1.3 Hướns chung của đề tài là nshièn cứu phân tích diễn nsôn thể loại văn bán luật pháp trong tiếng Việt có so sánh với các đặc điếm của thế loại này trong tiếng Anh nhằm phục vụ mục đíc
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
ĐỂ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC CẮP ĐẠI HỌC QUỐC GIA
PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN VĂN BẢN LUẬT PHÁP TIẾNG VIỆT- SO SÁNH VỚI TIÊNG ANH VÀ ÚNG DỤNG TRONG DỊCH VĂN BẢN
LUẬT PHÁP
MÃ SỐ: QN.00.01 CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN NGÔN NGỮ
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI:
TS LÊ HÙNG TIẾN - KHOA NN & VH ANH-MỸ
■ DTịOŨibĩ
Trang 3PHÃN M ơ ĐÂU
-5 Tư liệu
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: MỘT s ố c ơ SỞ LÝ LUẬN
I PHÂN TÍ CH DIỄN NGÔN
1.2 Phân tích diễn ngồn và phân tích thể loại ứnìỉ (June diễn rmỏn ”
1.2.1.1 Phàn tích phonii cách chức năng: Mô tá ngôn n^ữ
1.2.1.2 Phàn tích nỵừ pháp-tu từ: mỏ tá imôn nuừ về mặt chức nãI1U N
1.2.1.3 Phàn tích tưưnii tác: miêu tá ngùn rmữ như một diễn nuỏn ^
1.2.1.4 Phàn tích thê loại diễn ni^ôn: miêu tá n^ôn niiừ theo
1.2.2 Phươne pháp phân tích the loại ứrm đụnii của diễn nu ôn 14
III KHÁI QUÁT VỀ NGÔN NGỮ VÀ TÌNH HƯỐNG DI ẺN NGÔN
CỨA VÃN BAN LUẬT PH ÁP TI ÊNG ANH VẢ TlẾNCx VIỆT
1.3.1 Điểm qua tình hình nghiên cứu về nuỏn ne ũ' văn hán luật pháp
ỉ 3.2 Ngừ cánh và mục đích ìiiao ticp cúa vãn ban luật pháp 2f)
1.3.3 Mòl sò đặc ilicm cơ hán của imỏn nu ù' văn han luậl pha p ticnLL
1.3.3.2 Mộl sò đặc điếm vè vãn ban cua săn han luật pháp
1
Trang 41.4.1 Sư lược về tình hình làm luật ứ Việt Nam 4ị1.4.2 Bán chất, cơ cấu và đặc điểm của hệ thốnii luật pháp Việt Nam 43
CHƯƠNG 2: M Ộ T s ố ĐẶC ĐIỂM T Ừ VỤNG NGŨ PHÁP CÙA VÃN BAN
LUẬT PHÁP TI ẾNG VIỆT
I PHƯƠNG DIỆN CHÚC NÂNG LIÊN NHÂN CỦA VÃN BẢN
LUẬT PH ÁP TI ẾNG VIỆT
2.1 Động từ ngữ vi và câu ngữ vi - phương tiện ni^ôn nỵừ quan trọrm
góp phẩn tạo tính hành thực cho vãn bán luật pháp
2 1 1 Giới thiệu
2.1.2 Động từ n^ừ vi và câu ngữ vi - phương tiện ngôn niiừ Sióp phán
biến văn bán thành quy phạm pháp luật
2.1.3 Câu niĩữ vi - phương tiện ngồn ngữ góp phần tạo tính hành thực
cho vãn bản luật pháp tiếng Việt
2.2 Tinh thái - phương tiện niíồn neừ quan trọnu eóp phán tao lập
quvền và nnhĩa vụ trong văn bán luật pháp tiếrm Việt
2.2.1 Giới thiệu
2.2.2 Một số phương tiện từ vựrm n^ữ pháp biếu hiện kiểu tình thái chức
phận tronsi văn bán luật pháp tiếne Việt
2.2.3 Một số nhận xét so sánh đối chiếu phương tiện biếu hiện tình ihái
trong văn bán luật pháp tiốrm Việt với tiốne Anh
II PHƯƠNG DIỆN CHỨC NĂNG QUAN NIỆM T RO N G VÃN HAN
LUẬT P HÁ P TI ẾNG VIỆT
2.3 Hệ thuậl n^Q' luật pháp và từ Hán - Việt iron ì: văn hán 1 LI ã t pháp
tiốrm Việt
2.3.1 Giới thiệu
23.2 Hộ ihuật nuừ luụl pháp - phương tiện nnôn nu ừ uúp pluin Um lạo ra
tính minh xác và chãi chẽ cho vãn han luat pháp
484S
51
55
5656
60
69
72
72
Trang 52.3.3 Từ Hán - Việt vứi tính chật chẽ, tính tranii trọng và tính hao trùm
2.3.4 Một số nhận xét đối chiếu sự sử dụnii hệ thuât nsjữ tron Li vãn bán
2.4 Danh hoá - phương tiện ngừ pháp tạo tính chính xác và bao trùm
cho văn bản luật pháp tiếng Việt
2.4.1 Giới thiệu
2.4.2 Danh hoá troniĩ văn bán luật pháp tiếng Việt
2.5 Câu có độ dài bất thường
3.3 Càu trúc phát triên nhàn thức điên hình ironu vãn han luâl plìap licnii
Vièl
K888
902.4.3 Một số nhận xét so sánh đối chiếu sự danh hoá trong vãn bán luật
96
CHƯƠNG 3: M Ộ T s ố ĐẠC Đ l Ể M VỂ v ă n b ả n CÚA v ă n b ả n
LUẬT P HÁP TI ẾNG VIỆT3.1 Đc hoá - phưưng tiện ngừ pháp quan trọng lạo lập tính chính xác
cho vãn hán luậl pháp tiếng Việt
02
02 06
3.1.1 Giới thiệu cấu trúc Đề - Thuvết và sự đổ hoá
3.1.2 Đề hoá trong vãn bán luật tiốrm Việt
3.2 Phương ihức liên kết văn bán
109
3.2.2 Một số phương tiện liên kết đặc thù của văn hán luật pháp tiếnii
3.2.2.1 Khứ chiếu và hổi chiếu - các phép quv chiốu uóp phàn lãriL!
cườns: tính minh xác rõ ràrm và chãt chẽ cho văn hán luâl licniz Viet
3.2.2.2 Phiip nhấc lại lừ vựrm - phương tiện liên kèt iióp phan háo đam
lính minh xác cho văn hán luậl pháp IiCnLI Yiệl
! 9
Trang 63 3 2 C ấ u t r ú c p h á t t r i ề n n h ậ n t h ứ c đ i ê n h ì n h t m n i i v ă n b à n l u à t
3.3.3 Một số nhận xét so sánh đối chiếu cấu trúc phát triến nhận thức
cúa văn bán luật pháp tiếng Việt với tiếng Anh
3.4 Cấu trúc thể loại tiềm năng của vãn bán luật pháp liếim Việt 1
3.4.2 Cấu trúc thể loại tiềm năng trong văn bán luật pháp Tiếniỉ Việt 140
3.4.3 Một số nhận xét so sánh đối chiếu cấu trúc thê loại tiềm nãnỵ của
Trang 7NHŨNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỂ TÀI
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Giới thiệu để tài:
1.1 Hiện nay trước yêu cầu của xã hội mới, ngày càng nhiều bộ luật đã và đang được xây dựng và ban bố Nghiên cứu ngôn ngữ văn bản luật pháp trong tiếng Việt là rất cần thiết và có ý nghĩa trong tình hình hiện nay Kết quả nghiên cứu sẽ có ý nghĩa ứng dụng trong việc xây dựng văn bản luật, giảng dạy ngôn ngữ luật pháp và dịch thuật văn bản các bộ luật Việc dịch các bộ luật Việt Nam sang tiếng Anh cũng là đòi hỏi cấp thiết của tình hình mới Để dịch được các văn bản luật một cách hiệu quả, nơườì dịch cần nắm được các đặc điểm riêng của thể loại văn bản này
1.2 Trước nay trong tiếng Việt đã có một số công trình nehiên cứu về ngữ pháp
văn bản nhưng chủ yếu dựa trên ngôn ngữ văn bản nghệ thuật (như “Ngữ
pháp văn bản'’ của Trần Ngọc Thêm” 1985, “Văn bản và liỏìì kết trong tiếng Việt” 1998 của Diệp Quang Ban) Các cồnơ trình nghiên cứu về thế
loại văn bản có rất ít (như “Phân tích diễn ngôn thư tín thương mại” 1996 của Nguyễn Trọng Đàn, “Nghiên cíãi diễn ngôn về chính trị - xã hội trên
tư liệu báo chí tiếng Anh và tiếng Việt” 1999 của Nguyễn Hoà) Hầu như
chưa có công trình nghiên cứu riêng nào về diễn ngôn thể loại văn bản luật pháp
1.3 Hướns chung của đề tài là nshièn cứu phân tích diễn nsôn thể loại văn bán luật pháp trong tiếng Việt có so sánh với các đặc điếm của thế loại này trong tiếng Anh nhằm phục vụ mục đích dịch các văn bân luật pháp siữa hai thứ tiếng Việt và Anh và giáng dạv nsỏn nsừ chuyên n s à n h luật
2 Ý nghĩa của đề tài:
Trang 92.1 Ý nghĩa khoa học: Đề tài sẽ góp phần cung cấp cho lý luận nsôn ngữ học một số cứ liệu về đặc điểm ngôn ngữ văn bản luật pháp tiếng Việt, những nét tương đồng và khác biệt chính so với ngôn ngữ luật pháp tiếng Anh Đây cũng sẽ là một đóng góp về mặt phương pháp nghiên cứu phân tích diễn ngôn một thể loại văn bản trong tiếng Việt.
2.2 Ý nghĩa thực tiễn: Nghiên cứu ngôn ngữ luật pháp nói chung và ngôn ngữ văn bản luật pháp nói riêng sẽ đóng góp gián tiếp vào việc xây dựng luật pháp, nghiên cứu so sánh luật pháp và trực tiếp vào việc dịch văn bản luật giữa hai tiếng Việt và tiếng Anh, giảng dạy ngôn ngữ chuyên ngành luật và các ứng dụng khác thuộc ngôn ngữ và luật pháp
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thể loại diễn ngôn văn bản luật pháp
Do đó để tài sẽ tập trung nghiên cứu thể loại vãn bản viết tron2 lĩnh vực luật pháp, chủ yếu là các văn bản của hai bộ luật Dân sự và Hình sự của Việt Nam là các văn bản mang nhiều nét tiêu biểu nhất của thể loại này.3.2 VI đây là một nghiên cứu đầu tiên về ngôn ngữ luật pháp tronơ tiếng Việt
nên sẽ chỉ tập trung vào nghiên cứu các đặc điểm cơ bản, nòng cốt nhăm nhận diện được thể loại nàv chứ không nghiên CÍCII ĩấĩ cả các đặc điếm có
tronơ văn bản luật pháp
3.3 Nshiên cứu sẽ tập trung miêu tả các đặc điếm từ vun2, ngữ pháp và văn bàn trong văn bản luật pháp do mục đích siao tiếp đặc biệt cua thế loại văn bán này quv định
Trang 103.4 đề tài cũng sẽ liên hệ so sánh những đặc điểm nói trên của văn bản luật pháp tiếng Việt với tiếng Anh để làm cơ sở cho phần ứns dụng vào dịch văn bản luật pháp giữa hai ngôn ngữ Việt và Anh Do vậy nghiên cứu không đặt nhiệm vụ so sánh trực tiếp hai ngôn ngữ mà chỉ liên hệ so sánh tiếng Việt với tiếng Anh theo hướng ứng dụng dịch thuật mà không theo hướng loại hình học.
4 Phương pháp nghiên cứu:
4.1 Phương pháp làm việc chính sẽ là sự kết hợp phương pháp diễn dịch và quy nạp: từ các nguyên lý và quy tắc về phân tích thể loại diễn ngôn nói chung và phân tích thể loại diễn ngôn văn bản luật pháp nói riêng, người nghiên cứu sẽ diễn giải chi tiết trên cứ liệu văn bản tiếng Việt và xem xét sụ thích hợp cũng như không thích hợp của chúng trong tiếng Việt Những quy luật riêng của tiếng việt sẽ được quy nạp lại từ tư liệu rút ra từ các vãn ban luật pháp tiếng Việt Qua đó người nghiên cứu sẽ tìm hiếu các quy luật sứ dụng các phương tiện ngôn ngữ để diễn đạt các ý nghĩa do mục đích giao tiếp của các văn bản quy định
4.2 Phương pháp phân tích ngồn ngữ là phương pháp ký hiệu và chức năng (semiotic and functional) dựa trên mô hình chức năng hệ thống (functional- systemic model) do Halliday (1978; 1985) đề xướng Theo quan niệm nàv, một hệ thống ký hiệu là một hệ thống tạo nghĩa mà các ký hiệu cua hệ thống này là các phươns tiện truyền đạt nghĩa Ký hiệu nsôn rmữ là một loại kv hiệu của hệ thốns tạo nehĩa này Chúns khòns tồn tai tách rời khỏi
xã hội mà luồn được hình thành, xếp đặt theo cách thức đặc thù của hoàn cảnh xã hội (social situation) cụ thế nào đó Vê mặt neòn naữ học sư hình thành và xếp đặt các ký hiệu nsôn nsữ theo cách đặc thu này tạo ra một thế
Trang 11loaị diễn ngôn (a discourse type) Thể loại diễn ngôn được hiện thực hoá thành văn bản (text) qua sự tổ chức từ vựnơ-ngữ pháp và văn bán rheo cách thức đặc thù của thể loại đó Cách thức đặc thù này được hình thành do tập quán sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng giao tiếp (quy ước hoá - conventionalise) và bởi các thiết chế văn hoá-xã hội (chế ước hoá - institutionalise) Do vậy mối liên quan chặt chẽ giữa thể loại diễn ngôn với hoàn cảnh xã hội này cần được lý giải khi phân tích diễn ngôn Xuất phát từ ngữ cảnh xã hội (social context) người nghiên cứu tìm hiểu mục đích giao tiếp (communicative purposes) của văn bản và nehiên cứu các phương tiện ngôn ngữ tham gia vào việc cấu thành các nghĩa tố trong hệ thống nsữ nghĩa để văn bản hoàn thành các mục đích giao tiếp trên như thế nào.
4.3 Phương pháp phân tích diễn ngôn được áp đụnơ t r on ơ đề tài là phương pháp phân tích thể loại diễn nsỏn ứng dụng do Bhatia và Svvales (1992) và sau đó là Maley (1994) xây dựng và phát triển Đâv là một cách nhìn văn bân dưới góc độ chức năng và dụng học Phươnơ pháp này tập truns vào việc xem xét ngữ cảnh giao tiếp để tìm ra các mục đích giao tiếp của văn bản, từ đó tìm hiểu cơ chế hoạt động của từ vựng, ngữ pháp, các phương tiện liên kết văn bản, các cấu trúc ngầm ẩn quy định sự sắp xếp, bố trí các đơn vị từ vựng-ngữ pháp và sự phát triển về mặt hình thức của văn bán như cấu trúc phát triển nhận thức (cognitive structuring), cấu trúc thể loại tiềm năng (generic structure potential) Nó không nhữns chỉ ra các đặc điếm hình thức của văn bàn mà còn chú trọns vào việc giải thích vì sao cơ chế nào đã tạo ra hình thức đó và cố sắng sơ đồ hoá các càu trúc và cơ che đỏ
Do vậv phương pháp nàv còn được ơọi là phươns pháp phân tích diễn ngôn theo lối giái thích (interpretive discourse analysis) Những thôns tin mans tính giải thuyết theo chiều sâu vé một thể loại diẻn nsôn như vậv sẽ rát hữu ích cho các mục đích ứnơ duns như xàv dims vãn ban dav nsôn nsữ chuvên ngành và dịch thuật chuvèn nsành
Trang 124.3.1 Trên cơ sở một số quy luật đã tìm ra về thể loại văn bản luật pháp tiếng Việt, người nghiên cứu sẽ so sánh đối chiếu với các đặc điếm tương ứng ờ văn bản luật pháp tiếng Anh do các nhà nghiên cứu trước đó đã chỉ ra và rút
ra các nhận xét, kết luận theo hướng ứng dụng vào dịch thuật các văn bản luật pháp từ Việt sang Anh
5.2 Tư liệu để nhận xét so sánh đối chiếu là các bộ luật tương đương của các nước Anh, Mỹ, ú c và các nước nói tiếng Anh khác và kết quả của các công trình nghiên cứu về văn bản luật pháp tiếng Anh
Trang 13Với mục đích xây dựng một cơ sở nền tảng làm chỗ dựa cho những phán nghiên cứu sau, ở phần này chúng tôi sẽ trĩnh bày một số khái niệm, nguyên tắc chính yếu theo hướng chấp nhận và tôn trọng tính nhất quán cùa chúng để làm việc và sẽ không bàn luận nhiều về các khái niệm và nguyên tắc này Một
số những khái niệm và nguyên tắc quá chuyên sâu hoặc chi tiết sẽ được trinh bày ở các chương mục sau, khi cần thiết để tránh cho phần cơ sở nàv quá dài
và lan man
1 Phân tích diẻn ngòn và phân tích ứng dụng của thẻ loại diễn ngôn
1.1 Phân tích diễn ngôn
Phân tích diễn ngôn là phân ngành nghiên cứu sự sử dụnơ nơôn nsữ ở cấp
độ trên câu Nó trở thành phân ngành nghiên cứu độc lập từ nhữns năm đầu thập kỷ 70 và nhanh chóng thu hút sự chú ý của giới nsôn nsữ học ứns dụns
do nhữns; đóns 2Óp hữu hiệu của nó vào dạy tiếng, dịch thuật và các lĩnh vực
khác Phân tích diễn nsôn cũng tồn tại với nhữnơ tên ơọi khác như ngôn ngữ
học văn bản (text linguistics), phân tích văn bản (text linguistics), phàn tick hội thoại (conversational analysis), phân tích tu từ (rhetorical analvis), phản tích chức năng (functional analysis) v.v.
Trong ngôn ngữ học, có thể nhận diện phàn tích diễn nsôn theo môt số bình diện khác nhau Bình diện thứ nhất là binh diện lý thuvết Trên bình diện này, các nshiẻn cứu về phân tích diễn ngôn có thể được xếp thành hai cưc đối lập Một cực là các nghiên cứu được coi là phàn nhánh của nsữ pháp hình thức với trọng tâm là mặt hình thức hoặc chức năns của việc sử đụnổ neôn nsữ, 2ồm cá nsữ nghĩa học và n£Ữ đunii học ơ cực kia các nghiên cứu phân tích dièn n£ỏn tập trung vào sự sử dụns mang tính chế ước hoá (institutionalised) cua nsòn
Trang 14ngữ trong các bối cảnh vãn hoá-xã hội khác nhau trong đó sự giao tiếp bằng ngôn ngữ được coi là một hoạt động xã hội (communication as social action).Bình diện thứ hai là bình diện chung - chuyên ngành: Các nshiên cứu phàn tích diễn ngôn của các hội thoại hàng ngày, các thể loại văn viết như mô tả, trần thuật, chính luận và ở hướng chuyên ngành là các nghiên cứu phân tích diễn ngôn các thể loại văn bản chuvên ngành như bài báo khoa học, văn bản luật pháp, các giao thoại bác sĩ-bệnh nhân, luật sư-khách hàng v.v.
Bình diện thứ ba là bình diện ứng dụng: Các nghiên cứu phân tích diễn ngôn xuất phát từ các mục tiêu únơ dụng khác nhau như dạy và học tiếng, dịch thuật v.v
Bình diện thứ tư là mức độ phân tích: Các nghiên cứu phàn tích diễn ngôn được phân loại theo mức độ từ phân tích hình thức bề mặt (surface-level formal analyis) tới phân tích theo chiểu sâu chức năng (deep functional analyis) của ngồn ngữ hành chức Sự phân loại này đổng thời cũns phán ánh sự chuvến biến của phàn tích diễn ngôn ứng dụng từ hình thức sang chức năng, từ ngữ pháp sang diễn ngôn và giao tiếp trong những năm gần đây
Sau đây ta sẽ lần lượt xem xét các cấp độ mô tả ngôn ngữ mà phân tích diễn ngôn đã trải qua trong quá trình phát triển gần đây theo cách đánh giá của Bhatia (1992)
1.1.1 Phàn tích phong cách chức năng (register analyis): Mó tả ngôn ngữ ỏ' cấp độ bề mặt
Phương pháp phàn tích nàv phát triển mạnh ờ nhữns năm 60 và 70 do Halliday và các cộns sự khởi xướns Phàn tích diễn neôn tập t r u n ơ chủ vếu vào việc nhận diện các đặc điểm từ vưns-nsữ pháp có tán suất cao về măt thống kè của một biến thể nsôn nsữ (a l a n g u a g e variety) Halliđay và cộng sự (1964) cho ràn2:
Trang 15Ngôn ngữ biến đổi khi chức nâng cùa nó thay dổi; nó khac biẹĩ irunạ những ÍIỈIÌI huống (situations) khác nhau Tên gọi cho một biến th ể ngôn ngữ được khu biệt theo sự hành chức của nó là phong cách chức năng (register).
Các tác giả này còn cho rằng các phong cách chức năng cũng có thể được coi là biến thể phụ của một biến thể ngôn neữ mà tiêu chí để phân biệt chúng là tần số của các đặc điểm từ vựng-ngữ pháp của một biến thể văn bán
cụ thể (text-variety) Họ cũng đề ra ba hướng tình huống và văn cảnh là field, mode và style (sau này là tenor) của diễn ngôn (discourse) để nhận diện các đặc điểm phong cách chức năng khác nhau Sau này có nhiểu tác giả khác như Crystal và Davy (1969), Ellis và Ưre (1969) Hasan (1973), Gregory và Carroll (1978) v.v phát triển các phân loại tình huống và văn cảnh đó theo góc độ từ vựng-ngữ pháp và gần đây hơn là góc độ ngữ nghĩa và ngữ dụng
Các nghiên cứu vể tần suất của các đặc diem cú pháp tron2 các biến thế ngôn ngữ khác nhau đã cung cấp nhiều bằng chứns cụ thể nhằm khảng định hoặc bác bỏ những nhận định có tính tiên nghiệm về các đặc điểm ngữ pháp có tần số xuất hiện cao hoặc vắng mặt ớ các biến thể khác nhau của nơôn nsữ Tuy nhiên các nghiên cứu này chưa chỉ ra được những giá trị cụ thế mà các yếu tố cú pháp đã tạo ra trong văn bản cũng như chưa giải trình được nguyên nhàn xuất hiện với tần số cao hoặc vắng mặt trong biến thể ngôn ngữ nào đó Hạn chế của các nshiên cứu này là mới dừng lại ở sự phân tích các yếu tố bề mặt và chưa xem xét sâu vào các cấu trúc nội tại và cách thức cấu trúc thông tin trons nsôn bản của biến thể ngôn ngữ Nhìn chuns các nshiên cứu nàv chưa giải trình được vì sao một biến thể ngôn n2Ữ lại có hinh thức như nó hiện
có, thiếu sự biện 2Ìải về cơ chế nsđm quyết định sư lưa chon và phân bổ các vếu tố n^ôn nsữ bé mặt
1.1.2 Phản tích ngừ pháp-tu từ: mô tả ngôn ngữ vê mặt chức năng
Trang 16Phân tích ngữ pháp-tu từ, như Selinker, Lackstrom và Tnmble (1973) chỉ ra, là xem xét mối quan hộ giữa sự lựa chọn ngữ pháp và chức năng tu từ trong văn bản viết tiếng Anh và các tác giả này đã xem xét mối quan hệ trên trong các văn bản viết tiếng Anh khoa học kỹ thuật Điều đáng quan tàm là các tác giả này không chỉ cố gắng tìm ra các đặc điểm ngôn ngữ nào xuất hiện phổ biến nhất mà họ còn tập trung vào nghiên cứu các đặc điểm ngôn ngữ đặc thù của loại văn bản này tạo ra các giá trị riêng biệt và cấu trúc nên hình thức giao tiếp trong khoa học như thế nào Cách nghiên cứu như vậv tập Irung chủ veil vào các quy ước đặc thù của chủ điểm và các đặc điểm tu từ hơn là các đặc điểm cú pháp hoặc ngữ nghĩa.
Tuy nhiên, trong phân tích ngữ pháp-tu từ, người nghiên cứu chủ yếu xem xét văn bản từ vị thế của người viết và tim hiểu cách thức chọn lựa các biện pháp ngữ pháp nào đó của người giao tiếp trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và mức độ phân tích chỉ giới hạn ở một số đặc điếm cú pháp của loại văn bản này Sự phân tích có phần thiên lệch này dễ dẫn tới việc khái quát hoá thiếu chính xác các đặc điểm văn bán và dẫn tới nhữns kết luân khỏn£ hoàn toàn phù hợp với thực chất của văn bản
1.1.3 Phản tích tương tác: miêu tả ngôn ngữ như một diễn ngôn
Phàn tích tương tác (Interactional Analysis) , còn được gọi là phân tích diễn ngôn ứng dụng (Windowson, 1973), hoặc phân tích chức năng lời nói (Candlin 1974,1980), hoặc phàn tích diễn ngôn hội ĩhoại (Sinclar và Coulthand, 1975), hoặc phùn tích quan hệ cú đoạn (Winlen, 1977 và Hoev, 1979) là sự giải thuyết văn bán từ góc độ nsười đọc hoặc nsười nghe Theo các tác giả trên thì nshla cùa văn bàn khỏns hiện diện sẩn trons một tiết đoạn văn ban mà n £ ười đọc hoặc nsười nshe chỉ việc nhận ra, ma nỏ là sư thoa thuận
qua nỗ lực "tương tác" của các thành viên tham gia siao tiếp Sự thỏa thuận
Trang 17này tạo ra cho các phát ngôn những giá trị đặc thù thích hợp Candlin và
Loftipour-Saedi (1983) đưa ra quan niệm “thương lượng nghĩa” của người đọc
qua phương tiện văn bản và đề ra mô hình phân tích diễn ngôn dựa trên sự cân bằng giữa các quá trình giao tiếp từ hai bình diện: người viết và người đọc Vãn bản trong phân tích tương tác luôn được nhìn nhận với bản chất giao tiếp, được tạo thành do kết quả của sự giải thuyết của người đọc đối với diễn ngôn Chính bởi lẽ đó phân tích tương tác còn được gọi là phân tích diễn ngôn cúa người đọc
Cách phân tích diễn ngôn này dựa trên quan điểm cho rằng các thể thức giải thuyết giống nhau được sử dụng bất kể khi người ta có thực sự tham gia vào việc tạo ra diễn ngôn hay không (Windowson, 1979)
Các tác giả trên cũng cho rằng trong văn bản viết, người viết thừa nhận một độc giả nhất định nào đó mà anh ta phải hướng tới, dự đoán trước các phản ứng của độc giả này và điểu chỉnh quá trình viết cho phù hợp để làm quá trình giao tiếp dễ dàng hơn Để làm được như vậy, người viết phái tuân thu các nguyên tắc cộng tác Grice (1975) đã đề ra Tuy nhiên cũng phải thấy rằng phương thức này xây dựng trên cơ sở của các trường hợp giao tiếp chuẩn mực
có hiệu quả thông thường, còn đối với các diễn ngôn thuộc mồi trường giao tiếp học thuật và chuyên môn hay với những ngụ ý thì nó khổng phải lúc nào cũng cần phải được tuân thủ Vì rằng sự vi phạm nguyên tắc này là cố ý, nhằm gây hiệu quả giao tiếp khác Những nghiên cứu về các văn bản có tính chế ước cao cho thấy sự tuân thù các nguyên tắc cộng tác của Grice của người viết thường mang tính ngẫu nhiên hơn là quy luật thường xuyên
Điển hình của cách nghiên cứu theo hướng này là côns trình nshien cứu
về nsôn nsữ luật của Bhatia (1982) Bhatia chỉ ra rằng tron2 các văn bản luật pháp nsuvên tác số lượns (một trons bốn nguvên tác cộns tác do Grice đê ra ) thườnơ bị vi phạm Neuvèn tắc số lượng quy định rằn u tronn ni ao ti ốp phái
Trang 18ngôn phải đảm bảo tính số lượng, nghĩa là đủ về lượng cần thiết cho giao tiếp, không thừa hoặc thiếu tin so với yêu cầu giao tiếp Nhưng các kết quả điều tra
về ngôn ngữ luật của Bhatia cho thấy nguyên tắc này thường xuvên bị vi phạm: các điều khoản của văn bản luật được viết dưới dạng “thừa tin” do phái đám bảo tính chặt chẽ, rõ ràng và tránh sự mơ hồ, điều đó làm văn bản rất rườm rà
về cách diễn đạt Đó là một trong rất nhiều đặc điểm riêng biệt của thể loại văn bản này, tạo ra cho nó một lối diễn đạt riêng mà tất cả những người tham gia giao tiếp ở địa hạt này chấp thuận và tuân thủ Tương tự như vậy trong các văn bản học thuật và chuyên môn khác, muốn đạt được mục đích giao tiếp đặc biệt
mà các thể loại văn bản này nhằm tới thì người viết phái sử dụng được các cách diễn đạt và cấu trúc văn bản đã được quy ước hoá và chế ước hoá đặc thù cho thể loại này Các cách diễn đạt và cấu trúc văn bản này dựa trên các yếu tố đặc thù của lĩnh vực chuyên môn, văn hóa-xã hội và tâm lv ngôn ngữ gắn liền với tình huống giao tiếp của loại hình văn bán
Trong hầu hết các cồng trình mô tả ngôn ngữ theo hướng này, những yêu cầu về tính đặc thù của nội dung học thuật hoặc chuyên môn cụ thể nào đó đối với loại hình văn bản, chưa được chú ý xem xét thoả đáng Điều này làm cho người đọc chưa rõ vì sao các thành viên tham gia giao tiếp trong một lĩnh vực chuyên môn nào đó lại tạo văn bản theo kiểu riêng biệt như vậy Mặc dù
sự phân tích tương tác theo hướng này cho các kết quả miêu tả rất kỹ lưỡng về
sự sử dụng ngôn ngữ trong các tình huống xã hội khác nhau và trong nhiều trường hợp đã chỉ ra vai trò của các nhân tố văn hóa-xã hội trons việc cấu trúc nên văn bản, nó vẫn chưa chú ý đúns mức đến các chế định văn hóa-xã hội và nội dung chuyên môn vốn là các nhàn tố rất quan trọns quvết định sự hình thành nét riênơ của thể loại văn bán, đặc biệt là đối với các thể loại văn bàn mang tính chuyên nsành cao
Tuy nhièn phàn tích tương tác vẫn có nhiều đóns 2Óp quan trọng trong phàn tích diễn nsôn ờ chỏ nó đã nhàn mạnh và khai thác sâu ban chất tưưnii
Trang 19tác của diễn ngôn và đồng thời tập trung vào khái niệm tổ chức nsỏn ngữ trone
Trong địa hạt giảng dạy ngôn ngữ chuvên ngành nói riêng và nsôn ngữ học ứng dụng nói chung, đặc biệt là sau công trình của Hvmes và rất nhiểu tác giả khác về dân tộc học trong quá trình giao tiếp lời nói và về khái niệm năn2
lực giao tiếp và ứng dụng của nó trong thiết kế chương trình giao tiếp của Munby (1978) thì phân tích diễn ngôn ứnơ dụng trở nên quá sơ sài khi miêu tả
ngôn ngữ hành chức và không phù hợp khi ứng dụng vào dạy tiếng va một sò
mục đích phân tích ứng dụng khác Trước hết, nó thiếu các thông tin phù hợp cần để lý giải lý do tồn tại của các loại hình diễn ngôn khác nhau, nshĩa là thiếu sự biện giải về tác động văn hóa-xã hội, các chế ước mans tính hệ thốn2
và tổ chức của lĩnh vực chuyên môn ảnh hườns tới bản chất của một thể loại diễn nsôn cụ thể nào đó Thứ hai, nó ít chú ý tới các đặc điểm đã được chế ước hóa trong quá trình tổ chức các sự kiện siao tiếp khác nhau
Nhằm đạt tới một cách miêu tả n2ôn nsữ sâu hơn phàn tích diễn nsôn cán một mô hình 2Ĩái thích được cơ chế văn hóa-xã hội hè thốnơ chế ước cua lĩnh vực chuvẻn môn quvết định sự hình thành cua diẻn nsòn Sư phan tích nay
sẽ rất hữu ích đói với giáo viên dạv tiếns, phiên dịch viên và người viết, đọc
Trang 20các văn bản thuộc chuyên ngành và các nhà ngồn ngữ học ứng dụng hơn là các nhà lý thuyết ngữ pháp Sự phân tích ngôn ngữ theo hướng này sẽ tập trung làm sáng tỏ sự khác biệt hơn là sự đồng nhất trong sự sử dụng ngôn ngữ về mặt chức năng Nó nhằm khai thác triệt để các khía cạnh chế ước hóa của sự sử dụng ngôn ngữ khi miêu tả một thể loại diễn ngôn nhất định Đó là một mò hình phân tích không phải chỉ xuất phát từ hình thức ngữ pháp (grammatical formalism ) mà xuất phát từ mục tiêu ứng dụng theo cách hiểu là mô hình này cần ít sự viện dẫn và can thiệp của lý thuyết ngữ pháp trong khi đó lại khai thác tối đa các khía cạnh chế ước hóa của ngôn ngữ hành chức Sản phẩm phân tích ngôn ngữ mà mô hình này cung cấp cho các phân ngành của ngôn ngữ học ứng dụng như dạy tiếng, dịch thuật chuyên ngành V.V là những hiểu biết rất hữu ích về các quan hệ hữu cơ hình thức-chức năng trong một phonơ cách chức năng cụ thể.
Mô hình phân tích này kết hợp được các khía cạnh văn hóa-xã hội (gồm
cả dân tộc học) và tâm lý học (gồm cả nhận thức) tham 2Ìa vào quá trình kiến tạo văn bản (text-construction) và giải thuyết quá trình đó bằng các phàn tích ngôn ngữ ở binh diện sâu nhằm giải đáp câu hỏi quan trọng: Vì sao các văn bản chuyên ngành lại được viết và sử dụng theo cách thức riêng biệt như hiện có? Một trong các công trình phân tích diễn ngôn theo mô hình này đã được Swales (1981) tiến Hành đối với các văn bản khoa học-kv thuật cho thấy rất nhiều mối quan hệ tương tác giữa hình thức và chức năng của các văn ban loại này, giúp ích rất nhiều cho giáo viên dạy tiếng, người dịch và các cán bộ khoa học kỹ thuật Đó cũng là lý do vì sao cách phân tích diễn ngôn này còn thường được gọi là phàn tích thế loại ứns dụng của diễn nsỏn (applied genre analysis)
Điểm qua các hướne chính trons phân tích diẻn neồn ta thày xu hướns ngày càng rõ là sự phàn tích chuyển dịch từ mô tá bẽ mặt nsôn neữ thuần túv sang mô tả theo chiều sâu trên nhiểu binh diên khác nhau của văn ban hoăcC1
Trang 21thể loại diễn ngôn, từ các đặc điểm cụ thể của hệ thốn2 từ Vựn2-n2ữ pháp tới
cơ cấu tổ chức diễn ngôn Nó cũng cho thấy là để có được sự phân tích theo
hướng chiều sâu phù hợp, nhiều kiến thức liên quan tới bản chất của diễn nsôn
cần được sử dụng tới như xã hội học, tâm lý học, dân tộc học, lý thuyết vể
nhận thức w
1.2 Phương pháp phàn tích thè loại ứng dụng của diẻn ngon
Phương pháp phân tích thể loại ứns dụng của diễn ngồn tập truns vào
nghiên cứu các yếu tố văn hóa - xã hội tham gia vào quá trình tạo lập văn bản
và giải thuyết vì sao văn bản, đặc biệt là văn bản chuvên nsành được viết và sử
dụng theo cách thức riêng biệt như nó đang tổn tại Phương pháp phân tích thể
loại diễn ngôn do Bhatia (1993) tổng kết nhằm đạt tới " một sự phân tích sáu
ho77 các biến thể chức năng của ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói " Nó khòng chi
đưa vào quá trình phàn tích các nhân tố văn hoá - xã hội mà còn cả nhân tố
tâm lv -• ngôn ngữ học, và do đó đã mở rộns sự phân tích nsôn nsữ từ mô tả tới
giải thích ngôn ngữ Cụ thể 7 bước mà Bhatia gợi ý để phân tích một thể loại
diễn ngôn mới lạ là như sau:
1 Đặt thể loại diễn nsôn trone nsữ cảnh tình huốns của nó: phân tích
ngữ cảnh tình huốnơ của văn bản và tìm các thông tin nền về văn hoá - xã hội,
tâm lv - ngôn ngữ học liên quan tới văn bán
2 Khảo sát tư liệu hiện có: tìm hiểu các tài liệu về thể loại diễn ngôn đã
có, các tài liệu liên quan tới thể loại diễn nsôn tươns tự, chi dẫn của các nhà
chuyên môn trong lĩnh vực, sách hướnơ dẫn, tài liệu nghiên cứu trong lĩnh vực
liên quan
3 Phàn tích chi tiết và chọn lọc ngữ cánh tình huống :
- Xác định neười viết/ nói của văn bàn nsười đọc/ nu he văn ban mối quan hệ 2Ìữa họ và mục đích của họ
Trang 22- Xác định vị trí của cộng đồng sử dụng thể loại diễn ngồn về mặt lịch
sử, văn hoá - xã hội và nghề nghiệp
- Tìm hiểu hệ thống các văn bản và các tập tục ngôn nsữ liên quan tạo thành cơ sở cho thể loại văn bản
- Tìm hiểu hiện thực ngoài ngôn ngữ mà văn bán đang thể hiện và mối quan hệ của văn bản với hiện thực đó
4 Chọn lựa tư liệu chính:
- Chọn lựa các tư liệu liên quan tới thể loại văn bàn đủ để phân biệt với các thể loại vãn bản khác Có thể dựa vào mục đích giao tiếp, ngữ cảnh tinh húống mà văn bản hay được sử dụng và các đặc điểm chuns nổi bật trong các văn bản
5 Nghiên cứu bối cánh chế ước (Institutional context/ settings)
- Tim hiểu bối cánh chế ước sử dụng của văn bán, các nguven tắc và thông lệ (về ngôn ngữ, xã hội, văn hoá, học thuật, nghề nshiệp) Sự giúp đỡ của các nhà chuvên môn trong lĩnh vực là chỗ dựa chính của ngừơi nghiên cứu ngôn ngữ Nsoài ra có thể dựa vào các kỹ thuật khác như điểu tra bans câu hỏi v.v tại thực địa nơi thể loại văn bản được sử dụng
6 Phân tích ngôn ngữ ở các cấp độ:
Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu và tư liệu hiện có người nghiên cứu
sế quvết định tìm ra các đặc điểm của thể loại văn bán nào là có ý nghĩa và cần phân tích kỹ Các đặc điếm này có thể ờ 3 cấp độ:
Cấp độ 1: Phân tích các đặc điểm từ vựng, ngữ pháp
- Sự sử dụng từ vựng: các nét đặc biệt trons việc chọn lựa và ưu tiên sử đụns một loại từ, nsữ nào đó để phục vụ một mạc đích siao tiếp nhất định của văn bàn Vai trò của loại từ, nsữ đó trong việc phục vụ mục đích 2Ĩao tiếp này
- Sự sử dụne các phương tiện nsữ pháp: Các nét đặc biệt trons việc chọn lựa một số phươnii tiện ngừ pháp nào đó đê phục vụ mục đích eiao tiếp trên
Trang 23của văn bản, hiệu quả mà các phương tiện ngữ pháp này mang đến cho văn ban v.v.
Cấp độ 2: Phân tích các đặc điểm thuộc văn bản
- Phân tích các khía cạnh của việc sử dụng ngôn ngữ đã được quy ước
hoá (conventionalised), tìm ra các khía cạnh của văn bán được cộng đồns ơiao tiếp uỷ thác cho những giá trị nhất định để hoàn thành các mục đích giao tiếp riêng của thể loại văn bản được phân tích Đó có thể là những biện pháp liên kết văn bản, cấu trúc đặc biệt nào đó của vãn bản v.v
Cấp độ 3: Phân tích giải thuyết cấu trúc thể loại văn ban:
- Phân tích văn bản ở cấp độ này tập trung vào việc khám phá kiêu loại
cấu trúc ngầm ẩn quyết định việc triển khai các đơn vị từ vựng, ngữ pháp trên
bề mặt văn bản để phục vụ cho các mục đích giao tiếp riêng mà văn bản phải hoàn thành Hai loại cấu trúc được chú ý phân tích ỡ cáp độ này là sự cấu trúc
hoá nhận thức (cognitive structuring) mà trong đề tài này sẽ gọi là cấu true
phát triển nhận thức quyết định việc triển khai ý nghĩa chính của văn bán, và
cấu trúc thể loại tiềm năng (generic structure potential) quyết định triển khai
toàn bộ văn bản
7 Các thông tin mang tính chuyên môn nghề nghiệp trong phân tích thế loại diễn ngôn:
Đây là bước cuối cùnơ người nghiên cứu có thể tiến hành để kiểm tra độ
tin cậy và tính đúng đắn của các kết luận qua việc kiểm tra thông tin phàn hồi
từ các nhà chuyên môn trong lĩnh vực Đây cũng là bước thường được tiến
hành khi nghiên cứu các thế loại văn bản lạ, chưa được nghiên cứu hoặc người
nghiên cứu khônơ chắc chắn các văn bản đang nshiên cứu có thuộc thể loại
diễn nsôn đó khôns
Trang 24m KHÁI QUÁT VỂ NGÔN NGỮ VÀ TÌNH HUỐNG DIẺN
NGÔN CỦA VĂN BẢN LUẬT PHÁP TIÊNG VIỆT
Phần này sẽ điểm qua những công trình nghiên cứu về nsỏn nsừ luật pháp trong tiếng Anh và tiếng Việt, các đặc điểm cơ bán của ngôn nsữ văn bản luật pháp nói chung và trong tiếng Anh nói riêng để làm cơ sở phân tích so sánh với tiếng Việt ở các phần sau Phần cuối sẽ trình bày những nét khái quát nhất về tình huống diễn nsôn của văn bán luật pháp tiếng Việt làm căn cứ chonhững nhận xét phân tích diễn ngôn của đề tài
1.3 Ngôn ngữ văn bản luật pháp
1.3.1 Điểm qua tình hình nghiên cứu vé ngôn ngừ ván bản luat pháp tiếng
A nh và tiếng Việt
Trong phần này c h ú n g tôi sẽ điểm qua các nghiên cứu về n2ôn ngữ luật pháp của tiếng Anh và tiếng Việt để rút ra một số đặc điểm chính của thể loại văn bản này qua cách nhìn của các nhà nshiẽn cứu
Từ trước đến nay các nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực triết học, khoa học chính trị, xã hội và nhân học đã nghiên cứu khá sâu về các thể chế luật pháp, nhưng sự quan tâm về ngôn ngữ luật pháp vẫn còn rất mới mẻ Gần đâv các nhà ngồn ngữ lv thuyết và ngôn ngữ học ứng d ụ n ơ bắt đầu nhặn thấy tiề m năns to lớn của ngôn ngữ luật pháp và tầm quan t r ọ n s của việc nghiên cứu vé thể loại này để phục vụ các mục đích ứns dụns như xây dựn2 văn bản luật, giảng dạy ngôn ngữ luật và dịch thuật văn bản luật pháp
Việc nghiên cứu về nsôn nsữ luật pháp phát triển sán đâv là dưa trên các thành tựu của ba phân ngành: đụnổ h ọ c được đưa vào n g h i ê n c ứu nsỏn íiiũr học đã khuvến khích các nhà nsôn nsữ tìm hiếu ứns dun£ cua nsôn nsữ trons
c á c bối c à n h đời s o n s thực; niĩỏn nìiữ ho c ứ n e d u n e VỚI t r o n s t â m là thiết k ế
Trang 25và giảng dạy các khóa học tiếng phục vụ những mục đích chuvên biệt, trong
đó có ngôn ngữ luật; các bộ môn thuộc khoa học xã hội quan tâm tới ngôn nsữ luật.
Theo Bhatia (1987) Thế loại ngôn ngữ luật pháp bao gồm nhiều tiểu loại khác nhau tùy thuộc vào mục đích giao tiếp mà chúng hoàn thành, ngữ cảnh sử dụng, các sự kiện hoặc hoạt động giao tiếp liên quan, mối quan hệ xã hội hoặc chuyên môn giữa các thành viên tham dự vào các sự kiện hoặc hoạt động giao tiếp, kiến thức nền của các thành viên nàv được huv độnơ vào giao tiếp và nhiều yếu tố khác nữa Các nét khác biệt giữa các tiểu loại này cũng được phản ánh trong các nguồn liệu từ vựng-ngữ pháp và văn bản được huy động theo các quy ước đặc thù nhằm đạt các kết quả giao tiếp trong những bối cảnh luật pháp khác nhau Bhatia (1987) đã phân biệt các tiểu loại của neôn nsữ luật pháp theo các bối cảnh giao tiếp luật pháp khác nhau với hai phân nhánh lớn là ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói theo sơ đồ dưới đâv: (xem sơ dưới đây)
Theo sơ đổ này thì các văn bản luật pháp - đối tượns kháo sát của luận
án này thuộc phân nhánh ngôn ngữ viết - luật pháp - thể chế chính thức
Các tiểu loại thuộc hai nhánh lớn là nsôn nsữ nói và ngồn ngữ viết được phân biệt theo bối cảnh sử dụng (settings) Ví dụ bối cảnh sư phạm (pedagogical setting) có Thuyết trình và Tòa thực tập Bối cảnh nghề nghiệp (professional setting) có Tham vấn luật sư-khách hàng, Thẩm vấn luật sư-nhân chứng và Chỉ thị của Hội đồns thẩm xét,v v
Trang 26Hội đổng thẩm xét Giao tiếp giữa
B ả n g 2: Các tiểu loại của ngôn ngữ luật pháp (Nguồn: Bhatia 1987)
Trọng tâm nghiên cứu của đề tài là ngôn ngữ văn bản luật pháp nên phần tiếp theo sẽ tập trung khảo sát các côns trình nghiên cứu về tiểu loai văn bản viết luật pháp Trên sơ đồ của Bhatia tiểu loại này gổm hai phân nhánh là loại văn bản khuôn mẫu 26m các văn bản như Hợp đồns, Hiệp định, Cam kết, Chúc thư, V V và loại văn bản có tính thể chế chính thức như Hiến pháp, Các
bộ luật, Nshị định, Chỉ thị, Quy định V V Trons các tiểu loại văn ban viết luật pháp thì loại văn bản thế chế chính thức là phán cốt lõi và mans nhiêu đăc trims nhất của nsôn nsừ luật pháp nói chuns Trons nshiên cứu này chúng tôi
Trang 27sẽ dùng thuật ngữ “Văn bản luật pháp” để chỉ loại văn bán thể chế chính thức
này.
Các nghiên cứu về bản chất phức tạp của văn bản luật pháp bắt đầu từ khoảng vài thập kỷ trước đây như Alien (1957) bàn về hiệu quả của logic-ký hiệu trong việc xây dựng và giải thuyết các văn bản luật pháp Aken (1960) nghiên cứu về bản chất phức tạp của văn bản luật pháp và chỉ ra lý do của sự phức tạp này để chứng minh cho luận điếm cho rằng không nên quá đơn giàn
hóa ngôn ngữ luật pháp Hager (1959) phản bác lại luận điếm này trons một
công trình và cho rằng cần phải đơn giản hóa ngôn ngữ luật pháp Christie (1964) trong một nghiên cứu về sự mơ hồ của ngôn ngữ luật pháp cũng đề cập nhiều tới tính phức tạp và khác lạ của loại văn bản này Mehler (1961) đã đề ra vẩn đề nghiên cứu về loại văn bản luật pháp làm nền tảng cho việc dạy ngôn ngữ luật pháp trong các khóa đào tạo luật Mellinkoff (1963) đã có một công trình nghiên cứu tổng quát về ngôn ngữ luật pháp và nhiều đặc điểm quan trọng của văn bản luật pháp đã được tác giả chỉ ra làm tiền đề cho các nghiên cứu về ngôn ngữ luật pháp sau này Probert (1966) đề xuất một luận điếm quan trọng là muốn nghiên cứu về luật pháp cần chú trọng nghiên cứu ngôn ngữ diễn đạt luật pháp và vai trò của ngôn ngữ trong việc hình thành luật pháp
0 ’Barr và Conley (1976), Platt (1978) nghiên cứu về nơôn nsữ và người sử dụng ngôn ngữ trong tòa án Các nshiên cứu của Redish và Janice (1979,
1980, 1981), Renton (1975), Robinson (1973), Sales, Elwork và Alfini (1977), Wright (1963, 1979, 1980), đều tập trunơ vào vấn đề nâns cao hiệu quả giao tiếp nsôn ngữ trons địa hạt luật pháp và vai trò to lớn cua nsỏn nsữ trons xây dims và thực hành luật pháp Tuy nhiên các nshiên cứu về nsôn nsữ luật pháp thời kỳ này chưa chỉ ra được đáy đú các đặc thù của nsôn nsữ luật pháp cũne
như lv giâi hết nsuvên nhân của bàn c h ấ t p hức tạp khác lạ của thế loại văn bàn nàv Nhưns một điéu rõ ràns là dóng £ZÓp to lớn n h ai cua các Lie Líia ticíì
Trang 28là chỉ ra vai trò rất quan trọng của ngôn ngữ trong việc xây dựng luật pháp và thực hiện luật pháp một cách hiệu quả Họ đã đặt vấn đề và chỉ ra sự cần thiết phải nghiên cứu sâu bản chất của thể loại ngôn ngữ luật pháp.
Các nghiên cứu từ đầu những năm 1980 trở lại đây đã tập trung nhiều vào việc lý giải vì sao ngôn ngữ luật pháp lại có hình thức phức tạp và khác lạ như hiện có Đáng chú ý là các công trình của Bhatia (1982, 1984, 1987) và
Swales & Bhatia (1983) tập trung lý giải hình thức phức tạp của văn bản luật pháp Các tác giả này chỉ ra nguyên nhân của sự phức tạp này chính là sự cần
thiết phải duy trì sự rõ ràng, chính xác đồng thời phải đảm bảo được cả tính
bao trùm, co dãn của các điều khoản trong văn bản luật và kết luận những
người soạn thảo các văn bản luật pháp không có cách diễn đạt nào khác ngoài các cách diễn đạt phức tạp và khác lạ như thường thấy ớ loại văn bản này Các tác giả này đã vận dụng những thành tựu mới của ngôn ngữ học chức năng trong việc nhìn nhận bản chất của ngôn ngữ luật pháp và đưa ra được nhiều kiến giải thuyết phục Cùng hướng nghiên cứu trên có công trình nghiên cứu của Maley (1994) về ngôn ngữ luật dưới ánh sáng cũa ngồn ngữ học chức năng-hệ thống (function-systemic) Maley đã nghiên cứu sâu các đặc điếm từ vựng-ngữ pháp và văn bản của văn bản luật pháp và chỉ ra được nhiều đặc điểm quan trọng của thể loại này Tác giả lý giải nguvên nhân tồn tại của các
đặc điểm khác lạ riêng về mặt hĩnh thức của văn bản luật pháp bằng phương pháp phân tích ngôn ngữ dựa trên mô hình chức năng-hệ thống: từ những bối
cẳnh tình huống tới mục đích giao tiếp và các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng để hoàn thành các mục đích giao tiếp như thế nào Nghiên cứu của Maley cũng đưa ra mô hình tổ chức văn bân và cấu trúc thế loại tiềm năn2 (generic structure potential) của văn bán luật pháp Các công trinh mới đâv của Bhaũa (1987, 1994), Gibbons (1994) cũnơ tập truns mô tả-giải thuyết cấu trúc tiềm
Trang 29ẩn quy định hình thức bề mặt của văn bản luật pháp và mô tả khá kỹ càng diện
mạo của loại vãn bản này trong tiếng Anh
Điểm qua các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ luật pháp ta thấy rõ
một xu hướng là mối quan tâm nghiên cứu về thể loại ngôn ngữ này ngày càng
tăng do các yêu cầu ứng dụng đặt ra như dạy tiếng, xây dựng luật pháp và dịch thuật Các nghiên cứu cũng đi từ mồ tả bề mặt tới mô tả giải thuyết cấu trúc
tiềm ẩn để lý giải và đa số có xu hướng biện hộ cho tính chất phức tạp và khác
lạ của thể loại ngôn ngữ này.
Trong các nghiên cứu về tiếng Việt hầu như chưa thấy công trình nào nghiên cứu riêng về ngôn ngữ luật pháp với tư cách là một thể loại diễn ngôn độc lập Nhưng trong một số công trình viết về phong cách và văn bản có đề cập một số đặc điểm cốt lõi và vị trí của thể loại ngôn ngữ văn bản luật pháp tiếng Việt Hầu hết các công trình nghiên cứu về phong cách học tiếng Việt
đều xếp các văn bản luật pháp vào phong cách hành chính - công vụ (Võ Bình,
Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hoà 1982, Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hoà 1997) hoặc phong cách hành chính (Cù Đình Tú 1983) hoặc thuộc loại “văn bản quản lý nhà nước” Vương Đình Quyền, Nguyễn Văn Hàm 1997) Các công trình này đều tập trung phân loại và nêu đặc điểm một số từ
vựng, cú pháp và văn bản của văn bản luật pháp với tư cách là một tiếu loại của
“phong cách hành chính - công vụ”.
Võ Bình và các tác giả khác (1982) xác định các văn bản như Hiến pháp, các bộ luật, sắc lệnh , nshị định là một tiểu loại của phone cách hành chính - cồng vụ và chỉ ra một số đặc điểm chính của phons cách này là tính chất khuôn mẫu, tính chất có hiệu lực bắt buộc thực hiện, tính nsắn sọn và tính chính xác Cù Đình Tú (1983) cũng xếp các văn bản Hiến pháp, luật, điều lệ, nội quv vào phong cách hành chính tiếng Việt và chi ra nhửns đặc điểm riêns của phong cách này là mang tính thể thức nghiêm tran£ ve hình thức Ve các
Trang 30phương tiện từ ngữ các văn bản thuộc phong cách này sử dụng từ ngữ chính xác về nội dung và trang trọng về sắc thái biểu cảm v ề các phương tiện cú pháp, tác giả chỉ ra phong cách hành chính dùng câu tường thuật, các kiêu càu
có kết cấu phức hợp, các câu có độ dài đặc biệt lớn mang nhiều thành phần đồng chức Về phương diện diễn đạt các văn bản thuộc phong cách này có nội dung cô đúc, lượng thông tin cao, nội dung xác định và mang tính đơn nghĩa, tính nghiêm túc và khuôn phép cao
Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hoà (1997) nghiên cứu tương đối sâu
và hệ thống đối với ngôn ngữ và thể loại văn bản luật pháp và cũng xếp các văn bản luật pháp thuộc phong cách hành chính-công vụ, thuộc kiểu văn bản pháp quyền đối lập với các kiểu văn bản quân sự ngoại giao và văn thư Các tác giả này cũng chỉ ra một cách chi tiết chức năng và đặc trưng của cả phong cách hành chính-công vụ nói chung, v ề chức năng ngôn ngữ phong cách này hiện thực hóa hai chức năng chính là giao tiếp lý trí (thông báo) và chức năng
ý chí (sai khiến) Hai chức năng này tạo cho các văn bản hành chính-công vụ một màu sắc phong cách đặc biệt là sự bắt buộc phải thi hành điều được thông báo
Các tác giả trên đã nghiên cứu tương đối kỹ đặc trưng và đặc điểm ngôn ngữ của phong cách hành chính-công vụ (trong đó có các văn bản luật pháp)
và mô tả được diện mạo của loại văn bản này một cách khá toàn diện, v ề đặc trưng chung, các văn bản thuộc phong cách hành chính-công vụ mang tính chính xác-minh bạch, tính nghiêm khắc-khách quan và tính khuôn mảu cao
Về đặc điểm ngôn ngữ, các văn bản này có những đặc điếm chính như sau:
a Vê tử vựng:
- Từ ngữ mang màu sắc tu từ học, từ sách vờ vừa phái và sử dụns nhiều các phương tiện khuôn mẫu
Trang 31- Tần số sử dụng danh từ cao làm văn bản mang danh tính cao, đặc biệt là những từ được định danh hóa từ những động từ.
- Từ Hán-Việt chiếm tỷ lệ khá lớn do tính chất tĩnh trừu tượng của từ Hán-
Việt thích hợp với giọng văn nghiêm trang, khách quan của các văn bản thuộc phong cách này.
- Từ ngữ được lựa chọn khắt khe, không có những từ ngữ chung chung, mơ
hồ, không có những biệt ngữ, tiếng lóng, địa phương hoặc từ ngữ mang màu
sắc hội thoại thông tục do chúng không thích hợp với tính chất thể chế, pháp quy, tính nghiêm túc và trang trọng của các văn bản này
b Về cú pháp:
- Các văn bản thuộc phong cách hành chính sử dụng những câu tường thuật, những câu cầu khiến
- Cú pháp của văn bản này phản ánh xu hướng phân loại, trình bày chi tiết,
xu hướng xem xét các quan hệ nhân quả, điều kiện kết quả trong sự thống nhất của các mặt xác nhận và quy định Do vậy các văn bản này sử dụng nhiều câu phức rất dài với những thành phần đồng chức, những câu trường cú do phải hoàn thành nhiệm vụ diễn đạt sự xác nhận, khẳng định và trách nhiệm thực hiện
- Độ dài của câu phức thường rất lớn nhưng nội dung ý nghĩa vẫn rõ ràng minh bạch do các văn bản này sử dụng hệ thống các con số I, II, III , 1, 2, 3 con chữ số a, b, c, để phân chia các bộ phận của cấu trúc phức tạp
Một câu phức có thể viết tách ra từng vế, xuống dòns để các V được phân biệt rạch ròi
- Sử dụng lối tách biệt cú pháp: một bộ phận của vế 1 có quan hệ đẳns lập với các vế còn lại của câu nhằm mục đích diễn đạt ngắn sọn và sáng rõ (ví dụ: tronơ một văn bản độnơ từ “quyết định” là vế 1 đảns lập với rất nhiều vế khác được bắt đẩu bằng: Điều 1, Điều 2, Điều 3 V V )
Trang 32- Thường dùng thủ pháp lặp lại danh từ để tránh sự nhầm lẫn khi quy chiếu,
tránh mơ hồ, do vậy câu vãn nặng nề, đơn điệu
- Sử dụng đề ngữ khi cần tóm tắt nội dung các chương mục, điều trong văn
bản (ví dụ: đối với ngành sản xuất, trong lưu thông phán phoi
c Về cách trình bày vãn bản:
- Hình thức văn bản phản ánh tính chất “chính thức”, tính chất thể chế kỷ
cương nghiêm trang, trang trọng
- Sự thống nhất về hình thức các loại văn bản, mỗi loại văn bản có một cấu tạo gồm các bộ phận nhất định với một trật tự sắp xếp nhất định, theo mầu nhất định để đảm bảo tính chất xác thực của các loại văn bản này
Trong các nghiên cứu về văn bản luật pháp tiếng Việt còn có thể kể đến các tài liệu viết về soạn thảo văn bản quản lý nhà nước (Nguyễn Văn Thâm
1992, Vương Đinh Quyền, Nguyễn Văn Hàm 1997, Trần Anh Nhân, Nguyễn Anh Thư 1993, Nguyễn Đăng Dung và Hoàng Trọng Phiến 1997, V V ) Đáng chú ý là phần nghiên cứu về các vãn bản luật pháp thuộc loại “văn bản qụản lý nhà nước” của Vương Đình Quyền và Nguyễn Văn Hàm (1997), Nguyễn Đăng Dung và Hoàng Trọng Phiến (1997) Các tác giả này đã hệ thống được các loại văn bản luật pháp dưới tên gọi “văn bản quản lý nhà nước” gồm Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết, Quyết định, Chỉ thị, Thông tư, Chương trình, Kế hoạch, Báo cáo, Thông báo v.v và chỉ ra những đặc điểm quan trọng của loại văn bản này Tuy nhiên các công trình kể trên không tập trung vào việc sử dụng ngôn ngữ trong văn bản luật pháp mà chủ yếu tập truns vào phân loại văn bản và mô tả thể thức và cấu trúc văn bản, đề ra các yêu cầu và quv trình của việc soạn thảo các văn bản luật pháp tiếng Việt Đây cũns là nhữnơ tài liệu quan trọng khi nghiên cứu về đặc điểm của văn bản luật pháp tiếng Việt, đặc biệt là khi cẩn xem xét các ngữ cành tình huống và các mục đích 2iao tiếp của thể loại văn bản này trong tiếng Việt
Trang 331.3.2 Ngữ cảnh và mục đích giao tiếp của văn bản luật pháp:
Muốn xác định mục đích giao tiếp của văn bản luật pháp trước hết phải
xác định được ngữ cảnh của các văn bản này Bhatia (1994) cho rằng chức
năng chung nhất của thể loại văn bản này là chỉ dẫn, đặt ra nghĩa vụ, ban phát
quyền hành và các hình phạt.
Đào Trí Úc (1997) cũng chỉ ra các chức năng chính, chung nhất của luậi pháp là 1) Chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội, hướng các chủ thể tham
gia các quan hệ đó phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo ý chí và lợi ích
của giai cấp thống trị 2) Chức năng bảo vệ: răn đe, ngăn chặn và xử lý mọi
khả năng vi phạm hoặc hành vi vi phạm tới các quan hệ đã xác lập và duy trì trong xã hội 3) Chức năng giáo dục : pháp luật được ban bố tác động vào ý thức con người, giáo dục công dân tôn trọng quy tắc và trật tự xã hội.
Theo Nguyễn Xuân Linh (1998), pháp luật được thể hiện qua hình thức bên trong và bên ngoài Hình thức bên trong của pháp luật là các quy phạm pháp luật, gồm những quy tắc xử sự nhất định mà chủ thể phải tuân theo trong trường hợp quy định và được đảm bảo thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước Quy phạm pháp luật gồm ba bộ phận cấu thành có quan hệ chặt chẽ với nhau là giả định, quy định và chế tài
- Giả định: Là phần nêu ra những tinh tiết hay điều kiện được dự kiến nếu xảy ra trong đời sống thì sẽ sử dụng quy phạm
- Quy định: là phần nêu rõ cách xử sự phái t h e o khi gặp trường hợp nêu
ở phần giả định, nêu rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thế Đây là bộ phận cơ bản của quy phạm pháp luật Có 3 loại quy định là quy định mệnh lệnh nêu những điểu cấm, không được làm hoặc bắt buộc phải làm, quv định tuv nghi nêu lên một số cách xử sự để chọn lựa hoặc thoá thuận: quv định siao quyên
Trang 34quy đinh Nhà nước giao cho ai có quyền hạn được xử lý hoặc được hưởng
quyền lợi Các kiểu quy định này còn làm nên nội dung và tên gọi của các qu\
phạm là quy phạm cấm đoán, quy phạm bắt buộc, quy định tùy nghi và quy
định giao quyền.
- Chế tài: là bộ phận nêu lên những biện pháp tác động của Nhà nước ước
dự kiến sẽ áp dụng đối với chủ thể nào không thực hiện đúng các quy định của
phần quy phạm pháp luật Có nhiều loại chế tài pháp luật như chế tài hình sự,
chế tài hành chính, chế tài kỷ luật, chế tài dân sự đặt ra các loại hình phạt, các
biên pháp xử lý đối với các chủ thể vi phạm pháp luật
Hình thức bên ngoài gồm có ba nguồn cơ bản là tập quán pháp (luật
tục), tiền lệ pháp (án ỉệ) và văn bản quy phạm pháp luật Tập quán pháp là một
hình thức pháp luật không thành văn, xuất hiện rất sớm trong xã hội và vẫn
còn được sử dụng ở mức độ nhất định để điều tiết xã hội Tiền lệ pháp (án lệ)
là các phán quyết của cơ quan xét xử đã có và được coi là cơ sở để áp dụng với
các trường hợp tương tự sau đó c ả tập quán pháp và tiền lệ pháp đều là các
hình thức luật pháp không do cơ quan lập pháp ban hành Văn bản quy phạm
pháp luật là hình thức pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành Nó được coi là
hình thức pháp luật văn minh và có hiệu quả nhất Nguyễn Xuân Linh (1998)
định nghĩa văn bản quy phạm pháp luật như sau:
Vãn bản pháp luật là hình thức pháp luật thành văn bản do cơ quan N hà nước có
thẩm quyên ban hành theo các thủ tục và th ể thức nhất định, có chứa đipĩg các quy
tắc xứ sự chung nhằm điêu chình một loại quan hệ x ã hội nhất định, được áp dụng
nhiêu lần trong cuộc sống.
Như vậy, vãn bản luật pháp - đối tượnơ nghiên cứu của đề tài này thuộc
văn bản quy phạm pháp luật và là nguồn pháp luật quan trọng nhất, cốt yếu
nhất của luật pháp một quốc gia
Trang 35Theo Maley (1994) đối với luật của Anh, luật pháp là do quốc hội lập ra
và nữ hoàng ban bố Nhưng thực sự văn bản luật pháp là do công chức soạn
thảo theo ý đồ của cơ quan luật pháp là Quốc hội v ề hình thức thì đối tượng của các văn bản này là các công dân (hoặc một nhóm người cụ thể nào đó),
nhưng trong thực tế các văn bản này được đọc và giải thích bởi các luật sư và
khi xảy ra khiếu kiện là các thẩm phán Một đặc điểm về ngữ cảnh rất quan
trọng mà tất cả các công trình nghiên cứu về văn bản luật pháp đều không thể
bỏ qua là yếu tố người tham gia giao tiếp, tức là người viết và người đọc của thể loại văn bản này Đây cũng là một điểm khác biệt nổi bật của vãn bán luật
pháp so với các loại văn bản khác.
Bhatia (1994) cũng nhấn mạnh vào tính chất đặc thù riày của văn bản luật pháp và vai trò của nó khi giải thích các đặc điểm ngôn ngữ của loại văn bản này Tác giả chỉ ra rằng ở các thể loại văn bản khác thì tác giả vừa là người phát (originator) vừa là người viết (writer) của văn bản, trong khi đó đối với văn bản luật thì người viết văn bản chỉ là các công chức soạn thảo luật pháp còn người phát lại là cơ quan lập pháp mà người viết không phải là đại diện Tương tự như vậy, ở hầu hết các thể loại văn bản khác người đọc (reader) và
người tiếp nhận (recipient) của văn bản là một thì ở văn bản luật pháp người
tiếp nhận văn bản là công dân binh thường nhưng người đọc thực sự của nó lại
là các luật sư, thẩm phán, những chuyên gia luật pháp có trách nhiệm giải
thuyết các điều luật cho các công dân bình thường
Nét đặc biệt vể nhân tố tham gia siao tiếp như trẽn đã tạo ra một đặc điểm nơữ cảnh rất riênơ cho văn bản luật pháp Nhữns công chức soạn thảo văn bản - những người viết thực sự của văn bản - phải giải quyết một mâu thuẫn lớn trons quá trình viết văn bản: họ phủi dùns các nsuồn liệu nsôn nsữ
và các chiến lược diễn ngôn để vừa thể hiện được ý muốn cùa Quốc hội lại vừa phải tính tới sự tiếp nhận văn bán của nhữnơ công dàn binh thường khônỵ có
Trang 36chuyên môn luật pháp Đó là điều mà Candlin (1981) cũng đề cập khi bàn vé giao tiếp luật pháp qua thuật ngữ " Sự cân bằng của cơ hội giải thuyết" (The equalising of interpretive opportunity).
Bhatia (1994) chỉ ra rằng dung hoà được mâu thuẫn trên hoàn toàn không phải chuyện dễ dàng Các nhà làm luật đã không ngừng nỗ lực gỉai quyết mâu thuẫn này Một mặt họ cố tạo ra các điều luật rõ ràng, chính xác và không mơ hồ, mặt khác họ lại phải đảm bảo các điều luật này có tính co dãn
để bao trùm được hầu hết các sự kiện vô cùng phong phú của đời sống luật pháp thực theo ý muốn của cơ quan lập pháp Đây là một việc tưởng chừng như không thể đạt được Đó cũng là nguyên nhân chính làm văn bản luật pháp
có hình thức và các đặc điểm khác lạ như hiện nay
Như vậy, có thể thấy mục đích giao tiếp chung nhất của thể loại văn bản luật pháp là diễn đạt các quy phạm pháp luật Cụ thể hơn là đặt ra nghĩa vụ, ban bố quyền, chỉ dẫn các quan hệ xã hội và đặt ra các hình phạt Các nhân tố ngữ cảnh đặc biệt của thể loại văn bản luật pháp tạo cho nó các đặc điểm riêng như tính minh xác, không mơ hồ nhưng đồng thời lại phải đảm bảo sự co dãn bao trùm
1.3.3 Một sô đặc điểm chính của ngôn ngữ văn bản luật pháp và văn bản luật pháp trong tiếng Anh.
Trong phần này chúng tôi sẽ trình bày một số đặc điểm của ngôn ngữ văn bản luật pháp nói chung và trong tiếng Anh nói riêng dựa trên một số công trình nghiên cứu gần đây của các tác giả được coi là tiêu biểu nhất trong địa hạt này
1.3.3.1 Đặc điểm từ vựng - ngữ pháp
Trang 371.33.1.1 Các phương tiện từ vựng biểu hiện tình thái lù phương tiện ngôn ngữ quan trọng góp phần tạo lập các quyền và nghĩa vụ trong văn bản luật pháp
Maley (1994) chỉ ra rằng nhiệm vụ trung tâm của các điểu khoản luật pháp là xác đinh và áp đặt quyền và nghĩa vụ trong phạm vi mà các điểu khoản này điều tiết Hai cách chủ yếu để thực hiện việc này là nói ra những gì phải làm và những gì có thể làm Nói theo thuật ngữ luật pháp là tạo lập các quy phạm cấm đoán, quy phạm bắt buộc và quy phạm tùy nghi, v ề mặt ngôn ngữ học, điều này được thực hiện bằng việc dùng các từ tình thái "may", "shall" và
"must" "May" có nghĩa cho phép, được dùng để tạo lập quy phạm tùy nghi như trong ví dụ:
" This Act may be cited as the Interpretation Act 1978 "
(Interpretation Act 1978, United Kingdom)
"Must" và "shall" có nghĩa bắt buộc, ra lệnh được dùng để tạo lập quy phạm bắt buộc, cấm đoán:
" This Act shall come into force on 1st January 1979 "
(Interpretation Act 1978, UK)
1.3.1.1.2 Hệ thuật ngữ luật pháp:
Maley (1994) cho rằng nguồn gốc của sự chặt chẽ (certainty) là ở nghĩa Quan niệm (Ideational meaning) và nshĩa Văn bản (Textual meaning) Nói cách khác, nó được thể hiện qua nội dung và hình thức văn bản Hệ thuật ngữ luật pháp được sử dụng nhiều trong văn bản luật pháp nhằm khái niệm hoá (conceptualize) trường ngữ nghĩa qua một tập hợp chỉnh thể các thuật ngữ biểu hiện trường này Ví dụ " murder " và " manslaughter " đều là các từ đồns nghĩa của từ homicide (giết người) và ít nhất ba từ này làm thành một trườns ngữ nghĩa trong đó "homicide” là từ trên cấp (trung tâm) và "murder",
"manslaughter" là các từ dưới cấp
Trang 38Các thuật ngữ là những từ có nghĩa được xác định rõ ràng và là từ đơn nghĩa , không dễ nhầm lẫn do vậy chúng góp phần làm tăng tính chặt chẽ của văn bản luật pháp Các thuật ngữ cũng tạo nên tính kỹ thuật (technicality) -
một đặc điểm rất riêng của vãn bản luật pháp
1.3.1.13 Những đặc điểm ngữ pháp.
1.3.1.1.3.1 Tính định danh (Nominal character).
Theo Swales và Bhatia (1983) câu của văn bản luật pháp mang tính định danh đậm nét hơn ở các thể loại văn bản thông thường Trong hai câu ở ví dụ dưới đây, câu thứ nhất được ưa dùng ở văn bản luật pháp hơn câu thứ hai là phiên bản chứa nhiều động từ hơn:
l.The power to make regulations under this section shall be exercisable by statutory instrument which shall be subject to anulment in pursuance of a resolution of either House of Parliament.
(Finance Act 1978)
2 A statutory instrument can be used to make regulations under this section and such a statutory instrument can be annuHed if either House o f Parliam ent passes
a resolution to that effect.
Bhatia (1994) chỉ ra rằng việc sử dụns các danh từ và danh ngữ và các
cách diễn đạt được danh hoá làm văn bản luật pháp tăng mức độ chính xác và bao trùm Tuy nhiên nó cũng làm cho loại văn bản này trở thành quá đậm đặc
và vì thế cũng khó hiểu hơn nhiều Cách viết như trên buộc người đọc phải có kiến thức chuyên môn cũng như cố gắng để giải thuyết các danh ngữ và các ngữ danh hoá Một ví dụ khác từ Luật Di chúc:
No will shall be revoked by any presumption of an intention on the 2 round of an alteration in circumstances.
1.3.1.1.3.2 Ngữ lưỡng kết và ngữ da kết:
Lưỡns kết (binomial) và đa kết (multinomial) là thuật níiữ của Bhatia ( 1994)
dùng để chi một kết hợp gồm hai hay nhiéu từ hoặc nsử t h u ộ c cun^ p h ạ m tru
Trang 39ngữ pháp có quan hệ về ngữ nghĩa được liên kết với nhau bằng phương tiện cú pháp như "and" hoặc "or".
Ví dụ: " Signed and delivered " , " in whole or in part ", " to affirm or
set aside ", " act or omision ", " advice and consent", " by or on behalf o f ", " under or in accordance with ", " unless and u n til"," consists o f or includes ",
" wholly and exclusively ", " the freehold conveyed or long lease granted ", "
from such activities or from the use o f any such machinery or p la n t", " by the Government or by any government, public or local authority or by any person other than the person claiming relief" v.v Sơ đồ dưới đâv cho thấy vai
trò của các cách diễn đạt lưỡng kết và đa kết trong việc tạo lập tính bao trùm trong các văn bản luật pháp : (ví dụ trích từ luật chống tham nhưũng 1947 của
ấn - Độ )
Trang 40W here in any trial o f offence
punishable under section 161
it is proved that an accused
person has accepted
for him self
any gratification (other
than legal remuneration)
ị -it shall be presumed
unless the contrary is
proved that he accepted
that gratification
[ or section 165 o f the Indian Penal Code
or o f an offence referred to in clause (b)
o f subsection (1) o f section 5 o f this Act punishable under subsection (2) thereof
-► [or obtained.
-► [or has agreed to accept
-► [or attempted to obtain
-* [or for any other peson.
[or any valuable thing for any person.
or obtained -► or agreed to accept,
or attempted to obtain
-» or that valuable thing, as the case may be
Bảng 3: Sơ đổ cấu trúc điều khoản luật pháp tiếng Anh (Nguồn: Bhatia 1994:24)
3.1.1.3.3 Các giới ngữ phức
Một đặc điểm khá nổi bật về cú pháp của văn bán luật tiếng Anhư là việc dùng nhưiểu giới ngữ phức (complex preposition phrases - theo thuật nsừ của Quvrk 1972) Giới ngữ phức này có câu trúc p - iN - p (Preposition + Noun + Preposition) Ví dụ: