chất và không bản chấtcủa các khái niệm… Giáo viên cần nắm đ) trong quá trình hình thành khái niệm về câu và thành phầncâu, giúp học sinh lĩnh hội các khái niệm khoa học trên cơ sở khoa học, có nhvậy mới đem lại hiệu quả dạy học nh mục tiêu đề ra
1.2 Cơ sở ngôn ngữ học
1.2.1.Khái quát về vấn đề thành phần câu
1.2.1.1.Thành phần câu và việc phân định các thành phần câu
Thành phần câu và việc phân định các thành phần câu là vấn đề không đơngiản và quan niệm của mỗi nhà ngôn ngữ học cũng không giống nhau Một cáchnhìn khá phổ biến trong ngôn ngữ học là chỉ coi những từ và tổ hợp từ có khảnăng phản ánh những mối quan hệ giữa các yếu tố cấu trúc của câu mới là thànhphần câu Nói cách khác, thành phần câu là chức vụ cú pháp mà thực từ đảmnhiệm trong mối quan hệ cấu trúc với những thực từ khác trong câu (theo DiệpQuang Ban, 2006) Hay đơn giản, có quan điểm cho rằng thành phần câu lànhững từ tham gia nòng cốt câu hoặc phụ thuộc trực tiếp vào nòng cốt câu (theoNguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp, 2004)
Trên cơ sở những tiêu chí khác nhau nh: quan hệ ý nghĩa, chức năng cúpháp hay đặc trng hình thức của từ trong câu… Giáo viên cần nắm đ, việc phân định thành phần câucủa mỗi nhà nghiên cứu cũng khác nhau Có nhiều ý kiến về số lợng và tên gọicác thành phần câu Dựa vào những nét tơng đồng giữa các quan điểm nghiêncứu, có thể chia hệ thống thành phần câu tiếng Việt nh sau:
- Thành phần chính của câu, gồm: chủ ngữ (CN), vị ngữ (VN) và các thànhphần bao quanh CN, VN nh bổ ngữ, định ngữ (Nói khác đi, đó là kết cấu C - Vnòng cốt)
- Thành phần phụ của câu, gồm: trạng ngữ (TN), thành phần xen kẽ, thànhphần chuyển tiếp (Nói khác đi, đó là thành phần ngoài nòng cốt)
1.2.1.2 Cơ sở lý thuyết về thành phần câu (có liên quan đến phạm vi
nghiên cứu của đề tài)
Sau đây chúng tôi xin trình bày các vấn đề lý thuyết về thành phần câu (làcác thành phần câu đợc dạy ở tiểu học) theo quan điểm của tác giả Diệp QuangBan - tác giả đợc coi là có nhiều đóng góp về vấn đề câu và thành phần câu tiếngViệt
Trang 6Theo phạm vi nghiên cứu của đề tài về các thành phần câu đợc dạy ở
ch-ơng trình tiểu học thì hệ thống thành phần câu bao gồm:
- Thành phần chính của câu: Thành phần chính của câu là những thành tốtham gia nòng cốt câu Đây là thành phần bắt buộc, không thể thiếu trong nhữngcâu đơn bình thờng (câu đơn 2 thành phần), nó giúp ta nhận diện kiểu câu này.Thành phần chính của câu gồm có CN và VN Trên cơ sở quan hệ chủ - vị, CN và
VN tạo nên nòng cốt câu, đảm bảo cho câu có tính trọn vẹn
- Thành phần phụ của câu: Thành phần phụ của câu là thành phần khôngtham gia nòng cốt câu (nằm ngoài nòng cốt câu) nhng có quan hệ về nghĩa vớinòng cốt câu Nó bổ sung, biểu thị ý nghĩa về tình huống của sự việc ở nòng cốtcâu TN là thành phần phụ phổ biến nhất của câu
* Hệ thống thành phần câu
a Chủ ngữ
a.1 Khái niệm
CN là một trong hai thành phần chính của câu, có quan hệ qua lại với VN,thể hiện đối tợng đợc thông báo trong câu CN chỉ ra đối tợng mà câu nói đề cập
đến và hàm chứa hoặc có thể chấp nhận các đặc trng (quan hệ, tính chất, trạngthái, hành động ) sẽ đợc nói đến trong VN
a.2 Vị trí
CN thờng đứng trớc VN song trong một số trờng hợp CN có thể đặt sau
VN Thông thờng, CN đứng ở đầu câu theo trật tự C - V Tuy nhiên trật tự đó sẽ
bị đảo ngợc khi ngời nói muốn nhấn mạnh nội dung thông báo, muốn ngời nghechú ý đến VN hay khi thể hiện một giá trị biểu cảm nào đó
Ví dụ: Rất đẹp / hình anh lúc nắng chiều.
a.3 Đặc trng
CN là một trong hai thành phần chính của câu, cùng với VN tạo thànhnòng cốt câu Nó nêu lên chủ thể nh ngời, sự vật, sự việc… Giáo viên cần nắm đ có đặc trng miêu tảhoặc nhận xét ở VN
Trong mối quan hệ với VN: CN nêu lên chủ thể thông báo (cái đợc thôngbáo), VN nêu lên nội dung thông báo (cái thông báo)
a.4 Cấu tạo
CN có thể đợc cấu tạo là một từ, một cụm từ, một kết cấu chủ - vị hay một
số kiểu kiến trúc khác
Trang 7- CN đợc cấu tạo là một từ: Từ làm CN có thể thuộc những từ loại khácnhau, thờng là danh từ, đại từ Ngoài ra, từ cấu tạo nên CN có thể thuộc động từ,tính từ hay số từ.
Ví dụ: Trời / sập tối (CN là danh từ)
Yêu thơng / cho ta sức mạnh phi thờng (CN là động từ)
- CN đợc cấu tạo từ một cụm từ: có thể là cụm từ đẳng lập, cụm từ chínhphụ hay cụm từ cố định, một cụm chủ - vị
Ví dụ: Hiếu động, cơng cờng, quả cảm / là thói thờng của những kẻ mới lớn và
Trang 8+ Về mặt từ loại: động từ, tính từ thờng làm VN; ngoài ra danh từ, đại từ, số từcũng có thể làm VN trong câu.
+ Về mặt cấu trúc: VN có thể đợc tạo nên bởi một từ (động từ, tính từ, danh từ,
đại từ, số từ), một cụm từ (cụm từ đẳng lập, cụm từ chính phụ, cụm từ cố định),một kết cấu chủ - vị hay một số kiểu kiến trúc khác
Ví dụ: Anh ta / là nhà báo (VN là một từ)
Hoa đào / đang nở rộ (VN là cụm từ chính phụ)
Làng tôi / đờng sá rất sạch sẽ (VN là cụm C-V)
+ Về mặt nối kết với CN: VN có thể kết hợp trực tiếp với CN (không cần hệ từlà) hay có thể kết hợp gián tiếp với CN (nhờ hệ từ là)
b.5 Cách xác định
Muốn tìm VN của câu ngời ta tiến hành các bớc phân tích câu, đó là: xác
định nòng cốt câu (tối giản), xác định CN và phần còn lại là VN của câu (chính làphần nêu lên thông báo về đối tợng đợc nói đến ở CN)
c Trạng ngữ
c.1 Khái niệm
TN là thành phần phụ của câu dùng để bổ sung ý nghĩa tình huống (nh
thời gian, không gian, phơng tiện, cách thức, mục đích, nguyên nhân… Giáo viên cần nắm đ ) chonòng cốt câu
c.2 Vai trò quan hệ ngữ pháp, quan hệ ngữ nghĩa của trạng ngữ trong câu
- Xét về mặt kết cấu ngữ pháp của câu, TN là thành phần phụ của câu, có thể bỏ
đi mà câu không sai ngữ pháp
- Xét về mặt ý nghĩa, TN có tầm quan trọng đặc biệt với nòng cốt câu Nó làphần bổ sung ý nghĩa cho câu
c.3 Vị trí
- TN có thể có 3 vị trí sau trong một cấu trúc câu:
+ Đứng đầu câu (trớc nòng cốt C - V)
+ Đứng xen giữa CN và VN
+ Đứng cuối câu (sau nòng cốt C - V)
- Vị trí thờng gặp của TN là đứng trớc nòng cốt C - V (đứng đầu câu) Trongmột số điều kiện có trờng hợp TN đứng xen giữa CN và VN hoặc đứng sau nòngcốt C - V Khi chuyển vị trí nh vậy thì trạng ngữ đợc nhấn mạnh tách rời bằngngữ điệu (chỗ ngắt) khi nói hay bằng dấu phẩy khi viết và có thể kèm theo một
Trang 9kết từ thích hợp Nếu không đợc nhấn mạnh, tách rời thì trong trờng hợp đó nó sẽtrở thành một thành phần phụ của từ (giữ vai trò là bổ ngữ hoặc định ngữ).
c.4 Cấu tạo của trạng ngữ
TN có thể đợc cấu tạo từ một từ, một cụm từ hay một kết cấu C - V
Ví dụ:: + Buổi sáng, trời trong và xanh.
+ Bằng phơng pháp học tập mới, Linh đã đạt kết quả rất cao.
+ Mắt đeo kính trắng, ngời đàn ông nhìn về phía cổng trờng.
c.5 Phân loại trạng ngữ
Căn cứ vào ý nghĩa và đặc điểm cấu tạo của TN, một cách khái quát có thể chia
TN thành mấy kiểu sau:
- TN chỉ thời gian: Nêu thời điểm hoặc thời đoạn diễn biến sự việc biểu thị ởnòng cốt câu TN chỉ thời gian có thể có hoặc không có quan hệ từ đứng trớc
Ví dụ: Lúc ấy, trời cha sáng.
- TN chỉ không gian: Nêu địa điểm, nơi chốn, phạm vi không gian trong đó sựviệc ở nòng cốt diễn ra TN chỉ không gian có thể dùng hoặc không dùng quan hệ
từ đứng trớc, trờng hợp phổ biến là có dùng quan hệ từ
Ví dụ: Ngoài sân, các bạn đang nô đùa.
- TN chỉ nguyên nhân: Nêu nguyên nhân diễn biến sự việc ở nòng cốt câu TNchỉ nguyên nhân có quan hệ từ đứng trớc Quan hệ từ thờng dùng là: do, vì, tại,bởi… Giáo viên cần nắm đ
Ví dụ : Do nắng nóng, măt đờng nhựa phồng rộp lên.
- TN chỉ mục đích: Biểu thị mục đích của sự việc nêu ở nòng cốt câu TN chỉmục đích có quan hệ từ đứng trớc
Ví dụ : Vì Tổ quốc, thanh niên luôn sẵn sàng.
- TN chỉ phơng tiện - cách thức : Nêu lên các phơng tiện và cách thức của sựviệc diễn ra ở nòng cốt câu TN chỉ phơng tiện cách thức có quan hệ từ đứng trớc
Ví dụ : Với chiếc xe cũ kĩ, anh vẫn đi về hàng ngày.
- TN chỉ đối tợng - phơng diện: Trình bày phạm vi, phơng diện hay đối tợng cóquan hệ với sự việc nêu ở nòng cốt TN chỉ đối tợng, phơng diện có quan hệ từ
Trang 10quan hệ từ đứng trớc và thờng do động từ ( cụm động từ), tính từ ( cụm tính từ)biểu thị.
Ví dụ: Bình tĩnh, chị nhìn khắp mấy gian nhà.
- TN chỉ điều kiện - giả thiết: Biểu thị điều kiện để việc nêu ở nòng cốt trởthành hiện thực TN chỉ điều kiện - giả thiết có quan hệ từ đứng trớc
Ví dụ: Hễ đọc sách (thì) ông phải đeo kính.
- TN chỉ ý nhợng bộ - tơng phản: Chỉ một hành động, trạng thái hay tính chất
t-ơng phản (với ý nhợng bộ) đối với sự việc nêu ở nòng cốt câu TN chỉ ý nhợng bộ
- tơng phản có quan hệ từ đứng trớc
Ví dụ: Tuy nghèo, (nhng) chị vẫn sống trong sạch.
c.6 Cách xác định trạng ngữ
TN có thể đợc xác định bằng cách xác định thành phần chính của câu (nòng cốtcâu), sau đó xác định thành phần phụ của câu và đa vào dấu hiệu có dấu phẩytách nó với nòng cốt câu, kết hợp với ý nghĩa chỉ thời gian, nơi chốn, nguyênnhân, mục đích, phơng tiện - cách thức… Giáo viên cần nắm đ của TN để phân biệt với đề ngữ
1.2.1.3.Các thành phần câu trong chơng trình tiểu học
Chơng trình, SGK Tiếng Việt sau năm 2000 cung cấp kiến thức về thànhphần câu một cách đơn giản, nhẹ nhàng, phù hợp với lứa tuổi học sinh tiểu học
Lý thuyết về thành phần câu gắn với các mẫu câu kể: câu kể Ai làm gì?, câu kể
Ai thế nào?, câu kể Ai là gì?
Các thành phần câu đợc dạy trong chơng trình tiểu học gồm có:
+ Chủ ngữ (bộ phận chính của câu)+ Vị ngữ (bộ phận chính của câu)+ Trạng ngữ (bộ phận phụ của câu)
a Chủ ngữ
- Chỉ sự vật (ngời, con vật hay đồ vật, cây cối đợc nhân hoá) có hoạt động đợc
nói đến ở VN (Chủ ngữ trong câu kể Ai làm gì?, Tiếng Việt 4, tập 2, tr 6)
- Chỉ sự vật có đặc điểm, tính chất, trạng thái đợc nêu ở VN (Chủ ngữ trongcâu kể Ai thế nào?, Tiếng Việt 4, tập 2, tr 36)
- Chỉ sự vật đợc giới thiệu, nhận định ở VN (Chủ ngữ trong câu kể Ai là gì?,Tiếng Việt 4, tập 2, tr 68)
- Chủ ngữ trả lời cho câu hỏi: Ai? hoặc Con gì?, Cái gì?
- Chủ ngữ thờng do danh từ (cụm danh từ) tạo nên
b Vị ngữ
Trang 11- Nêu lên hoạt động của ngời, con vật (hoặc đồ vật, cây cối đợc nhân hoá) (Vịngữ trong câu kể Ai làm gì?, Tiếng Việt 4, tập 1, tr 171)
- Chỉ đặc điểm, tính chất, hoặc trạng thái của sự vật đợc nói đến ở chủ ngữ (Vịngữ trong câu kể Ai thế nào?, Tiếng Việt 4, tập 2, tr 29)
- VN đợc nối với chủ ngữ bằng từ “là’’ (Vị ngữ trong câu kể Ai là gì?, Tiếng
Việt 4, tập 2, tr 61)
- Vị ngữ trả lời cho câu hỏi: Làm gì?, Thế nào?, Là gì?
- Vị ngữ có thể do động từ (cụm động từ), tính từ (cụm tính từ), danh từ (cụmdanh từ) tạo nên
c Trạng ngữ
- TN là thành phần phụ của câu xác định thời gian, nơi chốn, nguyên nhân,
mục đích… Giáo viên cần nắm đ của sự việc nêu trong câu
+ Trạng ngữ chỉ nguyên nhân: để giải thích nguyên nhân của sự việc hoặctình trạng nêu trong câu Trạng ngữ chỉ nguyên nhân trả lời cho các câu hỏi: Vìsao?, Nhờ đâu?, Tại đâu?
+ Trạng ngữ chỉ mục đích: để nói lên mục đích tiến hành sự việc nêu trongcâu Trạng ngữ chỉ mục đích trả lời cho các câu hỏi: Để làm gì?, Nhằm mục đíchgì?, Vì cái gì?
+ Trạng ngữ chỉ phơng tiện: trạng ngữ chỉ phơng tiện thờng mở đầu bằng
các từ: bằng, với và trả lời cho câu hỏi: Bằng cái gì?, Với cái gì?
1.2.2 Khái quát về vấn đề câu
1.2.2.1 Câu và việc phân loại câu
Trong các tài liệu nghiên cứu, các SGK về ngôn ngữ và tiếng Việt đã cónhiều định nghĩa về câu Đến nay số lợng định nghĩa về câu đã là khá lớn Tuynhiên, qua những định nghĩa đó có thể rút ra một số đặc điểm về câu đợc nhiều ýkiến tơng đồng thể hiện ở mặt nội dung, ý nghĩa, hình thức, cấu tạo, chức năng vàmục đích sử dụng câu trong giao tiếp Dới đây chúng tôi xin trình bày vấn đề câutheo quan điểm cuả tác giả Diệp Quang Ban - tác giả đợc đánh giá là có nhiều
Trang 12công trình nghiên cứu về ngữ pháp Tiếng Việt và đã có những đóng góp khôngnhỏ Và theo Diệp Quang Ban, định nghĩa về câu có nội dung nh sau:
Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong vàbên ngoài) tự lập và có ngữ điệu kết thúc; mang một ý nghĩa tơng đối trọn vẹnhay thái độ, sự đánh giá của ngời nói; giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt t t-ởng, tình cảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ
Phân loại câu tiếng Việt: Sự phân loại câu trong ngôn ngữ học hiện naykhá phức tạp, căn cứ vào những tiêu chuẩn rất khác nhau Theo Diệp Quang Ban,chúng tôi xem xét việc phân loại câu về mặt ngữ pháp - tức là sự phân loại dựa
đồng thời vào hình thức thể hiện và nội dung khái quát đợc biểu hiện Theo đócâu sẽ đợc phân loại căn cứ vào các mặt:
+ Mặt cấu tạo ngữ pháp cơ bản của câu
+ Mặt tác dụng giao tiếp cơ bản của câu
Tơng ứng có hai cách phân loại câu:
+ Phân loại theo cấu trúc
+ Phân loại theo mục đích nói
a Câu phân loai theo cấu trúc
Cơ sở: Phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp ngời ta căn cứ vào hai cơ sở sau:
(Câu phức đợc đa vào câu đơn gọi là câu đơn mở rộng.)
b Câu phân loại theo mục đích nói
Phân loại câu theo mục đích nói là cách nhìn có tính chất truyền thống vềcâu trong hoạt động của nó Căn cứ vào mục đích nói ngời ta thờng chia thành 4kiểu câu: câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán
1.2.2.2 Cơ sở lý thuyết về các kiểu câu (có liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài)
Trang 13Trong Việt ngữ học có ít nhất ba quan điểm khác nhau tơng đối phổ biến vềkiểu câu.
- Quan điểm thứ nhất: Một số tác giả quan niệm câu đơn là câu chỉ có 1cụm C - V; câu ghép là câu chứa 2 cụm C - V trở lên
Ví dụ:(1) Em học sinh ấy đọc một đoạn văn Câu đơn
(2) Em học sinh tôi quen đọc một đoạn văn Câu ghép
(3) Em học sinh ấy đọc một đoạn văn, các em khác nghe Câu ghép (4) Nếu em học sinh ấy đọc một đoạn văn thì các em khác nghe Câu ghép
- Quan điểm thứ hai: Một số tác giả quan niệm câu đơn là câu cấu tạo bằng
1 cụm C - V; câu ghép là câu đợc cấu tạo bằng 2 hoặc nhiều cụm C - V có quan
hệ đẳng lập với nhau, không bao chứa nhau
Theo quan điểm này thì chỉ có câu (3) và câu (4) là câu ghép, câu (2) vẫn
thuộc phạm trù câu đơn vì cụm C - V “tôi quen” chỉ là một thành phần phụ (định
ngữ) trong cụm danh từ làm chủ ngữ
- Quan điểm thứ ba: Một số tác giả phân biệt 3 loại câu: câu (1) là câu đơn;câu (2) là câu phức; câu (3), (4) là câu ghép
Theo Diệp Quang Ban, việc phân chia các kiểu câu dựa vào cấu trúc ngữ phápgắn với thuật ngữ “nòng cốt câu” (của câu đơn 2 thành phần)
Nòng cốt câu (của câu đơn 2 thành phần) là cụm C - V làm cơ sở cho câu
đơn 2 thành phần, nó giúp ta nhận diện kiểu câu này Nó là cụm C - V nằm ngoàicùng, bao chứa những cụm C - V khác của câu phức thành phần
Nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tập trung tìm hiểu về haikiểu câu đó là: câu đơn, câu ghép
Trang 14Câu ghép là câu có từ 2 kết cấu C - V nòng cốt trở lên và giữa 2 kết cấu C-Vnòng cốt này đợc nối với nhau bằng quan hệ đẳng lập hoặc chính phụ Các kếtcấu C - V nòng cốt có quan hệ với nhau về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp.
b.2 Đặc điểm
- Về mặt ngữ nghĩa: Quan hệ giữa các vế trong câu ghép phải gần nhau, phảitập trung lại để biểu thị một nội dung Nếu giữa các vế không có quan hệ ràngbuộc về nghĩa thì sẽ không tạo thành câu ghép
- Về mặt ngữ pháp: Câu ghép bao gồm nòng cốt ghép đợc tạo nên bởi ít nhất 2
vế, mốĩ vế là một câu đơn bình thờng hoặc câu đơn đặc biệt hay câu đơn rút gọn
Có thể nói, câu ghép là sự cộng lại của các câu đơn
- Các vế của câu ghép đợc nối với nhau bằng các kết từ hoặc dấu phẩy
Theo chơng trình, SGK hiện hành, học sinh không có bài học riêng về câu
đơn song ngay từ các lớp 2,3; học sinh đã đợc làm quen và hình dung đợc cấu tạocâu đơn Đến lớp 4, học sinh đợc củng cố và rèn luyện về câu đơn gắn với ba mẫucâu kể và nắm đợc các thành phần câu, cấu trúc câu Học sinh không tiếp thukhái niệm khoa học một cách phức tạp mà nắm đợc khái niệm câu đơn chủ yếuqua quá trình luyện tập thực hành, rèn luyện các kĩ năng Các em hiểu về câu
đơn, hiểu câu đơn do hai thành phần chính là CN, VN tạo nên Lên lớp 5, họcsinh đợc củng cố lại kiến thức câu đơn đã nắm ở các lớp dới trong bài học về
“Câu ghép” với nội dung rất ngắn gọn: câu đơn là câu có đủ chủ ngữ, vị ngữ
b Câu ghép
- Khái niệm: Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy có nhiều ý kiếnkhác nhau về câu, câu đơn, câu ghép; việc phân biệt câu đơn và câu ghép Để phùhợp với trình độ nhận thức của học sinh tiểu học, SGK định nghĩa:
Trang 15“ Câu ghép là câu do nhiều vế câu ghép lại Mỗi vế của câu ghép thờng có
cấu tạo giống câu đơn (có đủ chủ ngữ, vị ngữ) và thể hiện một ý có quan hệ chặt chẽ với ý của những vế câu khác.”
Nối các vế câu ghép: Có hai cách nối các vế câu ghép:
Nối bằng những từ có tác dụng nốiNối trực tiếp (không dùng từ nối) Trong trờng hợp này, giữa các vếcâu cần có dấu phẩy, dấu chấm phẩy hoặc dấu hai chấm
(Tiếng Việt 5, tập 2, tr 12)
Nối các vế câu ghép bằng quan hệ từ:
Các vế trong câu ghép có thể đợc nối với nhau bằng một quan hệ từ hoặc một cặp quan hệ từ
Những quan hệ từ thờng dùng là: và, rồi, thì, nhng, hay, hoặc,…
Những cặp quan hệ từ thờng dùng là: vì … nên … ; do … nên … ; nhờ … mà … ;
nếu … thì … ; giá … thì; hễ … thì … ; chẳng những … mà … ; không chỉ … mà … ;
(Tiếng Việt 5, tập 2, tr 21) Nối các vế câu ghép bằng quan hệ từ để thể hiện:
+Thể hiện quan hệ nguyên nhân, kết quả (Tiếng Việt 5, tập 2, tr 32) + Thể hiện quan hệ điều kiện-kết quả (Tiếng Việt 5, tập 2, tr 38) + Thể hiện mối quan hệ tơng phản (Tiếng Việt 5, tập 2, tr44) + Thể hiện quan hệ tăng tiến giữa các vế câu ghép (Tiếng Việt 5, tập 2, tr 54)
Nối các vế câu ghép bằng cặp từ hô ứng:
Để thể hiện quan hệ về nghĩa giữa các vế câu, ngoài quan hệ từ ta còn có thể nối các vế câu ghép bằng một trong số các cặp từ hô ứng sau:
Vừa … … đã , ch a … … đã , mơí … … đã , vừa … vừa … , càng … càng … , đâu …
đấy, nào … ấy, sao … vậy, bao nhiêu … bấy nhiêu
(Tiếng Việt 5, tập 2, tr 64)
Trang 161.2.3 Nhận xét nội dung kiến thức về câu và thành phần câu trong SGK Tiếng Việt Tiểu học.
SGK Tiếng Việt tiểu học sau năm 2000 đã thể hiện những u điểm nổi bật,khắc phục đợc những hạn chế còn tồn tại của sách Tiếng Việt trớc năm 2000 SGK Tiếng Việt sau năm 2000 cũng lấy câu làm trung tâm dạy học Songvới việc xác định mục tiêu hàng đầu khi dạy môn Tiếng Việt cho học sinh Tiểuhọc là rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong học tập, giao tiếp nên chơng trìnhTiếng Việt sau năm 2000 không nặng về cung cấp lí thuyết câu và thành phầncâu, nội dung kiến thức kiến thức ít hơn, tinh giản và nhẹ nhàng hơn Cụ thể :
Đã cắt bỏ các thành phần hô ngữ, bổ ngữ, định ngữ và bộ phận song song.SGK mới không đa ra khái niệm thành phần câu mà học sinh tự rút ra khái niệmnày qua quá trình làm bài tập Điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tiếpthu khái niệm nhẹ nhàng, hiểu và ghi nhớ nội dung bài học dễ dàng
Một điểm mới nữa trong chơng trình, SGK sau năm 2000 đó là ở lớp 4, kiếnthức thành phần câu gắn với các mẫu câu kể : Ai làm gì ?; Ai thế nào ?; Ai làgì ?
SGK Tiếng Việt 4 hiện hành không phân biệt câu theo mục đích nói và câuphân loại theo cấu tạo nh SGK cũ mà định hớng hình thành cho học sinh lýthuyết kĩ năng - học sinh vận dụng tốt lý thuyết đợc học để giải các bài tập, biếtcách làm và rèn luyện kĩ năng cho học sinh (học sinh lần lợt học cách đặt câu kể,câu khiến, câu cảm, các kiểu câu không thể hiện qua mô hình cấu trúc câu Ailàm gì?, Ai thế nào?, Ai là gì?)
Trong sách Tiếng Việt 5 cũ, câu ghép đợc phân loại thành câu ghép đẳnglập và câu ghép chính phụ Câu ghép chính phụ chỉ quan hệ nhân - quả, điều kiện(giả thiết) - kết quả… Giáo viên cần nắm đ Sách Tiếng Việt 5 mới không dạy phân loại câu ghép, sau
bài hình thành khái niệm câu ghép, SGK tập trung dạy học sinh nội dung “cách
nối các vế câu ghép”, mục đích nhấn mạnh đến tính hành dụng trong dạy học.
Qua việc dạy cách nối các vế câu ghép (nối bằng từ ngữ có tác dụng nối, nối trựctiếp - không dùng từ ngữ nối) học sinh có thể nhận ra các mô hình câu ghép Nộidung các bài học trong SGK Tiếng Việt 5 hiện hành không nhằm mục đích giúphọc sinh biết nhận biết các kiểu câu ghép mà cái học sinh cần đạt đợc là biết thểhiện mối quan hệ giữa những sự việc nêu ở các vế câu ghép bằng phơng tiện ngônngữ thích hợp Hiểu rõ cấu tạo, cách tạo các vế câu và quan hệ ý nghĩa giữa các
vế câu ghép nghĩa là học sinh đã nắm vững kiến thức về câu tiếng Việt (câu phân
Trang 17chia theo cấu trúc), có cơ sở chắc chắn để luyện tập về câu và thành phần câu Để
đạt đợc điều này, SGK Tiếng Việt chú ý cả tới kiến thức lẫn cách trình bày mỗibài học đi từ nội dung thể hiện đến hình thức cần thể hiện
Ví dụ : nội dung ghi nhớ của bài “Nối các vế câu ghép bằng quan hệ từ” (TV5,tập 2, tr 32):
Để thể hiện quan hệ nguyên nhân - kết quả giữa hai vế câu ghép, ta có thể nối
chúng bằng :
- Một quan hệ từ : vì, bởi vì, cho nên …
- Hoặc một cặp quan hệ từ : vì … nên … , bởi vì … cho nên … , tại vì … cho nên … , do … nên … , do … mà … ,
Tuân thủ theo đúng định hớng trên, nội dung phần ghi nhớ của bài học đợctrình bày đi từ nội dung cần thể hiện (thể hiện quan hệ nguyên nhân - kết quảgiữa hai vế câu ghép) đến hình thức thể hiện (có thể nối các vế câu ghép này bằngmột quan hệ từ, một cặp quan hệ từ )
Nội dung các bài học về câu và thành phần câu tiếng Việt đợc thể hiện rấtcơ bản, phù hợp với đặc điểm nhận thức và lứa tuổi của các em nhằm thực hiện đ-
ợc mục tiêu cụ thể trong dạy học câu và thành phần câu cho học sinh đó là :
Về thành phần chính của câu : cung cấp lí thuyết cơ bản về chủ ngữ, vị ngữ;
giúp học sinh nhận biết chủ ngữ, vị ngữ (gắn với các kiểu câu kể); nắm đợc đặc
điểm về ý nghĩa và cấu tạo của thành phần chủ ngữ, vị ngữ; biết đặt câu đảm bảocác thành phần chính của câu
Về thành phần phụ của câu : giúp học sinh nắm đợc khái niệm trạng ngữ, biết
nhận diện và phân loại trạng ngữ, đặt câu có trạng ngữ
Về câu : nắm đợc khái niệm câu đơn, câu ghép ở mức độ đơn giản, hiểu rõ ý
nghĩa thể hiện của các loại câu ghép, biết cách nối các vế câu ghép, nhận biết đợccâu ghép trong đoạn văn, xác định đợc các vế của câu ghép, phân tích đợc câughép và biết đặt câu ghép
Tuỳ từng thời kì, từng quan điểm của ngời làm chơng trình và SGK TiếngViệt mà kiến thức về thành phần câu đợc đa vào dạy học ở trờng Tiểu học cókhác nhau Chơng trình SGK Tiếng Việt sau năm 2000 đã thể hiện đợc nhiều u
điểm, nội dung kiến thức và thời lợng phân bố hợp lí, thể hiện sự quan tâm xứng
đáng của các nhà biên soạn chơng trình và SGK Tiến Việt, các nhà nghiên cứu… Giáo viên cần nắm đtới vấn đề câu và thành phần câu tiếng Việt Câu - với vai trò là đơn vị giao tiếpcơ bản, việc nghiên cứu về câu và thành phần câu là thực sự cần thiết có ý nghĩa
Trang 18to lớn đối với sự phát triển ngôn ngữ dân tộc Đây cũng là điều chúng tôi hớng tới
và tìm hiểu khi tiến hành thực hiện đề tài này, góp phần nâng cao hiệu quả dạyhọc câu và thành phần câu ở Tiểu học hiện nay
Chơng 2: Thực trạng việc dạy học kiểu bài hình thành khái niệm về kiểu câu và thành phần câu khối lớp 4,5 2.1 Hệ thống bài học hình thành khái niệm về kiểu câu và thành phần câu 2.1.1 Kết quả thống kê và phân loại nội dung bài học
Ngay từ các lớp 2,3 học sinh đã đợc làm quen với những kiến thức có liênquan đến câu và thành phần câu Song các bài học Luyện từ và câu ở lớp 2, 3 đ ợcbiên soạn dới dạng các bài tập; khái niệm về câu và thành phần câu cha đợc cungcấp và phân tích, lí giải nh một bài học về lý thuyết Nhng để có cái nhìn toàndiện, hệ thống về nội dung kiến thức chúng tôi xin phép đợc trình bày sơ lợc cácbài học Luyện từ và câu có liên quan đến câu và thành phần câu
Lớp 2: học sinh học về một số kiểu câu trần thuật, về thành phần câu nhng
không dùng đến các thuật ngữ: chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ Các em nhận biết đợccác bộ phận chính và các bộ phận khác của câu thông qua các bài tập, không qua
lí thuyết
Học sinh lần lợt làm quen với ba kiểu câu: Ai là gì?, Ai làm gì?, Ai thế nào?
Học sinh nắm đợc các bộ phận của câu nhờ mô hình: trả lời các câu hỏi Ai?,
Là gì?, Làm gì?, Thế nào? (để tìm bộ phận chính của câu); trả lời các câu hỏi Khi nào?, ở đâu?, Nh thế nào?, Vì sao?, Để làm gì? (để tìm các bộ phận khác của
Trang 19Học sinh đặt câu hỏi cho từng bộ phận chính của câu để nhận biết các bộphận đó trong các kiểu câu có mô hình: Ai (cái gì, con gì) - làm gì ? Ai (cái gì,con gì) - là gì?, Ai (cái gì, con gì) - thế nào?
Học sinh nhận biết các bộ phận phụ của câu bằng cách trả lời các câu hỏi:Khi nào?, ở đâu?, Nh thế nào?, Vì sao?, Để làm gì? Bằng gì? cũng trong các kiểucâu phổ biến nói trên
Nh vậy nội dung kiến thức về câu và thành phần câu đợc đa vào dạy học từlớp 2 song không nặng về việc cung cấp lí thuyết Về câu ở lớp 2,3, học sinhkhông làm quen với lí thuyết để biết câu là gì, cấu tạo câu mà qua các bài thựchành học sinh rút ra cấu trúc câu, cách đặt câu Về thành phần câu, học sinh chỉbiết đặt câu hỏi cho các bộ phận câu và trả lời câu hỏi để mở rộng câu
Học sinh đợc luyện tập rèn các kĩ năng nhận diện, phân tích cấu trúc câu vàvận dụng thành phần câu qua các dạng yêu cầu, bài tập nh: xác định chủ ngữ, vịngữ trong câu, nhận diện các kiểu trạng ngữ, thêm trạng ngữ cho câu, đặt câutheo mẫu, dùng từ cho sẵn để đặt câu, ghép từ ở cột A và cột B để tạo câu
Nội dung kiến thức về câu và thành phần câu ở lớp 4 đợc dạy trong 16 tiếtgồm có 10 tiết lí thuyết về câu kể và thành phần chính của câu kể, 6 tiết lí thuyết
về trạng ngữ và các loại trạng ngữ Cụ thể :
* Giới thiệu về câu kể trong 1 tiết - tuần 16
* Lí thuyết về thành phần chính của câu (CN, VN) đợc dạy trong 9 tiết gắn vớicác kiểu câu kể Ai làm gì?, Ai thế nào?, Ai là gì?
+ Giới thiệu một cách đơn giản, dễ hiểu về cấu tạo câu và thành phần chínhcủa kiểu câu: Ai làm gì? trong 3 tiết - tuần 17 (2 tiết), tuần 19
+ Cung cấp ngắn gọn nội dung về cấu tạo câu và thành phần chính củakiểu câu: Ai thế nào? trong 3 tiết - tuần 21 (2 tiết), tuần 22
+ Cung cấp kiến thức cơ bản về cấu tạo câu và thành phần chính của kiểucâu : Ai là gì? trong 3 tiết - tuần 24 (2 tiết), tuần 25
* Lí thuyết về thành phần phụ của câu (trạng ngữ) đợc dạy trong 6 tiết đó là :
Trang 20+ Giới thiệu về TN trong 1 tiết - tuần 31 Các loại TN đợc dạy học qua 5bài: “Thêm trạng ngữ chỉ nơi chốn (thời gian, nguyên nhân, mục đích, phơngtiện) cho câu” Các bài này đợc dạy trong 5 tiết - tuần 31, 32 (2 tiết), 33, 34.
* Khái niệm về câu ghép đợc giới thiệu trong 1 tiết - tuần 19
* Cách nối các vế câu ghép đợc trình bày trong 1 tiết - tuần 19
* Sau đó cung cấp cho học sinh những nội dung cụ thể về nối các vế câu ghép:
+ Nối các vế câu ghép bằng quan hệ từ, 5 tiết - tuần 20, 21, 22 (2 tiết), 23.+ Nối các vế câu ghép bằng cặp từ hô ứng, 1 tiết - tuần 24
2.1.2 Nhận xét
Nội dung kiến thức về câu và thành phần câu trong SGK Tiếng Việt saunăm 2000 tơng đối đơn giản, cơ bản và phù hợp với đặc điểm nhận thức của họcsinh tiểu học Lý thuyết về thành phần câu chỉ dạy ở lớp 4 và học sinh tự rút rakhái niệm trong quá trình làm bài tập về câu, về các thành phần câu Học sinhtiếp thu khái niệm dễ dàng, nhẹ nhàng và nắm chắc kiến thức, có cơ sở để vậndụng thực hành tốt
Mục tiêu quan trọng hàng đầu khi dạy môn tiếng Việt cho học sinh tiểuhọc là rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong học tập, giao tiếp Quan điểm giaotiếp trong phân môn Luyện từ và câu ở lớp 4, 5 đợc thể hiện ở cả phơng diện nộidung lẫn phơng pháp dạy học Cách bố trí, sắp xếp các đơn vị kiến thức và cáckiểu bài đều không tập trung vào việc nhận diện các hiện tợng ngôn ngữ mà chútrọng rèn luyện khả năng sử dụng từ ngữ phục vụ các hoạt động giao tiếp Các bài
về câu chú trọng việc sử dung câu trong nói - viết hơn là chú ý tới dạy những kiếnthức phân loại hàn lâm Có thể thấy điều này ngay từ cách đặt tên các đầu bài nh:
“ Dùng câu hỏi vào các mục đích khác” (Tiếng Việt 4, tập 1, tr142); “Cách đặt
câu khiến” (Tiếng Việt 4, tập 2, tr 92); “Thêm trạng ngữ cho câu” (Tiếng Việt 4,
tập 2, tr 126 - 129 - 134 - 140 - 150 - 160) … Giáo viên cần nắm đ cho đến cách phân bố thời lợng, sắpxếp bài học, bài luyện tập cũng thể hiện rõ quan điểm trên, chẳng hạn: Học sinh
đợc học 8 tiết về câu ghép Trừ tiết đầu tiên cung cấp cho học sinh kiến thứcchung về câu ghép, 7 tiết còn lại đều dạy học sinh cách tạo ra những câu ghép cụ
Trang 21thể : Cách nối các vế câu ghép, 1 tiết - tuần 19; Nối các vế câu ghép bằng quan hệ
từ, 5 tiết - tuần 20, 21, 22 (2 tiết), 23; Nối các vế câu ghép bằng cặp từ hô ứng, 1tiết - tuần 24
Các bài luyện tập củng cố lí thuyết về câu cũng đợc lựa chọn gắn với thựctiễn sinh động hàng ngày để học sinh biết đặt câu cho đúng, phù hợp với tìnhhuống giao tiếp
Bên cạnh quan điểm giao tiếp, hệ thống kiến thức và kĩ năng đợc sắp xếptheo nguyên tắc đồng tâm Các đơn vị ngôn ngữ đợc sắp xếp theo trình tự từchủng loại đến loại, tiểu loại; từ khái niệm sơ giản đến chi tiết hơn Cụ thể vềcâu: học sinh lớp 2, 3 chỉ dừng ở mức độ hiểu biết ban đầu về các bộ phận câu
thông qua việc đặt câu hỏi Ai (Cái gì, Con gì)?; Làm gì?; Thế nào?; ở đâu?; Khi
nào? Đến lớp 4, học sinh mới biết các bộ phận câu tơng ứng là chủ ngữ, vị ngữ
hay trạng ngữ ở lớp 5, học sinh đợc học về câu ghép và các phơng thức liên kếtcâu trong đoạn, bài
Quan điểm này còn đợc thể hiện ở cả cấu trúc nội dung bài học hình thànhkhái niệm phân môn Luyện từ và câu Mỗi bài lí thuyết về câu và thành phần câu
+ Bài tập nhận diện (thờng là các bài tập đầu phần luyện tập) với các yêucầu nh : tìm, xác định, chỉ ra, gạch chân,… Giáo viên cần nắm đ
Ví dụ: Tìm (xác định) CN (VN, TN) của câu; tìm các vế của câu ghép… Giáo viên cần nắm đ
Dạng bài tập này có mục đích củng cố nhận thức về kiến thức lí thuyết cho họcsinh để từ đó có cơ sở làm bài tập vận dụng
+ Bài tập vận dụng sáng tạo (thờng là các bài tập sau bài tập nhận diện) vớicác yêu cầu nh : đặt câu, viết đoạn… Giáo viên cần nắm đ
Ví dụ: Tách các bộ phận của câu; ghép các bộ phận cho trớc thành câu đúng;thêm bộ phận thích hợp vào chỗ trống trong câu; đặt câu theo mô hình, chủ đềhay cấu trúc cho trớc; viết đoạn văn ngắn… Giáo viên cần nắm đ
Dạng bài tập này có nhiệm vụ đa hiểu biết lí thuyết của học sinh vận dụng vàothực tiễn giao tiếp
Trang 22Cấu trúc bài học nh trên giúp rèn cho học sinh thói quen sử dụng sáchnhanh chóng, có hiệu quả Theo quan điểm tích hợp, ngữ liệu trong phần nhậnxét thờng đợc rút ra từ những bài tập đọc mà học sinh đã học Các ngữ liệu mangtính điển hình cao, có số lợng chữ hạn chế để đảm bảo tính hiệu quả của việcphân tích và tránh làm mất thời gian học tập Phần luyện tập giúp học sinh củng
cố và vận dụng kiến thức đã học Việc phân bố các bài tập từ dễ đến khó, từ đơngiản đến phức tạp còn có thêm mục đích là mở rộng kiến thức cho học sinh,thông qua thực hành luyện tập với các yêu cầu khác nhau mà giúp học sinh hiểuthêm một bộ phận kiến thức nào đó chuẩn bị cho nội dung học tiếp hoặc cần lu ýkhi sử dụng
Mặt khác, ở bài học trớc và bài tập trớc với bài học sau và bài tập sau giữacác khối lớp hay trong cùng một phân môn, thậm chí trong cùng một quyển sáchTiếng Việt thể hiện rõ nguyên tắc tích hợp kiến thức Quan hệ giữa các bài học,bài tập về câu và thành phần câu ở lớp 4, 5 mang tính đồng tâm, mở rộng Trongcùng một lớp, một nội dung học về câu ghép có sự sắp xếp theo trình tự từ đơngiản đến phức tạp, từ bài tập nhận diện đến bài tập vận dụng sáng tạo
Nh vậy SGK Tiếng Việt hiện hành đã biên soạn nội dung các bài học líthuyết về câu và thành phần câu theo hớng tích hợp, hớng giao tiếp, nghĩa làkhông trình bày kiến thức nh là những kết quả có sẵn mà xây dựng hệ thống câuhỏi, bài tập hớng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động nhằm chiếm lĩnh và pháttriển kĩ năng sử dụng câu và thành phần câu Cấu trúc nội dung bài học nh trên đãtạo điều kiện cho giáo viên sử dụng phơng pháp giảng dạy thể hiện tính tích cựchoá hoạt động học tập của học sinh; phát huy tính chủ động và kích thích hứngthú của các em; giảm bớt sự khô khan, trừu tợng vốn là những khó khăn còn tồntại của giờ dạy ngữ pháp nói chung
Một số ý kiến cần trao đổi:
Học sinh lớp 4 tiếp thu kiến thức về thành phần câu gắn với các mẫu câu
kể Ai làm gì?, Ai thế nào?, Ai là gì? Đến lớp 5 các em phải xác định các thành
phần câu của những câu không thuộc các mẫu câu kể nói trên Điều này cũng gâynhững khó khăn nhất định cho việc dạy học câu và thành phần câu ở Tiểu học
Trong dạy học về kiểu câu phân loại theo cấu trúc còn tồn tại nhiều quan
điểm xung quanh vấn đề về câu đơn, câu ghép Sự phân biệt câu đơn, câu ghépkhông chỉ ở phơng diện số lợng cụm chủ vị trong câu (nh phần lí thuyết chúng tôi
đã trình bày ở chơng 1) Phơng diện thứ hai của sự phân biệt này là trờng hợp câu
Trang 23có chứa kết từ (hoặc cặp phụ từ liên kết) đánh dấu các phần nh trong câu ghépnhng một trong hai phần hoặc cả hai phần trong câu lại không phải là một cụmchủ vị đợc biểu hiện đầy đủ Chẳng hạn, so sánh các ví dụ sau :
Ví dụ 1: (1) Vì nó ốm, nó không đi làm đợc
(2) Vì ốm, nó không đi làm đợc
Ví dụ 2: (3) Nó không đi làm đợc vì nó ốm
(4) Nó không đi làm đợc vì ốm
Sự phân biệt câu đơn và câu ghép thờng có tính chất quy ớc và hình thức,
do đó đã có ý kiến cho rằng nên coi tất cả những câu nh trên đều là câu đơn cóphần phụ mở rộng câu, hoặc đều là câu ghép Cả hai đề nghị này đều chỉ có tácdụng gạt bỏ vấn đề ở một bậc miêu tả nào đó chứ cha có tác dụng giải quyết vấn
đề Đối với học sinh tiểu học, khi yêu cầu các em đặt (xác định) câu ghép, họcsinh dựa vào khái niệm và cách nối các vế câu ghép dễ dàng đặt đợc câu ghép t-
ơng tự nh (1), (3) Tuy nhiên, với mục đích phục vụ giao tiếp, có thể thấy hoạt
động nói - viết thờng ngày lại phần lớn sử dụng kiểu câu nh (2), (4) Trong trờnghợp này việc hớng dẫn học sinh xác định và lí giải đâu là câu đơn, đâu là câughép, dựa vào dấu hiệu nào… Giáo viên cần nắm đ vẫn là vấn đề không đơn giản
Thực vậy, chúng tôi xét tiếp một ví dụ cụ thể trong SGK Tiếng Việt để
thấy rõ hơn vấn đề đã nêu ở trên Phần luyện tập, bài : “Nối các vế câu ghép bằng
quan hệ từ” (Tiếng Viêt 5, tâp 2, tr 8) cho phần ngữ liệu gồm các câu sau:
1.b Nếu là chim, tôi sẽ là loài bồ câu trắng.
Nếu là hoa, tôi sẽ là một đoá hớng dơng.
Nếu là mây, tôi sẽ là một vầng mây ấm.
Là ngời, tôi sẽ chết cho quê hơng.
(Trơng Quốc Khánh)
Theo định nghĩa về câu ghép (TV5, tập 2, tr 8): “Câu ghép là câu do nhiều
vế câu ghép lại Mỗi vế câu ghép thờng có cấu tạo giống một câu đơn (có đủ chủ ngữ, vị ngữ) và thể hiện một ý có quan hệ chặt chẽ với ý của những vế câu khác ”,
SGK Tiếng Việt 5 vẫn xem các câu trong ví dụ trên là câu ghép Ba câu đầu tiên
đều gồm hai vế câu, một vế câu nêu giả thiết : Nếu là chim (hoa, mây)“ ”; một vế
nêu kết quả : “Tôi sẽ là loài bồ câu trắng (đoá hớng dơng, vầng mây ấm)” Cái
khác của câu ghép này so với các câu ghép hoàn chỉnh (nh định nghĩa câu ghép ở
trên) là vế câu 1 lợc chủ ngữ “tôi” Dựa vào ngữ cảnh ta hoàn toàn có thể khôi phục từ ngữ bị lợc này : “Nếu tôi là chim (Nếu tôi là hoa; Nếu tôi là mây)” Vấn
Trang 24đề này tơng đối phức tạp so với khả năng tiếp nhận của học sinh Và SGK TiếngViệt 5 đã xem các câu trên là câu ghép, không yêu cầu học sinh phân tích câu
này mà chỉ yêu cầu học sinh : “Tìm vế câu chỉ điều kiện (giả thiết), vế câu chỉ kết
quả và các quan hệ từ nối chúng” Lúc này đặt ra một vấn đề: ở câu cuối (Là
ng-ời, tôi sẽ chết cho quê hơng), giáo viên cần giải thích nh thế nào cho học sinh
trong trờng hợp học sinh cũng chỉ ra 2 vế ở câu này nh ba câu đã nêu bên trên? Riêng ở câu cuối hiện nay có tồn tại nhiều quan điểm phân tích khác nhau :
+ Đây là câu đơn với một thành phần phụ (Là ngời) đứng đầu câu + Đây là câu đơn với vị ngữ đồng chức (Là ngời) đứng đầu câu + Đây là câu ghép với vế câu 1 (Là ngời) lợc chủ ngữ.
Ta có thể thấy với câu: “Là ngời, tôi sẽ chết cho quê hơng” khó có thể coi bộ phận “Là ngời” là vế câu chỉ điều kiện hay giả thiết đã lợc bỏ quan hệ từ “Nếu” (Ngoài ra, việc tác giả dùng : “Là ngời” đơng nhiên đúng về ý nghĩa và thực tế sử
dụng nên khó chấp nhận khi cho rằng đây là vế câu chỉ điều kiện hay giả thiết)
Tuy nhiên, nếu coi đây là câu đơn với một thành phần phụ: “Là ngời” thì việc xác
định đây là loại thành phần phụ nào, phải đặt câu hỏi nh thế nào để xác địnhthành phần phụ đó cũng không hề đơn giản
Liên quan đến nội dung này, một vấn đề giáo viên cần lu ý khi dạy học vềcâu và thành phần câu cho học sinh đó là xác định cơ sở để phân biệt câu ghép cómột vế câu lợc bỏ chủ ngữ với trạng ngữ nh thế nào Vấn đề này sẽ đợc chúng tôibàn thêm ở chơng 3
2.2 Thực trạng dạy học kiểu bài hình thành khái niệm về kiểu câu và thành phần câu ở Tiểu học
Học sinh tiểu học đợc cung cấp kiến thức về câu và thành phần câu trongSGK Tiếng Việt thông qua sự truyền thụ của giáo viên Cùng với việc học lýthuyết, các em cũng đợc thực hành luyện tập các bài tập về thành phần câu (xác
định CN, VN, TN) và các kiểu câu (câu đơn, câu ghép), dần dần hình thành vàphát triển khả năng phân tích, nhận diện câu và các thành phần câu Tiếng Việt.Tuy nhiên việc học sinh nắm đợc kiến thức về câu và thành phần câu và vận dụngnhững kiến thức đó nh thế nào cho phù hợp, đúng chuẩn quy tắc ngữ pháp thìphải qua điều tra thực tế thế mới có thể đánh giá một cách chính xác Vì vậy, cầnthiết phải điều tra, tìm hiểu khả năng tiếp thu lí thuyết và thực hành về câu vàthành phần câu của học sinh tiểu học Dới đây chính là những nội dung chúng tôi
đã điều tra đợc theo định hớng trên
Trang 252.2.1 Mục đích điều tra
Nh đã nêu ở trên, mục đích của việc điều tra này nhằm đánh giá năng lựctiếp thu lí thuyết về các kiểu câu và thành phần câu của học sinh sau khi đã đợcgiáo viên truyền thụ những kiến thức cơ bản, cần thiết theo quy định đồng thờinắm bắt năng lực vận dụng những kiến thức lí thuyết các em đã học vào thựchành làm các bài tập có liên quan đến câu và thành phần câu
2.2.2 Đối tợng điều tra
Đối tợng điều tra là các em học sinh khối lớp 4, 5; học sinh lớp 4 vừa họcxong lý thuyết thành phần câu, học sinh lớp 5 đã đợc ôn tập củng cố kiến thức vềthành phần câu và đợc cung cấp những hiểu biết về câu đơn, câu ghép
Cụ thể ở đây là các em học sinh khối lớp 4, 5 của 3 trờng thuộc 3 địa
ph-ơng khác nhau đó là:
+ Trờng Tiểu học Phù Lỗ A (Sóc Sơn - Hà Nội)
+ Trờng Tiểu học Trng Nhị (Phúc Yên - Vĩnh Phúc)
+ Trờng Tiểu học Phong Hải (Yên Hng - Quảng Ninh)
Việc điều tra đợc tiến hành trên cả 3 trờng tiểu học có điều kiện học tậpkhác nhau, ở ba địa phơng có sự phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục khác nhau
là để việc điều tra mang tính khái quát hơn, ngời điều tra có đợc cái nhìn tổngthể, khách quan và khẳng định độ tin cậy của kết quả điều tra
2.2.3 Cách thức điều tra và kết quả điều tra.
a Cách thức điều tra
Để nắm bắt khả năng tiếp thu lí thuyết và vận dụng lí truyết trong thực hànhlàm các bài tập về câu và thành phần câu tiếng Việt, chúng tôi tiến hành điều trabằng hai cách :
Cách 1: Điều tra qua phiếu khảo sát
Cách 2: Điều tra qua quan sát dự giờ
b Nội dung điều tra
Nội dung điều tra qua phiếu khảo sát, đó là các bài tập đợc chọn từ 3 nguồn : + Một số bài tập trong các bài học lí thuyết về câu và thành phần câu -SGK Tiếng Việt 4, 5
+ Một số bài tập trong sách Bài tập Tiếng Việt 4, Tiếng Việt nâng cao 4, 5 + Một số bài tập do chúng tôi tự biên soạn dựa trên thực tế sử dụng câutrong giao tiếp của học sinh Tiểu học
Trang 26Nội dung điều tra quan sát dự giờ : chúng tôi tiến hành dự 2 tiết tại hai trờng :trờng Tiểu học Phù Lỗ A
Tiết 1: Chủ ngữ trong câu kể Ai là gì? (TV 4, tập 2, tr 68)
Tiết 2: Câu ghép (TV 5, tập 2, tr 8)
2.2.4 Nhận xét kết quả điều tra
a) Nhận xét qua quan sát dự giờ
Qua quan sát toàn bộ quá trình dạy học chúng tôi nhận thấy một số điềucần lu ý có liên quan đến vấn đề lĩnh hội kiến thức mới và vận dụng trong quátrình thực hành luyện tập của học sinh về câu và thành phần câu Trên cơ sở dựgiờ hai tiết học chúng tôi có một số nhận xét nh sau:
Tiết: Câu kể Ai thế nào?“ ” (Tiếng Việt 4, tập 2, tr 23)
Bài tập phần nhận xét nêu yêu cầu: Đọc đoạn văn sau:
Bên đờng, cây cối xanh um Nhà cửa tha thớt dần Đàn voi bớc đi chậm rãI,
Chúng thật hiền lành Ngời quản tợng ngồi vắt vẻo trên chú voi đi đầu Anh trẻ
và thật khoẻ mạnh Thỉnh thoảng, anh lại cúi xuống nh nói điều gì đó bới chú voi.
(Theo Hữu Trị) Học sinh đã nắm đợc đặc điểm, ý nghĩa của câu kể Ai làm gì?, đến bài họcnày học sinh đợc cung cấp lí thuyết cơ bản về câu kể Ai thế nào? Học sinh vậndụng những kiến thức và những nội dung có liên quan đến câu kể Ai thế nào? đểthực hiện yêu cầu của các bài tập trong SGK Tiếng Việt (tr 32) Để giúp học sinhtìm hiểu bài, phần ngữ liệu nêu yêu cầu học sinh tìm các từ ngữ chỉ đặc điểm,tính chất hoặc trạng thái của sự vật trong các câu ở đoạn văn trên rồi đặt câu hỏicho các từ ngữ vừa tìm đợc Học sinh thực hiện yêu cầu trên thực chất là đi xác
định kiểu câu Ai thế nào? Tuy nhiên không ít học sinh nhầm lẫn ở hai câu:
Đàn voi bớc đi chậm rãi.
Ngời quản tợng ngồi vắt vẻo trên chú voi đi đầu.
Trớc hết cần khẳng định hai câu này thuộc kiểu câu Ai làm gì?, song học sinh
vẫn xác định các các cụm vị từ “bớc đi chậm rãi”, “ngồi vắt vẻo” thoả mãn yêu cầu bài tập và đặt câu hỏi “Thế nào?” cho các cụm từ đó (24/33 học sinh chiếm
72,7%) Về mặt kiến thức ngữ pháp, do cha nắm vững lí thuyết và do đặc điểm lứa tuổi; học sinh tiểu học rất dễ bị các dấu hiệu bên ngoài chi phối dẫn tới nhầm lẫn trong xác định câu và thành phần câu ở hai câu trên, các em “tởng nh” các từ
“bớc đi”, “ngồi” cũng trả lời cho câu hỏi “Thế nào” vì trong cụm động từ làm vị ngữ có các tính từ “chậm rãi”, “vắt vẻo” làm cho các cụm động từ ấy giống nh
Trang 27chỉ vận động, quá trình thuộc thuộc về nhận thức, trạng thái Tuy nhiên, các tính
từ ấy không trả lời cho cấu hỏi “nh thế nào?” mà chỉ miêu tả cho các hoạt động
“bớc đi”, “ngồi”; và các động từ này trả lời cho câu hỏi “làm gì?”, do đó hai câu trên thuộc kiểu câu “Ai làm gì?” Các em phần lớn căn cứ vào đặc điểm từ loại mà
không chú ý đến ý nghĩa diễn tả “hành động của sự vật (câu kể Ai làm gì?)” và
“trạng thái của sự vật (câu kể Ai thế nào?)” Trong quá trình thực hành luyện tập, chúng tôi nhận thấy học sinh đặt và trả lời câu hỏi một cách máy móc để tìm chủ ngữ, vị ngữ mà hầu nh ít em nắm đợc ý nghĩa của vị ngữ trong mối quan hệ tơng hợp về nghĩa với chủ ngữ Và bị chi phối bởi các dấu hiệu hình thức nên phần lớncác em nhầm lẫn khi xác định kiểu câu và các thành phần câu trong những câu cóthể hiện nhiều đặc điểm bên ngoài nh các câu trên
Tiết Câu ghép“ ” (Tiếng Việt 5, tâp 2, tr 8)
Đây là bài học giới thiệu cho học sinh định nghĩa cơ bản về câu ghép Mục
đích chủ yếu trong hệ thống các bài học về câu ghép không phải là học sinh biết nhận biết các kiểu câu ghép mà các em biêt thể hiện mối quan hệ giữa những sự việc nêu ở các vế câu bằng phơng tiện ngôn ngữ thích hợp Và bài học về câu ghép vừa nêu cần nhấn mạnh cho học sinh hiểu cấu trúc câu và mối quan hệ chặt chẽ về ý nghĩa giữa các vế của câu ghép Tuy nhiên để có thể phân tích lí giải chohọc sinh hiểu và ghi nhớ mối quan hệ qua lại giữa các vế trong câu ghép không phải đơn giản Điều này đợc thể hiện ngay ở phần khai thác ngữ liệu bài cũng nh trong phần luyện tập thực hành, đó là hai phần đa ra hai đoạn văn và đều nêu yêu
cầu cho học sinh dới dạng câu hỏi có nội dung: “Có thể tách mỗi cụm chủ ngữ -
vị ngữ (mỗi vế) trong câu ghép nói trên thành một câu đơn đợc không? Vì sao?.”
Đa phần các em trả lời đúng đáp án là không thể tách mỗi vế câu ghép đã cho thành một câu đơn nhng lại không lí giải đợc (29/33 học sinh chiếm 87,9% khônggiải thích đợc, 4/33 học sinh chiếm 12,1% giải thích nhng không rõ ý) Có những
em không hiểu lí do tại sao không thể tách đợc các vế câu, có em “cảm nhận” đợc
sự liên kết giữa các vế câu song không thể hiện, diễn đạt đợc mối quan hệ này Nếu giáo viên cũng chỉ giải thích “không thể tách mỗi vế câu ghép nói trên thành một câu đơn vì mỗi vế câu thể hiện một ý có quan hệ rất chặt chẽ với ý của vế câukhác” một cách chung chung trên cả hai ví dụ cụ thể đã nêu thì khó có thể giúp học sinh hiểu rõ mối quan hệ giữa các vế câu ghép “nh thế nào mà không thể tách
vế câu” và có thể lí giải đợc mối quan hệ đó
Trang 28Khi đặt câu ghép nói trên trong đoạn văn, bài văn thì việc tách mỗi vế câu ghépthành câu đơn sẽ ảnh hởng đến toàn mạch văn Điều đó có nghĩa là với trờng hợp này, giáo viên cần căn cứ vào sự liên kết trong câu văn, đoạn văn để giải thích cho học sinh thấy mối quan hệ mật thiết giữa các vế câu giúp học sinh qua đó nắm vững kiến thức về câu ghép nói chung Cụ thể trong bài, ta xét hai đoạn văn với cùng một kiểu yêu cầu nh SGK Tiếng Việt 5 đã nêu:
Đoạn văn 1 (phần nhận xét): Mỗi lần rời nhà đi, bao giờ con khỉ cũng nhảy
phóc lên ngồi trên lng con chó to Hễ con chó đi chậm, con khỉ cấu hai tai chó giật giật Con chó chạy sải thì khỉ gò lng nh ngời phi ngựa Chó chạy thong thả, khỉ buông thõng hai tay, ngồi ngúc nga ngúc ngắc.
(Đoàn Giỏi)
Đoạn văn 2 (phần luyện tập): Biển luôn thay đổi màu tuỳ theo sắc mây
trời Trời xanh thẳm, biển cũng xanh thẳm nh dâng cao lên, chắc nịch Trời rải mây trắng nhạt, biển mơ màng dịu hơi sơng Trời âm u mây ma, biển xám xịt nặng nề Trời ầm ầm giông gió, biển đục ngầu giận dữ … Biển nhiều khi rất đẹp,
ai cũng thấy nh thế Nhng có một điều ít ai chú ý là: vẻ đẹp của biển, vẻ đẹp kì diệu muôn màu muôn sắc ấy phần rất lớn là do mây, trời và ánh sáng tạo nên.
(Vũ Tú Nam) Đoạn văn 1 với nội dung kể về mối thân tình giữa hai con vật và những trònghịch ngợm của con khỉ đối với con chó Tác giả viết ba câu ghép liên tiếp đểthuật lại cách ứng xử của con khỉ trong ba trờng hợp : khi con chó đi chậm, chạynhanh và chạy thong thả Nếu tách mỗi câu ghép nói trên thành hai câu đơn thìmối quan hệ chặt chẽ về nghĩa giữa các vế câu, giữa các câu trong đoạn sẽ bị phá
vỡ khiến câu chuyện trở nên rời rạc
Đoạn văn 2 đợc viết theo kiểu tổng - phân - hợp, mở đầu tác giả nêu lên
một nhận xét khái quát định hớng cho toàn bộ đoạn văn (Biển luôn thay đổi màu
sắc tuỳ theo sắc mây trời), mỗi câu tiếp theo đều triển khai theo hớng đó để minh
họa cho câu mở đoạn, câu kết đoạn nêu tổng kết về điều đã nói trong đoạn văn
Do đó nếu tách mỗi câu ghép sau câu mở đoạn thành hai câu thì không thể nóinên đợc sự liên quan giữa sắc mây trời với màu nớc biển
Nh vậy để học sinh nắm đợc mối quan hệ chặt chẽ giữa các vế câu ghép, hiểu
đợc sự liên kết giữa các vế câu để biểu đạt ý nghĩa câu văn một cách trọn vẹn,hoàn chỉnh, là điều kiện để các em lĩnh hội các nội dung kiến thức nói chung cóliên quan đến câu ghép; giáo viên không nên chỉ dừng lại ở mức độ giải thích
Trang 29(cũng nh không bằng lòng với giải thích từ phía học sinh) theo kiểu “không thểtách mỗi câu ghép nói trên thành một câu đơn vì các vế trong câu diễn tả những ý
có quan hệ chặt chẽ với nhau Tách mỗi vế câu thành một câu đơn sẽ tạo ra chuỗicâu rời rạc, không gắn kết với nhau về nghĩa” Giáo viên cần phân tích, lí giải chohọc sinh (nh đã nêu ở hai đoạn văn nói trên) một cách cụ thể gắn với câu văn,
đoạn văn trong SGK, giúp học sinh nắm đợc quan hệ ý nghĩa của câu ghép, giữacác vế trong câu ghép Đó cũng là cơ sở giúp học sinh nhận diện, đặt câu, viết
đoạn… Giáo viên cần nắm đcó hiệu quả cao
b Nhận xét qua kết quả điều tra
Trang 30TH Phong Hải 70 19 27,1 35 51,4
Nhận xét
Kết quả điều tra cho thấy khả năng tiếp thu lý thuyết thành phần câu củahọc sinh các trờng thuộc ba vùng khác nhau là khác nhau Vùng thị xã chất lợngtiếp thu lí thuyết cao nhất và vùng nông thôn khả năng tiếp thu lí thuyết thấpnhất
Lớp 4: Học sinh lớp 4 vừa học xong lí thuyết về thành phần chính của câu nhng
qua kết quả điều tra thực tế cho thấy các em cha nắm vững kiến thức về thànhphần câu, cấu trúc cú pháp của câu dẫn tới học sinh thờng nói - viết sai Các embiết CN là bộ phận thứ nhất, VN là bộ phận thứ hai nhng cha khái quát đợc chúng
là bộ phận chính, bộ phận quan trọng nhất không thể thiếu trong câu Các em biết
đợc TN là bộ phận xác định thời gian, nơi chốn, nguyên nhân, mục đích, nhngcha khái quát đợc nó là thành phần phụ của câu, có thể có hoặc không có trongcâu Tuy SGK và giáo viên đã hình thành lí thuyết phải đặt câu hỏi và trả lời câu
hỏi để xác định các thành phần câu : CN trả lời cho câu hỏi Ai (cái gì, con gì)?,
VN trả lời cho câu hỏi : Làm gì?, Làm thế nào?, Là gì?, TN trả lời cho các câu hỏi : Khi nào?, Vì đâu?, Vì sao? song học sinh vẫn khó khăn trong việc ghi nhớ
và vận dụng
Phần lớn học sinh không nắm đợc ý nghĩa của CN, VN, TN trong câu, mức
độ hiểu biết nhất định về thành phần câu và kiểu câu cha đạt mức yêu cầu Không
ít học sinh lấy từ loại làm cơ sở phân tích, xác định CN, VN Đây là nguyên nhânkhông nhỏ dẫn tới việc học sinh nhận diện sai các thành phần chính của câu
Học sinh lĩnh hội kiến thức về thành phần câu một cách máy móc, các embám vào một loại câu kể nhất định mới xác định đợc cấu trúc câu Từ ba mẫu câu
kể trên các em mới có thể đặt câu hỏi để tìm đợc CN, VN của câu và từ đó mớinhận diện đợc 2 thành phần chính CN, VN Yêu cầu học sinh tìm CN, VN khônggắn với một mẫu câu cụ thể, các em phần lớn không làm đợc Bên cạnh đó câu
hỏi Thế nào? thờng làm cho các em nhầm lẫn việc xác định VN với bổ ngữ của
động từ, tính từ Học sinh tỏ ra thuận lợi hơn khi xác định CN, VN của các câuthuộc ba kiểu câu kể đã học song do không nắm vững các kiểu câu và ý nghĩatừng bộ phận trong câu khi xác định kiểu câu, đặt và trả lời câu hỏi để xác địnhcác thành phần câu nên việc vận dụng lí thuyết đã học thiếu tính chủ động, linhhoạt
Chẳng hạn xét câu:“Đàn voi chậm rãi bớc đi” ta có thể đặt 2 câu hỏi nh sau: