Đây là việc làm cấp thiết hiện nay của ngành giáo dục và của xãhội được Đảng và nhà nước quan tâm và ban hành thành luật điều 24.2- Luật giáo dục : “Phương pháp giáo dục phổ thông phải p
Trang 1PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
1
LÝ DO VỀ TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Bước vào thế kỉ XXI cuộc cách mạng khoa học công nghệ tiếp tục phát triểnvới bước nhảy vọt, trở thành động lực đầu tàu cho sự phát triển kinh tế xã hộiđưa loài người bước sang một thời đại văn minh mới mà nền tảng của nó là vănminh tri thức
Việt Nam là một nước thuộc khu vực Châu Á- Thái Bình Dương “điểm nóng” của thế giới, là khu vực phát triển năng động, có tốc độ tăng trưởng kinh
tế cao và ổ định Điều đó đặt đất nước ta đứng trước cơ hội và thách thức mớitrong xu thế quốc tế hóa toàn cầu, cạnh tranh, hội nhập hoá kinh tế quốc tế màcốt lõi là trí tuệ loài người - nền văn minh trí tuệ, đồng thời cũng tác động mạnh
mẽ đến nền kinh tế xã hội nước ta
Ngày nay sức mạnh của một quốc gia không chỉ đo bằng giá trị thặng dư, bằngnguồn ngoại tệ và những toà nhà cao chọc trời, sức mạnh tiềm lực ấy được đobằng tri thức, bằng nội lực chất xám được thể hiện qua mặt bằng giáo dục, trình
độ dân trí Do đó Đảng ta đó nhận định: “Cùng với khoa học và công nghệ cần phải đưa giáo dục thành quốc sách hàng đầu trong công cuộc phát triển đất nước Giáo dục phải trở thành chiến lược quốc gia, nâng cao dân tri, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Giáo dục phải đào tạo những con người có trình độ cao về tri thức, phát triển cao về trí tuệ, thích ứng nhanh với
sự phát triển mạnh mẽ của xã hội” Đảng ta cũng chỉ rõ giáo dục “phải đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đến năm 2010 nước ta cơ bản trở thành nước CNH- HĐH” ( trích văn kiện đại hội Đảng 9 ).
Sự nghiệp CNH- HĐH đất nước muốn thành công đòi hỏi người Việt Namphải có năng lực mới, có kiến thức, có thể chất tinh thần phong phú, đạo đứctrong sáng mới có khả năng tham gia giúp sức vào công cuộc xây dựng nước nhà
Trang 2mới là động lực của sự phát triển đáp ứng mọi yêu cầu của xã hội cả về nhâncách và tài năng Đó là nguồn nhân lực cần thiết giúp Việt Nam có thể đi tắt, đónđầu, rút ngắn khoảng cách lạc hậu so với các nước phát triển trong khu vực vàtrên trế giới Giáo dục Đào tạo phải được ưu tiên, phải đi trước đón đầu cho sựphát triển
Vậy làm thế nào để người Việt Nam đáp ứng được nhu cầu của sự phát triển
xã hội Tiếp thu tri thức, làm chủ tri thức trong thời đại bùng nổ thông tin Điều
đó đặt ra cho ngành giáo dục đào tạo nước ta nhiệm vụ mới – thay đổi phươngpháp dạy học Đây là việc làm cấp thiết hiện nay của ngành giáo dục và của xãhội được Đảng và nhà nước quan tâm và ban hành thành luật điều 24.2- Luật
giáo dục : “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động sáng tạo cho học sinh phù hợp với đặc điểm của từng môn học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn tác động đến tình cảm đem lại nguồn vui hứng thú trong học tập cho học sinh”.
Hiện nay nước ta đã và đang tiến hành cuộc cách mạng trong giáo dục, nộidung, chương trình giảng dạy đó được đổi mới, chất lượng bước đầu đó được
cải thiện theo phương châm: “cơ bản, hiện đại mà hài hòa phù hợp với thực tiễn Việt Nam” (Nghị định 02/2003 của chính phủ) Điều đó đặt ra cho giáo dục
nhiều vấn đề cần phải giải quyết: Vấn đề truyền thống- hiện đại, vấn đề toàn cầuquốc gia và cá thể Để đáp ứng sự phát triển hiện nay Giáo dục Đào tạo nước taphải đổi mới và hiện đại hóa không chỉ về phương pháp dạy học mà còn đổi mới
cả về nội dung và phương tiện dạy học trên nền tri thức khoa học - công nghệmới tiên tiến và hiện đại hóa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, giáo dục phảitiếp thu bằng nhiều cách khác nhau, và bằng chính thái độ chủ động, tích cựcsáng tạo của người học
Trong công cuộc cách mạng về giáo dục, quan trọng hơn cả là sự đổi mới vềphương pháp Giáo dục được cải tiến theo xu hướng phát triển của phương pháp
Trang 3dạy học hiện đại: chuyển từ dạy học lấy giáo viên làm trung tâm sang dạy họclấy học sinh làm trung tâm hợp lí hơn là đặt người học vào trung tâm của quátrình dạy học, coi học sinh là trung tâm của nhà trường Giáo dục phải chuyển từ:
“cung cấp kiến thức” sang mục đích “luyện cách tự mình tìm ra kiến thức”
bằng con đường tự học, tự nghiên cứu, tự trao dồi kiến thức trong sự cạnh tranh
và bùng nổ thông tin của thời đại, sự tư duy năng động sáng tạo nổi nên hàngđầu Vì vậy, giáo dục phải đề cao việc rèn óc thông minh sáng tạo, giảm sự: nhồinhét, bắt trước, ghi nhớ Giáo viên từ vị trí truyền thụ kiến thức chuyển sang vịtrí người hướng dẫn để học trò tự tìm kiến thức, còn học trò từ vị trí thụ độngtiếp thu kiến thức phải trở thành người chủ động tìm học, tự học, tự nghiên cứu
và trau dồi kiến thức Theo nhà giáo người Đức Disterverg đã nói : “Người thầy tồi truyền đạt chân lý, người thầy giỏi dạy cách tìm ra chân lý” Đổi mới
phương pháp dạy học nói chung phải phát huy tính tích cực trong dạy học, tíchcực hóa hoạt động của ngời học Qúa trình giáo dục là một qúa trình nhận biết -thuyết phục - vận dụng để tiếp thu những kiến thức mới từ chưa biết, chưa biếtsâu sắc đến biết sâu sắc, biết sâu sắc để vận dụng vào thực tế, phải biết kết hợpgiữa học đi đôi với hành, học hành phải kết hợp với nhau, học với hành ở mọilúc mọi nơi, lí thuyết phải gắn với thưc tế Người giáo viên phải thực hiện chủtrương đưa hơi thở của cuộc sống vào nội dung bài giảng, phải cập nhật thông tinthường xuyên liên tục đổi mới nội dung, phương pháp phù hợp với sự phát triển,những biến đổi to lớn của thời đại
Mỗi giáo viên cần tự xây cho mình một phong cách tự học thích hợp với nộidung bài học không thể dạy học theo kiểu dạy chay, và biến thầy giáo thành thợdạy nhất là dạy các môn khoa học ứng dụng các phương pháp dạy học tích cựchóa người học nâng cao chất lượng dạy và học
Hơn nữa địa lí trong trường THCS là môn khoa học có vị trí quan trọng trong
hệ thống giáo dục đào tạo góp phần trang bị cho thế hệ trẻ - đội ngũ những người
Trang 4hệ thống về tự nhiên, KT - XH sẽ là cơ sở để tiếp thu những vấn đề ứng dụngtrong sản xuất, có ý thức về vấn đề, tài nguyên, dân số, bảo vệ môi trường sống
ở mỗi cộng đồng Là một giáo viên dạy môn địa lí ở trường THCS, qua việcgiảng dạy đặc biệt qua việc nghiên cứu bộ môn và yêu cầu thực tiễn trong việcdạy học hiện nay đó là phải không ngừng phát huy tính tích cực của HS, tạohứng thú học tập cho học sinh tiếp thu kiến thức, chủ động, khoa học
Với mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc đổi mới phương pháp dạy học nóichung và dạy học môn địa lí nói riêng, nhằm nâng cao chất lượng dạy và họcmôn địa lí, đào tạo những con người yêu lao động có vốn hiểu biết sâu sắc về tụnhiên, dân cư, KT _ XH của đất nước nói riêng và các quốc gia trên toàn thế giới
… Dựa vào nhận thức đó tôi đã lựa chọn nghiên cứu các phương pháp dạy họcphù hợp để tổ chức hoạt động dạy học cho học sinh
Trên đây là vài suy nghĩ của tôi về: “Lập sơ đồ, lập bảng trong việc giảng dạy một số bài địa lí” đã đợc áp dụng trong các bài học của môn sinh địa lí – trường
THCS Với hy vọng được sự trao đổi, đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Rèn cho HS kĩ năng hệ thống hoá, khái quát hoá các đơn vị kiến thứctrong một số bài địa lí qua các sơ đồ, bảng biểu Tích cực hoá các hoạt động họctập của học sinh đáp ứng nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học
3 KẾT QUẢ CẦN ĐẠT
- Hệ thống cơ sở lí luận về tổ chức các hoạt động học tập trong dạy học chươngtrình địa lí - THCS để học sinh tự lĩnh hội kiến thức
- Đề xuất các biện pháp tổ chức học tập học trong dạy học địa lí-THCS
- Thiết kế một vài hoạt động có áp dụng việc lập sơ đồ, lập bảng trong một sốbài địa lí
Trang 54 ĐỐI TƯ ỢNG – PHẠM VI
a Đối tượng
Nghiên cứu việc lập sơ đồ, lập bảng trong việc giảng dạy một số bài địa lí
- THCS và ảnh hưởng của phương pháp tới sự hình thành, chiếm lĩnh kiến thứccủa học sinh
Khoa học địa lý là một bộ môn khoa học có đặc trưng riêng kiến thức vừa
cụ thể vừa trừu tượng để bài dạy có hiệu quả thì chúng ta đang cố gắng biếnnhững lí thuyết trừu tượng thành những dấu hiệu cụ thể, trực quan nhằm giúphọc sinh dễ dàng hình dung hơn, từ đó dễ nắm bắt được những nội dung kiếnthức Hơn nữa chúng ta muốn học sinh không chỉ nắm chắc những đơn vị kiếnthức rời rạc, biệt lập khác so sánh đối chiếu thấy được sự khác nhau giữa các đơn
vị kiến thức, không chỉ biết từng cây mà phải thầy toàn bộ cánh rừng Nghĩa làhọc sinh phải biết xâu chuỗi các đơn vị kiến thức trong các bài học lại với nhau
và khái quát hoá thành những vấn đề chung nhất, bao trùm nhất dễ dàng tìm ranhững điểm giống và khác nhau nhất Một trong những phương tiện hữu hiệugiúp học sinh trực quan hoá nội dung học tập, cũng như giúp các em có được cáinhìn chung khái quát toàn bộ các đơn vị kiến thức trong mối quan hệ vốn rấtnhiều chiều, theo nhiều tầng bậc khác nhau của nội dung học tập chính là lập sơ
đồ, lập bảng so sánh
II CƠ SỞ THỰC TIỄN
Trong SGK Địa lí 7 năm 2003, lập sơ đồ và lập bảng đã được các tác giả
sử dụng trong việc biên soạn một số bài tập Ví dụ: Lập sơ đồ bài tập 2 SGKtrang 28, bài tập 1 trang 35, bài tập 3 trang 52, bài 3 trang 73; lập bảng bài tập 3trang 84, bài 1 trang 104, bài 2 trang 108 Trong SGK Địa lý 8 việc lập sơ đồ vàlập bảng cũng được các nhà biên soạn sử dụng thường xuyên và đa dạng Ví dụ:
Trang 6yếu dùng cho mục đích củng cố và luyện tập Nhờ có những sơ đồ và bảng sosánh này học sinh vừa hiểu được những đơn vị kiến thức cần nhớ, vừa hiểu đượcmột cách rõ ràng, cụ thể mối quan hệ giữa những đơn vị kiến thức đó Tuy nhiên,
số lượng sơ đồ, bảng so sánh trong SGK chưa nhiều, đặc biệt với dạng bài ôntập Đây là dạng bài trong cấu trúc biên soạn SGK không có nhưng trong phânphối chương trình lại có bài ôn tập Cho nên việc khái quát hoá nội dung một sốbài học trong SGK Địa lí 7 bằng phương pháp lập sơ đồ hoặc lập bảng là tươngđối phù hợp Bởi vậy trong bài viết này, tôi mạnh dạn sử dụng những phươngpháp này để tóm tắt nội dung một số bài học với mong muốn trao đổi, tham khảo
ý kiến tìm ra phương pháp hỗ trợ cho việc dạy học Địa lí đạt hiệu quả cao hơn
III THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨ U VÀ TỔNG KẾT KINH
NGHIỆM
1 Về cách lựa chọn nội dung kiến thức để lập sơ đồ, lập bảng
Trong dạy học Địa lí, giáo viên có thể lập sơ đồ, lập bảng cho nội dungmột bài học, cũng có thể lập chung cho một chuỗi bài nhất định Việc lập sơ đồ
và lập bảng chủ yếu được sử dụng đối với những bài có lượng kiến thức tươngđối nhiều và mối quan hệ giữa các đơn vị kiến thức cần được tường minh hoámột cách cụ thể để giúp học sinh nắm bài chắc hơn sâu hơn Phương pháp này
phù hợp trong việc dạy một chuỗi bài, đặc biệt trong việc Tổng kết một phần
hoặc một chương Nhưng như thế không có nghĩa là bất kì chuỗi bài nào trong
SGK Địa lí mới cũng có thể áp dụng phương pháp này Để có thể đưa vào một
sơ đồ hay một bảng hệ thống thì bài học đó Chuỗi bài đó phải có điểm chungnào đó để tập chung chúng vào hệ thống Không quy về được điểm chung ấy,không thể lập thành sơ đồ hoặc bảng hệ thống được Nói một cách khác muốnlập sơ đồ hay bảng, chuỗi bài đó phải có số lượng các yếu tố nhất định (ít nhấtphải từ hai trở lên) và giữa các yếu tố vừa phải có quan hệ đồng nhất, vừa phải
có quan hệ khác biệt Ví dụ: Các bài “Môi trường xích đạo ẩm”, “Môi trườngnhiệt đới”, “Môi trường nhiệt đới gió mùa” có thể lập thành một sơ đồ trong mỗibài, cho cả 3 bài, hoặc thành bảng cho bài ôn tập Vì các bài học này vừa đảm
Trang 7bảo đủ số lượng tối thiểu là hai yếu tố (Khí hậu và sinh vật, các đặc điểm kháccủa môi trường) vừa đảm bảo quan hệ đồng nhất yếu tố (là đặc điểm tự nhiên củacác môi trường địa lí thuộc đới nóng) lẫn quan hệ khác biệt (đặc điểm riêng vềkhí hậu, về sinh vật) Hay khi dạy tiết 27 – “ôn tập chương II, III, IV, V ” có thểlập thành bảng hệ thống kiến thức, bởi các bài học từ chương II đến chương V có
đủ số lượng các yếu tố lập thành bảng như: Khí hậu, sinh vât, hoạt động kinh tếcủa con người, các vấn đề của từng môi trường, và các yếu tố ấy lại lấy “Môitrường địa lí trên Trái Đất” làm trung tâm tạo thành mối quan hệ đồng nhất giữacác yếu tố Trong khi đó mỗi yếu tố lại thể hiện những mặt khác nhau của từngkiểu loại môi trường địa lí đã tạo lên mối quan hệ khác biệt giữa chúng Nhưvậy, việc lập sơ đồ hay không và lập như thế nào chỉ phù hợp là tuỳ thuộc vàoviệc giáo viên chọn yếu tố nào (hay đơn vị kiến thức nào, bài học nào) và xácđịnh đúng được mối quan hệ giữa yếu tố đó
2 Lập sơ đồ, lập bảng cho một số nội dung bài học trong SGK Địa Lý mới 2.1.Lập bảng kiến thức cho một phần bài học
Bài 3: Quần cư – Đô thị hoá.
Phần 1: Quần cư nông thôn và quần cư đô thị
Hai kiểu quẩn cư này có một điểm giống nhau là sự tập trung dân cư sốngquy tụ ở một nơi, một vùng nhất định Mỗi quần cư lại có một đặc điểm khácnhau về cách thức tổ chức sinh sống, về mật độ dân số, lối sống, hoạt động kinh
tế Ta có thể đưa những vấn đề này vào cùng một bảng so sánh
Các yếu tố Quần cư nông thôn Quần cư đô thị
Cách tổ chức
sinhsống
Nhà cửa xen ruộng đồng,tập hợp thành làng xóm
Nhà cửa xây thành phốphường
Lối sống
Dựa vào truyền thống giađình, dòng họ, làng xóm,
có phong tục tập quán, lễhội cổ truyền
Cộng đồng có tổ chức, Mọingười tuân thủ theo phápluật, quy định và nếp sốngvăn minh, trật tự, bình đẳng.Hoạt động kinh Sản xuất nông, lâm ngư Sản xuất công nghiệp, dịch
Trang 8tế nghiệp vụ.
Tương tự cách lập này chúng ta có thể lập bảng cho bài 32 - tuần 19 về
“Các khu vực của châu phi” – Khu vực Bắc Phi và Trung Phi
Khí hậu Ẩm ướt, lùi sâu vào lục địa
khí hậu khắc nghiệt hơn
Nóng ẩm mưa nhiềuNhiệt đới
Cảnh quan thiên
nhiên Xa van và cây bụi phát triển
Rừng rậm xanh quanh năm.Rừng thưa, xa van phát triển+ Đặc điểm kinh tế xã hội
Trang 9Kinh tế
Tương đối phát triển, chủyếu dựa vào khai thác dầukhí và du lịch
Nghèo nàn, chủ yếu dựa vàotrồng trọt, chăn nuôi, khaithác lâm sản, khoáng sản,trồng các cây công nghiệpxuất nhập khẩu
Bài 28: địa lý 9 phần II: Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên
thiên nhiên
Đặc điểm nổi bật Gía trị kinh tế
Đất Ba dan: 1,36 triệu ha Thích hợp cho việc trồng cây
công nghiệp như cà phê, caosu…
Rừng Gần 3 triệu ha rừng tự nhiên Thích hợp cho phát triển ngành
lâm nghiệp và nghề rừngKhí hậu Cận xích đạo, khí hậu cao
nguyên mát mẻ
Thích hợp trồng nhiều loài câynhư hoa, rau quả ôn đới và đặcbiệt là cây công nghiệp
Nước Nguồn nước phong phú rồi rào Thuận lợi phát triển thuỷ điện
và tưới tiêuKhoáng sản Bô xít có trữ lượng lớn hơn 3 tỉ
2.2 Lập bảng cho bài thực hành về nhận biết đặc điểm môi trường tự nhiên
Ví dụ: Thực hành nhận biết đặc điểm môi trường đới nóng
Bài 12: Có 3 ảnh về các kiểu môi trường đới nóng, xác định từng ảnh
thuộc kiểu môi trường nào?
Trang 10Ảnh
Chủ đề Hoang mạc Xavan đồng cỏ Có nhiểu tầng cây rậm
rạp xanh tốtĐặc điểm khí hậu Khô nóng Nóng, mưa ít Ẩm, mưa nhiều
Tên môi trường Hoang mạc Nhiệt đới Xích đạo ẩm
Tương tự ta có thể lập bảng cho bài tập 2 và bài tập 4
2.3 Lập bảng cho bài ôn tập
Ví dụ: Bài ôn tập chương II, III, IV, V (Tuần 14)
Bài ôn tập này tổng kết lại toàn bộ kiến thức của các kiểu môi trường địa lí(Trừ môi trường đới nóng đã ôn tập ở tiết 13) để học sinh có thể hình dung radung lượng kiến thức khá lớn Chúng ta có thể lập sơ đồ tổng quát
Sau đó, hướng dẫn học sinh lập bảng ôn tập trên cơ sở chi tiết hoá sơ đồ
Các môi trường địa lí
Môi trường
đới nóng
Môi trường đới ôn hoà
Môi trường đới lạnh
Môi trường hoang mạc
Môi trường vùng núi
Trang 111 Môi
trường
xích đạo
ẩm
Nhiệt độ nóng quanh năm ít
dao động, ở mức cao trên
25oC Lượng mưa nhiều,
tháng nào cũng có mưa trung
Chủ yếu là thú leo trèo
và chim chuyền cành
+ Canh tácnôngnghiệp
+ Làmnương rẫy
+ Thâmcanh lúanước
+ Sản xuấtnông sảnhàng hoá
Xóimònđất suygiảmdiệntíchđấtrừng
Mùa mưa xanh tốt,mùa khô héo úa
- Càng gần chí tuyếnthực vật càng nghèonàn: Từ rừng thưa =>
Xavan => nửa hoangmạc
Trang 12Có 2 lần nhiệt độ tăng cao
lúc mặt trời đi qua thiên
đỉnh
Đất Feralit dễ bị xóimòn nếu không đượccanh tác hợp lí
Trồng nhiều loại câylương thực cây CN
- Một số cây rụng lámùa khô
- Trồng nhiều cây CN,cây lương thực
-Tập trung nhiều độngvật cả trên cạn, dướinước