Sinh viênLời cam đoan Với thái độ và tinh thần làm việc nhiệt tình và nghiêm túc, đặc biệt là sự hướng dẫn hết sức tận tình của ThS – GVC Khoa Văn, thầy Lê Bá Miên, tôi đã hoàn thành đề
Trang 1Sư Phạm Hà Nội 2 đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện đề tài này Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến tập thể giáo viên và học sinh trường Tiểu học Thị Trấn Sóc Sơn
và trường Tiểu học Cảnh Thuỵ đã tạo điều kiện để tôi tiến hành điều tra thống kê kết quả nghiên cứu của đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2008
Trang 2Sinh viên
Lời cam đoan
Với thái độ và tinh thần làm việc nhiệt tình và nghiêm túc, đặc biệt là sự hướng dẫn hết sức tận tình của ThS – GVC Khoa
Văn, thầy Lê Bá Miên, tôi đã hoàn thành đề tài “Tìm hiểu khả
năng xác định từ loại cơ bản của học sinh tiểu học lớp 4 trên
cơ sở các bài Tập đọc” Tôi xin cam đoan kết quả này là của
riêng tôi, không trùng với kết quả của tác giả khác
Hà Nội, ngày 29 tháng 4 năm 2008
Trang 3Tràn Thị Hoa
Trang 43 Mục đích nghiên cứu - Nhiệm vụ nghiên cứu 07
4 Phương pháp nghiên cứu
5 Đối tượng nghiên cứu - Phạm vi nghiên cứu
6 Dự kiến cấu trúc của bài viết
Phần nội dung
Chương 1: Những vấn đề về từ loại cơ bản và việc học từ loại
cơ bản của học sinh tiểu học
1 Khái niệm về từ loại
2 Việc dạy và học từ loại cơ bản ở tiểu học
Chương 2: Miêu tả, phân loại về khả năng xác định từ loại cơ
bản của học sinh tiểu học
Loại 1: Bà tập nhận biết và phân Loại từ loại cơ bản
1 Khả năng nhận biết về danh từ
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Quyết định số 2957/QĐ - ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã chỉ rõ vai trò và tính chất của Giáo dục Tiểu học: Tiểu học là cấp họcnền tảng, đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển toàn diệnnhân cách con người, đặt nền tảng vững chắc cho Giáo dục Phổ thông vàcho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân” Vì vậy, giáo dục Tiểu học cầnđược chuẩn bị tốt về mọi mặt để học sinh tiếp tục học lên trên
Trong chương trình tiểu học, Tiếng Việt là một môn chính, chiếmnhiều tiết trong tuần Trong các giờ Tiếng Việt, nhà trường đã cung cấpcho học sinh những kiến thức về ngôn ngữ như: kiến thức về ngữ âm, từvựng, ngữ pháp, tu từ học - phong cách học tiếng Việt, giữ gìn sự trong sánggiàu đẹp của tiếng Việt
Trong tiếng Việt, phân môn “Luyện từ và câu” có nhiệm vụ cung cấpkiến thức tiếng Việt cho học sinh, trong đó có kiến thức về ngữ pháp học
Trong lịch sử ngôn ngữ học, ngay từ thời Hi Lạp cổ đại, gắn liền với
sự ra đời và phát triển của ngữ pháp học, từ loại đã được nghiên cứu rấtsớm Nó là một vấn đề cổ truyền bậc nhất của ngữ pháp học truyền thống
ở tiếng Việt cũng như ở nhiều ngôn ngữ khác, từ loại được xem là một bộphận không thể thiếu được trong cơ cấu ngữ pháp học Từ loại tiếng Việthết sức phong phú, có thể xếp thành hai nhóm chính: nhóm thực từ vànhóm hư từ Trong thực từ, có danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ,…;
Trang 6trong hư từ có quan hệ từ, tình thái từ, trợ từ,… Trong danh từ, động từ,tính từ lại bao gồm những loại nhỏ hơn Vì vậy, việc tìm hiểu từ loại tiếngViệt là rất rộng Trong khuôn khổ của khoá luận này, tôi xin được tìm hiểu
về đề tài “Tìm hiểu khả năng xác định từ loại cơ bản của học sinh tiểu
học lớp 4 trên cơ sở các bài Tập đọc”.
Xác định từ loại chính xác cho các từ trong văn bản tiếng Việt là vấn
đề rất quan trọng trong lĩnh vực xử lý ngôn ngữ tự nhiên Việc xác định này
sẽ hỗ trợ cho việc phân tích cú pháp các văn bản góp phần giải quyết tính
đa nghĩa của từ và trợ giúp các hệ thống rút trích thông tin đến ngữ nghĩa
Hệ thống bài tập về từ loại có số lượng không nhiều song vấn đề từ loạitiếng Việt được đưa vào giảng dạy ngay từ cấp tiểu học, trung học cơ sở,trung học phổ thông và lên cả đại học Các bài tập trong sách giáo khoa là
cơ bản, đa số học sinh đều làm được do đó khó phân loại học sinh và pháthiện học sinh khá, giỏi Trong khi đó, để dạy học đạt hiệu quả cao cần phânloại học sinh để các bài tập đưa ra không tạo sự nhàm chán hay khó quá đốivới các em Qua điều tra thực tế việc xác định từ loại cơ bản của học sinh,tôi nhận thấy còn những vấn đề tồn tại làm cho hiệu quả học từ loại tiếngViệt chưa cao Là một giáo viên tiểu học tương lai, tự nhận thấy tầm quantrọng của việc bồi dưỡng kiến thức tiếng Việt cho học sinh, tôi mạnh dạn
chọn và thực hiện đề tài “ Tìm hiểu khả năng xác định từ loại cơ bản của
học sinh tiểu học lớp 4 trên cơ sở các bài Tập đọc”, với mong muốn được
học hỏi, nâng cao tri thức cho học sinh Đồng thời đề ra một số biện phápthích hợp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả bài giảng của mình sau này
Trang 7Các nhà ngữ pháp của học phái A lêch xăng đri định nghĩa danh từ vàđộng từ không phải theo các thành phần của phán đoán mà theo những khái niệm
do chúng biểu hiện: “Danh từ là từ loại biến cách chỉ vật thể đồ đạc, được phátngôn cả cái chung và cái riêng” “Động từ là từ loại không biến cách và thể hiệncác hoạt động chủ động, bị động”
Thế kỉ XVII - XVIII các nhà ngữ pháp duy lý lại đặt trở lại mối quan hệgiữa từ loại và các phạm trù của lô gic, cụ thể là mối quan hệ giữa động từ với vịthể của phán đoán Danh từ và tính từ được giải thích như là những từ chỉ sự vậtkhông xác định nào đó qua một khái niệm đã xác định mà ngẫu nhiên đối vớibản chất sự vật
Trong nhiều năm, mối quan hệ giữa từ loại và các phạm trù của lô gicchưa được giải quyết một cách thoả đáng Phải đến cuối thế kỉ XIX vấn đề từloại tiếng Việt mới được bàn lại, theo đó vấn đề từ loại được xem xét:
Năm 1986, tác giả Đinh Văn Đức trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (Từloại) quan tâm đến các vấn đề:
Trang 81) Bản chất và các đặc trưng của từ loại, tiêu chuẩn phân định từ loại.2) Hệ thống các từ loại tiếng Việt.
3) Từ loại là các phạm trù của tư duy
Năm 1999, tác giả Lê Biên trong cuốn Từ loại tiếng Việt hiện đại, NxbGiáo dục nghiên cứu các vấn đề: khái niệm về từ loại, đối tượng, tiêu chí, mụcđích phân định từ loại Đặc biệt tác giả đi sâu tìm hiểu hệ thống từ loại cơ bản,ranh giới giữa từ loại cơ bản với từ loại không cơ bản
Đến năm 2004 trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, khi nghiêncứu về từ loại tiếng Việt Diệp Quang Ban đã đưa ra ba tiêu chuẩn để phân định
từ loại tiếng Việt: ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp, chức vụ cú pháp Ngoài rakhi bàn về vấn đề các lớp từ tiếng Việt, tác giả phân thành hai lớp lớn: thực từ và
hư từ Trong đó, tác giả tập trung nghiên cứu ba từ loại thuộc lớp thực từ: danh
từ, động từ, tính từ
Và gần với đề tài chúng tôi nghiên cứu là cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, NxbGiáo dục, 2006, tác giả Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thung đã dành ra mộtchương nghiên cứu về từ loại tiếng Việt với trọng tâm là tiêu chuẩn phân định từloại và hệ thống từ loại tiếng Việt Theo tác giả, hệ thống từ loại tiếng Việt có thểsắp xếp thành hai nhóm:
Nhóm 1: danh từ, động từ, tính từ, số từ đại từ
Nhóm 2: phụ từ (định từ, phó từ); kết từ; tiểu từ (trợ từ và tình thái từ)
Đồng thời tác giả có sự lý giải cho cách sắp xếp nêu trên
Những cuốn sách trên chỉ viết trên cơ sở lí luận mà không được thựcnghiệm ở trường Tiểu học Nhận thức được tầm quan trọng của việc gắn lý
Trang 9thuyết với thực tiễn, gắn việc tiếp thu tri thức và thực hành tri thức, chúngtôi mạnh dạn tiến hành điều tra thực nghiệm về khả năng xác định từ loại
cơ bản của học sinh tiểu học Từ đó, có cơ sở đề ra biện pháp tổ chức dạyhọc phù hợp nhằm giúp học sinh xác định từ loại đạt hiệu quả tốt nhất
3 Mục đích nghiên cứu - Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi nhằm mục đích sau:
- Tìm hiểu thực tế khả năng xác định từ loại cơ bản của học sinh.
Trên cơ sở đó nhận định đúng thực trạng đối tượng học sinh như nhauthuộc các vùng khác nhau
- Phân loại được từng đối tượng học sinh để có biện pháp dạy học
phù hợp giúp học sinh xác định đúng từ loại tiếng Việt
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài này chúng tôi thực hiện nhiệm vụ:
- Tìm hiểu lý thuyết về từ loại cơ bản.
- Trên cơ sở lí luận đã có, tiến hành khảo sát thực tế tại các trường
thuộc hai vùng khác nhau là nông thôn và thành thị với đối tượng học sinhnhư nhau
- Miêu tả, phân loại và so sánh được kết quả điều tra.
- Đề xuất biện pháp dạy học hợp lý.
4 phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng các phươngpháp nghiên cứu sau:
Trang 101 Đọc và tra cứu tài liêu.
2 Điều tra thống kê tư liệu thực
3 Mô tả, phân loại và so sánh tư liệu
4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Quá trình nghiên cứu đề tài được tiến hành tuần tự theo các bước sau:
1 Đọc lý thuyết có liên quan đến đề tài
2 Thống kê tư liệu điều tra được
3 Xử lý tư liệu điều tra bằng các biện pháp: phân tích, phân loại và so sánh
5 Đối tượng nghiên cứu - Phạm vi nghiên cứu
5 1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là học sinh thuộc khối lớp 4
5 2 Phạm vi nghiên cứu
Như chúng tôi đã trình bày trước đó, tìm hiểu về từ loại là một đề tàirộng Vì vậy, trong khuôn khổ của khoá luận này, chúng tôi chỉ đề cập
nghiên cứu một khía cạnh nhỏ là “Tìm hiểu việc xác định từ loại cơ bản
của học sinh tiểu học lớp 4 trên cơ sở các bài Tập đọc” Từ đó đề xuất
một số biện pháp giảng dạy phù hợp và hiệu quả
6 D ki n c u trúc c a b i vi tự kiến cấu trúc của bài viết ến cấu trúc của bài viết ấu trúc của bài viết ủa bài viết ài viết ến cấu trúc của bài viết
Trang 114 Phương pháp nghiên cứu
5 Đối tượng nghiên cứu - Phạm vi nghiên cứu
6 Dự kiến cấu trúc của bài viết
Phần nội dung
Chương 1: Những vấn đề về từ loại cơ bản và việc học từ loại cơ
bản của học sinh tiểu học
1 Khái niệm về từ loại
2 Việc dạy và học từ loại cơ bản ở tiểu học
Chương 2: Miêu tả, phân loại về khả năng xác định từ loại cơ
bản của học sinh tiểu học
Loại 1: Bà tập nhận biết và phân Loại từ loại cơ bản
1 Khả năng nhận biết về danh từ
Trang 12Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TỪ LOẠI CƠ BẢN VÀ VIỆC HỌC TỪ LOẠI
CƠ BẢN CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC
1 Khái niệm về từ loại
1.1 Khái niệm:
Từ loại là những lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp được phân chiatheo ý nghĩa khái quát, theo khả năng kết hợp với các từ ngữ khác và thựchiện những chức năng ngữ pháp nhất định ở trong câu (Đinh Văn Đức -Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại)
Từ loại là khái niệm chỉ sự phâ loại từ nhằm mục đích ngữ pháp,theo bản chất ngữ pháp của từ (Lê Biên - Từ loại tiếng Việt hiện đại)
Trong cuốn Từ điển tiếng Việt - 2008 (trang 1327) định nghĩa “Từloại là phạm trù ngữ pháp bao gồm các từ có chung đặc điểm ngữ pháp và
ý nghĩa khái quát như: danh từ, động từ, tính từ,…”
1.2 Vấn đề phân định từ loại trong tiếng Việt
1.2.1 Phủ nhận sự tồn tại của từ loại, tác giả Hồ Hữu Tùng chorằng:tiếng Việt cơ cấu theo một lối khác hẳn so với các ngôn ngữ phươngTây (không có sự biến đổi hình thái) do đó không có từ loại, mà tuỳ thuộcvào vị trí trong câu mà có tính chất nhất định, một từ có thể có nhiều thuộctính khác nhau
1.2.2 Thừa nhận sự tồn tại của phạm trù từ loại.Tuy nhiên trong nhómnày có những khác biệt trong việc phân định, phân loại:
Thuần tuý ý nghĩa khái quát (Trần Trọng Kim)
Trang 13 Chức vụ cú pháp (Phan Khôi): một từ có thể thuộc về nhiều từ loại khác nhau.
Khả năng kết hợp (Nguyễn Tài Cẩn)
- Khả năng làm trung tâm của cụm từ, ngữ.
- Khả năng làm thành tố phụ của ngữ.
1.3 Tiêu chí phân định từ loại
Trong tiếng Việt, người ta dựa vào ba tiêu chí sau đây để phân chiacác từ thành từ loại:
1.3.1 ý nghĩa khái quát
Ý nghĩa khái quát là ý nghĩa phạm trù có tính chất khái quát hoá cao;
nó là kết quả của quá trình trừu tượng hoá nghĩa của hàng loạt cái cụ thể:danh từ chỉ sự vật; động từ chỉ hoạt động, trạng thái; còn tính từ chỉ đặc điểm, tính chất,…
1.3.2 Khả năng kết hợp
Khả năng kết hợp của một từ là năng lực tiềm tại của từ đó xuất hiệntrong một tổ hợp từ có nghĩa với tư cách một yếu tố thường trực trong tổ hợp từđó
- Danh từ có khả năng kết hợp với tất cả, những, các, mọi, ,này, kia, đó,…
Ví dụ: tất cả những quyển sách đó.
- Động từ có khả năng kết hợp với hãy, đừng, chớ,…Ví dụ:đừng đi.
- Tính từ có khả năng kết với hơi, rất, lắm, quá,…Ví dụ: rất đẹp.
1.3.3 Khả năng đảm nhận các chức vụ ngữ pháp
Khả năng giữ chức vụ cú pháp trong câu thường được sử dụng nhưmột tiêu chuẩn hỗ trợ Các từ thuộc một lớp nào đó có thể đảm đươngkhông phải một mà vài ba chức vụ cú pháp ở trong câu Trong số các chức
Trang 14vụ cú pháp đó thường có một hoăc vài chức vụ nổi lên rõ hơn có tính chất tiêubiểu cho lớp từ đó.
- Danh từ thường làm chủ ngữ Khi làm vị ngữ, danh từ thường phải
kết hợp với từ “là” (Ví dụ: Em là học sinh.)
- Động từ thường làm vị ngữ Khi đóng vai trò chủ ngữ, động từ mất
khả năng kết hợp với đã, sẽ, đang, cũng, vẫn, cứ, hãy, đừng, chớ,…
- Tính từ thường làm vị ngữ Khi đóng vai trò chủ ngữ tính từ mất khả
năng kết hợp với đã, đang, sẽ, đang, cũng, vẫn, cứ, rất, lắm, quá,…
1.4 Kết quả phân loại
Hệ thống từ loại tiếng Việt có thể sắp xếp thành hai nhóm, bao gồmnhững từ loại sau đây:
Trang 15lượng (những, các,…), về phía sau với các từ chỉ định (này, nọ,…) và
thường làm chủ ngữ hoặc bổ ngữ trong câu
Danh từ là một lớp từ lớn và đa dạng về ý nghĩa, về khả năng kếthợp,…nên được phân thành nhiều lớp nhỏ theo những tiêu chuẩn khácnhau, cụ thể:
1 Danh từ riêng và danh từ chung
Sự phân biệt danh từ riêng với danh từ chung căn cứ vào cách gọi têncủa chúng Danh từ riêng là tên gọi cụ thể của từng cá thể, còn danh từchung là tên gọi của từng lớp sự vật đồng chất về một phương diện nào đó
Về nghĩa, danh từ riêng không mang nghĩa, chúng là tên gọi của từngngười, tên địa danh, tên sách báo, tên gọi tổ chức,…
Danh từ chung là mảng từ lớn và đa dạng cần được xem xét ở môt số dạng khácnhau
2 Danh từ tổng hợp và danh từ không tổng hợp
Trong lớp lớn danh từ chung, việc tách ra lớp nhỏ danh từ tổng hợp là cầnthiết không chỉ do ý nghĩa mà còn bởi đặc điểm ngữ pháp của bản thân lớpcon này Những danh từ chung không mang đặc điểm ý nghĩa và ngữ phápcủa danh từ tổng hợp làm thành lớp còn lại đối lập với nó và được gọi làdanh từ không tổng hợp
Danh từ tổng hợp chỉ chung nhiều sự vật đồng chất xét ở một phương
diện nào đó, như: cây cối, bạn bè, xe cộ,…
Danh từ không tổng hợp chỉ cả lớp sự vật đồng chất, hoặc thông qua
từng cá thể sự vật như là đại diện cho cả lớp, như: bụi cây, bạn tôi, xe máy,…
Trang 16Cả danh từ tổng hợp và danh từ không tổng hợp đều có thể xem xét ởcác phương diện sau đây.
3 Danh từ vật thể, danh từ chất thể, danh từ trừu tượng, danh từ tập thể, danh từ chỉ hiện tượng thời tiết
3.1 Danh từ vật thể
Danh từ chỉ vật thể bao gồm 4 lớp con
- Danh từ chỉ đồ vật: ao, nhà, bàn, bát,…
- Danh từ chỉ thực vật: cỏ, lúa, táo, bưởi,…
- Danh từ chỉ động vật: cá, chim, trâu, bò,…
- Danh từ chỉ người: học sinh, công nhân, bác sĩ,…
3.2 Danh từ chất thể
Danh từ chất thể chỉ các chất thuộc cả ba thể là: thể rắn, thể lỏng, thể
khí, như: đá, nước, hơi, khói,…
3.3 Danh từ trừu tượng
Danh từ trừu tượng gồm các danh từ chỉ các vật thể tưởng tượng,
như: thần, thánh, ma, quỷ,…; và các danh từ chỉ khái niện trừu tượng, như: lí luận,
trí tuệ,…
3.4 Danh từ tập thể
Danh từ tập thể là danh từ chỉ những vật khác nhau về loại cụ thể nhưngthường đi kèm với nhau thành một tập hợp hoàn chỉnh, và mỗi tập hợp này
làm thành một “đơn vị rời” đếm được như: bầy, bọn, bộ, đám, đàn, lũ,…
3.5 Danh từ chỉ hiện tượng thời tiết
Trang 17Danh từ chỉ hiện thời tiết có khả năng kết hợp với một số loại từ
riêng, như: bão, chớp, lũ, lụt, gió, mưa, sấm,…
Ví dụ: ánh đi với chớp
cơn đi với bão, gió, mưa
tiếng đi với sấm, sét
…
4 Danh từ đơn vị
Trong số các danh từ vật thể có thể tách ra những từ sẵn chứa trongmình ý nghĩa “đơn vị rời” có thể đo đếm được, chúng tập hợp lại dưới cáitên chung là danh từ đơn vị
Đặc điểm chung của danh từ đơn vị là dễ dàng đứng trực tiếp sau số từchính xác, bao gồm hai lớp con:
- Danh từ đơn vị khoa học là những khái niệm trừu tượng chỉ đơn vị đo
lường do các nhà khoa học nghiên cứu và quy ước đặt ra, như: mét, lít, gam, oát,…
- Danh từ đơn vị dân gian là tên gọi các vật chứa hay các hành động
tạo lượng do nhân dân quy ước lấy làm đơn vị, như: thùng (thóc), bát
Trang 18Danh từ đếm được tuyệt đối là danh từ dễ dàng xuất hiện trực tiếp sau
số từ chính xác, gồm các nhóm con:
- Danh từ chỉ đơn vị đại lượng quy ước khoa học, như: mét, lít, sào, mẫu,
…
- Danh từ chỉ đơn vị hành chính, tổ chức xã hội,…, như: nước, tỉnh,
xã, đoàn, đội, nghề, môn,…
- Danh từ chỉ không gian, như: nơi, chốn, xứ, vùng, miền, khoảnh,…
- Danh từ chỉ đơn vị thời gian, như: dạo, khi, hồi, lúc,…
- Danh từ chỉ màu sắc, mùi vị, âm thanh, như: màu, mùi, tiếng,…
- Danh từ chỉ chức vị, như: nhà văn, nghệ sĩ, giám đốc,…
- Danh từ chỉ lần của sự việc, như: lần, lượt, phen, chuyến,…
- Danh từ chỉ khái niệm trừu tượng, như: tài năng, trí tuệ,…
…
5.1.2 Danh từ đếm được không tuyệt đối
Danh từ đếm được không tuyệt đối là những danh từ vốn không đếmđược, nhưng trong một số trường hợp sử dụng khá quen thuộc chúng có thểxuất hiện trực tiếp sau số từ chính xác
Ví dụ: Làng này có ba ao năm giếng,…
Đồng hồ ba kim, bàn tám chân,…
5.2 Danh từ không đếm được
Lớp danh từ này bao gồm:
5.2.1 Danh từ không đếm được là danh từ chất thể
Trang 19Các danh từ chất thể, như: muối, dầu, hơi,…không có khả năng trực
tiếp đứng sau số từ chính xác Chúng có thể đo đếm được thông qua cácloại đơn vị thích hợp biểu thị bằng danh từ đơn vị quy ước và một số loại từthích hợp
Ví dụ:
- hai tấn sắt, hai xe sắt, hai đống sắt,…
- hai lít dầu, hai phao dầu, hai thùng dầu,…
5.2.2 Danh từ không đếm được là danh từ tổng hợp
Các danh từ tổng hợp, như: áo quần, binh lính, xe cộ,…không có khả
năng trực tiếp đứng sau số từ chính xác Chúng chỉ có thể đo đếm đượcthông qua các danh từ đơn vị quy ước, một số danh từ tập thể thích hợpdùng làm danh từ đơn vị
Ví dụ:
- hai bộ quần áo, hai tấn quần áo;
- hai đàn gà vịt, hai xe gà vịt, hai tạ gà vịt;
- hai chục ki-lô-mét đường sá
B Động từ
Động từ là những từ biểu thị ý nghĩa khái quát về quá trình.Động từ
thường kết hợp với các từ: đã, sẽ, đang, cũng, vẫn, hãy, đừng, chớ,…
Ví dụ: Mai anh ấy sẽ đi huế.
Chức vụ cú pháp điển hình của động từ là làm vị ngữ Khi làm chủ
ngữ, động từ mất khả năng kết hợp với các từ: đã, sẽ, đang, cũng, vẫn, hãy, đừng, chớ,
…
Trang 20Động từ được phân chia thành hai lớp con: lớp động từ không độc lập vàlớp động từ độc lập.
1 Động từ không độc lập
Động từ không độc lập là những động từ về ý nghĩa, biểu thị quátrình chưa đầy đủ, chưa chọn ven; hoặc ý nghĩa quá trình không trực tiếpgắn với hành động hay trạng thái cụ thể Về khả năng kết hợp và đảmnhiệm chức năng cú pháp, do đặc điểm ý nghĩa, lớp động từ này khi làmthành phần câu thường đòi hỏi kết hợp với thực từ hay tổ hợp thực từ đểkhỏi “trống nghĩa”
Lớp động từ không độc lập bao gồm một số nhóm sau đây:
1.1 Nhóm động từ tình thái
Động từ tình thái thường biểu thị các ý nghĩa tình thái (có tính chấtquá trình) khác nhau, như:
- Từ chỉ sự cần thiết: cần, nên, phải,…
- Từ chi ý chí - ý muốn: chực, dám, đang tâm, muốn, mong muốn,…
- Từ chỉ khả năng: có thể, không thể, chưa thể,…
- Từ chỉ sự “chịu đựng” hoặc “tiếp nhân”: bị, được, mắc, phải,…
…
1.2 Nhóm động từ quan hệ
Động từ trong nhóm này biểu thị các ý nghĩa quan hệ (có tính chấtquá trình) giữa các thực thể, quá trình hay đặc trưng, bao gồm:
- Quan hệ tồn tại: còn, có, biến, mất, …
- Quan hệ biến hoá: thành, hoá ra, trở thành, hoá thành,…
Trang 21- Quan hệ diễn biến theo thời gian: bắt đầu, tiếp tuc, kết thúc,…
- Quan hệ so sánh, đối chiếu: giống, khác, như, tựa,…
- Quan hệ diễn biến trong không gian: gần, xa, ở,…
Động từ chỉ hành động gồm những động từ kết hợp được với hãy,
đừng, chớ và với lắm, quá; không kết hợp được với rất, hơi, khí: viết, đánh, đi, làm,
…
2.1.2 Động từ chỉ trạng thái
Động từ chỉ trạng thái, bao gồm:
- Những động từ kết hợp được với hãy, đừng, chớ; với lắm, quá và với
rất, hơi, khí: yêu, ghét, thương, giận,…
- Những động từ không kết hợp được với “xong”: thấy, hiểu, mỏi, biết,
…
2.2 Các nhóm động từ phân loại theo thực từ đi kèm
Bao gồm:
Trang 22- Động từ không đòi hỏi thực từ đi kèm: nói, cười, khóc, ngồi, đứng,
bò,… thường chỉ các hành động cơ thể hoặc chỉ trạng thái tâm lý Những
động từ này được gọi là động từ nội động
- Động từ có thực từ đi kèm biểu thị đối tượng tác động: đánh (giặc),
trồng (cây), viết (báo),…Những động từ này được gọi là động từ ngoại động.
- Động từ có hai thực từ đi kèm biểu thị đối tượng phát / nhận và đối
tượng được lợi hay bị thiệt hại do tác động của hành động nêu ở động từ:
cho (em) (một món quà), gửi (bạn) (một bức thư),…
- Động từ có hai thực từ đi kèm biểu thị đối tượng sai khiến và nội dung
sai khiến: nhờ (bạn) (xách nước), bảo (con) (học),…
- Động từ có thực từ đi kèm chỉ hướng dời chuyển, hoặc chỉ đích dời
chuyển của hành động, hoặc nêu đối tượng bị tác động dời chuyển: lăn vào,
chạy ra, đi xuống, đẩy xe vào nhà,…
Trang 231 Tính từ tính chất và tính từ quan hệ
1.1 Tính từ tính chất
Tính từ tính chất được hiểu là những tính từ vốn mang ý nghĩa tínhchất, chứ không phải vay mượn nó ở lớp từ khác ý nghĩa tính chất ở đâyrất phong phú về nội dung, ví dụ
- Ý nghĩa các loại phẩm chất như: tốt, xấu, đẹp, đúng, sai…
- Ý nghĩa về lượng: nhiều, ít, cao, thấp, xanh, đỏ,…
- Tính từ có quan hệ với danh từ chung: tác phong (rất) công nhân,
cung cách (rất) quý phái, thái độ (rất) cửa quyền…
2 Tính từ chỉ đặc trưng xác định thang độ và tính từ chỉ đặc trưng không xác định thang độ
2.1 Tính từ chỉ đặc trưng xác định thang độ
Tính từ chỉ đặc trưng xác định thang độ là tính từ có thể kết hợp với
các phó từ chỉ thang độ rất, hơi, khí, quá,… về phía sau.
Ví dụ: rất đẹp, rất anh hùng…, đẹp lắm, vui quá,…
Trang 242.2 Tính từ chỉ đặc trưng không xác định thang độ
Trong tiếng Việt có một nhóm nhỏ từ, xét cách hoạt động trong câu
và xét mặt ý nghĩa thì giống hệt tính từ, nhưng không kết hợp được với cácphó từ chỉ thang độ thường đứng trước tính từ Đó là những tính từ chỉ đặc
trưng không xác định thang độ như: chính, công, chung, riêng, tư,… trong các tổ hợp từ: vấn đề chính, quyền lợi chung, quỹ công, đời tư,…
Về nghĩa, Tính từ chỉ đặc trưng không xác định thang độ có thể là tính từchỉ tính chất hoặc tính từ quan hệ Ví dụ:
Vấn đề chính = vấn đề có tính chất chính ( tính chất)
Quyền lợi chung = quyền lợi nói chung, không cụ thể (tính chất)
quyền lợi thuộc về mọi người (quan hệ)
Về hoạt động ngữ pháp, tính từ không thang độ thường làm yếu tố mởrộng cho danh từ
Ví dụ: thì thầm, róc rách,… trong các tổ hợp từ: giọng thì thầm, tiếng nước róc rách,
…
2 Việc dạy và học từ loại cơ bản ở tiểu học
2.1 Nội dung dạy từ loại cơ bản ở tiểu học
Về từ loại, ở tiểu học chỉ học các khái niệm danh từ, động từ, tính
từ, danh từ chung, danh từ riêng, tính từ chỉ tính chất chung không có mức
độ, tính từ chỉ tính chất có xác định mức độ, đại từ chỉ ngôi, ở chương trìnhCCGD, nội dung kiến thức về từ loại nằm trong phân môn Từ ngữ - Ngữpháp học sinh được học ngay từ lớp 2 Đến chương trình Tiếng Việt 2000,theo sự tăng dần độ khó của kiến thức, ở học kỳ 1 (lớp 4) học sinh mới
Trang 25chính thức được học các khái niệm về danh từ, động từ, tính từ Các bàiLuyện từ và câu đề cập đến cách phân loại các từ loại cơ bản Cách phânloại này dựa vào các tiêu chí: ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp và khảnăng đảm nhận các chức vụ ngữ pháp Tuy nhiên ở tiểu học, sách giáo khoaTiếng Việt 4 mới chỉ giới thiệu một tiêu chí trong cách phân loại nêu trên,tiêu chí về ý nghĩa khái quát theo tiêu chí này:
Danh từ là những từ chỉ sự vật
Để giúp học sinh hiểu rõ hơn khái niệm sự vật sách giáo khoa nêu ra 5nội hàm của khái niệm này Sự vật gồm:
- Người: ông, bà, cha, mẹ, công nhân, nông dân,…
- Vật (đồ vật, con vật, cây cối,…): sông, núi, mèo, chó,…
- Hiện tượng (cái xảy ra trong không gian, thời gian mà người ta nhận
thấy): mưa, sấm, sét,…
- Khái niệm (chỉ các đối tượng có tính chất trừu tượng hoặc thuộc tư
duy) cuộc sống, cái đẹp,
- Đơn vị: con, cái, cơn,…
Sau khi đưa ra các khái niệm về danh từ sách giáo khoa dành riêng môttiết đề cập đến vấn đề phân chia danh từ thành danh từ riêng và danh từchung
Danh từ chung là tên chung của một loại sự vật
Ví dụ: núi, sông, xe,
Trang 26Danh từ riêng là tên riêng của một sự vật Hay nói cách khác, danh từriêng là tên riêng của từng người, từng vật, từng địa phương, … Danh từriêng luôn luôn được viết hoa.
Ví dụ: Hà Nội, ( núi ) Bà Đen,
Động từ là những từ chỉ hành động, trạng thái của sự vật
Ví dụ: lau nhà, rửa bát, ăn cơm,
Tính từ là những từ miêu tả đặc điểm hoặc tính chất của sự vật, hoạtđộng, trạng thái
Ví dụ: đẹp, xấu, vui,
Sách giáo khoa giới thiệu một số cách thể hiện mức độ tính từ như sau:
- Tạo ra các từ ghép hoặc từ láy đã cho.
Ví dụ: Xanh Xanh um, xanh biếc, xanh ngắt,…
xanh xao, xanh xanh,…
- Thêm các từ rất, lắm, quá, vô cùng, cực kì,… vào trước hoặc sau tính từ.
Ví dụ: giỏi rất giỏi, giỏi quá, giỏi lắm,…
- Tạo ra phép so sánh.
- So sánh ngang bằng, ví dụ: Nước trong leo lẻo như mắt mèo.
- So sánh hơn kém, ví dụ: Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
- So sánh tuyệt đối, ví dụ: Những búp bê xinh xinh, trắng nõn như
ngón tay thiếu nữ.
2.2 Việc dạy học từ loại cơ bản ở tiểu học
Thực tế cho thấy việc học các kiến thức ngữ pháp tiếng Việt là rấtquan trọng đối với học sinh, bởi qua học tập về ngữ pháp giúp cho học sinh
Trang 27có hiểu biết về quy tắc cấu tạo từ, nắm quy tắc dùng từ, đặt câu và tạo vănbản để sử dụng trong giao tiếp Vì vậy, việc học tập ngữ pháp hiện nayđược tiến hành một cách có kế hoạch mang tính chủ động Thông qua hệthống các bài tập trong sách giáo khoa, giáo viên hướng dẫn học sinh nhậndiện, phân loại các đơn vị ngữ pháp, nắm các quy tắc cấu tạo và sử dụngcác đơn vị này trong hoạt động giao tiếp của mình.
Dạy học từ loại cũng được tiến hành tuần tự theo các bước nhận thứccủa học sinh Bắt đầu là việc phân tích ngữ liệu là các từ hoặc đoạn văn chotrước để tìm ra đặc điểm, hiện tượng của khái niệm để làm bài tập cụ thể.Các bước này có thể chia thành hai hướng là dạy lý thuyết và dạy thực hành từloại
Do ngữ pháp là một môn khó (hiện nay là Luyện từ và câu) cho nêngiáo viên còn lúng túng trong việc tổ chức tiết dạy sao cho đúng yêu cầucủa chuyên môn, đúng đặc trưng của phân môn và đạt hiệu quả dạy họccao Về phía học sinh cũng ít hứng thú học môn này do đây là một mônkhó và khô khan Những điểm khó của môn học muốn trở thành dễ đối vớihọc sinh thì giáo viên phải đổi mới phương pháp dạy học để đáp ứng ngàycàng đầy đủ yêu cầu của xã hội
Trang 28Chương 2
MIÊU TẢ, PHÂN LOẠI VỀ KHẢ NĂNG XÁC ĐỊNH TỪ LOẠI CƠ
BẢN CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC
Để đạt được kết quả cao trong dạy học ngữ pháp cho học sinh, thìmột yêu cầu hết sức quan trọng là phải dạy học sinh nắm chắc lý thuyết vàđược thực hành nhiều lần Đồng thời đó cũng chính là cơ sở của dạy họcngữ pháp gắn lý thuyết với thực hành, luyện tập Lý thuyết về từ loại lànhững tri thức về đặc điểm, về hình thức hoạt động của từ loại; còn thựchành về từ loại là hoạt động thực tiễn tức là trên cơ sở lý thuyết, học sinh
có thể làm được các bài tập cụ thể, từ đó những lý thuyết của bài học lại được sáng tỏhơn
Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy khiđược học kết hợp giữa hai loại bài lý thuyết và thực hành, học sinh sẽ vừanắm chắc nội dung bài học, vừa tạo hứng thú học tập vì quá trình học tậpcác em luôn tìm ra cái mới; do đó kích thích tư duy sáng tạo Chính vì vậy,
để có thể đưa ra những nhận định mang tính thực tế cao chúng tôi đã tiếnhành điều tra thực trạng học từ loại của học sinh tiểu học Đối tượng khảosát bao gồm cả học sinh khá, giỏi, trung bình và học sinh yếu, kém Địa bànkhảo sát cũng bao gồm cả địa bàn nông thôn và thành thị Có khảo sát nhưvậy, chúng tôi mới có những nhận xét chính xác về thực trạng học từ loạicủa học sinh từ đó đưa ra những biện pháp phù hợp, hiệu quả và có tính thựcthi cao
Trang 29Để thực hiện mục đích đó, chúng tôi đã tiến hành điều tra các bài tậpliên quan đến cả lý thuyết và thực hành Có những bài chỉ cần áp dụng lýthuyết nhưng có bài đòi hỏi khả năng vận dụng của học sinh.
Các bài tập chúng tôi chọn để khảo sát:
1 Bài tập nhận biết và phân loại từ loại cơ bản.
2 Bài tập nhận biết hiện tượng chuyển loại giữa các từ loại cơ bản.
Với mỗi loại bài tập chúng tôi tiến hành điều tra trên học sinh thuộccác địa bàn khác nhau Cụ thể, chúng tôi tiến hành khảo sát ở hai trường là:
- Trường Tiểu học Thị Trấn Sóc Sơn thuộc địa bàn huyện Sóc Sơn- thành phố Hà
Nội
Hai lớp chúng tôi tiến hành khảo sát là 4B và 4C, tổng số 62 học sinh
- Trường Tiểu học Cảnh Thụy thuộc địa bàn xã Cảnh Thụy, huyện Yên
Dũng, tỉnh Bắc Giang
Chúng tôi tiến hành điều tra ở hai lớp 4A và 4B, tổng số 45 học sinh
Để đi đến nhận xét và có những đề xuất về phương pháp dạy học phùhợp, chúng tôi đã khảo sát lần lượt từng loại bài, cụ thể:
Loai 1 Bài tập nhận biết và phân loại từ loại cơ bản
Mục đích của loại bài tập này là đánh giá khả năng nhận biết và phânđịnh từ loại cơ bản của học sinh tiểu học Từ đó củng cố cho học sinh cáckiến thức về danh từ, động từ, tính từ; đồng thời rèn cho học sinh kĩ năngphân loại chúng thành các loại nhỏ
Trang 30Học sinh làm nhiều bài tập dạng này có thêm kĩ năng nhận diện một cáchtinh tế, không nhầm lẫn danh từ với động từ, danh từ với tính từ, đặc biệt lànhầm lẫn giữa động từ với tính từ.
Để đạt được mục đích trên, chúng tôi tiến hành khảo sát đánh giá trên các mặt:
1 Khả năng nhận biết về danh từ
1.1 Xác định danh từ trong đoạn văn cho trước
Mục đích của dạng bài này là đánh giá khả năng nhận biết danh từtrong một đoạn văn cụ thể
Câu hỏi đưa ra như sau:
Xác định danh từ có trong các câu văn sau:
Trang 31Tiểu học Thị Trấn Sóc Sơn
Tiểu học Cảnh Thụy
Tiểu học Thị Trấn Sóc
Tiểu học Cảnh Thụy
Trang 32+ Học sinh tìm được nhiều nhất :
Bài 1: 8 từ: 5/62= 8,06% (Tiểu học Thị Trấn Sóc Sơn)
Bài 2: 11từ: 22/62= 35,48% (Tiểu học Thị Trấn Sóc Sơn)
+ Học sinh tìm được ít nhất:
Trang 33Bài 1: 1 từ: 1/45= 2,22% (Tiểu học Cảnh Thụy)
Bài 2: 1-4 từ: 5/45= 11,11% (Tiểu học Cảnh Thụy)
Đa số học sinh tìm được từ 3-7 từ (Bài 1); 5-10 từ (Bài 2) Nhiều nhất là
Kết quả khảo sát cho thấy số học sinh làm sai chiếm tỉ lệ cao, trong đó:
Trường Tiểu học Thị Trấn Sóc Sơn: 59/62= 95,16% (Bài 1)
47/62= 75,81% (Bài 2)
Trường Tiểu học Cảnh Thụy: 45/45= 100% (Bài 1)
2/45= 93,33% (Bài 2) Những lỗi sai của học sinh có thể kể đến một số nguyên nhân sau:
Do chưa đọc kĩ từng câu trong đoạn văn để tìm ra danh từ
Do chưa nắm chắc lý thuyết về danh từ
Do chưa phân định đúng ranh giới từ
Nguyên nhân dẫn đến bài làm sai có cả nguyên nhân chủ quan là họcsinh chưa thực sự chú ý vào bài làm của mình Do đó, các từ học sinh tìmđược còn thiếu hoặc sai Nguyên nhân khách quan là mảng kiến thức học
về danh từ được học ở học kì 1 và giáo viên chưa thật tổ chức tốt cho các
em học giờ lý thuyết về danh từ
+ Biện pháp:
Trang 34Đối với trường hợp học sinh chưa thật sự chú ý vào đề bài để tìm từthì yêu cầu đối với giáo viên là phải tổ chức để các em tìm hiểu kĩ đề bài.Bước này không mất nhiều thời gian nhưng lại rất quan trọng, bởi nó địnhhướng được bài làm của học sinh Nắm chắc đầu bài các em sẽ không bị lạc
đề, không bị nhầm và quan trọng là các em loại bỏ được các yếu tố khôngthuộc phạm vi của đề bài để làm bài tập có hiệu quả nhất
Trước khi hướng dẫn học sinh làm bài tập giáo viên cần hỏi cả lớp
“Yêu cầu của bài là gì? ” để các em xác định được yêu cầu của bài Nhưvậy, có em nào chưa thực sự chú ý cũng phải chú ý vào đề bài để trả lời câuhỏi của giáo viên
Với cùng yêu cầu là xác định danh từ trong đoạn văn, Bài tập 2 có sốlượng danh từ nhiều hơn, trong bài xuất hiện nhiều từ loại khác nhau,nhưng kết quả cho thấy số học sinh làm sai ở Bài tập 1 chiếm tỉ lệ cao hơn.Nguyên nhân là do các em không phân cắt được đúng ranh giới từ ở trongcâu Để giúp học sinh giảm bớt những khó khăn ấy, giáo viên nên dùng cácgạch chéo chia câu trong đoạn văn, đoạn thơ đã cho thành các từ để họcsinh chỉ còn làm một nhiệm vụ là nhận biết
ở loại bài tập này, học sinh hay nhầm lẫn giữa danh từ với động từ,danh từ với tính từ Nguyên nhân là do các em chưa nắm chắc lý thuyết vềdanh từ Khi dạy bài danh từ, giáo viên cần phân tích để học sinh hiểu đượcthế nào là danh từ? Danh từ là những từ chỉ sự vật Nhưng nếu chỉ có vậythì học sinh dễ dàng nhầm lẫn Điều quan trọng là giáo viên nên kết hợpviệc xác định ranh giới giữa danh từ với các từ loại khác để nói về danh từ
Trang 35Để giúp các em không nhầm lẫn, giáo viên có thể dùng những câu hỏi bổtrợ cho đề bài nhằm tránh cho học sinh làm lạc đề Giáo viên có thể hỏi:Thế nào là danh từ? Sau khi học sinh trả lời giáo viên kết luận lại để tất cảcác em nhận biết được Những việc làm đó của giáo viên sẽ định hướngquá trình giải bài tập của học sinh và các em không bị nhầm lẫn.
Để giúp học sinh vượt qua những khó khăn khi xác định từ loại danh
từ, khi dạy giáo viên cần chú trọng cả về mặt nội dung, ý nghĩa và các dấuhiệu hình thức, cũng là một phép thử, mẹo để xác định từ loại Chẳng hạn,danh từ xét về nghĩa là từ mang nghĩa sự vật (chỉ người, vật, hiện tượng,đơn vị, khái niêm,…); về hình thức, nó có khả năng kết hợp với các từ chỉ
số lượng như: một, hai, những, các,…ở phía trước (một công trình, những đám mây, một cảm giác,…) và kết hợp được với các từ chỉ định như: này,
nọ, kia, ấy,…ở phía sau (con đường này, cảm giác ấy, tư tưởng đó,…) và
có khả năng tạo câu hỏi với từ nghi vấn “nào” đi sau (năm nào, nghề nào,
…) Vì vậy, nếu thấy một từ nào đó đứng sau các từ chỉ số lượng hoặcđứng trước được các từ chỉ định thì đó là danh từ
1.2 Bài tập phân loại danh từ
Mục đích của bài tập “Phân loại danh từ ” nhằm củng cố kiến thức
về các kiểu danh từ cho học sinh Thông qua các đoạn văn cụ thể, lý thuyết
về danh từ học sinh sẽ tìm ra các tiểu loại của danh từ theo yêu cầu của từngbài
+ Cách làm:
Trang 36Chúng tôi đưa ra ngữ liệu là các đoạn văn trích từ các văn bản Tậpđọc học sinh đã được học, sau đó yêu cầu học sinh nhận biết các tiểu loạidanh từ: danh từ chỉ người, danh từ chỉ đơn vị, danh từ chỉ khái niệm, danh
từ chỉ hiện tượng, danh từ chung, danh từ riêng
Chúng tôi đã tiến hành điều tra thực tế với nội dung bài tập như sau:
Bài 1 Tìm danh từ chỉ người trong các câu sau:
Sau nhiều năm khổ luyện, Lê - ô - nác - đô đa Vin - xi đã trở thànhnhà danh họa kiệt xuất Các tác phẩm của ông được trân trọng trưng bày ởnhiều bảo tàng lớn trên thế giới, là niềm tự hào của toàn nhân loại
(Xuân Yến - Vẽ trứng, Tiếng Việt 4, tập 1)
Bài 2 Tìm danh từ chỉ đơn vị trong các câu sau:
Xe / chúng tôi / leo / chênh vênh / trên / dốc / cao / của / con / đường/xuyên / tỉnh / Hoàng Liên Sơn / Những / đám / mây / trắng / nhỏ / sàxuống/ cửa kính / ô tô / tạo nên / một / cảm giác / bồng bềnh / huyền ảo/
(Nguyễn Phan Hách - Đường đi Sa Pa, Tiếng Việt 4, tập 2)
Bài 3 Tìm danh từ chỉ khái niệm trong các câu sau:
… Cuối cùng lẽ phải đã thắng Tư tưởng của hai nhà bác học dũng cảm đãtrở thành chân lý giản dị trong đời sống ngày nay
(Lê Nguyên Long - Phạm Ngọc Toàn - Dù
sao trái đất vẫn quay, Tiếng Việt 4, tập 2)
Bài 4 Chép các danh từ trong đoạn văn sau vào các dòng phân loại theo bảng dưới đây:
Trang 37Những / thủy thủ / còn / lại / vượt / ấn Độ Dương / tìm / đường / trởvề/ Châu Âu / Ngày / 8 / tháng / 9 / năm / 1522 /, đoàn thám hiểm / chỉ /còn/ một / chiếc / thuyền / với / mười tám / thủy thủ / sống sót / cập / bờbiển / Tây Ban Nha/.
( Trần Diệu Tần - Đỗ Thái - H n m t nghìn ng y ơn một nghìn ngày ột nghìn ngày ài viết
vòng quanh trái đấu trúc của bài viếtt, Ti ng Vi t 4, t p 2)ến cấu trúc của bài viết ệt 4, tập 2) ập 2)
Danh từ chung Danh từ riêng
………
………
………
………
Sở dĩ, chúng tôi chọn các đoạn văn trên để học sinh xác định từ loại
vì đây là những đoạn văn được trích từ các văn bản Tập đọc học sinh đãđược học Việc hiểu nghĩa của từ ngữ, nắm nội dung văn bản sẽ giúp họcsinh dễ dàng hơn khi xác định từ loại Đồng thời, trong đoạn văn chứanhiều danh từ gồm những tiểu loại khác nhau tương đối rõ ràng, gần gũi, dễ hiểu vớihọc sinh
+ Kết quả:
Sau 5 phút khảo sát ở mỗi bài, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Trang 3816,13
42,22
31,11
24,4411,1
1 66,67