tìm hiểu về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên
Trang 1MỞ ĐẦU
Thế hệ trẻ chính là tương lai của đất nước, là mầm xanh của xã hội Tuynhiên, trong những năm gần đây, tình trạng người chưa thành niên (NCTN) viphạm pháp luật nói chung và vi phạm pháp luật hình sự nói riêng diễn ra với
số lượng ngày càng nhiều với tính chất và mức độ nguy hiểm ngày càngnghiêm trọng Vấn đề này đã và đang trở thành mối quan tâm lo lắng của toàn
xã hội
Bộ luật tố tụng hính sự năm 2003 đã có một chương riêng quy đinh vềthủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội Việc quy định nhưvậy là xuất phát từ tư tưởng coi trẻ em, ngay cả khi họ phạm tội là đối tượngcần được bảo vệ Nhằm kết hợp hài hòa giữa các biện pháp cưỡng chế và giáodục, thuyết phục, tạo ra những điều kiện cần thết để NCTN biết và sửa chữasai lầm, sớm cải tạo và trở thành người có ích cho xã hội
Thực tế việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối vớinhững vụ án mà bị can, bị cáo là NCTN trong những năm qua cho thấy các cơquan tiến hành tố tụng đã có nhiều cố gắng, vận dụng một cách linh hoạt cácquy định của pháp luật hình sự và tố tụng hính sự trong giải quyết vụ án Tuynhiên cũng phải thừa nhận, việc giải quyết vị án hình sự mà bị can, bị cáo làNCTN cũng còn nhiều vướng mắc và sai phạm Những vi phạm này một phần
do các cơ quan tiến hành tố tụng chưa nắm vững và vận dụng chính xác nhữngquy định của pháp luật tố tụng liên quan đến việc giải quyết vụ án mà bị can,
bị cáo là người chưa thành niên Một phần là do một số quy định của phápluật tố tụng hình sự chưa đáp ứng được yêu cầu của hoạt động tố tụng đặc biệtnày
Do vậy, việc tìm hiểu về thủ tục tố tụng đối với NCTN là điều cần thiết,qua đó sẽ nắm vững hơn về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niênphạm tội, đưa ra các giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng giải quyết
Trang 2NỘI DUNG 1.Khái niệm người chưa thành niên (NCTN) và thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội.
1.1 khái niệm người chưa thành niên(NCTN)
Khái niệm NCTN là khái niệm phổ biến được dùng trong nhiều nghành khoahọc nhưng mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi ngành khoa học có khái niệm vềNCTN khác nhau Luật học nghiên cứu NCTN để xác định quyền và nghĩa vụ,trách nhiệm của họ khi tham gia vào các quan hệ pháp luật
Theo Từ điển Tiếng Việt (2000), người chưa thành niên được định nghĩanhư sau: “người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện vềthể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ côngdân”
Dựa vào khái niệm này có thể hiểu NCTN là người chưa phát triển đầy
đủ, toàn diện thể lực, trí tuệ, tinh thần có nghĩa là ở lứa tuổi này họ chưa phải
là người lớn nhưng cũng không còn là trẻ con Đây là giai đoạn diễn ra nhữngbiến cố rất đặc biệt, đó là sự phát triển cơ thể mất cân bằng nên NCTN rất dễ
bị kích động, dễ nổi nóng cho nên họ có những phản ứng nóng nảy, vô cớ,những hành vi bất thường 1
Đồng thời NCTN cũng phải là người chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụcông dân Nhà nước ta quy định người từ đủ 18 tuổi là người có đầy đủ quyền
và nghĩa vụ công dân NCTN là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi Trên cơ
sở giới hạn độ tuổi mà các văn bản pháp luật cũng giới hạn quyền, nghĩa vụ vàtrách nhiệm của NCTN khi họ tham gia vào các quan hệ pháp luật Điều 68
Bộ luật hình sự quy định: “ Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Chương này
1 ThS Đặng Thanh Nga (2008), “ Một số đặc điểm tâm lý của người chưa thành niên phạm tội”, Tạp chí Luật học số 1/2008.
Trang 3đồng thời theo quy định khác của phần chung Bộ luật không trái với nhữngquy định của chương này”
1.2.Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên
Thủ tục tố tụng đối với NCTN phạm tội, được quy định tại ChươngXXXII Bộ luật TTHS là thủ tục đặc biệt, được áp dụng đối với người bị bắt,người bị tạm giữ, bị can, bị cáo từ 14 tuổi tròn cho đến dưới 18 tuổi
Điều 301 BLTTHS 2003 quy định: “Thủ tục tố tụng đối với người bịbắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên được áp dụngtheo quy định của Chương này, đồng thời theo quy định khác của Bộ luật nàykhông trái với những quy định của Chương này”
Người chưa thành niên là người đang ở lứa tuổi mà khả năng nhận thức
về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bị hạn chế và đôi khi
bị tác động mạnh mẽ của những điều kiện bên ngoài Chính sách hình sự củaNhà nước ta đối với NCTN chủ yếu là giáo dục và giúp đỡ họ sửa chữa nhữngsai lầm, tạo điều kiện cho họ phát triển lành mạnh để trở thành những côngdân có ích cho xã hội
2 Các quy định của Bộ luật TTHS năm 2003 về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên.
2.1 Qui định về đối tượng chứng minh
Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự là tất cả những tình tiết phảiđược xác định đảm bảo cho việc giải quyết đúng đắn, khách quan, toàn diện
vụ án hình sự BLTTHS qui định đối tượng chứng minh tại Điều 63
Tuy nhiên, khi tiến hành tố tụng đối với những vụ án do NCTN thựchiện, ngoài việc xác định những vấn đề cần chứng minh có tính chất bắt buộcchung đối với vụ án hình sự qui định tai Điều 63 BLTTHS thì Cơ quan điềutra, Viện kiểm sát, Tòa án cần phải chứng minh những tình tiết quy định tạiKhoản 2 Điều 302 BLTTHS, bao gồm:
-Tuổi, trình độ phát triển thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về
Trang 4Trong quá trình tiến hành tố tụng, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa ánphải xác định tuổi của NCTN Việc này cần thiết cho việc truy cứu hay không truycứu trách nhiệm hình sự đối với người đó.
Điều 12 BLHS Việt Nam có quy định:
“1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm
2 Người từ đủ 14 trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tộiphạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.”
Bởi vậy, khi điều tra, truy tố, xét xử đối với người bị bắt, người bị tạmgiữ, bị can, bị cáo mà lí lịch của họ chưa được làm rõ thì Cơ quan điều tra,Viện kiểm sát, Tòa án chỉ được khởi tố, truy tố, xét xử khi có đủ căn cứ kếtluận rằng bị can, bị cáo là người đã đủ tuổi chịu TNHS theo luật định
Ngoài ra, tuổi của NCTN có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định
áp dụng hình phạt thích hợp và các vấn đề khác như: là cơ sở để xác định táiphạm, tái phạm nguy hiểm, ảnh hưởng đến việc xác định trách nhiệm dân sựtrong vụ án hình sự, việc xác định chính xác độ tuổi của NCTN giúp cho việcxác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do NCTN gây ra2 Bảođảm chế độ thi hành án đúng quy định của pháp luật đối với NCTN
Thông thường, việc xác định độ tuổi phải căn cứ vào giấy khai sinh, đốichiếu với một số tài liệu cần thiết khác có liên quan Tuy nhiên, không phảilúc nào cũng biết được chính xác tuổi của bị can, bị cáo chưa thành niên Đốivới những trẻ em sống lang thang đường phố, không có nơi cư trú rõ ràng,không có giấy khai sinh hay các giấy tờ cần thiết khác như giấy chứng sinh, sổ
hộ khẩu…hoặc với NCTN không đủ giấy khai sinh, giấy ghi nhận việc nuôicon nuôi; hoặc có nhưng các loại giấy tờ xác nhận thông tin lại mâu thuẫnnhau Điều này đã gây không ít vướng mắc tới quá trình giải quyết vụ án hình
sự Trường hợp không biết chính xác ngày, tháng sinh của bị can, bị cáo thìcần phải xác định như sau:
2 Xem thêm Điều 606 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005.
Trang 5Nếu xác định được tháng sinh nhưng không xác định được ngày nàotrong tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó để xem xét trách nhiệm hình
sự đối với bị can, bị cáo
Nếu xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng nào thìlấy ngày cuối cùng của quý đó làm ngày sinh
Nếu xác định được nửa đầu hay nửa cuối của năm nhưng không xác địnhđược ngày tháng nào thì lấy ngày 30 tháng 6 hoặc 31 tháng 12 của năm đólàm ngày sinh
Nếu không xác định nửa năm nào, quý nào, tháng nào trong năm thì lấyngày 31 tháng 12 tương ứng của năm đó để xem xét trách nhiệm hình sự đốivới bị can, bị cáo
Ngoài ra, Điều 155 BLTTHS năm 2003 đã bổ sung một điểm mới so vớiBLTTHS năm 1988 Theo đó, trong những trường hợp không có tài liệukhẳng định tuổi của người đó hoặc có nghi ngờ về tính xác thực của những tàiliệu, lời khai của bị can, bị cáo, lời khai của gia đình bị can, bị cáo thì cơ quantiến hành tố tụng bắt buộc trưng cầu giám định
Ngoài độ tuổi, Đối với NCTN, cơ quan tiến hành tố tụng còn phải làm rõmức độ phát triển về thể chất và tinh thần của họ Mức độ phát triển về tinhthần, một số khuyết tật về thể chất cũng như một số bệnh tật có thể là tác nhânchính gây nên sự rối loạn về nhân cách, đẩy NCTN rơi vào con đường phạmtội
- Điều kiện sinh sống và giáo dục
Điều kiện sinh sống và giáo dục có ảnh hưởng to lớn tới sự phát triểnnhân cách và có ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi phạm tội của NCTN
Để xác minh được thì cơ quan tiến hành tố tụng cần thực hiện xác minhđiều kiện sinh sống của gia đình,nội dung giáo dục của nhà trường, môitrường sinh hoạt ở địa phương nơi NCTN cư trú, học tập hoặc cơ quan, tổchức nơi NCTN làm việc
Trang 6Gia đình là môi trường xã hội đầu tiên mà con người tiếp xúc, là yếu tốchủ đạo cho sự hình thành và phát triển nhân cách con người Thông qua giađình, con người được nuôi nấng, giáo dục và tiếp thu những kinh nghiệm xãhội đầu tiên NCTN rất dễ bị ảnh hưởng bởi những yếu tố tiêu cực trong chínhmôi trường gia đình của họ, trực tiếp là của những người cùng chung sốngtrong gia đình như ông bà, bố mẹ, anh chị em.
Nếu coi gia đình là chiếc nôi thứ nhất, thì nhà trường chính là chiếc nôithứ hai, ảnh hưởng đến quá trình phát triển nhân cách của NCTN Thực tế chothấy, thường những học sinh bị lưu ban thì hay bỏ học, đi lang thang…và dễ
sa ngã vào con đường phạm tội
Ngoài ra, những hiện tượng tiêu cực ngoài xã hội, môi trường xungquanh không lành mạnh cũng ảnh hưởng không tốt đến đầu óc nhạy cảm vàhiếu động của NCTN
- Có hay không có người thành niên xúi giục
Do còn ít tuổi, thiếu kinh nghiệm sống lại bồng bột, nhẹ dạ, cả tin cho nênNCTN dễ bị người lớn lôi kéo, xúi giục, rủ rê vào con đường phạm tội
Đối với các vụ án mà bị can, bị cáo là NCTN còn cần phải xác định xem
có người lớn tuổi lôi kéo hoặc xúi giục hay không vì đó không những là tìnhtiết tăng nặng đối với người thành niên phạm tội (theo Điểm n Khoản 1 Điều
48 BLHS) mà nó còn là tình tiết giảm nhẹ TNHS đối với NCTN phạm tội theoqui định tại Điểm i Khoản 1 Điều 46 BLHS Thực tiễn hoạt động tố tụng chothấy, đã xảy ra không ít trường hợp, bọn tội phạm đã lợi dụng sự nhẹ dạ cả tin,
sự bồng bột, non nớt về kinh nghiệm sống của NCTN để rủ rê, lôi kéo, thậmchí đe dọa, cưỡng bức, chi phối về mặt vật chất hoặc tinh thần, đẩy NCTN rơivào con đường phạm tội.Và cá biệt, có cả những trường hợp mà chính bố mẹlại là người lôi kéo, “ép buộc” con em mình phạm tội
Như vậy, làm rõ nội dung có hay không có người thành niên xúi giụctrong vụ án mà bị can, bị cáo là NCTN thực sự là một vấn đề cần thiết Nógóp phần giúp cơ quan tiến hành tố tụng làm rõ được hoàn cảnh, điều kiện dẫn
Trang 7đến hành vi phạm tội, đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành viphạm tội, phát hiện đồng phạm trong vụ án mà NCTN thực hiện, đảm bảokhông để lọt tội phạm, không làm oan sai người vô tội, trừng trị nghiêm khắcngười thành niên xúi giục nhằm nâng cao chất lượng công tác đấu tranh phòngchống tội phạm nói chung.
-Nguyên nhân và điều kiện phạm tội
Trong những vụ án mà bị can, bị cáo là NCTN thì đây lại là vấn đề có ýnghĩa hết sức quan trọng trong việc xác định, đánh giá đầy đủ tính chất củahành vi phạm tội, áp dụng hình thức xử lí NCTN phạm tội cũng như biệnpháp phòng ngừa tội phạm
Muốn xác định nguyên nhân phạm tội, trước hết phải xen xét các hiệntượng, quá trình xã hội vì nguyên nhân và điều kiện phạm tội cũng không nằmngoài qui luật xã hội Có những nguyên nhân và điều kiện phát sinh thuộc vềtrách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội NCTN trong quá trình hìnhthành nhân cách chịu ảnh hưởng của môi trường gia đình mà trước hết là vaitrò của cha mẹ, ông bà, anh chị em… Sự không nghiêm khắc, buông lỏngquản lí, giáo dục của gia đình cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến hành viphạm tội của NCTN
Bên cạnh đó, nhà trường cũng được coi là “gia đình thứ hai” của các em.Hầu hết, trong một thời gian dài của quá trình hoàn thiện mình, NCTN đềugắn với môi trường sinh hoạt ở nhà trường vì quá trình học tập là một trongnhững phương pháp hoàn thiện nhân cách con người nhanh chóng và khá hiệuquả Nhưng nhiều nơi, nhà trường vẫn chưa làm tròn được trách nhiệm củamình trong việc quản lí, giáo dục học sinh Đó chính là kẽ hở cho các hiệntượng tiêu cực xâm nhập Số lượng NCTN bỏ học ngày càng gia tăng làm chotrình độ văn hóa của các em ngày càng giảm sút, trình độ hiểu biết thấp kémnên các em có xu hướng tụ tập với nhóm bạn bè “cùng cảnh ngộ”, sống buôngthả hoặc bị người thành niên kích động, dụ dỗ vào con đường phạm tội
Trang 8Ngoài ra, một nhân tố đáng chú ý trong quá trình tìm hiểu nguyên nhân,điều kiện phạm tội đối với những vụ án về NCTN đó là môi trường xã hội.Tình trạng bất cập về tổ chức cộng đồng mà cụ thể là việc tổ chức vui chơi,giải trí, xây dựng các công trình văn hóa cho thanh thiếu niên còn quá chậthẹp, chưa được đầu tư, quan tâm thích đáng, dẫn đến các em thường tiêu haothời gian bằng cách tụ tập ngoài đường phố bằng những trò nghịch ngợm, tiêucực Một bộ phận NCTN, do không thi được vào phổ thông trung học hoặckhông có điều kiện để học nhưng chúng ta lại chưa có những hình thức họcnghề phù hợp cho các em, vì vậy các em còn chơi bời, lang thang rồi giao duvới những tụ điểm xấu và kết thúc bằng những hành vi phạm tội.
Tóm lại, trong quá trình giải quyết vụ án do NCTN thực hiện, các cơquan tiến hành tố tụng, ngoài việc phải thu thập chứng cứ theo qui định chungcủa BLTTHS còn bắt buộc phải chứng minh các vấn đề trên Những tình tiếttrên không những góp phần giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện,đầy đủ mà nó còn góp phần giúp đỡ, giáo dục NCTN trở thành công dân cóích cho xã hội, nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạmCTN
2.2 Quy định về chủ thể tiến hành tố tụng.
Khoản 1 Điều 302 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định: “Điều
tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán tiến hành tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội phải là người có những hiểu biết cần thiết về tâm lí học, khoa học giáo dục cũng như về hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của người chưa thành niên”.
Do những đặc điểm tâm sinh lí của NCTN là chưa phát triển toàn diện
về thể lực, trí tuệ, tinh thần, tính làm chủ bản thân còn thấp, khả năng tự kiềmchế chưa tốt, họ chưa thể có sự cân nhắc, tính toán thận trọng, chín chắn trongsuy nghĩ trước khi có hành vi phạm tội Bởi vậy, trình độ hiểu biết và nhữngkiến thức cơ bản về tâm lí học, khoa học giáo dục… sẽ là công cụ cần thiết
Trang 9giúp người tiến hành tố tụng có thể hiểu tương đối đầy đủ các dấu hiệu vềnhân thân của NCTN.
- Trên cơ sở có những thấu hiểu về hoàn cảnh xã hội, tâm lí của NCTNthì người tiến hành tố tụng mới có thể thực sự cảm thông với lỗi lầm, cách xử
sự thiếu chín chắn dẫn đến con đường phạm tội của NCTN, không coi các em
là đối tượng ngoại lai của xã hội, là đối tượng cần phải trừng trị và qua đógiúp các em nhận thức được lỗi lầm, tự giác sửa chữa để trở thành công dân
có ích cho xã hội Từ đó họ mới có ý thức sâu sắc đế chấp hành đúng thủ tụcđối với NCTN vì chính sách hình sự nhân đạo nói chung, TTHS nói riêng củaNhà nước ta trong việc xử lí NCTN phạm tội Có như vậy thì mới tạo đượclòng tin và sự khai báo trung thực, thái độ hợp tác, cầu thị từ phía người bịtạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án là NCTN, từ đó tạo điều kiện thuận lợicho cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng làm sáng tỏ tình tiết của
vụ án một cách nhanh chóng, khách quan, đưa ra các biện pháp xử lý và phánquyết phù hợp đối với NCTN
Muốn vậy, người tiến hành tố tụng cần phải có những kiến thức tâm líhọc, khoa học giáo dục cũng như kiến thức về đấu tranh phòng và chống tộiphạm do NCTN thực hiện… Thực tiễn cho thấy, các tiêu chí về trình độ hiểubiết của người tiến hành tố tụng đối với NCTN là cơ sở đảm bảo cho việcđánh giá, nhìn nhận vấn đề hành vi phạm tội của NCTN một cách khách quan,công bằng, tránh sự thiên kiến, áp đặt phiến diện từ phía người tiến hành tốtụng, xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN
Một trong những mục đích của TTHS là không chỉ nhằm xóa bỏ thànhkiến, trạng thái tâm lí tiêu cực của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là NCTN
mà còn nhằm thay đổi thái độ của họ đối với hành vi của mình, từ đó hướngđến giáo dục cho NCTN những phẩm chất tốt, cảm hóa tâm lí tiêu cực và cách
xử sự trái xã hội của các em, để sớm đưa các em trở về với gia đình, nhàtrường, tái hòa nhập với cộng đồng xã hội
Trang 10Tuy nhiên, trên thực tế ở nước ta hiện nay cũng chưa có cơ quan tiếnhành tố tụng cũng như người tiến hành tố tụng chuyên trách để điều tra truy tốxét xử NCTN.
2.3 Người tham gia tố tụng.
- Theo quy định của Bộ luật TTHS thì đối với những vụ án mà ngườithực hiện hành vi phạm tội là NCTN thì sự tham gia của người bào chữa là bắtbuộc ( Điểm b, khoản 2, điều 57 BLTTHS 2003 ) Theo qui định củaBLTTHS 2003, NCTN có thể tự mình hoặc thông qua người đại diện hợppháp mời người bào chữa Đại diện hơp pháp của NCTN có thể tự mình bàochữa cho những người này Trong trường hợp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
là NCTN hoặc đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì các cơquan tiến hành tố tụng yêu cầu Đoàn luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc
đề nghị UBMTTQ Việt Nam, tổ chức thành viên của mặt trận cử người bàochữa cho thành viên của tổ chức mình 3 Đây là một qui định mới nhằm tăngcường nội dung dân chủ của pháp luật TTHS, tạo ra những điều kiện bảo vệ
có hiệu quả các quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo
Theo quy định của Luật TTHS năm 2003 thì người bị tạm giữ, bị can, bịcáo là NCTN và người đại diện hợp pháp có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từchối người bào chữa sau khi Đoàn luật sư hoặc UBMTTQ Việt Nam đã cửngười bào chữa Tòa án phải “căn cứ vào Khoản 2, Khoản 3 Điều 56BLTTHS để chấp nhận hoặc không chấp nhận Trong trường hợp Tòa ánkhông chấp nhận yêu cầu thay đổi người bào chữa thì vẫn tiến hành xét xửtheo thủ tục chung”4
Đề cập tới quyền từ chối người bào chữa của bị can, bị cáo là NCTN vàngười đại diện hợp pháp của họ thì Công văn số 16 năm 1999 (CV16/1999/KHXX ) của TANDTC ngày 01/12/1999 và Nghị quyết số 03
3 Xem Điều 305 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.
4 TANDTC(1999), Công văn số 52/1999/KHXX ngày 15/6/1999 của TANDTC về thực hiên một số qui định của BLTTHS đối với bị cáo là NCTN
Trang 11NQ03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2004 của Hội đồng thẩm phán TANDTC
đã đề cập khá chi tiết và có những hướng dẫn cụ thể
- Bên cạnh qui định về người bào chữa, BLTTHS năm 2003 còn cónhững qui định về sự tham gia tố tụng của người đại diện hợp pháp, đại diệngia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Theo qui định tại Khoản 1 Điều 306 BLTTHS thì đại diện gia đình người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo là NCTN; đại diện nhà trường; Đoàn thanh niêncộng sản Hồ CHí Minh; tổ chức khác nơi người bị tạm giữ, bị can, bị cáo họctập, lao động và sinh sống được tham gia vào các hoạt động tố tụng cụ thểtheo quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án Tùy từng trườnghợp và căn cứ vào từng vụ án riêng biệt mà cơ quan tiến hành tố tụng có thểtriệu tập đại diện gia đình, nhà trường, tổ chức tham gia tố tụng bằng nhữnghình thức phù hợp nhằm làm rõ hơn về những tình tiết, đặc điểm nhân thâncủa bị can, bị cáo cũng như cung cấp những thông tin, nhận xét liên quan đếnNCTN như hỏi cung bị can, đối chất, nhận dạng…Tuy nhiên, sự tham gia của