1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đọc - hiểu các văn bản báo cáo, chiếu theo đặc trưng thể loại

87 724 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 482 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ychíht íutịn tốt nt/hiêp ZTru'tUuj Đ7CẴ p Jôà íìlội 2S^O^ĩ^õ: r ịliụm r ~ĩltị Tỉíott 11 Mí'p : 3£33B - Qltịữ oăn Tuy nhiên, việc dạy và học các văn bản văn học trung đại Việt Nam đến nay

Trang 1

ychóu luận tốt nụhiệp ^Jrnotttj i)^(t% p 7<5rt Qlôi 2

ĐỌC HIẾU CÁC VĂN BẢN CÁO, CHIÉU THEO ĐẶC

TRƯNG THẾ LOẠI

Trang 2

(S^O^T^ô: r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 2 p : ~K ì ì r J3 - Qltịữ oăn

~Khá(í luận tốt ttíjhiệp Cfru'tftttj t'D'JiŨS^P Tỉtíí Qiộì 2

Trang 3

1 (S^O^ĩ^õ: ^7hi '31)0 a

(S^O^T^ô: r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 3 p : ~K ì ì r J3 - Qltịữ oăn

~Khá(í luận tốt ttíjhiệp Cfru'tftttj t'D'JiŨS^P Tỉtíí Qiộì 2Mê ft: 3£33(B - Qiụữ

oăn

Trang 4

(S^O^T^ô: r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 4 p : ~K ì ì r J3 - Qltịữ oăn

~Khá(í luận tốt ttíjhiệp Cfru'tftttj t'D'JiŨS^P Tỉtíí Qiộì 2

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này, tôi đã nhận được

sự giúp đỡ, tạo điều kiện của ban chủ nhiệm khoa Ngữ Văn, của các thầy cô trong

tổ phương pháp dạy học Ngữ Văn, đặc biệt là của thầy giáo, Th.s - GVC Vũ Ngọc

Doanh Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy giáo, cô giáo đã giúp

tôi hoàn thành khóa luận một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất

Tôi xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, ngày 08 tháng 05 năm 2011.Sinh viên thực hiện

Phạm Thị Hoa

Trang 5

~Khá(í luận tốt ttíjhiệp Cfru'tftttj t'D'JiŨS^P Tỉtíí Qiộì 2

(S^O^T^ô: r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 5 p : ~K ì ì r J3 - Qltịữ oăn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan việc lựa chọn đề tài của khóa luận và kết quả điều tranghiên cứu là kết quả của cá nhân tôi dưới sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn Vìthế, khóa luận của tôi không trùng lặp với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác

Hà Nội, ngày 08 tháng 05 năm 2011.Sinh viên thực hiện

Phạm Thị Hoa

Trang 6

~Khá(í luận tốt ttíjhiệp 3ru'ồntj í)lt><s p Tỉt íí Qiộì 2

r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 6 ẤUĨp : 3£33(B - Qíạữ oăn

1.1.3 Đọc - hiếu là con đường đặc trưng tiếp nhận tác phấm văn học 12

23

2.2.1 Các văn bản thuộc thể cáo, thế chiếu thường được viết bởi những

người có trọng trách lớn, có địa vị trong xã hội và đối tượng tiếp nhận đượcxác định rõ ràng Mỗi một văn bản thường đánh dấu một sự kiện trong đại

Trang 7

JChóa luận tot nạhiêp CJru'tUitj Đ^ỉthS Ị) Jôà (ìlội 2

r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 7 ẤUĨp : 3£33(B - Qíạữ oăn

2.2.2 Các văn bản hành chính xưa nói chung và các văn bản thuộc thế

Trang 8

~Khá(í luận tốt ttíjhiệp 3ru'ồntj í)lt><s p Tỉt íí Qiộì 2

r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 8 Mí)'p : 3£33(B - Qltịữ oăn

24

cáo, thể chiếu nói riêng mang tính quy phạm rất rõ Mỗi một loại đều

chịu sự quy định của thể tài:

2.2.3 Các văn bản thuộc thế cáo, thế chiếu còn mang tính nghệ thuật

Nó được thể hiện ở việc sử dụng các điển tích, điển cố; các hình ảnh ước lệ, tượng trưng để tác động mạnh mẽ vào xúc cảm của người đọc 25

2.2.4 Lời của các văn bản thuộc thế cáo, thế chiếu thường được cấu tạo

theo lối biền ngẫu, mỗi câu có hai vế cân đối nhau về số từ, giống nhau vềkết cấu ngữ pháp, đối nhau về ý và thanh điệu Do đó làm cho lời văn giàu

2.3 Những khó khăn trong việc dạy các văn bản thuộc thế cáo, thế 27 chiếutrong nhà trường phổ thông hiện nay

2.4 Đọc - hiểu các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu cần phải chú ý đến

2.4.1 Đọc hiểu các văn bản thuộc thế cáo, thể chiếu cần phải chú ý đến

2.4.4 Đọc phân tích, cắt nghĩa đánh giá hệ thống luận điếm, cách lập

Trang 9

r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 9 ẤUĨp : 3£33(B - Qíạữ oăn

JChóa luận tot nạhiêp CJru'tUitj r Đ^ỉthS r Ị) Jôà (ìlội 2 44

45 59 72 74

CHƯƠNG 3: GIÁO ÁN THỤC NGHIỆM

BẢI 1: ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ Bải 2: CHIẾU CẦU

HIỀN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 10

r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 10 Mí)'p : 3£33(B - Qltịữ oăn

~Khá(í luận tốt ttíjhiệp 3ru'ồntj í)lt><s p Tỉt íí Qiộì 2

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Sau cách mạng tháng Tám, bộ môn Văn học được nhìn nhận như một bộmôn có sức mạnh to lớn, có nhiệm vụ giáo dục một cách có hiệu quả cho thanh,thiếu niên lòng yêu nước và lí tưởng cách mạng, tinh thần dân tộc và ý thức dânchủ, tinh thần nhân đạo cộng sản chủ nghĩa và tinh thần quốc tế vô sản Hòa bìnhlập lại năm 1954, lại được bố sung, nhấn mạnh thêm về khía cạnh nghệ thuật, khíacạnh thẩm mĩ bộ môn Văn đã phát huy tác dụng được một thời gian khá dài Chođến nay, bộ môn Văn luôn giữ vị trí là một môn học chính trong nhà trường phổthông Những nhà nghiên cứu hiện nay luôn coi trọng việc dạy học Văn sao cho đạthiệu quả cao nhất Khi đi sâu vào nghiên cứu, vấn đề này đã gặp không ít nhữngkhó khăn

Chương trình Ngữ Văn mới hiện nay được biên soạn dựa trên một hệ thốngcác nguyên tắc, trong đó có nguyên tắc thể loại Các tác phẩm, văn bản lựa chọnsắp xếp theo thể loại và thông qua việc đọc - hiểu có thể cung cấp những kiến thức,

kĩ năng, năng lực tự đọc, giáo dục nhân cách cho học sinh Vì vậy, cần dạy mộtcách thật kĩ lưỡng đế học sinh thấy được vẻ đẹp cụ thể của văn bản ấy, nhưng đồngthời cũng giúp học sinh biết cách đọc, cách phân tích một bài ca dao, một bài thơ,một truyện ngắn, hay một bài văn chính luận nào đó Vì vậy, vấn đề thể loại trongthực tế giảng dạy ở nhà trường phổ thông đặt ra không những như một vấn đề trithức mà còn là một vấn đề phương pháp

Các văn bản văn học trung đại nói chung và các văn bản thuộc thể cáo, thếchiếu nói riêng chiếm một vị trí quan trọng trong toàn bộ tiến trình văn học ViệtNam Đã có rất nhiều áng văn trở thành mẫu mực, bất hủ của dân tộc và trên toànthế giới Những thể loại này thường gắn trực tiếp với đời sống của quốc gia trongnhững thời điếm đặc biệt Do thấy được tính nhật dụng của các văn bản này, chonên chương trình phân ban THPT hiện nay đã đưa chúng vào việc dạy học NgữVăn

Trang 11

ychíht íutịn tốt nt/hiêp ZTru'tUuj Đ7C)Ẵ p Jôà íìlội 2

(S^O^ĩ^õ: r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 11 Mí)'p : 3£33(B - Qltịữ oăn

Tuy nhiên, việc dạy và học các văn bản văn học trung đại Việt Nam đến nayvẫn còn gặp nhiều khó khăn bởi những khoảng cách về ngôn ngữ, về thời gian, vềkhông gian một phần cũng do người dạy chưa nắm được những đặc trưng thế loại.Hiếu được những văn bản đó chẳng phải là chuyện dễ dàng gì; truyền thụ cái hay,cái đẹp của nó cho người học hiểu được lại càng khó khăn hon vấn đề có nhiềunguyên nhân mà nguyên nhân chủ yếu vẫn là rào cản về ngôn ngữ, bởi những tácphẩm ấy đều được viết bằng chữ Hán hay chữ Nôm có phần xa lạ với ngôn ngữtiếng Việt hiện đại hôm nay Thêm vào đó, người tiếp nhận văn bản ấy dù muốnhay không là phải có một nền kiến thức khả đĩ, ít nhiều phải hiếu rõ môi trườngvăn hóa trung đại, tư tưởng ý thức hệ chính thống thời trung đại, điến cố điến tích,thế loại văn học

Do vậy, việc dạy các văn bản thuộc thế cáo, thế chiếu hiện nay vẫn chưađem lại kết quả như mong muốn Thường thì người ta cứ dạy nó như những vănbản thông thường mà không bám sát vào đặc trưng của từng thế loại cụ thế Từ đó,dẫn đến một hệ quả tất yếu là: gây ra cảm giác khô khan, nhàm chán cho học sinhphố thông Trong phạm vi bài viết này, với những vấn đề lí luận và thực tiễn đãđược nghiên cứu, rất mong sẽ đóng góp một phần vào việc đem lại hiệu quả chomột giờ dạy các văn bản thuộc thế cáo, thể chiếu

2 Lịch sử vấn đề

Nghiên cứu về thể loại, về đọc - hiểu tác phẩm văn học trong nhà trường làvấn đề không hoàn toàn mới mẻ Đã có nhiều công trình nghiên cứu đạt đượcnhững thành tựu, có tác dụng làm nền tảng mở ra nhiều con đường tiếp nhận vàgiảng dạy khác nhau như:

* Các công trình nghiên cứu về giảng dạy tác phấm văn học theo đặc trungloại thể:

- Người đầu tiên đề cập đến là tác giả Trần Thanh Đạm trong công trình nghiên cứu “Vấn đề giảng dạy tác phâm văn học theo loại thế” đã đi sâu vào

nghiên cứu vấn đề thể loại và đưa ra các phương pháp giảng dạy theo đặc trưngtừng thể loại

- Tiếp đó là tác giả Trần Đình Chung trong “Dạy học các văn bản theo đặc

Trang 12

JChóa luận tốt nt/hiêp CjrueUuj Đ7C)Ẵ p 'Jt)à íìlội 2

r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 12 : 3£33(B - Qíạữ oăn

trưng thê loại ”

- Giáo sư Nguyễn Thanh Hùng trong “Hiếu vãn, dạy vãn ” đã đưa ra

phương pháp dạy theo đặc trưng thể loại

- Cuốn “Thỉ pháp hiện đại” của Đỗ Đức Hiểu có nội dung quan trọng là thi

pháp truyện và giảng dạy truyện Tuy nhiên, công trình này cũng chỉ là mới thànhcông trên lĩnh vực nghiên cứu phê bình, chưa đề cập đến phương pháp giảng dạy

- Giáo trình “Lí luận vẫn học ” của trường Đại học Sư phạm do giáo sư

Phương Lựu (chủ biên).

- Giáo trình “Lỉ luận văn học ” của trường Đại học Sư phạm do giáo sư Hà

Minh Đức (chủ biên)

* Các công trình nghiên cứu về đọc - hiểu:

- “Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp

10 THPT môn Ngữ Vẫn ”

- “Đọc và tiếp nhận vẫn chương”_GS TS Nguyễn Thanh Hùng.

- “Tiếp cận văn học’' Nguyễn Trọng Hoàn Ớ cuốn này, tác giả đã trình bày

lí thuyết tiếp nhận, sự tối ưu của phương pháp đọc - hiểu song mới chỉ là khái quát

- Nguyễn Trọng Hoàn trong cuốn “Rèn tư duy sáng tạo cho học sinh trong

dạy học tác phâm văn chương ” cũng đề cập đọc - hiểu là một phương thức tiếp

cận tác phẩm

Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về thể loại, nghiên cứu về đọc hiểu Điều đó cho thấy vấn đề thể loại là không hoàn toàn mới mẻ Các nhà nghiêncứu đã đạt được những thành tựu rực rỡ làm cơ sở cho việc giảng dạy Tuy nhiên,cũng cần phải thấy rằng các công trình nghiên cứu trên mới chỉ nghiên cứu chung

-về thế loại, -về đọc - hiếu một thế loại, một tác gia cụ thế Với tư cách một ngườigiáo viên dạy văn tương lai, chúng ta có tinh thần tiếp thu, học tập, kế thừa và vậndụng những thành tựu đó vào giảng dạy các tác phẩm thuộc thể cáo, thể chiếutrong nhà trường Đe từ đó rèn luyện cho học sinh những kĩ năng cần thiết để đọc -hiếu một tác phẩm chính luận nói chung

* Các công trình nghiên cứu về thế cáo, thế chiếu:

Trang 13

JChóa luận tốt nt/hiêp CjrueUuj Đ7C)Ẵ p 'Jt)à íìlội 2

(S^O^ĩ^õ: r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 13 : 3£33(B - Qíạữ oăn

-Lê Trí Viễn trong cuốn “Cơ sở Ngữ Văn Hán - Nôm” (tập 3) đã nghiên cứu

khá rõ về các thể như: cáo, biểu, hịch, chiếu

-Giáo sư Trần Đình Sử với công trình “Mẩy vấn đề thi pháp văn học trung

đại Việt Nam”

-Lại Nguyên Ân trong bài viết “Các thể tài chức năng trong văn học trung

đại Việt Nam ” (Tạp chí văn học số 1/1997) cũng đã nghiên cứu về chức năng của

các thể tài trong văn học trung đại

Các thể loại: cáo, chiếu đều có nguồn gốc từ văn học Trung Quốc cổ đại.Cho đến nay, cũng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về các thể tài này tuy

nhiên vẫn chưa có tài liệu cụ thể nào nghiên cứu về việc “Đọc - hiếu các văn bản

cáo, chiếu theo đặc trưng thế loại” Điều này dễ dẫn đến tình trạng người dạy

chưa nắm rõ được đặc trưng thế loại và việc vận dụng phương pháp dạy học cácvăn bản Ngữ Văn vẫn còn gặp nhiều khó khăn

3 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, người nghiên cứu muốn góp phần nâng cao chất lượng

và hiệu quả của việc dạy học các thế loại cáo, chiếu ở nhà trường phổ thông, trong

đó có: “Đại cáo bình Ngô ” của Nguyễn Trãi và “Chiếu cầu hiền” của Ngô Thì

Nhậm.

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tìm hiếu cơ sở lí luận và thực tiễn dạy đọc - hiếu văn bản Ngữ Văn nóichung, các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu nói riêng

Từ việc xác định được đặc trưng thể loại, kiểu văn bản và nhiệm vụ dạy học

Văn theo hướng đổi mới để hướng dẫn học sinh “Đọc - hiểu các văn bản cáo,

chiếu theo đặc trưng thể loại” ở bậc THPT.

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 14

JCktHi luận tốt mjhiep CJrit'o’tuj ĐK>Ẵ P 'dôà íìlội 2

r f)lnutt CJhị lĩùou 14 -ílíìp:~ỈCì ì r Ji - Qlụữ oản

Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động dạy đọc - hiểu các văn bản thuộc thể cáo,thế chiếu ở THPT và thực nghiệm thiết kế bài soạn

Phạm vi nghiên cứu: Văn bản “Đại cáo bình Ngô ” của Nguyễn Trãi và

“Chiếu cầu hiền” của Ngô Thì Nhậm.

6 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp khảo sát Phương pháp

so sánh Phương pháp phân tích

Phương pháp tống họp - khái quát

Phương pháp thực nghiệm

7 Đóng góp của khóa luận

Khóa luận này hi vọng trên cơ sở những đặc điểm về thể loại, về đọc - hiểucác văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu sẽ góp phần nào vào việc đổi mới phươngpháp dạy học Ngữ Văn hiện nay

8 Cấu trúc của khóa luận

Gồm 3 phần:

- Phần mở đầu

- Phần nội dung

- Phần kết luận

Trang 15

~Khá(í luận tốt ttíjhiệp 3ru'ồntj í)lt><s p Tỉt íí Qiộì 2

r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 15 ẤUĨp : 3£33(B - Qíạữ oăn

Theo Từ điển tiếng Việt 2008, thể loại là “hình thức sáng tác văn học, nghệ

thuật, phân chia theo phương thức phản ánh hiện thực, vận dụng ngônngữ”[15;trll59]

Theo Từ đỉến thuật ngữ văn học, thế loại là “dạng thức của tác phấm văn

học, được hình thành và tồn tại tương đối ốn định trong quá trình phát triển củalịch sử văn học, thể hiện ở sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phấm, về đặcđiếm của các loại hiện tượng đời sống được miêu tả và về tính chất của các mốiquan hệ của nhà văn đối với các loại hiện tượng đời sống ấy” [3; tr299]

Thực chất, thế loại là một khái niệm kép bao gồm: khái niệm về thế và kháiniệm về loại

Loại (loại hình, chủng loại): Chỉ hình thức tồn tại chỉnh thế duy nhất của tácphấm văn học Nó cho người ta biết phương thức nhà văn sử dụng chiếm lĩnh, táihiện đời sống và thế hiện tư tưởng Đồng thời, nó quy định cách thức giao tiếp vớitác giả thông qua tác phẩm

Thế (thế tài, kiếu, dạng): là hình thức tố chức ngôn ngữ và quy mô tácphẩm

Neu loại hình văn học mang tính ổn định, bền vững, số lượng hữu hạn thì

thế thường xuyên vận động, biến đối và có số lượng phong phú hơn =>Tóm lại,

loại thể là hệ thống chỉnh thể của tác phẩm Nó chỉ quy luật loại hình của tác phấm trong đó một nội dung tương ứng với một hình thức nhất

Trang 16

JCktHi luận tốt mjhiep Cfru'o’ntj ĐlôẴ p 'dôà íìlội 2

(S^O^ĩ^õ: r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 16 : 3£33(B - Qltịữ oăn

định Trong một loại thể bao giờ cũng có sự thống nhất về đề tài, chủ đề, cảmhứng, hệ thống nhân vật, hệ thống kết cấu lời văn

* Phân loại

Dựa vào phương thức phản ánh hiện thực, Arixtot trong cuốn “Nghệ thuậtthi ca” đã chia tác phẩm văn học làm ba loại: Tự sự, trữ tình, kịch Trong mỗi loạibao gồm một số thể loại như thể loại tự sự có các thể truyện, kí Loại trữ tình cócác thế như thơ ca, ngâm khúc Loại kịch có các thế: Chính kịch, bi kịch, hàikịch Và trong mỗi thế lại có các thế nhỏ hơn như trong thể kí có các thể: Phóng

sự, kí sự, hồi bút, bút kí

* Mối quan hệ và tác động qua lại giữa các thể loại

Sự phân chia thế loại mang tính chất tương đối Trong quá trình phát triểnvăn học, các thể loại văn học luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau Đó không phải

là những tác động loại trừ mà là tác động hỗ trợ, bổ sung cho nhau Trong thế loạinày có chứa yếu tố của thế loại kia Ví dụ, chúng ta có thể tìm thấy yếu tố tự sựtrong tác phẩm trữ tình như thơ trữ tình chính trị của Tố Hữu hay yếu tố trữ tìnhtrong một số tác phẩm tự sự như “Truyện Kiều” của Nguyễn Du

* Thể loại với vấn đề tiếp nhận tác phẩm văn học

Hoạt động tiếp nhận như là cơ sở lí thuyết của phương pháp dạy học, thuộc

về khoa học giáo dục vấn đề thế loại thuộc phạm trù lí luận văn học, khoa học cơbản của khoa văn học Giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau Mỗi loại vănmang trong mình một hình thức đặc thù và một nội dung, nó quy định cách thứcgiao tiếp của bạn đọc với tác giả

Lí thuyết về thể loại được sử dụng như công cụ quan trọng trong tiếp nhậntác phẩm văn học Thể loại là phương thức nhà văn sáng tạo tác phẩm

Tiếp nhận tác phấm không chỉ biết tác phấm viết gì mà còn phải biết tácphẩm sáng tạo bằng cách nào Tức người đọc phải đi lại con đường tác giả sáng tạotác phấm Mỗi loại văn quy định cách tiếp nhận khác nhau Chọn con

Trang 17

JCktHi luận tốt mjhiep Cfru'o’ntj ĐlôẴ p 'dôà íìlội 2

(S^O^ĩ^õ: r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 17 : 3£33(B - Qltịữ oăn

đường tiếp cận theo kiểu đọc hiểu tác phẩm theo đặc trưng thể loại tứcngười giáo viên chỉ đạo học sinh cắt nghĩa, lí giải các khía cạnh của tác phẩm theocác đặc trưng thể loại Trong khuôn khổ khóa luận này, chúng tôi tập trung vào thểloại cáo và chiếu Đây chính là các thế văn chính luận có từ thời trung đại

1.1.1.2 Thế cáo, chiếu

Các văn bản thuộc thế cáo, chiếu trước hết là những văn bản chính luận(hành chính quan phương)

* Văn chính luận

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: văn chính luận là “thế văn nghị luận viết

về những vấn đề nóng bỏng thuộc nhiều lĩnh vực đời sống khác nhau: chính trị,kinh tế, triết học, văn hóa ” [3; tr400]

Văn chính luận là một thể loại có vị trí quan trọng trong đời sống nhân loại

Đã có rất nhiều áng văn trở thành mẫu mực, bất hủ của từng dân tộc và trên toànthế giới Là thế loại gắn trực tiếp với đời sống của từng quốc gia trong những thờiđiểm đặc biệt

Văn chính luận trung đại bao gồm nhiều thế như: Cáo, chiếu, điếu trần,hịch, tựa, tiểu luận, tuyên ngôn, lời kêu gọi Những tác phẩm dù khác nhau về thờiđiếm ra đời, khác nhau về loại hình văn hóa nhưng chúng đều có sức hấp dẫn đặcbiệt bởi tính trí tuệ uyên bác và tình cảm sâu sắc của người chấp bút

* Cáo, chiếu

Theo Từ điển thuật ngữ vãn học, cáo “Là một thể văn thư có cội nguồn từ

Trung Quốc, nhà vua dùng đế ban bố cho thần dân nhằm trình bày chủ trương,công bố kết quả một sự nghiệp” [3; tr45] Cáo có thể được viết bằng văn xuôi (tản

văn) nhưng phần nhiều được viết theo thế văn biền ngẫu” “Bình Ngỏ đại cảo” của

Nguyễn Trãi được viết bằng văn biền ngẫu.

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, Chiếu “Là một thể văn thư có cội nguồn

từ Trung Quốc, nhà vua dùng đế ban bố mệnh lệnh cho thần dân” [3;

tr60] Thể văn này có khi còn gọi là chiếu thư, chiếu chỉ Chiếu có thể được viết

Trang 18

JCktHi luận tốt mjhiep Cfru'o’ntj ĐlôẴ p 'dôà íìlội 2

r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 18 : 3£33(B - Qíạữ oăn

bằng văn vần, văn xuôi hoặc văn biền ngẫu” “Chiếu cầu hiền” của Ngô Thì

Nhậm được viết bằng văn xuôi.

1.1.2 Hoạt động tiếp nhận tácphấm văn học

1.1.2.1 Vẩn đề tiếp nhận tác phẩm văn học

Theo Từ điến tiếng Việt 2008 tiếp nhận là “đón nhận cái từ người khác, nơi

khác chuyển giao cho”.[15; trl225]

Theo giáo sư Nguyễn Thanh Hùng trong “Đọc và tiếp nhận tác phẩm văn

chương ” cho rằng “tiếp nhận tác phâm văn học là quá trình đem lại cho người đọc sự hưởng thụ và hứng thú trí tuệ hướng vào hoạt động đế củng cổ và phát trỉến một cách phong phủ những khả năng thuộc thế giới tỉnh thần và năng lực cảm xúc của con người trong đời sông

Theo Từ đỉến thuật ngữ vẫn học, tiếp nhận văn học là “hoạt động chiếm

lĩnh các giá trị tư tưởng, thâm mĩ của tác phâm văn học, bắt đầu từ sự cảm thụ vẫn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng, cảm hứng, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ tác giả cho đến sản phấm sau khi đọc: cách hiếu, ẩn tượng trong trí nhớ, ảnh hưởng trong hoạt động sáng tạo, bản dịch, chuyên thế ” [3; tr325J

về thực chất, tiếp nhận tác phẩm văn học một cuộc giao tiếp, đối thoại tự

do giữa người đọc và tác giả qua tác phẩm với tất cả trái tim, khối óc, hứng thú vànhân cách, tri thức và sức sáng tạo Trong tiếp nhận văn học, người đọc ở vào mộttâm trạng đặc biệt, vừa quên mình, nhập thân vừa sống và thế nghiệm nội dung củatác phấm vừa phân thân, duy trì khoảng cách thẩm mĩ để nhìn nhận tác phẩm từbên ngoài, để thưởng thức tài nghệ hoặc nhận ra điều bất cập, hoặc cắt nghĩa khácvới tác giả

Neu trong đời sống việc tiếp nhận tác phấm văn học thường do tính tự phátbởi nhu cầu, thị hiếu của mỗi cá nhân cũng như mục đích tiếp nhận của mỗi cánhân là không giống nhau thì tiếp nhận tác phẩm văn học trong nhà trường trunghọc phổ thông là hoạt động mang tính tự giác và có mục đích rõ ràng Việc giảngdạy tác phẩm văn học thực chất là tố chức cho người học cách đọc các tác phẩm,

Trang 19

JCktHi luận tốt mjhiep Cfru'o’ntj ĐlôẴ p 'dôà íìlội 2

r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 19 Mí)'p : 3£33(B - Qltịữ oăn

do vậy mục đích của dạy học là giúp học sinh hiểu và cảm nhận tác phấm từ đó các

em tự hoàn thiện nhân cách của mình

1.1.2.2.Phương thức sáng tạo của nhà văn

Thời đại, tác phẩm, nhà văn, bạn đọc là bốn yếu tố tạo nên quá trình sángtác và thưởng thức văn học Trong đó, nhà văn với tư cách là chủ thể sáng tạo giữvai trò quan trọng nhất

Phương thức sáng tạo của nhà văn bắt nguồn từ sự quan sát đối tượng thẩm

mĩ khách quan trong thời đại và quan sát nhu cầu thị hiếu của người đọc Mục đíchcủa hoạt động sáng tạo là biến đối tượng thấm mĩ khách quan thành nhu cầu thẩm

mĩ xã hội Quá trình biến đổi ấy là quá trình sáng tác Nhưng trong quá trình sángtác, nhà văn đã sử dụng phương thức nào để sáng tạo tác phẩm?

Thể loại chính là phương thức nhà văn sáng tạo tác phẩm Theo sự phânchia thông thường, tác phẩm văn học gồm: tự sự, trữ tình, kịch

Neu tác phẩm trữ tình lấy cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng con người làm đốitượng thể hiện chủ yếu, tác phẩm kịch thông qua lời thoại và hành động của cácnhân vật để thể hiện những xung đột xã hội thì tác phẩm tự sự phản ánh hiện thựccuộc sống bằng các hình ảnh khách quan

về phương diện triết học, khách quan đây phải được hiểu khách quan

2 Khách quan 1 chính là đời sống Nhà văn nhận thức khách quan 1 phản ánh vàotrong tác phấm thông qua lăng kính chủ quan của mình trở thành khách quan 2chính là nội dung tác phẩm Như vậy, trong tác phẩm văn học có nội dung kháchquan và nội dung chủ quan Nói cách khác, khách quan được phản ánh thông quanhận thức, đánh gía của nhà văn Như vậy, quá trình sáng tác của nhà văn là kháchquan 1 —>• nhận thức —» đánh giá —» biểu tượng —»khách quan 2 (tác phẩm tựsự)

Trang 20

JCktHi luận tốt mjhiep Cfru'o’ntj ĐlôẴ p 'dôà íìlội 2

(S^O^ĩ^õ: r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 20 : 3£33(B - Qltịữ oăn

Việc tìm hiểu phương thức sáng tạo của nhà văn là điều kiện, tiền đề choviệc tiếp nhận văn học đúng hướng

Ị 1.2.3 Cơ chế hoạt động tiếp nhận tác phẩm vãn học

Cơ chế hoạt động tiếp nhận tác phấm văn học gồm bốn bước: Đọc, phântích, cắt nghĩa, bình giá Các tác phẩm cáo, chiếu cũng dựa trên cơ chế ấy

* Hoạt động đọc

Đó là sự khởi đầu việc tiếp nhận văn bản, đây là hoạt động sáng tạo và mangtính trực cảm Văn bản tồn tại khách quan, là hình thức ngôn ngữ được tố chứctheo một kiểu, loại nào đó tùy thuộc vào chức năng nó thực hiện hoặc bị quy địnhbởi phương thức sáng tạo mà nhà văn lựa chọn Mục đích của đọc là hiếu văn bản.Mỗi loại văn bản khác nhau có cách đọc khác nhau Đặc biệt khi đọc các văn bảnthuộc thể cáo, thể chiếu lại khác so với các văn bản thuộc thể loại tự sự hay trữ tìnhkhác

* Hoạt động phân tích

Là bước người đọc đi khám phá nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Tuynhiên, cũng không thế đi phân tích tất cả các yếu tố cấu thành tác phấm mà chỉ cóthể tiến hành với một số yếu tố Điều này buộc sau khi phân tích chia nhỏ đốitượng thành các phần nhỏ cần thực hiện thao tác lựa chọn Khi lựa chọn phải xâydựng hệ thống tiêu chí phù hợp Tiêu chí ấy được xác định bởi các căn cứ như chấtlượng của cái được lựa chọn, đặc trưng của mỗi thể loại

* Hoạt động cắt nghĩa

Là giảng giải ý nghĩa chi tiết, hình ảnh tiến tới cắt nghĩa hình tượng, cao hon

là cắt nghĩa tác phấm Đây là quá trình phân tích tống hợp

Hoạt động cắt nghĩa tác phẩm văn học ngoài những hiểu biết khoa học cầnvận dụng hiếu biết xã hội, lịch sử, mĩ học giải quyết vấn đề Đây là lúc người đọcthoát khỏi sự ràng buộc với thời đại của tác phấm, với tác giả và văn bản nghệthuật để có một khung văn học rộng lớn để thưởng thức cái hay, cái đẹp của tácphấm Điều đó cũng là quy luật của cơ chế tiếp nhận văn chương bao giờ cũng kèm

Trang 21

JChóa luận tốt nt/hiêp CjrueUuj Đ7C)Ẵ p 'Jt)à íìlội 2

(S^O^ĩ^õ: r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 21 : 3£33(B - Qíạữ oăn

theo đánh giá, bình giá tác phẩm với những quan điểm tư tưởng và tiêu chuẩn thẩm

mĩ đậm màu sắc cá nhân

* Hoạt động bình giá

Hoạt động bình giá là hoạt động cuối cùng của quá trình tiếp nhận tácphấm Bình giá là hoạt động dựa trên các căn cứ của hoạt động đọc, phân tích, cắtnghĩa Nó đòi hỏi tri thức sâu sắc, có hiếu biết phong phú về văn học nghệ thuật,tấm lòng chính trực Hoạt động bình giá giúp người đọc tiếp nhận tác phẩm sâu sắc

và trọn vẹn

Tóm lại, tiếp nhận tác phẩm văn học bao gồm một hệ thống các hoạt độngđọc, phân tích, cắt nghĩa, bình giá có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và trình tự hệthống này không thế đảo ngược Đọc là hoạt động định hướng cho sự phân tích,hoạt động cắt nghĩa xác định tính chính xác của nội dung phân tích, hoạt động bìnhgiá mở rộng, đi sâu hơn vào giá trị tác phẩm bằng sự phong phú và đầy cá tính củatiếp nhận tác phấm

Trên đây là cơ chế tiếp nhận tác phấm văn học Có nhiều con đường đếngười học đến với tác phẩm văn học, con đường đặc thù và có hiệu quả nhất vẫn làthông qua hoạt động đọc Hoạt động này không thế được thay thế bằng bất kì mộthoạt động nào khác như hoạt động nghe hoặc nhìn Nhưng thực chất, khi đọc văn,học văn, người học còn bắt gặp nhiều khó khăn cần được giải quyết đặc biệt là khókhăn về khoảng cách

1.1.3 Đọc - hiểu là con đường đặc trưng tiếp nhận tác phẩm văn học

1.1.3.1.Quan niệm về đọc - hiếu

Đọc là hoạt động văn hóa đặc trưng của con người nhằm tiếp nhận thôngtin, hướng tới thỏa mãn một nhu cầu nào đó của cuộc sống Muốn đọc thì phải học,phải biết chữ đế nhìn vào kí hiệu ngôn ngữ, cách phát âm để chuyến các kí hiệuthành tín hiệu âm thanh

Đọc là hoạt động văn hóa vì đọc không chỉ chuyến các kí hiệu thành tínhiệu âm thanh mà mục đích của đọc là tiếp nhận thông tin, hiểu được nội dung

Trang 22

JCktHi luận tốt mjhiep Cfru'o’ntj ĐlôẴ p 'dôà íìlội 2

(S^O^ĩ^õ: r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 22 : 3£33(B - Qltịữ oăn

thông tin từ văn bản Do vậy, cần phải học để có một vốn văn hỏa, vốn hiểu biếtnhất định ở mức phổ thông sau đó chuyên sâu vào lĩnh vực nào đó có liên quanđến công việc, mục đích của mình

Hiếu là mục đích trực tiếp của người học Hiểu nghĩa là người học nắmđược thông tin chứa đựng trong văn bản, nhận ra bản chất thông tin đó, hiểu ra ý

đồ người cung cấp thông tin Hiếu cần được xem xét trên một nghĩa rộng, nó baogồm nhiều cấp độ: nắm được thông tin, nhận ra các tầng ý nghĩa có trong văn bản.Hiểu cũng có nghĩa là đặt các nội dung thông tin của các văn bản ấy trong các mốiquan hệ khác nhau: quan hệ với bản thân người đọc, môi trường văn hóa lúc hoạtđộng đọc diễn ra, môi trường lịch sử để hiểu đúng nội dung thông tin trong vănbản

Hiếu là mục đích trực tiếp của việc đọc văn bản nhưng hiếu không phải mụcđích cuối cùng của việc dạy học đọc hiểu văn bản Ngữ Văn Hiểu chỉ là điều kiệnthực hiện mục tiêu của môn Văn Tất cả những hiểu biết có được thông qua đọchiếu như tri thức, phương pháp, kĩ năng sẽ trở thành công cụ, phương tiện đế ngườihọc tiếp thu học tập, làm việc, sống một cách bình thường

Tóm lại, đọc - hiểu là một hình thức tổ chức dạy học các văn bản Ngữ Văn

hay một kiếu dạy học Đe thực hiện được kiểu dạy này người ta bắt buộc phải sửdụng các phương pháp đọc, diễn giải, thuyết trình, vấn đáp để đạt được mục tiêuchiếm lĩnh đối tượng, chuyến các đối tượng vốn tồn tại khách quan bên ngoài mỗi

cá nhân thành vốn hiểu biết mỗi cá nhân

1.1.3.2 Đọc - hỉêu là con đường đặc trưng tiếp nhận tác phâm văn học

Văn học là nghệ thuật ngôn từ, là sản phẩm của sự sáng tạo và hư cấu tưởngtượng Vì vậy, đế cảm được cái hay, cái đẹp của tác phấm văn học thì trước tiên taphải hiếu được nội dung tác phấm Do đó, đọc là con đường đặc thù của việc dạyhọc tác phẩm văn chương Chỉ thông qua đọc mới tiếp cận được văn bản, từ đó tiếpnhận tác phẩm Nên trong dạy học văn, giáo viên phải dạy học sinh học đọc đế họcvăn, từ đó hình thành năng lực đọc, rèn luyện kĩ năng đọc, dần dần nâng cao thành

Trang 23

JChóa luận tốt nt/hiêp CjrueUuj Đ7C)Ẵ p 'Jt)à íìlội 2

(S^O^ĩ^õ: r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 23 : 3£33(B - Qíạữ oănvăn hóa đọc cho học sinh

Trang 24

JCktHi luận tốt mjhiep CJrit'o’tuj ĐK>Ẵ P 'dôà íìlội 2

(S^O^ĩ^õ: r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 24 Mí)'p : ~K ì ì r J3 - Qltịữ oăn

Mặt khác, đọc hiểu văn bản không chỉ giúp học sinh tìm hiểu thế giới nghệthuật, nhận thức về đời sống mà còn tạo ra sự đồng điệu, đồng sáng tạo giữa tác giả

và bạn đọc từ đó rút ngắn khoảng cách giữa người đọc và nhà văn

Như vậy, đọc hiểu chính là con đường đặc thù để tiếp nhận tác phẩm vănhọc

1.2 Cơ sở thực tiễn

Phúc Nguyên trong báo văn nghệ số 36 (9/9/2006) đã nhận xét thực trạngdạy học văn hiện nay : “theo một lối mòn quá cũ giáo viên chỉ làm nhiệm vụ rótkiến thức vào bình chứa học sinh” mà không cần biết các em có “tiêu hóa” đượckiến thức đó không, còn học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động đế rồi trả lờithầy nguyên si như thế và làm theo những ý tưởng của thầy học theo nhưng bàimẫu có sẵn Cách dạy học theo kiểu này đã thủ tiêu vai trò chủ động, sáng tạo củahọc sinh trong giờ văn, không khơi dậy những tiềm năng văn học của học sinh”.Lâu nay, việc dạy các tác phấm văn học trong trường phố thông nói chungthường theo chủ đề, nội dung mà chưa thực sự chú ý đến đặc trưng từng thế loạinên việc dạy tác phấm vẫn theo lối xáo mòn, áp đặt, chưa có sự bao quát và thấyđược sự phối hợp giữa nội dung và hình thức của tác phẩm để tạo nên một chỉnhthể tác phẩm hoàn chỉnh

Mặt khác, tình trạng phố biến của học sinh hiện nay là đọc văn bản khôngnghiêm túc nên khó nắm vững nội dung tác phấm Bởi vậy, học sinh chưa hiểu kĩ,hiểu sâu về tác phẩm Do đó, cùng phương hướng đổi mới phương pháp dạy và họcthì dạy đọc hiểu tác phẩm văn học nói chung và các tác phẩm nghị luận trung đạitrong trường trung học phổ thông theo đặc trưng thế loại nói riêng phát huy tư duysáng tạo và năng lực tự học của học sinh trong việc tiếp nhận tác phẩm

Các văn bản nghị luận trung đại chiếm một vị trí quan trọng trong tiến trìnhvăn học Việt Nam Nó cũng góp phần tạo nên dòng chảy liên tục trong toàn bộ nềnvăn học của dân tộc Chương trình phân ban hiện nay thấy được tính nhật dụng củathể loại này nên đã đưa vào dạy học ở nhà trường phổ thông nhiều văn bản đặc sắcvới nhiều thể như: Cáo, chiếu, điếu trần, hịch, tựa, tiểu luận, tuyên ngôn, lời kêu

Trang 25

JCktHi luận tốt mjhiep Cfru'o’ntj ĐlôẴ p 'dôà íìlội 2

(S^O^ĩ^õ: r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 25 : 3£33(B - Qltịữ oăn

gọi

Việc dạy và học các văn bản nghị luận trung đại đến nay vẫn còn gặp nhiềukhó khăn ở cả phía người dạy lẫn người học Hiếu được những tác phẩm đó chẳngphải là chuyện dễ dàng gì; truyền thụ cái hay, cái đẹp của nó cho người học hiểuđược lại càng khó khăn gấp bội phần, vấn đề có nhiều nguyên nhân mà nguyênnhân chủ yếu vẫn là rào cản ngôn ngữ, bởi những tác phẩm ấy đều được viết bằngngôn ngữ Hán văn cổ hay chữ Nôm có phần xa lạ với ngôn ngữ tiếng Việt hiện đạihôm nay Thêm vào đó người tiếp nhận văn bản đó dù muốn hay không là phải cómột nền kiến thức khả dĩ, ít nhiều phải hiểu rõ môi trường văn hóa trung đại, tưtưởng ý thức hệ chính thống thời trung đại, điển tích điển cố, thể loại văn học

Trang 26

(S^O^ĩ^õ: r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 26 Mí)'p : ~K ì ì r J3 - Qltịữ oăn

JCktHi luận tốt mjhiep CJrit'o’tuj ĐK>Ẵ P 'dôà íìlội 2

CHƯƠNG 2 ĐỌC - HIỂU CÁC VĂN BẢN CÁO, CHIẾU THEO

ĐẶC TRƯNG THẺ LOẠI

2.1 Văn bản và văn bản nghị luận trung đại

2.1.1 Vãn bản

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn bản:

Theo “Từ điên thuật ngữ vãn học “Bất cứ đoi tượng nào được phân tích

hoặc giải thích đều là văn bản ” [3; tr394] Neu hiểu như vậy thì văn bản là bất kì

chuỗi kí hiệu nào có khả năng đọc ra nghĩa được, bất kể là có do kí hiệu ngôn ngữtạo thành hay không: một nghi thức, một điệu múa, một nét mặt, một bài thơ đều

là văn bản

“Từ đỉến từ và ngữ Hán Việt” cho rằng: “văn bản là tờ giấy có chữ ghi nội dung một sự kiện ” [7; tr768].

Theo “Từ điển tiếng Việt” thì: “Văn bản là một chuỗi kí hiệu ngôn ngữ hay

nói chung là những kí hiệu thuộc một hệ thong nào đó làm thành một chỉnh thế mang nội dung ỷ nghĩa trọn vẹn ”[ 15; trl360].

Các tác giả trong SGV Ngữ văn, lớp 10, tập 1 quan niệm: Văn bản “là một

chỉnh thê ngôn ngữ về mặt nội dung và hình thức Văn bản là sự nối tiếp của nhiều câu, nhiều đoạn, chương, phẩn Tuy nhiên những thành tổ này phải mang tính hệ thống nhất định và toàn văn bản phải có những đặc trưng thống nhất” Cụ thế là:

-về mặt nội dung: Các câu, các đoạn gắn kết với nhau về nghĩa, cùng tậptrung thể hiện một chủ đề

-về mặt hình thức: Các câu trong văn bản có những mối quan hệ, liên hệnhất định Toàn bộ những mối liên hệ ấy tạo nên cấu trúc của văn bản

Văn bản phải có tính mạch lạc Nó thế hiện ở việc sử dụng các phương tiệnliên kết câu, các phần với nhau để tạo thành văn bản

Trang 27

JCktHi luận tốt mjhiep Cfru'o’ntj ĐlôẴ p 'dôà íìlội 2

(S^O^ĩ^õ: r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 27 Mí)'p : 3£33(B - Qltịữ oăn

Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về văn bản nhưng nhìn chung chúng

ta có thế hiếu: Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp, là một tập họp kí hiệu

ngôn ngữ (nói - viết) được tố chức thành một hệ thống chặt chẽ, hoàn chỉnh về mặt

hình thức và trọn vẹn về mặt nội dung

2.1.2 Văn bản vãn học

Chúng ta biết rất nhiều loại văn bản: miêu tả, tự sự, thuyết minh Trong đó

có một số văn bản được gọi là văn bản văn học Vậy, văn bản văn học là gì? Mỗithời đại, mỗi quốc gia có thể có những quan niệm khác nhau Ở đây người viết xindẫn ra quan niệm về văn bản văn học của SGK Ngữ văn lóp 10, tập 2 Các tác giảđưa ra một số tiêu chí sau đế nhận diện văn bản văn học:

Tiêu chí thứ nhất: Văn bản văn học (truyện cổ tích, bài thơ, cuổn tiếu

thuyết ) là những văn bản đi sâu phản ánh hiện thực khách quan và khám phá thế

giới tư tưởng, tình cảm thỏa mãn nhu cầu thấm mĩ của con người Những chủ đềnhư: tình yêu, hạnh phúc, băn khoăn đau khố, khát vọng vươn đến chân-thiện-mĩ thường trở đi trở lại với những chiều sâu và sắc thái khác nhau trong văn bảnvăn học

Tiêu chí thứ 2: Văn bản văn học được xây dựng bằng ngôn từ nghệ thuật, có

hình tượng,có tính thẩm mĩ cao Sử dụng nhiều phép tu từ {ẩn dụ, nhân hóa, so

sảnh, hoán dụ, tượng trưng ) Văn bản văn học thường hàm súc, gợi lên nhiều liên

tưởng, tưởng tượng Văn bản nào cũng phải có nghĩa Văn bản văn học cũng vậy.Nhưng khi xác định một văn bản văn học phải chú ý đến phẩm chất của ngôn từdiễn đạt

Có những văn bản lúc ra đời nhằm những mục đích thực tiễn, về sau lạiđược xem là văn bản văn học, khi ý nghĩa cao sâu đã hài hòa với cách diễn đạthoàn hảo, thỏa mãn nhu cầu thấm mĩ của người đọc

Tiêu chí thứ 3: Văn bản văn học được xây dựng theo một phương thứcriêng Kịch bản có hồi, có ảnh, có lời đối thoại, độc thoại Thơ thì có vần điệu,luật, có câu thơ, có khổ thơ Truyện lại có những quy ước về xây dựng nhân vật,kết cấu, cốt truyện, các loại lời văn

Vậy, văn bản văn học trước hết là một văn bản mang đầy đủ các đặc điểmcủa một văn bản: hoàn chỉnh về hình thức, trọn vẹn về nội dung Tuy nhiên văn

Trang 28

JCktHi luận tốt mjhiep Cfru'o’ntj ĐlôẴ p 'dôà íìlội 2

r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 28 : 3£33(B - Qíạữ oăn

bản văn học cũng mang những đặc điếm riêng:

về mặt nội dung: nó vừa phản ánh hiện thực khách quan, vừa phản ánh đờisống tâm tư, tình cảm của con người qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ

về mặt hình thức: nó được xây dựng bằng ngôn ngữ riêng - ngôn ngữ nghệthuật

về mặt chức năng: Văn bản văn học ngoài chức năng giao tiếp, cung cấp cácthông tin thông thường nó còn chứa đựng thông tin thấm mĩ Đó là những tư tưởng,tình cảm, những trải nghiệm trường đời sâu sắc của các nhà văn Vì vậy, nếu không

có tư tưởng, tình cảm đúng, không đồng cảm với niềm vui và nỗi đau của conngười thì người đọc khó có thể hiểu được cái hay, cái đẹp của văn bản văn học

2.1.3 Văn bản nghị luận

2.1.3.1.Nghị luận là gì?

Theo “Từ điên từ và ngữ Hán Việt”: “Nghị luận là dùng lí luận phân tích ý

nghĩa phải trái” [7; tr415].

GS: Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn “Một so vấn đề về vẫn nghị luận ở

cap 2 ” cho rằng “Nghị luận là bàn bạc, phân tích, đồng tình hay phản bác một vẩn đề nào đó đế tìm hiếu và thấm định giả trị lỷ luận và thực tiễn của nó ”.[4;

trio]

SGK Ngữ văn 11, tập 2 quan niệm: “Nghị luận là một thế loại văn học đặc

biệt, dùng lí lẽ, phán đoán, chứng cứ đế bàn luận về một vẩn đề nào đó (chính trị,

xã hội, văn học, nghệ thuật, triết học, đạo đức ), vấn đề được nêu ra như một câu hỏi cần giải đáp làm sáng tỏ Luận là bàn về đủng hay sai, phải hay trái, khắng định điều này, bác bỏ điều kia, đê người ta nhận ra chân lý đồng tình với mình, chia sẻ quan điếm và niềm tin của mình [14; trl 10]

Trang 29

JCktHi luận tốt mjhiep Cfru'o’ntj ĐlôẴ p 'dôà íìlội 2

(S^O^ĩ^õ: r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 29 : 3£33(B - Qltịữ oăn

Tóm lại, nghị luận là dùng lý lẽ để bàn bạc về một vấn đề nào đó mà người

viết có thể đồng tình hay phản bác, nhằm thuyết phục người khác tin vào nhữngđiều mình nói, đồng tình với quan điểm của mình

2.1.3.2.Văn bản nghị luận là gì?

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về văn bản nghị luận:

Theo “Từ đỉến bách khoa toàn thứ’ của Mĩ: “Văn học là những sản phâm

viết của xã hội bằng vãn xuôi hoặc thơ Theo nghĩa rộng, văn học bao gồm tất cả các kỉếu viết theo lối hư cẩu hoặc không hư cẩu Theo định nghĩa này thì văn nghị

luận được xem là thế loại thuộc dạng thức không hư cấu Như vậy nghĩa là: “ Văn

nghị luận không dùng đến một hoạt động cơ bản của tư duy hình tượng mà dựa vào tư duy logic đế trình bày tư tưởng, quan điếm nào đó của người viết

Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kì 92 - 96, cũng đưa ra quan niệm:

“Văn nghị luận là loại văn bản nhằm bàn bạc, thảo luận với người khác về thực tại

đời sổng xã hội bao gồm những vẩn đề văn hóa, triết học, đạo đức, lịch sử, chính trị, văn học, nghệ thuật Vãn học nghị luận xem trọng năng lực lập luận dựa trên quy tac logic và đặc đi êm tư duy nhưng nó vân không loại trừ hình thức mĩ cảm của tư tưởng Nét nôi bật trong vãn bản nghị luận là lỷ lẽ và dẫn chứng đầy đủ, tiêu biếu đế làm sáng tỏ một vẩn đề nào đó nhằm khêu gợi thuyết phục người đọc, người nghe hiếu rõ vấn đề, tin vào tính chất xác minh của sự lập luận và tản thành với quan đỉêm, tư tưởng của người viết đê người đọc có thê vận dụng chủng vào cuộc sông xã hội và cả nhân ”.[4; tr5]

Theo PGS.TS Đỗ Ngọc Thống: “Văn bản nghị luận là một thế loại nhằm

phát biếu tư tưởng, tình cảm, thải độ, quan điếm của người viết một cách trực tiếp

về vãn học hoặc chỉnh trị, đạo đức, loi sổng nhưng lại trình bày bằng một thứ ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục [16; trl89]

Văn nghị luận là thể loại đặc biệt của văn học (không dùng hư cấu tưởngtượng) Nó đề cập đến những vấn đề của đời sống: chính trị, văn hóa, triết học, đạođức, lịch sử nhằm trình bày quan điếm, thái độ của người viết bằng hệ thống lí lẽ

Trang 30

JChóa luận tốt nt/hiêp CjrueUuj Đ7C)Ẵ p 'Jt)à íìlội 2

r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 30 Mí)'p : 3£33(B - Qltịữ oăn

và dẫn chứng tiêu biếu cùng những lập luận chặt chẽ thuyết phục Văn nghị luậnkhông loại trừ những hình thức ngôn ngữ mĩ cảm nhưng đó chỉ là yếu tố phụ, minhhọa, làm sáng tỏ cho lí lẽ mà người viết muốn đưa ra

Văn nghị luận khác văn hư cấu, tưởng tượng Xét hai ví dụ sau:

Ví dụ 1: “Tiếng trổng thu không trên cái chòi của huyện nhỏ; từng tiếng

một vang ra đê gọi buôỉ chiều Phương Tây đỏ rực như lửa cháy và những đảm mây ảnh hồng như hòn than sắp tàn Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rỗ rệt trên nền trời.

Chiều, chiều rồi Một chiều êm ả như ru, văng vắng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào ”

{Hai đứa trẻ - Thạch Lam)

Ví dụ 2 : “Nay các ngươi thấy chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục

mà không biết thẹn Làm tướng triều đình phải đầu quân giặc mà không biết tức; nghe nhạc thái thường đế đãi yến ngụy sứ mà không biết căm Hoặc lẩy việc trọi

gà làm vui đùa, hoặc lẩy việc đánh bạc làm tiêu khiến; hoặc vui thú ruộng vườn; hoặc quyến luyến vợ con; hoặc lo làm giàu mà quên việc nước, hoặc ham săn bẳn

mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát Nếu cỏ giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trổng không thế đâm thủng áo giáp của giặc, mẹo cờ bạc không thế dùng làm mưu lược nhà bỉnh ; dẫu rằng ruộng lam vườn nhiều; tấm thân quý ngàn vàng khôn chuộc vả lại vợ con bìu díu, việc quân cơ trăm sự ích chi; tiền của mua nhiều nhưng không mua được đầu giặc; chó săn tuy khỏe nhưng không đuối được quân thù; chén rượu ngon không thế làm cho giặc say chết, tiếng hát hay không thê làm cho giặc điếc tai Lúc bẩy giờ ta cùng các người sẽ bị bat đau xót biết chừng nào? ”

{Hịch tướng sĩ- Trần Quốc Tuấn)

Đọc hai ví dụ trên người đọc có thể dễ dàng nhận ra ở ví dụ 1 là văn hư cấucòn ở ví dụ 2 là văn nghị luận Ở ví dụ 1 chỉ bằng một vài câu văn ngắn Thạch Lam

đã tái hiện được vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên phố huyện lúc chiều tà với đầy đủ

âm thanh, đường nét, màu sắc Đó là âm thanh của tiếng trống thu không, tiếng ếchnhái ngoài đồng ruộng, tiếng muỗi vo ve Đó là hình ảnh, màu sắc của ánh mặt trời

Trang 31

JChóa luận tốt nt/hiêp CjrueUuj Đ7C)Ẵ p 'Jt)à íìlội 2

(S^O^ĩ^õ: r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 31 : 3£33(B - Qíạữ oăn

đỏ rực như lửa cháy, đám mây ánh hồng, dãy tre làng đen lại Đó là đường nét củadãy tre làng cắt hình rõ rệt trên nền trời Bằng ngôn ngữ giàu hình tượng , nhữngcâu văn êm dịu, có nhịp điệu chậm rãi, vừa giàu hình ảnh, vừa giàu nhạc điệu, lạivừa uyển chuyến tinh tế, Thạch Lam đã gợi được cái hồn của cảnh vật,cái thần thái

của thiên nhiên, làm hiện lên trước mắt người đọc “bức họa đồng quê ” quen

thuộc, gần gũi và gợi cảm Một bức tranh quê hương bình dị mà không kém phầnthơ mộng, mang cốt cách Việt Nam

Ớ ví dụ 2: Trần Quốc Tuấn đã trực tiếp bày tỏ quan điếm của mình về mộtvấn đề chính trị, liên quan đến vận mệnh của quốc gia dân tộc Đó là vai trò củatướng sĩ đối với triều đình và sự an nguy của đất nước Lời văn đanh thép, hùnghồn, lập luận chặt chẽ sắt đá, để thuyết phục tướng sĩ làm theo lời mình Tác giả lật

đi lật lại vấn đề Ban đầu Trần Quốc Tuấn liệt kê tất cả các thú vui của tướng sĩ.Sau đó đế phủ định một điều: tất cả những thú vui ấy không thế đánh đuối đượcquân giặc Và hệ quả tất yếu của lối sống thờ ơ, tiêu khiến là: các ngươi sẽ bị bắt.Điều mà Trần Quốc Tuấn nói là điều mà tất cả mọi người đều quan tâm Bằng

những lí lẽ của mình, Trần Quốc Tuấn đã dồn người nghe vào tình trạng "không thế

chối cẫỉ” tức là bị thuyết phục hoàn toàn.

Có thể khẳng định: Neu như đích của văn miêu tả, kể chuyện là làm sốngdậy trước mắt người đọc thần thái của sự vật, sự việc thì đích của văn bản nghị luận

là đế đưa thông tin và nói lí lẽ nhằm thuyết phục người đọc, người nghe Neu vănmiêu tả, kế chuyện tác động vào trí tưởng tượng của con

người, kích thích óc quan sát thì văn nghị luận tác động mạnh mẽ vào nhận thức

lý tính nâng cao khả năng lập luận, rèn luyện tư duy logic cho người viết

Tóm lại, văn nghị luận là một thế loại văn học đặc biệtf không dùng hư cảu

tưởng tượng), thể hiện tư tưởng quan điểm, thái độ của người viết về các vấn đề

của đời sống văn hóa, nhân sinh Những điều đó được trình bày bằng một hệ thống

lí lẽ, dẫn chứng tiêu biếu với những lập luận chặt chẽ thuyết phục và một số ngônngữ trong sáng, hùng hồn, có màu sắc biểu cảm

2.1.3.3 Phân loại vãn bản nghị luận

Văn nghị luận được sử dụng rộng rãi trên nhiều lĩnh vực văn hóa, chính trị,

Trang 32

JChóa luận tốt nt/hiêp CjrueUuj Đ7C)Ẵ p 'Jt)à íìlội 2

r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 32 Mí)'p : 3£33(B - Qltịữ oăn

xã hội Sự phân loại văn nghị luận có thế dựa trên hai tiêu chí:

-Căn cứ vào nội dung, đề tài, có 2 loại:

+ Nghị luận văn học là những bài luận về vấn đề văn học nào đó như chi tiết nghệ thuật, hình ảnh nghệ thuật, tác giả, tác phấm, giai đoạn

Ví dụ: “7V« “Trích diễn thi tập”” của Hoàng Đức Lương, “Một thời đại

trong thỉ ca ” của Hoài Thanh.

+ Nghị luận xã hội là những bài nghị luận về một vấn đề chính trị, đạo đức, lối sống nào đó

Ví dụ: “Chiếu cầu hiền” của Ngô Thì Nhậm, “Xỉn lập khoa luật” của Nguyễn Trường Tộ, “Chiếu dời đô ” của Lí Công uẩn

-Căn cứ vào loại hình văn học và giai đoạn văn học, có 3 loại:

+ Nghị luận dân gian Ví dụ: tục ngữ

+ Nghị luận trung đại Ví dụ: “Đạ/ cảo Bình Ngô ” của Nguyễn Trãi, “Hiền

tài là nguyên khí quốc gia ” của Thân Nhân Trung

+ Nghị luận hiện đại Ví dụ: “ Mấy ỷ nghĩ về thơ” của Nguyễn Đình Thi,

“Nguyễn Đình Chiếu, ngôi sao sáng trong nền văn nghệ của dân tộc” của Phạm

Văn Đồng

2.1.4 Văn bản nghị luận trung đại

2.1.4.1 Khái niệm

Văn bản nghị luận trung đại được hiếu là tất cả các văn bản nghị luận được ra đời

trong giai đoạn văn học từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX Tức là ra

Trang 33

JCktHi luận tốt mjhiep Cfru'o’ntj ĐlôẴ p 'dôà íìlội 2

r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 33 : 3£33(B - Qíạữ oăn

đời trong thời kì trung đại hay nói cách khác là ra đời trong thời kì phong kiến

2.1.4.2.Phân loại các vãn bản nghị luận trung đại

Văn bản nghị luận trung đại khá phong phú,gồm nhiều thể tài khác nhaunhư: cáo, chiếu, văn bia, lời bình lịch sử Mỗi thế tài đều có những nét đặc trưngriêng Vì vậy mà việc đọc hiếu mỗi văn bản lại có sự khác nhau tùy thuộc vào đặctrưng của nó Trong giới hạn của bài viết này, chúng tôi xin nêu một vài đặc trưng

cơ bản của các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu để làm cơ sở cho việc dạy các vănbản này ở trường phổ thông

2.2.1 Các văn bản thuộc thế cáo, thế chiếu thường được viết bởi những người có trọng trách lớn, có địa vị trong xã hội và đối tượng tiếp nhận được xác định rõ ràng Moi một văn bản thường đánh dấu một sự kiện trong đại nào

đó trong lịch sử dân tộc.

Công văn hành chính xưa gồm hai loại:

Một loại do cấp dưới đệ trình lên nhà vua hay triều đình (tấu, chương, biểu,

Ví dụ: “Đại cáo bình Ngó” của Nguyễn Trãi được công bố vào ngày

17/12/1428 trong không khí hào hùng của ngày vui độc lập, sau khi quân ta đánhthắng giặc Minh Nhân sự kiện đó Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết “Đại cáo bìnhNgô” đế bố cáo với thiên hạ về điều đó

“Chiếu cầu hiền” của vua Quang Trung do Ngô Thì Nhậm viết thay vào

khoảng 1788-1789 nhầm thuyết phục những sĩ phu Bắc Hà, tức các trí thức củatriều đại cũ (Lê-Trịnh) ra cộng tác với triều đại Tây Sơn

Chính vì vậy mà các văn bản này thường mang tính quan phương Có nghĩa

là mỗi văn bản có sự phân chia chức vụ, địa vị theo chức năng của văn bản đó

Trang 34

JCktHi luận tốt mjhiep Cfru'o’ntj ĐlôẴ p 'dôà íìlội 2

(S^O^ĩ^õ: r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 34 : 3£33(B - Qltịữ oăn

2.2.2 Các văn bản hành chính xưa nói chung và các văn bản thuộc thế cảo,

thế chiếu nói riêng mang tính quy phạm rất rõ Moi một loại đều chịu sự quy định của thế tài:

Thế cáo thì thường có kết cấu 4 phần:

-Phần mở đầu: Nêu luận đề chính nghĩa

-Phần thứ hai: Lên án tội ác của quân thù

-Phần thứ ba: Ke lại quá trình chiến đấu và chiến thắng

-Phần thứ tư: Khép lại bằng lời tuyên bố thắng lợi

Ví dụ: “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi, gồm có 4 phần như sau:

-Phần mở đầu: Nguyễn Trãi nêu tư tưởng nhân nghĩa và khẳng định nướcĐại Việt là nước có chủ quyền, có nền văn hóa riêng

-Phần thứ hai: Tác giả nêu tội ác của giặc Minh

-Phần thứ ba: Nêu quá trình dấy binh khởi nghĩa của quân dân ta dưới sựlãnh đạo của Lê Lợi

-Phần thứ tư: Tuyên bố nền thái bình vừa mới giành lại được

“Chiếu cầu hiền ” của Ngô Thì Nhậm cũng có kết cấu chặt chẽ gồm ba

-Phần thứ ba: Hướng sử dụng người tài và lời kêu gọi người tài trong thiên

hạ ra giúp dân giúp nước

* Hay trong thể hịch cũng có kết cấu bao gồm bốn phần:

-Phần thứ nhất: Nêu vấn đề cần quan tâm

-Phần thứ hai: Dan truyền thống vẻ vang trong sử sách để gây tin cậy.-Phần thứ ba: Nhận định tình hình đế gợi lòng căm thù

-Phần thứ tư: Kêu gọi đấu tranh

Ví dụ: “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn

2.2.3 Các văn bản thuộc thế cáo, thế chiếu còn mang tính nghệ thuật Nó

Trang 35

JCktHi luận tốt mjhiep Cfru'o’ntj ĐlôẴ p 'dôà íìlội 2

(S^O^ĩ^õ: r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 35 : 3£33(B - Qltịữ oăn

được thế hiện ở việc sử dụng các điển tích, điển cố; các hình ảnh U’ớc lệ, tượng trung đế tác động mạnh mẽ vào xúc cảm của người đọc.

Trong văn bản “Chiếu cầu hiền” của Ngô Thì Nhậm đã sử dụng rất nhiềucác điến cố, điến tích với mật độ dày đặc Và các điến cố điến tích ấy thường đượclấy từ thi liệu trong văn thơ cổ Trung Quốc

Ví dụ: Chỉ trong 2 câu ngắn mà tác giả đã sử dụng đến 7 điển tích:

“Trước đây thời thế suy vỉ, Trung Châu gặp nhiều biến cổ, kẻ sĩ phải ở ẩn trong ngòi khe(l), tron tránh việc đời(2), những bậc tỉnh anh trong triều đương phải kiêng dè không dám lên tỉếng(3) Cũng có kẻ gõ mõ canh cửa(4), cũng có kẻ

ra biến vào sông(5), chết đuổi trên cạn(6) mà không biết, dường như muon lấn tránh(7) suốt đời ”

(1) Ớ ân trong ngòi khe\ dịch thoát chữ “khảo bàn “Khảo bàn ” là tên bài thơ trong thiên Phong” của tuyển tập Kinh Thi Đây là thiên nói về những người ở

ẩn nơi ngòi khe

(2) Trốn tránh việc đời: Dịch thoát câu: “dụng củng vu hoàng ngưu ” (gói

kĩ trong tấm da bò) trong Kinh dịch, ý nói kẻ ẩn dật trốn tránh việc đời khác nàotấm da bò bọc lấy đồ vật một cách vững chắc

(3) Kiêng dè không dám lên tiếng: Dịch thoát câu: “giới minh vu trượng mã

” (Ngựa chầu phải kiêng dè tiếng hí) ở đây ý nói các quan trong triều đều giữ mình

không dám lên tiếng

(4) Gõ mõ canh cửa: Dịch thoát câu: “kích đạc bảo quan ” xuât xứ ở sách Mạnh Tử “kích đạc” là những người đánh mõ canh đêm, “bảo quan ” là người

canh cửa, đều là những chức vụ thấp kém

Trang 36

r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 36 ẤUĨp : 3£33(B - Qíạữ oăn

ychíht íutịn tốt nt/hiêp ZTru'tUuj r Đ7C)Ẵ r p Jôà íìlội 2

tử” có đoạn chép về những người đi ở ấn thời cố: “Cố phương Thúc nhập vu hà,

kích thánh Tương nhập vu hải” (quan đánh trống phương Thúc vào miền sông Hà,người đánh khánh là Tương đi ra bế) ở đây chỉ các ấn sĩ mỗi người đi một phương

(6) Chết đuổi trên cạn: dịch chữ “lục trầm” xuất xứ ở sách Trang Tử, nói

kẻ đi ở ấn như người bị chết đuối trên cạn

(7) Lấn tránh’, dịch chữ “phì độn ” xuất xứ ở quẻ Độn trong Kinh dịch nói

“Nhân dân bổn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới ”

(“Đại cảo bình Ngô ” _ Nguyễn Trãi)

Ngoài việc chứa đựng thông tin: Lấy điển cũ nói về Trần Thắng, NgôQuảng do khởi nghĩa quá gấp không kịp may cờ, giơ cần trúc làm cờ Câu thơ cònđem đến cho người đọc cảm xúc thẩm mĩ: thấy được khí thế hào hùng, quyết tâmđánh giặc của nhân dân ta

Đây cũng chính là một đặc điểm quen thuộc trong văn học trung đại Do đặcđiếm của các văn bản này là khô khan, khó hiếu, người viết chủ yếu trình bày vềmột vấn đề có giá trị lịch sử nào đó Việc đưa vào các hình ảnh ước lệ, tượng trưng

và các điển cố, điển tích đã làm cho câu văn, câu thơ mang tính khái quát sâu rộng,giàu hình ảnh và tác động mạnh mẽ vào xúc cảm của người đọc

Trang 37

JCktHi luận tốt mjhiep Cfru'o’ntj ĐlôẴ p 'dôà íìlội 2

(S^O^ĩ^õ: r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 37 : 3£33(B - Qltịữ oăn

2.2.4 Lời của các văn bản thuộc thế cáo, thế chiếu thường được cấu tạo theo lối biền ngẫu, mỗi câu có hai vế cân đối nhau về số từ, giống nhau về kết cẩu ngữ pháp, đối nhau về ý và thanh điệu Do đó làm cho lời văn giàu nhạc tính, đem lại giá trị nghệ thuật cao.

Ví dụ: Trong “Đại cảo bình Ngô” của Nguyễn Trãi có những câu như:

“ Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phả,

Bỉ nước giặc quay mũi giáo đánh nhau ”

“Họ đã tham sổng sợ chết, mà hòa hiếu thực lòng,

Ta lẩy toàn quân là hơn, đế nhân dân nghỉ sức ”

“Từ Triệu, Đỉnh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập, Cùng Hán, Đường, Tổng, Nguyên moi bên xưng đế một phương

Mỗi câu thường có hai vế cân xứng nhau

Tóm lại, các văn bản thuộc thế cáo, thế chiếu không chỉ mang đăc trưngchung của văn chính luận mà nó còn có những đặc điểm riêng tùy thuộc vào từngthể loại bởi nó ra đời và phát triển trong thời kì văn - sử - triết bất phân Chính vìvậy, khi đi tìm hiếu cụ thế các văn bản này thì cần phải nắm được đặc trưng thểloại của nó, để từ đó có thể hiểu một cách sâu sắc và toàn diện hơn những tư tưởng

mà người viết muốn truyền lại Tuy nhiên, hiện nay việc dạy các văn bản này vẫnchưa đem lại hiệu quả cao, dẫn đến tình trạng học sinh không còn hứng thú vớimôn học như trước đây nữa Tình trạng đó bắt nguồn chủ yếu từ những khó khăn

Trang 38

JCktHi luận tốt mjhiep Cfru'o’ntj ĐlôẴ p 'dôà íìlội 2

r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 38 : 3£33(B - Qíạữ oăn

người đọc gặp phải những khó khăn gọi là khoảng cách tiếp nhận mà Đặng Thanh

Lê gọi là “sự chuyến biến của khoảng cách” Và khi dạy các văn bản thuộc thế

cáo, thể chiếu hiện nay cũng gặp phải những khó khăn như vậy Đó là:

2.3.1 Khoảng cách thời gian

Thời gian được miêu tả trong văn bản khác thời gian tác giả sáng tác vănbản và thời gian tiếp nhận văn bản Hơn nữa, các văn bản thuộc thế cáo, thể chiếulại được viết cách đây khá lâu, có khi còn không xác định rõ ràng thời điếm sángtác

Ví dụ: “Đại cảo bình NgôCuối năm 1427 (cũng có tài liệu cổ cho rằng đầu năm 1428) được lệnh của Lê Lợi, Nguyễn Trãi viết “Đại cáo bình Ngô” và văn bản

này được công bố vào tháng 4 năm 1428

“Chiếu cầu hiền ” của Ngô Thì Nhậm thì lại được viết vào những năm

1788-1789

Như vậy, khoảng cách về mặt thời gian sáng tác văn bản và thời gian tiếpnhận văn bản quá xa đã gây trở ngại cho việc dạy, học các văn bản này

2.3.2 Khoảng cách về không gian

Mỗi tác phẩm văn học ra đời trong một không gian xác định nhưng khi tiếpnhận tác phẩm lại trong một không gian hoàn toàn khác Vì vậy, yếu tố về khônggian đã trở thành yếu tố cơ bản của quá trình tiếp nhận

Các văn bản thuộc thể cáo, thế chiếu được viết trong những năm chiến tranhxảy ra liên miên Chính vì vậy, không gian chủ yếu của nó là không gian chiến trận.Người đọc tiếp nhận với khí thế hào hùng, sôi sục chiến đấu Tuy nhiên, nếu đặttrong hoàn cảnh đất nước như hiện nay thì việc khơi dậy khí thế ấy là một việc làmkhông hề đơn giản đối với người giáo viên dạy Văn

2.3.3 Khoảng cách về mặt tâm lỉ

Tiếp theo, tâm lí người học cũng là một vấn đề đáng phải quan tâm Các tácphẩm trong văn học trung đại nói chung hầu hết đều chịu sự chi phối

Trang 39

JCktHi luận tốt mjhiep Cfru'o’ntj ĐlôẴ p 'dôà íìlội 2

(S^O^ĩ^õ: r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 39 : 3£33(B - Qltịữ oăn

của ý thức hệ tư tưởng nào đó Lúc bấy giờ các nhà thơ, nhà văn sáng tácvăn chương để nhằm một mục đích cụ thể nào và thường chịu ảnh hưởng của các tưtưởng: tôi trung không thờ hai chủ, trung quân ái quốc, tam cương ngũthường Còn đối tượng tiếp nhận lúc đó chủ yếu là quần chúng nhân dân, các tríthức yêu nước trong thiên hạ Họ có niềm tin sâu sắc vào những người đứng đầu,lãnh đạo quần chúng trong các cuộc khởi nghĩa Vì vậy, muốn nhân dân đoàn kết,một lòng đánh đuổi giặc ngoại xâm thì phải tạo được niềm tin vững chắc ở tronghọ

Đối với đối tượng tiếp nhận hiện nay là học sinh thì phần lớn lại mang mộttâm thế không trùng khít với người xưa Ngày nay nhân dân ta nói chung đã ítnhiều mất niềm tin vào đội ngũ quản lý nhà nước bởi bệnh tham nhũng Đây là mộttrong những căn bệnh rất phổ biến hiện nay, nó phần nào đã ảnh hưởng đến tâm lícủa người học

Cho nên, khi dạy các tác phẩm của văn học trung đại, đặc biệt là các văn bảnthuộc thể cáo, thể chiếu phải đăc biệt chú ý vào tâm lí của đối tượng tiếp nhận.Người giáo viên cần tạo niềm tin cho học sinh thấy rằng: đoàn kết luôn là sức mạnh

to lớn để đi đến thắng lợi

2.3.4 Khoảng cách ngôn ngữ’

Và, khó khăn lớn nhất ảnh hưởng trực tiếp đến việc dạy học các văn bảnthuộc thể cáo, thế chiếu theo đặc trưng thể loại đó là khoảng cách về ngôn ngữ.Mỗi thời đại, mỗi tác giả có thói quen sử dụng ngôn ngữ khác nhau khi xây dựngcác hình tượng nghệ thuật khác nhau Nó bao gồm khoảng cách:

Khoảng cách ngôn ngữ giữa độc giả và tác giả

Khoảng cách ngôn ngữ giữa các dân tộc: điều này xảy ra với các tác phẩmdịch

Khoảng cách ngôn ngữ giữa các thời đại: mỗi thời đại khác nhau, sử dụngngôn ngữ khác nhau

Văn học trung đại Việt Nam tồn tại song song hai nền văn học: văn học chữHán và văn học chữ Nôm Hơn nữa, văn học thời kì này chịu ảnh hưởng rất lớn từvăn học Trung Quốc Các thể như: thể cáo, thể chiếu đều có nguồn gốc từ văn học

Trang 40

JCktHi luận tốt mjhiep Cfru'o’ntj ĐlôẴ p 'dôà íìlội 2

r ị)liụm r ~ĩltị Tỉíott 40 Mí)'p : 3£33(B - Qltịữ oăn

Trung Quốc cố đại Chính vì vậy, trong các văn bản ấy thường sử dụng rất nhiềucác từ cổ, từ Hán-Nôm, những điển tích về thi liệu cố Trong quá trình dạy các vănbản này không thế tránh khỏi khó khăn về mặt ngôn ngữ giữa các thời đại Trênđây chỉ là một số những khó khăn thường hay gặp nhất trong quá trình dạy học cácvăn bản thuộc thế cáo, thế chiếu Tuy nhiên, áp dụng vào từng giờ dạy cụ thể thìngười giáo viên còn có thể gặp phải những khó khăn khác Do vậy, người dạy cầnphải linh hoạt trong việc giải quyết các khó khăn đế từ đó hình thành phương phápdạy học sao cho có hiệu quả nhất

Những khó khăn về khoảng cách trên có mối quan hệ tác động qua lại lẫnnhau Rút ngắn được khoảng cách này sẽ thu hẹp được khoảng cách kia Vấn đề đặt

ra là biện pháp khắc phục những khoảng cách đó Trong khóa luận này, chúng tôilựa chọn con đường giải quyết khó khăn trên bằng cách đọc và tiếp cận tác phẩmtrên cơ sở đặc trưng thể loại

2.4 Đọc - hiểu các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu cần phải chú ý đến những vấn đề sau:

Xuất phát từ các đặc trưng của thế cáo, chiếu và những khó khăn trong quátrình dạy đọc hiểu các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu Trong bài viết này, chúng

tôi có thế đưa ra những điểm cần chú ý trong việc “Đọc - hiểu các văn bản cáo, chiếu theo đặc trung thể loại” như sau:

2.4.1 Đọc hiểu các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu cần phảichú ý đến bối cảnh lịch sử ra đời của văn bản đó.

Khi dạy văn bản “Đại cảo bình Ngô’’của Nguyễn Trãi thìcần chú ýđến bối cảnh lịch sử: Ngày 29/12/1427 quân ta tiêu diệt và làm tan rã mười lăm vạnbinh của giặc Vương Thông buộc phải giảng hòa, chấp nhận rút quân về nước

Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết “Đạj cảo bình Ngô ” để bố cáo cho toàn dân biết

được chiến thắng vĩ đại của quân ta trong mười năm chiến đấu gian khổ và tuyên

bố độc lập của nước Đại Việt ta

Văn bản “Chiếu cầu hiền” được Ngô Thì Nhậm viết vào khoảng những

năm 1788-1789, trong một hoàn cảnh hết sức đặc biệt: Nước ta vừa trải qua một

Ngày đăng: 29/03/2015, 16:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w