2.CƠ SỞ KHOA HỌC Thấy được những nhược điểm của phương pháp dạy học Ngữ văn theo cách truyền thống, tôi nhận thấy phải nhanh chóng đổi mới phương pháp dạy học theo xu thế chung và việc
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC HUYỆN HOÀI ĐỨC
TR Ư ỜNG THCS AN TH Ư ỢNG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Đ
ộc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên đề tài:
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP SO SÁNH ĐỐI CHIẾU
TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN 7
Người thực hiện :
Tổ : Khoa học xã hội.
Trình độ chuyên môn :
Năm học: 2007 – 2008
Trang 2CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Đ
ộc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Họ và tên:
Ngày tháng năm sinh:
Năm vào ngành:
Chức vụ và đơn vị công tác:
Trình độ chuyên môn:
Hệ đào tạo: Chính quy
Bộ môn giảng dạy:
Khen thưởng :
Trang 3
- -A - NỘI DUNG ĐỀ TÀI.
Tên đ ề tài :
“Sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu trong
dạy - học Ngữ văn 7”
A.LÍ DO CHỌN Đ Ề TÀI
1.CƠ SỞ THỰC TIỄN
Trong những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học đã trở thành yêu cầu thiết yếu của mọi hoạt động giáo dục Trên cơ sở tiếp thu những thành tựu mới của lí luận dạy học hiện đại của thế giới, các nhà nghiên cứu lí luận dạy học Việt Nam đã nghiên cứu và đưa ra các định hướng đổi mới về phương pháp dạy học “thống nhất theo tư tưởng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh, dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên” Học sinh tự giác, chủ động tìm tòi, phát hiện kiến thức, tìm hiểu vấn
đề và có ý thức vận dụng linh hoạt, sáng tạo các kiến thức, kĩ năng đã thu nhận được
Xuất phát từ nhận thức cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học
ấy, là giáo viên trực tiếp tham gia giảng dạy, tôi luôn có những băn khoăn, trăn trở nên sử dụng các hình thức dạy học như thế nào đặc biệt là những hình thức dạy học mới cho phù hợp với phương pháp dạy học hiện đại và để
có được những giờ dạy đạt hiệu quả cao nhất
2.CƠ SỞ KHOA HỌC
Thấy được những nhược điểm của phương pháp dạy học Ngữ văn theo cách truyền thống, tôi nhận thấy phải nhanh chóng đổi mới phương pháp dạy học theo xu thế chung và việc đổi mới đó đã được thực hiện tích cực trong những năm gần đây
Với đặc trưng của môn Ngữ văn việc áp dụng phương pháp dạy học mới với các hình thức dạy học sáng tạo đòi hỏi người giáo viên phải tâm huyết để có được những tìm tòi, sáng tạo phù hợp với đặc trưng bộ môn và với từng phân môn
Dạy - học Ngữ văn được coi là môn học khó trong xã hội hiện đại Trong thực tế tâm lí học sinh rất ngại học Ngữ văn do các em có điều kiện
Trang 4tiếp xúc với các phương tiện thông tin hiện đại đem lại nguồn thông tin nhanh chóng Từ đó các em nảy sinh tâm lí ngại đọc văn và học Ngữ văn Tuy nhiên, các phương tiện thông tin nhanh thường mang lại cho các em những kiến thức rất hời hợt và không mang lại hiệu quả giáo dục cao Vì thế việc dạy học Ngữ văn trong nhà trường vẫn giữ một vai trò rất quan trọng trong quá trình giáo dục và hình thành nhân cách cho các em
Từ thực tế đó tôi càng nhận thức được rõ hơn tầm quan trọng của yêu cầu đổi mới phương pháp và hình thức dạy học Ngữ văn nhằm khắc phục những nhược điểm của bộ môn và khơi dậy ở các em lòng yêu thích bộ môn giàu tính nhân văn này
Trong quá trình dạy học ngữ văn tôi nhận thấy việc áp dụng phương pháp dạy học mới với các hình thức dạy học của nó đã đem lại những hiệu quả rõ rệt khiến các em tránh được tâm lí ngại học và yêu thích bộ môn này hơn
Tuy nhiên việc áp dụng các hình thức dạy học mới vào quá trình giảng dạy vẫn còn nhiều khó khăn đòi hỏi tôi phải tiếp tục tìm tòi vận dụng các phương pháp và hình thức mới để việc dạy học có được những kết quả khả quan hơn
B.QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN Đ Ề TÀI I.KHẢO SÁT THỰC TẾ
Từ đầu năm học 2008 – 2009, trong các buổi họp bộ môn Ngữ văn chúng tôi đã họp và bàn luận về việc tiếp tục áp dụng các hình thức dạy học mới đối với bộ môn Ngữ văn Riêng tôi nhận thấy để áp dụng được các hình thức dạy - học mới đối với môn Ngữ văn đòi hỏi người giáo viên phải tích cực đầu tư thời gian nghiên cứu, tìm hiểu bài dạy để vận dụng các hình thức dạy - học mới một cách thích hợp Như vậy thì mới có thể giúp học sinh có hứng thú với bộ môn đồng thời giúp học sinh khắc sâu, nhớ lâu kiến thức và tránh được tâm lí ngại học Ngữ văn
Từ thực tế đó, trong năm học này tôi đã tích cực hơn trong việc sử dụng các hình thức dạy - học mới đối với bộ môn của mình, đặc biệt chú ý đến việc “Sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu trong dạy học Ngữ văn 7”
Trang 5Tỡnh hỡnh thực tế khi thực hiện
Năm học 2008 – 2009 tụi được phõn cụng đảm nhiệm giảng dạy mụn Ngữ văn ở hai lớp 7A và 7C
* Qua bài khảo sát đầu năm, tỉ lệ học sinh đạt kết quả nh sau:
Loại
Tổng số
Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém Số
lợng %
Số lợng %
Số lợng %
Số lợng %
Số lợng % 7A 41 2 5 20 49 17 34 2 5 0 0 7C 34 0 0 5 15 18 59 9 26 2 6
II.NỘI DUNG ĐỀ TÀI
1.Phạm vi ỏp dụng.
Phương phỏp so sỏnh đối chiếu cú thể được sử dụng rộng rói ở nhiều mụn học Đối với riờng bộ mụn Ngữ văn nú cũng cú thể được ỏp dụng ở cả ba phõn mụn Văn, Tiếng Việt và Tập làm văn nhưng việc ỏp dụng phải được nghiờn cứu để vận dụng vào những bài học thớch hợp Vậy loại bài học nào
là phự hợp để ỏp dụng phương phỏp này? Qua kinh nghiệm giảng dạy chỳng tụi nhận thấy phương phỏp này cú thể ỏp dụng với những loại bài học sau:
- Phương phỏp so sỏnh đối chiếu rất phự hợp ỏp dụng với những bài học
cú cỏc đơn vị kiến thức cú nột tương đồng mà học sinh dễ nhầm lẫn Hiện tượng thường gặp ở những bài này khi giỏo viờn chưa giỳp học sinh phõn biệt rạch rũi được cỏc đơn vị kiến thức là học sinh khụng biết đõu là đỳng, đõu là sai, khụng biết đặc điểm nào thuộc nội dung nào Vỡ thế dẫn đến sự lỳng tỳng trong việc vận dụng vào thực tế hoặc vận dụng sai
- Tương tự như vậy, ta cũng cú thể ỏp dụng phương phỏp này trong cỏc bài học cú những đơn vị kiến thức hoàn toàn đối lập Ở những bài học này nếu khụng ỏp dụng cũng khụng đến nỗi đem lại hiệu quả khụng tớch cực như
ở trờn nhưng cú thể thấy rừ là hiệu quả bài dạy khụng được cao
2.Yờu cầu
- Giỏo viờn phải nghiờn cứu bài dạy kĩ càng trước khi ỏp dụng để việc thực hiện đạt hiệu quả cao Nếu giỏo viờn cứ chạy theo hỡnh thức của việc ỏp dụng cỏc hỡnh thức dạy học mới mà khụng quan tõm đến hiệu quả đớch thực
Trang 6thỡ việc vận dụng sẽ khụng đem lại hiệu quả như mong muốn, thậm chớ cũn gõy ảnh hưởng xấu đến hiệu quả giờ học
- Giỏo viờn phải nghiờn cứu để tỡm ra hệ thống cõu hỏi phự hợp nhằm dẫn dắt học sinh phỏt hiện kiến thức và đi đến kiến thức cần rỳt ra sau khi so sỏnh đối chiếu
- Đối với những tiết học mà phạm vi so sỏnh khụng ở cựng phạm vi bài học, giỏo viờn cần yờu cầu cỏc em xem lại hoặc chuẩn bị (những kiến thức mà mỡnh định sử dụng để so sỏnh) trước ở nhà thỡ việc vận dụng mới đạt hiệu quả cao Trỏnh tỡnh trạng mất thời gian nhớ lại kiến thức cũ làm ảnh hưởng đến tiến trỡnh giờ dạy
3 Ư u - nh ư ợc đ iểm
a.Ư u đ iểm :
- Qua kinh nghiệm thực tế chỳng tụi nhận thấy rằng những bài học được
ỏp dụng phương phỏp này một cỏch phự hợp đó đem lại những hiệu quả hết sức rừ rệt Với hệ thống cõu hỏi phự hợp chỳng tụi giỳp học sinh nhận ra những đặc điểm của từng đơn vị kiến thức khỏc nhau từ dễ đến khú Từ đú phỏt huy được tớnh tớch cực của học sinh Cỏc em chủ động tỡm tũi cỏc đặc điểm của từng đơn vị kiến thức sau đú rỳt ra kết luận nhờ sự gợi ý của giỏo viờn Và nhờ đú mà học sinh nắm bắt kiến thức nhanh và nhớ được lõu hơn, kiến thức được đào sõu hơn
- Sau khi ỏp dụng kiến thức này vào một số bài học và kiểm tra lại, kết quả cho thấy kiến thức hỡnh thành từ phương phỏp này được học sinh ghi nhớ là rừ ràng, trỏnh được những nhầm lẫn giữa đơn vị kiến thức này với đơn vị kiến thức khỏc tương tự và trỏnh được nhầm lẫn khi vận dụng vào thực tế
b.Nh ư ợc đ iểm :
- Do đặc điểm của từng bài dạy, hỡnh thức này khụng được ỏp dụng thường xuyờn dẫn đến kĩ năng thực hành của học sinh đụi khi cũn lỳng tỳng
- Học sinh yếu thấy khú hay nản dẫn đến khụng hiểu bài
4.Vận dụng vào thực tế dạy học
a Đối với phần văn bản Văn học.
Ví dụ 1: Trong văn bản “Cổng trờng mở ra” để làm nổi bật tâm
trạng của ngời mẹ vào đêm trớc ngày khai trờng của con tôi đã cho học sinh tìm trong văn bản những chi tiết cho thấy tâm trạng của mẹ và con vào đêm
Trang 7trớc ngày khai trờng.Từ đó, giúp học sinh cảm nhận đựơc tình cảm sâu sắc của ngời mẹ
- Giấc ngủ đến dễ dàng
- Có niềm háo hức
- Trong lòng không có bận tâm gì
=> Là một em bé ngây thơ, trong
sáng
- Mẹ không ngủ đợc
- Mẹ không tập trung đợc vào việc gì cả.
- Trằn trọc, băn khoăn
- Thao thức, lo lắng
=> Là một ngời mẹ sâu sắc, yêu
th-ơng con hết mực
Ví dụ 2:
Khi dạy chùm bài thơ Trung đại học sinh đợc làm quen với khá nhiều thể loại thơ (thất ngôn, ngũ ngôn, song thất lục bát, đặc biệt là các thể thơ
Đờng) Các thể thơ này đều có những qui định nghiêm ngặt về vần, luật Để học sinh nắm chắc đợc đặc điểm các thể loại đó thì trớc hết giáo viên phải cho học sinh đối chiếu yêu cầu của mỗi thể loại với các bài thơ cụ thể, từ đó giúp học sinh nhận ra đợc mỗi bài thơ đó có đáp ứng đợc yêu cầu thể loại hay không Tơng tự nh vậy, giáo viên cho học sinh đối chiếu giữa bản phiên
âm với bản dịch thơ để học sinh thấy đợc tài năng của ngời dịch, đồng thời nhận ra những điểm cha đúng với bản phiên âm
Ví dụ: ở bài “Sông núi nớc Nam” đối chiếu giữa bản phiên âm với bản dịch học sinh sẽ nhận ra ở bản dịch phần vần gồm các từ “ở, sở, vỡ” là thanh trắc cha đáp ứng đợc với ba vần bằng ở bản phiên âm “c, th, h”
Hay ở hai bài thơ của Bác “Cảnh khuya” và “Rằm tháng giêng” cũng đợc
làm theo những thể loại trên Giáo viên cũng cần cho học sinh đối chiếu để xác định thể thơ, từ đó nhận ra rằng đó là hai bài thơ hiện đại đợc làm theo
thể thơ Đờng Đặc biệt ở bài “Rằm tháng giêng” giáo viên cần cho học sinh
đối chiếu giữa bản dịch thơ và bản phiên âm để học sinh nhận ra cái hay, cái
đẹp của từ ngữ trong bản phiên âm mà bản dịch thơ không chuyển tải hết đợc
nh các từ : kim dạ, chính viên, xuân thuỷ, yên ba thâm xứ.
Việc so sánh đối chiếu đó đã đem lại hiệu quả là học sinh nắm vững
đặc điểm của mỗi thể loại, nhận ra đặc điểm đó trong các bài thơ Đờng và chỉ ra đợc những bài thơ không đáp ứng đợc những yêu cầu trên
Ví dụ 3:
Tơng tự nh vậy tôi đã áp dụng phơng pháp này vào việc dạy văn bản tự
sự
Trong văn bản “Sống chết mặc bay” tôi đã tận dụng triệt để phơng
pháp so sánh đối chiếu để giúp học sinh nhận ra hai hình thức nghệ thuật đợc
Trang 8tác giả sử dụng thành công trong văn bản là nghệ thuật tơng phản đối lập và nghệ thuật tăng cấp
Đối với biện pháp tơng phản, tôi yêu cầu học sinh chỉ ra hai mặt tơng phản trong tác phẩm sau đó yêu cầu các em tìm hiểu những nét tơng đồng giữa mặt tơng phản thứ nhất với mặt tơng phản thứ hai, từ đó nhận ra biện pháp
t-ơng phản đợc tác giả sử dụng thành công trong tác phẩm
Không gian,
thời gian
Gần một giờ đêm Trời ma tầm tã, nứơc sông Nhị Hà lên to
Gần một giờ đêm Trời ma tầm tã, nứơc sông Nhị Hà lên to.
Địa điểm
Khúc đê làng X xem chừng núng thế, hai ba đoạn đã thẩm lậu.
Trong đình vững chãi, đê
vỡ cũng không sao.
Đồ dùng kẻ thì thuổng, ngời thì cuốc
Dao chuôi ngà, ống vôi chạm, quản bút, tăm bông
Hình ảnh
Kẻ đội đất, kẻ vác tre, ớt lớt thớt nh chuột lột.
Nào quan ngồi trên, nào nha ngồi dới, nghi vệ tôn nghiêm, nh thần nh thánh.
âm thanh
Trống đánh liên thanh, ốc thổi vô hồi, tiếng ngời xao xác gọi nhau sang hộ.
Trừ quan phụ mẫu ra, mọi ngời không ai dám to tiếng.
Không khí,
quang cảnh
trăm họ gội gió, tắm ma nh
đàn sâu, lũ kiến.
Nghiêm trang, tĩnh mịch, nhàn nhã, đờng bệ, nguy nga.
Kết luận
Nhân dân đang vật lộn căng thẳng với nguy cơ đê vỡ trong khi thiên tai đang từng lúc giáng xuống
Quan phủ cùng nha lại lao vào cuộc tổ tôm trong khi
đi hộ đê
Sự so sánh đó cùng với sự dẫn dắt của giáo viên đã giúp học sinh nhận
ra một cách dễ dàng bản chất vô nhân tính, “lòng lang dạ thú” của bọn quan lại đi hộ đê
Tơng tự nh vậy học sinh cũng thấy rõ hơn tính cách phi nhân tính của tên quan phủ thông qua nghệ thuật tăng cấp của tác giả
Trang 9Trong văn bản “Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu” của Nguyễn ái Quốc tôi cũng cho học sinh tìm hiểu văn bản bằng phơng pháp này thông qua hai hình ảnh đối lập là Va-ren và Phan Bội Châu Việc tìm hiểu song song, có so sánh đối chiếu giữa hai nhân vật này đã giúp học sinh nhận ra bản chất và đặc điểm tính cách của mỗi nhân vật
Ví dụ 4:
Tôi cũng áp dụng phơng pháp này khi dạy học sinh về sân khấu kịch
qua đoạn trích “Nỗi oan hại chồng” trích vở chèo “Quan Âm Thị Kính” Ví dụ
khi tìm hiểu về ngôn ngữ của nhân vật Sùng bà Tôi yêu cầu học sinh tìm song song những lời nói của Sùng bà khi nói về nhà mình và khi nói về nhà Thị Kính Học sinh sẽ tìm đợc:
* Khi nói về nhà mình * Khi nói về nhà Thị Kính
- Giống nhà bà đây giống phợng
giống công.
- Trứng rồng lại nở ra rồng.
- Nhà bà đây cao môn lệnh tộc.
- Tuồng bay mèo mả gà đồng lẳng lơ.
- Liu điu lại nở ra dòng liu điu.
- Mày là con nhà cua ốc.
- Đồng nát thì về Cầu Nôm.
Con gái nỏ mồm về ở với cha.
Sau đó học sinh sẽ so sánh và nhận xét đợc về ngôn ngữ của Sùng bà: Khi nói về nhà mình thì vênh váo, khoe khoang, hãnh diện; còn khi nói về nhà Thị Kính thì dè bỉu, coi thờng Từ đó, học sinh thấy đợc sự phân biệt đối
xử của Sùng bà đối với Thị Kính
Qua việc áp dụng phơng pháp này trong việc dạy văn bản văn học tôi thấy phơng pháp này có thể sử dụng rộng rãi ở các thể loại văn bản (văn bản nhật dụng, thơ, văn bản tự sự, kịch) Về phía học sinh, khi áp dụng phơng pháp này học sinh dễ dàng tìm ra chất liệu văn học đồng thời phát hiện kiến thức cơ bản một cách nhanh chóng, sâu sắc và ghi nhớ dễ dàng
b Đối với phân môn Tiếng Việt.
Dạy Tiếng Việt là để giúp cho học sinh có năng lực sử dụng ngôn ngữ của mình nh một công cụ để t duy và giao tiếp hiệu quả Vì vậy trong năm học vừa qua tôi cũng chú ý sử dụng phơng pháp so sánh đối chiếu trong giờ dạy - học Tiếng Việt để giúp học sinh nâng cao đợc những năng lực trên sau mỗi giờ học
Ví dụ 1:
Dạy bài Từ ghép , khi hớng dẫn học sinh tìm hiểu Các loại từ ghép, ở ví
dụ 1(tìm hiểu về từ ghép chính phụ) để học sinh nhận ra đợc tiếng chính và
tiếng phụ trong các từ “bà ngoại, thơm phức”tôi yêu cầu các em so sánh từ
“bà ngoại” với từ “bà nội”; từ “thơm phức” với các từ “thơm lừng, thơm
ngát” Qua so sánh đó học sinh dễ dàng nhận ra đâu là tiếng chính, đâu là
Trang 10tiếng phụ, tôi còn cho các em lấy ví dụ thêm để khắc sâu kiến thức Học sinh cũng tìm hiểu về nghĩa của từ ghép tơng tự nh vậy
Ví dụ 2:
Dạy bài Rút gọn câu, khi hớng dẫn học sinh tìm hiểu thế nào là câu rút
gọn, ở ví dụ 1 qua việc so sánh giữa hai mẫu câu:
a Học ăn, học nói, học gói, học mở.
b Chúng ta học ăn, học gói, học nói, học mở.
Học sinh sẽ nhận ra ở câu a) thiếu chủ ngữ và có thể thêm một số từ làm chủ ngữ vào đó và hiểu đợc dụng ý của việc lợc bỏ chủ ngữ trong câu tục ngữ trên
ở ví dụ 2, tôi yêu cầu học sinh khôi phục lại hoàn chỉnh những câu đã
bị lợc bỏ rồi so sánh với những câu đã cho học sinh sẽ dễ dàng nhận ra các thành phần bị lợc bỏ và nhận ra đợc dụng ý của việc lợc bỏ các thành phần
đó
Ví dụ 3:
Dạy bài Thêm trạng ngữ cho câu trong trờng hợp tách trạng ngữ thành
câu riêng tôi cũng cho học sinh so sánh trạng ngữ ở câu thứ nhất với trạng ngữ ở câu hai:
Ng
“ ời Việt Nam ngày nay có lí do đầy đủ và vững chắc để tự hào với
tiếng nói của mình Và để tin tởng hơn nữa vào tơng lai của nó.”
Việc so sánh này giúp học sinh rút ra nhận xét về sự giống và khác nhau của hai trạng ngữ từ đó thấy đợc tác dụng của việc tách trạng ngữ thành câu riêng
Qua việc sử dụng phơng pháp so sánh đối chiếu trong giảng dạy phân môn Tiếng Việt tôi thấy học sinh hiểu sâu sắc hơn các tình huống ngôn ngữ , giúp học sinh nắm bắt nhanh các đơn vị kiến thức cần lĩnh hội, và thực hành vận dụng tốt hơn
c Đối với phân môn Tập làm văn
Tập làm văn bao giờ cũng là một phân môn khó đối với các em Vì thế trong quá trình dạy – học càng đòi hỏi ngời giáo viên phải vận dụng các
ph-ơng pháp dạy – học mới nhằm kích thích hứng thú học tập của học sinh và giúp các em tiếp thu kiến thức một cách dễ dàng Việc sử dụng phơng pháp
so sánh đối chiếu vào dạy – học Tập làm văn cũng đem lại một số hiệu quả
Ví dụ 1:
Khi dạy nội dung Tính liên kết của văn bản (Trong bài Liên kết trong văn bản), sau khi yêu cầu học sinh nhận xét về nội dung của ví dụ (sgk:17), tôi yêu cầu học sinh đối chiếu đoạn văn đó với đoạn văn trong văn bản mà các em đã học để tìm ra nguyên nhân vì sao với những câu văn trong ví dụ thì Enricô cha thể hiểu điều bố muốn nói Học sinh sẽ nhận ra các câu văn trong ví dụ bị lợc đi một số từ ngữ có tác dụng liên kết vì thế khiến đoạn văn khó hiểu