1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu khả năng tích lũy các bon của rừng trồng mỡ (manglietia conifera) tại xã chu hương, huyện ba bể, tỉnh bắc kạn

37 774 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 390,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những nghiên cứu về ảnh hưởng và biến động khí CO 2 trong khí quyển đối với sự thay đổi khí hậu Các lý thuyết về sự hâm nóng toàn cầu phát sinh từ cuối thế kỷ XIX do nhữngnhà khoa học Th

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-NGUYỄN VĂN HÙNG

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TÍCH LŨY CÁC BON

XÃ CHU HƯƠNG, HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN

ĐỀ CƯƠNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : QLTNR Khoa : Lâm nghiệp Khoá học : 2011 - 2015

Thái Nguyên - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-NGUYỄN VĂN HÙNG

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TÍCH LŨY CÁC BON

XÃ CHU HƯƠNG, HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN

ĐỀ CƯƠNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : QLTNR Khoa : Lâm nghiệp Khoá học : 2011 - 2015 Giảng viên hướng dẫn:

1 ThS Nguyễn Tuấn Hùng

2 TS Đỗ Hoàng Chung

Thái Nguyên - 2014

MỤC LỤC

Trang 3

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 5

1.1 Tính cấp thiết 5

1.2 Mục tiêu 6

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 7

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 7

PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8

2.1 Trên thế giới 8

2.1.1 Những nghiên cứu về ảnh hưởng và biến động khí CO 2 trong khí quyển đối với sự thay đổi khí hậu 8

2.1.2 Nghiên cứu về sự tích lũy Các bon trong các hệ sinh thái rừng 9

2.1.3 Những nghiên cứu về phương pháp xác định Các bon trong sinh khối 11

2.2 Một số hoạt động có liên quan đến Cơ chế phát triển sạch - CDM 12

2.3 Kết luận chung 15

2.4 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 15

2.4.1 Điều kiện tự nhiên 15

2.4.1.1 Vị trí địa lý 15

2.4.1.2 Địa hình, địa mạo 16

2.4.1.3 Khí hậu 16

2.4.1.4 Thuỷ văn 16

2.4.1.5 Hiện trạng tài nguyên rừng 16

2.4.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội xã Chu Hương 16

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

3.1 Nội dung 18

3.2 Phương pháp nghiên cứu 18

3.2.1 Cách tiếp cận 18

3.2.2 Phương pháp kế thừa 18

3.2.3 Phương pháp phỏng vấn (PRA) 19

3.2.4 Phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn 19

3.2.4.1 Số lượng và vị trí các ô mẫu 19

3.4.2.2 Hình dạng và kích thước ô mẫu 19

3.2.4.3 Các bể chứa các bon phần trên mặt đất cần đo đếm 20

3.2.4.4 Đo đếm tại ô tiêu chuẩn 20

3.2.5 Tính toán xử lý số liệu 25

PHẦN 4 KẾT QUẢ DỰ KIẾN VÀ KẾ HOẠCH THỰC HIỆN 28

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 5

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết

Thế kỷ XX, nhân loại chứng kiến sự phát triển như vũ bão của khoa học, kỹthuật và công nghệ Từ đó tạo cho con người có nhiều điều kiện để giải quyết các vấn

đề về cuộc sống, quan hệ xã hội, trí tuệ, tìm hiểu khoa khọc tự nhiên Theo đó, cuộcsống của con người có nhiều tiến bộ đáng kể Tuy nhiên, chính sự phát triển quá nóngnhư vậy, Chính phủ các nước hầu như chưa quan tâm đến sự phát triển bền vững, hàihoà giữa kinh tế với bảo đảm môi trường trên trái đất

Kết quả của việc phát triển kinh tế mà chưa quan tâm đến bảo vệ môi trường là

sự gia tăng của nồng độ CO2 trong khí quyển Các nhà nghiên cứu lo ngại rằng sự giatăng các khí gây hiệu ứng nhà kính, đặc biệt là khí CO2, chính là nhân tố gây nênnhững biến đổi bất ngờ và không lường trước của khí hậu Trong khi đó rừng có vaitrò điều tiết khí hậu, đặc biệt là khả năng hấp thụ khí thải CO2 Vì vậy, cần thiết phảiphát triển và tạo ra những diện tích rừng đủ lớn để hấp thụ CO2, góp phần giảm hiệuứng nhà kính trên tầng khí quyển bề mặt trái đất Ngày nay, với nhận thức và tráchnhiệm đối với sự tồn vong của nhân loại, Chính phủ nhiều nước đã có sự quan tâm,nghiên cứu và đi vào giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môitrường sinh thái, phát triển bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên Từ đó, xây dựngcác công ước quốc tế, nghị định thư để thống nhất các biện pháp bảo vệ môi trường,điều hoà khí hậu ở các quốc gia trên thế giới

Ở Việt Nam chúng ta, trong những năm cuối của thế kỷ XX, với hậu quả củacuộc chiến tranh kháng chiến chống Mỹ, sức ép về điều kiện kinh tế, sự gia tăng dân

số, kiến thức về môi trường, năng lực quản lý diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp,nguồn tài nguyên rừng hầu như bị triệt phá hoàn toàn, giá trị kinh tế, vai trò điều hoàkhí hậu, điều hoà sinh thái của rừng suy giảm nghiêm trọng, thậm chí mất cân bằngsinh thái, giảm khả năng điều hoà nguồn nước bề mặt và nước ngầm, đã ảnh hưởngrất lớn tới khí hậu, tới đời sống người dân Trong gần 20 năm trở lại đây, Đảng, Nhànước đã có những chủ trương lớn nhằm phục hồi, phát triển nguồn tài nguyên rừngthông qua các chính sách liên quan đến rừng và các dự án, chương trình trồng rừng,khoanh nuôi, bảo vệ rừng cũng như những chính sách đối với người dân có cuộc sốnggắn bó với rừng và nghề rừng như: Dự án 327, PAM, 661; các dự án trồng rừng kinh

Trang 6

tế, các chương trình trồng rừng ở các địa phương; các hoạt động liên quan đến bảotồn và phát triển rừng của các tổ chức phi chính phủ Các hoạt động trên đã gópphần quan trọng vào việc tăng diện tích đất có rừng ở nước ta, cũng như từng bướcđảm bảo cuộc sống người dân có cuộc sống gắn bó với rừng.

Chu Hương là xã nằm ở phía Nam huyện Ba Bể Tài nguyên rừng của ChuHương đa dạng và phong phú, có nhiều chủng loại cây gỗ với tổng diện tích đất lâmnghiệp có rừng là 2.657,06 ha chiếm 74,19% tổng diện tích đất tự nhiên Phần lớndiện tích rừng hiện nay chủ yếu đã giao cho các hộ gia đình, cá nhân quản lý Diệntích rừng sản xuất là 2355,23 ha trong đó chủ yếu là rừng trồng Mỡ, diện tích rừngtrồng này đã đóng góp lớn trong tỷ lệ che phủ rừng của địa phương, đóng góp chonguồn sinh kế của người dân

Nhằm đi sâu nghiên cứu, đánh giá giá trị môi trường và khả năng tích luỹ cácbon của rừng trồng Mỡ trên địa bàn xã Chu Hương, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn hiệnnay, dự báo khả năng hấp thụ CO2 của rừng Mỡ và các phương thức quản lý rừng đểlàm cơ sở khuyến khích, xây dựng cơ chế chi trả dịch vụ môi trường, đây chính lànhững vấn đề còn thiếu nhiều nghiên cứu ở Việt Nam Trên cơ sở đó, có những đềxuất, khuyến cáo người dân, cấp uỷ, chính quyền địa phương để có những địnhhướng, lựa chọn loại cây để đưa vào trồng rừng ở địa phương nhằm đáp ứng tốt nhấthiệu quả kinh tế và hiệu quả bảo vệ môi trường trong thời gian tới Từ những điềukiện thực tiễn và nhu cầu khoa học trên đây nên tôi chọn đề tài nghiên cứu của mình

là: “Nghiên cứu khả năng tích lũy các bon của rừng trồng Mỡ (Manglietia

conifera) tại xã Chu Hương, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn ”

Trang 7

- Đánh giá được lượng các bon tích lũy trong rừng trồng Mỡ tại xã Chu Hương,huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.

- Lượng hóa được năng lực hấp thu CO2 của rừng trồng Mỡ tại xã Chu Hương,huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn

- Bước đầu lượng hóa được giá trị môi trường của rừng trồng Mỡ tại khu vựcnghiên cứu

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lâm phần rừng trông mỡ tại xã Chu Hương,huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung xác định lượng các bon tích lũy củarừng trồng Mỡ ở các cấp tuổi 3, 5, 7 và lớn hơn 7 tuổi tại xã Chu Hương, huyện Ba

Bể, tỉnh Bắc Kạn

Trang 8

PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Trên thế giới

2.1.1 Những nghiên cứu về ảnh hưởng và biến động khí CO 2 trong khí quyển đối với sự thay đổi khí hậu

Các lý thuyết về sự hâm nóng toàn cầu phát sinh từ cuối thế kỷ XIX do nhữngnhà khoa học Thụy Điển trong khi quan sát sự thay đổi nhiệt độ của không khí bị ônhiễm để rồi từ đó kết luận rằng trái đất nóng dần do con người phóng thích các khí ônhiễm vào không khí Lý thuyết này là nguyên nhân khởi đầu cho bao cuộc thảo luậnsau đó giữa các nhà khoa học Họ đã tiên đoán là từ năm 1896, thán khí (CO2) thảivào không khí do việc đốt than đá để tạo ra năng lượng là nguyên nhân chính gây ra

“hiệu ứng nhà kính”

Mãi đến năm 1949, sau khi khảo sát hiện tượng tăng nhiệt độ trong không khí

ở Âu Châu và Bắc Mỹ từ năm 1850 đến 1940 so với các nơi khác trên thế giới, cácnhà nghiên cứu Anh đã đi đến kết luận là sự phát triển ở các quốc gia kỹ nghệ đã làmtăng lượng ô nhiễm thán khí trong không khí, do đó làm cho mặt đất ở hai vùng nàynóng mau hơn so với các vùng chưa phát triển

Đến năm 1958, các cuộc nghiên cứu ở phòng thí nghiệm Mauna LoaObservatory (Hawai) đặt ở độ cao 3.345m đã chứng minh được khí CO2 là nguyênnhân chính yếu của sự gia tăng nhiệt độ

Đến năm 1976, các chất khí methane (CH4), chlorofluoroCác bon (CFC),nitrogen dioxide (NO2) cũng được xác nhận là nguyên nhân của hiệu ứng nhà kính.Các cuộc nghiên cứu do hai khoa học gia Karl và Trenberth trên tạp chí Sciences sốtháng 12/2003 nói lên tính chất khẩn thiết của vấn đề này Theo ước tính của hai ôngthì từ năm 1990 đến 2100, nhiệt độ trên mặt địa cầu sẽ tăng từ 3,1 đến 8,9oF (1,6 đến4,2oC); sự tăng nhiệt độ này sẽ làm nóng chảy hai tảng băng ở Greenland và Antartica

và có thể làm ngập lụt các bờ biển (và người ta cũng ước tính được rằng CO2 trongkhông khí đã tăng 30% từ năm 1750 đến nay) Điều này sẽ làm thu hẹp diện tích đấtsống của con người trên quả địa cầu, để rồi từ đó sinh ra nhiều hệ lụy như sau [43]:– Trái đất sẽ chịu đựng những luồng khí nóng bất thường;

– Hạn hán sẽ thường xuyên hơn và xảy ra ở nhiều nơi;

– Mưa to, bão tố xảy ra bất thường cũng như không thể tiên liệu trước như hiện nay;

Trang 9

– Các hệ thực vật, sinh vật trên trái đất sẽ bị thay đổi;

– Sau cùng mực nước biển sẽ dâng cao ở nhiều nơi, ước tính khoảng 0,75 –1,5m vàonăm 2100

Vai trò gây nên hiệu ứng nhà kính của các chất khí được xếp thứ tự theo tỉ lệđược trình bày trong bảng sau:

Bảng 1: Tỉ lệ đóng góp gây hiệu ứng nhà kính của các loại khí trong khí quyển

(Nguồn: Md Mahmudur Rahman, 2004)

Tóm lại, “Hiệu ứng nhà kính” có thể được giải thích một cách khoa học vàhình tượng hơn như sau: Các khí kể trên (cũng được gọi là “khí nhà kính” –KNK) dichuyển trong bầu khí quyển, “nhốt” (trap) khí nóng, các bức xạ nhiệt thải hồi từ mặtđịa cầu tại nơi đây, do đó khí nóng này không thể thoát ra ngoài không gian được.Ngược lại, các khí trên cũng đã “hành xử” như một nhà kính để lọc các tia sáng mặttrời trước khi vào trái đất

2.1.2 Nghiên cứu về sự tích lũy Các bon trong các hệ sinh thái rừng

Theo số liệu của Tổ chức Lương Nông thế giới (FAO): tổng diện tích rừngtrên thế giới hiện nay khoảng 4 tỉ ha, chiếm gần 30% diện tích đất toàn cầu Hàngnăm trên toàn thế giới bị mất đi khoảng 13 triệu ha rừng (trong đó có khoảng 0,4% làrừng nguyên sinh) và con số này vẫn chưa có dấu hiệu giảm, đặc biệt là trong nhữngnăm gần đây những vụ cháy rừng có qui mô lớn đã xảy ra ngày càng nhiều hơn trước(như ở Indonesia, Mỹ, Nga vừa qua…) Từ đó tổ chức này đã cảnh báo: nạn phá rừnglấy đất sản xuất, làm nhà ở, nhất là nạn khai thác rừng lấy gỗ một cách bừa bãi vàhiểm họa cháy rừng hiện làm cho trái đất ngày càng bị sa mạc hóa, nhiều động thựcvật quý hiếm đã và đang bị diệt chủng Các chuyên gia khí tượng trên thế giới cũngcho biết, nhiệt độ trung bình trên thế giới từ đầu năm 2007 đã cao hơn mức nhiệt độtrung bình của thế kỷ XX là khoảng 0,720 C, gây ra hạn hán kéo dài, mưa lớn, bãotuyết, lũ lụt và sụt lở đất … diễn ra trong những năm trở lại đây thường xuyên hơn

Trang 10

Phá rừng cũng là một trong những nguyên nhân chính làm cho lượng CO2 tăng lên Đây là một trong những nguyên nhân làm biến đổi khí hậu trái đất [39]

-Ngày nay, theo quan sát của các nhà khoa học đã cho thấy trong hệ sinh tháirừng có 6 loại bể chứa Các bon là: sinh khối trên mặt đất bao gồm: cây trồng và cácthảm thực vật khác; sinh khối dưới mặt đất: thảm mục, thảm tươi, gỗ chết, Các bonhữu cơ trong đất, trong rễ cây Trong khi đó các thảm thực vật đã thu giữ một trữlượng CO2 lớn hơn một nửa khối lượng chất khí đó sinh ra từ sự đốt cháy các nhiênliệu hoá thạch trên thế giới Và từ nguyên liệu Các bon này hằng năm thảm thực vậttrên trái đất đã tạo ra được 150 tỷ tấn vật chất khô thực vật Khám phá này càngkhẳng định thêm vai trò hệ sinh thái rừng trong việc làm giảm lượng CO2 trong khíquyển [40]

Theo một nghiên cứu mới của các nhà khoa học Úc về “Các bon xanh” và vaitrò của nó đối với biến đổi khí hậu, rừng nguyên sinh có khả năng lưu giữ CO2 nhiềuhơn gấp 3 lần so với ước tính trước kia và nhiều hơn 60% so với rừng trồng Các nhàkhoa học thuộc trường Đại học Quốc gia Úc cho biết, cho đến nay vai trò của các khurừng nguyên sinh và sinh khối Các bon xanh của các khu rừng này chưa được đánhgiá đúng mức trong cuộc chiến chống lại sự nóng lên của trái đất Các nhà khoa họccho rằng Uỷ ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) và Nghị định thư Kyoto

đã không nhận ra sự khác biệt về khả năng hấp thụ Các bon giữa rừng trồng và rừngnguyên sinh Rừng nguyên sinh có thể hấp thụ lượng Các bon nhiều gấp 3 lần so vớiước tính hiện thời Hiện nay, khả năng hấp thụ Các bon của rừng được tính toán dựatheo rừng trồng Chính sự khác biệt trong việc định nghĩa một khu rừng cũng dẫn đếnviệc đánh giá không đúng mức sinh khối Các bon trong các khu rừng lâu năm…Những khu rừng chưa bị khai thác ở Úc có thể hấp thụ khoảng 640 tấn Các bon trên 1

ha, thế nhưng theo ước tính của IPCC thì con số này chỉ khoảng 217 tấn Các bon trên

1 ha Còn theo tính toán của các nhà khoa học, nếu những khu rừng bạch đàn ở phíaĐông Nam Australia không bị xâm phạm thì với diện tích 14,5 triệu ha rừng, sẽ có9,3 tỉ tấn Các bon được lưu trữ trong đó Nhưng theo cách tính toán của IPCC thìlượng Các bon trong những khu rừng bạch đàn này chỉ đạt khoảng 1/3 con số các nhàkhoa học đã đưa ra và chỉ bằng 27% sinh khối Các bon của các khu rừng này Rừng

tự nhiên không chỉ hấp thụ nhiều Các bon hơn rừng trồng mà chúng còn lưu giữ đượcCác bon lâu hơn bởi vì rừng tự nhiên được bảo vệ trong khi rừng trồng bị khai thácmột cách luân phiên

Trang 11

Brendan Mackey, thành viên của nhóm tác giả nhận xét việc bảo vệ rừng tựnhiên sẽ là “Một mũi tên trúng hai đích”, vừa giữ được một bể hấp thụ Các bon lớn,vừa ngăn chặn việc giải phóng Các bon trong rừng ra ngoài

Ước tính lượng Các bon lưu giữ trong sinh khối và đất khoảng gấp 3 lần lượngCác bon có trong khí quyển Và khoảng 35% khí nhà kính trong khí quyển là hậu quảcủa nạn phá rừng trong quá khứ và 18% lượng phát thải khí này hàng năm là do nạnphá rừng liên tục Do đó, “Duy trì lượng Các bon lưu giữ trong các khu rừng tự nhiênđồng nghĩa với việc ngăn chặn lượng Các bon gia tăng do đốt nhiên liệu hoá thạch”

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, những khu rừng bị chặt phá giảm hơn 40%lượng Các bon hấp thụ so với những khu rừng không bị chặt phá Phần lớn lượng Cácbon sinh khối trong các khu rừng tự nhiên được giữ trong sinh khối gỗ của những cây

cổ thụ lớn Việc phá rừng vì lợi ích thương mại làm thay đổi cơ cấu niên đại củarừng, mức tuổi trung bình của cây cối trong rừng bị giảm đi rất nhiều và khả năng hấpthụ Các bon cũng giảm Vì thế, sinh khối Các bon trong các khu rừng chuyên dụng đểlấy gỗ cũng như trong các khu đồn điền độc canh sẽ luôn luôn thấp hơn đáng kể sovới sinh khối Các bon ở các khu rừng tự nhiên không bị xâm phạm

Theo Schimel và cộng sự (2001) [43], trong chu trình Các bon toàn cầu, lượngCác bon lưu trữ trong thực vật thân gỗ và trong lòng đất khoảng 2,5Tt; trong khi đókhí quyển chỉ chứa 0,8Tt và hầu hết lượng Các bon trên trái đất được tích lũy trongsinh khối cây rừng

2.1.3 Những nghiên cứu về phương pháp xác định Các bon trong sinh khối

Khi nghiên cứu lượng Các bon lưu trữ trong rừng trồng nguyên liệu giấy,Romain Piard (2005) đã tính lượng Các bon lưu trữ trên tổng sinh khối tươi trên mặtđất, thông qua lượng sinh khối khô (không còn độ ẩm) bằng cách lấy tổng sinh khốitươi nhân với hệ số 0,49 sau đó nhân sinh khối khô với hệ số 0,5 để xác định lượngCác bon lưu trữ trong cây

Những năm gần đây, tại một số công trình nghiên cứu tương tự người ta đã xácđịnh rằng: Các bon được ước lượng là một hằng số tương đối, tỉ lệ với sinh khối trongtừng đối tượng như sau:

– Sinh khối sống, đứng và sinh khối gỗ nằm, chết: Sinh khối * 0,47 = C.– Xác bã, thảm mục: Sinh khối * 0,37 = C

– Trong đất: Cần lấy mẫu phân tích trong phòng thí nghiệm [18]

Trang 12

Ngoài ra Các bon được xác định thông qua việc tính toán sự thu nhận và điềuhòa CO2 và O2 trong khí quyển của thực vật bằng cách phân tích hàm lượng hóa họccủa Các bon, hydro, oxy, nitơ và tro trong 01 tấn chất khô.

2.2 Một số hoạt động có liên quan đến Cơ chế phát triển sạch - CDM

Cơ chế phát triển sạch (CDM) là một phương thức hợp tác quốc tế mới tronglĩnh vực môi trường giữa các quốc gia đang phát triển và các quốc gia đã công nghiệphoá Đây là hình thức hợp tác được xây dựng theo Nghị định thư Kyoto nhằm hỗ trợcác nước đang phát triển thực hiện phát triển bền vững thông qua sự đầu tư vào lĩnhvực môi trường của chính phủ các nước công nghiệp hoá và các công ty, doanhnghiệp của các nước này Trong rất nhiều hội nghị, diễn đàn thế giới và khu vực diễn

ra mới đây đều cho thấy: Biến đổi khí hậu mà biểu hiện chủ yếu là hiện tượng nónglên toàn cầu và nước biển dâng đang là mối quan tâm chung của toàn cầu, nó đã vàđang ảnh hưởng tới toàn bộ đời sống vật chất và môi trường sống của chúng ta Mặc

dù các nước tham gia Công ước khung của Liên Hợp Quốc (LHQ) về biến đổi khíhậu, nghị định thư Kyoto cũng rất nỗ lực trong việc giảm thiểu phát thải khí nhà kính

ra khí quyển nhằm đạt được mục tiêu chung trong việc bảo vệ hệ thống khí hậu tráiđất Tuy nhiên, công tác này vẫn còn gặp nhiều khó khăn và là thách thức lớn nhấtđối với nhân loại trong thế kỷ XXI Tuy nhiên cộng đồng quốc tế vẫn đang hợp tác,tìm “tiếng nói” chung cùng nhau giải quyết vấn đề này, trên cơ sở pháp lý là Côngước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu và Nghị định thư Kyoto

Trong 3 cơ chế của Nghị định thư Kyoto, Cơ chế phát triển sạch (CDM) có ýnghĩa cực kỳ quan trọng đối với các nước đang phát triển Cơ chế này giúp các nướcđang phát triển, triển khai các công nghệ thân thiện môi trường bằng các nguồn vốnđầu tư của chính phủ, doanh nghiệp các nước phát triển CDM cho phép các quốc giavới những mục tiêu giảm phát thải bắt buộc được phát triển dự án tại các quốc giađang phát triển Đồng thời, cơ chế phát triển sạch CDM cũng nhằm mục tiêu hướngtới phát triển bền vững bằng các cam kết cụ thể về hạn chế và giảm lượng khí nhàkính phát thải định lượng của các nước trên phạm vi toàn cầu

Thời gian qua, các dự án CDM đã đem lại lợi ích rõ rệt về môi trường và kinh

tế cho cả hai phía - phía các nước công nghiệp hoá (tức là các nhà đầu tư dự ánCDM) và phía các nước đang phát triển (hay còn gọi là các nước tiếp nhận dự ánCDM) Về mặt kinh tế, nguồn tài trợ từ các dự án CDM sẽ giúp các nước đang pháttriển đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội, môi trường và phát triển bền vững, chẳng hạn

Trang 13

như giảm ô nhiễm không khí và nước, cải thiện sử dụng đất, nâng cao phúc lợi xã hội,xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm hay giảm phụ thuộc vào nhập khẩu nhiên liệu hoáthạch… Ở mức độ toàn cầu, thông qua các dự án giảm phát thải, CDM có thể khuyếnkhích đầu tư quốc tế, thúc đẩy cung cấp nguồn lực cần thiết cho tăng trưởng kinh tế ởnhiều nơi, nhiều khu vực trên thế giới.

Do đặc điểm có bờ biển dài thấp và dễ bị ảnh hưởng của bão, lốc, lượng mưacao và thất thường, nước ta được đánh giá là một trong những quốc gia dễ bị tác động

và chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu trên thế giới Theo một nghiên cứuthì đến năm 2050 mực nước biển ước tính sẽ dâng thêm 33cm và đến năm 2100 sẽ là1m Nếu mực nước biển dâng lên 1m thì 7% đất nông nghiệp và 11% dân số của ViệtNam sẽ bị ảnh hưởng, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) sẽ giảm đi khoảng 10% và LiênHợp Quốc cũng đã cảnh báo: nếu mực nước biển tăng thêm 1m thì Việt Nam sẽ đốimặt với mức thiệt hại lên tới 17 tỉ USD/năm; 1/5 dân số mất nhà cửa; 12,3% diện tíchđất trồng trọt biến mất; 40.000km2 diện tích đồng bằng, 17km2 bờ biển ở khu vực cáctỉnh lưu vực sông Mêkông sẽ chịu tác động của lũ ở mức độ không thể dự đoán [18,12]

Là một nước đang phát triển và cũng không thuộc diện phải cắt giảm lượngphát thải khí nhà kính, song từ những tính toán và dự báo trên, chúng ta đã nhanhchóng tham gia các diễn đàn quốc tế về các vấn đề liên quan như kí Công ước khung(1992), Nghị định thư Kyoto (1997), các dự án CDM; thành lập các cơ quan đầu mốiquốc gia (tháng 3 năm 2003, theo yêu cầu của Nghị định thư Kyoto và Thoả thuận bổsung Marrakech, Việt Nam đã thành lập Cơ quan quốc gia về CDM thuộc Văn phòngOzone và biến đổi khí hậu, trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì cùng 09

Bộ, ngành liên quan) … tức là Việt Nam đã và đang chuẩn bị đầy đủ các điều kiệntheo qui định của thế giới trong việc xây dựng và thực hiện các dự án tiềm năng vềCDM thuộc các lĩnh vực: Bảo tồn và tiết kiệm năng lượng; Chuyển đổi sử dụng nhiênliệu hóa thạch; Thu hồi và sử dụng CH4 từ rác thải và khai thác mỏ quặng

Tháng 04/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 47/2007/QĐ-TTg vềviệc phê duyệt Kế hoạch tổ chức thực hiện Nghị định thư Kyoto thuộc Công ướckhung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu giai đoạn 2007 – 2010, trong đó đề caomục tiêu huy động mọi nguồn lực thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội theohướng phát triển nhanh, bền vững, bảo vệ môi trường và đóng góp vào việc tổ chứcthực hiện UNFCCC, Nghị định thư Kyoto, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước

Trang 14

vào các dự án CDM, khuyến khích cải tiến công nghệ, tiếp nhận, ứng dụng công nghệcao, công nghệ sạch, kỹ thuật hiện đại…

Hiện nay, Việt Nam đã phê duyệt 105 dự án CDM và 15 dự án CDM đượcquốc tế công nhận Các dự án này đã đem lại những hiệu quả rõ rệt Kết quả thu được

từ các dự án CDM ở nước ta trong thời gian qua là hết sức thiết thực Điển hình là Dự

án tăng hiệu quả sử dụng năng lượng trong lĩnh vực nồi hơi công nghiệp và Dự án thugom khí đồng hành mỏ Rạng Đông của nhà thầu JVPC (Nhật) Dự án trong lĩnh vựcnồi hơi công nghiệp có mục tiêu giảm tiêu thụ năng lượng của nồi hơi công nghiệp,nâng cao hiệu suất nồi hơi với chi phí đầu tư thấp, nhờ đó giảm phát thải khí CO2trong lĩnh vực công nghiệp Kết quả cụ thể thu được từ Dự án này là giảm đượckhoảng 150 nghìn tấn CO2 mỗi năm, nhờ tăng được hiệu suất trung bình của nồi hơicông nghiệp từ 45% lên 60%

Bên cạnh các hoạt động đó, trong những năm gần đây Việt Nam đã có những

nỗ lực thực hiện một số nghiên cứu về vấn đề biến đổi khí hậu và CDM, qua đó đãthu được một số dẫn liệu quan trọng như sau:

– Các nguồn KNK chính ở Việt Nam là: năng lượng, nông nghiệp, thay đổi sử dụngđất và lâm nghiệp (trong đó thay đổi sử dụng đất là 50,5% và lâm nghiệp là 18,7%tổng phát thải quốc gia) Theo kết quả kiểm kê KNK quốc gia năm 1994 ở Việt Nam,tổng phát thải KNK là 103,8 triệu tấn CO2, bình quân khoảng 1,4 tấn/người/năm.– Các kết quả nghiên cứu chiến lược quốc gia về CDM, trong lĩnh vực thay đổi sửdụng đất và lâm nghiệp, thì tiềm năng hấp thụ KNK của rừng vào khoảng 52,2 triệutấn CO2 với chi phí giảm thấp dao động từ 0,13 USD/tấn CO2 – 2,4 USD/tấn CO2,trong khi chi phí giảm thấp CO2 trong lĩnh vức năng lượng giao động từ 22,3USD/tấn – 154,22 USD/tấn CO2

Do thị trường mua bán giảm phát thải KNK còn quá mới mẻ, các doanhnghiệp còn thiếu thông tin về thị trường này, do đó mặc dù tiềm năng thị trườngViệtNam là rất lớn nhưng còn quá ít các doanh nghiệp tham gia Đã đến lúc nhà nướcphải phổ biến rộng rãi hơn, cung cấp nhiều thông tin hơn cho các nhà doanh nghiệp

để họ có thể cân nhắc khi tham gia thị trường

Đến nay có thể nói rằng hành trình của Việt Nam trên con đường tuân thủcông ước của Liên Hợp Quốc về thay đổi khí hậu, nghị định thư Kyoto nói chung và

Cơ chế phát triển sạch nói riêng mới chỉ bắt đầu Nhưng với những thành công bướcđầu, với những cơ chế, chính sách đã và đang xây dựng và những nguồn lực sẵn có sẽ

Trang 15

giúp Việt Nam thành công hơn nữa trong các dự án CDM, vững bước hơn trên conđường hướng tới một quốc gia tăng trưởng về kinh tế, phát triển về xã hội và bềnvững về môi trường.

2.3 Kết luận chung

Trên đây là một vài nét cơ bản về các công trình nghiên cứu về tích lũy các bon, đadạng sinh học thực vật trong và ngoài nước Thông qua các công trình nghiên cứu của cácnhà khoa học ta có thể nhận thấy lĩnh vực nghiên cứu trữ lượng các bon, động thái hấp thụcác bon của rừng còn rất mới và rất cần sự quan tâm của các nhà khoa học

Việc định lượng các bon mà rừng hấp thụ là một vấn đề phức tạp, liên quanđến nhiều vấn đề nội tại của thực vật, vì vậy phần lớn các nghiên cứu mới chỉ tậptrung và xác định lượng các bon tích lũy tại thời điểm nghiên cứu

Thị trường về mua bán các bon đã bắt đầu sôi động, bao gồm cả vấn đề cơ chếgiảm phát thải và khả năng hấp thụ CO2 của rừng

Việc nghiên cứu trữ lượng các bon hấp thụ của rừng là bước ngoặt quan trọngtrong việc xác định cơ sở để thực hiện Nghị định thư Kyoto, đồng thời còn góp phầnvào bảo vệ môi trường sinh thái, đa dạng sinh học, giảm thiểu phát thải khí nhà kínhthông qua hoạt động trồng rừng và tái trồng rừng Đây cũng là một cơ hội để khẳngđịnh chức năng môi trường của rừng cũng như giá trị đích thực của rừng, cơ hộithương mại các bon, một tiềm năng rất lớn trong lĩnh vực kinh doanh lâm nghiệp màtrước đây hầu như chưa hề đề cập đến

2.4 Tổng quan về khu vực nghiên cứu

2.4.1 Điều kiện tự nhiên

2.4.1.1 Vị trí địa lý

Chu Hương là xã nằm ở phía Nam huyện Ba Bể, cách trung tâm huyện Ba Bểkhoảng 20 km; có trục đường 258 đi qua địa phận xã, đường liên xã Chu Hương – HàHiệu dài 11km được nâng cấp và mở rộng, Có chợ Pù Mắt là trung tâm giao lưu hànghóa, thương mại và dịch vụ cụm Nam của huyện Xã có tổng diện tích đất tự nhiên là3478,96 ; Trong đó diện tích đất nông nghiệp: 3303,97 ha; nghành nghề chủ yếu làphát triển nông - lâm nghiệp – chăn nuôi và các dịch vụ khác Có ranh giới hànhchính tiếp giáp với các xã như sau:

- Phía Bắc giáp xã Hà Hiệu huyện Ba Bể

- Phía Nam giáp xã Mỹ Phương huyện Ba Bể

Trang 16

- Phía Đông giáp huyện Ngân Sơn

- Phía Tây giáp xã Đồng Phúc và xã Yến Dương huyện Ba Bể

2.4.1.2 Địa hình, địa mạo

Chu Hương là xã có địa hình đồi núi cao, bị chia cắt bỏi các thung lung , cácdãy núi cao, những núi thấp, thoải tạo thành những cánh đồng bậc thang nhỏ hẹp Xã

có độ cao trung bình từ 400 đến 1200m so với mặt nước biển

2.4.1.3 Khí hậu

Theo trung tâm dự báo khí tượng thuỷ văn tỉnh Bắc Kạn, xã Chu Hương nằmtrong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có hai mùa rõ rệt chia hai mùa rõ rệt.Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau

2.4.1.4 Thuỷ văn

Mạng lưới thuỷ văn của xã có 32 kênh mương, 25 phai đập cùng với hệ thống

ao hồ, đập lớn nhỏ là những nguồn nước quý phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất Mặc

dù có nguồn nước dồi dào như vậy nhưng do địa hình đồi núi nên việc tưới tiêu chocây trồng vẫn còn gặp nhiều khó khăn nhất là những khu ruộng bậc thang hay khuruộng cao Tuy nhiên, vào thời kỳ đầu năm, do điều kiện thời tiết khắc nghiệt nênthường xảy ra tình trạng hạn hán nên UBND xã kết hợp với trạm thuỷ nông huyệnbơm nước chống hạn

2.4.1.5 Hiện trạng tài nguyên rừng

Tài nguyên rừng của Chu Hương đa dạng và phong phú, có nhiều chủng loạicây gỗ với tổng diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 2.657,06 ha chiếm 74,19% tổngdiện tích đất tự nhiên Số diện tích rừng hiện nay chủ yếu là các hộ gia đình, cá nhânquản lý Diện tích rừng sản xuất là 2355,23 ha bao gồm các loại cây: keo và cây bản

địa Ngoài ra còn có 301,83 ha rừng phòng hộ, chiếm 8,43 % tổng diện tích đất tự

nhiên

Mặc dù diện tích rừng trồng tương đối lớn nhưng chủ yếu là rừng non mới táisinh hoặc mới trồng theo các chương trình như PAM, 327, 661 Điều đặc biệt cầnđược quan tâm hiện nay là khu rừng tự nhiên đang bị khai thác không đúng chu kỳ và

kỹ thuật, chặt phá không xin phép Do đó trong thời gian tới cần có biện pháp quản lýchặt chẽ nhằm bảo vệ tốt quỹ rừng hiện có này

2.4.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội xã Chu Hương

Chu Hương có 19 thôn, do tập quán canh tác lâu đời đã hình thành nên các khudân cư sống theo từng khu vực, dọc các trục đường giao thông và các thung lũng sâu

Trang 17

Nhìn chung vị trí các khu dân cư phân bố chưa đồng đều, các khu dân cư nằm rải ráckhông thuận tiện cho việc sản xuất, sinh hoạt và giao thông, có những xóm còn quá

xa khu trung tâm ( Khuổi Ha, Nà Quang, Nà Cà, Nà Đông) nhưng lại chưa được quantâm mở mang đường xá nên đi lại còn rất khó khăn

Trang 18

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Nội dung

Đề tài nghiên cứu tập trung vào giải quyết một số nội dung sau

Nội dung 1: Đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng và lịch sử rừng trồng Mỡ tại xã Chu

- Xác định sinh khối của các tầng cây gỗ

- Xác định sinh khối của tầng cây bụi thảm tươi

- Xác định sinh khối của tầng thảm mục

- Tính toán lượng các bon tích lũy trong tầng cây gỗ

- Tính toán lượng các bon tích lũy trong tầng cây bụi thảm tươi

- Tính toán lượng các bon tích lũy trong tầng thảm mục

Nội dung 4: Lượng hóa năng lực hấp thu CO2 của rừng trồng Mỡ tại xã Chu Hương,huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn

Nội dung 5: Đề xuất một số giải pháp.

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.2 Phương pháp kế thừa

Kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây làm cơ sở cho việc so sánh, phân tích

và phục vụ cho việc viết tổng quan tài liệu và đánh giá hiện trạng rừng

Ngày đăng: 27/03/2015, 21:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 : Tỉ lệ đóng góp gây hiệu ứng nhà kính của các loại khí trong khí quyển - Nghiên cứu khả năng tích lũy các bon của rừng trồng mỡ (manglietia conifera)  tại xã chu hương, huyện ba bể, tỉnh bắc kạn
Bảng 1 Tỉ lệ đóng góp gây hiệu ứng nhà kính của các loại khí trong khí quyển (Trang 9)
3.4.2.2. Hình dạng và kích thước ô mẫu - Nghiên cứu khả năng tích lũy các bon của rừng trồng mỡ (manglietia conifera)  tại xã chu hương, huyện ba bể, tỉnh bắc kạn
3.4.2.2. Hình dạng và kích thước ô mẫu (Trang 19)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w