1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng mô hình xếp hạng tín dụng các doanh nghiệp ở Việt nam

54 615 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây Dựng Mô Hình Xếp Hạng Tín Dụng Các Doanh Nghiệp Ở Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 411 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng mô hình xếp hạng tín dụng các doanh nghiệp ở Việt nam

Trang 1

MỞ ĐẦU 1- Tính cấp thiết của đề tài:

Nền kinh tế nước ta đang chuyển đổi từ cơ chế tập chung quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản

lý của nhà nước đã đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới hệ thống các cơ quan quản lý kinh tế Trên tinh thần đó việc đổi mới hệ thống ngân hàng một cấp thành hệ thống ngân hàng hai cấp, trong đó Ngân hàng nhà nước đóng vai trò ngân hàng trung ương thực hiện chức năng phát hành tiền và chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ, tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế và việc ra đời thị trường chứng khoán Việt Nam đánh dấu một bước phát triển mới trong hoạt động đầu tư

Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch ít rủi

ro sang nền kinh tế thị trường với rủi ro là đặc trưng cơ bản thì sự gia tăng rủi ro trong hệ thống kinh tế là một điều tất yếu Vì vậy, việc quản lý và đánh giá rủi ro, vỡ nợ được đặt ra như là một vấn đề trọng tâm trong hoạt động đầu tư của ngân hàng, các tổ chức tín dụng và các nhà đầu tư Thực tế hoạt động trong thời gian qua cho thấy, việc quản lý rủi ro, vỡ nợ ở nước ta còn rất nhiều yếu kém như: Sự lạc hậu trong quản lý rủi ro, quản lý lượng hoá rủi ro và mô hình hoá đứng trên giác độ kỹ thuật là xu thế phát triển chính về quản lý rủi ro ngân hàng của các nước phát triển Hiện nay, người

ta không chỉ áp dụng mô hình như mô hình VAR để tính giá trị đang bị rủi

ro, mà đối với rủi ro tín dụng không dễ lượng hoá, người ta áp dụng các mô hình như CREDITMERICS, KMV để tính Những khái niệm về giá trị đang

bị rủi ro là VAR, lượng hoá tín dụng còn chưa được nhận thức đúng đắn; các thị trường tổ chức dịch vụ trung gian của thị trường tiền tệ chưa được kiện toàn Trong các thể chế tài chính thiếu các tổ chức độc lập đánh giá rủi ro tín dụng và xác suất vỡ nợ Đó là các tổ chức xếp hạng tín dụng, các tổ chức

Trang 2

kiểm toán, kế toán độc lập Các tổ chức trung gian tài chính này và các công

ty tư vấn thực hiện thu thập các thông tin thị trường một cách chính xác, kịp thời, toàn diện nhằm bảo vệ vốn của ngân hàng và các nhà đầu tư, nhờ đó làm giảm bớt những rủi ro phát sinh do nguồn thông tin thiếu đầy đủ và không chính xác ngây ra, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao trình độ ra các quyết sách về rủi ro của các ngân hàng và các nhà đầu tư Hiện nay, việc thành lập các tổ chức trung gian như thế này ở Việt Nam còn chậm và lạc hậu: chưa thành thành lập được các tổ chức xếp hạng tín dụng độc lập, điều này làm cho ngân hàng các nhà đầu tư rất khó khăn trong việc

ra quyết định, làm cho việc phát hành cổ phiếu công ty không thể căn cứ vào chỉ số tín dụng của các công ty để xác định lợi suất phát hành, dẫn đến giá cả

và lợi suất của cổ phiếu công ty để xác định lợi suất phát hành, dẫn đến giá

cả và lợi suất của cổ phiếu công ty không phản ánh đúng tình trạng rủi ro của công ty Việc xếp hạng tín dụng còn có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động của ngân hàng thương mại và các nhà đầu tư Một mặt giúp ngân hàng lựa chọn những khách hàng tốt, có khả năng trả nợ trong tương lai để đầu tư tín dụng, mặt khác thông qua xếp hạng tín dụng các khách hàng hiện có của mình để có những chính sách tín dụng hợp lý, như tăng dự phòng rủi ro hoặc tăng cường giám sát đối với những khoản vay có vấn đề Thông lệ quốc tế, ở nhiều nước chính phủ khuyến khích việc xử lý và cung cấp thông tin cho thị trường tài chính, vì thế có nhiều cơ quan chuyên môn hoá xử lý và cung cấp thông tin về xếp hạng tín dụng để phục vụ cho các ngân hàng thương mại, các nhà đầu tư và các chủ thể khác trong nền kinh tế

Trang 3

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG

1.1 Khái niệm xếp hạng tín dụng:

Xếp hạng tín dụng (credit ratings) là thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng anh

do John Moody đưa vào năm 1909 trong cuốn “ Cẩm nang chứng khoán đường sắt ” khi tiến hành nghiên cứu, phân tích và công bố bảng xếp hạng tín dụng lần đầu tiên cho 1500 loại trái phiếu của 250 công ty theo một hệt thống ký hiệu gồm 3 chữ cái A, B, C được xếp lần lượt từ (AAA) đến (C) Hiện nay những ký hiệu này trở thành chuẩn mực quốc tế ở Việt Nam thuật ngữ xếp hạng tín dụng đang tồn tại nhiều tên gọi như: xếp loại tín nhiệm, xếp loại doanh nghiệp, xếp hạng tín nhiệm, định dạng tín dụng, xếp hạng tín dụng, xếp hạng khách hàng.Trong đề tài này đề xuất cách gọi là “ xếp hạng tín dụng ”

Cho đến nay, khái niệm xếp hạng tín dụng chưa có được sự nhận thức thống nhất

Theo từ điển thị trường chứng khoán, xếp hạng tín dụng là “cách ước tính chính thức tín dụng từ trước đến nay của cá nhân hay công ty và khả năng chi trả bao gồm tất cả các số liệu kiểm tra, phân tích hồ sơ lưu trữ về khả năng, trách nhiệm tín dụng của cá nhân và các công ty kinh doanh

Theo Bohn, John A, viết trong cuốn “ Phân tích rủi ro trên các thị trường đang chuyển đổi” thì “ Xếp hạng tín dụng là sự đánh giá về khả năng một nhà phát hành có thể thanh toán đúng cả gốc và lãi đối với một loại chứng khoán nợ trong suốt thời gian tồn tại của nó”

Theo định nghĩa của công ty chứng khoán Merrill Lunch, xếp hạng tín dụng là đánh giá hiện thời của công ty xếp hạng tín dụng về chất lượng tín dụng của một nhà phát hành chứng khoán nợ, về một khoản nợ nhất định Nói khác đi, đó là cách đánh giá hiện thời về chất lượng tín dụng được xem

Trang 4

xét trong hoản cảnh hường về tương lai, phản ánh sự sẵn sàng và khả năng nhà phát hành có thể thanh toán gốc và lãi đúng hạn Trong kết quả xếp hạng tín dụng chứa đựng ý kiến chủ quan của chuyên gia xếp hạng tín dụng

Theo công ty Moody’s, xếp hạng tín dụng là ý kiến về khả năng và sự sẵn sàng của một nhà phát hành trong việc thanh toán đúng hạn cho một khoản nợ nhất định trong suốt thời hạn tồn tại của khoản nợ

Hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng của NHNo &

PTNT VN là một quy trình đánh giá xác suất một khách hàng tín dụng không

thực hiện được các nghĩa vụ tài chính của mình đối với Ngân hàng cho vay

như không trả được lãi và gốc nợ vay khi đến hạn hoặc vi phạm các điều kiện tín dụng khác Các tình huống này là các rủi ro tín dụng trong hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng cho vay Mức độ rủi ro tín dụng thay đổi theo từng khách hàng và được xác định thông qua quá trình đánh giá bằng thang điểm, dựa vào các thông tin tài chính và phi tài chính có sẵn của khách hàng tại thời điểm chấm điểm tín dụng

Hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng của Ngân hàng công thương Việt Nam là một quy trình đánh giá khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính của một khách hàng đối với Ngân hàng cho vay như trả lãi và gốc nợ vay khi đến hạn nhằm xác định rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng cho vay Mức độ rủi ro tín dụng thay đổi theo từng khách hàng và được xác định thông qua quá trình đánh giá bằng thang điểm, dựa vào các thông tin tài chính và phi tài chính có sẵn của khách hàng tại thời điểm chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng

Theo Samir EL Daher xếp hạng tín dụng là việc đánh giá mức độ tín nhiệm của người vay nợ xét về góc độ chấp hành các quy định tài chính cụ thể, đó có thể là một nhóm các quy định hoặc chỉ là một chương trình tài chính nhỏ nào đó như là một hợp đồng thương mại Việc phân loại dựa trên

Trang 5

xác suất vỡ nợ, đây là tiêu chí phản ánh khả năng lẫn sự sẵn sàng trả nợ của người vay cả gốc, lãi đúng hạn theo các quy định của khoản vay Xếp hạng tín dụng không phải là việc đánh giá chung của người cho vay, bởi vì người vay có thể được đảm bảo bởi một bên thứ ba, như người bảo lãnh, bảo hiểm hay người thuê hợp đồng.

1.2 Đặc điểm của xếp hạng tín dụng

Việc xếp hạng tín dụng được phân tích dựa trên những thông tin từ những người vay và từ những nguồn thông tin của các tổ chức xếp hạng tín dụng được coi là đáng tin cậy Các tổ chức cung cấp dịch vụ xếp hạng tín dụng đã thể hiện rất rõ ràng trong cam kết của mình “ xếp hạng tín dụng không phải là một sự giới thiệu để mua bán hay tiếp tục nắm giữ một chứng khoán nợ Vì việc xếp hạng tín dụng chỉ thực hiện chức năng độc lập là đánh giá mức độ rủi ro tín dụng Đó chỉ là một tiêu chí phục vụ cho quá trình đưa ra các quyết định đầu tư” Cho dù quá trình xếp hạng tín dụng diễn ra rất cẩn trọng, các tổ chức cung cấp dịch vụ xếp hạng tín dụng không tiến hành kiểm toán độc lập những thông tin mà người vay cung cấp, trong khi đó lại

là nguồn thông tin cơ bản để xếp hạng tín dụng Các tổ chức cung cấp dich

vụ xếp hạng tín dụng không có trách nhiệm bồi hoàn cho những nhà đầu tư

Vì vậy, xếp hạng tín dụng là một nhân tố quan trọng, nhưng không thể thay thế hoàn toàn cho việc thuyết minh về tính đáng tin cậy của người vay

1.3 Mục đích của xếp hạng tín dụng

Hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế thị trường là một trong những hoạt động kinh tế có nhiều rủi ro hơn hết Có thể nói rủi ro được xem như một yếu tố không thể tách rời với quá trình hoạt động của ngân hàng thương mại trên thị trường Rủi ro trong cho vay còn được nhân lên gấp đôi, bởi vì

Trang 6

ngân hàng không những phải hứng chịu những rủi ro do những nguyên nhân chủ quan của mình, mà còn gánh chịu những rủi ro do khách hàng gây ra Hơn nữa, rủi ro trong hoạt động ngân hàng có thể gây ra những tổn thất to lớn cho nền kinh tế hơn bất cứ `rủi ro của các loại hình doanh nghiệp khác,

vì tính chất lây lan của nó có thể làm dung chuyển toàn bộ hệ thống kinh tế của một quốc gia và theo phản ứng dây chuyền nó tác động đến hầu hết tất

cả các quốc gia trên toàn thế giới

Hoạt động của ngân hàng thương mại bao gồm nhiều loại nghiệp vụ, nhưng tựu trung lại, đây là loại hình kinh doanh tiền tệ - tín dụng của một trung gian tài chính dựa trên cơ sở thu hút tiền của khách hàng (dưới hình thức nhận tiền gửi huy động bằng trái phiếu, kỳ phiếu và đi vay ) với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay và thực hiện các nghiệp vụ thanh toán Như vậy, ngân hàng thương mại tiến hành các hoạt động nghiệp

vụ của mình thông qua việc sử dụng không chỉ vốn tự có của mình, mà chủ yếu bằng vốn huy động của khách hàng Nếu ngân hàng thương mại không thu hồi được số nợ mà họ đã cho vay, thì ngân hàng thương mại không chỉ bị mất vốn tự có của bản thân, mà còn có nguy cơ không thể hoàn trả được số tiền đã huy động của khách hàng Vì vậy, tính chất trung gian chính đặt ra yêu cầu đầu tiên đối với ngân hàng thương mại là phải thường xuyên thu hồi được số vốn đã cho vay để duy trì khả năng hoàn trả số tiền huy động của khách hàng và bảo toàn vốn của mình

Việc chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng được thực hiện nhằm hỗ trợ Ngân hàng trong việc:

- Ra quyết định cấp tín dụng: xác định hạn mức tín dụng, thời hạn, mức lãi suất, biện pháp bảo đảm tiền vay, phê duyệt hay không phê duyệt

- Giám sát và đánh giá khách hàng tín dụng khi khoản tín dụng đang còn dư nợ; Hạng khách hàng cho phép Ngân hàng lường trước những dấu

Trang 7

hiệu cho thấy khoản vay đang có chất lượng xấu đi và có những biện pháp đối phó kịp thời.

Xét trên góc độ quản lý toàn bộ danh mục tín dụng, xếp hạng tín dụng còn nhằm mục đích:

- Phát triển chiến lược marketing nhằm hướng tới các khách hàng có ít rủi ro hơn

- Ước lượng mức vốn đã cho vay sẽ không thu hồi được để trích lập

dự phòng rủi ro tín dụng

Đối với thị các nhà đầu tư và thị trường chứng khoán:

- Xếp hạng tín dụng đánh giá rủi ro dài hạn trên ảnh hưởng của chu kì kinh doanh và kèm theo xu hướng một nhà phát hành có thể trả được nợ trong tương lai hay không

- Xếp hạng tín dụng đánh giá rủi ro một cách toàn diện và thống nhất dựa vào một hệ thống ký hiệu xếp hàng

- Tính toán về khả năng sinh lợi của một khoản đầu tư được đo bằng các nhân tố thúc đẩy hoặc kìm chế các nghĩa vụ tài chính của một nhà phát hành

- Xếp hạng tín dụng cung cấp những thông tin cần thiết cho người đầu tư về tình trạng của nhà phát hành để lựa chọn khi đầu tư vào một chứng khoán thích hợp

- Xếp hạng tín dụng tạo điều kiện huy động vốn trên thị trường chứng khoán thực hiện được dễ dàng, thuận lợi hơn Với việc xếp hạng tín dụng, người đầu tư sẽ an tâm, tin tưởng và dễ dàng lựa chọn chứng khoán để đầu

tư Từ đó làm cho người phát hành dễ dàng tiếp cận được với các nguồn tài chính có thể thực hiện huy động với quy mô lớn và trên một phạm vi rộng kể

cả huy động vốn từ nước ngoài

Trang 8

- Xếp hạng tín dụng góp phần quan trọng vào việc giảm bớt chi phí sử dụng vốn cho người phát hành Khi một người phát hành có uy tín thì với việc xếp hạng tín dụng sẽ giúp cho việc huy động vốn qua phát hành chứng khoán thuận lợi, dễ dàng hơn, đồng thời giảm được chi phí huy động vốn Với nhà phát hành có thể phát hành trái phiếu với mức lãi suất thấp vẫn thu hút được các nhà đầu tư.

- Xếp hạng tín dụng thúc đẩy nhà phát hành nâng cao hơn trách nhiệm đối với các nhà đầu tư Việc xếp hạng tín dụng liên quan chẵt chẽ đến uy tín với nhà phát hành, điều đó thúc đẩy người phát hành thục hiện tốt hơn các cam kết đối với các nhà đầu tư trong việc đảm bảo thanh toán tiền lãi và tiền vốn vay

- Xếp hạng tín dụng là nhân tố quan trọng khi đánh giá mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận Nhà đầu tư so sánh đánh giá lợi nhuận - rủi ro giữa các công cụ đầu tư để tìm ra công cụ có lợi nhất vừa có hiệu quả vừa an toàn

- Xếp hạng tín dụng là công cụ quản lý danh mục đầu tư Trong danh mục đầu tư có rất nhiều các loại chứng khoán khác nhau, dựa vào sự thay đổi của xếp hạng tín dụng các nhà đầu tư đánh đổi các chứng khoán trong danh mục đầu tư để thu lợi nhuận và tránh rủi ro

- Xếp hạng tín dụng là công cụ đánh giá một số rủi ro có liên quan Các ngân hang và các tổ chức tài chính trung gian khác với tư cách là một nhà đầu tư sử dụng xếp hạng tín dụng làm một tiêu chuẩn quan trọng khi quyết định cho vay, tài trợ dự án, thoả thuận swap

Như vậy, mục đích của xếp hạng tín dụng là dựa trên cơ sở các số liệu kiểm tra, phân tích dữ kiện từ các hồ sơ lưu trữ, các báo cáo tài chính và báo cáo kiểm toán của doanh nghiệp để nhân xét đánh giá tình hình hoạt động, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán trong hiện tại và tương lai của các cá nhân và doanh nghiệp nhằm xác định khả năng thu hồi vốn của ngân hàng

Trang 9

cho vay, tạo tâm lý yên tâm cho các nhà đầu tư vào doanh nghiệp hoặc tổ chức phát hành trái phiếu

1.4 Quá trình hình thành và phát triển của các tổ chức xếp hạng tín dụng

1.4.1 Sự hình thành của các tổ chức xếp hạng tín dụng

Các tổ chức xếp hạng tín dụng đã được ra đời từ đầu thế kỷ 20 Năm

1909, công ty John Moody của Mỹ đã khởi đầu cho việc xếp hạng chứng khoán Công ty này chuyên xếp hạng trái phiếu ngành đường sắt, sau đó công ty tiếp tục xếp hạng các trái phiếu công nghiệp Đến năm 1922, công ty Standard and Poor’s ra đời và tiến hành xếp hạng các trái phiếu công ty Năm 1940 công ty bắt đầu xếp hạng các trái phiếu chính quyền địa phương,

1969 xếp hạng các thương phiếu, 1984 xếp hạng các quỹ trái phiếu và thị trường tiền tệ

Tuy nhiên tổ chức xếp hạng tín dụng lớn đầu tiên lại không phải là các công ty của Mỹ, mà là Tổ chức xếp hạng trái phiếu Canada( Canadian Bond Rating service) được thành lập và năm 1972; tiếp đến là Tổ chức xếp hạng trái phiếu Nhật Bản( Japanese Bond Rating Instiute) bắt đầu hoạt động từ năm 1975 Kể từ đó, hàng loạt các công ty xếp hạng khác đã được thành lập

để phục vụ cho nhu cầu phát triển của thị trường tài chính Năm 1982, Duff and Phelps bắt đầu xếp hạng cho hàng loạt các công ty lớn

Các tổ chức xếp hạng tín dụng được thành lập trong thế kỷ 20 là sự kế thừa và phát triển của các loại hình đã được hình thành trước đó Hoạt động chủ yếu của các công ty này là: Tổ chức thông báo xếp hạng tín dụng, tổ chức kinh doanh thông in bằng các ấn phẩm chuyên nghành, các ẩn phẩm tài chính và các ngân hàng

1.4.2 Sự phát triển của các tổ chức xếp hạng tín dụng

Trang 10

Các tổ chức xếp hạng tín dụng hiện nay có một quá trình hình thành rất lâu dài và rất sớm Các nghiệp vụ xếp hạng tín dụng cũng ngày càng được hoàn thiện, cùng với sự phát triển của các tổ chức xếp hạng tín dụng

và sự đa dạng về nhu cầu thông tin

Sự xuất hiện và phát triển của các tổ chức xếp hạng tín dụng vào đầu thế kỷ 20 chủ yếu là ở Mỹ Vì ở Mỹ, các công ty đường sắt lớn chủ yếu là các công ty tư nhân rất phát triển Nó chính là tiền đề để tạo ra một thị trường trái phiếu lớn hơn bất kỳ nơi nào trên thế giới Hơn nữa, các công ty dịch vụ công cộng ở Mỹ cũng phát triển rất nhanh và đều tìm đến nguồn vốn trên thị trường nợ, cùng với mức thu nhập của người dân tăng nhanh cũng đã góp phần phát triển của thị trường này, điều này đã gián tiếp thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức xếp hạng tín dụng

Kể từ năm 1920, các tổ chức xếp hạng tín dụng hoạt động rất mạnh Trong thời ký này trên thị trường nợ có quá nhiều hàng hoá, từ trái phiếu liên bang, trái phiếu địa phương, trái phiếu công ty đều rất phát triển rất nhanh theo cấp số nhân Từ năm 1929 đến năm 1937 tỷ USD nợ chiếm khoảng 15% tổng nợ của các chính quyền liên bang và địa phương mất khả năng chi trả Trong đó, 78% món nợ không có khả năng chi trả được xếp hạng Aa hoặc thớp hơn Trong thời gian từ năm 1940 đến năm 1970, các tổ chức này hoạt động tương đối ổn định, thị trường nợ hoạt động tương đối an toàn và khôg có nhiều bước đột biến lớn

Từ năm 1970 cho đến nay, sự phát triển của các tổ chức xếp hạng tín dụng đã phát triển hết sức mạnh mẽ và mang tính toàn cầu hoá Trước những năm 70, tại các công ty xếp hạng tín dụng hàng đầu cũng chỉ có một số ít nhân viên phân tích Ví dụ như, năm 1970, công ty S & P có 30 nhân viên phân tích trong các ngành công nghiệp, thì đến năm 1995, họ đã có 800 nhà phân tích và toàn bộ nhân viên là 1200 người Công ty Moody’s cũng có sự

Trang 11

phát triển nhanh tương tự Đến năm 1995, họ đã có 560 nhà phân tích với tổng số nhân viên 1700 người Đây chính là một trong những minh chứng rõ ràng nhất về sự phát triển của các công ty xếp hạng tín dụng.

Năm 2000, Moody’s đã xếp hạng cho 20000 nhà phát hành tại Mỹ, của cả Chính phủ và các công ty, 1200 nhà phát hành không phải tại Mỹ Tổng số nợ mà Moody’s xếp hạng trị giá khoảng 5000 tỷ USD Từ những năm 70, ba công ty xếp hạng tín dụng của Mỹ là Moody’s, S & P và Fitch’s

đã mở rộng hoạt động của mình tới các nước châu Âu, châu Á và châu Mỹ Latinh Năm 1995, S & P đã xếp hạng khoảng 30000 loại trái phiếu và các

cổ phiếu ưu đãi được phát hành bởi hơn 4000 công ty trên khắp thế giới Công ty này còn xếp hạng cho khoảng 15000 loại trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu chính phủ, các tổ chức nươc ngoài và các tổ chức xuyên quốc gia Ngoài ra, rất nhiều quốc gia đã lần lượt thành lập các công ty xếp hạng tín dụng của nước mình Cũng từ thời điểm này, ngoài việc xếp hạng tín dụng đối với các chứng khoán thông thường, các công ty xếp hạng tín dụng còn xếp hạng tín dụng cho các quốc gia và các định chế tài chính xuyên quốc gia

Cho đến nay xếp hạng tín dụng đã được thừa nhận rộng rãi ở thị trường vốn quốc tế Đặc biệt, các nhà đầu tư có tổ chức ở các thị trường phát triển thường đòi hỏi phải có xếp hạng tín dụng để họ có thể mua các trái phiếu quốc tế Xuất phát từ nhu cầu này, các tổ chức xếp hạng tín dụng tầm

cỡ quốc tế đã thiết lập các chi nhánh của mình ở thị trường mới nổi, nơi đang rất cần thiết đối với các tổ chức phát hành chứng khoán quốc tế của các công ty đang thường trú tại đó

Trong xu thế toàn cầu hoá, cùng với nhu cầu phát triển của nền kinh tế thế giới Chính phủ của các quốc gia công nghiệp hoá mới NICs và các nước đang phát triển ngày càng nhận thức được tầm quan trọng của các cơ quan

Trang 12

xếp hạng tín dụng đối với sự phát triển của thị trường trái phiếu mới xuất hiện ở đây tương đối phát triển, phần lớn là do Chính phủ tại các nước này

đã có những phản ứng tích cực đối với sự phát triển của thị trường tài chính, bao gồm cả việc thành lập các tổ chức xếp hạng tín dụng.Năm 1993, diễn đàn của các tổ chức xếp hạng tín dụng ASEAN(AFCRA) đã được thành lập như là tiền đề cho việc thúc đẩy các tiêu chuẩn quốc tế của các tổ chức xếp hạng tín dụng của ASEAN Năm nước ASEAN đã thành lâp tổ chức xếp hạng tín dụng của mình, Philipins (năm 1982), Malaysia(năm 1991), Thái Lan(năm 1993), Việt nam(1992) Mục tiêu của AFCRA là xác định quy tắc hoạt động trong khu vực, thúc đẩy sự hợp tác và hỗ trợ giữa các cơ quan thành viên, chia sẻ thông tin và nhiệp vụ chuyên môn thông qua các chương trình huấn luyện và sử lý các thông tin tài chính trong doanh nhiệp giữa các nước

Các tổ chức xếp hạng tín dụng ngày càng được khẳng định được vai trò quan trọng của mình trong sự phát triển của nền kinh tế của các quốc gia Đặc biệt là trong xu thế toàn cầu hoá như hiện nay thì các tổ chức xếp hạng tín dụng lại càng có nhiều điều kiện phát triển và hoàn thiện các nghiệp vụ chuyên môn của mình

Trang 13

CHƯƠNG II: CÁC PHƯƠNG PHÁP XẾP HẠNG TÍN DỤNG VÀ KINH NGHIỆM XẾP HẠNG TÍN DỤNG CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA

TRÊN THẾ GIỚI 2.1 Các phương pháp xếp hạng tín dụng:

Hiện nay có rất nhiều các phương pháp xếp hạng tín đã được các tổ chức xếp hạng tín dụng áp dụng vào trong thực tiên đánh giá của mình:

2.1.1 Phương pháp chuyên gia:

Phương pháp này được thực hiện bằng cách thu thập ý kiến của các chuyên gia để đánh giá một nội dung cần đánh giá nào đó Phương pháp đánh giá này bao gồm những bước cơ bản sau:

Bước 1: Chuẩn bị đánh giá

Các công việc chuẩn bị bao gồm:

- Lập danh sách những chuyên gia được hỏi ý kiến

- Xây dựng bảng câu hỏi

Bước 2: Tập hợp các ý kiến trả lời, phân tích và hình thành bản tổng hợp kết quả đánh giá

Bước 3: Tổng hợp các ý kiến đánh giá lần thứ hai

* Ưu điểm:

Phương pháp này có ưu điểm thứ nhất là tận dụng được kinh nghiệm

và tri thức chuyên sâu của các chuyên gia trong chuyên ngành của họ Đồng thời, do kết quả đánh giá được tập hợp từ nhiều người nên mức độ tin cậy khá cao

Ưu điểm thứ hai của phương pháp là do kết quả được tập hợp từ nhiều người nên nó được xem xét trên nhiều phương diện khác nhau Do đó có thể tránh được sự phiến diện, một chiều

* Nhược điểm:

Trang 14

Phương pháp này có nhược điểm là chi phí đánh giá có thể rất cao khi

số lượng người tham gia đông và số vòng thu thập ý kiến gồm nhiều lần

Nhược điểm thứ hai là người ta không thể loại bỏ hoàn toàn khía cạnh chủ quan trong kết quả đánh giá

Do thời gian tiến hành đánh giá trong một khoảng thời gian dài nên nhân sự của nhóm chuyên gia có thể biến động

2.1.2 Phương pháp cho điểm(Rating method)

Phương pháp là phương pháp mà người ta tiến hành cho điểm và trên

cơ sở thang điểm đã được ấn định để xếp hạng doanh nghiệp, đựoc tiến hành theo các bước sau:

Bước 1: Xác định nội dung và tiêu thức cần đánh giá

Bước 2: Xác định biểu điểm cho từng tiêu thức

Bước 3: Xác định hệ thống loại và số điểm tương ứng của mỗi loại.Bước 4: Trên cơ sở biểu điểm và hệ thống thứ loại đã được hình thành trong bước 1, tiến hành phân tích các dữ liệu, thông tin về doanh nghiệp

Bước 5: Tổng hợp số điểm và xếp loại tín dụng doanh nghiệp

Bước 6: Đưa ra những nhận xét về những điểm mạnh và yếu của doanh nghiệp, có thể đưa ra những kiến nghị, đề xuất cần thiết phù hợp với mục tiêu đánh giá

Ưu điểm:

Phương pháp này có ưu điểm là dễ áp dụng, đơn giản và việc đánh giá, xếp hạng hoàn toàn dựa trên cơ sở định lượng Phương pháp này có chi phí thấp và có thể tiến hành khá nhanh chóng

Nhược điểm:

Do phương pháp xếp hạng được thực hiện bởi một hay một vài người nên kết quả đánh có thể mang tính chủ quan cao Người đánh giá có thể rơi vào những cãi bẫy do con số tạo ra

Trang 15

2.1.3 Phương pháp so sánh( Ranking method).

Phương pháp so sánh chủ yếu dựa trên cơ sở đối chiếu, so sánh các giá trị của doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác hay so sánh với giá trị trung bình của ngành hay thị trường Phương pháp so sánh được tién hành theo các bước sau:

Bước 1: Thu thập thông tin về những tiêu thức, chỉ tiêu chủ yếu sẽ được sử dụng làm tiêu chuẩn để so sánh Những thông tin này bao gồm các thông tin về tình hình thị trường, doanh số bán, thị phần của các đối tượng cần so sánh và những thông tin cần thiết về chính doanh nghiệp cần đánh giá

Bước 2: Tiến hành so sánh các chỉ tiêu trên theo những phương pháp thống nhất Trên cơ sở đó tạo ra sự tương đồng về đơn vị tính để có thể so sánh dễ dàng chính xác

Ưu điểm:

Phương pháp so sánh có ưu điểm là người đánh giá có thể tiến hành công việc đánh giá một cách khá giản đơn bởi có thể sử dụng các giá trị, các tiêu thức của một doanh nghiệp khác hay ngành làm cơ sở cho sự đánh giá Phương pháp này có chi phí thấp và có thể hoàn thành trong khoảng một thời gian ngắn

Nhược điểm:

Phương pháp này có thể cho kết quả có mức độ chính xác thấp bởi không thể loại bỏ được yếu tố chủ quan trong qua trình đánh giá Hơn thế nữa, khi người đánh giá để tình cảm cá nhân hay sự định kiến chi phối thì kết quả đánh giá có mức độ chính xác rất thấp Trong nhiều trường hợp, phương pháp so sánh không tỏ ra hữu hiệu bởi những điều kiện và đặc điểm của doang nghiệp thường rất khác nhau

2.1.4 Phương pháp kết hợp.

Trang 16

Các phương pháp trên cho thấy mỗi phương pháp đều có những ưu nhược điểm Do đó, để tận dụng những ưu điểm và tránh những nhược điểm của mỗi phương pháp, người ta có thể áp dụng phương pháp kết hợp

Nội dung của phương pháp kết hợp là việc áp dụng nhều phương pháp trong quá trình đánh giá và với mỗi nội dung cần đánh giá chỉ áp dụng những phương pháp đánh giá phù hợp với tiêu thức đó

Ưu điểm:

Ưu điểm nổi bật của phương pháp kết hợp là người đánh giá có thể tận dụng được những mặt mạnh của từng phương pháp đánh giá trong những phạm vi phù hợp Đồng thời, có thể hạn chế được mặt yếu của mỗi phương pháp

Những phân tích về những phương pháp xếp hạng tín dụng doanh nghiệp cho thấy không có phương pháp nào tỏ ra hoàn toàn chính xác mà chỉ

có phương pháp thích hợp nhất có thể áp dụng cho mỗi nội dung đánh giá nhất định Bởi vây, để nâng cao tính chính xác của kết quả đánh giá người đánh giá có thể áp dụng nhiều phương pháp đánh giá và so sánh các kết quả đánh giá của chúng để đưa ra kết quả chính thức

2.2 Các kết qủa nghiên cứu trước đây và tham khảo kinh nghiệm của một số nước

Hiện nay, hệ thống xếp hạng tín dụng được yêu cầu phải thiết lập theo hiệp ước Basel II, để xếp hạng các thực thể sao cho các xếp hạng này phải cung cấp các thông tin về về mức độ đáng tin cậy xét theo góc độ về khả năng vỡ nợ Đã có rất nhiều các phương pháp khác nhau được đưa ra bởi các nhà nghiên cứu, các công ty xếp hạng tín dụng như: Edward I Altman (1968), Merton (1974),Moody’s, S&P, KMV, FiBel, JCIC, KPMG Tuy nhiên, việc tiếp cận và áp dụng được với các phương pháp này còn gặp rất

Trang 17

nhiều khó khăn, bởi tính bảo mật của các công ty xếp hạng, sự khác nhau về thể chế kinh tế của mỗi quốc gia.

2.2.1 Các kết quả nghiên cứu

Trước đây, các ngân hàng và các nhà đầu tư muốn đánh giá mức độ rủi ro của các công ty, các loại trái phiếu, thường phụ thuộc vào các chuyên gia tư vấn tín dụng, họ sẽ xem xét việc phối hợp những biến số về kế toán và các biến số định tính để đi đến việc đánh giá rủi ro tín dụng của khách hàng Tuy nhiên trong suốt nhiều thập kỷ qua, các ngân hàng lớn đã chuyển sang

sử dụng mô hình định lượng

Edward I Altman (1968), một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên

cố gắng tiêu chuẩn hoá sự phụ thuộc giữa các biến số về kế toán và chất lượng tín dụng đã xây dựng mô hình Z-Score nổi tiếng và chỉ ra rằng đối với mẫu quan sát dù nhỏ, những công ty gặp vấn đề về tài chính có thể phân biệt với những công ty hoạt động tốt trong thời gian một năm trước khi thông báo phá sản ở mức tỷ lệ chính xác theo mẫu cao hơn 90% bằng cách sử dụng phương pháp phân tích biến số tuyến tính Sau này, các mô hình tinh vi hơn

sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính, hoặc mô hình logit hoặc probit và mạng neural để ước tính sẽ làm tăng độ tin cậy không dùng mẫu và đưa ra xác suất rủi ro thực sự Tuy nhiên tất cả các nghiên cứu đề cập ở trên đều có điểm chung là chúng chỉ xem xét dựa trên những biến số kế toán Ngược lại, vào năm 1993 KMV đưa ra một mô hình mà tại đó biến số thị trường được

sử dụng để tính toán độ rủi ro tín dụng của các công ty thương mại Theo như khắng định trong các nghiên cứu của KMV, mô hình này dựa trên phương pháp tiếp cận định giá quyền chọn ban đầu do Merton đưa ra vào năm 1974 nhìn chung phát huy hiệu quả hơn trong việc đánh giá các doanh nghiệp gặp vấn đề về tài chính hơn mô hình dựa trên các biến số kế toán Bên cạnh đó, họ đưa ra ý kiến tách những công ty chứng khoán theo khu vực

và theo vùng, sau đó đánh giá xác suất không trả được nợ bắt nguồn từ mô hình dựa trên giá trị thị trường đối với những biến số kế toán, tiếp đó sử dụng những kết quả thu được để đánh giá rủi ro tín dụng của những công ty

Trang 18

tương tự nhưng có quy mô nhỏ hơn và không có tính thương mại (Xem Nyberg, Sellers và Zhang (2001))

Do những nhân tố đó lúc đầu có thể suy luận rằng người ta có thể sử dụng mô hình dựa trên giá trị thị trường khi phát triển một mô hình đánh giá đối với các công ty của Úc Tuy nhiên, tại Úc, hầu như không có các công ty thương mại Theo như Phòng Thương Mại-Kinh Tế Liên Bang Úc, vào năm

2000 các tập đoàn chứng khoán chỉ chiếm khoảng 0.5% trong số tất cả các công ty của Úc Hơn nữa, như Sobehart, Keenan và Stein (2000a) nêu ra tại một trong những nghiên cứu của Moody thì mối quan hệ giữa biến số tài chính và rủi ro về không thanh toán được khác nhau cơ bản ở chỗ giữa các công ty nhà nước lớn và các công ty tư nhân có quy mô nhỏ hơn Điều này

ám chỉ rằng mô hình dựa trên giá thị trường dựa trên số liệu của các công ty thương mại và áp dụng cho các công ty tư nhân sẽ có khả năng không đưa ra được những rủi ro tín dụng thực sự Do vậy, tốt hơn là chỉ dựa vào nguồn thông tin về chất lượng tín dụng bao gồm bên trong những biến số về kế toán khi áp dụng mô hình dựa trên giá thị trường đối với thị trường Úc Thay vào đó, tầm quan trọng của các nhân tố khác đối với việc đánh giá khả năng không thể trả nợ ví dụ như quy mô và hình thức pháp nhân của các công ty cũng như khu vực mà họ đang hoạt động cũng cần phải được kiểm tra

2.2.2 Tham khảo kinh nghiệm của một số nước

Theo kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học “ Giải pháp hoàn thiện một bước việc phân tích, xếp loại doanh nhiệp đối với trung tâm thông tin tín dụng (CIC)” đã có rất nhiều các phương pháp, quy trình xếp hạng tín dụng được đưa ra như:

2.2.2.1 Moody và S &P của Mỹ

Moody và S &P là hai công ty lâu đời nhất cũng như uy tín nhất của

Mỹ hiện nay Các công ty này trong quá trình xếp hạng tín dụng của mình, không chỉ dựa vào các mô hình thống kê định lượng để tính toán các khả

Trang 19

năng vỡ nợ, mà họ còn có một hệ thống cho điểm người vay nợ Trong đó họ

sử dụng những thông tin về những lần vi phạm tín dụng trong quá khứ của người vay vào trong quá trình tính toán xác suất vỡ nợ

Quy trình xếp hạng tín dụng

Việc xếp hạng tín dụng được tiến hành theo 3 giai đoạn như sau:

Giai đoạn 1: Thu thập các thông tin về nhà phát hành thông qua nguồn thông tin công khai, nhà phát hành cung cấp ( chủ yếu là Bản cáo bạch) và các nguồn thông tin liên quan khác Các thông tin được sắp xếp theo hệ thống các chỉ tiêu, bao gồm các chỉ tiêu định tính và các chỉ tiêu định lượng Giai đoạn 2: Phân tích, đánh giá, ấn định độ tín nhiệm cho nhà phát hành Mức độ xếp hạng tín dụng này được Hội đồng xếp hạng tín dụng của công ty xem xét và phê chuẩn thông qua lần cuối Phương pháp phân tích so sánh các chỉ tiêu của nhà phát hành cần xếp hàng với nhóm các nhà phát hành tương tự khác đã được xếp hạng

Giai đoạn 3: Công bố ra công chúng Sau khi được Hội dồng xếp hạng tín dụng thông qua, kết quả xếp hạng tín dụng được công bố công khai ra công chúng ( Trường hợp nhà phát hành còn kiến nghị thì phải cung cấp thêm thông tin để công ty xếp hạng tín dụng phân tích, đánh giá và có thể đưa ra ý kiến xếp hạng tín dụng mới, khi xếp hạng tín dụng mới này được hai bên chấp nhận nó sẽ được công bố ra công chúng; nếu công ty không đồng ý và không muốn có xếp hạng tín dụng đó thì kết quả sẽ bị huỷ bỏ)

Do bảng ký hiệu xếp hạng tín dụng của John Moody được thiết lập từ

3 chữ cái A,B,C rất đơn giản và tiện lợi nên hiện nay bảng ký hiệu xếp hạng

Phân tích, đánh giá ấn định xếp hạng tín dụng tạm thời Phê chuẩn

Công

bố ra công chúng

Thu

thập

thông

tin

Trang 20

tín dụng của ông đã được tất cả các công ty xếp hạng tín dụng trên thế giới

sử dụng như một chuẩn mực để xây dựng bảng ký hiệu cho công ty mình Tuy nhiên, lúc đầu mới chỉ tiến hành xếp hạng tín dụng cho các công cụ nợ dài hạn, ngày nay bảng xếp hạng tín dụng dược mở rộng cho cả các công cụ

nợ ngắn hạn

BẢNG 01 – KÝ HIỆU XLTD SỬ DỤNG CHO NỢ NGẮN HẠN

Moody’s S&P Diễn giải

P-1 A-1+ Khả năng trả nợ nhanh

A-1 Khả năng trả nợ mạnh

P-2 A-2 Khả năng trả nợ đạt mức trung bình

P-3 A-3 Khả năng trả nợ trung bình, hay vừa đủ để được xếp hạng

đầu tư

NP B Khả năng trả nợ yếu, mang tính đầu cơ

C Khả năng trả nợ yếu, có dấu hiệu của sự phá sản

D Khả năng trả nợ rất yếu, thể hiện nhà phát hành đang

trong nguy cơ bị phá sản

BIỂU 02 – TỶ LỆ PHÁ SẢN CỦA CÁC LOẠI XẾP HẠNG TÍN DỤNG THEO XẾP

HẠNG CỦA MOODY ’ SLoại xếp hạng tín

Số liệu thống kê từ 22.000 nhà phát hành trên toàn cầu

2.2.2.2 FiBEL của Ngân hàng Trung Ương Pháp

Ở NHTW Pháp việc đánh giá và xếp loại doanh nghiệp được tiến hành bí mật và chỉ phục vụ cho hệ thống các ngân hàng thương mại Những thông tin này không cung cấp ra ngoài và nó được ký hiệu theo những quy

Trang 21

dịnh của NHTW Nhứng thông tin này được cập nhật, đánh giá một cách thường xuyên, liên tục và có hệ thống.

Cho điểm doanh nghiệp

Việc cho điểm của NHTW Pháp gồm có 3 yếu tố cấu thành:

+ Điểm đánh giá qui mô ( doanh số) hoạt động của doanh nghiệp: được biểu thị bằng một chữ cái từ A đến H hoặc J, N, X;

+ Điểm đánh giá tín dụng: được biểu thị bằng một con số 0,3,4,5, 6;+ Điểm đánh giá thanh toán: được biểu thị bằng một con số 7,8 hoặc 9Trong trường hợp cần thiết, việc cho điểm còn được bổ xung thêm chỉ

số công khai thông tin ( biểu thị bằng chữ T) hoặc chỉ số thiếu hay chậm trễ thông tin về tài khoản ( biểu thị bằng chữ R)

Cho điểm về quy mô hoạt động của doanh nghiệp

Điểm đánh giá này phản ánh quy mô ( doanh số) hoạt động của doanh nghiệp theo các mức sau đây: A- mức hoạt động lớ hơn bằng 5 tỷ Franc; B- Mức hoạt động từ 1 tỷ Franc đến 5 tỷ Franc; C- Mức hoạt động từ 500 triệu Franc; D- Mức hoạt động từ 200 triệu Franc đến 500 triệu Franc; E- mức hoạt động từ 100 triệu Franc đến 200 triệu Franc; F- mức hoạt động từ 50 triệu đến 100 triệu Franc; G – Mức hoạt động từ 10 triệu Franc đến 50 triệu Franc; H- Mức hoạt động từ 5 Triệu Franc đến 10 triệu Franc; J- Mức hoạt động dưới 5 triệu Franc Đây là nhứng doanh nghiệp có doanh thu nhỏ; N- Mức hoạt động không đáng kể; X- Mức hoạt động không được biết đến hoặc sai số liệu quá cũ( Bảng cân đối tài khoản đã kết thúc trên 21 tháng);

Điểm đánh giá quy mô hoạt động tương ứng với mức doanh số mà trên nguyên tắc là chưa bị đánh thuế, trừ một số trường hợp nhất định

Khi đánh giá cho điểm về quy mô hoạt động của các doanh nghiệp theo mức hoạt động kinh doanh hàng năm, lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp cũng được quan tâm, đó là doanh nghiệp thuộc khu vực sản xuất hay

Trang 22

không sản xuất, uỷ thác hay các công ty môi giớiv.v…Điều này cho phép thưc hiện đánh giá chính xác hơn đối với từng loại hình của doanh nghiệp.

Cho điểm về tín dụng

NHTW Pháp đánh giá và cho điểm về tín dụng chủ yếu dựa vào việc phân tích tình hình tài chính và hiệu quả trong bảng cân đói kế toán Đồng thời, việc đánh giá cũng áp dụng theo từng loại hình của doanh nghiệp ( công ty, dịch vụ, thương mại…) theo thành phần kinh tế và theo nhóm doanh nghiệp Có 5 điểm đánh giá tín dụng:

+ Điểm tín dụng 0: Là những doanh nghiệp trước đây có quan hệ với

ngân hàng ( hồ sơ kinh tế của khách hàng được lưu trữ tại NHTW, nhưng giờ đây không còn quan hệ nữa, ngan hàng không nhận được bất cứ thêm một thông tin gì khác) NHTW không đánh giá tín dụng đối với loại hình doanh nghiệp này, nhưng hồ sơ ban đầu của công ty này vẫn lưu ở ngân hàng

+ Điểm tín dụng 3: Đây là điểm cao nhất của NHTW Pháp dành cho

các doanh nghiệp đang hoạt động rất tốt cả về chất lượng tín dụng, cả về khả năng đảm bảo thanh toán, hệ số an toàn vốn ổn định Điểm tín dụng 3 dành cho những doanh nghiệp đạt các điều kiện sau:

- Báo cáo tài chính và khả năng thanh toán của doanh nghiệp tại thừi điểm báo cáo gần nhất phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp tốt

- Các nhà lãnh đạo, người đứng đầu cao nhất của các doanh nghiệp có trách nhiệm cao trong quản lý, các doanh nghiệp có liên quan đến nhau có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

- Thanh toán được đảm bảo một cách đều đặn, bình thường không có

sự thay đổi

Những doanh nghiệp đạt điểm 3 về tín dụng là những doanh nghiệp phải đạt điểm 7 trong khâu thanh toán

Trang 23

+ Điểm tín dụng 4: Điểm này dành cho các doanh nghiệp có tình hình

sản xuất kinh doanh đạt mức trung bình khá Đó là những doanh nghiệp ở trong các tình trạng sau đây:

- Có dấu hiệu kém về hiệu quả kinh doanh và khả năng tự tài trợ

- Có nhiều khoản chi tiêu tài chính nặng nề trong năm tài chính được phản ánh trong doanh nghiệp, cân bằng bấp bênh giữa tài sản có và tài sản

- Tài sản có dưới 1 năm < tài sản nựo dưới 1 năm

- Tổng sai số vốn lưu động dòng bị thâm hụt

- Có sự cố trong khâu thanh toán và dẫn đến điểm 9 trong khâu thanh toán( thanh toán không đúng hạn)

- Có sự cố thay đổi về nhân sự, ban lãnh đạo có vấn đề liên quan tài chính của công ty

+ Điểm tín dụng 6: là những doanh nghiệp hoạt động trong tình trạng

xấu, kém hiệu quả.bảng tổng kết tài sản mất cân đối Vốn tự có không đủ đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp vay nợ quá nhiều,

Trang 24

- Vốn tự có bị cắt xén bởi các khoản nợ.

- Tài sản có dưới 1 năm < tài sản nợn dưới 1 năm, hoặc vốn lưu động

bị thâm hụt

- Doanh nghiệp không có khả năng tự trả nợ

- Những doanh nghiệp đang có vấn đề về tố tụng của pháp luật

Nhứng đánh giá cho điểm về quy mô hoạt động, về tín dụng của các doanh nghiệp được đưa ra bằng các bản tin ( trong mô - đun 37 của Ngân hàng dữ liệu FIBEN) Các bản tin này thông báo các yếu tố tác động đến việc cho điểm; như bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, rủi ro thanh toán , tình hình giảm vốn tự có, các sự kiện pháp lý… đồng thời, việc đánh giá cho điểm này luôn luôn được thực hiện thường xuyên và thứ hạng tín dụng của các doanh nghiệp sẽ có thể thay đổi theo thời gian

Cho điểm về thanh toán;

Có 3 mức thang điểm khác nhau, đó là:

+ Điểm 7 là điểm cho những doanh nghiệp có khả năng thanh toán đều

đặn, không có khó khăn về quản lý ngân quỹ, đảm bảo trả nợ vay đúng hạn

+ Điểm 8 là điểm cho những doanh nghiệp thanh toán đúng hạn , tuy

có ít nhiều khó khăn về ngân quỹ, nhưng không ảnh hưởng đến các khoản tín dụng đến kỳ hạn phải thanh toán trong hợp đồng

+ Điểm 9 là điểm cho những doanh nghiệp thanh toán không đúng

hạn, doanh nghiệp có khó khăn, do ngân quỹ bị thâm hụt và không có khả năng tự trả nợ cho các khoản vay

Điểm 8 và 9 chủ yếu được đưa ra căn cứ rủi ro thanh toán thương phiếu được công bố ở NHTW Pháp, các chứng thư kháng nghị, và các sự việc chậm thanh toán được ghi nhận tại Toà án thương mại

Trang 25

Cho điểm các nhà lãnh đạo

Người đứng đầu cao nhất của công ty ( Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc), người chịu trách nhiệm chính đối với doanh nghiệp đó là được cho điểm biểu thị bằng một trong 3 con số 0,5,6 với ý nghĩa như sau:

+ Điểm 0: NHTW Pháp không lưu trữ thông tin về lãnh đạo doanh

nghiệp

+ Điểm 5: Thông tin về lãnh đạo của doanh nghiệp được lưu trữ tại

NHTW

- Lãnh đạo doanh nghiệp không nằm trong đối tượng xét xử của toà

án, nhưng điểm tín dụng nhận ở điểm 6 và điểm thanh toán nằm ở điểm 9

- Những công ty không bị điểm 9 trong khâu thanh toán, nhưng bị điểm tín dụng 6 và có quyết định của toà án với khoản tín dụng 100.000 Franc được công bố ít nhất 5 tháng

+ Điểm 6: Lãnh đạo của doanh nghiệp đó đã ít nhất một lần bị phá sản

( thông tin về lãnh đạo của doanh nghiệp được lưu trữ tại NHTW trong thời gian 10 năm liên tục)

Những doanh nghiệp đang bị toà án đưa ra xét xử với những khoản tín dụng lớn hơn 100.000 Franc

bộ hồ sơ và tình hình tài chính của công ty đã được công bố công khai Chỉ

số công khai thông tin cho thấy việc cung cấp thông tin của doanh nghiệp là

Trang 26

hoàn toàn không dấu diếm.Tuy nhiên, chỉ số công khai này không so sánh với điểm tín dụng là điểm 0.

+ Chỉ số thiếu hoặc châm trễ thông tin thể hiện bằng chữ R Chỉ số này dành cho những công ty không muốn báo cáo số liệu, hoặc từ chối cung cấp số liệu Đồng thời ta hiểu rằng số liệu đó có thể chưa thu thập được đầy

đủ Hơn nữa, ngoài việc công ty không thông báo số liệu kế toán mới nhất, NHTW Pháp không thể nhận tài liệu này ở các ngân hàng có liên quan.Chỉ

số R cũng ảnh hưởng đến sự đánh giá về chất lượng tín dụng của một doanh nghiệp

Tóm lại, cách đánh giá và cho điểm là những thông tin quan trọng giúp các ngân hàng tham khảo khi đi đến quyết định cung cấp tín dụng cho khách hàng của mình Đồng thời, nó cũng làm cơ sở cho các nhà phân tích kinh tế – tài chính phân tích một cách chuẩn xác, giúp cho Nhà nước Pháp quản lý được hoạt động của các doanh nghiệp khi quan hệ với ngân hàng và đảm bảo sự ổn định và an toàn trong phát triển kinh tế – xã hội

2.2.2.3 JCIC của Đài Loan

Lịch sử phát triển

Tháng 3/1975, Bộ trưởng tài chính ( MOF) và Ngân hàng trung ương

cộng hoà Trung quốc ( BOC), Hiệp hội Ngân hàng Đài Bắc (TBA) quyết

định thành lập Trung tâm thông tin tín dụng, tên tiếng Anh là Joint Credit

Information Center ( viết tắt là JCIC)

JCIC sử dụng phương pháp đánh giá chất lượng tín dụng theo hệ thống điểm 5 C:

Character( Đặc điểm): Phản ánh đặc điểm của khách hàng

Capacity( Khả năng): Phản ánh khả năng thanh toán khoản nợ của khách hàng

Trang 27

Capital ( Vốn) : Phản ánh tình hình về tài chính của người vay.

Collateral( Tài sản thế chấp) : Phản ánh tài sản thế chấp của người vay

Phương pháp này được tính dựa trên công thức sau;

Thời gian thu hồi lãi xuất 3,5 4,2

Điểm cho ví dụ trên là:

Ngày đăng: 02/04/2013, 17:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG 01 – KÝ HIỆU XLTD SỬ DỤNG CHO NỢ NGẮN HẠN - Xây dựng mô hình xếp hạng tín dụng các doanh nghiệp ở Việt nam
BẢNG 01 – KÝ HIỆU XLTD SỬ DỤNG CHO NỢ NGẮN HẠN (Trang 20)
BIỂU 04: BẢNG XẾP HẠNG DOANH NGHIỆP CỦA CIC - Xây dựng mô hình xếp hạng tín dụng các doanh nghiệp ở Việt nam
04 BẢNG XẾP HẠNG DOANH NGHIỆP CỦA CIC (Trang 37)
Bảng các chỉ tiêu tài chính thường được sử dụng trong phân tích: - Xây dựng mô hình xếp hạng tín dụng các doanh nghiệp ở Việt nam
Bảng c ác chỉ tiêu tài chính thường được sử dụng trong phân tích: (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w