Giới hạn xét xử vụ án hình sự, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và các quy phạm trong bộ luật TTHS năm 2003
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
“Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệcông lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ Quốc Việt Nam xã hộichủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệuquả và có hiệu lực cao.” Đây là mục tiêu hàng đầu của chiến lược cải cách tư pháp đãđược Đảng và Nhà nước ta quán triệt tại Nghị quyết 49-NQ/TW về “Chiến lược cảicách tư pháp đến năm 2020” Để thực hiện được mục tiêu này cần phải tiến hành cácnhiệm vụ cải cách tư pháp, như phân định rõ quyền hạn tư pháp trong hoạt động tốtụng tư pháp theo hướng tăng quyền và trách nhiệm cho điều tra viên, kiểm sát viên
và thẩm phán để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịutrách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình; Xác định
rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức bộ máy các cơ quan tưpháp, trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân
Do đó việc việc quy định rõ giới hạn xét xử vụ án hình sự là một chế định pháp líquan trọng ảnh hưởng đến việc xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền bộ máy
cơ quan tư pháp, giữa cơ quan điều tra, viện kiểm sát và tòa án
Giới hạn xét xử là chế định pháp lí quan trọng có liên quan đến nhiều chế địnhkhác của luật tố tụng hình sự Giới hạn xét xử là phạm vi mà hội đồng xét xử đượcphép xét xử tại phiên tòa Phạm vi đó không phải là vô hạn mà ngược lại nó được hạnchế bởi phạm vi những người và những hành vi mà Viện kiểm sát truy tố trong cáotrạng và quyết định đưa vụ án ra xét xử Chính giới hạn xét xử này là yếu tố bảo đảmcho tòa án luôn là tòa án - cơ quan thực hiện chức năng xét xử chứ không phải là cơquan thực hiện chức năng buộc tội Mặt khác chế định này còn đảm bảo được nguyêntắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, tòa án không được xét xử nhữngngười chưa bị truy tố, không được xét xử những hành vi của bị cáo theo tội danh
Trang 2không bị truy tố, không được xét xử theo tội danh nặng hơn so với tội danh mà việnkiểm sát truy tố
Tuy nhiên thực tiễn xét xử trong thời gian qua đã cho thấy quy định về giới hạnxét xử của toà án có nhiều điểm không hợp lí, quy định này cùng với nguyên tắc
“không làm xấu hơn tình trạng của bị cáo”, trong một số trường hợp có ảnh hưởngtiêu cực đến việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và nguyên tắc “Độc lậpxét xử của tòa án” Mặt khác quy định về giới hạn xét xử mâu thuẫn với nhiều quyđịnh khác của BLTTHS hiện hành Những bất cập của giới hạn xét xử và thực tiễn ápdụng chưa thống nhất đã làm giảm đi hiệu quả của quy định này nói riêng cũng nhưcủa pháp luật tố tụng hình sự nói chung
Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn vấn đề giới hạn xét xử vụ án hình
sự, từ thực tiễn áp dụng, đưa ra những giải pháp, yêu cầu hoàn thiện hơn nữa về quyđịnh giới hạn xét xử vụ án hình sự là vấn đề cấp bách đặt ra về mặt ý nghĩa lý luận vàthực tiễn Đây là lý do giải thích cho việc quyết định chọn đề tài “Giới hạn xét xử vụ
án hình sự và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Bình”
2 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi, phương pháp, đối tượng nghiên cứu của niên luận
sự nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn
+ Nhiệm vụ nghiên cứu
Đánh giá tính nhân đạo, dân chủ, pháp lý trong quá trình hình thành, phát triểncủa luật TTHS Việt Nam trên các quy định về giới hạn xét xử vụ án hình sự từ năm
Trang 31988 đến nay Phân tích một số ý kiến về khái niệm giới hạn xét xử vụ án hình sựcũng như quy phạm trong Bộ luật TTHS 2003 về giới hạn xét xử để xác định nhữngtồn tại và nguyên nhân của chúng Trên cơ sở đó, đưa ra các giải pháp về lập pháp đểhoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự.
+ Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của niên luận là : “Giới hạn xét xử vụ án hình sự và thựctiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Bình”
+ Phạm vi nghiên cứu
Niên luận nghiên cứu những vấn đề cụ thể về giới hạn xét xử vụ án hình sự tronggiai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong lĩnh vực tố tụng hình sự
+ Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài đã thực hiện dựa trên cácphương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp… trênnền tảng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử,các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm củaĐảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình biện luận và đánh giá, nghiên cứu các vấn
đề của đề tài này
3 Kết cấu của niên luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungcủa niên luận gồm 3 chương:
Chương 1 : Những vấn đề chung về giới hạn xét xử vụ án hình sự
Chương 2 : Những quy phạm pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành vềgiới hạn xét xử vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng
Chương 3 : Những phương hướng và giải pháp hoàn thiện quy định giới hạn xét
xủ vụ án hình sự nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng
Trang 4B PHẦN NỘI DUNG
Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIỚI HẠN XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1 Khái niệm giới hạn xét xử vụ án hình sự
Trong khoa học pháp luật tố tụng hình sự, khái niệm giới hạn xét xử còn cónhững ý kiến khác nhau Các học giả trong nước có một số ý kiến, như sau:
Thứ nhất: Tác giả Đặng Quang Phương cho rằng “Giới hạn xét xử là sự thể hiệnnội dung của vấn đề nguyên tắc độc lập xét xử.” Khái niệm của tác giả chưa hợp lýkhi cho rằng sự phân định phạm vi xét xử của Toà án trong phiên toà sơ thẩm là biểuhiện của nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.Mặc dù nó có quan hệ với nhau nhưng lại khác biệt nhau về nội dung, ý nghĩa, vì giớihạn xét xử là quy định có ý nghĩa rất lớn đến việc bảo đảm quyền bào chữa của bịcan, bị cáo
Thứ hai: Phó tiến sĩ Phạm Hồng Hải cho rằng: “Giới hạn của việc xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự là phạm vi những người, những hành vi mà hội đồng xét xử sơ thẩmđược xét xử tại phiên toà.” Tác giả đã có sự nhầm lẫn giữa đối tượng xét xử và phạm
vi xét xử của phiên toà sơ thẩm, ở đây đối tượng xét xử của phiên toà sơ thẩm lànhững người, những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Toà án đãquyết định đưa ra xét xử
Thứ ba: Phó tiến sĩ Nguyễn Văn Hiện cho rằng Giới hạn xét xử cũng chính làthẩm quyền xét xử,mà thẩm quyền xét xử thì không chỉ bao hàm trong một điều luật.Tác giả đã sai khi đồng nhất giữa giới hạn xét xử và thẩm quyền xét xử Thẩm quyềnxét xử của Toà án là quyền xem xét và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật,
do đó xét ở góc độ phạm vi những người, những hành vi thuộc thẩm quyền xét xử củaToà án thì giới hạn xét xử là nội hàm của khái niệm thẩm quyền xét xử
Trang 5Nhìn chung những khái niệm nêu trên vẫn chưa đầy đủ, khoa học Để có cơ sởkhoa học khi đưa ra khái niệm giới hạn của việc xét xử sơ thẩm được hoàn chỉnh, đầy
đủ và toàn diện, cần nghiên cứu từ (4) vấn đề: a) khái niệm giới hạn xét xử; b) đốitượng xét xử của phiên toà sơ thẩm; c) phạm vi xét xử của phiên toà sơ thẩm; d) mụcđích của giới hạn xét xử
- Về khái niệm giới hạn, Đại từ điển Tiếng Việt do GS, TS Nguyễn Như Ý làmchủ biên giải thích theo nghĩa của danh từ “Giới hạn” là : “phạm vi được quy định,không thể vượt qua” Xét xử là chức năng của Toà án Đây là hoạt động do tòa án tiếnhành theo pháp luật tố tụng, trong đó tòa án, sau khi nghiên cứu một cách khách quan,toàn diện và đầy đủ các tình tiết của vụ án, tiến hành giải quyết và xử lí vụ án bằngviệc ra bản án và các quyết định cần thiết có liên quan
- Về đối tượng xét xử: là những bị cáo, những hành vi theo tội danh thuộc phạm
vi mà Viện kiểm sát truy tố và Toà án đã quyết định đưa ra xét xử
- Về phạm vi xét xử : Phạm vi xét xử của hội đồng xét trong phiên toà sơ thẩmđược quy định đối với những người, những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát đãtruy tố và Toà án đã quyết định đưa ra xét xử, ngoài ra cùng một điều luật về một tộidanh, Toà án có thể xử theo khoản khác nặng hơn hoặc nhẹ hơn khoản mà Viện kiểmsát truy tố, Toà án cũng có thể xử theo tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn tội danh màViện kiểm sát đã truy tố Như vậy, phạm vi xét xử sơ thẩm là những khoản trong mộtđiều luật, những tội danh, mà hội đồng xét xử sơ thẩm được phép xét xử
- Về mục đích của giới hạn xét xử: ngoài mục đích đảm bảo được chức năng củatoà án là xét xử, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa thì theo quy định về giới hạn củaviệc xét xử trong BLTTHS thì toà án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theotội danh mà viện kiểm sát truy tố; toà án không được xét xử những người chưa bị truy
tố, không được xét xử những hành vi của bị cáo theo tội danh không bị truy tố Toà ánkhông được xét xử theo tội danh nặng hơn so với tội danh mà viện kiểm sát truy tố,như vậy trong trường hợp này toà án không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo, đây
Trang 6là những quy định có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can,
bị cáo
Và, có thể đưa ra khái niệm khoa học: Giới hạn của việc xét xử là phạm vinhững khoản trong một điều luật, những tội danh, mà hội đồng xét xử sơ thẩm đượcphép xét xử đối với những người, những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy
tố và Toà án đã quyết định đưa ra xét xử nhằm bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa vàquyền bào chữa của bị can, bị cáo
1.2 Những nguyên tắc áp dụng quy đinh giới hạn xét xử vụ án hình sự
1.2.1 Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa
Pháp chế là việc thường xuyên nhất quán tuân thủ và chấp hành những quy địnhcủa Hiến pháp, các đạo luật và các văn bản pháp luật khác phù hợp với Hiến pháp,các đạo luật từ phía cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, mọi công dân Nội dung củanguyên tắc này được quy định trong Điều 12 Hiến pháp 1992 Nguyên tắc bảo đảmpháp chế xã hội chủ nghĩa được thể hiện bằng quy phạm “Mọi hoạt động tố tụng hình
sự của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải theo quy định của bộluật này”(Điều 2 BLTTHS).Theo đó, hoạt động xét xử vự án hình sự ở giai đoạn sơthẩm phải theo quy định của BLTTHS
Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa thể hiện trong vấn đề giới hạn xét
xử vụ án hình sự thông qua nội dung sau đây:
Trong tố tụng hình sự nguyên tắc đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa biểu hiện
ở chỗ cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án, những người tiến hành và tham gia tốtụng phải nghiêm chỉnh tuân thủ những quy định của BLTTHS Theo quy định củaHiến pháp, luật tổ chức Toà án nhân dân 2002 và luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
2002 Viện kiểm sát có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hànhquyền công tố nhằm bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thốngnhất còn toà án có chức năng xét xử Nhiệm vụ của toà án và viện kiểm sát vừa cóđiểm giống nhau vừa có điểm khác nhau Ngoài nhiệm vụ chung là bảo vệ pháp chế
Trang 7xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ tập thể của nhândân; bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh
dự và nhân phẩm của công dâm thì điều 2 Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm
2002 còn quy định viện kiểm sát có nhiệm vụ bảo đảm để mọi hành vi xâm phạm lợiích của Nhà nước; của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải xử lítheo pháp luật Thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình, sau khi nhận được bảnkết luận điều tra và đề nghị truy tố của cơ quan điều tra, viện kiểm sát xem xét vàquyết định truy tố bị can Tại phiên toà, viện kiểm sát giữ quyền công tố, thực hiệnviệc buộc tội, đề nghị kết tội bị cáo theo nội dung của quyết định truy tố hoặc có thểrút toàn bộ quyết định truy tố Nhưng viện kiểm sát không có quyền quyết định về tộiphạm và hình phạt của bị cáo Quyết định nhũng vấn đề này thuộc về toà án theo đúngnguyên tắc “không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của toà án đã có hiệulực pháp luật ” (Điều 9 BLTTHS) Thực hiện chức năng của mình, toà án xét xử các
bị cáo trong phạm vi quyết định truy tố của viện kiểm sát Như vậy giới hạn xét xử làmối quan hệ giữa viện kiểm sát - cơ quan nhân danh Nhà nước truy tố bị cáo ra trướctoà, thực hành quyền công tố và toà án - cơ quan thực hiện chức năng xét xử, đây làmối quan hệ chế ước cần thiết trong tố tụng hình sự để tránh việc lạm quyền và bảođảm cho tố tụng đạt hiệu quả Tóm lại việc tuân thủ quy định về giới hạn xét xử vụ ánhình sự chính là hoạt động đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa của cơ quan tiến hành
tố tụng, người tiến hành tố tụng
1.2.2 Nguyên tắc dân chủ và nhân đạo xã hội chủ nghĩa
Hoạt động tố tụng hình sự là hoạt động đặc thù của nhà nước mang bản chấp giaicấp và bản chất xã hội của Nhà nước Bởi vì hoạt động này được tiến hành vì lợi íchgiai cấp cầm quyền và lợi ích chung của xã hội Xuất phát từ bản chất Nhà nước ta lànhà nước của dân, do dân, vì dân nên các hoạt động tố tụng hình sự phải tuân theonguyên tắc dân chủ, nhân đạo XHCN Tù đó, quy định về giới hạn xét xử vụ án hình
sự cũng phải xuất phát từ lợi ích của con người chứ không thể vì lợi ích của nhà nước
Trang 8Là những nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc dân chủ và nhânđạo đòi hỏi pháp luật tố tụng hình sự về giới hạn xét xử phải thể hiện và bảo vệ đượcnhững giá trị xã hội với nội dung sau đây : Theo quy định về giới hạn của việc xét xửtrong BLTTHS thì toà án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh màviện kiểm sát truy tố; toà án không được xét xử những người chưa bị truy tố, khôngđược xét xử những hành vi của bị cáo theo tội danh không bị truy tố Toà án khôngđược xét xử theo tội danh nặng hơn so với tội danh mà viện kiểm sát truy tố Với quyđịnh như vậy giới hạn xét xử đã quy định theo hướng có lợi cho bị cáo, khiến cho việcxét xử của hội đồng xét xử sơ thẩm không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo
Do đó có thể nói quy định về giới hạn xét xử vụ án hình sự cũng xuất phát từ lợiích con người chứ không thể vì lợi ích của nhà nước, luôn luôn bảo vệ lợi ích hợppháp của công dân
1.2.3 Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo
Bào chữa là một trong những hoạt động đặc trưng của tố tụng hình sự, là hìnhthức biểu hiện ưu thế của công lý nhằm bảo đảm quyền dân chủ trong hoạt động tốtụng nói chung cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo nơi riêng Đểxây dựng một xã hội công bằng, văn minh thì yêu cầu đặt ra đối với các cơ quan tiếnhành tố tụng, trước hết là phải bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của những ngườitham gia tố tụng, trong đó không thể không kể đến quyền, lợi ích hợp pháp của bị can,
bị cáo
Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo được ghi nhận trong điều
132 Hiến pháp 1992, điều 11 BLTTHS, điều 9 Luật tổ chức toà án nhân dân 2002, thểhiện quan điểm mở rộng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền conngười của Đảng và Nhà nước ta Nguyên tắc này bảo đảm cho bị can, bị cáo được tựbào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa trước việc buộc tội của cơ quan nhà nước cóthẩm quyền Thực hiện nguyên tắc này, bị can, bị cáo, và người bào chữa của họ cóquyền đưa ra các chứng cứ và những yêu cần để chứng minh cho sự vô tội hoặc làm
Trang 9giảm trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo Còn nghĩa vụ chứng minh tội phạm luônluôn thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng Chính quá trình chứng minh này là quá trìnhtìm ra chân lí của vụ án để trên cơ sở đó xử lí người phạm tội.
Những chân lí của vụ án chỉ có thể được xác định khi quá trình chứng minh cóxem xét đánh giá mọi tình tiết, mọi ý kiến khác nhau bao gồm cả quan điểm buộc tội
và ý kiến bào chữa Nếu chỉ thiên về hướng buộc tội, không chú ý đến ý kiến bàochữa thì việc giải quyết vụ án đó phiến diện không khách quan Trong quá trình giảiquyết vụ án nếu toà án xét xử cả người chưa bị truy tố hoặc xét xử cả hành vi của bịcáo theo tội danh chưa bị truy tố thì toà án đã vi phạm nguyên tắc bảo đảm quyền bàochữa của bị can, bị cáo, tước đi quyền bào chữa của bị cáo, không cho họ có sự chuẩn
bị ý kiến bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Trong trường hợp này toà án xét
xử không có sự tranh luận giữa bên buộc tội và bào chữa nên không thể có cơ sở đểxác định đúng sự thật khách quan của vụ án
Theo quy định về giới hạn của việc xét xử trong BLTTHS thì toà án chỉ xét xửnhững bị cáo và những hành vi theo tội danh mà viện kiểm sát truy tố; toà án khôngđược xét xử những người chưa bị truy tố, không được xét xử những hành vi của bịcáo theo tội danh không bị truy tố Toà án không được xét xử theo tội danh nặng hơn
so với tội danh mà viện kiểm sát truy tố, như vậy trong trường hợp này toà án khôngđược làm xấu đi tình trạng của bị cáo, đây là những quy định có ý nghĩa rất lớn trongviệc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo Mặt khác thực hiện quy định trên đây, nếutại phiên toà mà phát hiện tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra thì toà
án ra quết định khởi tố vụ án đối với người mới, tội mới Việc toà án ra quyết địnhkhởi tố vụ án đối với người mới, tội mới chỉ là sự xác định cụ thể người nào có hành
vi phạm tội và cũng không xét xử người đó nên không vi phạm nguyên tắc bảo đảmquyền bào chữa của bị can, bi cáo
Điều 196 BLTTHS 2003 quy định Toà án chỉ được phép xét xử những bị cáo
và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Toà án đã quyết định đưa
Trang 10vụ án ra xét xử Viện kiểm sát truy tố bị can trước toà án bằng bản cáo trạng, theođoạn 3, khoản 1, điều 166, BLTTHS 2003 quy định trong mọi trường hợp, Viện kiểmsát đều phải giao cáo trạng cho bị can trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra cáo trạng,
ở đây bản cáo trạng giúp định hướng cho hoạt động bào chữa, bên bào chữa chỉ có thểbào chữa khi biết nội dung cụ thể của sự buộc tội Ngoài ra theo khoản 1 điều 182,BLTTHS 2003 thì quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được giao cho bị cáo, ngườiđại diện hợp pháp của họ và người bào chữa chậm nhất là mười ngày trước khi mởphiên toà, quy định này cáo ý nghĩa giúp bị cáo và người tham gia tố tụng có điềukiện thực hiện các quyền của mình như : đưa ra yêu cầu, đề nghị thay đổi người tiếnhành tố tụng sau khi nhận được quyết định đó
Với những ý nghĩa như trên, do đó khi quy định giới hạn của việc xét xử luônluôn xem xét đến mối quan hệ với nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bịcáo nếu không như vậy sẽ cho phép toà án được xét xử cả người, cả hành vi chưa bịviện kiểm sát truy tố, kết quả là biến toà án thành cơ quan vừa xét xử vừa buộc tội.Điều này trái với nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo
Kết luậnSau khi nghiên cứu từ (4) vấn đề: a) khái niệm giới hạn xét xử; b) đối tượng xét
xử của phiên toà sơ thẩm; c) phạm vi xét xử của phiên toà sơ thẩm; d) mục đích củagiới hạn xét xử Có thể đưa ra khái niệm khoa học: Giới hạn của việc xét xử là phạm
vi những khoản trong một điều luật, những tội danh, mà hội đồng xét xử sơ thẩmđược phép xét xử đối với những người, những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sáttruy tố và Toà án đã quyết định đưa ra xét xử nhằm bảo đảm pháp chế xã hội chủ
nghĩa và quyền bào chữa của bị can, bị cáo Những nguyên tắc áp dụng quy định giới
hạn xét xử vụ án hình sự bao gồm nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa,nguyên tắc dân chủ và nhân đạo xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc bảo đảm quyền bàochữa của bị can, bị cáo
Trang 11CHƯƠNG II NHỮNG QUY PHẠM PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ GIỚI HẠN XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
2.1 Những quy phạm của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về giới hạn xét xử vụ án hình sự
Khi xét xử vụ án hình sự, hội đồng xét xử phải căn cứ vào bản cáo trạng củaViện kiểm sát để xem xét, giải quyết vụ án về nội dung Hội đồng xét xử không giảiquyết những vấn đề mà Viện kiểm sát chưa đề cập trong bản cáo trạng Quy định cótính nguyên tắc này thể hiện rõ trong Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 vàThông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 8/12/1988 của Toà án nhân dân tối cao, Việnkiểm sát nhân dân tối cao Trong BLTTHS 1988, khi nói về giới hạn xét xử có quyđịnh tại điều 170 Giới hạn của việc xét xử:
“Toà án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm
sát truy tố và Toà án đã quyết định đưa ra xét xử.”
Như vậy, theo quy định trên thì việc xét xử của Toà án được hạn chế bởi 3 yếu tốlà: Toà án chỉ xét xử những bị cáo, những hành vi mà Viện kiểm sát truy tố; Toà ánchỉ xét theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố Đồng thời theo quy định của Điều 170BLTTHS 1988 thì Toà án chỉ được xét xử một vụ án đối với một con người cụ thể khi
có đủ các căn cứ sau:
Thứ nhất, người mà Toà án xét xử phải là người bị Viện kiểm sát truy tố bằngmột bản cáo trạng Trường hợp trong vụ án có đồng phạm vì lý do nào đó mà mộthoặc một số đồng phạm chưa bị truy tố thì Toà án cũng không có quyền xét xử đốivới kẻ đồng phạm đó Nếu qua việc xét xử tại phiên toà mà phát hiện được tội phạm
Trang 12hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra, thì Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tốhoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự (Điều 105, BLTTHS1988)
Thứ hai, Toà án chỉ được xét xử những hành vi của bị cáo mà đã bị Viện kiểmsát truy tố Còn những hành vi chưa bị Viện kiểm sát truy tố thì Toà án không đượcxét xử Hành vi phạm tội bị truy tố (bao gồm số lượng và tính chất của hành vi) khôngphải là hành vi chung chung mà là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong
Bộ luật hình sự Do vậy hành vi của bị cáo bị truy tố là những hành vi được quy địnhthành những tội danh cụ thể của Bộ luật hình sự Viện kiểm sát truy tố bị can trướctoà án bằng bản cáo trạng Cáo trạng là một trong bốn quyết định của Viện kiểm sátsau khi kết thúc điều tra Bản chất của bản cáo trạng là văn bản tố tụng hình sự, thểhiện quan điểm của Viện kiểm sát về tội trạng của bị can
Thứ ba, Toà án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử Quyết định đưa vụ án ra xét
xử là một trong bốn quyết định của Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà, sauthời gian nghiên cứu hồ sơ do pháp luật quy định Việc quyết đưa vụ án ra xét xửkhông có nghĩa là Toà án (Thẩm phán nghiên cứu hồ sơ đã ra quyết định đưa vụ án raxét xử) đồng nhất quan điểm với Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản của Bộ luậthình sự mà Viện kiểm sát đã viện dẫn trong cáo trạng
Trong trường hợp Toà án thấy cần xét xử bị cáo theo tội danh khác bằng hoặcnhẹ hơn tội danh mà Viện kiểm sát truy tố, hay Toà án thấy cần áp dụng khung hìnhphạt khác (nặng hơn hoặc nhẹ hơn) khung hình phạt theo tội danh mà Viện kiểm sáttruy tố thì theo hướng dẫn của Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 8/12/1988 của
Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao : “ Nếu xét thấy cần xét xử bị
cáo theo tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, hoặc
áp dụng khung hình phạt nhẹ hơn khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã đề nghị, thì Tòa án không phải báo trước cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng ”.
Ngoài ra, Toà án nhân dân tối cao còn hướng dẫn : “Toà án có quyền áp dụng khoảncủa điều luật có khung hình phạt nặng hơn khoản của điều luật mà Viện kiểm sát viện
Trang 13dẫn” Với những hướng dẫn trên thì Toà án có toàn quyền độc lập quyết định khunghình phạt (nặng hơn hoặc nhẹ hơn), chuyển tội danh khác (bằng hoặc nhẹ hơn) tộidanh, điều khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố Nếu Viện kiểm sát không thống nhấtvới quyết định của Toà án thì có quyền kháng nghị phúc thẩm
Còn việc giải quyết sự không thống nhất trong trường hợp Toà án cần xét xử bịcáo theo tội danh khác nặng hơn chưa được hướng dẫn triệt để; Tại Thông tư liênngành số 01/TTLN ngày 8/12/1988 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân
dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong BLTTHS, có quy định : “Trước
khi mở phiên tòa, nếu Tòa án thấy cần phải truy tố thêm người, thêm tội hoặc cần xét
xử bị cáo theo tội danh khác nặng hơn, thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát điều tra
bổ sung và thay đổi cáo trạng Trường hợp qua xét xử tại phiên tòa mới phát hiện được tội phạm mới hoặc người phạm tội mới thì Tòa án ra quyết định khởi tố vụ án
và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung Trong trường hợp Tòa án đề nghị Viện kiểm sát đổi tội danh nặng hơn và đã trao đổi mà Viện kiểm sá tkhông nhất trí, thì cả hai bên đều phải báo cáo ngay với cấp trên của mình Thủ trưởng hai cơ quan cấp trên cần trao đổi ngay để nếu thống nhất ý kiến thì hướng dẫn cấp dưới thi hành, nếu vẫn không thống nhất ý kiến thì Tòa án cấp dưới phải xét xử theo tội danh
mà Viện kiểm sát đã truy tố, không được tuyên là bị cáo không phạm tội mà Viện kiểm sát đã truy tố ” Trường hợp hai cơ quan Toà án và Viện kiểm sát bất đồng ý
kiến về đổi tội danh nặng hơn thì cơ bản được giải quyết thông qua sự thương lượnggiữa lãnh đạo của hai cơ quan đang thụ lí vụ án hoặc lãnh đạo của cơ quan cấp trên, ởđây đã có sự lẫn lộn giữa quan hệ hành chính và quan hệ tố tụng, dẫn đến việc giảiquyết vụ án không trên cơ sở pháp lý và điều này ảnh hưởng đến hiệu quả của tố tụnghình sự Mặt khác theo hướng dẫn của thông tư liên nghành thì nếu Thủ trưởng hai cơquan cấp trên không thống nhất ý kiến thì toà án cấp dưới phải xét xử theo tội danh
mà Viện kiểm sát đã truy tố, có nghĩa là Toà án không được xét xử bị cáo theo tộidanh nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, chính quy định này đã làm ảnh
Trang 14hưởng đến nguyên tắc xét xử độc lập của Toà án Vì độc lập xét xử của Toà án là căn
cứ vào quy định của pháp luật, vào các tài liệu, chứng cứ và các tình tiết của vụ án, cóquyền quyết định một cách độc lập về tội danh và lượng hình phạt
Điều 196 BLTTHS 2003 quy định Giới hạn của việc xét xử :
“Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm
sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử.
Toà án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy
tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố.”
So sánh điều 170 cũ và điều 196 mới thấy cả hai điều luật đều xác định Toà ánchỉ xét xử những bị cáo và những hành vi do Viện kiểm sát truy tố vì Viện kiểm sát
có truy tố thì Toà án mới xét xử được Vụ án chưa được điều tra, chưa được truy tố thìToà án chưa được xét xử Đó là sự phân định về trách nhiệm và quyền hạn của ba cơquan, cơ quan Điều tra, cơ quan Viện kiểm sát, cơ quan Toà án trong tổ chức tư pháp.Toà án là cơ quan xét xử nên có quyết định cuối cùng đối với việc xử lý vụ án Điều
196 đã quy định cụ thể hơn về quyền của Toà án, tức là :
* HĐXX được xét xử những bị cáo, những hành vi theo tội danh bằng hoặc nhẹhơn so với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố, về vấn đề này thì nghị quyết04/2004/NQ - HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ ba "Xét xử
sơ thẩm" của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 có quy định:
- Toà án có thể xét xử bị cáo về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Việnkiểm sát đã truy tố, có nghĩa là với những hành vi mà Viện kiểm sát truy tố, Toà án cóthể xét xử bị cáo về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố
Trang 15a Tội phạm khác bằng tội phạm mà Viện kiểm sát đã truy tố là trường hợp điềuluật quy định về trách nhiệm hình sự (hình phạt chính, hình phạt bổ sung) đối với haitội phạm như nhau.
Ví dụ: Bị cáo B bị Viện kiểm sát truy tố về tội “Vận chuyển trái phép chất matuý”, thì Toà án có thể xét xử bị cáo B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
b Tội phạm khác nhẹ hơn tội phạm mà Viện kiểm sátđã truy tố là trường hợpđiều luật quy định về trách nhiệm hình sự (hình phạt chính, hình phạt bổ sung) đối vớitội phạm khác nhẹ hơn so với tội phạm mà Viện kiểm sát đã truy tố Để xác định tộinào nhẹ hơn, tội nào nặng hơn thì cần thực hiện theo thứ tự như sau:
b.1 Trước hết xem xét hình phạt chính đối với hai tội phạm, nếu tội nào điềuluật có quy định loại hình phạt nặng nhất nặng hơn thì tội đó nặng hơn
Ví dụ: Đối với tội cố ý gây thương tích (Điều 104 của Bộ luật hình sự), điều luậtquy định loại hình phạt nặng nhất là tù chung thân, còn đối với tội giết người (Điều 93của Bộ luật hình sự), điều luật quy định loại hình phạt nặng nhất là tử hình; do đó, tộigiết người nặng hơn tội cố ý gây thương tích
b.2 Trong trường hợp điều luật quy định loại hình phạt nặng nhất đối với cả haitội là tù có thời hạn (không quy định hình phạt tử hình, hình phạt tù chung thân) thìtội nào, điều luật quy định mức hình phạt tù cao nhất đối với tội ấy cao hơn là tội đónặng hơn
Ví dụ: Đối với tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 97 của Bộluật hình sự), điều luật quy định mức hình phạt tù cao nhất là mười lăm năm, còn đốivới tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính(Điều 99 của Bộ luật hình sự), điều luật quy định mức hình phạt tù cao nhất là mườihai năm; do đó, tội làm chết người trong khi thi hành công vụ nặng hơn tội vô ý làmchết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính
Trang 16b.3 Trong trường hợp điều luật quy định loại hình phạt nặng nhất đối với cả haitội đều tử hình hoặc đều tù chung thân hoặc đều tù có thời hạn và mức hình phạt tùcao nhất đối với cả hai tội như nhau, thì tội nào điều luật quy định mức hình phạt tùkhởi điểm cao hơn là tội đó nặng hơn.
Ví dụ: Đối với tội hiếp dâm (Điều 111 của Bộ luật hình sự) và đối với tội hiếpdâm trẻ em (Điều 112 của Bộ luật hình sự), điều luật đều quy định hình phạt tử hình,hình phạt tù chung thân và hình phạt tù có thời hạn có mức cao nhất là hai mươi năm,nhưng mức hình phạt tù khởi điểm đối với tội hiếp dâm là hai năm, còn đối với tộihiếp dâm trẻ em là bảy năm; do đó, tội hiếp dâm trẻ em nặng hơn tội hiếp dâm
b.4 Trong trường hợp điều luật quy định loại hình phạt nặng nhất đối với cả haitội đều là tù có thời hạn và mức hình phạt tù khởi điểm, mức hình phạt tù cao nhấtnhư nhau, thì tội nào điều luật còn quy định loại hình phạt chính khác nhẹ hơn (cải tạokhông giam giữ, phạt tiền, cảnh cáo) thì tội đó nhẹ hơn Nếu điều luật cùng quy địnhcác loại hình phạt như nhau, nhưng có mức cao nhất, mức khởi điểm khác nhau thìviệc xác định tội nặng hơn, tội nhẹ hơn được thực hiện tương tự như hướng dẫn tạicác điểm b.2 và b.3 tiểu mục 2.2 mục 2 Phần II của Nghị quyết này
b.5 Trong trường hợp điều luật quy định các loại hình phạt chính đối với cả haitội như nhau, thì tội nào điều luật còn quy định hình phạt bổ sung là tội đó nặng hơn.Nếu điều luật cùng quy định hình phạt bổ sung như nhau, nhưng đối với tội này thìhình phạt bổ sung là bắt buộc, còn đối với tội khác hình phạt bổ sung có thể áp dụng,thì tội nào điều luật quy định hình phạt bổ sung bắt buộc là tội đó nặng hơn
* HĐXX có thể xét xử theo khung khép ( khung nặng hơn hoặc khung nhẹ hơn,trong một điều luật nói chung thường có nhiều khoản còn có thể gọi là khung hìnhphạt nếu đó là điều luật quy định các tội phạm cụ thể trong bộ luật hình sự) nhưngphải cùng một tội danh mà Viện kiểm sátđã truy tố, tại nghị quyết 04/2004/NQ -