tìm hiểu về các dịch vụ CTXH trong việc giúp NKT có được việc làm đáp ứngđược những nhu cầu của họ là rất cấp thiết.Với thực trạng nêu trên nhóm sinh viên quyết định nghiên cứu để tìm hi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
-☼☼☼ -TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
ĐỀ TÀI : SỰ PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ ĐỐI VỚI PHỤ NỮ KHUYẾT TẬT
Ở VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn : Tiến sĩ Nguyễn Thùy Linh Sinh viên thực hiện : Vũ Trung Hiền
LỚP : K56 CÔNG TÁC XÃ HỘI
Hà Nội 2013
Trang 2DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT:
DANH MỤC BIỂU ĐỒ:
Biểu đồ 1 : Tỷ lệ NKT VĐ có việc làm
Biểu đồ 2 : Lý do chưa có việc làm
Biểu đồ 3 : Nhu cầu về các dịch vụ hỗ trợ việc làm
Biểu đồ 4: Cơ cấu NKT đã được tiếp cận với các dịch vụ hỗ trợ việc làm
Biểu đồ 5: Mức độ các loại dịch vụ hỗ trợ tiếp cận đến NKT VĐ Quận HBT
Biểu đồ 6: Tương quan giữa nhu cầu dịch vụ hỗ trợ việc làm và số NKT được tiếp
cận
DANH MỤC BÀNG Bảng 1: Phân cấp nhu cầu theo mức của Maslow
Bảng 2 : Can thiệp cấp độ sơ cấp, thứ cấp và tam cấp
Bảng 3: Kết quả điều tra về thu nhập bình quân /tháng
Bảng 4: Các lĩnh vực công việc mà NKT VĐ Quận Hai Bà Trưng hướng tới :
Bảng 5: Kết quả điều tra về nhu cầu môi trường tinh thần
Trang 3MỤC LỤC
A : PHẦN MỞ ĐẦU 9
1 Lý do chon đề tài: 9
2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa nghĩa thực tiễn: 10
2.1 Ý nghĩa khoa học: 10
2.2 Ý nghĩa thực tiễn: 10
3 Mục đích nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu: 11
3.1 Mục đích nghiên cứu: 11
3.2 Mục tiêu nghiên cứu: 11
4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi, khách thể nghiên cứu 12
4.1 Đối tượng nghiên cứu: 12
4.2 Khách thể nghiên cứu: 12
4.3 Phạm vi nghiên cứu: 12
4.3.1 Phạm vi khảo sát: 12
4.3.2 Phạm vi vấn đề nghiên cứu 12
5 Phương pháp nghiên cứu: 13
5.1 Phương pháp luận chung 13
5.2 Phương pháp thu thập thông tin 14
5.2.1 Phương pháp phỏng vấn sâu 14
5.2.2 Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi 14
5.2.3 Phương pháp phân tích tài liệu 15
6 Câu hỏi nghiên cứu: 15
7 Giả thuyết nghiên cứu: 15
B: PHẦN NỘI DUNG CHÍNH 16
Chương I Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài 16
I.1 Cơ sở lý luận của đề tài: 16
1 Lý thuyết hệ thống 16
2 Lý thuyết nhu cầu 18
Trang 42.1 Lý thuyết nhu cầu của Maslow 18
2.2 Lý thuyết nhu cầu của Frederick Herzberg 21
I.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 22
1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 22
2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề dạy nghề và việc làm của NKT 25
3 Tình hình cung cấp Dịch vụ CTXH tại Việt Nam hiện nay 29
4 Mô hình trung tâm dịch vụ CTXH ( Do Bộ LĐ TB XH đề xuất năm 2011) 32
4.1 Chức năng 32
4.2 Hướng xây dựng các trung tâm dịch vụ CTXH trong tương lai .34 5 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 36
5.1 Quận Hai Bà Trưng 36
5.2 Hội KT Quận Hai Bà Trưng 36
5.2.1 Lịch sử thành lập 37
5.2.2 Cơ cấu tổ chức 37
5.2.3 Đối tượng 38
6 Các khái niệm công cụ 39
6.1 Khái niệm “Công tác xã hội” 39
6.2 Khái niệm “Người khuyết tật” 39
6.3 Khái niệm “Khuyết tật vận động” 41
6.4 Khái niệm “Nhu cầu” 41
6.5 Khái niệm “Dịch vụ Xã hội” 42
6.6 Khái niệm “Dịch vụ Công tác xã hội” 42
Chương II Kết quả nghiên cứu 43
1 Thực trạng việc làm của NKT Vận động tại Quận HBT 43
1.1 Tỷ lệ NKT vận động có việc làm 43
1.2 Thu nhập của những NKT có việc làm 44
1.3 Cách thức giúp NKT kiếm được việc làm 45
Trang 51.4 Lý do chưa có việc làm và nguyên nhân thất nghiệp 45
2 Nhu cầu việc làm của NKT vận động tại quận HBT 49
2.1 Nhu cầu về loại hình công việc 49
2.2 Nhu cầu về các chế độ đãi ngộ khi làm việc 50
2.3 Nhu cầu về môi trường làm việc 53
2.4 Nhu cầu về các dịch vụ hỗ trợ vịêc làm 55
2.5 Kiểm nghiệm với lý thuyết nhu cầu của Maslow 57
3 Dịch vụ CTXH trong vịêc giải quyết nhu cầu việc làm của NKT vận động quận HBT 59
3.1 NKT vận động Quận HBT và khái niệm “Dịch vụ CTXH” 59
3.2 Các loại dịch vụ hỗ trợ vịêc làm cho NKT VĐ ở quận HBT 62
3.3 Mức độ tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ vịêc làm với nhu cầu của NKT với các dịch vụ này 63
3.4 Một số trung tâm, tổ chức tiêu biểu cung cấp các dịch vụ hỗ trợ việc làm cho NKT vận động ở Quận Hai Bà Trưng 65
3.5 Đánh giá về hiệu quả đáp ứng của các dịch vụ hỗ trợ việc làm thông qua ý kiến của NKT tham gia dịch vụ 66
3.6 Những nhận định về các dịch vụ hỗ trợ việc làm từ một số cán bộ cung cấp dịch vụ 68
3.6.1 Các hoạt động hỗ trợ việc làm chủ yếu 68
3.6.2 Giá cung cấp dịch vụ của các trung tâm, tổ chức 70
3.6.3 Sự tham gia, cộng tác của nhân viên CTXH đối với các trung tâm, tổ chức cung cấp dịch vụ 71
3 6.4 Khó khăn mà trung tâm, tổ chức gặp phải trong quá trình cung cấp các dịch vụ hỗ trợ việc làm cho NKT VĐ Quận HBT 72
3.7 Đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu việc làm cho người khuyết tật của những dịch vụ hỗ trợ việc làm hiện có 73
4.Giải pháp và khuyến nghị 75
4.1 Tới chính phủ 75
Trang 64.2 Tới UBND Quận Hai Bà Trưng 76
4.3 Tới Hội KT Quận Hai Bà Trưng và các tổ chức đoàn thể khác của NKT trong Quận 77
4.4 Tới các trung tâm , tổ chức cung ứng dịch vụ hỗ trợ việc làm 78
4.5 Tới các trường đào tạo ngành Công tác xã hội trên Địa bàn thành phố Hà Nội 78
C PHẦN KẾT LUẬN 80
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
E PHỤ LỤC 84
1 Mẫu bảng hỏi 84
2 Một số phỏng vấn sâu 89
Bảng phỏng vấn sâu số 1 89
Bảng phỏng vấn sâu số 2 91
Bảng phỏng vấn sâu số 3 94
Bảng phỏng vấn sâu số 4 96
Bảng phỏng vấn sâu số 5 98
Bảng phỏng vấn sâu số 6 100
Bảng phỏng vấn sâu số 7 101
Bảng phỏng vấn sâu số 8 103
Bảng phỏng vấn sâu số 9 106
Trang 7A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Theo thống kê của tổng cục điều tra Dân số và Nhà ở thì trong số 78,5 triệungười Việt Nam từ 5 tuổi trở lên ( số liệu thống kê năm 2009) có 6,1 triệu người ,tương ứng với 7,8% dân số từ 5 tuổi trở lên là người khuyết tật Như vậy, ngườikhuyết tật là một bộ phận dân số không nhỏ cần những sự quan tâm đặc biệt từphía chính phủ Người khuyết tật ở nước ta còn gặp nhiều khó khăn trở ngại trongcuộc sống hàng ngày Một trong những khó khăn trong đời sống của họ chính là
người khuyết tật hay người không khuyết tật thì đều có nhu cầu làm việc để nuôisống bản thân Tuy nhiên, người khuyết tật bản thân họ lại bị hạn chế bởi điềukiện thể chất trong khi lao động, đặc biệt là người khuyết tật vận động NKT gặpphảt rất nhiều rào cản trong quá trình học nghề và tìm việc làm phù hợp như sự kỳthị, sự phân biệt đối xử
Hiện nay Đảng và Nhà nước đã xây dựng những chính sách và luật để giúpcho NKT có cơ hội được làm việc,nhưng thực tế là rất nhiều người khuyết tật cònkhả năng lao động nhưng không tiếp cận được với các cơ hội đó Mặt khác, chưa
có nhiều công ty, xí nghiệp tạo điều kiện cho người khuyết tật những điều kiệnlàm việc phù hợp Người khuyết tật hiện nay hầu hết chưa tiếp cận được các cơhội làm việc ổn định tại các công ty xí nghiệp mà chỉ lao đông tại các cơ sở chongười khuyết tật Việc giúp người khuyết tật giải quyết được vấn đề việc làmkhông chỉ đem lại cho họ một nghề nghiệp để tự nuôi sống bản thân mà cũng làgiúp họ tái hòa nhập cộng đồng
Như vậy, việc giải quyết nhu cầu việc làm cho người khuyết tật hiện nay làrất cần thiết , nhưng các dịch vụ CTXH nhằm trợ giúp NKT tiếp cận với các cơhội việc làm còn rất thiếu Ngay tại Quận Hai Bà Trưng nằm trong Thủ đô Hà Nội,trung tâm văn hóa chính trị của đất nước thì vẫn còn rất thiếu những dịch vụCTXH để giải quyết nhu cầu việc làm cho người khuyết tật ở đây Do vậy, việc
Trang 8tìm hiểu về các dịch vụ CTXH trong việc giúp NKT có được việc làm đáp ứngđược những nhu cầu của họ là rất cấp thiết.
Với thực trạng nêu trên nhóm sinh viên quyết định nghiên cứu để tìm hiểu
về " Dịch vụ CTXH trong giải quyết nhu cầu việc làm của người khuyết tật vậnđộng quận Hai Bà Trưng “ nhằm đưa ra một cái nhìn khái quát nhất về vấn đề này,
để từ đó có những căn cứ đúng đắn nhằm xây dựng những giải pháp và đề xuấtphù hợp
2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
2.1 Ý nghĩa khoa học.
Việc nghiên cứu đề tài trên một phần là củng cố tri thức, phương phápnghiên cứu khoa học xã hội cho người nghiên cứu Đồng thời đề tài sẽ làm phongphú thêm phạm vi nghiên cứu, lĩnh vực nghiên cứu cho xã hội học.Một mặt nghiêncứu này muốn kiểm nghiệm tính ứng dụng của lý thuyết hệ thống và các lý thuyếtnhu cầu của Maslow và Herzberg để tìm hiểu mức độ cần thiết của nhu cầu việclàm đối với NKT
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Công tác xã hội là bộ môn khoa học luôn đi sát với thực tiễn và nhằm giúpphát triển xã hội theo hướng tích cực Nghiên cứu cũng vận dụng những kiến thứccủa bộ môn Xã hội học trong vịêc thu thập thông tin và sử lý số liệu để tìm hiểu vềthực trạng và nhu cầu việc làm của NKT vận động Quận Hai Bà Trưng Qua đóđưa ra những nét khái quát nhất về thực trạng việc làm cũng như nhu cầu của NKTvận động về vấn đề việc làm Căn cứ vào những thực tiễn đó để có thể tìm ranhững xu hướng giải quyết phù hợp với bối cảnh kinh tế - văn hóa – xã hội ViệtNam
Mặt khác từ vấn đề nghiên cứu có thể vận dụng những kiến thức của côngtác xã hội để đánh giá mức độ đáp ứng của các dịch vụ CTXH nhằm trợ giúp NKTquận Hai Bà Trưng trong vấn đề vịêc làm Đồng thời từ những kiến thức về CTXH
có thể đề xuất ra những giải pháp , khuyến nghị để khắc phục những mặt hạn chế,
Trang 9phát huy những mặt tích cực của các dịch vụ CTXH đã có Hơn thế nữa, trong quátrình nghiên cứu cũng rút ra được kiến thức cũng như kỹ năng và phương pháplàm việc phù hợp và hiệu quả nhất đối với người khuyết tật vận động cho nhânviên CTXH trong vấn đề này
3 Mục đích nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu.
Tìm hiểu khả năng đáp ứng của dịch vụ công tác xã hội trong việc đáp ứngcác nhu cầu việc làm của người khuyết tật vận động tại quận Hai Bà Trưng Căn
cứ vào đó để xây dựng các mô hình dịch vụ công tác xã hội phù hợp với nhu cầu
3.2 Mục tiêu nghiên cứu
Bà Trưng
Trưng
làm của người khuyết tật vận động ở quận Hai Bà Trưng
4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi, khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu.
Dịch vụ công tác xã hội đối trong giải quyết nhu cầu việc làm cho ngườikhuyết tật vận động tại quận Hai Bà Trưng
4.2 Khách thể nghiên cứu
Trưng
Trưng
4.3 Phạm vi nghiên cứu:
4.3.1Phạm vi khảo sát:
Trang 10 Không gian : Nghiên cứu tại quận Hai Bà Trưng.
Thời gian : từ 28 tháng 2 năm 2013 đến 24 tháng 3 năm 2013
4.3.2 Phạm vi vấn đề nghiên cứu:
Nhu cầu việc làm : bao gồm: nhu cầu về lương, chế độ đãi ngộ, môi trường
làm việc, loại hình công việc, nhu cầu về các dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ việclàm
NKT Vận động : Chỉ tiến hành nghiên cứu trên các đối tượng NKT vận động
vẫn còn khả năng lao động và đang ở độ tuổi lao động được quy định trong BộLuật Lao động Tức là với Nam giới KT từ 15 đến 60 tuổi, Nữ giới KT từ 15 đến
55 tuổi
Dịch vụ CTXH : Các hoạt động CTXH mang tính chuyên nghiệp hoặc không
chuyên cung cấp các họat động hỗ trợ về tinh thần và vất chất cho NKT nhằm xóa
bỏ những rào cản và bất bình đẳng trong vấn đề việc làm của NKT Do ở ViệtNam các dịch vụ CTXH mang tính chuyên nghiệp mới đang trong quá trình hìnhthành nên nghiên cứu cũng xin được coi những họat động trợ giúp việc làm choNKT nằm trong các dịch vụ CTXH
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận chung:
Bất cứ một đề tài nghiên cứu nào được tiến hành cũng phải dựa trên cơ sởnền tảng phương pháp luận Nó có một vai trò vô cùng quan trọng, giúp đinhhướng toàn bộ quá trình nghiên cứu về một vấn đề xã hội Nhằm chứng minh chotính tất yếu khách quan của đề tài , nhóm sinh viên nghiên cứu đã sử dụng phươngpháp duy vật biện chứng và duy luận lịch sử làm cơ sở cho phương pháp luận đềtài nghiên cứu của mình
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
là phương pháp luận khoa học để nhận thức và lí giải các hiện tượng xã hội Nó
Trang 11khẳng định mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa các quá trình xã hội, có tính kếthừa và phát triển trong suốt quá trình.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng đòi hỏi quá trình nghiên cứu phải đặt vai tròcủa các dịch vụ công tác xã hội trong nhiều mối quan hệ phức tạp Đó là mối quan
hệ với người khuyết tật, với cán bộ trong Hội người khuyết tật quận hai bà trưng,hay các nhân viên làm công tác xã hội, làm tình nguyện viên
Chủ nghĩa duy vật lịch sử nghiên cứu các vai trò của Các dịch vụ công tác
xã hội trong các quá trình lịch sử như ở một số quốc gia Anh, Pháp, Mĩ, ThủyĐiển Thông qua các tài liệu các mô hình trợ giúp người khuyết tật trong vấn đềviệc làm được phát triển và mở rộng Điều này khích lệ hoạt động nghiên cứu tìmtòi trong việc phát triển mạng lưới dịch vụ công tác xã hội trong việc đáp ứng nhucầu cho người khuyết tật của toàn Việt Nam
5.2 Phương pháp thu thập thông tin:
5.2.1 Phương pháp phỏng vấn sâu
Đây là phương pháp thu thập thông tin thông qua hỏi và đáp Người nghiêncứu đặt ra câu hỏi cho đối tượng khảo sát, sau đó gi lại hoặc gi âm lại những gì màngười nghiên cứu thu được Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu sâu sắc vềcác phản ứng, suy nghĩ, thái độ tình cảm, quan điểm, chính kiến của đối tượngđược phỏng vấn
Phỏng vấn được sử dụng trong bài báo cáo này cho các đội tượng sau:
vận động trong độ tuổi lao động của Quận Hai Bà Trưng)
Trang 125.2.2.Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi
Nhóm sinh viên đã thiết kế nội dung bảng hỏi ( Đính kèm ở phần Phụ lục)nhằm mục đích thu thập thông tin phục vụ cho quá trình nghiên cứu Được sự trợgiúp của anh Trịnh Công Thanh – Chủ tịch HKT Quận Hai Bà Trưng và bácNguyễn Doãn Hải – Phó Chủ tịch HKT Quận Hai Bà Trưng, nhóm đã có đượcdanh sách của toàn bộ hội viên của HKT Quận
Từ danh sách đó nhóm nghiên cứu đã lọc tìm những đối tượng là NKT vậnđộng và nằm trong độ tuổi lao động Số NKT vận động trong danh sách hội viêncủa Quận Hai Bà Trưng là 93 người nằm rải rác ở 20 phường trong Quận Nhóm
đã chọn ra 50 người theo cách chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản để tiến hành trưngcầu ý kiến qua bảng hỏi Trong 1 tuần từ 18/3/2013 đến 23/3/2013, nhóm đã chủđộng đến địa bàn để thu thập đủ 50 bảng hỏi Sở dĩ nhóm chọn con số 50 người đểđiều tra bảng hỏi là vì quy mô thời gian và kinh phí không cho phép nhóm có thểtiến hành điều tra hết 93 người
Cách thức chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản :
Từ 15 đến 55), nhóm đã lập lại 1 danh sách toàn bộ 93 NKT VĐ đó thành 3 nhóm,mỗi nhóm 31 người
Danh sách được lập theo 1 trật tự hoàn toàn ngẫu nhiên
nhóm, nhóm còn lại chọn ra 20 người Như vậy là đủ 50 mẫu (15 + 15 + 20 = 50)
5.2.3 Phương pháp phân tích tài liệu
Trong quá trình nghiên cứu, nhóm sinh viên đã đọc và phân tích một số tàiliệu liên quan đến vấn đề việc làm của người khuyết tật nhằm phục vụ cho đề tàinghiên cứu
6 Câu hỏi Nghiên cứu
Trang 13 Thực trạng việc làm của người khuyết tật vận động trong độ tuổi lao động tạiquận Hai Bà Trưng như thế nào?
quận Hai Bà Trưng ra sao?
cho người khuyết tật vận động ở quận Hai Bà Trưng hiện nay như thế nào?
7 Giả thuyết nghiên cứu
chưa được đáp ứng nhu cầu việc làm một cách phù hợp Chỉ có một bộ phận ngườikhuyết tật có việc làm nhưng công việc chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu của
họ Họ chưa có nhiều cơ hội để có thể theo học tại các trung tâm dạy nghề hoặclàm việc tại các công ty xí nghiệp Các công ty xí nghiệp hiện nay chưa tạo điềukiện về cơ sở vật chất phù hợp để người khuyết tật có thể làm việc Mức thu nhậpcủa những NKT có việc làm hầu hết là thấp, chỉ đủ để trang trải một phần chi phísinh hoạt
với những người không khuyết tật hay với những NKT mang dạng tật khác( Khuyết tật về mắt, khuyết tật về thính giác, khuyết tật trí tuệ …) Họ có nhiềunhu cầu làm những công việc như : làm hương, làm tăm tre, đũa, đồ lưu niệm, thủcông mỹ nghệ, công nghệ thông tin…Họ cũng có nhu cầu về mức lương để có thểnuôi sống đủ bản thân Họ cũng cần có chế độ đãi ngộ bình đẳng và có những ưutiên nhất định.Họ cần có một môi trường làm việc an toàn, thân thiện, có phươngtiện hỗ trợ chuyên dụng ( xe lăn, đường riêng cho xe lăn, nhà vệ sinh phù hợp…),
và cũng như người không khuyết tật, họ cần có bảo hiểm lao động để tránh rủi ro
và yên tâm làm việc NKT cũng rất mong được tiếp cận những dịch vụ hỗ trợ việclàm để tìm được một công việc phù hợp và trang bị cho họ những kiến thức kĩnăng cần thiết đáp ứng được nhu cầu lao động của các chủ lao động
Trang 14 Về thực trạng dịch vụ công tác xã hội: NKT VĐ Quận Hai Bà Trưng chưađược biết tới nhiều tới các dịch vụ CTXH Một bộ phận NKT đã được tiếp cận vớicác dịch vụ hỗ trợ việc làm, tuy nhiên số lượng còn rất hạn chế Các dịch vụ hỗtrợ việc làm này chưa mang tính CTXH chuyên nghiệp nhưng đã cung cấp đượcmột số điều kiện để trợ giúp NKT Đã có 1 số trung tâm, tổ chức cung cấp cácdịch vụ hỗ trợ việc làm cho NKT nhưng không nằm trong địa bàn Quận Nhìnchung là các dịch vụ đã tiếp cận được với NKT mới đáp ứng được một bộ phậnnhỏ những NKT có nhu cầu trong quận Về chất lượng thì các dịch vụ này mới chỉtrợ giúp NKT ở mức độ trung bình.
B PHẦN NỘI DUNG CHÍNH
Chương I Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
I.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1 Lý thuyết hệ thống:
Con người không chỉ đơn giản thực hiện các chức năng cá nhân của riêngmình, mà con người còn được sống được tương tác với môi trường, sống trongmột hệ thống Có thể hệ thống đó đang được hình thành, hoặc đã có hay đã mấtđi.Thuyết hệ thống là một trong những lý thuyết quan trọng được vận dụng phổbiến trong công tác xã hội Khi thực hiện tiến hành giúp đỡ cá nhân, nhân viêncông tác xã hội cần phải chỉ ra thân chủ của mình đang thiếu và cần đến những hệthống nào trợ giúp nào và giúp đỡ cá nhân đó có thể tiếp cận và tham gia các hệthống Lý thuyết này dựa trên giả thuyết rằng, mỗi cá nhân đều trực thuộc vào môitrường sống Cả cá nhân và môi trường được coi như một thể thống nhất mà trong
Trang 15đó các yếu tố liên hệ và ràng buộc nhau rất chặt chẽ Thuyết hệ thống trong côngtác xã hội bắt nguồn từ lý thuyết hệ thống tổng quát của Bertalanffy Thuyết nàydựa trên quan điểm lý thuyết sinh học cho rằng mọi tổ chức hữu cơ đều là những
hệ thống, được tạo nên từ các hệ thống và đồng thời bản thân các tiểu hệ thốngcũng là một phần của hệ thống lớn
Các cá nhân và môi trường bên ngoài cũng như hệ thống các môi trườngbên ngoài sẽ có nhiều tương tác với nhau, bên cạnh đó để cá nhân được hoạt độnghiệu quả hơn thì thuyết hệ thống được sử dụng rộng rãi trong công tác xã hội cánhân vì thuyết này giúp cho nhân viên xã hội hiểu được cá nhân trong các hệthống
Chúng ta có thể thấy rằng thuyết hệ thống giúp các nhà công tác xã hội cónhững hiểu biết về các thể chế, sự tương tác của các hệ thống này với nhau Vớicác cá nhân biết mọi cách thức mà mọi cá nhân tương tác với nhau, những nhân tốnào sẽ giúp hỗ trợ cho sự thay đổi sẽ tham gia vào tiến trình giúp đỡ này Mọingười trong mọi hoàn cảnh sống đều có những hoạt động và có những phản ứngảnh hưởng tới nhau vì thế khi tiến hành can thiệp hoặc giúp đỡ một người chắcchắn sẽ ảnh hưởng tới những yếu tố xung quanh Vì thế khi thực hiện vai trò dựatrên hoạt động công tác xã hội chúng ta phải nhìn nhận vấn đề thay đổi trên nhiềuphương diện và nhiều mức độ khác nhau trên cả các hệ thống ví dụ như gia đình,nhà trường, cộng đồng, xã hội
Có ba hệ thống chính:
hàng, người thân, bạn bè đồng nghiệp
học, cơ quan làm việc …
phụ nữ, hội người cao tuổi, hội Chữ Thập Đỏ …
Trang 16Sự phân biệt trên chỉ mang tính tương đối vì đối với cá nhân này hệ thốngtrợ giúp có thể là hệ thống chính thức nhưng đối với các cá nhân khác nó lại là hệthống xã hội hay phi chính thức.
Như vậy thông qua thuyết lý thuyết hệ thống, chúng ta thấy rằng đối vớingười khuyết tật vận động của quận Hai Bà Trưng, các hệ thống có thể hỗ trợđược họ bao gồm: gia đình, bạn bè trong hội người khuyết tật, các tổ chức dànhcho người khuyết tật, các cơ sở dạy nghề, các công ti tuyển lao động là ngườikhuyết tật vận động, các trung tâm dịch vụ công tác xã hội cung cấp, tư vấn hỗ trợviệc làm, tình nguyện viên Trong quá trình tiếp xúc và can thiệp, chúng ta cầnphát huy hiệu quả sự hỗ trợ từ các hệ thống này
2 Lý thuyết nhu cầu
2.1 Lý thuyết nhu cầu của Maslow
Abraham Maslow (1908 – 1970) Là nhà tâm lí học người Mỹ, sinh ra ởNew York, ông quan tâm phân tích về hành vi của con người Giới nghiên cứuthừa nhận rằng, ông là một trong những lí thuyết gia xuất sắc về nhu cầu và động
cơ của con người trong lao động Ông là một trong những người tiếp tục conđường nghiên cứu của Elton Mayo và nổi tiếng với thang nhu cầu
Sau khi quan sát và phân tích theo phương pháp lâm sàng nhu cầu và động
cơ của người lao động, tác giả khám phá ra hai nguyên tắc:
Trên cơ sở hai nguyên tắc đó, tác giả sắp xếp nhu cầu của con người theonăm bậc như sau:
công việc)
Trang 17 Bậc 3: Nhu cầu xã hội hay nhu cầu thuộc về một thành phần xã hội nào đó(được chấp nhận, được hiểu, được yêu mến, cho và nhận…)
thừa nhận xã hội, được đánh giá cao và được tôn trọng);
hội ai cũng có những nhu cầu nhất định, những nhu cầu đó có thể giống nhau,nhưng cũng có thể là khác nhau tùy thuộc vào mức độ cũng như hoàn cảnh cụ thểcủa từng cá nhân.Theo Abraham Maslow ông sắp xếp nhu cầu của con người theothứ tự bậc thanh từ thấp tới cao Maslow cho rằng mỗi cá nhân đều có 5 bậc thangnhu cầu cơ bản nhất
Nhu cầu về sự kính mến và lòng tự trọngNhu cầu về quyền sở hữu và tình cảm( được yêuthương)
Nhu cầu về thể chất và sinh líBảng 1: Phân cấp nhu cầu theo mức của Maslow
Nhu cầu cơ bản, nhu cầu sinh lí: Đây được coi là nhu cầu cơ bản nhất củacon người, bởi lẽ để có thể duy trì được cuộc sống của con người như ăn, mặc,ở ) Maslow quan niệm rằng khi nhu cầu này chưa được thỏa mãn tới mức cầnthiết thì nhu cầu khác sẽ không thúc đẩy được con người
Nhu cầu về sự an toàn: Là những nhu cầu tránh sự nguy hiểm về thân thểcủa con người Con người luôn cần cảm giác được an toàn, nếu lúc nào cũng chỉ lo
sợ cho sự an toàn của mình thì sẽ không làm được việc gì khác
Nhu cầu về xã hội hay nhu cầu được yêu thương: Con người là thành viêncủa toàn xã hội nên họ được và mong muốn người khác chấp nhận, được yêu
Trang 18thương gắn bó Cấp độ nhu cầu này cho thấy con người có nhu cầu để giao tiếp để
có thể phát triển về mọi mặt cuộc sống
Nhu cầu được quý trọng: Khi con người bắt đầu được thỏa mãn nhu cầuđược chấp nhận trong xã hội thì họ muốn được người khác tôn trọng và quý trọngmình Nhu cầu này dẫn tới sự thỏa mãn như: quyền lực, địa vị, lòng tin Đây làmong muốn của con người khi nhận được sự chú ý, quan tâm và sự tôn trọng củamọi người xung quanh và hơn nữa mong muốn bản thân mình là một mắt xinhquan trọng trong sự phân công lao động xã hội Họ mong muốn mình sẽ trở thànhmột người có ích cho xã hội và cho toàn thể cộng đồng Chính vì thế mà con ngườimong muốn được người khác tôn trọng và quý mến họ
Nhu cầu được thể hiện mình: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trongcách phân tầng của ông Đó là sự mong muốn để đạt tới chỗ mà môt người có thểđạt tới Nghĩa là làm cho tiềm năng của người đó đạt mức tối đa để có thể thựchiện được những mục tiêu cụ thể nào đó Đây có thể coi là khát vọng là mongmuốn của con người
Trong từng hoàn cảnh cụ thể khác nhau thì cá nhân cần đạt được những nhucầu khác nhau và tùy vào mỗi cá nhân mà nhu cầu ưu tiên của họ là khác nhau.Đối với nhân viên công tác xã hội cần tìm hiểu xem xét những nhu cầu mà thânchủ cần để đưa ra những phương pháp can thiệp tốt nhất và phù hợp nhất.Đối vớingười khuyết tật vận động quận hai bà trưng, họ được sống trong môi trường cùngvới những người khuyết tật khác, đa số họ đã có nhu cầu cơ bản và nhu cầu antoàn khi sống trong môi trường đó Tuy nhiên họ lại đang rất thiếu thốn những nhucầu cao hơn, khi cuộc sống của họ đang gặp nhiều vấn đề, đó là nhu cầu được tôntrọng à khẳng định bản thân Nghĩa là mong muốn nhu cầu về việc làm, mongmuốn được hỗ trợ và được giúp đỡ
2.2 Lý thuyết nhu cầu của Frederick Herzberg
Frederick Herzberg (1923 – 2000) Một trong những lý thuyết quan trọng
trong lĩnh vực khoa học xã hội phải kể tới thuyết nhu cầu của Frederick Heberg.Ông được xem như là cha đẻ của lý thuyết mở rộng nhiệm vụ để tăng động cơ của
Trang 19người lao động và là người hoàn thiện lý thuyết của A Maslow Qua nhiều
nghiên cứu của mình, tác giả khám phá ra các nhân tố “đủ” và nhóm các nhân tố
“cần” Hay nói cách khác, ví dụ trong quản lý người lao động không phải cứ tìm
cách loại bỏ các nhân tố cản trở lao động thì người lao động sẽ trở nên hứng thúlàm việc Từ kết luận đó, tác giả đã xây dựng lý thuyết của mình theo hai nhómnhân tố Vì vậy, chúng ta có thể gọi lý thuyết của Herzberg là lý thuyết hai nhómnhân tố Như vậy trong cuộc sống, đặc biệt ở nhiều lĩnh vực khác nhau lý thuyếtnhu cầu của ông luôn được ứng dụng một cách hết sức rộng rãi Điển hình nhưtrong quản lý lao động Cụ thể:
Nhóm nhân tố cần (nhân tố ngoại tại): Tác giả gọi nhóm nhân tố này là
các nhân tố vệ sinh vì chúng liên quan mật thiết đến sức khoẻ của người lao động (đặc biệt với người khuyết tật họ rất mong muốn được những yếu tố này do tìnhtrạng sức khỏe bị hạn chế) Đây là những nhân tố thuộc về “không khí lao động”,bao gồm:
động có động cơ lao động cao hay thấp
Những nhân tố đủ (nhân tố nội tại): Tác giả gọi các nhân tố này là “động
cơ thực” Nếu nhà quản lí kích hoạt được các nhân tố ấy, thì người lao động sẽphát huy được tối đa năng lực của mình để đóng góp cho doanh nghiệp (lao độngkhuyết tật không phải là ngoại lệ):
Trang 20- Sự đánh giá của mọi người
Đối với lĩnh vực việc làm của người khuyết tật vận động quận Hai BàTrưng, khi họ được sống trong môi trường làm việc với rất nhiều người xungquanh, họ cũng mong muốn được có cả "cần" và "đủ", tất cả những yếu tố đó sẽchi phối tới họ, đáp ứng nhu cầu của họ trong thực tế, họ mong muốn có được việclàm, được giúp đỡ và được hỗ trợ từ nhiều phía
I.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu :
Trong cuộc sống, con người luôn là trung tâm đóng vai trò hết sức quantrọng, là nhân tố quyết định trong mọi hoạt động thông qua mối quan hệgiữa con người với con người, con người và xã hội Các mối quan hệ đó biểuhiện ở nguyên tắc bình đẳng bất kể con người khác nhau về trí lực, thể lực vàcác đặc điểm khác đều có giá trị và tầm quan trọng ngang nhau Điều này cónghĩa là tất cả mọi người, cần được đối xử công bằng và có cơ hội bình đẳng
để tham gia các hoạt động xã hội, kể cả thị trường lao động và vấn đề việclàm
Trên thế giới nói chung và ngay cả Việt Nam, người khuyết tật được đề cậprất nhiều trong nghiên cứu khoa học xã hội Tuy vậy, chúng ta cũng thấy rằngnghiên cứu vấn đề việc làm với người khuyết tật vận động thì vẫn chưa có nhiều.Nếu có thường chỉ đề cập tới người khuyết tật nói chung chứ ít đề cập tới ngườikhuyết tật vận động nói riêng Đơn cử như nghiên cứu năm 2010 của Nguyễn
Trang 21Quang Lê, đề tài “ Bước đầu tìm hiểu khó khăn và biểu hiện vượt khó của ngườikhuyết tật vận động để tiến tới xây dựng chỉ số vượt khó của người khuyết tật.Nghiên cứu này cũng chỉ đề cập đến khái niệm người khuyết tật vận động, nhữngkhó khăn mà người khuyết tật gặp phải và các biện pháp tâm lí - giáo dục nhằmtrợ giúp người khuyết tật vượt qua mọi khó khăn, giúp họ đương đầu với cuộcsống của mình để hòa nhập vào cộng đồng và cùng với toàn xã hội.
Theo con số thống kê từ cuộc Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Namnăm 2009 thì nước ta có khoảng 6,1 triệu người khuyết tật, trong đó số lượng NKT
đồng NKT vận động gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, ngoài những khókhăn do thể chất thì họ còn gặp nhiều vấn đề về tâm lý hay những rào cản từ sự kìthị và phân biệt đối xử Trong vấn đề việc làm, the số liệu thống kê thì trên toànQuốc, chỉ có 61% tỷ lệ NKT vận động tham gia lực lượng lao động và việc làm
Như vậy một trong những vấn đề của người khuyết tật cần được quan tâmtrước mắt chính là vấn đề về việc làm Cụ thể hơn là những nhu cầu việc làm của
họ, các dịch vụ nhằm hỗ trợ, hay giúp họ tiếp cận với những công việc phù hợp.Trên thế giới đã có những mô hình cung cấp dịch vụ việc làm cho người khuyếttật, nhất là người khuyết tật vận động để họ có thể phát huy tối đa năng lực củamình, và họ đã đạt được những thành công nhất định
Tại Việt Nam, Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều nghị định, thông tư, luậtliên quan đến dạy nghề và tạo việc làm cho người lao động là người khuyết tậtnhư: (1) Nghị định của chính phủ số 116/2004/NĐ – CP ngày 23 tháng 4 năm
2004 đã sửa đổi, bổ sung 7 điều của Nghị định số 81/CP ngày 23 tháng 11 năm
1995 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động vềlao động là người khuyết tật có 19 điều; (2) Luật dạy nghề cho người tàn tậtkhuyết tật của quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 số 76/2006/QH11 ngày 29 tháng
1 S li u đư c l y trong cu n “Người Khuyết tật ở Việt Nam – Một số kết quả chủ i Khuy t t t Vi t Nam – M t s k t qu ch ết tật ở Việt Nam – Một số kết quả chủ ật ở Việt Nam – Một số kết quả chủ ở Việt Nam – Một số kết quả chủ ột số kết quả chủ ết tật ở Việt Nam – Một số kết quả chủ ả chủ ủ
y u t T ng đi u tra Dân s và Nhà Vi t Nam năm 2009” do UNFPA xu t b nết tật ở Việt Nam – Một số kết quả chủ ều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009” do UNFPA xuất bản ở Việt Nam – Một số kết quả chủ ả chủ
Trang 2211 năm 2006; (3) Thông tư liên bộ hướng dẫn chính sách cấp và cho vay vốn đốivới các cơ sở sản xuất kinh doanh của người tàn tật… Như vậy trong những nămvừa qua, Đảng và Nhà Nước ta đã dành một khoản ngân sách để giúp ngườikhuyết tật có thể phục hồi và phát triển được sức khoẻ, dạy nghề và có chính sáchcho vay lãi xuất thấp để có thể cho họ tự tạo được việc làm ( điều 125, Bộ luật laođộng thương binh và xã hội) Tuy nhiên câu hỏi cần được đặt ra là : “Các văn bảnquy định này đã thực sự đi vào cuộc sống chưa? Người khuyết tật thực sự đã đượctiếp cận với các chính sách hỗ trợ này chưa?”
Ngoài những khía cạnh trên cũng có rất nhiều các tài liệu, tạp chí các côngtrình nghiên cứu liên quan đến việc đáp ứng nhu cầu việc làm của người khuyếttật Điển hình là nghiên cứu của Bộ lao động thương binh xã hội với đề tài” Vaitrò của tổ chức người tàn tật trong việc xây dựng các chính sách, chương trìnhquốc gia về về dạy nghề và việc làm cho người khuyết tật của bộ thương binh laođộng và xã hội.H.,1993.-75TR” Nghiên cứu này cũng nói đến việc xây dựng vàthực hiện các chính sách cho người khuyết tật để họ được đáp ứng nhu cầu việclàm của mình, Họ được tư vấn hỗ trợ dạy nghề, qua đây người khuyết tật biết đượcnhững nơi có thể nhận mình vào làm việc, để có thể có một công việc phù hợp vớibản thân
Tuy nhiên nói chung, đa số các đề tài chỉ nghiên cứu hướng tới giải quyếtviệc làm cho người khuyết tật bằng cách dạy nghề trực tiếp hoặc hỗ trợ tâm lí.Mặc
dù vậy người khuyết tật vận động và người khuyết tật nói chung có nhu cầu vềviệc làm đặc thù, nhưng mức độ đáp ứng các nhu cầu đó còn rất hạn chế Hơn nữahầu như không có nghiên cứu nào nhắc đến các dịch vụ công tác xã hội nhằm giảiquyết nhu cầu việc làm của người khuyết tật hay đánh giá mức độ đáp ứng của cácdịch vụ công tác xã hội đó Hầu hết là các nghiên cứu chỉ nêu lên sự cần thiết củaviệc giúp người khuyết tật có thể tìm được một công việc mới để đáp ứng nhu cầubản thân, nhưng chưa nói lên được những nhu cầu riêng của họ và xây dựng môhình dịch vụ công tác xã hội phù hợp để đáp ứng những nhu cầu đó
Trang 23Lĩnh vực nghiên cứu công tác xã hội với người khuyết tật nói chung vàngười khuyết tật vận động nói riêng còn tương đối mới mẻ.Nên bài báo cáo nàyxin được nêu ra thực trạng việc làm của người khuyết tật vận động Quận Hai BàTrưng – TP Hà Nội, tìm hiểu những nhu cầu của họ về việc làm và từ đó nghiêncứu về thực trạng các dịch vụ công tác xã hội hiện nay trong việc giải quyết cácnhu cầu việc làm đó.
2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề dạy nghề và việc làm của NKT: 2
Cho đến nay, hệ thống văn bản pháp luật, chính sách trong đó đề cập tớiNKT nói chung và vấn đề hỗ trợ NKT về nghề nghiệp, việc làm nói riêng đã đượcquan tâm và từng bước hoàn thiện
Điều 13 của Bộ luật Lao động có hiệu lực năm 1994 khẳng định Chínhphủ, các doanh nghiệp và toàn thể xã hội phải có trách nhiệm tạo công ăn việclàm và đảm bảo rằng tất cả những ai có khả năng làm việc đều được làm việc.Chương XI, Mục III nêu những quy định cụ thể cho người lao động bị khuyếttật Điều 125 của Mục này khẳng định Chính phủ bảo vệ quyền được làmviệc của người khuyết tật và khuyến khích tạo việc làm cho họ
Hàng năm, Chính phủ dành một khoản ngân sách nhất định để hỗ trợngười khuyết tật phục hồi chức năng, nâng cao năng lực làm việc và dạy nghề.Chính phủ có chủ trương cho vay với lãi suất thấp để tạo công ăn việc làm chongười khuyết tật Các cơ sở dạy nghề hoặc sản xuất nhận người khuyết tật vàolàm sẽ được hỗ trợ hoặc được miễn hoặc giảm thuế và sẽ được cho vay với lãisuất thấp Các cơ sở không nhận người khuyết tật vào làm sẽ phải đóng mộtkhoản tiền cho Quỹ Việc làm để trợ giúp người khuyết tật
Theo Điều 126, thời gian làm việc cho người lao động là người khuyết tật
là 7 tiếng/ngày và 42 giờ/tuần Điều 126 cũng nêu quy định và điều kiện làm
2
Nhóm nghiên c u đã căn c vào ph n “Chính sách xã h i v ngh nghi p, vi c làm đ i v i NKT” trong bài phát bi u :” Vi c ột số kết quả chủ ều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009” do UNFPA xuất bản ều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009” do UNFPA xuất bản ới NKT” trong bài phát biểu :” Việc ểu :” Việc làm cho ng ười Khuyết tật ở Việt Nam – Một số kết quả chủ i khuy t t t t i Vi t Nam – T chính sách đ n th c ti n và vai trò c a CTXH” c a Th c sĩ Ph m Huy C ết tật ở Việt Nam – Một số kết quả chủ ật ở Việt Nam – Một số kết quả chủ ết tật ở Việt Nam – Một số kết quả chủ ực tiễn và vai trò của CTXH” của Thạc sĩ Phạm Huy Cường – ễn và vai trò của CTXH” của Thạc sĩ Phạm Huy Cường – ủ ủ ười Khuyết tật ở Việt Nam – Một số kết quả chủ ng – Khoa Xã h i – ĐH KHXH&NV đ ột số kết quả chủ ư c in trong k y u “H i th o Qu c t chia s kinh nghi m qu c t v CTXH và An sinh xã h i”, ết tật ở Việt Nam – Một số kết quả chủ ột số kết quả chủ ả chủ ết tật ở Việt Nam – Một số kết quả chủ ẻ kinh nghiệm quốc tế về CTXH và An sinh xã hội”, ết tật ở Việt Nam – Một số kết quả chủ ều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009” do UNFPA xuất bản ột số kết quả chủ tháng 11 năm 2012
Trang 24việc cho người lao động là người khuyết tật Theo Điều 128, người lao động làcựu chiến binh bị khuyết tật còn được nhận trợ cấp đặc biệt ngoài những lợi íchtrên.
Nghị quyết số 81/CP của Chính phủ có hiệu lực ngày 23 tháng 11 năm
1995 quy định người khuyết tật học ở trung tâm dạy nghề của chính phủ sẽ đượcgiảm học phí 50% nếu họ mất từ 21% - 40% khả năng lao động và miễn 100%nếu họ mất từ 41% khả năng lao động trở lên Trong thời gian học tập nếu ngườikhuyết tật không có lương, không được hưởng trợ cấp nào khác hoặc học bổng sẽđược trợ cấp xã hội 100.000 đồng/người/tháng Nghị quyết này cũng nêu mộtloạt các quy định về việc trợ cấp cho người khuyết tật trong thời gian học nghềhoặc tìm việc làm
Thông tư số 23/TCT của Bộ Tài chính về việc miễn thuế cho cho nhữngđơn vị sản xuất nhận người khuyết tật nêu những quy định về việc miễn thuế(gồm thuế doanh thu, thuế nhà đất, thuế thu nhập, thuế sử dụng đất nông nghiệp)cho những doanh nghiệp đáp ứng được những quy định đã nêu
Chương IV của pháp lệnh cũng nêu các quy định về việc làm và dạy nghềcho người khuyết tật Chính phủ và các tổ chức kinh tế phải có trách nhiệm tạođiều kiện thuận lợi cho NKT lựa chọn việc làm, hình thức dạy nghề và hình thứclàm việc phù hợp Trung tâm dạy nghề và cơ sở sản xuất nhận người khuyết tật sẽđược Chính phủ cho vay vốn, được trợ cấp thiết bị giảng dạy và thiết bị sản xuấtcũng như được miễn thuế
Nghị quyết số 55/ND-CP của Chính phủ quy định rõ những ngườikhuyết tật có nhu cầu hướng nghiệp, dạy nghề, tư vấn và việc làm cần được cáctrung tâm dịch vụ việc làm giúp đỡ bằng cách như giảm hoặc miễn phí dịch vụ.Trong trường hợp người khuyết tật đã được thuê làm việc, họ sẽ được vay vốnvới lãi suất ưu đãi theo quy định của Pháp luật Điều 10 quy định trường hoặc
cơ sở dạy nghề cần miễn hoặc giảm học phí và những đóng góp khác hoặc cấphọc bổng hoặc trợ cấp cho học sinh khuyết tật đang học ở những cơ sở dạy
Trang 25nghề hoặc đang được đào tạo nghề ở các trường công.
Điều 21 của Pháp lệnh và Điều 13 của Nghị quyết số 55/CP quy địnhrằng các tổ chức hành chính sự nghiệp có nhu cầu tuyển dụng nhân viên mớihoặc nhu cầu ký hợp đồng lao động phải thông báo rộng rãi nhu cầu này vàkhông được từ chối người khuyết tật nếu họ có đủ năng lực làm việc.Tiêuchuẩn tuyển chọn cần phải được áp dụng cho cả người khuyết tật và ngườikhông khuyết tật ngoại trừ một số trường hợp cụ thể
Năm 2010, Luật Người khuyết tật đã được Quốc hội nước ta thông qua,theo đó phạm vi điều chỉnh là quy định về quyền và nghĩa vụ của NKT; tráchnhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội đối với NKT Chương V của Luật Ngườikhuyết tật gồm các quy định riêng về dạy nghề và việc làm: Điều 32 khẳng địnhNhà nước bảo đảm để NKT được tư vấn học nghề miễn phí phù hợp với năng lựccủa bản thân, bên cạnh đó quy định các chính sách để phát triển các cơ sở dạynghề và điều kiện học nghề phù hợp với NKT Điều 33 khẳng định các chính sáchbảo đảm cho quá trình NKT tham gia vào các môi trường nghề nghiệp, việc làmđược thuận lợi đồng thời cũng khuyến khích NKT có thể tự tạo việc làm cho bảnthân thông qua việc cho vay vốn với lãi suất ưu đãi, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm cũngnhư được hướng dẫn về sản xuất, chuyển giao công nghệ Các cơ sở sản xuất, kinhdoanh sử dụng người lao động khuyết tật cũng được Nhà nước khuyến khíchthông qua các chính sách ưu đãi quy định trong Điều 34 và 35
Vào tháng 8 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án trợ giúpNKT giai đoạn 2012 – 2020 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Đề án đặt
ra chỉ tiêu cụ thể trong giai đoạn 2012 - 2015 sẽ có 250.000 NKT trong độ tuổi laođộng còn khả năng lao động được học nghề và tạo việc làm phù hợp; giai đoạn
Các quy định về khuyến khích hỗ trợ phát triển nghề nghiệp, việc làm choNKT được quy định trong Bộ luật Lao động hiện hành Bộ luật Lao động 2012 đã
3 Th tủ ưới NKT” trong bài phát biểu :” Việc ng chính ph , Quy t đ nh phê duy t Đ án tr giúp ngủ ết tật ở Việt Nam – Một số kết quả chủ ịnh phê duyệt Đề án trợ giúp người khuyết tật giai ều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009” do UNFPA xuất bản ười Khuyết tật ở Việt Nam – Một số kết quả chủ i khuy t t t giai ết tật ở Việt Nam – Một số kết quả chủ ật ở Việt Nam – Một số kết quả chủ
đo n 2012 – 2010, tháng 8/2012
Trang 26được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua, sẽ có hiệulực từ 1/5/1993 cũng kế thừa những chính sách ưu việt của Nhà nước đối vớiNKT, đồng thời còn quy định cụ thể hơn về chế độ lao động và chính sách xã hộinhằm bảo vệ, hỗ trợ, khuyến khích tiếp nhận lao động là NKT.
Các chinh sách vĩ mô của Nhà nước Việt Nam đã và đang từng bước được
cụ thể hóa trong đời sống Báo cáo khảo sát dự án INCLUDE theo Đơn đặt hàngcủa tổ chức Lao động Quốc tế phản ánh hệ thống dạy nghề của Việt Nam đượcphát triển khá đầy đủ, gồm 164 trường đào tạo nghề, 137 trường cao đẳng vàtrường trung cấp kỹ thuật tham gia vào hoạt động đào tạo nghề, 148 trung tâm dạynghề và 150 kỹ thuật tham gia vào họat động đào tạo nghề, 148 trung tâm dạynghề và 150 trung tâm dịch vụ dạy nghề và việc làm Bên cạnh đó, Nhà nước tacũng giao nhiệm vụ cho các hệ thống phụ trách công tác liên quan đến NKT: BộLao động, Thương Binh và Xã hội, Ủy ban điều phối quốc gia về NKT Việt Namvới vai trò kết nối tất cả các bộ, ngành quan tâm tới NKT Các tổ chức quầnchúng, xã hội nghề nghiệp cũng được phát triển với định hướng hoạt động hướngtới đối tượng khuyết tật
Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên CộngSản Hồ Chí Minh
Việt Nam, Hội Bảo trợ Người khuyết tật và Trẻ em mồ côi, Hội Sản xuất Kinhdoanh của Người khuyết tật, Hội Thể thao dành cho Người khuyết tật …
Bản thân NKT cũng được tạo điều kiện thành lập tổ chức của chính mình,theo thống kê, có hơn 80 nhóm NKT tại Việt Nam Hầu hết các nhóm đều đượcđăng ký chính thích với Chính phủ Trong đó phải kể đến sự phát triển của Hệthống Hội người mù Việt Nam, các tổ chức của phụ nữ khuyết tật, Hội kinh doanhcủa NKT Việt Nam
Như vậy, cho tới nay, với sự quan tâm và nỗ lực không ngừng của Nhà
Trang 27nước và cộng đồng xã hội, một môi trường chính sách hết sức thuận lợi đối vớivấn đề nghề nghiệp, việc làm của NKT đã được hình thành Trách nhiệm, giờ nàydường như nghiêng về những người sẽ cụ thể hóa các chính sách xã hội vào thựctiễn xã hội.
3 Tình hình cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại Việt Nam hiện nay:
Mục này, nhóm nghiên cứu xin được lược trích nội dung trong báo cáo “Trung tâm dịch vụ CTXH - mô hình đề xuất cho Việt Nam” của Bộ LĐ TB XHphối hợp với UNICEF viết ( Hà Nội, 2009)
“…Tháng 4 năm 2009, một nhóm chuyên gia, bao gồm chuyên gia quốc tế(của UNICEF) và các chuyên gia trong nước (thuộc Bộ LĐTBXH) đã thực hiệnmột khảo sát cơ sở Khảo sát này đã xem xét các dịch vụ công tại cấp tỉnh/thành,quận/huyện và cấp xã, trong các tổ chức phi chính phủ và thăm các gia đình cóhoàn cảnh khó khăn được nhận các dịch vụ hiện có Khảo sát này đã xem xét dịch
vụ tại các miền bắc, trung và nam Việt Nam, tại các thành thị và các tỉnh: QuảngNinh, Đà Nẵng, và Hồ Chí Minh Ngoài ra, báo cáo này cũng được dựa trên cácbằng chứng và kết luận của nghiên cứu quốc gia về vấn đề xây dựng CTXH
thảo luận với UNICEF Việt nam về tương lai và kinh nghiệm từ dự án thí điểmhiện tại về phát triển Hệ thống bảo vệ trẻ em dựa vào cộng đồng…”
Các dịch vụ CTXH ở nước ta bao gồm :
Các dịch vụ xã hội của Chính phủ:
Mỗi tỉnh/thành có một Sở LĐTBXH nằm dưới sự quản lý của Ủy ban nhândân ; Sau cấp tỉnh là đến cấp quận/huyện với cơ cấu tương tự Ở Đà Nẵng, mức hỗtrợ cho các gia đình có trẻ khuyết tật nặng là cao hơn định mức quy định trongchính sách, hoặc tại tỉnh Quảng Ninh, 1% ngân sách được phân bổ cho chương
4 UNICEF Việt Nam/Bộ LĐTBXH (2005) Nghiên cứu về nguồn nhân lực và nhu cầu đào tạo đối
với quá trình phát triển CTXH tại Việt Nam, Hanoi: UNICEF Việt Nam/Bộ LĐTBXH.
Trang 28trình chăm sóc và bảo vệ trẻ em Các đối tượng được hưởng hỗ trợ đều được nêutrong Nghị định 67 ( 2007)
Trung tâm BTXH ở mỗi tỉnh cung cấp dịch vụ cho trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơihoặc bị xâm hại, người già cô đơn, người khuyết tật hoặc người có bệnh tâm thần.Tại một số trung tâm tiến hành chăm sóc lâu dài cho những đối tượng như trẻ mồcôi hoặc người già; trong khi tại một số trung tâm khác thì trọng tâm ưu tiên lại làphục hồi, đặc biệt là các trung tâm dành cho thanh thiếu niên; tuy nhiên, các trungtâm đều cung cấp dịch vụ chăm sóc tập trung dài hạn
Các tổ chức đoàn thể, phi chính phủ và các dịch vụ kết hợp
Cùng với các dịch vụ an sinh xã hội và dịch vụ xã hội do các Bộ, cơ quanchính phủ trực tiếp cung cấp, đồng thời cũng có những mạng lưới dịch vụ xã hội
do các trung tâm/cơ sở khác nhau cung cấp Các trung tâm/cơ sở này thuộc sựquản lý của các tổ chức đoàn thể, phi chính phủ và có một số trường hợp là do các
cơ quan chính phủ hợp tác quản lý cùng các tổ chức phi chính phủ Có thể kể tênmột số trung tâm cung ứng dịch vụ CTXH tiêu biểu ở Việt Nam như sau :
Quỹ Christina Noble Vì Trẻ em – hợp tác quản lý dịch vụ dành cho trẻkhuyết tật nặng (Quỹ và Bộ LĐTBXH, TPHCM);
Mái ấm Rose (Rose Warm Shelter) – dịch vụ thuộc tổ chức phi chính phủquốc tế dành cho trẻ em gái bị xâm hại tình dục và có nguy cơ (Quỹ Đan Mạch-Việt Nam, TPHCM);
Trung tâm tham vấn gia đình, Quận 3 – do nhiều tổ chức phi chính phủquốc tế và trường học tại TPHCM hỗ trợ tài chính để cung cấp dịch vụ tham vấngia đình
Trung tâm AFESIP –dành cho phụ nữ và trẻ em gái bị xâm hại tình dụchoặc có nguy cơ hoặc tham gia hành nghề mại dâm (AFESIP phối hợp với Hộiphụ nữ, TPHCM);
Trang 29Trung tâm của Hội nạn nhân chất độc da cam Việt Nam dành cho trẻ em bịảnh hưởng bởi chất dioxin – trung tâm do tổ chức phi chính phủ địa phương quản
lý, có hai cơ sở, tiến hành dạy học và dạy nghề cho trẻ khuyết tật (Hội nạn nhânchất độc da cam, Đà Nẵng);
Trung tâm phụ nữ và trẻ em – trung tâm của tổ chức đoàn thể nhằm hỗ trợphụ nữ và trẻ em là nạn nhân của bạo hành gia đình, lạm dụng và buôn bán người(Hội Phụ nữ, tỉnh Quảng Ninh)…
Mặc dù các trung tâm cung cấp một dạng dịch vụ xã hội chuyên biệt riêng,song vẫn có các đặc điểm chung về bộ máy tổ chức và chức năng hoạt động cũngnhư một số vấn đề về cung cấp dịch vụ CTXH Cụ thể là, phần lớn các cơ sở nàyđều gặp khó khăn về nguồn vốn tài trợ, do các nhà tài trợ quốc tế thường chỉ hỗ trợnguồn lực trong một khoảng thời gian nhất định vì cho rằng, khi dự án được thiếtlập sẽ tiếp tục tìm được nguồn lực địa phương, hoặc cũng có thể các nhà tài trợ đóthay đổi đối tượng tài trợ Mặt khác, các trung tâm mới chỉ cung cấp dịch vụ xãhội trong một khu vực địa lý nhất định, không thể cung cấp cho những ngườingoài khu vực
Như vậy, trên cơ sở các nhu cầu về dịch vụ hiện tại và những người sửdụng chúng, cần thiết phải xây dựng mô hình trung tâm dịch vụ CTXH, nhất là tạithời điểm hiện nay khi nghề CTXH chuyên nghiệp đã được Thủ tướng Chính phủphê duyệt nhằm cung cấp các dịch vụ cơ bản và hướng tới mọi nhóm đối tượng cóhoàn cảnh khó khăn Trung tâm sẽ chịu sự quản lý của Sở Lao động-TBXH,nhưng tách biệt với các cơ quan, đơn vị hiện đang thực hiện chức năng cung cấpdịch vụ xã hội như phòng công tác xã hội và các trung tâm bảo trợ xã hội, có nhưthế mới đảm bảo được những lợi ích quan trọng do phúc lợi xã hội mang lại Cùngvới đó, trung tâm cần được đặt ở địa điểm thuận lợi nhất để những người cần dịch
vụ có thể dễ dàng tiếp cận như cấp huyện để cung cấp các hỗ trợ cần thiết và trựctiếp cho đối tượng Mô hình trung tâm dịch vụ CTXH sẽ là một khuôn khổ vững
Trang 30chắc cho việc xây dựng các dịch vụ CTXH, góp phần vào quá trình phát triển của
cầu trước mắt của người dân khi họ đến các trung tâm ví dụ như thức ăn hoặcquần áo Chuyển ngay các trường hợp khẩn cấp tới các cơ quan có liên quan khácnhư y tế và cung cấp các hướng dẫn hoặc khuyến nghị tới các dịch vụ phù hợpkhác
chung về phát triển như sức khỏe sinh sản, sự phát triển của trẻ và phục hồi
b Các dịch vụ dài hạn
Đánh giá cá nhân, gia đình và các nhóm để xác định các vấn đề xã hội vàlập kế hoạch can thiệp
Cung cấp tham vấn tâm lý-xã hội cho các cá nhân và gia đình
Hỗ trợ các cá nhân, gia đình và các nhóm xã hội để xác định và đưa ra cácgiải pháp để cung cấp các chăm sóc phù hợp cho trẻ, kể cả tiến hành những bướccần thiết để đảm bảo sự an toàn của trẻ khỏi các nguy cơ bị lạm dụng
Tham vấn và hỗ trợ người tàn tật, người tâm thần và người già cô đơn tiếpcận các dịch vụ xã hội và khi cần thiết thì sắp xếp các hình thức chăm sóc thay thế
Tham vấn và hỗ trợ những người đã rời các nhà bảo trợ xã hội để đảm bảo
họ có thể sống tốt ở cộng đồng lớn hơn kể cả hướng dẫn cho họ và họ giúp tiếpcận giáo dục và việc làm
Trang 31 Giáo dục xã hội và nâng cao nhận thức cộng đồng:
Cung cấp giáo dục xã hội để giúp những người có hoàn cảnh đặc biệt khókhăn phát triển khả năng tự giải quyết các vấn đề xã hội của bản thân kể cả giáodục kỹ năng làm cha mẹ cho những gia đình có nhu cầu nhất
Cung cấp giáo dục công cộng và nâng cao nhận thức chung về phúc lợi trẻ
em, sức khỏe sinh sản, HIV/AIDS và dinh dưỡng
Hỗ trợ cán bộ địa phương trong việc huy động các chính sách và chươngtrình của trung ương và địa phương
Giúp và tư vấn cho cán bộ trong lĩnh vực bảo trợ xã hội và phòng ngừa các
tệ nạn xã hội, giữ liên lạc và hợp tác với những cán bộ chuyên trách như bác sỹ, y
tá, giáo viên và công an
Tiến hành nghiên cứu các vấn đề phúc lợi xã hội kể cả bảo trợ xã hội vàphòng chống tệ nạn xã hội và đóng góp vào việc xây dựng các chính sách có liênquan
4.2 Hướng xây dựng các trung tâm dịch vụ CTXH trong tương lai
1 Phối hợp với các chương trình đào tạo chứng chỉ đại học ngành công tác
xã hội để đào tạo và tập huấn cho các sinh viên ngành công tác xã hội
2 Các trung tâm dịch vụ CTXH cần được thiết lập ở cấp tỉnh, hoặc cho mộtnhóm các quận/huyện ở các thành phố lớn Việc này sẽ tạo điều kiện cho dịch vụtrải đều trên cả nước khi có điều kiện phát triển và đủ nguồn nhân lực và tài lực
3.Trung tâm cần nằm dưới sự quản lý của Sở LĐTBXH, được nhận hỗ trợcủa Bộ LĐTBXH trong các lĩnh vực chức năng dịch vụ xã hội khác ví dụ nhưchính sách
4 Trung tâm nên được đặt tại cộng đồng, riêng biệt với các trung tâmBTXH hoặc phòng BTXH
Trang 325 Cán bộ trung tâm cần có trình độ chuyên môn về CTXH hoặc các bằngcấp bán chuyên nghiệp phù hợp Giám đốc các trung tâm cũng cần có trình độchuyên môn về CTXH.
6 Trung tâm cần có trọng tâm cung cấp các dịch vụ cơ bản, đáp ứng chocác đối tượng với các dạng vấn đề và nhu cầu xã hội khác nhau, bao gồm trẻ emcần sự bảo vệ đặc biệt, nạn nhân của ‘tệ nạn xã hội’ và các đối tượng trợ giúp xãhội , những người bị ảnh hưởng bởi nạn buôn bán người , mại dâm , HIV/AIDS
và sử dụng ma túy và nhóm điểm trong Nghị định 67
7.Các hoạt động của trung tâm bao gồm đánh giá các nhu cầu phức tạp, canthiệp trực tiếp với các cá nhân và gia đình có nhu cầp phức tạp đòi hỏi cần có kỹnăng và kiến thức sâu để đáp ứng, cung cấp tham vấn tâm lý xã hội và hỗ trợ nếucần, và thực hiện tập huấn, hỗ trợ cho các cán bộ cấp dưới và cộng tác viên cộngđồng
8.Hoạt động của các trung tâm nên nằm trong mạng lưới các dịch vụ phúclợi xã hội do các Sở LĐTBXH, tổ chức đoàn thể và phi chính phủ (quốc tế, trongnước, địa phương) cung cấp Các trung tâm sẽ đóng góp hỗ trợ cho các mạng lướinày Ngoài ra, các trung tâm sẽ đóng vai trò cầu nối với các ngành và dịch vụ khácnhư y tế, giáo dục và hệ thống tư pháp hình sự
9.Do quy mô và lực lượng cán bộ bán chuyên nghiệp và mạng lưới cộng tácviên có mặt tại cộng đồng, các trung tâm sẽ chủ yếu tập trung vào hoạt động canthiệp ‘thứ cấp’ và ‘tam cấp’ Các trung tâm cũng có thể hỗ trợ thêm cho các dịch
vụ ‘sơ cấp’ thông qua các hoạt động hỗ trợ, tư vấn và tập huấn dành cho các cán
bộ tại cộng đồng Các cấp độ dịch vụ sơ cấp, thứ cấp và tam cấp được thể hiệntrong Bảng 1 (bên dưới)
10 Các trung tâm dịch vụ CTXH sẽ góp phần vào quá trình nghiên cứu vàxây dựng chính sách nhằm đóng góp cho quá trình xây dựng chính sách và cải
Trang 33thiện dịch vụ Như vậy, các trung tâm sẽ có thể tham mưu và hỗ trợ cho quá trìnhquản lý và xây dựng chính sách tại cấp tỉnh/thành và trung ương
Nếu được cấu trúc theo cách thức sau, các trung tâm dịch vụ CTXH sẽ đưa
ra một khía cạnh mới và quan trọng để cải thiện tính hiệu năng của quá trình cungcấp dịch vụ phúc lợi xã hội tại Việt Nam Sơ đồ mô hình được trình bày trongBảng dưới đây
Cấp độ dịch
Sở LĐTBXH, cộng tácviên cơ sở, các tổ chứcđoàn thể
Tam cấp
Can thiệp sâu: tham vấn, hỗ trợtâm lý xã hội lâu dài, quản lý ca,
Bảng 2 : Can thiệp cấp độ sơ cấp, thứ cấp và tam cấp
5 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu :
5.1 Quận Hai Bà Trưng
Quận Hai Bà Trưng: Quận Hai Bà Trưng nằm ở phía Đông Nam nội thành
Hà Nội, là địa bàn có vinh dự được mang tên hai vị Nữ anh hùng đầu tiên tronglịch sử chống ngoại xâm của dân tộc: Hai Bà Trưng Trắc và Trưng Nhị
Quận Hai Bà Trưng phía Đông giáp sông Hồng, qua bờ sông là quận LongBiên; phía Tây giáp quận Đống Đa và một phần nhỏ giáp quận Thanh Xuân; phíaNam giáp quận Hoàng Mai; phía Bắc giáp quận Hoàn Kiếm Diện tích tự nhiên:9,62km² Dân số: 378.000 người (số liệu năm 2009)
Quận Hai Bà Trưng hiện có 20 phường: Nguyễn Du, Lê Đại Hành, Bùi ThịXuân, Phố Huế, Ngô Thì Nhậm, Phạm Đình Hổ, Đồng Nhân, Đống Mác, BạchĐằng, Thanh Lương, Thanh Nhàn, Cầu Dền, Bách Khoa, Quỳnh Lôi, Bạch Mai,
Trang 34Quỳnh Mai, Vĩnh Tuy, Minh Khai, Trương Định, Đồng Tâm.
Trụ sở UBND quận: số 32 phố Lê Đại Hành
5.2 Hội người khuyết tật quận Hai Bà Trưng
Bà Trưng, Thành phố Hà Nội
5.2.1.Lịch sử thành lập
Trung tâm hội người khuyết tật quận Hai Bà Trưng được thành lập năm
2008 trên địa bàn quận Hai Bà Trưng với số hội viên khuyết tật ban đầu là 80người và cho tới thời điểm này là 216 hội viên
5.2.2.Cơ cấu tổ chức
Hội người khuyết tật quận Hai Bà Trưng là một tổ chức được thống nhấtbao gồm các tổ chức thành viên và hội viên như sau:
Đại hội đại biểu
Ban chấp hành ( gồm: Chủ tịch, cácPhó Chủ tich, các ủy viên.)
Ban kiểm tra
Văn phòng và các bộ phận chuyên trách
Các CLB: CLB phụ nữ khuyết tật, CLB Thanh niên khuyết tật
Người khuyết tật từ 18 tuổi trở lên, người Đại diện pháp luật của ngườikhuyết tật trí tuệ, trẻ em khuyết tật, cư trú trên địa bàn Quận tán thành
Trang 35điều lệ Hội, có đơn tự nguyện gia nhập và tham gia hoạt động Hội đượcBan chấp hành xét và công nhận là Hội viên
Các tổ chức có cùng mục đích hoạt động hoặc hoạt động nhằm thựchiện các mục tiêu phát triển chung của người khuyết tật, được Ban chấphành xem xét và công nhận là Tổ chức thành viên của Hội
Hội viên danh dự được công nhận là hội viên Việt Nma có uy tín trongcộng đồng người khuyết tật, tán thành điều lệ Hội, được Ban Chấp hànhmời tham gia làm Hội viên danh dự Hội viên danh dự không được ứng
cử, đề cử vào Ban Lãnh đạo Hội và không được biểu quyết các vấn đề
về Hội
đường lối cảu Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước, cácQuy định cảu thành phố và tham gia phong trào thi đua yêu nước
do thành phố và quận phát động
2 Tổ chức các chương trình hoạt hoạt động nhằm viết Hội viênnâng cao trình độ văn hóa, xã hội, hiểu biết về các chính sáchPháp luật , học nghề , tạo việc làm để từng bước đảm bảo cuộcsống cảu bản thân, gia đình và có điều kiện tham gia các hoạtđông văn hóa, văn nghệ, tích cực hòa nhập đóng góp với cộngđồng xã hội
nghiệp, các tổ chức và các nhận ở trong và ngoài nước để thựchiện các chương trình vì người khuyết tật như: Nâng cao nhậnthực, hướng nghiệp, đào tạo việc làm, phát triển nguồn lực, traođổi kinh nghiệm hoạt động giao lưu, tư vấn giữa những người
Trang 36cùng cảnh ngộ, thông tin về các lĩnh vực liên quan đến ngườikhuyết tật trong nước và quốc tế.
3 Tập hợp, phản ánh nguyện vọng của tổ chức thành viên, hộiviên và kiến nghị với các cơ quan dân cử, cơ quan quản lý và cácngành chức năng trong việc ban hành, bổ xung sửa đổi và thựchiện pháp luật, chính sách, ché độ liên quan về người khuyết tật.Góp phần bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các tổ chứcthành viên và hôi viên
5.2.3.Đối tượng
Đối tượng là Hội viên trong hội bao gồm:
Người khuyết tận thuộc các loại hình khuyết tật khác nhau( khuyết tật vận động, khuyết tật tay, liệt nữa người, thọt tay, thọtchân, bại liệt, bạch tạng….)
6 Các khái niệm công cụ
6.1 Khái niệm “Công tác xã hội”
Định nghĩa của Hiệp hội quốc gia nhân viên xã hội Mỹ ( NASW -1970): "Công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồngtăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạonhững điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó
Theo tổ chức thực hành công tác xã hội ( The Foundation of Social WorkPractice): Công tác xã hội là một môn khoa học ứng dụng để giúp đỡ mọi ngườivượt qua những khó khăn của họ và đạt được một vị trí ở mức độ phù hợp trong xãhội Công tác xã hội được coi như là một môn khoa học vì nó dựa trên những luậnchứng khoa học và những cuộc nghiên cứu đã được chứng minh Nó cung cấp mộtlượng kiến thức có cơ sở thực tiễn và xây dựng những kỹ năng chuyên môn hóa
Định nghĩa của Hiệp hội nhân viên công tác xã hội Quốc tế thông qua tháng
7 năm 2000 tại Montréal, Canada (IFSW): "Nghề Công tác xã hội thúc đẩy sự thayđổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và
Trang 37giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái,
dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, Công tác
xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ Nhânquyền và Công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề"
6.2 Khái niệm “Người khuyết tật”
Người khuyết tật là người có một hoặc nhiều khiếm khuyết về thể chất hoặctinh thần mà vì thế gây ra suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện cáchọat động, sinh họat hàng ngày,
Đạo luật về người khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990 định nghĩa ngườikhuyết tật là người có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kểđến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống Cũng theo ADA những
ví dụ cụ thể về khuyết tật bao gồm khiếm khuyết về vận động, thị giác, nói vànghe, chậm phát triển tinh thần, bệnh cảm xúc và những khiếm khuyết cụ thể vềhọc tập, bại não, động kinh, teo cơ, ung thư, bệnh tim, tiểu đường, các bệnh lây vàkhông lây như bệnh lao và bệnh do HIV ( có triệu chứng hoặc không có triệuchứng)
Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới, có 3 mức độ suy giảm là khiếmkhuyết (impairment), khuyết tật ( disability) và tàn tật (handicap):
- Khiếm khuyết chỉ đến sự mất mát hoặc không bình thường của cấutrúc cơ thể liên quan đến tâm lý hoặc/và sinh lý
- Khuyết tật chỉa đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của
sự khiếm khuyết
- Tàn tật đề cập đến tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mangkhiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình trạngkhuyết tật của họ ( WHO, 1999)
Một số khái niệm mô tả mức độ khuyết tật được sử dụng trong báo cáoTổng điều tra Dân số năm 2009 Trong cuộc điều tra này đã sử dụng nhóm câu hỏingắn về khuyết tật được sử dụng về mức độ khó khăn trong việc thực hiện 4 chứcnăng là: 1) Nhìn; 2) Nghe; 3)Vận động và 4) Tập trung hoặc ghi nhớ Người trả lời
Trang 38sẽ tự đánh giá mức độ khó khăn của mình theo 4 mức độ: 1) Không có khó khăngì; 2) Có khó khăn; 3) Rất khó khăn; và 4) Không thể thực hiện được
- Người khuyết tật (NKT) là những người có khó khăn ( gồm nhữngngười “có khó khăn”,”rất khó khăn”,và “không thể thực hiện được”)trong việc thực hiện ít nhất một trong 4 chức năng nói trên
- Người không khuyết tật (NKKT) là những người không có khó khănnào trong việc thực hiện cả 4 chức năng nói trên
- Người đa khuyết tật ( NĐKT) là những người có khó khăn khăn ( gồmnhững người “có khó khăn”,”rất khó khăn”,và “không thể thực hiệnđược”) trong việc thực hiện được ít nhất từ hai chức năng ( trong 4chức năng nói trên) trở lên
- Người khuyết tật nặng (NKTN) gồm những người “không thể thựchiện” ít nhất một trong 4 chức năng nói trên
Theo Pháp Lệnh của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội số06/1998/PLUBTVQ10 ngày 30/7/1998 về Người Tàn Tật định nghĩa NKT khôngphân biệt nguồn gốc gây ra khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộphận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suygiảm khả năng hoạt động từ 41% trở lên ( được Hội đồng y khoa có thẩm quyềnxác định) khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn ( hồ sơ , thủtục giám định y khoa áp dụng theo hướng dẫn tại Thông tư 34/TT-LB ngày29/12/1993 của liên Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội – Bộ Y tế)
6.3 Khái niệm “Khuyết tật vận động”
Khuyết tật vận động bao gồm một loạt các dạng khuyết tật như mất chi, liệtnửa người, rối loạn thần thần kinh cơ, teo cơ … Những người mang dạng tật nàythường phải sử dụng các thiết bị trợ giúp như xe lăn, nạng, gậy, chân tay giả để cóthể di chuyển và thực hiện các họat động thường ngày Khuyết tật vận động có thể
là bẩm sinh, hoặc cũng có thể là do hậu quả của biến chứng một số bệnh như taibiến mậch máu não, đa sơ cứng, bại não hoặc do phải cắt cụt chi bởi tai nạn …
Trang 39Còn một số dạng tật vận động nữa nhưng không được nhận biết rõ rệt như chứngrối loạn hô hấp, bệnh động kinh…” ( Khaí niệm khuyết tật vận động của Trường
ĐH Bang California ở Northridge, nước Mỹ Được đưa ra trong cuốn “ Peoplewith disablilities in the workplace”)
6.4 Khái niệm “Nhu cầu”
gì đó mà con người cảm nhận được Như vậy cảm giác thiếu hụt một cái gì đó màcon người cảm nhận được đó là một trạng thái đặc biệt của con người, nó xuấthiện khi còn người tồn tại, sự thiếu hụt ấy đòi hỏi phải được thoả mãn, bù đắp
6.5 Khái niệm “ Dịch vụ xã hội”
Dịch vụ xã hội là hoạt động cung cấp, đáp ứng nhu cầu cho các cá nhân,nhóm người nhất định nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội Với nhómyếu thế, DVXH là các hoạt động có chủ đích của con người nhằm phòng ngừa-hạn chế và khắc phục rủi ro, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu cơ bản và thúc đẩykhả năng hoà nhập cộng đồng, xã hội cho nhóm đối tượng yếu thế
6.6 Khái niệm “Dịch vụ công tác xã hội”
Dịch vụ công tác xã hội là hoạt động chuyên nghiệp Công tác xã hội cungcấp các hoạt động hỗ trợ về tinh thần hay vật chất cho những người gặp hoàn cảnhkhó khăn như người nghèo, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, ngườigià,người là nạn nhân…, hoặc những người có nhu cầu hỗ trợ về mặt tâm lý xãhội, trợ giúp pháp lý nhằm giảm thiểu những rào cản, những bất công và bất bình
5 Phillip Kotler ( SN 27/5/1931) Giáo s v Marketting n i ti ng ng ư ều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009” do UNFPA xuất bản ết tật ở Việt Nam – Một số kết quả chủ ười Khuyết tật ở Việt Nam – Một số kết quả chủ i Mỹ
6 Đ Th Ng c Ph ịnh phê duyệt Đề án trợ giúp người khuyết tật giai ư ng (2012)“ M t s kinh nghi m qu c t và nh ng v n đ đ t ra đ i v i vi c ột số kết quả chủ ết tật ở Việt Nam – Một số kết quả chủ ững vấn đề đặt ra đối với việc ều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009” do UNFPA xuất bản ặt ra đối với việc ới NKT” trong bài phát biểu :” Việc phát tri n d ch v CTXH trong công tác b o v tr em “, k y u h i th o qu c t “Chia s kinh ểu :” Việc ịnh phê duyệt Đề án trợ giúp người khuyết tật giai ả chủ ẻ kinh nghiệm quốc tế về CTXH và An sinh xã hội”, ết tật ở Việt Nam – Một số kết quả chủ ột số kết quả chủ ả chủ ết tật ở Việt Nam – Một số kết quả chủ ẻ kinh nghiệm quốc tế về CTXH và An sinh xã hội”, nghi m qu c t v CTXH và An sinh xã h i” t i tr ết tật ở Việt Nam – Một số kết quả chủ ều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009” do UNFPA xuất bản ột số kết quả chủ ười Khuyết tật ở Việt Nam – Một số kết quả chủ ng ĐH KHXH&NV – tháng 11 năm 2012
Trang 40CHƯƠNG II.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Thực trạng việc làm của NKT vận động tại quận Hai Bà Trưng:
Trong số 9 người đang có việc làm thì chỉ 2 người trả lời rằng việc làm đãgiúp họ đáp ứng hầu hết hay tất cả các nhu cầu về việc làm 7 người còn lại thấyrằng việc mà họ đang làm hoàn toàn không đáp ứng được các nhu cầu việc làmhay chỉ đáp ứng được một phần rất nhỏ mà thôi Với 7 người này, khi được hỏi “Tại sao vẫn chấp nhận làm công việc này khi không đáp ứng được nhu cầu ?” Có 5người chọn mục “ Không tìm được việc nào khác” và 2 người khác chọn “ Làm