Sóc Sơn là một huyện có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế nông lâm, việc triển khai mô hình trồng cây dược liệu phục vụ sản xuất thuốc trên địa bàn huyện là một nhân tố quan trọng thúc
Trang 1LIÊN HIỆP CÁC HỘI KH VÀ KT VN
VIỆN KINH TẾ SINH THÁI
UBND TP HÀ NỘI
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI
DỰ ÁN
“ĐANH GIÁ TIỀM NĂNG VÀ TỔ CHỨC ÁP DỤNG MÔ HÌNH TRỒNG CÂY DƯỢC LIỆU TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SÓC SƠN”
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
ĐỀ XUẤT CÁC MÔ HÌNH TRỒNG CÂY DƯỢC LIỆU KHẢ THI
VÀ LỰA CHỌN MÔ HÌNH HỮU HIỆU NHẤT TRIỂN KHAI TRÊN ĐỊA
BÀN HUYỆN SÓC SƠN – HÀ NỘI ThS: Đỗ Thị Oanh - Bệnh viện Y học Cổ truyền Trung Ương
HÀ NỘI - 2012
Trang 21 MỤC LỤC
1.1 Nội dung: 3
1.2 Phương pháp nghiên cứu 3
1.3 Ngưu tất: 4
1.4 Kim ngân hoa: 5
1.5 Hà thủ ô đỏ 8
1.6 Đương Quy 10
4.1 Kết luận 16
4.2 Kiến nghị 16
Trang 31 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, thế giới đặc biệt chú ý đến cây thuốc và các loại thuốc có nguồn gốc thực vật Nhu cầu của thế giới về cây thuốc ngày càng tăng cao Theo tổ chức y tế thế giới, khoảng 80% dân số thế giới sử dụng các loài cây thuốc cho chăm sóc sức khỏe ban đầu, và khoảng 70 – 80% dân số ở các vùng nông thôn lấy cây thuốc làm nguồn thuốc chữa bệnh chủ yếu
Việt Nam là nước nhiệt đới gió mùa có nguồn tài nguyên thực vật phong phú và
đa dạng (hiện nay đã phát hiện 3.948 loài thực vật dùng làm thuốc) Ở Việt Nam, nhu cầu sử dụng thuốc thảo mộc và dược liệu còn rất lớn Bên cạnh cung cấp cho thị trường trong nước thì dược liệu còn là nguồn hàng xuất khẩu quan trọng của nước ta
Ngày nay, nền y học Việt Nam đã được Đảng và nhà nước khẳng định “Đông tây
y kết hợp” vì thế ngành trồng, sản xuất không ngừng được đẩy mạnh và phát triển Chính vì vậy, việc phát triển trồng cây thuốc cũng như duy trì các làng nghề trồng cây thuốc là thực sự cần thiết và đang được nhiều cơ quan, tổ chức quan tâm
Sóc Sơn là một huyện có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế nông lâm, việc triển khai mô hình trồng cây dược liệu phục vụ sản xuất thuốc trên địa bàn huyện là một nhân
tố quan trọng thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhằm phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế là một việc làm cần thiết trong giai đoạn hiện nay
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 Nội dung:
Khảo sát sơ bộ kết hợp với kinh nghiệm đã triển khai tại Sóc Sơn để triển khai các mô hình trồng cây dược liệu tại huyện Sóc Sơn Diện tích được xác định trên cơ sở quy mô, đặc điểm của cây dược liệu trồng của mô hình sau khi khảo sát hiện trạng đất đai và thực bì
1.2 Phương pháp nghiên cứu
Đánh giá về đặc điểm, tính chất, điều kiện tự nhiên môi trường, địa chất thủy văn của huyện Sóc Sơn nói chung và địa điểm triển khai thực hiện mô hình nói riêng
Nghiên cứu lựa chọn 3-6 cây thuốc cơ bản trong danh mục thuốc thiết yếu do Bộ
Y tế ban hành để đưa vào mô hình trồng Đây là những cây thuốc có giá trị, có thị trường tiêu thụ lớn trong nước hoặc xuất khẩu
Nghiên cứu xây dựng qui trình kỹ thuật trồng : xác định thời vụ, mật độ, khoảng cách trồng., nghiên cứu qui trình thu hoạch và chế biến
Trang 4Tập huấn kỹ thuật hướng dẫn cho người dân về kỹ thuật trồng, chăm sóc cây thuốc theo từng thời kỳ sinh trưởng, phát triển từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch
Tập huấn tiêu chuẩn sản xuất dược liệu sạch theo tiêu chuẩn GAP: nâng cao năng suất chất lượng cây trồng, phòng trừ sâu bệnh, hướng tới trồng dược liệu an toàn
Tập huấn kỹ thuật bảo quản, chế biến dược liệu sau khi thu hoạch
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1.3 Ngưu tất:
Tên khoa học: Achyranthes bidentata Blume
Họ Rau dền - Amaranthaceae
Tên Việt Nam: Ngưu tất
Năm 1960 cây Ngưu tất được di thực vào Việt Nam và đã được trồng rộng rãi ở các tỉnh đồng bằng Bắc bộ như Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình Ngưu tất là một cây dễ trồng, không yêu cầu khí hậu khắt khe Nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển là 18 – 260C Cây ưa ẩm mát, thích hợp với đất pha cát Cây chịu hạn nhưng không chịu úng
Ngưu tất là cây dễ trồng, dễ để giống, thời gian sinh trưởng ngắn từ 120 – 130 ngày sau khi gieo hạt thì thu dược liệu và 80 -90 ngày sau khi trồng thì thu hạt làm giống
Kỹ thuật trồng:
+ Giống: giống Ngưu tất trồng ở Việt Nam là giống Ngưu tất được di thực từ
Trung quốc năm 1960
Chuẩn bị hạt giống cho sản xuất: hạt giống cần phải được chuẩn bị tốt, trước khi vào vụ gieo trồng cần thử lại tỷ lệ mọc mầm để xác địn lượng hạt gieo Thông thường loại hạt giống có tỷ lệ mọc mầm trên 80% thì 1ha gieo trồng cần 8-9 kg hạt
+ Thời vụ trồng: thời vụ gieo trồng tốt nhất từ 15/9 -15/10.
+ Làm đất: cày 2-3 lần để đất có độ sâu 35 cm, bừa kỹ làm nhỏ đất, làm sạch cỏ
dại, cày chia luống rộng 1,4m, lên luống sơ bộ, rải đều toàn bộ lượng phân chuồng lên mặt luống, sau đó lên luống tiếp, vét sạch rãnh để luống đạt độ cao 40cm, san phẳng và đập nhỏ đất mặt luống
+ Gieo hạt: rải đều hạt lên mặt luống với lượng 8-9kg/ha, reo xong phủ rơm, rạ,
hoặc trấu và tưới ẩm hang ngày băng thùng tưới có doa
+ Chăm sóc: yêu cầu đất thường xuyên đủ ẩm Sau khi mọc 20 -25 ngày cây có hai đôi lá , cần tiến hành làm cỏ, tỉa cây để khoảng cách giữa các cây 4 -5cm, kết hợp với bón thúc phân NPK, lượng phân 10kg/ sào , cách làm: rắc đều lượng phân trên luống, dung cành cây khỏa nhẹ để phân rơi xuống gốc, sau đó tưới nước lã để phân không làm chết cây
Trang 5+ Phòng trừ sâu bệnh
Sâu bệnh hại xuất hiện ở thời kỳ cây non và cây trưởng thành, phòng trừ như sau:
+ Phòng trừ sâu: sâu xám cắn mầm non, bắt bằng tay vào sang sớm Sâu cuốn là,
sâu xanh, rệp hại lá cây trưởng thành dung thuốc Sherpa 25%.
+ Bệnh lở cổ rễ hại cây lúc mới trồng, phòng tránh bằng cách giữ độ ẩm vừa phải, ruộng luôn sạch cỏ dại, tỉa cây đúng lúc, không để cây mọc quá dày, không để đất và quần thể cây quá ẩm
+ Thu hoạch, sơ chế và bảo quản dược liệu:
Ngưu tất có thể thu hoạch khi đạt 135 -140 ngày tuổi Chọn ngày khô ráo, cắt bỏ than cây trên mặt đất, dung cuốc, thuổng để đào, tránh làm đứt rễ, ảnh hưởng đến năng xuất và thương phẩm dược liệu Sau khi thu hoạch cắt bỏ gốc cây, phơi nắng cho mềm, rưả thật sạch, xông sinh để chống mốc và phơi nắng đến khô là được
+ Tiêu chuẩn chất lượng dược liệu:
Củ ngưu tất đạt lượng thương phẩm phải có chiều dài 20 -30 cm, đường kính 0,5-1cm Hơi mềm, đầu trên mang vết tích của cổ rễ, đầu dưới hơi thuôn nhỏ Mặt ngoài màu vàng đất hay nâu nhạt, mùi thơm nhẹ, vị hơi ngọt, hơi đắng và the
+ Hiệu quả kinh tế xã hội và khuyến nghị sản xuất
Ngưu tất là cây dễ trồng, dễ để giống, có khả năng thâm canh cho năng suất cao (3,5 tấn/ha), thích nghi với nhiều loại khí hậu đất đai
Là cây vụ đông, ngắn ngày, thời gian sử dụng đất ngắn, dược liệu hang năm được sử dụng tương đối lớn (100 -150 tấn/năm) Đầu tư chi phí cho sản xuất ít nên giá trị lợi nhuận của người nông dân trồng cây ngưu tất tương đối cao.Cần có biện pháp phát triển trồng và ổn định diện tích trồng ngưu tất cho từng năm
+ Giá trị sử dụng làm thuốc, giá trị kinh tế
Ngưu tất có tác dụng chống viêm, hạ cholesterol máu, hạ áp, gây co cổ tử cung, chữa thấp khớp, đau bụng, bế kinh, huyết áp cao, đái buốt ra máu….Ngày dùng 6 – 12 g dưới dạng thuốc sắc
1.4 Kim ngân hoa:
Tên khoa học: Grevillea robusta A.Cunn
Họ: Cơm cháy: Caprifolianceae
Tên Khác: Ngân hoa, Kim ngân hoa, Kim ngân hoa lộ, Mật ngân hoa, Ngân hoa thán, Tế ngân hoa, Thổ ngân hoa, Tỉnh ngân hoa …,
+ Điều kiện sinh thái
Trang 6Kim Ngân là cây nhiệt đới, ưu sáng, có biên độ sinh thái rộng, chịu hạn, chịu đất chua phèn nên phân bố rộng, gặp mọc hoang hầu khắp các vùng trung du, miền núi và đồng bằng
Do có nhu cầu sử dụng nên Kim Ngân đã được trồng thu dược liệu hàng hóa ở nhiều vùng trong cả nước như: Lào Cai, Bắc Giang, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh…
+ Kỹ thuật trồng
- Chọn vùng trồng: Kim Ngân thuộc loại cây ưu khí hậu nóng ẩm, ưa sáng
nhưng kém chịu úng Nó có thể thích nghi rộng trên vùng khí hậu trung du và đồng bằng Bắc Bộ
- Giống và kỹ thuật nhân giống
Giống: Giống Kim Ngân đưa sản xuất cần được sàng sẩy sạch, không lẫn tạp
chất và hạt cỏ dại, có độ mẩy cao, khối lượng 1.000 hạt khoảng 1,3g, hạt già, màu vàng sáng, tỷ lệ mọc mầm trên 70%
Kỹ thuật nhân giống:
Giâm hom: Đất chậu để giâm cành thường là đất cát Giâm cành phải chọn cành khỏe của năm hiện tại, lấy phần ngọn cành hoặc phần giữa để làm cành giâm Cành giâm của cây thân cỏ có độ dài là 12 - 14cm, cây thân gỗ có độ dài 10 - 20cm là vừa
Độ sâu cảm vào đất là 1/2 - 1/8 cành Lúc cắm cắt hai đầu cành cắm, ở giữa để lại 3 - 4 chồi, chồi đoạn cuối là rễ mọc
Ghép cành: Cành ghép là cành tốt đã được lựa chọn từ cây mẹ tốt và được chăm sóc kĩ lưỡng Gốc ghép thường được lựa chọn là một số loài khác hoặc gốc ghép từ giống nhập khẩu của Australia
Thời vụ trồng
Thời vụ ở vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ hiện nay là gieo hạt vào trong tuần tháng 3 hoặc tháng 9-10, trồng cây con vào trung tuần tháng 5 hoặc tháng 10
Đất trồng và kỹ thuật làm đất, lên luống
Kim Ngân có thể thích nghi rộng trên nhiều loại đất như đất đồi núi, đất phù sa sông, đất thịt, đất pha cát…
Tuy nhiên để có năng suất cây trồng cao cần chọn vùng đất chủ động tưới tiêu nước, độ phì tiền tàng lớn Đất cần được cày sâu, bừa kỹ, nhặt sạch cỏ dại, cày chia luống 1,2m, lên luống cao khoảng 20cm, rộng 80 – 90 cm
Phân bón và kỹ thuật bón phân
Phân chuồng hoai mục cần khoảng 15 – 20 tấn/ha Phân NPK tổng hợp khoảng
từ 1400 – 1500 kg/ha Nếu bón riêng rẽ có thể dùng 270 – 300 kg u rê, 500 kg supe laanm 200 kg kali cho một ha
Trang 7Phân bón đối với vườm ươm: Cần 10 tấn phân chuồng hoai mục/ha, kết hợp với
200 kg NPK tổng hợp bón lót trước khi gieo hạt Cách bón: rải đều phân trên mặt luống, xáo nhẹ, đảo đều phân trong đất sau đó san phẳng mặt luống
Phân bón đối với ruộng sản xuất dược liệu: Mỗi một ha cần bón lót 15 – 20 tấn phân chuồng, 500 kg NPK tổng hợp, có thể bón theo hốc hoặc rải đều phân trên mặt luống, sau đó lấp kín phân Phân tổng hợp NPK bón thúc vào các thời kỳ: Sau khi trồng
15 – 20 ngày lượng 200 kg/ha
Sau khi trồng 50 – 55 ngày lượng 500 kg/ha Sau khi trồng 75 – 80 ngày lượng
300 kg/ha Nếu thấy cây trồng xấu, cần bón bổ sung phân đạm với lượng 50 – 60 kg ure/ha, hoặc 500 kg NPK/ha
Mật độ, khoảng cách trồng
Khoảng cách trồng Kim Ngân thích hợp là 30 x 30 cm, tương đương với mật độ
8 cây/ m2 hoặc 30x50cm tương ứng với 6 cây/m2
Kỹ thuật trồng
Làm dàn leo: chọn gỗ tốt hoặc tre đực to đã ngâm làm cọc dàn Cọc dàn bằng bê tông hay xi măng cốt thép thì càng tốt vì sau nhiều năm không phải sửa Chôn cọc xong, buộc xà dọc và ngang, mỗi xà cách nhau không quá 2m Buộc các thanh tre đực hoặc vầu nhỏ cách nhau 20cm x 20cm hoặc nhiều nhất 30cm x 30cm để cho cây leo sau này Tốt nhất là dùng dây thép mạ kẽm đường kính 3m/m căng thành dàn
Trồng cây con: Đào khoảng 4 hố ở bốn góc dàn có đường kính 40cm~ 50cm, không đào sát cọc dàn quá sẽ làm cho cọc yếu đi Bón lót phân chuồng vào đáy hố Trồng cây Kim ngân con vào các hố, chú ý trước khi lấp đất và nén chặt, dùng kéo cắt
và rút túi ra khỏi hố để cho rễ cây dễ dàng đâm sâu, đâm ngang; tiếp tục tưới cây giữ
ẩm Buộc một que tre từ gốc cây mới trồng nối với cọc dàn tre Điều chỉnh cho cây leo vào que tre rồi vào cọc dàn leo Khi cây đã lên mặt dàn, thường xuyên điều chỉnh cho các ngọn cây bò lan toả ra kín dàn, tạo thành bóng mát đều đặn
Trước khi đánh cây đi trồng cần tưới ẩm và đánh bầu cây con để tránh đứt rễ, làm như vậy đảm bảo tỷ lệ cây sống cao Khi trồng, bổ hốc với khoảng cách 30 x 30
cm, bón lót phân chuồng và phân NPK vào hốc, đảo đều phân trong đất, sau khi trồng thì ấn chặt đất quanh gốc cây Cần tưới nước đủ ẩm thường xuyên cho đến khi cây hồi xanh
Chăm sóc và quản lý đồng ruộng
Sau khi trồng được 8 – 10 ngày, cây bắt đầu hồi xanh, cần trồng giặm kịp thời những cây bị chết Khoảng 20 ngày sau khi trồng nên xáo phá váng và bón thúc phân như đã nêu ở trên Yêu cầu đồng ruộng luôm sạch cỏ dại và tưới nước đủ ẩm
Phòng trừ sâu bệnh
Trang 8Phòng trừ sâu bệnh: Kim ngân rất ít sâu bệnh hại, trường hợp đặc biệt nếu thấy
có sâu xanh, sâu róm thì chủ yếu là bắt bằng tay vì diện tích dàn không lớn lắm, vả lại làm như vậy sẽ giữ cho dược liệu được an toàn không bị độc hại
Kim Ngân ít bị sâu bệnh phá hại Mới chỉ thấy có bệnh phấn trắng phát sinh vào mùa đông và đầu mùa xuân khi trời âm u kéo dài, độ ẩm không khí cao, cần dùng Daconil 75 WP phun với nồng độ được hướng dẫn trên bao bì Sâu xám phá hại cây con trong giai đoạn vườm ươm, có thể dùng Basudin rắc vào buổi chiều tối, liều lượng khoảng 25 – 27 kg/ha
Chế độ luân canh hoặc xen canh
Cây Kim Ngân có thể trồng luân canh với bất cứ cây trồng cạn nào, nó cũng có thể trồng xen dưới tán cây ngô, hoặc các loại cây lâu năm Đối với các vườn cây ăn quả, hoặc vườn rừng chưa khép tán nên trồng xem Kim Ngân để tránh xói mòn đất và tăng thu nhập
1.5 Hà thủ ô đỏ
Tên khoa học: Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson (Polygoum multiflorum
Thumb.) Họ Rau răm: Polygonaceae
Tên vị thuốc: Hà thủ ô đỏ
Tên khác: Dạ giao đằng (Tày), Địa khu lình (Thái)
+ Kỹ thuật trồng
Chọn vùng trồng: Cây Hà thủ ô có thể trồng ở những vùng núi cao, trung du và
những vùng đất cao không ngập nước của đồng bằng Bắc Bộ
Giống và kỹ thuật nhân giống
Giống: Giống Hà thủ ô đỏ đang được sử dụng trong trồng trọt là giống được
miêu tả ở trên, có tên khoa học là Polygonum multiflorum Thumb
Kỹ thuật nhân giống: Chọn các dây bánh tẻ có 2 -3 mắt, giâm trong cát, tưới ẩm
thường xuyên đảm bảo độ ẩm 90% Sau 1 tháng, hom giâm ra rễ
Thời vụ trồng: Ở vùng núi, Hà thủ ô đỏ có thể trồng vào vụ xuân (tháng 2, 3) và
vụ thu (tháng 9, 10) Ở vùng đồng bằng, Hà thủ ô có thể trồng vào cuối tháng 9, đầu tháng 10 Nếu thâm canh cao thì sau 1 năm có thể thu hoạch được dược liệu
Đất trồng và kỹ thuật làm đất, lên luống
Chọn đất tơi xốp, đất cát pha hoặc thịt nhẹ, tầng canh tác dầy, ít sỏi đá, không ngập úng, tưới tiêu nước thuận tiện
Đất cần được cày bừa kỹ, nhặt sạch cỏ dại, lên luống cao 30 – 35 cm, mặt luống rộng 75 – 80 cm để trồng được hai hang, rãnh luống rộng khoảng 30 cm để tiện chăm sóc
Phân bón và kỹ thuật bón phân
Trang 9Hà thủ ô đỏ là cây dài ngày, phàm ăn vì vậy cần phải bón phân lót đầy đủ, một hecta trồng cần khoảng 30 tấn phân truồng hoại mục, 200kg ure, 400 kg lân và 200 kg kali phân truồng và phân lân trộn đều bón lót theo hốc, phân đạm và phân kali bón thúc làm ba thời kỳ Thời kỳ đầu khi cây cao 40 – 45 cm bón 1/5 tổng lượng phân, thời kỳ cây sinh trưởng mạnh (tháng 3) bón 2/3 lượng phân còn lại và bổ sung thời kỳ cuối (tháng 5) 1/3 tổng lượng phân còn lại
Mật độ, khoảng cách trồng
Đất xấu: 30 x 30 cm (5 cây/m2)
Đất tốt: 30 x 40 cm (3,5 cây/m2) kể cả rãnh (hoặc 6,6 cây trên một mét luống)
Kỹ thuật trồng
Đảo đều phân trong hốc, đặt dây chếch 4 – 5o, mắt mầm hướng lên trên, lấp đất chặt chỉ để hở một mắt mầm phía trên, mỗi hốc đặt hai dây Trồng xong phải tưới nước
đủ ẩm ngay cho tới khi cây mọc mầm đều
Chăm sóc và quản lý đồng ruộng
Sau khi cây mọc mầm và tưới nước đầy đủ (một đến hai lần/ tuần) để cây sinh trưởng tốt, yêu cầu đồng ruộng luôn sạch cỏ dại Khi cây mọc cao 15 cm cần cắm dàn bằng những cành nhỏ có nhiều nhánh để cho dây leo Sau đó cắm cọc cao 1,5 – 1,7 m Nếu cây không leo được, cây sẽ bị chậm sinh trưởng ảnh hưởng đến năng suất củ sau này, giàn leo là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến chất lượng dược liệu
Phòng trừ sâu bệnh
Hà thủ ô ít bị sâu bệnh phá hoại Ở miền đồi núi, Hà thủ ô thường hay bị dế cắn gốc, có thể bắt bằng cách đổ nước vào hay làm bả bằng cỏ non trộn với thuốc diệt côn trùng đặt trước cửa hang Ngoài ra cũng có thể bị dệp hại ngọn cây non hoặc bọ cánh cứng hại lá, có thể dung thuốc trừ mornitor, ofatox phun nồng độ 0,2% hoặc thuốc trừ sâu sinh học…
Chế độ luân canh hoặc xen canh
Cây Hà thủ ô có thể luân canh với các cây ngũ cốc hoặc các cây họ đậu, cũng có thể trồng xen ở các mép luống các cây đậu xanh hoặc đậu tương
+ Thu hoạch, chế biến và bảo quản
Trong điều kiện trồng trọt, chăm bón tốt chỉ sau hai năm trồng Hà thủ ô đã cho thu hoạch dược liệu, năng suất có thể đạt trên 20 tấn củ tươi/ha Thường thu hoạch vào cuối mùa thu, đầu mùa đông khi cây đã tàn lụi, đào lấy củ rửa sạch, cắt bỏ rễ con, củ nhỏ để nguyên, củ lớn bổ đôi đem phơi hoặc sấy khô
Chế biến
Phương pháp bào chế
Trang 10- Chế với rượu: Rửa sạch Hà thủ ô, them rượu ủ (theo tỉ lệ: 2 kg rượu 40% cho 10
kg Hà thủ ô) Thái phiến, phơi âm can
- Hà thủ ô chưng với rượu: Đem Hà thủ ô trộn với rượu (theo tỉ lệ: 2,5 kg rượu 40% cho 10 kg Hà thủ ô) Chưng đến chín, đem phơi khô, lặp lại như vậy ba lần
- Hà thủ ô chưng hoặc nấu với đậu đen: Trước hết đem đậu đen nấu kỹ lấy nước (2
kg đậu đen cho 10kg Hà thủ ô) Dùng nước đậu đen ngâm Hà thủ ô cho mềm, chưng 4 –
6 giờ, tiếp tục ủ 24h Thái phiến, phơi khô Nước dịch chưng còn được tẩm vào Hà thủ
ô cho đến hết Phơi hoặc sấy khô Trộn Hà thủ ô và đậu đen, them nước đủ ngập, ngâm
và nấu cho đến khi toàn bộ nước ngấm vào Hà thủ ô Đem thái phiến Phơi hoặc sấy khô
- Hà thủ ô nấu và chưng với đậu đen: Trước hết nấu Hà thủ ô với đậu đen cho chín
kỹ (theo tỉ lệ như trên), phơi cho se Đem đồ tiếp trong 8h Phơi se, tẩm nước còn lại, chưng tiếp Lặp lại như vậy 3 lần, Cuối cùng đem phơi khô Cũng có thể đem sao thơm đậu đen Đem nấu với Hà thủ ô trong 8h lien tục, cho đến khi nước đã ngấm vào ruột
củ Bỏ đậu đen rồi đồ tiếp Lấy ra ngày phơi nắng, đêm phơi sương; sau đó tẩm dịch đáy nồi rồi đồ tiếp Làm như vậy 4 – 5 lần Phơi khô
- Hà thủ ô chưng với đậu đen va rượu Độ đậu đen nấu kỹ, lấy nước Trộn nước này với dược ; Lấy hỗn dịch trên trộn vào với Hà thủ ô (theo tỉ lệ 1kg đậu đen 2,5kg rượu 40% Ủ trong 4 giờ Chưng trong 24h liên tục cho đến khi dich ngấm hết vào Hà thủ ô Lấy ra, thái phiến, phơi khô
- Hà thủ ô chế với đậu đen và sinh khương: Hà thủ ô ngâm nước 2 ngày, 2 đêm Thái phiến , ngâm tiếp 2 ngày, 2 đêm Nấu khoảng 20 phút Bỏ nước thêm Sinh khương đậu đen ( theo tỉ lệ: 1kg đậu đen, 1kg Sinh khương cho 10kg Hà thủ ô) Nấu 1h Bỏ Sinh khương và đậu đen, phơi se, thái phiến Phơi hoặc sấy khô
- Hà thủ ô chế với đậu đen và cam thảo: Cho đậu đen và cam thảo xuống đáy nồi (theo tỉ lệ 2kg đậu đen và 2kg cam thảo cho 10kg Hà thủ ô) Cho Hà thủ ô lên trên, thêm nước, nấu liêm tục trong 12h Thái phiến, phơi khô
- Hà thủ ô chế với nước Thục địa: Trước hết nấu thục địa lấy nước (theo tỉ lệ 2kg Thục địa cho 10kg Hà thủ ô) Trộn nước sắc này với Hà thủ ô Ngâm 3 – 6 giờ Cho ra, phơi se, tiếp tục chưng Lặp lại như vậy 3 – 5 lần, phơi khô
Bảo quản: Bảo quản dược liệu kín trong bao tải và bao nilon để tránh hút ẩm 1.6 Đương Quy
Tên khoa học: Angelica acutiloba Kitagawa
Họ Hoa tán: Apiaceae