1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tổng hợp câu hỏi và đáp án ôn thi kinh tế chính trị

27 524 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 251,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

để lại, chúng đang có tác dụng đối với sự phát triển lực lượng sản xuất; một số thành phần kinh tếmới hình thành trong quá trình cải tạo quan hệ sản xuất cũ và xây dựng quan hệ sản xuất

Trang 1

Câu 1 Có quan điểm cho rằng: “Chủ trương phát triển kinh tế tư nhân là từ bỏ con đường CNXH” Quan điểm của đồng chí như thế nào? Phân tích làm rõ Liên hệ cách mạng Việt Nam.

1 Tính tất yếu, khách quan của thời kỳ quá độ:

Thời kỳ quá độ theo C.Mác đã khái quát về mặt lý luận và chỉ rõ: “Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội làthời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, triệt để và toàn diện từ xã hội cũ thành xã hội mới: chủ nghĩa xã hội

Nó diễn ra từ khi giai cấp vô sản giành được chính quyền bắt tay vào xây dựng xã hội mới và kết thúc khixây dựng thành công những cơ sở của chủ nghĩa xã hội cả về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất cơ sởkinh tế và kiến trúc thượng tầng

Để chuyển từ xã hội TBCN lên xã hội XHCN cần phải trải qua một thời kỳ quá độ nhất định Tínhtất yếu của TKQĐ lên CNXH được lý giải từ các căn cứ sau đây:

- Một là, CNTB và CNXH khác nhau về bản chất CNTB được xây dựng trên cơ sở chế độ tư hữu TBCN vềcác tư liệu sản xuất; dựa trên chế độ áp bức và bóc lột CNXH được xây dựng trên cơ sở chế độ công hữu về

tư liệu sản xuất chủ yếu, tồn tại dưới 2 hình thức là nhà nước và tập thể; không còn các giai cấp đối kháng,không còn tình trạng áp bức, bóc lột Muốn có xã hội như vậy cần phải có một thời kỳ lịch sử nhất định

- Hai là, CNXH được xây dựng trên nền sản xuất đại công nghiệp có trình độ cao Quá trình phát triển củaCNTB đã tạo ra cơ sở vật chất - kỹ thuật nhất định cho CNXH, nhưng muốn có cơ sở vật chất – kỹ thuật

đó cần phải có thời gian tổ chức, sắp xếp lại

Đối với những nước chưa từng trải qua quá trình CNH tiến lên CNXH , TKQĐ cho việc xây dựng cơ sởvật chất – kỹ thuật cho CNXH có thể kéo dài với nhiệm vụ trọng tâm của nó là tiến hành CNH XHCN

- Ba là, các quan hệ xã hội của CNXH không tự phát nảy sinh trong lòng CNTB, chúng là kết quả của quátrình xây dựng và cải tạo XHCN Sự phát triển của CNTB dù đã ở trình độ cao cũng chỉ có thể tạo ranhững điều kiện, tiền đề cho sự hình thành các quan hệ xã hội XHCN, do vậy cũng cần phải có thời giannhất định để xây dựng và phát triển các quan hệ đó

- Bốn là, công cuộc xây dựng CNXH là một công việc mới mẻ, khó khăn và phức tạp, cần phải có thờigian để GCCN từng bước làm quen với những công việc đó

TKQĐ lên CNXH ở các nước có trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau có thể diễn ra với khoảngthời gian dài, ngắn khác nhau Đối vơi những nước đã trải qua CNTB phát triển ở trình độ cao thì khi tiếnlên CNXH, TKQĐ có thể tương đối ngắn Những nước đã trải qua giai đoạn phát triển CNTB ở mức độtrung bình, đặc biệt là những nước còn ở trình độ phát triển tiền tư bản, có nền kinh tế lạc hậu thì TKQĐthường kéo dài với rất nhiều khó khăn, phức tạp

* Tính tất yếu của sự tồn tại các thành phần kinh tế: Thành phần kinh tế là khu vực kinh tế, kiểu

quan hệ kinh tế dựa trên một hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất

Sự tồn tại cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là đặc trưng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và là tấtyếu khách quan:

+ Một số thành phần kinh tế của phương thức sản xuất cũ (như kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tưnhân ) để lại, chúng đang có tác dụng đối với sự phát triển lực lượng sản xuất; một số thành phần kinh tếmới hình thành trong quá trình cải tạo quan hệ sản xuất cũ và xây dựng quan hệ sản xuất mới (như kinh tếnhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản nhà nước) Các thành phần kinh tế cũ và các thành phần kinh tếmới tồn tại khách quan, có quan hệ với nhau cấu thành cơ cấu kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội ở nước ta

+ Nguyên nhân cơ bản của sự tồn tại cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội, suy đến cùng, là do quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển củalực lượng sản xuất quy định Thời kỳ quá độ ở nước ta, do trình độ lực lượng sản xuất còn rất thấp, tồn tại

ở nhiều thang bậc khác nhau, lại phân bố không đều giữa các ngành, vùng nên tất yếu còn tồn tại nhiềuhình thức sở hữu tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế

Tóm lại, trong thời kỳ quá độ, nền kinh tế nước ta tồn tại nhiều thành phần là tất yếu khách quan xét cảtrên phương diện lý luận và thực tiễn Chính vì vậy, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đến nay,

Trang 2

Đảng ta luôn khẳng định quan điểm thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần và coi đó làđường lối chiến lược lâu dài ở nước ta.

Để phát triển kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN, các thành phần kinh tế phải đượccải biến Không thể “xoá bỏ” hay “chuyển đổi” các thành phần kinh tế một cách chủ quan duy ý chí, màphải căn cứ vào trình độ phát triển của LLSX, tính chất của từng ngành nghề mà từng bước hình thànhQHSX mới từ thấp đến cao với sự đa dạng về các hình thức sở hữu

Cơ cấu các thành phần kinh tế

- Thành phần kinh tế Thành phần kinh tế là khu vực kinh tế, kiểu quan hệ kinh tế được đặc trưngbởi những hình thức sở hữu nhất định

Đại hội XI xác định nền kinh tế nước ta có 04 thành phần: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngàycàng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Kinh tế tư nhân là một trong những động lựccủa nền kinh tế Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển

Vai trò của kinh tế tư nhân

Khái niệm kinh tế tư nhân được dùng để chỉ các thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tưliệu sản xuất, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân Lý luận của ‘chủ nghĩa Mác – Lênin

đã khẳng định sự tồn tại của kinh tế tư nhân là một tất yếu khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội và việc cải tạo thành phần kinh tế này là một trong những nhiệm vụ kinh tế cơ bản, lâu dài của cảthời kỳ quá độ Thực tiễn cho thấy, việc phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa là một chủ trương đúng đắn và nhất quán của Đảng ta dựa trên cơ sỏ khoa học, phù hợpvới quy luật kinh tế khách quan, là sự vận dụng một cách sáng tác chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng HồChí Minh vào điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước Chủ trương đó của Đảng và Nhà nước ta được đại đa

số nhân dân đồng tiền ủng hộ

Như chúng ta đã biết, lý luận của chủ nghĩa Mác chỉ nhấn mạnh việc xoá bỏ chế độ tư hữu, chứ khôngphải xóa bỏ mọi hình thức sở hữu thực tế của mỗi cá nhân trong xã hội Trong xã hội có giai cấp, ý thức

về quyền sở hữu là thuộc tính của mỗi con người, con người chỉ cảm thấy thực sự có động cơ khi họ hoạtđộng “cho mình”, tức là vì lợi ích, trước hết là lợi ích kinh tế của chính bản thân, sau đó mới vì các mụcđích khác Do đó, quyền sở hữu được coi là một trong những quyền tự nhiên của con người trong xã hội

có giai cấp

Đường lối đổi mới của Đảng ta bắt đầu từ Đại hội VI và được hoàn thiện đần qua các kỳ Đại hội tiếp theo

Về kinh tế, tại Đại hội IX, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định “chủ trương thực hiện nhất quán và lâudài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sựquản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đó chính là nền kinh tế thị trường đinh hướng xãhội chủ nghĩa” (1) Trong quá trình đổi mới đó, nhận thức của Đảng về vị trí, vai trò của các thành phần

kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân đã có sự thay đổi căn bản so với trước đây Thực tế cho thấy, kinh tế tưnhân ngày càng chứng tỏ vai trò của nó, trở thành một đối chứng hiện thực năng động để các khu vực kinh

tế khác phấn đấu vươn lên, tự đổi mới, tự hoàn thiện và nâng cao hiệu quả trong nền kinh tế thị trường.Kinh tế tư nhân được coi là một trong những bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân,được đối xử và hoạt động bình đẳng như các khu vực kinh tế khác

Sự phát triển của kinh tế tư nhân đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế

xã hội, như huy động được nhiều nguồn vốn đầu tư với số lượng lớn vào sản xuất kinh doanh, góp phầnnâng cao sức sản xuất của xã hội, tạo thêm nhiều việc làm mới vừa làm tăng của cải vật chất cho xã hội,vừa làm giảm áp lực giải quyết việc làm cho người lao động, thúc đẩy sự hình thành và phát triển các loạithị trường, làm tăng sức cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong nước, tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng giữacác thành phần kinh tế trong hoạt động sản xuất và kinh doanh, vừa góp phần tạo nên tốc độ tăng trưởngkinh tế cao, vừa tham gia giải quyết nhiều vấn đề xã hội…

Vai trò của kinh tế tư nhân: Kinh tế tư nhân là “chỗ dựa thiết yếu”, “có vai trò quan trọng, là một trong

những động lực của nền kinh tế” Sở dĩ kinh tế tư nhân có vai trò như vậy là vì những lý do sau đây:

Trang 3

Thứ nhất, kinh tế tư nhân tạo ra một khối lượng của cải vật chất to lớn, đóng góp đáng kể vào giá trị thu

nhập của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Cũng cần nói thêm rằng, hiện nay, không một quốc gia nào trênthế giới lại coi nhẹ vai trò, vị trí của kinh tế tư nhân

Thứ hai, trong nền kinh tế thị trường hiện đại, ở các nước có nền kinh tế phát triển cao và hiệu quả, tỷ lệ

đóng góp vào tổng sản phẩm quốc dân của khu vực kinh tế tư nhân bao giờ cũng cao hơn khu vực kinh tếNhà nước

Thứ ba, kinh tế tư nhân tạo ra động lực phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng lớn vào ngân sách Nhà

nước, tham gia tích cực và hiệu quả trong việc thực hiện các mục tiêu xã hội

Thứ tư, ở Việt Nam, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kinh tế tư nhân đã và đang từng bước

khẳng định vị trí “chỗ dựa thiết yếu” của nó theo đúng quy luật của nền kinh tế thị trường Nó đã thực sựtrở thành một bộ phận của kinh tế dân doanh, thể hiện định hướng phát triển theo nguyên tắc “lấy dân làmgốc” với mục tiêu thực hiện dân giàu, nước mạnh Kinh tế tư nhân đang có cơ hội phát triển mạnh cả về

bề rộng lẫn chiều sâu, cả về quy mô số lượng lẫn chất lượng

Thứ năm, phát triển kinh tế tư nhân là một tất yếu xuất phát từ quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản

xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, có tác đụng thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Nếuchúng ta chỉ coi kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể là nền tảng mà không đặt kinh tế tư nhân vào đúng vịtrí của nó, thì về thực chất, chúng ta vẫn coi sở hữu là mục đích của mọi chính sách Chúng ta không thể

để quan hệ sản xuất vượt quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất như trước đây, cũng nhưkhông thể “ép” kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể phải có tiềm lực lớn hơn kinh tế tư nhân trong nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong khi chúng chưa đủ khả năng làm điều đó một cáchhiệu quả

Hạn chế của kinh tế tư nhân: Chúng ta không thể phủ định những mặt tích cực của kinh tế tư nhân đối

với sự phát triển nền kinh tế – xã hội của nước ta trong những năm qua Tuy nhiên, cũng phải thấy đượcnhững hạn chế nhất định trong quá trình phát triển của kinh tế tư nhân, như tính chất tự phát, tình trạng vôChính phủ trong sản xuất kinh doanh, tình trạng không chấp hành nghiêm luật pháp… Vì vậy, cần phảiđánh giá một cách khách quan, công bằng sự phát triển của kinh tế tư nhân, chống khuynh hướng đề caoquá mức dẫn đến tuyệt đối hoá vai trò của kinh tế tư nhân

* Vai trò của kinh tế Nhà nước:

Kinh tế Nhà nước dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất

Kinh tế Nhà nước phát huy vai trò chủ đạo trong nên kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và làcông cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nên kinh tế

Kinh tế Nhà nước nắm giữ các vị trí, lĩnh vực then chốt trong nền kinh tế,vì vậy nó chi phối hoạtđộng của các thành phần kinh tế khác và toàn bộ nền kinh tế

Kinh tế Nhà nước có nhiệm vụ rất quan trọng trong việc cung cấp sản phẩm công cộng cho nền kinh tếnhư: đường sá, sân bay, bến cảng, điện, nước…đây là sản phẩm thiết yếu cho sự phát triển 1 nền kinh tế Kinh tế Nhà nước là công cụ vĩ mô điều tiết nền kinh tế thị trường, không chỉ vậy còn có tác dụng

mở đường cho các thành phần kinh tế khác phát triển

Kinh tế Nhà nước tạo nền tảng cho việc xây dựng chế độ xã hội mới-chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.Phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một xu thế kháchquan Tuy nhiên, để đưa kinh tế tư nhân phát triển đúng quỹ đạo, đúng định hướng xã hội chủ nghĩa lại làmột nhiệm vụ hết sức phức tạp, lâu đài và khó khăn Kinh tế tư nhân chỉ có thể phát triển đúng định hướng

xã hội chủ nghĩa khi Đảng và Nhà nước có chính sách và biện pháp quản lý phù hợp, không làm mất độnglực phát triển của nó, nhưng cũng không để cho nó vận động một cách tự phát, ngoài vòng pháp luật Nếukhông đảm bảo sự phát triển hài hòa, cân đối giữa các thành phần kinh tế có thể dẫn đến những hệ quả vềchính trị và xã hội khó lường

Để nền kinh tế nhiều thành phần, nhất là kinh tế tư nhân phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhànước không những phải vận dụng các công cụ kinh tế, pháp luật để quản lý, mà còn phải có thực lực kinh

tế Vì, nếu kinh tế nhà nước không có thực lực, không phát triển mạnh mẽ, thì sẽ rất khó khăn trong việc

Trang 4

phát huy vai trò chủ đạo và thực hiện chức năng định hướng xã hội chủ nghĩa ở đây, vai trò quản lý vàđiều hành của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là đặc biệt quan trọng, là một điều kiện tiên quyết trong địnhhướng sự phát triển của kinh tế tư nhân Kinh tế Nhà nước, như Đảng ta khẳng định, không chỉ giữ vai tròchủ đạo, mà còn “là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạomôi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển” (3).

Như vậy, chúng ta chủ trương khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, đồng thời cũng phải đảm bảo thựchiện định hướng xã hội chủ nghĩa của kinh tế tư nhân Đây là vấn đề khá mới mẻ, cho nên chúng ta cầntiếp tục nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, đổi mới tư duy về phát triển kinh tế tư nhân trong thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội Trước hết, chúng ta cần phải tập trung nghiên cứu sâu sắc và đầy đủ về mặt lý luậnviệc phát triển kinh tế tư nhân trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay dựa trên cơ sởkhái quát, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn phát triển kinh tế tư nhân trong 20 năm đổi mới để có địnhhướng và chính sách phát triển đúng đắn, phù hợp Đồng thời, cần phải xây dựng và hoàn thiện các cơchế, chính sách, hệ thống pháp luật nhằm đảm bảo đầy đủ hành lang pháp lý, tạo điều kiện cho kinh tế tưnhân phát triển, nâng cao và tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước kết hợp với việc phát huy tất hơnnữa vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội khác trong hệ thống chính trị đối với sự phát triển theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa của kinh tế tư nhân Không ngừng đổi mới mạnh mẽ kinh tế Nhà nước để pháthuy vai trò chủ đạo và định hướng của nó trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Quan điểm: “Chủ trương phát triển kinh tế tư nhân là từ bỏ con đường CNXH” là sai vì:

- “Cuộc cách mạng của giai cấp vô sản sẽ chỉ có thể cải tạo xã hội hiện nay một cách dần dần vàchỉ khi nào đã tạo nên một khối lượng TLSX cần thiết cho việc cải tạo đó thì khi ấy mới thủ tiêu được chế

độ tư hữu” (Ph Ăngghen)

- Trong thời kỳ quá độ hiện nay ở nước ta vẫn phải phát huy tiềm năng và nội lực của kinh tế tưnhân vì kinh tế tư nhân vẫn còn nhiều tác dụng với sự phát triển của LLSX, tạo ra việc làm, giải quyết mộtphần nạn thất nghiệp, thúc đẩy quá trình CNH-HĐH…

- Thành phần kinh tế tư nhân luôn chịu sự quản lý chặt chẽ của nhà nước…

- Chế độ sở hữu nhà nước ở nước ta không đồng nhất với CNXH Đặc trưng của CNXH là khôngxoá bỏ chế độ sở hữu nói chung mà là là xoá bỏ chế độ sở hữu tư bản Chủ nghĩa cộng sản không tước bỏcủa ai cái quyền chiếm hữu những sản phẩm của xã hội Chế độ công hữu có nhiều hình thức thực hiện màchế độ sở hữu nhà nước chỉ là một hình thức trong số đó Đường lối của Đảng ta là thực hiện chế độ cônghữu về TLSX chủ yếu chứ không phải là mọi TLSX…

- Trong nền KTTT định hướng XHCN, quyền sở hữu của các chủ doanh nghiệp tư nhân cũngkhông được trọn vẹn, nó không được tự do hoạt động tuỳ ý mà bị hạn chế và chi phối bởi các quan hệ sởhữu khác… Hơn nữa, quyền lực chính trị của các chủ doanh nghiệp tư nhân cũng không có khả năng chiphối đời sống kinh tế xã hội Chỉ có Nhà nước mới có quyền nắm trong tay quyền lực pháp lý quyết địnhvấn đề điều tiết nền kinh tế - xã hội

- Trong thời kỳ quá độ, chấp nhận thành phần kinh tế tư nhân là chấp nhận còn có bóc lột Nhưng,với những chính sách và pháp luật hợp lý, quan hệ bóc lột đã bị biến dạng, bị hạn chế đến mức có thể chấpnhận được

- Cuối cùng, chấp nhận thành phần kinh tế tư nhân nhưng không chấp nhận kinh tế tư nhân là chủ đạocủa nền kinh tế quốc dân mà kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể trở thành nền tảngvững chắc của nền kinh tế quốc dân Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể chi phối kinh tế tư nhân

* Xu hướng và khả năng phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

- Đến một thời ký nhất định, kinh tế tư nhân xét thấy QHSX của chính mình không còn tác dụng

mở đườngcho LLSX phát triển lớn mạnh hơn nữa thì kinh tế tư nhân sẽ tìm con đường hợp tác, liên doanhvới kinh tế nhà nước…

- Khi mối quan hệ không thể tiếp tục tạo địa bàn cho LLSX phát triển thì chúng sẽ liên lết thànhcác tổ chức kinh tế hỗn hợp, hoặc hình thành những tập đoàn kinh tế

Trang 5

Như vậy, trong thời kỳ quá độ, xuất phát từ điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể của nước ta thì pháttriển kinh tế tư nhân là không từ bỏ con đường CNXH Đó là vấn đề tất yếu khách quan.

Câu 2 Khái niệm hàng hóa

1 Hàng hóa: Hàng hoá là một sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con

người và đi vào tiêu dùng thông qua trao đổi (mua - bán)

Vì vậy, không phải bất kỳ sản phẩm nào cũng là hàng hóa Những vật phẩm đi vào tiêu dùng khôngthông qua trao đổi (mua - bán) thì không phải là hàng hóa Chẳng hạn, thóc của người nông dân sản xuất đểtiêu dùng cho bản thân họ thì không phải là hàng hóa Nhưng nếu thóc đó được đem bán thì nó là hàng hóa

Hàng hoá có thể ở dạng hữu hình như lương thực, thực phẩm, sắt thép,…hoặc ở dạng vô hình nhưnhững dịch vụ vận tải, thương mại…

2 Hàng hóa có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị

a Giá trị sử dụng: Giá trị sử dụng của vật phẩm là công dụng của nó, có thể thỏa mãn nhu cầu nào

đó của con người như gạo để ăn, vải để may mặc, nhà để ở

Giá trị sử dụng của vật phẩm do thuộc tính tự nhiên của vật phẩm quy định Xã hội loài người càngphát triển, càng phát hiện ra được nhiều thuộc tính tự nhiên có ích của vật phẩm và lợi dụng những thuộctính tự nhiên đó để tạo ra nhiều loại giá trị sử dụng khác nhau Chẳng hạn, than đá từ xa xưa chỉ đượcdùng làm nhiên liệu (đốt nóng), đến nay còn là nguyên liệu của nhiều sản phẩm với giá trị sử dụng cao

Do đó, giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn

Trong kinh tế hàng hóa, giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi

b Giá trị: Muốn hiểu giá trị của hàng hóa phải nghiên cứu từ giá trị trao đổi của nó Giá trị trao

đổi biểu hiện mối quan hệ trao đổi hàng hóa trên thị trường Đó là mối quan hệ tỷ lệ về lượng giữa nhữnghàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau đem trao đổi với nhau

Thí dụ: 1m vải trao đổi với 5kg thóc

Sở dĩ vải và thóc là hai hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau có thể trao đổi được với nhau theomột tỷ lệ nhất định, vì vải và thóc đều là sản phẩm của lao động, có cơ sở chung là sự hao phí lao độngcủa con người Sự hao phí lao động đó chính là giá trị của hàng hóa

Vậy, giá trị hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa đó

Do đó, giá trị là cơ sở của giá trị trao đổi; còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị.Giá trị phản ảnh mối quan hệ xã hội giữa những người sản xuất hàng hóa Do đó, giá trị là mộtphạm trù lịch sử, chỉ tồn tại trong kinh tế hàng hóa

c Lượng giá trị của hàng hóa: Nếu giá trị là lao động xã hội của những người sản xuất hàng hóa

kết tinh trong hàng hóa thì lượng giá trị chính là lượng lao động xã hội hao phí để sản xuất ra hàng hóa

Trong sản xuất hàng hóa, hao phí lao động cá biệt tạo thành giá trị cá biệt của hàng hóa Trên thịtrường, không thể dựa vào giá trị cá biệt để trao đổi mà phải dựa vào giá trị xã hội của hàng hóa

Giá trị xã hội của hàng hóa được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết (tất yếu) để sản xuấtmột loại hàng hóa nào đó Đó là thời gian cần thiết để sản xuất hàng hóa trong điều kiện sản xuất trungbình của xã hội với trình độ kỹ thuật trung bình, trình độ thành thạo trung bình, cường độ lao động trungbình Thông thường thời gian lao động xã hội cần thiết của một loại hàng hóa nào đó gần sát với thời gianlao động cá biệt của người sản xuất đại bộ phận hàng hóa đó trên thị trường

Giá trị hàng hóa thay đổi phụ thuộc vào năng suất lao động Năng suất lao động là hiệu suất của

lao động được đo bằng số lượng sản phẩm tạo ra trong một đơn vị thời gian, hoặc lượng thời gian lao độnghao phí để tạo ra một đơn vị sản phẩm Năng suất lao động phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật của người laođộng, mức trang bị kỹ thuật của lao động, phương pháp tổ chức, quản lý và các iều kiện tự nhiên

Tăng năng suất lao động thể hiện ở chỗ: hao phí lao động không tăng, nhưng số lượng sản phẩmlàm ra trong một đơn vị thời gian ăng lên, do đó giá trị của một dợn vị hàng hóa giảm xuống Điều ó cónghĩa: giá trị của hàng hóa biến đổi tỷ lệ nghịch với năng suất lao động

Cần phân biệt tăng năng suất lao động với tăng cường độ lao động Cường độ lao động là mức độhao phí lao động trong một đơn vị thời gian Tăng cường độ lao động sẽ làm tăng thêm mức hao phí lao

Trang 6

động, và do đó, làm tăng số lượng sản phẩm một cách tương ứng, vì vậy giá trị một đơn vị hàng hóakhông thay đổi.

Lao động của người sản xuất hàng hóa có trình độ thành thạo khác nhau Nó được chia thành hailoại: lao động giản đơn là lao động không cần rèn luyện, đào tạo và lao động phức tạp phải qua quá trìnhhọc tập rèn luyện Trong cùng một đơn vị thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao độnggiản đơn

Trong quá trình trao đổi hàng hóa, mọi lao động phức tạp đều được quy thành bội số của lao độnggiản đơn trung bình một cách tự phát trên thị trường

3 Ưu thế sản xuất hàng hóa: Trong lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội, có hai hình thức

sản xuất rõ rệt là: sản xuất tự cấp tự túc và sản xuất hàng hóa

Sản xuất tự cấp, tự túc là sản xuất sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu của người sản xuất trong nội bộđơn vị kinh tế Còn sản xuất hàng hóa là sản xuất ra sản phẩm để bán, các quan hệ kinh tế giữa nhữngngười sản xuất biểu hiện qua việc mua bán sản phẩm của nhau trên thị trường

Sản xuất hàng hóa đã ra đời trong hai điều kiện lịch sử:

+ Có sự phân công lao động xã hội:

Phân công lao động xã hội là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất, biểu hiện ở sự chuyênmôn hóa sản xuất Do phân công lao động xã hội, mỗi người hoặc mỗi nhóm người chỉ sản xuất một hoặcmột số sản phẩm nhất định Mỗi người (hoặc mỗi nhóm người) đều thừa sản phẩm do mình sản xuất ranhưng lại thiếu các loại sản phẩm khác Do đó, việc trao đổi sản phẩm trở thành tất yếu và có lợi đối vớimọi người sản xuất

+ Có chế độ tư hữu Điều đó làm cho những người sản xuất độc lập với nhau; họ sản xuất dựa trên

cơ sở tư liệu sản xuất của họ và sản phẩm lao động thuộc quyền chi phối của họ

Chế độ tư hữu làm cho những người sản xuất độc lập với nhau, còn phân công lao động xã hội lạilàm cho họ phụ thuộc vào nhau Sản xuất hàng hóa ra đời chính là để giải quyết mâu thuẫn này

Những hình thức đầu tiên của sản xuất hàng hóa xuất hiện từ thời kỳ tan rã của chế độ công xãnguyên thủy, tồn tại và phát triển ở các phương thức sản xuất tiếp theo

Sản xuất hàng hóa phát triển cao nhất, phổ biến nhất trong chủ nghĩa tư bản và trở thành hình thứcsản xuất hàng hóa điển hình, nổi bật trong lịch sử

Sản xuất hàng hóa tiếp tục tồn tại và phát triển dưới chủ nghĩa xã hội vì dưới chủ nghĩa xã hội còntồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau và trình độ phân công lao động xã hội ngày càng phát triển Nhưvậy, sản xuất hàng hóa xuất hiện rồi tồn tại và phát triển ở nhiều xã hội, là sản phẩm của lịch sử phát triểnsản xuất của loài người Nó có nhiều ưu thế, tiến bộ so với sản xuất tự cấp tự túc mà cho tới nay chưa cóhình thức sản xuất xã hội nào có ưu thế hơn nó Tuy nhiên, ở các xã hội khác nhau, sản xuất hàng hóa cóvai trò và giới hạn khác nhau

Song, nhìn chung, so với sản xuất tự cấp tự túc, sản xuất hàng hóa có nhiều ưu việt đặc biệt:

- Sản xuất hàng hoá ra đời trên cơ sở của phân công lao động xã hội, chuyên môn hoá sản xuất, nókhai thác được những lợi thề về tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người, từng cơ sở cũng như từng vùng,từng địa phương

- Thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, hợp lý hóa sảnxuất, tiết kiệm, tăng năng suất lao động

- Sự tác động của những quy luật vốn có của sản xuất và trao đổi hàng hoá như quy luật giá trị,cung - cầu, cạnh tranh… buộc người sản xuất phải luôn năng động, nhạy bén, tính toán, cải tiến kỹ thuật,hợp lý hoá sản xuất, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế

- Sản xuất hàng hoá phát triển làm cho đời sống văn hoá, tinh thần cũng được nâng cao

- Làm cho sản xuất gắn liền với tiêu dùng, sản phẩm thường xuyên được cải tiến chất lượng, hìnhthức phù hợp với nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng

- Thúc đẩy nhanh chóng quá trình xã hội hóa sản xuất, tích tụ và tập trung sản xuất, mở rộng sựgiao lưu thị trường trong nước và quốc tế

Trang 7

- Là cơ sở thúc đẩy quá trình dân chủ hóa, bình đẳng, tiến bộ xã hội, phá vỡ tính bảo thủ, trì trệ,phường hội của kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc v.v

Tuy nhiên, sản xuất hàng hóa có mặt trái của nó như việc làm phân hóa người sản xuất thành giàunghèo và nhiều hiện tượng tiêu cực như làm hàng giả, lừa lọc Trong điều kiện của nước ta, một mặt phảiđẩy mạnh nền sản xuất hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường phù hợp với các quyluật của sản xuất hàng hóa; mặt khác, phải có sự quản lý của Nhà nước để bảo đảm sự định hướng xã hộichủ nghĩa và hạn chế những tiêu cực do cơ chế thị trường sinh ra, thực hiện sự kết hợp hiệu quả kinh tếvới tiến bộ và công bằng xã hội

4 Quy luật giá trị hàng hóa: Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hóa vì

nó quy định bản chất của sản xuất hàng hóa, là cơ sở của tất cả các quy luật khác của sản xuất hàng hóa

Nội dung của quy luật giá trị: Sản xuất và trao đổi hàng hóa dựa trên cơ sở giá trị của nó, tức là dựa trên hao phí lao động xã hội cần thiết

Trong sản xuất, tác động của quy luật giá trị buộc người sản xuất phải làm sao cho mức hao phí laođộng cá biệt của mình phù hợp với mức hao phí lao động xã hội cần thiết có như vậy họ mới có thể tồn tạiđược; còn trong trao đổi, hay lưu thông, phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá: Hai hàng hóa được traođổi với nhau khi cùng kết tinh một lượng lao động như nhau hoặc trao đổi, mua bán hàng hoá phải thựchiện với giá cả bằng giá trị

Cơ chế tác động của quy luật giá trị thể hiện cả trong trường hợp giá cả bằng giá trị, cả trongtrường hợp giá cả lên xuống xung quanh giá trị ở đây, giá trị như cái trục của giá cả

Tác động của quy luật giá trị:

Trong nền sản xuất hàng hóa, quy luật giá trị có ba tác động sau:

- Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa.

Quy luật giá trị điều tiết sản xuất hàng hóa được thể hiện trong hai trường hợp sau:

+ Thứ nhất, nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả cao hơn giá trị, hàng hóa bán chạy và lãi cao,những người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư thêm tư liệu sản xuất và sức lao động Mặtkhác, những người sản xuất hàng hóa khác cũng có thể chuyển sang sản xuất mặt hàng này, do đó, tư liệusản xuất và sức lao động ở ngành này tăng lên, quy mô sản xuất càng được mở rộng

+ Thứ hai, nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả thấp hơn giá trị, sẽ bị lỗ vốn Tình hình đó buộcngười sản xuất phải thu hẹp việc sản xuất mặt hàng này hoặc chuyển sang sản xuất mặt hàng khác, làmcho tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này giảm đi, ở ngành khác lại có thể tăng lên

Còn nếu như mặt hàng nào đó giá cả bằng giá trị thì người sản xuất có thể tiếp tục sản xuất mặthàng này

Như vậy, quy luật giá trị đã tự động điều tiết tỷ lệ phân chia tư liệu sản xuất và sức lao động vàocác ngành sản xuất khác nhau, đáp ứng nhu cầu của xã hội

Tác động điều tiết lưu thông hàng hóa của quy luật giá trị thể hiện ở chỗ nó thu hút hàng hóa từ nơi cógiá cả thấp hơn đến nơi có giá cả cao hơn, và do đó, góp phần làm cho hàng hóa giữa các vùng có sự cân bằngnhất định

- Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm

Các hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện khác nhau, do đó, có mức hao phí lao động

cá biệt khác nhau, nhưng trên thị trường thì các hàng hóa đều phải được trao đổitheo mức hao phí laođộng xã hội cần thiết

- Phân hóa những người sản xuất hàng hóa thành giàu, nghèo Những người sản xuất hàng hóa

nào có mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, khi bán hàng hóatheomức hao phí lao động xã hội cần thiết (theo giá trị) sẽ thu được nhiều lãi, giàu lên, có thể mua sắm thêm tưliệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh, thậm chí thuê lao động trở thành ông chủ

Trang 8

Ngược lại, những người sản xuất hàng hóa nào có mức hao phí lao động cá biệt lớn hơn mức haophí lao động xã hội cần thiết, khi bán hàng hóa sẽ rơi vào tình trạng thua lỗ, nghèo đi, thậm chí có thể phásản, trở thành lao động làm thuê

Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân làm xuất hiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa,

cơ sở ra đời của chủ nghĩa tư bản

Như vậy, quy luật giá trị vừa có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực Do đó, đồng thời vớiviệc thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, nhà nước cần có những biện pháp để phát huy mặt tích cực,hạn chế mặt tiêu cực của nó, đặc biệt trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phầntheo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

Vận dụng quy luật này vào phát triển kinh tế nước ta…

Trong thời kỳ quá độ, quy luật giá trị vận động phản ánh được nội dung kinh tế-xã hội mới nhiềuhay ít là tùy thuộc vào vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước và sự vận động của quy luật giá trịthông qua chính sách đòn bẩy và kinh tế Trong SX và lưu thông hàng hóa không chỉ quy luật giá trị tácđộng một cách tự phát, đồng thời cũng có đủ khả năng bảo đảm cho sản xuất và lưu thông hàng hóa tiếnhành theo định hướng của nhà nước Nhà nước phải căn cứ vào nội dung yêu cầu của quy luật giá trị để cóthể bố trí thích ứng giữa TLSX và SLĐ, bảo đảm cho cơ cấu sản xuất đáp ứng đúng cơ cấu tiêu dùng của

xã hội Trong SX hàng hóa Nhà nước cùng với cơ sở kinh doanh phải có cách xác định mức vật tư, laođộng kỹ thuật chặt chẽ, để buộc các đơn vị phải phấn đấu đúng chi phí cho phép, khi xét khả năng SXkhông đáp ứng một tổng khối lượng của một loại hàng hóa nào đó, Nhà nước phải chủ động tính đến tăngchi phí để nâng cao chất lượng hàng hóa hoặc bố trí lao động, vật tư và việc tăng số lượng mặt hàng có thểthay thế loại hàng hóa đó Nhà nước còn phải luôn luôn theo dõi sự biến đổi thực của giá trị XH của cácloại hàng hóa để có sự điều chỉnh kịp thời các cân đối nhất định trong nền kinh tế

Trong lưu thông, Nhà nước phải dựa vào yêu cầu của thị trường, xem thị trường là một trongnhững căn cứ quan trọng để xác định cơ cấu tiêu dùng và cơ cấu sản xuất Song nếu tính khả năng SXthấy không đáp ứng được nhu cầu nào đó của thị trường nhà nước cần có biện pháp điều tiết nhu cầu đó

Dù sao Nhà nước cũng có thể dự tính gần đúng cung cầu chứ không thể xác định chính xác Hơn nữa cungcầu lại luôn luôn biến động, do đó phải luôn luôn theo dõi hoạt động thị trường để phát hiện kịp thời sựmất cân đối giữa cung và cầu để tiến hành điều chỉnh kịp thời khối lượng các chủng loại hàng hóa lưuthông Trong lưu thông quy luật giá trị còn được vận dụng để xác định chi phí lưu thông thấp nhất nhưviệc đóng gói, bao bì, xây dựng kho bãi bảo quản hàng hóa và sử dụng phương tiện vận chuyển

Tính tự phát, vô tổ chức trong SX và lưu thông hàng hóa ở thành phần kinh tế tư nhân, cá thể cònmạnh Để hạn chế tự phát, Nhà nước cần có chính sách đòn bẩy kinh tế thích đáng để hướng dần quỹ đạophương hướng chiến lược chung Nhà nước cần có lực lượng dự trữ hàng hóa và tiền tệ để khi cần thiếttung hàng ra hoặc mua hàng vào để tiết chế sự biến động của cung cầu giá cả

Đối với tác động kích thích cải tiến kỹ thuật, cải tiến tổ chức quản lý, tăng năng suất lao động, quyluật giá trị vẫn giữ được nguyên tác động của nó ở mọi thành phần kinh tế Do đó cần vận dụng nhiều biệnpháp kinh tế - kỹ thuật, nhằm nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm

Trong SX hàng hóa tất yếu diễn ra sự cạnh tranh trong nội bộ từng ngành, giữ các ngành và cạnhtranh giữa hàng nội và hàng ngoại Do đó những xí nghiệp nào làm ăn tốt thì sẽ có thu nhập cao, đơn vịnào làm ăn kém thì phải nhận thu nhập thấp, thậm chí bị thua lỗ, phá sản Nhà nước cần có cơ chế chínhsách và pháp luật bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, đồng thời cóchính sách hỗ trợ về vốn, kỹ thuật và giá cả đối với những người SX hàng hóa nhỏ đang gặp khó khăn

Chế độ ta là chế độ công hữu về TLSX, Nhà nước chủ động nhận thức nắm bắt quy luật giá trị mộtcách đúng đắn, dựa vào quy luật giá trị tạo ra nhiều giá trị thặng dư phục vụ trong công cuộc quốc tế dânsinh, chủ động đầu tư vào các ngành cần mở rộng sản xuất, còn các ngành không cần thiết thì thu hẹp lại

Dựa vào quy luật giá trị Nhà nước chủ động đưa ra chính sách đòn bẩy kinh tế Quy hoạch từngvùng, phát triển một số ngành trọng điểm, nhằm tạo ra cho nền kinh tế có sức tăng trưởng nhanh, tạo

Trang 9

nhiều nguồn vốn để tái sản xuất, cải cách tiền lương, từ quy luật giá trị căn cứ vào đó để có chính sáchthuế đúng đắn cho từng ngành nghề, nhằm kích thích sản xuất có hiệu quả.

Từ quy luật giá trị Nhà nước chủ động kinh doanh một số ngành nghề trọng điểm có tính chất chiếnlược để đem lại lợi nhuận nhiều cho nền kinh tế quốc dân, từ đó có những chính sách xã hội đúng đắnnhằm thực hiện tính ưu việt của CNXH./

Câu 3 Tính tất yếu phát triển nhiều thành phần kinh tế nước ta, các giải pháp phát tiển các thành phần kinh tế.

I Tính tất yếu khách quan của sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế ở nước ta

- Thành phần kinh tế là khu vực kinh tế, kiểu quan hệ kinh tế dựa trên một hình thức sở hữu nhấtđịnh về tư liệu sản xuất

- Các thành phần kinh tế không tồn tại biệt lập, mà có liên hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau tạo thành

cơ cấu kinh tế thống nhất bao gồm nhiều thành phần kinh tế

- Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tổng thể các thànhphần kinh tế cùng tồn tại trong môi trường hợp tác và cạnh tranh

- Trong mỗi thành phần kinh tế, tồn tại các hình thức tổ chức kinh tế với qui mô và trình độ côngnghệ nhất định, chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế, cơ chế quản lí kinh tế nhất định Các thành phầnkinh tế được thể hiện ở các hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng, đan xen, hỗn hợp

- Quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

là qui luật chung cho mọi phương thức sản xuất Trong nền kinh tế chưa thật sự phát triển cao, lực lượngsản xuất luôn tồn tại ở nhiều trình độ khác nhau, tương ứng với mỗi trình độ của lực lượng sản xuất sẽ cómột kiểuquan hệ sản xuất do đó, cơ cấu nền kinh tế, xét về phương diện kinh tế -xã hội, phải là cơ cấukinh tế nhiều thành phần

- Trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hôi ở nước ta lực lượng sản xuất tồn tại ở nhiều thang bậckhác nhau, do đó chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất sẽ có nhiều hình thức, tức là nền kinh tế sẽ có nhiềuthành phần các thành phần kinh tế không tồn tại biệt lập với nhau mà có quan hệ hữu cơ với nhau tạothành cơ cấu kinh tế

- Sự tồn tại cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kì quá độ lên CNXH ở nước ta đó là tất yếukhách quan, ngoài những lý do trên còn có những lí do khác:

+ Một số thành phần kinh tế do xã hội cũ để lại: các thành phần kinh tế này vẫn có vai trò quantrọng để phát triển kinh tế, có lợi cho đất nước trong việc giải quyết việc làm, tăng sản phẩm, huy độngcác nguồn vốn ví dụ như thành phần kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân)

+ Một số thành phần kinh tế mới hình thành trong quá trình cải tạo và xây dựng quan hệ sản xuấtmới như: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản Nhà nước Các thành phần kinh tế cũ và cácthành phần kinh tế mới tồn tại khác quan, có quan hệ với nhau cấu thành cơ cấu kinh tế, trong thời kỳ quá

độ lên CNXH ở nước ta

+ Sự tồn tại nền nhiều thành phần kinh tế là một hiện tượng khách quan cho nên chúng đều có tácdụng tích cực đối với sự phát triển của LLSX Những thành phần kinh tế đặc trưng cho PTSX cũ chỉ mất

đi khi không còn tác dụng đối với sự phát triển LLSX

+ Nước ta có lượng lao động dồi dào cần cù, thông minh song số người chưa có việc làm cònnhiều, vừa lãng phí sức lao động, vừa gây ra những khó khăn lớn về kinh tế xã hội Trong khi khả năngthu hút lao động của khu vực kinh tế nhà nước không nhiều thì việc khai thác, tận dụng tiềm năng của cácthành phần kinh tế khác là một giải pháp quan trọng để tạo công ăn việc làm cho người lao động

Trang 10

- Các thành phần kinh tế không tồn tại biệt lập mà có liên hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhautạo thành cơ cấu kinh tế thống nhất bao gồm nhiều thành phần kinh tế Chúng cùng tồn tại và phát triểnnhư một tổng thể, giữa chúng có quan hệ vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau.

- Có những thành phần kinh tế do lịch sử để lại và còn có lợi cho sự phát triển kinh tế, như kinh tế

tư bản tư nhân, kinh tế cá thể

- Do chính sách cải tạo xã hội cũ, nảy sinh những thành phần kinh tế mới, như chủ nghĩa tư bản nhànước, các loại hình hợp tác xã

- Do yêu cầu xây dựng xã hội mới, hình thành các thành phần kinh tế mới như kinh tế quốc doanh

Sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế khắc phục được tình trạng độc quyền, tạo ra sự cạnh tranh; đó là động

cơ thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển Mặt khác, chỉ riêng kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thểchưa có đủ khả năng thay thế các thành phần kinh tế khác để phát triển nền kinh tế có hiệu quả, làm ranhiều sản phẩm nhất cho xã hội Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần là đặc trưng cơ bản của nền kinh

tế quá độ vừa là tất yếu, cần thiết, vừa là phương tiện đế đạt mục đích của nền sản xuất xã hội Nó vừa tạo

cơ sở làm chủ về kinh tế, vừa bảo đảm kết hợp hài hòa hệ thống lợi ích kinh tế Đó chính là động lực của

sự phát triển Việc mở đường cho các thành phần kinh tế khác phát triển là sự cởi trói sức sản xuất, khaithác được mọi tiềm năng, kích thích được mọi nguồn nhân tài, vật lực, chất xám góp phần phát triển sảnxuất, tạo nhiều của cải cho xã hội, giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu lao động trong lúc Nhà nướcchưa có đủ điều kiện thu hút mọi lực lượng lao động xã hội Việc sử dụng cơ cấu kinh tế nhiều thành phầnkhông những giải phóng sức sản xuất, khai thác mọi khả năng phát triển lực lượng sản xuất trong nước,

mà còn tận dụng sức mạnh kinh tế quốc tế, tranh thủ sự đầu tư, hợp tác quốc tế, khắc phục tình trạng biệtlập của nền kinh tế nước ta với nền kinh tế thế giới, vừa giải quyết công ăn việc làm, mở rộng ngành nghềtrong nước, khai thác tốt mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn có hiệu quả, tận dụng thế mạnh của đất nước

Cuối cùng, sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần vừa là chiến lược kinh tế lâu dài, vừa là cơ sởthực hiện chiến lược xã hội: xóa dần mặc cảm ngoài biên chế nhà nước, giải quyết nạn thất nghiệp, sựluyến tiếc với cơ chế bao cấp, "hiện vật hóa" trao đổi

Nguyên nhân cơ bản của sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH,suy cho cùng là do quy luật QHSX phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX quy định.Thời kỳ quá độ ở nước ta do trình độ LLSX còn thấp, lại phân bố không đều giữa các ngành, vùng, nên tấtyếu còn tồn tại nhiều loại hình, hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế

* Vai trò của sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần:

+ Sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần không chỉ là tất yếu khách quan, mà còn là động lực thúcđẩy, kích thích sự phát triển LLSX xã hội Bởi vì:

+ Một là: Sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế, tức là tồn tại nhiều hình thức tổ chức kinh tế, nhiềuphương thức quản lý phù hợp với trình độ khác nhau của LLSX Vì vậy nó có tác dụng thúc đẩy tăng năngsuất lao động, tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả kinh tế trong các thành phần kinh tế và trong toàn bộnền kinh tế quốc dân

+ Hai là: Nền kinh tế nhiều thành phần làm phong phú và đa dạng các chủ thể kinh tế, từ đó thúcđẩy phát triển kinh tế hàng hoá, tạo tiền đề để đẩy mạnh cạnh tranh, khắc phục tình trạng độc quyền Điều

đó góp phần vào việc nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta trong quá trình hộinhập kinh tế quốc tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, cải thiện và nâng cao đời sống củanhân dân…

+ Ba là: Tạo điều kiện thực hiện và mở rộng các hình thức kinh tế quá độ, trong đó có hình thứckinh tế tư bản nhà nước Đó là những "cầu nối", " trạm trung gian" cần thiết để đưa nước ta từ sản xuấtnhỏ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN

Trang 11

+ Bốn là: Phát triển mạnh các thành phần kinh tế và cùng với nó là các hình thức sản xuất kinhdoanh là một nội dung cơ bản của việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN nước ta.

+ Năm là: Sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế đáp ứng được nhiều lợi ích kinh tế của các giai cấptầng lớp xã hội, có tác dụng khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, các tiềm năng của đất nước:như sức lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên, kinh nghiệm quản lý… Đồng thời cho phép khai thác kinhnghiệm tổ chức quản lý và khoa học, công nghệ mới trên thế giới

Tóm lại, trong thời kỳ quá độ, nền kinh tế nước ta tồn tại nhiều thành phần là tất yếu khách quanxét cả trên phương diện lý luận và thực tiễn Chính vì vậy, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đếnnay, Đảng ta luôn khẳng định quan điểm thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần và coi

đó là đường lối chiến lược lâu dài ở nước ta

Để phát triển kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN, các thành phần kinh tế phải đượccải biến Không thể “xoá bỏ” hay “chuyển đổi” các thành phần kinh tế một cách chủ quan duy ý chí, màphải căn cứ vào trình độ phát triển của LLSX, tính chất của từng ngành nghề mà từng bước hình thànhQHSX mới từ thấp đến cao với sự đa dạng về các hình thức sở hữu

Theo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (bổ sung, phát triểnnăm 2011) thì trong cơ cấu kinh tế của nước ta hiện nay gồm 04 thành phần: Kinh tế nhà nước giữ vai tròchủ đạo Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tậpthể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Kinh tế tư nhân là một trong nhữngđộng lực của nền kinh tế Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển

Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh

tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh

* Đặc điểm của các thành phần kinh tế

Theo đó, mỗi thành phần kinh tế có đặc điểm riêng:

- Kinh tế nhà nước dựa trên sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất với các hình thức xí nghiệp công,nông, thương nghiệp quốc doanh, nắm giữ, kinh doanh, khai thác những tài nguyên, những ngành thenchốt, nắm các mạch máu của nền kinh tế quốc dân Phương thức quản lý khoa học hơn, trình độ lực lượngsản xuất, quan hệ xã hội và quan hệ phân phối cũng cao hơn các thành phần kinh tế khác Nó được tậptrung xây dựng không ngừng lớn mạnh để đủ năng lực giữ vai trò chủ đạo của nền kinh tế theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế khác

Kinh tế nhà nước cần tập trung phát triển trong những ngành, lĩnh vực trọng yếu như: kết cấu hạtầng, ngân hàng, tín dụng, bảo hiểm, những cơ sở sản xuất và thương mại dịch vụ then chốt, một số doanhnghiệp nhà nước, những cơ sở có nhiệm vụ đặc biệt đến quốc phòng an ninh…

Kinh tế nhà nước là lực lượng vật chất qua ntrọng và là công cụ để nhà nước định hướng và điềutiết vĩ mô nền kinh tế Doanh nghiệp nhà nước giữ vững những vị trí then chốt, đi đầu trongứng dụng tiến

bộ KH-CN, nêu gương về năng suất, chất lượng, chấp hành pháp luật…

- Kinh tế tập thể dựa trên loại hình sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất (trừ ruộng đất thuộc sở hữutoàn dân), dưới các hình thức hợp tác xã, tập đoàn sản xuất trong nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp haytrong lĩnh vực lưu thông, dịch vụ Xét về trình độ lực lượng sản xuất, quản lý, trình độ xã hội hóa thì kinh

tế tập thể thấp hơn kinh tế nhà nước, nhưng nó cũng được xây dựng, củng cố và cùng với kinh tế nhà nước

là nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân

- Kinh tế tư nhân dựa trên hình thức sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và trên cơ

sở quan hệ bóc lột lao động làm thuê (tuy có giới hạn) Nó được phép hoạt động trong những ngành nhànước không cần thiết nắm giữ, nhưng nằm trong khuôn khổ pháp luật quy định Giai cấp đại diện cho nó

là giai cấp tư sản không còn nắm giữ chính quyền, nhưng được phép hoạt động kinh doanh, được phép sử

Trang 12

dụng vốn, vật tư kỹ thuật và nghệ thuật quản lý kinh doanh, tạo ra của cải vật chất cho xã hội, góp phầnthúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển Nó có thể liên doanh với nhà nước bằng nhiều hình thức Nóhoạt động trên phạm vi rộng, cả thành thị, nông thôn, trên mọi lĩnh vực, ngành nghề

- Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển theo hướng thuận lợi, hướng vàoxuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiềuviệc làm Cải thiện môi trường kinh tế và pháp lý để thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài

* Mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế

Trên thực tế, giữa các thành phần kinh tế có mối quan hệ vừa thống nhất vừa mâu thuẫn, cho nêntrong quá trình vận động hoặc độc lập, hoặc có xu hướng đan kết với nhau hình thành các loại hình sở hữuhỗn hợp với những hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng Vì vậy cần phát triển mạnh hình thức tổ chứckinh tế cổ phần nhằ mhuy động và sử dụng rộng rãi vốn đầu tư xã hội Nhân rộng mô hình hợp tác, liênkết công và nông nghiệp, doanh nghiệp nhà nước và kinh tế hộ nông dân

Tương ứng với một trình độ phát triển nhất định của LLSX là mối quan hệ sở hữu thích hợp, trongđiều kiện LLSX phát triển rất không đồng đều giữa các ngành, giữa các vùng và thậm chí ngay trong nội

bộ từng ngành, từng vùng như ở nước ta hiện nay thì tất yếu tồn tại nhiều loại hình và hình thức sở hữu,

do đó cũng tồn tại nhiều thành phần kinh tế

Tất cả các thành phần kinh tế với những hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng phong phú củachúng tạo nên những bộ phận hữu cơ của nền kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội

- Các thành phần kinh tế không tồn tại biệt lập mà có liên hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau tạothành cơ cấu kinh tế thống nhất bao gồm nhiều thành phần kinh tế Chúng cùng tồn tại và phát triển như mộttổng thể, giữa chúng có quan hệ vừa hợp tác vừa cạnh tranh, đan xen phát triển kinh tế theo pháp luật

- Các thành phần kinh tế không tồn tại độc lập mà đan xen vào nhau, tác động qua lại với nhau, mỗithành phần kinh tế dựa trên một hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất và biểu hiện lợi ích của mộtgiai cấp, tầng lớp xã hôi nhất định Vì vậy, các thành phần kinh tế vừa thống nhất vừa mâu thuẫn với nhau:

+ Tính thống nhất: Mỗi thành phần kinh tế là một bộ phận của nền kinh tế nằm trong hệ thống phâncông xã hội có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau Các thành phần kinh tế đều hoạt động trong một môitrường thống nhất (các chính sách, pháp luật và sự quản lý vĩ mô của nhà nước ) đều là nội lực của nềnkinh tế thị trường định hướng XHCN Sự thống nhất không phải tự nhiên mà có mà phải trải qua hợp tác

và đấu tranh, đấu tranh để hợp tác tốt hơn

+ Mâu thuẫn: Các thành phần kinh tế mang bản chất kinh tế và quan hệ kinh tế khác nhau biểu hiệnlợi ích kinh tế khác nhau, xu hướng vận động khác nhau Hơn nữa trong bản thân mỗi thành phần kinh tếcũng lại có những mâu thuẫn (do sự vi phạm hợp đồng, lợi ích cục bộ, vi phạm bản quyền ) Những mâuthuẫn của nền kinh tế nhiều thành phần chỉ được giải quyết dần dần trong quá trình xã hội hóa sản xuấttheo định hướng XHCN

Các thành phần kinh tế tuân theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng và đều là nội lựccủa nền KTTT định hướng XHCN, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; trong đó kinh

tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tếquốc dân

II Giải pháp để phát triển các thành phần kinh tế ở nước ta hiện nay

1 Phát huy vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước

Ngày nay kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo, dẫn dắt các thành phần kinh tế khác phát triểntheo định hướng xã hội chủ nghĩa, cần sắp xếp và đổi mới các doanh nghiệp nhà nước theo định hướng :

Trang 13

- Lập những tập đoàn kinh tế mạnh trong những khâu then chốt, có thế mạnh của nền kinh tế nước ta.

- Đổi mới và phát huy những ưu thế về kỹ thuật và công nghệ, liên kết liên doanh với các doanhnghiệp thuộc các thành phần khác nhằm nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng và hiệu quảkinh tế - xã hội

- Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong các doanh nghiệp nhà nước trên cơ sở bảo đảm chế độ tự chủsản xuất - kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở Thận trọng thí điểm mô hình công ty mẹ, công ty con Giảiquyết tốt mối quan hệ giữa các loại lợi ích kinh tế, chú ý thích đáng lợi ích kinh tế của người lao động

- Phát huy vai trò trung tâm kinh tế, khoa học – công nghệ, văn hóa – xã hội của doanh nghiệp nhànước trong nông lâm, ngư nghiệp, nhất là ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc ít người, đặc biệtcoi trọng việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và tăng cường hoạt động của kinh tế nhà nước tronglĩnh vực phân phối lưu thông

- Cổ phần hóa không đồng nhất với tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước Thực hiện tốt cổ phần hóakhông những không làm suy yếu kinh tế nhà nước, tạo điều kiện cho kinh tế nâng cao địa vị làm chủ củangười lao động và hạn chế sự chi phối của quyền sở hữu tư nhân

- Việc cổ phần hóa được tiến hành bằng nhiều cách khác nhau :

+ Bán một phần cổ phần của doanh nghiệp nhà nước cho công nhân viên trong doanh nghiệp.+ Bán một phần cổ phiếu cho cả người trong và ngoài doanh nghiệp

+ Giữ nguyên tài sản của nhà nước, phát hành cổ phiếu để tăng vốn

+ Doanh nghiệp thành lập bằng cách bán cổ phiếu ngay từ đầu

+ Tách một bộ phận vốn của doanh nghiệp nhà nước ra lập cơ sở mới và gọi cổ phần vào cơ sở đó…

2 Củng cố, nâng cao vai trò của thành phần kinh tế tập thể

Kinh tế tập thể mà nòng cốt là tập hợp tác xã, cần phải được tổ chức với quy mô từ nhỏ đến lớn, từthấp đến cao phù hợp với điều kiện cụ thể, phương hướng chung như sau :

- Việc hợp tác hóa phải căn cứ vào sự phát triển của lực lượng sản xuất trong các ngành, căn cứ vàođặc điểm công nghệ, trình độ kỹ thuật và trình độ quản lý

- Phát triển rộng rãi và đa dạng trong các ngành, nghề, với quy mô và mức độ tập thể hóa khác nhau.Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các hợp tác xã từng bước xây dựng quỹ tích lũy, xây dựng cơ

sở vật chất kỹ thuật để tăng sức mạnh kinh tế hiệp tác, hỗ trợ cho kinh tế hộ xã viên

Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, với việc giao quyền sử dụng ruộng đất ổn định lâu dài, tăngcường vai trò đơn vị kinh tế tự chủ của các hộ gia đình xã viên, ban quản lý hợp tác xã cần tổ chức dịch vụ

ở những khâu, những lĩnh vực mà hộ xã viên không có điều kiện làm, hoặc làm riêng không hiệu quả bằnghợp tác Ngoài ra, ban quản lý hợp tác xã cần phối hợp với chính quyền thực hiện các chính sách kinh tế -

xã hội, xây dựng nông thôn mới

- Nhà nước cần có chính sách khuyến khích, ưu đãi giúp đỡ kinh tế tập thể phát triển có hiệu quả

3 Phát triển thành phần kinh tế tư nhân (cá nhân, tiểu chủ, tư bản tư nhân)

Sự phát triển của kinh tế tư bản tư nhân không thể là mục đích tự thân, nó đòi hỏi phải có sự giúp

đỡ và định hướng của nhà nước

Để khuyến khích kinh tế tư bản tư nhân phát triển đúng hướng cần phải :

Ngày đăng: 29/03/2015, 12:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w