M iễn hình phạt được áp dụng rất ít trong xét x ử của T òa án 58M ột số trường hợp cụ thể Tòa án m iễn h ìn h phạt cho người 66phạm tội M iễn hình phạt chủ yếu được áp dụng đối với loại
Trang 2C h ư ơ n g 1 MỘT S ố VÂN ĐỂ CHUNG VỂ MIÊN HÌNH PHẠT
1.1 K hái niệm và các đặc điểm cơ bản của m iễn hình phạt
1.1.1 K hái niệm miễn hình phạt
9
99
1.1.3 Phân biệt miễn hình phạt với hình phạt cảnh cáo, m iễn trách 14
nhiệm hình sự, m iễn chấp hành hình phạt và án treo
1.2 Lược khảo sự hình thành và phát triển của các quy phạm về 19
m iễn hình phạt trong luật hình sự V iệt N am từ sau Cách mạng
tháng T ám năm 1945 cho đến nay
1.2.1 G iai đoạn từ sau Cách m ạng tháng T ám năm 1945 đến pháp 19
điển h ó a lần thứ nhất - Bộ luật hình sự năm 1985
1.2.2 G iai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 cho 27
đến nay
1.3 Các quy định về m iễn hình phạt trong pháp luật hình sự m ột số 31
nước trên th ế giới
C hư ơ ng 2\ CÁC TRƯỜNG HỢP MIỄN HÌNH PHẠT THEO PHÁP LUẬT 45
HÌNH Sự VIỆT NAM HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIÊN ÁP DỤNG
2.1 Phân loại các dạng (loại) m iễn hình phạt
2.1.1 Căn cứ vào vị trí sắp xếp tại Bộ luật hình sự
4545
Trang 3M iễn hình phạt được áp dụng rất ít trong xét x ử của T òa án 58
M ột số trường hợp cụ thể Tòa án m iễn h ìn h phạt cho người 66phạm tội
M iễn hình phạt chủ yếu được áp dụng đối với loại tội ít nghiêm 71trọng, các tội phạm xâm hại đến sức khỏe và q uyền sở hữu
C h ư ơ n g 3 : NHŨNG PHƯƠNG HƯỚNG c ơ BẢN VÀ MỘT s ố GIẢI 74
PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH s ự VIỆT NAM VỂ MIỄN HÌNH PHẠT
Sự cần th iết phải hoàn thiện các quy định củ a pháp luật hình 74
sự V iệt N am về m iễn hình phạt
N hững phương hướng cơ bản của việc hoàn th iện các quy định 79 của pháp luật hình sự V iệt N am về m iễn h ìn h phạt
Q uán triệt quan điểm của Đ ảng và N hà nước ta về hoàn thiện 81pháp luật hình sự nói chung, các quy định về m iễn hình phạt
Trang 43.2.2 Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về m iễn hình 82
phạt phải thể hiện nguyên tắc nhân đạo của Đ ảng và N hà nước
ta trong đường lối xử lý tội phạm và người phạm tội
3.2.3 Bảo đảm tính kế thừa và phát triển các quy định về miễn hình 84
phạt của pháp luật hình sự V iệt N am với sự tiếp thu hợp lý quy
định pháp luật hình sự của m ột số nước trên th ế giới
3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của 86
pháp lu ật hình sự V iệt N am về m iễn hình phạt
3.3.1 Giải pháp sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật hình sự 87
Việt N am về miễn hình phạt
3.3.2 Giải pháp về sự tham gia của các cơ quan, tổ chức và gia đình 97
người được miễn hình phạt để giám sát, quản lý và giáo dục
3.3.3 Giải pháp nâng cao ý thức pháp luật, trình độ chuyên m ôn, 98
nghiệp vụ của Thẩm phán và Hội thẩm trong việc quyết định
áp dụng m iễn hình phạt
3.3.4 Giải pháp tăng cường vai trò của V iện kiểm sát trong việc 99
kiểm tra, giám sát các quyết định m iễn hình phạt cho người bị
Trang 5M Ở ĐẨ U
1 Tính cấp thiết của đề tài
T rong công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm , hình phạt với tư cách là biện pháp cưỡng ch ế nghiêm khắc nhất của N hà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn c h ế quyền, lợi ích hợp pháp của người phạm tội có vai trò rất quan trọng, đồng thời hình phạt m ang lại những hiệu quả nhất định không những trong việc trừng trị người phạm tội m à còn có ý nghĩa to lớn trong vấn đề cải tạo người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới và đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng và chống tội phạm Đây cũng là m ục đích cơ bản của hình phạt được quy định tại
Đ iều 27 Bộ luật hình sự năm 1999 T uy nhiên, không phải lúc nào hình phạt cũng được đem ra để áp dụng đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội
Đ iều đó có nghĩa, trong m ột số trường hợp m ặc dù m ột người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm và người đó phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng vì có những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời thỏa m ãn những căn cứ và những điều kiện khác theo quy định của pháp luật hình sự, chứng tỏ người đó đã ăn năn, hối cải, nhận thức được lỗi lầm và tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi m à m ình thực hiện, có ý thức chuộc lỗi bằng cách ngăn chặn những hành vi và hạn c h ế hậu quả của hành vi phạm tội
m à chính bản thân hoặc người khác định gây ra, do đó việc áp dụng hình phạt trong trường hợp này là không cần thiết và không còn ý nghĩa thì Tòa án quyết định m iễn hình phạt cho họ
M iễn h ìn h phạt là m ột c h ế định nằm trong hệ thống các biện pháp tha
m iễn của luật hình sự V iệt N am , thể hiện quan điểm nhân đạo trong chính sách hình sự củ a Đ ảng và N hà nước ta đối với người phạm tội và hành vi do
họ thực hiện, đồng thời nhằm động viên, khuyến khích người phạm tội lập
Trang 6công chuộc tội, chứng tỏ khả năng tự giáo dục, cải tạo nhanh chóng và tạo điều kiện cho họ sớm hòa nhập với cộng đồng, trở thành người có ích cho gia đình và cho xã hội.
Ở V iệt N am , quy định về m iễn hình phạt đã tồn tại từ khá lâu trong lịch sử từ thời đại phong kiến trong các Bộ luật như Bộ luật Hồng Đức, Luật Gia Long và sau khi giành được độc lập đất nước 1945, vấn đề m iễn hình phạt cũng đã được nhắc đến và nằm rải rác ở các văn bản pháp lý m ang tính đơn lẻ, không hệ thống như: sắc lệnh số 21 ngày 14/3/1946 của C hính phủ quy định lại về m ặt tội danh và hình phạt; sắc lệnh số 25 ngày 25/02/1946 quy định việc trừng trị đối với các hành vi phá hủy công sản; sắc lệnh số 27 được ban hành ngày 28/02/1946 nhằm trừng trị các hành vi bắt cóc, tống tiền và ám sát Sắc lệnh số 71 ban hành ngày 02/02/1946 ấn định quy tắc quân đội quốc gia Sắc lệnh đại xá ngày 20/10/1945, văn bản này đã đại xá cho tuyệt đại đa số án được tuyên trong thời Pháp thuộc; sắc lệnh số 113 ngày 20/01/1953 trừng trị các loại V iệt gian, phản động và xét xử những âm mưu và hành động phản quốc (Đ iều 1 Sắc lệnh); sắ c lệnh số 223/SL ngày 17/11/1946; Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách m ạng ngày 30/10/1967; Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa ngày 21/10/1970; Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân ngày 21/10/1970; Thông tư số 03-BTP/TT tháng 4/1976 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành sắc luật quy định về các tội phạm và hình phạt; Pháp lệnh trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép ngày 10/7/1982; v.v
Đ ến Bộ luật hình sự năm 1985, m iễn hình phạt mới được ghi nhận
chính thức như là m ột c h ế định độc lập trong pháp luật hình sự và quy định
cùng với ch ế đ ịn h m iễn trách nhiệm hình sự (Đ iều 48) V à đến khi pháp điển hóa pháp luật h ìn h sự V iệt N am lần thứ hai với việc thông qua Bộ luật hình sự năm 1999, các quy định về m iễn hình phạt cũng đã được sửa đổi, bổ sung và tiếp tục hoàn thiện T uy nhiên, lần pháp điển hóa thứ hai này vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu về m ặt lập pháp đối với c h ế định này, cũng như thực tiễn áp
Trang 7dụng nó Chẳng hạn, cả hai Bộ luật hình sự năm 1985 và năm 1999 vẫn chưa đưa ra được định nghĩa pháp lý của khái niệm m iễn hình phạt, hệ quả cụ thể của người được m iễn hình phạt Mặt khác, trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cho thấy những quy phạm của ch ế định này còn nhiều bất cập, m ột số quy định chưa chặt chẽ và thống nhất về nội dung, đặc biệt trong thực tiễn đời sống xã hội và thực tiễn pháp lý đang tồn tại nhiều trường hợp có thể áp dụng
c h ế định m iễn h ìn h phạt nhưng lại chưa được nhà làm luật V iệt N am ghi nhận
và quy định trong Bộ luật hình sự
V ì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa để làm sáng tỏ về mặt khoa học những vấn đề về m iễn hình phạt và áp dụng các quy định này trong thực tiễn, đồng thời đưa ra những giải pháp hoàn thiện để nâng cao hiệu quả của việc áp dụng những quy định về m iễn hình phạt không những có ý nghĩa
lý luận - thực tiễn và p h á p lý quan trọng, m à còn là vấn đề m ang tính cấp
thiết Đ ây chính là lý do luận chứng cho việc chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài "Chế định miễn hình phạt trong luật hình sự Việt Nam" làm đề tài luận
văn thạc sĩ luật học của m ình
2 Tình hình nghiên cứu
L à m ột trong những ch ế định quan trọng, c h ế định m iễn hình phạt có liên quan m ật th iết và chặt chẽ đến ch ế định hình phạt và nhiều c h ế định khác
trong luật h ìn h sự, chính vì vậy nó được ghi nhận trong pháp luật hình sự ở
nhiều nước trên th ế giới như: Liên bang N ga, Cộng hòa Pháp, Trung Quốc,
N hật Bản, C ộng h ò a Liên bang Đức, Thụy Đ iển, v.v Tuy nhiên, vấn đề miễn hình phạt mới chỉ được quy định m ột cách hết sức chung chung và thiếu tính chặt chẽ trong pháp luật hình sự các nước, nó chỉ được quy định trong một điều luật riêng, thậm chí còn được quy định chung với các ch ế định khác tại cùng m ột điều luật Đ ặc biệt, chỉ có Bộ luật hình sự L iên bang N ga và m ột số nước quy định m iễn hình phạt thành m ột chương riêng và coi đó là m ột chế định quan trọng với các c h ế định khác như tội phạm và hình phạt
Trang 8C òn ở nước ta, miễn hình phạt cũng mới chỉ được quy định trực tiếp hoặc g ián tiếp tại một số điều luật riêng lẻ như Đ iều 54, k hoản 4 Đ iều 69 và khoản 3 Đ iều 314 Bộ luật hình sự năm 1999, chưa được ghi nhận tại m ột chương riêng n h ư các c h ế định khác về tội phạm , hình phạt; v.v Đ iều đó chứng tỏ
m iễn h ìn h phạt vẫn chưa được các nhà lập pháp coi trọng đúng mức và chưa nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng của c h ế định này và nhu cầu cần quy định cụ thể và toàn diện tại m ột chương riêng trong Bộ luật hình sự
C ũng giống như phương diện lập pháp, trên phương diện lý luận chế định m iễn hình phạt cũng vẫn chưa được quan tâm m ột cách đúng mức mặc
dù đây là m ột c h ế định nhân đạo, có ý ng h ĩa quan trọng đối với quá trình đấu tranh và chống tội phạm của N hà nước, thể hiện quan điểm nhân đạo, đường
lố i chính trị m ang đậm nét nhân văn của Đ ảng và N hà nước ta Cho đến nay, chưa có m ột công trình khoa học nào nghiên cứu m ộ t cách công phu và đầy đủ
ở cấp độ m ột luận văn thạc vĩ hay m ột luận án tiến s ĩ về đề tài này M iễn hình
phạt m ới chỉ được nghiên cứu vói tư cách là đề tài của các khóa luận tốt nghiệp
cử nhân luật học hoặc rải rác trên m ột số tạp chí khoa học pháp lý chuyên ngành, hay được đề cập với tư cách là m ột vấn đề (khía cạnh liên quan) của các ch ế định k h á c như hình phạt, quyết định h ìn h phạt, các biện pháp tha m iễn, các tình tiế t tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
T rong lĩnh vực nghiên cứu, đáng chú ý là các công trình nghiên cứu
củaT SK H PG S Lê c ả m : 1) "C h ế đ ịn h m iễn hình p h ạ t và các c h ế định v ề chấp
hành hình p h ạ t trong luật hình sự V iệt N am '' (Tạp chí Nhà nước và pháp luật,
số 4/2002) và 2) M ục IV - C h ế định m iễn hình p h ạ t Chương thứ tám : Các
biện p h áp tha m iễn trong luật hình sự (trong sách ch u y ên khảo Sau đại học:
N hững vấn đ ề cơ bản trong khoa học luật hình sự (P hần chung), N xb Đ ại học
Quốc gia H à N ội, 2005)
N goài ra, ch ế định m iễn hình phạt còn được đề cập, phân tích trong
m ột số giáo trình và sách tham khảo như: 1) G iáo trình L u ậ t hình sự V iệt N am
(Phần chung), N xb Đ ại học Quốc gia H à Nội, 1997; 2) G iáo trình Luật hình sự
V iệt N a m (P hần chung), Tập thể tác giả do TSKH L ê C ảm ch ủ biên, N xb Đại
Trang 9Ị-ọc Q uốc gia Hà N ội, 2001 và 2003 (tái bản lần thứ nhất); 3) Giáo trình L uật ìình s ự V iệt N am , Tập I, Tập thể tác giả do GS.TS N guyễn N gọc H òa chủ Hên, N xb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007; 4) G iáo trình L u ậ t hình sự Việt lỉam (P hần chung), T ập thể tác giả do PGS.TS Võ K hánh Vinh chủ biên, Đại tọc H uế, N xb G iáo dục, H à Nội, 2000; 5) Bình luận khoa học Bộ luật hình sự
999 - Phần chung (N xb T hành phố Hồ Chí M inh, 2000) của ThS Đ inh Văn
Quế H oặc được đề cập trong m ột số bài viết khác trên các Tạp chí chuyên
rgành như: 1) "Phân biệt m iễn trách nhiệm hình s ự và m iễn hình p h ạ t" (Tạp
chí K hoa học pháp lý, số 2/2004) của TSKH Lê Cảm và T rịnh Tiến Việt, hay
n ộ t số bài viết tác giả đồng nghiên cứu (với Trịnh Tiến Việt): 2) "Khái quát
ì ch sử hình thành và p h á t triển của các quy phạm phá p luật hình sự Việt N am về nỉễn hình phạt" (Tạp chí Luật học, số 1/2006); 3) "V ề c h ế định miễn hình phạt rong L u ậ t hình s ự V iệt N am " (Tạp chí Tòa án nhân dân, số 1/2006); 4) "V ề c h ế lịnh m iễn hình p h ạ t trong p h á p luật hình sự m ột s ố nước trên th ế giới" (Tạp
chí Tòa án nhân dân, số 12 (tháng 6)/2006); v.v
T uy nhiên, tất cả những nghiên cứu trên đây của các tác giả mới ở dưới lạng là các bài viết đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành, m ột phần, mục rong các giáo trình, sách chuyên khảo hay sách tham khảo, hoặc mới chỉ xem
íét vấn đề ở cấp độ m ột khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật học Có nghĩa là
:ho đến nay trong khoa học luật hình sự của V iệt N am chưa có công trình Ìghiên cứu nào đề cập đến c h ế định này m ột cách tương đối có hệ thống và ương đối đồng bộ Đ ặc biệt, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh chế lịnh m iễn hình phạt cũng đòi hỏi các nhà khoa học - luật gia cần phải được iếp tục nghiên cứu m ột cách toàn diện, chuyên khảo và sâu sắc hơn
3 M ụ c đích và phạm vi nghiên cứu
M iễn hình phạt là m ột chế định phức tạp, có nhiều nội dung liên quan
ỉế n các c h ế định khác trong Bộ luật hình sự như: hình phạt, trách nhiệm hình
sự, m iễn trách nhiệm hình sự; v.v và là m ột c h ế định nhân đạo có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả của chính sách pháp luật nói chung
vầ chính sách hình sự nói riêng Bởi vậy, m ục đích nghiên cứu của luận văn là
Trang 10làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về miễn hình phạt, đồng thời nghiên cứu quy định của pháp luật hình sự m ột số nước trên th ế giới và thực tiễn áp dụng nhằm đưa ra những phương hướng và giải pháp làm cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật hình sự, tạo điều kiện cho quá trình áp dụng c h ế định này Xuất phát
từ m ục đích nghiên cứu trên, luận văn có phạm vi nghiên cứu là xem xét và giải quyết m ột số vấn đề xung quanh ch ế định m iễn hình phạt m à cụ thể là:
1) Khái niệm, bản chất pháp lý và các đặc điểm cơ bản của miễn hình phạt;2) Phân biệt miễn hình phạt với các chế định khác có liên quan như hình phạt cảnh cáo, m iễn trách nhiệm hình sự, m iễn chấp hành hình phạt, án treo;
3) K hái quát lịch sử hình thành và phát triển của các quy phạm về chế định m iễn hình phạt trong pháp luật hình sự V iệt Nam;
4) P hân tích các quy định về m iễn hình phạt trong pháp luật hình sự
m ột số nước trên th ế giới;
5) Phân tích nội dung và điều kiện áp dụng những trường hợp miễn hình phạt trong Bộ ỉuật hình sự năm 1999 hiện hành, kết hợp với thực tiễn áp dụng,
N goài ra, trên cơ sở nghiên cứu những nội dung cơ bản của chế định
m iễn h ìn h phạt, tác giả đi sâu nghiên cứu c h ế định m iễn hình phạt trên phương diện lập pháp và việc áp dụng trong thực tiễn, đưa ra các giải pháp hoàn thiện các quy phạm củ a chế định này trong pháp luật hình sự V iệt Nam
4 N h iệm vụ nghiên cứu
Với m ục đích và phạm vi nghiên cứu nêu trên, trong luận văn này tác giả tập trung vào giải quyết những nhiệm vụ chính như sau:
1) Phân tích và xây dựng định nghĩa khoa học của khái niệm miễn hình phạt, phân tích các đặc điểm cơ bản và so sánh m iễn hình phạt với m iễn trách nhiệm hình sự, m iễn chấp hành hình phạt, hình phạt cảnh cáo và với án treo
2) K hái quát sự hình thành và phát triển của các quy phạm về miễn hình phạt trong pháp luật hình sự V iệt Nam
Trang 113) Phân tích nội dung, điều kiện áp dụng những trường hợp m iễn hình phạt theo các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 hiện hành và thực tiễn
áp dụng các quy định này T ừ đây phân tích m ột số tồn tại xung quanh việc quy định và áp dụng ch ế định m iễn hình phạt
4) L uận chứng cho sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định của pháp
lu ật hình sự V iệt N am về m iễn hình phạt, những phương hướng cơ bản của việc hoàn thiện và từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện c h ế định m iễn hình phạt trong Bộ lu ật hình sự năm 1999, đồng thời đưa ra m ô hình lý luận với sự
bổ sung m ột số trường hợp m iễn hình phạt cần phải được nhà làm luật nước ta ghi nhận trong pháp luật hình sự V iệt N am hiện hành
5 C ơ sử lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đ ể đ ạt được những m ục đ ích đã đặt ra trên cơ sở lý luận là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn đã sử dụng m ột số phương pháp nghiên cứu như: phương pháp so sánh, phân tích tài liệu, nghiên cứu lịch sử và phương pháp tổng hợp, cũng như những thành tựu của khoa học luật hình sự, khoa học luật tố tụng hình sự, xã hội học pháp luật; v.v trong các công trình của các n h à k h o a học - lu ật gia ở trong và ngoài nước
N goài ra, việc nghiên cứu đề tài còn dựa vào số liệu trong các báo cáo của T òa án n h ân dân tối cao và m ột số vụ án hình sự trong thực tiễn xét xử và thông tin trên m ạng Internet để phân tích và đánh giá, tổng hợp các tri thức khoa h ọ c luật hình sự
6 Ý n gh ĩa lý luận , thực tiễn và điểm m ói về khoa học của luận văn
Ý n g h ĩa lý luận và thực tiễn quan trọng của luận văn là ở chỗ tác giả
đã làm rõ khái niệm , bản ch ất pháp lý và các đặc điểm cơ bản của m iễn hình phạt, nội dung và điều kiện áp dụng các trường hợp m iễn hình phạt trên cơ sở xem xét những quy định của pháp luật hình sự hiện hành, đồng thời đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các quy phạm của c h ế định này ở khía cạnh lập pháp và việc áp dụng chúng trong thực tiễn
Trang 12Đ ặc biệt, để góp phần nhân đạo hóa hơn nữa chính sách hình sự của
N hà nước ta và để phù hợp với các yêu cầu của thực tiễn xét xử và pháp luật hình sự các nước, tác giả luận văn kiến nghị bổ sung những trường hợp có thể
áp dụng m iễn hình phạt, nhưng lại chưa được nhà làm luật nước ta quy định trong Bộ luật hình sự N goài ra, điểm mới về khoa học của luận văn ở m ột chừng m ực n hất định có thể khẳng định rằng, đây là nghiên cứu chuyên khảo đổng bộ đầu tiên ở cấp độ m ột luận văn thạc sĩ đề cập riêng đến c h ế định m iễn hình p h ạt trong khoa học lu ật hình sự V iệt N am , do đó nó còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo cần thiết cho các cán bộ nghiên cứu khoa học, cán bộ giảng dạy, n g h iên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành tư pháp hình sự
7 K ết cấu của luận văn
N goài Phần m ở đầu, K ết luận và D anh m ục tài liệu tham khảo, nội dung củ a luận văn gồm ba chương:
C hương 1: M ột số vấn đề chung về m iễn hình phạt.
C hương 2: Các trường hợp m iễn hình phạt theo pháp luật hình sự V iệt
Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng
Chương 3: Những phương hướng cơ bản và m ột số giải pháp nâng cao
hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật hình sự Việt N am vể miễn hình phạt
Trang 13C h ư ơ n g 1
M Ộ T SỐ V Â N Đ Ể C H U N G V Ể M IÊ N H ÌN H PH Ạ T
1.1.1 K hái niệm m iển hình phạt
M iễn hình phạt là m ột c h ế định quan trọng nằm trong hệ thống các
c h ế định về các biện pháp tha m iễn của lu ật hình sự V iệt N am , thể hiện quan điểm nhân đạo và chính sách hình sự của Đ ảng và N hà nước ta đối với người phạm tội và hành vi do họ thực hiện, đồng thời nhằm động viên, khuyến khích người phạm tội lập công chuộc tội, chứng tỏ khả năng tự giáo dục, cải tạo nhanh chóng và tạo điều kiện cho họ sớm tái hòa nhập với cộng đồng, trở thành người có ích cho xã hội M iễn hình phạt không chỉ có vai trò là m ột trong những ch ế định quan trọng trong pháp luật hình sự m à còn là m ột trong những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm , giáo dục, cải tạo người phạm tội nên m iễn hình phạt cần phải
được quan tâm m ột cách sâu sắc trên các phương diện lập p h á p , áp dụng ph á p
luật và nghiên cứu lý luận nhưng cho đến nay c h ế định m iễn hình phạt vẫn
chưa được quan tâm m ột cách đúng mức trẽn cả ba phương diện này
M iễn hình phạt là m ột c h ế định m ang tính nhân đạo cao, nhưng ngay
từ khái niệm "miễn hình phạt" cũng chưa được làm rõ Đ iều 54 Bộ luật hình
sự năm 1999 chỉ nêu ra các điều kiện để người phạm tội được áp dụng c h ế định m iễn hình phạt, đó là: ''N gười p h ạ m tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Đ iêu 46 Bộ luật hình sự, đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được m iễn trách n hiệm hình s ứ ' Còn trong thực tiễn các
cơ quan và người áp dụng pháp luật vẫn còn có sự nhầm lẫn khái niệm "miễn hình phạt'' với m ột số khái niệm tương tự n h ư "miễn chấp hành hình phạt",
"miễn trách nhiệm hình s ứ ', "án treo"', v.v
Trang 14H iện nay, trong khoa học luật hình sự nước ta về khái niệm m iễn hình
p h ạ t còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, m à cụ thể là:
1) Theo TSKH.PGS Lê Cảm: "M iễn hình p h ạ t là hủy bỏ biện ph á p về cưỡng c h ế v ề hình sự nghiêm khắc nhất cho người bị kết án mà lẽ ra Tòa án phải tuyên trong bản ấn kết tội có hiệu lực pháp luật đố i với người này" [28, tr 14];
2) Theo GS.TSKH Đ ào T rí ú c : "M iễn hình p h ạ t có nghĩa là T òa án tuyên m ột bản án buộc tội người đ ã p hạm tội sau khi đ ã xác định tội của người đó, nhưng sau đó quyết định không thực hiện hình phạt" [71, tr 271];
3) T heo GS.TS Đỗ N gọc Q uang: "M iễn hình p h ạ t là không buộc m ột người p h ả i chịu hình p h ạ t v ề tội m à người đó đ ã thực hiện" [51, tr 323] Đ ịnh
nghĩa ngắn gọn này cũng là quan điểm được m ột số nhà khoa học luật hình sự
khác đồng tình Cụ thể, PGS.TS K iều Đ ình Thụ viết: "M iễn hình p h ạ t là quyết định của T ỏa án không áp dụng hình p h ạ t đối với người đ ã thực hiện tội phạm " [59, tr 238], hay PGS.TS Võ Khánh Vinh viết: "Miễn hình p h ạ t là không buộc người bị kết án p h ả i gánh chịu hình phạt" [79, tr 470] hoặc TS Trương Quang V inh định nghĩa: "Miến hình p h ạ t là không buộc người p hạm tộỉ phải chịu biện p h á p cưỡng c h ế nghiêm khắc nhất của N hà nước là hình phạt v ề tội
mà người đó đ ã thực hiện" [80, tr 167];
4) Theo PGS.TS Trần V ăn Độ: "Miễn hình p h ạ t được áp dụng trong trường hợp T òa án kết tội, nhưng không áp dụng hình p h ạ t đối với người phạm tội do có những điều kiện mà Bộ luật hình sự năm 1999 quy định" [37, tr 196];
5) M ột số quan điểm khác khi đưa ra khái niệm đã nêu rõ hoặc khái quát các điều kiện để m ột người được m iễn hình phạt trong đó Chẳng hạn,
"Miễn hình p h ạ t là trường hợp p h ạ m tội và p h ả i chịu trách nhiệm hình sự nhưng được T ò a án cho hưởng khoan hồng đặc biệt, không p h ả i chịu hình phạt" [70, tr 34] hay "M iễn hình p h ạ t ỉà trường hợp xá c định bị cáo là người phạm tội nhưng không áp dụng bất kỳ hình p h ạ t nào đ ố i với người đó, trong trường hợp p h ạ m tội cố tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Đ iều 38 Bộ luật
Trang 15hình sự năm 1985 (Đ iều 46 Bộ luật hình sự năm 1999), đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức m iễn trách nhiệm hình sự" [36, tr 51]; v.v
Tóm lại, về cơ bản tất cả các quan điểm trên đây về khái niệm miễn hình phạt đều hợp lý và điều quan trọng là thống nhất trong việc khẳng định rõ được nội dung và bản chất pháp lý của nó Tuy nhiên, để đưa ra m ột khái niệm đầy đủ
và chính xác về nội dung, ngắn gọn và nhất quán về m ặt pháp lý, đồng thời phù
hợp với thực tiễn xét xử và chính sách nhân đạo của N hà nước, theo chúng tôi, khái niệm miễn hình phạt phải bao gồm các nội dung như: T h ứ nhất, bản chất pháp lý của m iễn hình phạt; th ứ hai, hình thức thể hiện; th ứ ba, cơ quan có thẩm q uyền nào áp dụng; th ứ tư, đối tượng bị áp dụng; và, thứ n ă m , căn cứ pháp lý và những điều kiện áp dụng Do đó, trên cơ sở xem xét các quan điểm
khoa học đã nêu, kết hợp với việc phân tích các quy định của pháp luật có liên quan, dưới góc độ khoa học luật hình sự, theo chúng tôi khái niệm m iễn hình
phạt có thể được định nghĩa như sau: M iễ n h ìn h p h ạ t là m ộ t c h ế đ ịn h p h ả n
á n h n g u y ê n tắc n h â n đạo của lu ậ t h ìn h s ự V iệ t N a m , được T òa á n áp d ụ n g
và tu y ê n tạ i b ản án đ ã có h iệ u lực p h á p lu ậ t đô i với n g ư ờ i p h ạ m tội, n h ằ m xóa bỏ h ìn h p h ạ t vê tội p h ạ m m à n g ư ò i p h ạ m tộ i đ ã th ự c h iệ n k h ỉ có đầy đủ căn c ứ p h á p lý và n h ữ n g đ iều k iệ n do lu ậ t địn h
N h ư vậy, từ khái niệm khoa học về m iễn hình phạt nêu trên, theo
chúng tôi bản chất ph á p lý của ch ế định này là m ột biện p h á p tha m iễn trong luật hình s ự V iệt N am , th ể hiện chính sách nhân đạo của N h à nước đối người phạm tội trong trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Đ iều 46 Bộ luật hình sự, đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức m iễn trách nhiệm hình sự; đồng thời được th ể hiện bằng việc T òa án không buộc người p h ạ m tội p h ả i chịu hình p h ạ t v ề tội p h ạ m mà người đó đ ã thực hiện bằng bản án kết tội đ ã có hiệu lực p h á p luật.
1.1.2 C ác đặc điểm cơ bản của m iễn hình phạt
X u ất phát từ khái niệm , bản chất pháp lý đã nêu và trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự hiện hành có liên quan đến m iễn hình phạt, chúng tôi rú t ra m ột số đặc điểm cơ bản của m iễn hình phạt như sau:
Trang 16T h ứ n h ấ t, bên cạnh hàng loạt c h ế đ ịn h k h ác như: các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thời hiệu (bao gồm thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi hành bản án), m iễn chấp hành hình phạt, án treo, xóa án tích, m iễn trách nhiệm hình sự; v.v th ì m iễn hình p h ạt cũng là m ột trong những c h ế định phản ánh rõ nét n hất n g u y ên tắc nhân đ ạo của chính sách hình sự nói chung và luật hình
sự V iệt N am nói riêng
N h ư vậy, ở đây nếu xếp theo thứ tự về m ức độ khoan hồng, thì m iễn hình phạt là c h ế định nhân đạo ở giữa, trước và sau nó là hình phạt cảnh cáo
(nhẹ nhất trong hệ thống các hình phạt chính củ a luật hình sự) và c h ế định
m iễn trách nhiệm hình sự Cụ thể như sau:
Hình phat cảnh cáo - ► Miễn hình phat - ► Miễn trách nhiêm hình sư
T rên thực tế, giữa ba biện pháp này được các cơ quan tư pháp hình sự
có thẩm quyền vận dụng linh hoạt theo từng nhóm với nhau tùy theo từng trường
hợp cụ thể và ranh giới giữa các nhóm này đôi khi trên thực tiễn áp dụng là
khó xác định Hai nhóm có thể được áp dụng linh hoạt, là giữa nhóm (1) và (2)
và giữa n hóm (2) và (3) N hư vậy, m iễn hình phạt được xem là biện pháp
khoan hồng ít nghiêm khắc so với hình phạt cảnh cáo, nhưng lại nghiêm khắc
hơn m iễn trách nhiệm h ìn h sự Hay nói cá ch k h ác, dưới góc độ p h á p lý hình
sự và thực tiễn áp dụng thì nhân thân và hành vỉ p hạm tội của người được miễn hình phạt ít nguy hiểm so với người bị áp dụng hình phạt cảnh cáo, nhưng lại nguy h iểm hơn so với người được m iễn trách nhiệm hình sự
T h ứ hai, m iễn hình phạt chỉ có thể được đặt ra đối với người bị kết án
m à lẽ ra nếu không có đầy đủ căn cứ và những điều kiện do luật định để được
m iễn hình phạt, thì người đó phải bị Tòa án áp dụng m ột hình phạt nào đó trên thực tế theo các quy định của Bộ luật hình sự
Trang 17T h ứ ba, hình phạt và việc áp dụng m iễn hình phạt chỉ có thể và phải do duy nhất m ột cơ quan áp dụng - Tòa án áp dụng (khoản 2 Điều 227, điểm a
khoản 1 Đ iểu 249, điểm a khoản 1 Điều 314 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003) Đ iều này khác với việc áp dụng m iễn trách nhiệm hình sự, vì ngoài cơ
quan Tòa án ra, m iễn trách nhiệm hình sự còn có thể do C ơ quan điều tra (với
sự phê chuẩn của V iện kiểm sát) hoặc V iện kiểm sá t thực hiện trong giai đoạn
tương ứng cụ thể trước khi xét xử
T h ứ tư, m iễn hình phạt phải được thể hiện bằng bản án kết tội đã có
hiệu lực pháp luật của T òa án tuyên không áp dụng (quyết định) hình phạt đối với người bị kết án
T h ứ n ă m , việc quy định ch ế định m iễn hình phạt trong luật hình sự
Việt N am có ý nghĩa quan trọng không những động viên, khuyên khích người phạm tội lập công chuộc tội, chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo nhanh chóng tái hòa nhập với cộng đồng, mà còn tạo cơ sở pháp lý cho sự kết hợp các biện pháp cưỡng c h ế hình sự của N hà nước với các biện pháp tác động xã hội trong việc giáo dục, cải tạo người phạm tội, giúp họ trở thành người có ích trong xã
hội, đồng thời qua đó cũng là "một cách hiệu nghiệm của việc thực hiện tốt nguyền tắc không đ ể lọt tội phạm và người p h ạ m tội" [71, tr 268], giảm nhẹ
cường độ áp dụng trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với những người phạm
tội khi có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện cho phép.
Về điều này, đúng nhưTSK H PG S Lê Cảm đã viết:
Cũng n h ư c h ế định m iễn trách nhiệm hình sự, bằng các quy
p h ạ m cố tính chất nhân đạo của c h ế định m iễn hình p h ạ t nhà làm luật tiết kiệm được các biện ph á p m ang tính chất trấn áp ịtrìũig trị)
vê m ặt ph á p lý hình sự và do đó, s ẽ góp ph ầ n loại trừ được việc áp dụng hình p h ạ t trong những trường hợp mà m ặc dù hình p h ạ t có được Tòa án q uyết định đi chăng nữa nhưng trên thực t ế là bất hợp lý
vì các m ục đích của nó vẫn không th ể đạt được [28, tr 14].
Trang 18V à, th ứ sáu, người bị kết án nếu được m iễn hình phạt đương nhiên họ
được xóa án tích N hưng người được miễn hình phạt vẫn có thể bị Tòa án áp
dụng m ột hoặc nhiều biện pháp tư pháp quy định tại các điều 41-43 Bộ luật
hình sự: tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm (1); trả lại tài sản,
sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại (2); buộc công khai xin lỗi (3) hoặc; bắt
buộc chữa bệnh (4) R iêng đối với người chưa thành niên phạm tội, trong m ột
số trường hợp, nếu họ được m iễn hình phạt thì việc áp dụng m ột trong hai biện
pháp tư pháp đối với họ - giáo dục tại xã, phường, thị trấn, hoặc đưa vào
trường giáo dưỡng (Đ iều 70 Bộ luật hình sự năm 1999) là yêu cầu bắt buộc.
1.1.3 Phân biệt Iĩiiễn hình phạt với hình phạt cảnh cáo, miễn trách nhiệm hình sự, m iễn chấp hành hình phạt và án treo
G iữa m iễn hình phạt và hình phạt cảnh cáo, m iễn trách nhiệm hình sự,
miễn chấp hành hình phạt và án treo cũng có m ột số điểm giống nhau vì chúng
đều là các biện pháp tha m iễn thể hiện nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình
sự Tuy nhiên, các biện pháp tha m iễn này có nhiều điểm khác nhau, m ang
tính chất riêng và đặc thù V iệc làm sáng tỏ chúng có ý nghĩa khoa học - thực
tiễn quan trọng, m à dưới đây chúng ta sẽ lần lượt xem xét
1) P h â n biệt m iễn h ìn h p h ạ t với h ìn h p h ạ t cả n h cáo: Trong hệ thống
hình phạt chính của Bộ luật hình sự, cảnh cáo là hình phạt ít nghiêm khắc nhất
và ỏ vị trí đầu tiên so với các hình phạt chính khác Là hình phạt chính, cảnh
cáo thể hiện nội dung là sự khiển trách công khai đối với người bị kết án do Tòa
án tuyên nhân danh N hà nước và ở m ột mức độ nhất định, nó buộc người bị kết
án phải chịu sự lên án của N hà nước về hành vi phạm tội của mình N goài ra, đi
kèm theo hình phạt cảnh cáo luôn luôn có hậu quả pháp lý là án tích và người
bị kết án sẽ phải m ang án tích trong thời hạn m ột năm (điểm a khoản 2 Đ iều 64
Bộ luật hình sự năm 1999)
T rên cơ sở nghiên cứu hình phạt cảnh cáo và m iễn hình phạt cho thấy
giữa chúng có m ột số điểm giống nhau như sau: a) Cả hai đều là những chế
định nhân đạo của luật h ìn h sự V iệt N am ; b) Chỉ được áp dụng khi có đầy đủ
Trang 19căn c ứ pháp lý và những điều kiện cụ thể do luật định; c) Đối tượng bị áp dụng
là người bị kết án (người bị coi là có tội theo bản án kết tội có hiệu lực pháp
luật của Tòa án) và; d) Thẩm quyền áp dụng chúng chỉ và do duy nhất m ột cơ
quan là Tòa án.
N goài ra, giữa chúng cũng có một số điểm khác nhau dưới đây: a) Khi
xét xử áp dụng c h ế định miễn hình phạt thì người bị kết án không bị áp dụng bất
kỳ hình phạt nào trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án, còn khi áp
dụng hình phạt cảnh cáo, người bị kết án đã bị Tòa án áp dụng hình phạt là hình
phạt cảnh cáo; b) Nếu như hình phạt cảnh cáo chỉ áp dụng đối người phạm tội ít
nghiêm trọng, thì biện pháp miễn hình phạt được áp dụng đối với cả những người
phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng khi có đủ điều
kiện luật định; c) v ề hậu quả pháp lý, khi được áp dụng ch ế định m iễn hình
phạt, người bị kết án đương nhiên được xóa án tích theo luật (khoản 1 Điều 64),
còn nếu bị áp dụng hình phạt cảnh cáo thì người bị kết án vẫn p h ả i chịu án tích
và m ang án tích trong thời hạn m ôt năm (điểm a khoản 2 Đ iều 64 Bộ luật này).
2) Phân biệt miễn hình phạt với miễn trách nhiệm hình sự. M iễn
trách nhiệm h ìn h sự cũng là m ột trong những c h ế định quan trọng trong luật
hình sự V iệt N am thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đ ảng và N hà
nước ta đối với người phạm tội và hành vi do họ thực hiện, đồng thời qua đó
nhằm động viên, khuyến khích người phạm tội lập công chuộc tội, chứng tỏ
khả năng giáo dục, cải tạo nhanh chóng tái hòa nhập với cộng đồng và giúp họ
trở thành người có ích cho xã hội
Q ua nghiên cứu các ch ế định m iễn hình phạt và m iễn trách nhiệm hình
sự trong luật h ìn h sự V iệt N am cho thấy giữa chúng có m ột số điểm giống
nhau như sau [33, tr 20-21]: a) c ả hai đều là những ch ế định thể hiện rõ nguyên
tắc nhân đạo trong chính sách hình sự nói chung và của luật hình sự V iệt N am
nói riêng; b) C húng chỉ có thể áp dụng đối với người nào bị coi là có lỗi trong
việc thực hiện chính tội phạm đó và áp dụng khi có đầy đủ căn cứ ph á p lý và
những điều kiện cụ thể tương ứng trong từng trường hợp cụ thể do luật định;
Trang 20c) Cũng như người được m iễn trách nhiệm hình sự, người được m iễn hình phạt
không p h ả i chịu hậu quả pháp lý bất lợi của việc phạm tội hoặc (và) của việc quyết định hình phạt đó là án tích và; d) Với việc áp dụng m iễn trách nhiệm
hình sự hoặc m iễn hình phạt, N hà nước không buộc cách ly khỏi xã hội những người đã phạm tội ra khỏi đời sống xã hội
Tuy nhiên, bên cạnh các điểm giống nhau đã nêu trên, giữa chúng còn
có m ột số điểm khác nhau như sau: a) Biện pháp m iễn trách nhiệm hình sự
được quy định trong Bộ luật hình sự cụ th ể hơn biện pháp m iễn hình phạt: nếu
Bộ luật hình sự năm 1999 hiện hành của nước ta có ba điều luật quy định về miễn hình phạt thì có đến bảy điều luật q u y định về m iễn trách nhiệm hình sự
với chín trường hợp m iễn trách nhiệm hình sự, bao gồm: Điều 19, Điều 25, Điều 69, Đ iều 80, Điều 289, Đ iều 290, Đ iều 314 Bộ luật hình sự năm 1999; b) Hai biện pháp này cũng khác nhau về m ức độ khoan hồng: nếu người được miễn hình phạt khi họ chưa đến mức được m iễn trách nhiệm hình sự, thì người được m iễn trách nhiệm hình sự lại đương nhiên được miễn hình phạt; c) Dưới
góc độ pháp luật hình sự thực định và thực tiễn áp dụng cho thấy hành vi phạm tội và nhân thân của người được m iễn hình phạt thông thường đều nguy hiểm hơn so với hành vi p h ạ m tội và nhân thân của người được m iễn trách nhiệm
hình sự; d) N ếu việc áp dụng m iễn hình phạt đối với người bị kết án chỉ có thể
và phải do m ột cơ quan duy nhất áp dụng là T òa án, thì trong khi đó miễn trách
nhiệm hình sự đối với người phạm tội, ngoài Tòa án có thẩm quyền áp dụng ra còn có thể do Cơ quan điều tra với sự phê chuẩn của Viện kiểm sát hoặc Viện kiểm sát áp dụng trước khi xét xử tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự cụ thể tương ứng và; đ) N ếu người được miễn trách nhiệm hình sự đương nhiên không phải chịu các hậu quả pháp lý hình sự bất lợi của việc phạm tội do mình thực hiện (như: không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không phải chịu hình phạt hoặc biện pháp cưỡng chế về hình sự khác, không bị coi là có án tích và không bị coi là có tội), nhưng thực tiễn xét xử cho thấy, người được m iễn trách nhiệm hình sự vẫn
có thể phải chịu m ột hoặc nhiều biện pháp tác động về mặt pháp lý thuộc các
Trang 21ngành luật tương ứng khác (Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 về việc
Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự của Hội đồng thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao) Trong khi đó, người được miễn hình phạt đương nhiên
được xóa án tích (khoản 1 Điều 64), nhưng trên thực tế, họ vẫn có thể bị áp dụng
các biện pháp tư pháp (chung) được quy đinh trong pháp luật hình sự thực định
(các điều 41-43 Bộ luật hình sự năm 1999) tùy từng trường hợp tương ứng
3) Phân biệt miễn hình phạt với miễn chấp hành hình phạt. G iốn g
n h ư c h ế định m iễn hình phạt, m iễn chấp hành hình phạt cũng là m ột chế định
phản ánh nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự V iệt N am và được thể hiện ở
chỗ Tòa án sau khi quyết định hình phạt nhất định nào đó trong bản án kết tội
có hiệu lực pháp luật đối với người bị kết án, nhưng sau đó không buộc người
này phải chấp hành hình p hạt ấy khi có đầy đủ những điều kiện do luật định
X em xét các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 cho thấy căn cứ và những
điều kiện áp dụng c h ế định này được quy định cụ thể và rõ ràng tại Điều 57
của Bộ luật với năm trường hợp tương ứng.
T rên cơ sở nghiên cứu m iễn hình phạt và m iễn chấp hành hình phạt
cho thấy chúng có m ột số điểm giống nhau như sau: a) Cả hai đều là những
c h ế định n h ân đạo của luật hình sự Việt N am ; b) Chỉ được áp dụng khi có đầy
đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện do luật định và; c) Đ ối tượng bị áp dụng
các c h ế đ ịn h này là người bị k ết án (người bị coi là có tội theo bản án kết tội
có hiệu lực pháp luật của Tòa án)
N goài ra, giữa chúng cũng có một số điểm khác nhau như sau: a) Khi xét
xử áp dụng ch ế định m iễn hình phạt thì người bị kết án không bị quyết định bất
kỳ hình phạt nào trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án, còn khi áp
dụng chế định miễn chấp hành hình phạt, người bị kết án khi xét xử đã bị Tòa án
quyết định m ột hình phạt nào đó đối với họ trong bản án kết tội đã nêu; b) Tại Bộ
luật hình sự năm 1999, c h ế định miễn hình phạt được quy định tại ba điều luật
bao gồm: Đ iều 54, Điều 69 và Điều 314, còn m iễn chấp hành hình phạt được quy
Trang 22định tại Điều 57 (như đã nêu trên); c) Khi được áp dụng chế định miễn hình phạt,
người bị kết án đương nhiên được xóa án tích theo luật định (khoản 1 Điều 64),
còn nếu bị áp dụng chế định miễn chấp hành hình phạt thì người bị kết án vẫn
phải chịu án tích; d) v ề thẩm quyền áp dụng miễn hình phạt và miễn chấp hành
hình phạt đều do duy nhất một cơ quan có thẩm quyền áp dụng là Tòa án, nhưng
khác với miễn hình phạt, luật quy định có m ột số trường hợp việc miễn chấp
hành hình phạt cho người phạm tội phải theo đ ề nghị của Viện trưởng Viện kiểm
sát (khoản 1, 3, 4 Điều 57) hoặc theo đ ề nghị của chính quyền địa phương nơi
người đó chấp hành hình phạt (khoản 5 Điều 57), thì Tòa án mới có cơ sở để
quyết định m iễn chấp hành hình phạt đối với người bị kết án và; đ) v ề trình tự tố
tụng, đối với người được miễn hình phạt thì Tòa án sau khi tuyên tội danh, căn cứ
vào những điều kiện luật định miễn hình phạt luôn cho họ chứ không ra quyết
định hình phạt, còn đối với người được miễn chấp hành hình phạt thì Tòa án
tuyên tội danh, rồi có ra quyết định hình phạt đối với người phạm tội, trong quá
trình thi hành quyết định hình phạt của Tòa án người phạm tội mới được miễn
chấp hành hình phạt khi đủ căn cứ pháp lý và điều kiện luật định
4) Phân biệt miễn hình phạt với án treo. Đ iều 60 Bộ luật hình sự năm
1999 quy định: "K hi x ử p h ạ t tù không quá ba năm , căn cứ vào nhân thân của
người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp
hành hình p h ạ t tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ
một năm đến năm năm ” Theo đó, án treo là biện pháp miễn chấp hành hình
phạt tù có điều kiện, được áp dụng đối với người phạm tội khi có đủ những điều
kiện luật định.
N hư vậy, giữa miễn hình phạt và án treo có những điểm giống nhau như:
a) Cả hai đều là biện pháp tha miễn mang tính chất nhân đạo của pháp luật hình
sự V iệt N am , thể hiện sự khoan hồng của N hà nước đối với người phạm tội;
b) Chúng được áp dụng khi người phạm tội có đầy đủ căn cứ pháp lý và những
điều kiện luật đ ịn h và; c) Do Tòa án áp dụng đối với người bị kết án tại m ột
bản án kết tội có hiệu lực pháp luật
Trang 23M ặc dù vậy, giữa chúng cũng có m ột số điểm khác nhau: a) Nếu như
người được m iễn hình phạt không phải chịu bất kỳ m ột hình phạt nào kể từ khi
T òa án tuyên áp dụng chế định miễn hình phạt đối với họ thì đối với người được
hưởng án treo có thể vẫn phải chịu hình phạt tù về tội đã phạm nếu trong thời
gian thử thách họ lại phạm tội mới Người được hưởng án treo chỉ thực sự được
m iễn chấp hành hình phạt tù khi họ đã trải qua m ột thời gian thử thách nhất
định N hư vậy, điểm khác biệt cơ bản giữa m iễn hình phạt và án treo là điều
kiện về thời gian thử thách kèm theo đối với người được m iễn và; b) N ếu án
treo chỉ được áp dụng chủ yếu (mặc dù luật không quy định rõ) đối với người
phạm m ột tội ít nghiêm trọng, thì miễn hình phạt lại có thể được áp dụng không
chỉ đối với người phạm tội ít nghiêm trọng m à được áp dụng đối với cả người
phạm tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng (lẽ dĩ
nhiên thực tế ít hoặc không áp dụng)
1.2 LƯỢC KHẢO S ự HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN c ủ a c á c q u y PHẠM VỂ MIỄN HÌNH PHẠT TRONG LUẬT HÌNH s ự VIỆT NAM TỪ SAU
CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 CHO ĐẾN NAY
1.2.1 G iai đoạn từ sau C ách m ạng tháng Tám năm 1945 đến pháp điển hóa lần thứ nhất - Bộ luật hình sự năm 1985
Ở nước ta, đến lần pháp điển hóa lần thứ nhất luật hình sự V iệt N am
bằng việc thông qua Bộ luật hình sự năm 1985, miễn hình phạt mới được ghi nhận
chính thức như là một chế định độc lập trong m ột văn bản pháp lý có hệ thống và
đồng bộ (Bộ luật), nhưng nó vẫn được quy định chung điều luật (riêng nội dung
tách ra thành m ột khoản) cùng với chế định miễn trách nhiệm hình sự tại Bộ luật
này (khoản 2 Điều 48), còn trước đó thực tiễn xét x ử và m ột số văn bản pháp lý
đặc biệt và vận dụng (lựa chọn) biện pháp này hay biện pháp khác (như: xử nhẹ,
miễn tội, m iễn trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ hình phạt; v.v ) để linh hoạt trong
từng trường hợp cụ thể tương ứng Có thể kể đến m ột số văn bản thời kỳ trước
khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 có đề cập đến vấn đề miễn hình phạt như:
Trang 241) Thông tư số 556-TTg ngày 24/12/1958 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường lãnh đạo đối với việc bắt giữ, truy tố và xét xử;
2) Bản tổng kết và hướng dẫn số 329-HS2 ngày 11/5/1967 của Tòa án nhâr dân tối cao về đường lối xử lý với tội hiếp dâm và các tội phạm khác về
7) Pháp lệnh trừng trị các tội hối lộ ngày 20/5/1981;
8) Pháp lệnh trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái }hép ngày 10/7/1982;
9) K ết luận của Chánh án T òa án nhân dân tối cao tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Tòa án năm 1988;
10) T hông tư liên ngành số 05/TTLN ngày 2/6/1990 của Bộ Nội vụ,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành chính sách đối với người phạm tội ra tự thú
Đến lần pháp điển hóa lần thứ hai luật hình sự Việt N am bằng việc thông qua Bộ luật hình sự năm 1999, các quy định về m iễn hình phạt cũng đã được sửa đổi, bổ sung và tiếp tục hoàn thiện, m à cụ thể c h ế định này đã được ghi nhận tại
m ột điều luật riêng biệt trong Phần chung của Bộ luật hình sự (Điều 54)
N hư đã nêu trên, tuy không được chính thức quy định với tính chất là mội c h ế định độc lập trong Bộ luật hình sự (trước năm 1985) nhưng biện pháp
m iễi hình phạt đã được áp dụng trong thực tiễn và ghi nhận trong m ột số văn
Trang 25bản p h á p lý, đổng thời với ý nghĩa là biện pháp khoan hồng đặc biệt để lựa
chọn giữa nó với một số biện pháp khoan hồng khác Sơ đĩ trong pháp luật hình
sự thực định có ghi nhận và thực tiễn xét x ử có áp dụng nó là xuất phát từ nguyên
tắc nhân đạo trong chính sách hình sự của N hà nước nói chung và của luật
hình sự V iệt N am nói riêng, từ quan điểm cho rằng việc truy cứu trách nhiệm
hình sự, xử phạt về hình sự hay việc áp dụng trách nhiệm hình sự và hình phạt
đối với người phạm tội m ặc dù là rất quan trọng trong việc bảo vệ pháp chế,
củng cố trật tự pháp luật và giữ gìn an ninh trật tự xã hội, song không phải là
biện pháp duy nhất m à đòi hỏi "ngày càng m ở rộng các biện p h á p tác động x ã
hội khác đ ể đấu tranh phòng và chống tội phạm " [56, tr 10] M ặt khác, miễn
hình phạt cùng với các biện pháp tha miễn trách nhiệm hình sự và hình phạt khác
được áp dụng trong thời kỳ này chủ yếu để thực hiện phương châm trong đường
lối xử lý, đó là "nghiêm trị kết hợp với khoan hồng", "trừng trị kết hợp với giáo
dục cải tạo" Tuy nhiên, do yêu cầu bảo vệ nền độc lập và trật tự an toàn xã
hội của N hà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mới ra đời nên chưa quy định cụ
thể m à các điều kiện áp dụng m iễn hình phạt được xác định tương tự như các
điều kiện x ử nhẹ hoặc m iễn trách nhiệm hình sự được quy định trong một số điều
luật tại các văn bản pháp lý khác nhau, dưới đây chúng ta sẽ lần lượt xem xét
- Thông tư số 556-TTg ngày 24/12/1958 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường lãnh đạo đối với việc bắt giữ, truy tố và xét xử khi đề cập đến
đường lối xử lý các bọn phản cách m ạng đã nêu rõ:
Chính sách của chúng ta trước sau vẫn là: nghiêm trị kết hợp với khoan hổng Nghiêm trị bọn chủ mưu, thủ ác, bọn ngoan c ố kiên
quyết chống lại ta Khoan hồng đối với k ẻ thật thà hối cải, đối với k ẻ
lầm đường, k ẻ bị ép buộc, k ẻ bị m ua chuộc Giảm tội hay miễn tội cho
k ẻ lập công chuộc tội Thưởng cho k ẻ lập được công lớn [63, tr 85].
Theo văn bản này, khi đề cập đến chính sách nhân đạo đối với kẻ phạm
tội lập công chuộc tội, N hà nước ta có biện pháp khoan hồng đặc biệt là giảm
tội và m iễn tội, còn miễn hình phạt vẫn chưa được quy định.
Trang 26- Bản Tổng kết và Hướng dẫn số 329-HS2 ngày 11 /5/1967 của Tòa án nhân dân tối cao về đường lối xử lý với tội hiếp dâm và các tội phạm khác về
m ặt tình dục, tại trang 10 có nêu về việc giảm nhẹ hình phạt đối với tội cưỡng
dâm: "Khi tập trung nhiều tình tiết giám nhẹ, hoặc khi có những tình tiết giảm nhẹ đặc biệt, có th ể x ử dưới các mức tối thiểu trên đây, có th ể cho hưởng án treo hoặc đặc biệt có th ể tha miễn hình phạt" [63, tr 118] Theo đó, trong bản
tổng kết và hướng dẫn này, m iễn hình phạt còn được sử dụng với tên gọi là biện
pháp tha m iễn hình phạt.
quy định về âm mưu phạm tội và hành động phạm tội đều bị trừng trị đã nêu rõ
nguyên tắc trừng trị bọn phản cách m ạng là: "N ghiêm trị bọn chủ mưu, bọn cầm đầu, bọn thủ ác, bọn ngoan cô' chống lại cách mạng; khoan hồng đối với những k ẻ bị ép buộc, bị lừa phỉnh, lầm đường và những k ẻ thật thà hối cải; giảm nhẹ hình p h ạ t hoặc miễn hình p h ạ t cho những k ẻ lập công chuộc tội" Trên cơ
sở này, Đ iều 20 của Pháp lệnh đã quy định về những trường hợp giảm nhẹ hình
phạt hoặc m iễn hình phạt như sau:
K ẻ nào p h ạ m tội phản cách m ạng nêu ở m ục 2 mà tội phạm thuộc vào một hoặc nhiều trường hợp sau đây thì được giảm, nhẹ hoặc
4 Có những hành động làm giảm bớt tác hại của tội phạm
5 Phạm tội vì bị ép buộc, bị lừa phỉnh và việc làm chưa gây thiệt hại lớn.
Trang 276 Bị bắt, nhưng trước khi bị xét x ử đ ã tỏ ra thành thật hối cải,
lập công chuộc tội [63, tr 195],
N hư vậy, biện pháp khoan hổng miễn hình phạt đã lần đầu tiên được sử
dụng đúng như với tên gọi của nó trong m ột văn bản pháp lý hình sự là Pháp
lệnh Tuy nhiên, điều kiện để kẻ phạm tội được áp dụng miễn hình phạt cũng
đồng thời là điều kiện để được giảm nhẹ hình phạt, cho nên việc lựa chọn biện
pháp nào lại tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, vào yêu cầu đấu tranh phòng
và chống tội phạm , cũng như vào nhân thân người phạm tội đó
Và sau đó, đến Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ
nghĩa và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân ngày
21/10/1970, m iễn hình phạt vẫn tiếp tục được ghi nhận với ý nghĩa là m ột biện
pháp khoan hổng đặc biệt, cụ thể như sau:
- Đ iều 23 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa
ngày 21/10/1970 quy định những trường hợp xử nhẹ hoặc m iễn hình p h ạ t:
K ẻ nào p h ạ m những tội quy định ở Chương II mà tội phạm thuộc vào m ột hoặc nhiều trường hợp sau đây thì được x ử nhẹ hoặc
4 P hạm tội gây thiệt hại không lớn [17].
- Đ iều 19 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công
dân ngày 21/10/1970 quy định về những trường hợp xử nhẹ hoặc miễn hình p h ạ t:
Trang 28K ẻ nào p hạm những tội quy định ở Chương II mà tội phạm thuộc vào một hoặc nhiều trường hợp sau đây thì được xử nhẹ hoặc
m iễn hình phạt.
1 Tội p h ạ m chưa bị p h á t giác m à k ẻ p hạm tội thành thật tự thú với cơ quan chuyên trách, khai rõ hành động của m ình và của đồng bọn.
2 K ẻ p hạm tội đ ã có hành động ngăn chặn hoặc làm giảm bớt
tác hại của tội phạm
3 Trước khi bị xét xử k ẻ p hạm tội đ ã tự nguyện bồi thường hoặc sửa chữa thiệt hại đ ã gây ra.
4 Phạm tội gây thiệt hại không lớn [16].
Thời gian sau, để kiên quyết đập tan m ọi âm mưu và hành động của bọn phản cách m ạng, đồng thời nhằm bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo đảm an ninh chính trị, thì đường lối trấn áp phản cách m ạng nói chung là phải đồng thời, nghiêm khắc và kiên quyết, song khi xử lý từng vụ án cụ thể cần phải kết
hợp "nghiêm trị với khoan hồng, trừiig trị với cải tạo, giáo dục" nhằm phân hóa
hàng ngũ bọn phản cách m ạng, đè bẹp tư tưởng chống đối và làm tan rã các tổ chức của chúng Do đó, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 03-BTP/TT tháng 4/1976 hướng dẫn thi hành sắc luật quy định về tội phạm và hình phạt vẫn nêu
rõ nguyên tắc xét xử bọn phản cách m ạng là: "N ghiêm trị bọn chủ mưu, bọn cầm đầu, bọn cố nhiều tội ác, bọn ngoan c ố chống lại cách mạng; khoan hồng đối với những k ẻ bị ép buộc, bị lừa phỉnh, lầm đường và những k ẻ thật thà hối cải; giảm nhẹ hình phạt hoặc m iễn hình p h ạ t cho những k ẻ lập công chuộc tội".
V à từ sau ngày m iền N am mới giải phóng, trong bối cảnh các thế lực thù địch khác vẫn đang bao vây và cấm vận, đồng thời chúng ta phải đối phó
với hai cuộc chiến tranh ở biên giới Tây N am và phía Bắc N goài ra, "đất nước còn p h ả i đ ố i m ặt với những khó khăn chồng chất và gay gắt vê kinh t ế và đời sống, tình hình tiêu cực, nhất là tệ nạn hôi lộ diễn biến phức tạ p " [61, tr 123].
Trang 29Cho nên, trước tình hình đó, ngày 20/5/1981, ủ y ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ Sự ra đời của Pháp lệnh này là một sự kiện pháp lý quan trọng, góp phần củng cố, giữ vững và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, động viên và khuyên khích tất cả công dân tích cực tham gia đấu tranh chống tệ hối lộ và những hiện tượng tiêu cực khác trong xã hội M ột mặt, Pháp lệnh thể hiện tinh thần đấu tranh rất kiên quyết, triệt để và m ạnh mẽ đối với tội hối lộ dưới mọi hình thức như: nhận hối lộ, đưa hối lộ, m ôi giới hối lộ, nhưng m ặt khác cũng thể hiện sự phân hóa rõ ràng trong đường lối xử lý Cụ
thể, trong Pháp lệnh vẫn ghi nhận biện pháp khoan hổng miễn hình phạt tại
Đ iều 8 bên cạnh hai biện pháp khác là miễn trách nhiệm hình sự và giảm nhẹ hình phạt, cụ thể:
1 Người p h ạ m tội hối lộ, trước khi bị p h á t giác, chủ động khai rõ sự việc, giao nộp đầy đủ của hối lộ, thì cố th ể được miễn trách nhiệm hình sự; nếu là phạm tội nghiêm trọng thì có th ể được giảm nhẹ hình phạt.
2 Người p h ạ m tội hối lộ, sau khi bị p h á t giác, tỏ ra thành thực hối cải, khai rõ s ự việc, giao nộp đầy đủ của hối lộ thì cố th ể được giảm nhẹ hình phạt.
3 Người p h ạ m tội lần đầu và không nghiêm trọng, sau khi bị
p h á t giác tỏ ra thành thực hối cải khai rõ sự việc, giao nộp đầy đủ của hối lộ, thì có th ể được miễn hình phạt.
T ừ năm 1979-1980, trong nước ta tình hình tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả và kinh doanh trái phép diễn biến đa dạng và phức tạp, làm ảnh hưởng trực tiếp đến k ế hoạch của N hà nước và đời sống của nhân dân, cũng như gây rối loạn thị trường Tuy nhiên, trong đường lối xử lý cũng có sự phân hóa - hoặc
để nghiêm trị, hoặc để khoan hồng Để khoan hồng, N hà nước vẫn có những biện pháp đã nêu, trong đó có m iễn hình phạt và nó được quy định tại Điều 10 Pháp lệnh trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép
ngày 10/7/1982 Theo đó: "1 T ộ i p hạm chưa bị p h á t giác m à người phạm tội
Trang 30thành thật thú tội với cơ quan nhà nước, khai rõ hành động của m ình và đồng bọn thì có th ể được m iễn hình phạt; nếu p hạm tội nghiêm trọng thì được giảm nhẹ hình phạt " [18].
N hư vậy, trong giai đoạn này xét về mức độ nhân đạo thì miễn hình phạt
là biện pháp khoan hồng đặc biệt cùng với các biện pháp tha miễn trách nhiệm hình sự và hình phạt khác trong luật hình sự V iệt Nam Tuy nhiên, việc lựa chọn biện pháp này hay biện pháp m iễn tội, giảm tội, xử nhẹ, miễn trách nhiệm hình
sự, giảm nhẹ hình phạt, th a m iễn hình phạt để áp dụng trong trường hợp cụ thể thì ngoài việc áp dụng điều kiện quy định trong từng điều luật tương ứng
ra, còn phải dựa vào các điều kiện khác nữa, ví dụ: chính sách, đường lối, chủ trương của Đ ảng và N hà nước trong từng thời điểm , hoàn cảnh lịch sử, các yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm từng nơi, từng lúc và đối với lừng vụ
án cụ thể, đặc biệt là đối với các vụ phản cách m ạng, chống phá N hà nước hay xem xét về nhân thân người phạm tội Chính vì vậy, có thể khẳng định rằng đây cũng là điều kiện "linh hoạt" của biện pháp m iễn hình phạt với các biện
pháp khoan hồng khác của N hà nước ta thời kỳ đó và, "còn th ể hiện trong luật hình sự nước ta nội dung "m ềm dẻo" của c h ế định này" [56, tr 11].
Trên cơ sở tổng k ết nghiên cứu các văn bản pháp luật hình sự đã ban hành trong thời kỳ này cho thấy, để áp dụng ch ế định m iễn hình phạt cho người phạm tội có thể bao gồm các trường hợp sau đây:
1) Có âm mưu phạm tội nhưng tự nguyện nửa chừng chấm dứt việc phạm tội;
2) Trước khi sự việc bị phát giác đã thành thật tự thú khai rõ âm mưu, hành động của m ình và của đồng bọn
3) N gười phạm tội đã có những hành động ngăn chặn, hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm
4) Trước khi bị xét xử, người phạm tội đã tỏ ra thành thật hối cải lập công chuộc tội hoặc tự nguyện bồi thường hoặc sửa chữa thiệt hại gây ra
Trang 315) Phạm tội vì bị ép buộc, lừa phỉnh và việc làm chưa gây thiệt hại lớn hoặc phạm tội có tính chất cơ hội.
1.2.2 G iai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 cho đến nay
N ăm 1985, Bộ lu ật hình sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa V iệt N am ra đời đã đánh dấu m ột bước phát triển mới của pháp luật hình
sự nước ta nói chung, các quy định về miễn hình phạt nói riêng Trong Bộ luật
hình sự đầu tiên này, m iễn hình phạt đã chính thức được quy định tại Phần
chung và Phần các tội phạm Bộ luật hình sự cùng với c h ế định miễn trách
nhiệm hình sự (Đ iều 48 và khoản 2 Điều 247) thể hiện sự vận dụng linh hoạt
trong từng trường hợp cụ thể giữa hai biện pháp đã nêu Theo đó, trong Bộ luật
hình sự năm 1985 (khoản 2 Đ iều 48), trường hợp m iễn hình phạt được quy định
trong Phần chung của Bộ luật này như sau:
Còn trường hợp m iễn hình phạt trong Phần các tội phạm Bộ luật hình sự
năm 1985, khoản 2 Đ iều 247 lại quy định chung việc lựa chọn biện pháp này
với m iễn trách nhiệm hình sự như sau:
ỉ
2 Người không tố giác nếu đ ã có hành động can ngăn người
p hạm tội hoặc hạn c h ế tác hại của tội p hạm thì có th ể được miễn
trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình p h ạ t [5].
N hư vậy, việc quy định biện pháp m iễn hình phạt và m iễn trách nhiệm
hình sự trong các điều luật này cũng do xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo và
chính sách khoan hồng, đồng thời các biện pháp này được đặt ra trong các
Trang 32trường hợp phạm tội nếu xét thấy không cần thiết phải áp dụng trách nhiệm
h ình sự và hình phạt đối với người phạm tội m à vẫn bảo đảm được yêu cầu của phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng, yêu cầu giáo dục và cải tạo người phạm tội H ai c h ế định này thể hiện các mức độ khoan hồng khác nhau, nếu cần thiết thì có thể miễn trách nhiệm hình sự, còn thấy vẫn buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự thì có thể cho m iễn hình phạt
Đ ến năm 1988, trong K ết luận của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Tòa án về vận dụng đường lối xét xử về hình sự trong tình hình giai đoạn đó, có nêu:
Bên cạnh việc kiên quyết trừng trị nghiêm khắc những phần
tử nguy hiểm và những kẻ p hạm những tội đặc biệt nghiêm trọng, cần chú ý vận dụng án treo hoặc loại hình p h ạ t không giam giữ (cải
tạo không giam giữ, cảnh cáo, m iễn hình phạt; V V J đối với những
người lao động nhất thời p h ạ m tội ít nghiêm trọng, hoặc người
p h ạ m tội tuy nghiêm trọng nỉuừĩg đ ã tự thú trước khi C ơ quan điều tra p h á t hiện, hoặc đ ã tự khắc p h ụ c những thiệt hại do hành vi
p h ạ m tội của họ gây ra [64].
Đ ồng thời tại điểm 2 về đường lối xét xử loại tội vi phạm các quy định về
an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng, K ết luận cũng đã chỉ rõ:
C h ỉ nên cho hưởng án treo, hoặc áp dụng hình p h ạ t nhẹ hơn hình p h ạ t tù hay miễn hình phạt trong các trường hợp p h ổ biến chung sau đây:
a ) T a i nạn xả y ra do lỗi hỗn hợp ịnạn nhân có lỗi hoặc do lối của người thứ ba, thí dụ: nạn nhân bị người khác đụng p hải làm nạn nhân n gã ra lòng đường, liền đó xe ôtô cán chết);
b )T a i nạn ch ỉ gây thiệt hại v ề tài sản, hoặc chỉ làm bị thương nhẹ 1, 2 người m ặc dầu lỗi hoàn toàn về lái xe T rừ trường hợp chỉ gây thiệt hại v ề tài sản, tài sản đó có giá trị rất lớn, khi vận chuyển đ ã được giao nhiệm vụ p h ả i bảo vệ chu đáo, không đ ể đ ổ vỡ;
Trang 33c) V ì yêu cầu công tác đột xuất như đi chống bão, lụt, cấp cứu tai nạn; v.v m à lái xe phải làm việc quá căng thẳng, quá m ệt mỏi dẫn đến gây tai nạn;
d) Phương tiện vận tải không an toàn, lái xe đ ã từ chối điều khiển, nhưng chủ phương tiện buộc p h ả i điều khiển thì tùy mức độ lỗi mà quy định trách nhiệm cho lái xe và người điều động phương
tiện [64, tr 88-89].
Bên cạnh đó, để vận dụng linh hoạt cho m ột số đối tượng cụ thể và phạm m ột tội cụ thể, nếu đáp ứng đầy đủ căn cứ và những điều kiện nhất định, thì họ vẫn được xem xét để áp dụng ch ế định m iễn hình phạt Cụ thể, ngày 02/6/1990, Bộ N ội vụ (nay là Bộ Công an), V iện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư liên ngành số 05/TTLN hướng dẫn thi hành chính sách khoan hồng, nhân đạo của N hà nước đối với người phạm tội ra tự thú, trong đó có đề cập việc áp dụng m iễn hình
phạt như sau: "2 N gười p h ạ m tội đ ã bị v h á t hiện m à bỏ trốn, đang bị tru y n ã nhưng đ ã tự thú thì tùy theo m ức độ p hạm tội, thái độ khai báo, v.v cũng được hưởng chính sách khoan hồng, có th ể được Tòa án m iễn hình p h ạ t hoặc giảm nhẹ hình p h ạ t theo quy định tại khoản 2 Đ iều 48 hoặc khoản 3 Đ iêu 38
Bộ luật hình s ứ '
V ề sau, qua bốn lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự thì các quy định
về m iễn hình phạt nói chung vẫn giữ nguyên như quy định trong Bộ luật hình
sự năm 1985 Đ ến lần pháp điển hóa thứ hai - Bộ luật hình sự năm 1999 đã khẳng định chính sách khoan hồng và nhân đạo của Đ ảng và N hà nước ta qua việc quy định cụ thể và rõ ràng hơn về m iễn hình phạt Đ ặc biệt, Bộ lu ật này
còn quy định m ột điều lu ật riêng về m iễn hình phạt có tính chất chung áp
dụng cho m ọi tội phạm tại Đ iều 54, không quy định chung với c h ế định m iễn trách nhiệm hình sự vì nội dung, bản chất pháp lý, căn cứ pháp lý và những điều kiện áp dụng hai ch ế định này là khác nhau N goài ra, trong Bộ luật còn có hai trường hợp m iễn hình phạt khác quy định tại khoản 4 Đ iều 69 và khoản 3
Trang 34Đ iều 314 Theo đó, nội dung các trường hợp m iễn hình phạt được Bộ luật hình
sự năm 1999 quy định cụ thể như sau:
1) "Người phạm tội có th ể được m iễn hình p h ạ t trong trường hợp
p h ạ m tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Đ iều 46 Bộ luật này, đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn trách
nhiệm hình sự" (Đ iều 54);
2) "K hi xét xử, nếu thấy không cần thiết p h ả i áp dụng hình p h ạ t đối với người chưa thành niên p h ạ m tội, thì Tòa án áp dụng m ột trong các biện
p h á p tư p h á p được quy định tại Đ iều 70 của Bộ luật này" (khoản 4 Điều 69).
T heo quan điểm củ a chúng tôi, m ặc dù nhà làm luật nước ta không quy định rõ ràng trong khoản 4 Đ iều 69 nhưng căn cứ vào nội dung của nó thì đây cũng là m ột trường hợp m iễn hình phạt (có kèm điều kiện đối với người chưa thành niên phạm tội;
3) "Người không t ố giác nếu đ ã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn c h ế tác hại của tội piiạm , thì có th ể được m iễn trách nhiệm hình
sự hoặc m iễn hình phạt" (khoản 3 Điều 314).
N h ư vậy, ch ế định m iễn hình phạt trong Bộ luật hình sự năm 1999 được nhà làm luật nước ta quy định rõ ràng và cụ thể, chặt chẽ và đầy đủ C hế định này có thể được áp dụng đối với m ột tội phạm (khoản 3 Đ iều 314) hoặc tất cả các tội phạm (Đ iều 54), áp dụng với người chưa thành niên phạm tội (khoản 4 Đ iều 69) hoặc người đã thành niên phạm tội, hay được quy định trong Phần chung (Điều 54 và khoản 4 Đ iều 69) hoặc Phần các tội phạm của
cứ pháp lý và những điều kiện cụ thể khác nhau tùy từng trường hợp tương
ứng Nói chung, những trường hợp để áp dụng c h ế định m iễn hình phạt trong các văn bản pháp lý hình sự trước đây đều được nhà làm luật nước ta cụ thể hóa thành các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1
Đ iều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 hiện hành Tuy nhiên, so với trước đây, việc áp dụng ch ế định m iễn hình phạt quy định chặt chẽ hơn V í dụ: đối với
Trang 35trường hợp m iễn hình phạt được quy định trong Phần chung (Đ iều 54), đòi hỏi
người phạm tội phải có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy
định tại k hoản 1 Đ iều 46 Bộ luật này (hai tình tiết trở lên) kèm theo các điều
kiện khác Lẽ dĩ nhiên, ở đây để áp dụng c h ế định nhân đạo m iễn hình phạt
(có thể ở Phần chung hoặc Phần các tội phạm ), thì ngoài điều kiện về các tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định trong luật (đã nêu), các Tòa
án khi áp dụng còn phải căn cứ vào nhân thân người phạm tội và điều quan
trọng là xét thấy không cần thiết buộc phải áp dụng biện pháp cưỡng chế về
h ình sự nghiêm khắc nhất của N hà nước - hình phạt đối với họ m à vẫn bảo
đảm yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm
T ó m lại, v iệ c quy đ ịnh c h ế định m iễn hình phạt trong lịch sử lập pháp
hình sự nước ta trước đây và trong Bộ luật hình sự V iệt N am năm 1999 hiện
h ành (với b a trường hợp trong cả Phần chung và Phần các tội phạm ) có ý
ng h ĩa quan trọng không những trong việc tạo cơ sở pháp lý cho sự kết hợp các
biện pháp cưỡng c h ế hình sự của N hà nước với các biện pháp khoan hồng đặc
biệt, các b iện pháp tác động xã hội trong việc giáo dục, cải tạo người phạm
tội, giúp họ trở thành người lương thiện có ích trong xã hội, m à qua đó còn là
"m ột cách hiệu nghiệm của việc thực hiện tốt nguyên tắc không đ ể lọt tội
p h ạ m và người p hạm tội" [71, tr 268], cũ n g như góp phần nâng cao hiệu quả
công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm
1.3 CÁC QUY ĐỊNH VỂ MIÊN HÌNH PHẠT TRONG PHÁP LUẬT HÌNH
Sự MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
M iễn hình phạt ỉà m ột trong những c h ế định nhân đạo của chính sách
hình sự nói chung, trong pháp luật hình sự nhiều nước trên th ế giới nói riêng
trong đó có V iệt N am , thể h iện sự khoan hồng, độ lượng của N hà nước đối với
người phạm tội và hành vi do họ thực hiện, đổng thời nhằm động viên, khuyến
khích người phạm tội lập công chuộc tội, chứng tỏ khả năng tự giáo dục, cải
tạo nhanh chóng và tạo điều kiện cho họ sớm tái hòa nhập với cộng đồng, trở
thành người có ích cho gia đình và cho xã hội Trong pháp luật hình sự Việt
Trang 36N am cũng như nhiều nước trên th ế giới đã ghi nhận c h ế định này trong Bộ luật
h ình sự với những quy định rõ ràng và các điều kiện cụ thể đê áp dụng đối với
người phạm tội Có thể kể đến m ột số nước có quy định c h ế định m iễn hình
phạt trong pháp luật hình sự như: Liên bang N ga, Cộng hòa Pháp, Cộng hòa
L iên bang Đức, N hật Bản, Thụy Điển; v.v C hính vì vậy, trong phạm vi phần
này chúng ta sẽ lần lượt xem xét những nét cơ bản về các quy định của ch ế
định m iễn hình phạt trong pháp luật hình sự của m ột số nước đó
Bộ luật hình sự L iên bang N ga năm 1996 có hiệu lực từ ngày 01/3/1996
cho thấy c h ế định miễn hình phạt được quy định tại Chương 12 (các điều 80-84)
trong Phần IV - "Miễn trách nhiệm hình sự và m i ễ n hình phạt" Theo đó,
Chương 12 có tên gọi là ''M iễn hình phạt'' với năm điều luật tương ứng với nội
dung như sau [58, tr 71-73]:
1) M iễn chấp hành p h ẩ n hình p h ạ t còn lại c ó điều kiện (Điều 80):
"người đang chấp hành hình phạt lao động cải tạo, hạn c h ế phục vụ trong quân
đội, hạn c h ế tự do, giữ ở đơn vị kỷ luật của quân đội hoặc phạt tù, có thể được
m iễn chấp hành phầ n hình p h ạ t còn lại, nếu Tòa án thấy rằng họ có thể tự cải
tạo m à không cần phải chấp hành toàn bộ hình phạt" T rong trường hợp này
người bị kết án có thể được m iễn m ột phần hoặc toàn bộ hình phạt bổ sung
K hi m iễn chấp hành phần hình phạt còn lại, T òa án có thể buộc người
bị kết án thực hiện những ng h ĩa vụ nhất định trong thời gian của phần hình
phạt còn lại, như:
a) K hông được thay đổi nơi thường trú m à không thông báo cho cơ
quan N hà nước có thẩm quyền thực hiện việc cải tạo người bị kết án;
b) K hông được đến ở những địa phương nhất định;
c) Phải điều trị nghiện rượu, m a túy hoặc bệnh hoa liễu;
d) Phải chăm lo đời sống gia đình
T òa án có thể buộc người bị kết án thực hiện thêm những nghĩa vụ
khác giúp họ cải tạo tốt hơn
Trang 372) T h a y phần hình p h ạ t chưa chấp hành bằng loại h ì n h ph ạ t khác nhẹ hơn: "người đang chấp hành hình phạt tù về tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng có thể được Tòa án thay ph ầ n hình p h ạ t chưa chấp hành bằng
m ột hình p h ạ t nhẹ hơn sau khi xem xét tư cách của người này trong thời gian
chấp hành hình phạt " và "phần hình phạt chưa chấp hành có thể được thay bằng hình phạt nhẹ hơn sau khi người bị kết án thực tế chấp hành được ít nhất
là 1/3 thời h ạn hình phạt " (khoản 1-2 Đ iều 81)
3) M iễn hình p h ạ t do bệnh tậ t: "người sau khi phạm tội đã m ắc bệnh
tâm thần làm m ất khả năng nhận thức tính nguy hiểm của hành vi của m ình
hoặc khả năng điều khiển hành vi đó thì được m iễn hình phạt, còn đối với người đang chấp hành hình phạt thì được m iễn chấp hành p h ầ n hình p h ạ t còn
lại " Đối với những người này Tòa án có thể quyết định biện pháp bắt buộc chữa bệnh (khoản 1 Đ iều 82); hoặc "người sau khi phạm tội đã m ắc bệnh hiểm nghèo gây trở ngại cho việc chấp hành hình phạt thì cũng có thể được
Tòa án m i ễ n c h ấ p h à n h h ì n h p h ạ t " (khoản 2 Điều 82).
4) H oãn chấp hành hình p h ạ t cho p h ụ n ữ có thai và p h ụ nữ nuôi con nhỏ dưới 8 tuổi: "đối với người bị kết án là phụ nữ có thai và phụ nữ đang nuôi
con nhỏ dưới 8 tuổi, trừ những người bị kết án tù trên năm năm về tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm thân thể, Tòa án có thể
cho hoãn chấp hành hình p h ạ t đến khi đứa bé đủ 8 tuổi (khoản 1 Đ iều 83).
5) M iễn chấp hành hình p h ạ t do đ ã hết thời hiệu thi hành bản án kết tội', "người bị kết án được m iễn chấp hành hình p h ạ t, nếu bản án kết tội không
được thi hành đã qua những thời hạn nhất định sau đây " (khoản 1 Điều 84)
N h ư vậy, Bộ luật hình sự Liên bang N ga thể hiện sự tiến bộ là đã ghi
nhận và điều chỉnh ch ế định m iễn hình p h ạ t tại m ột Chương riêng trong Bộ
luật này, nhưng lại chưa có sự thống nhất, thể hiện ở chỗ: m ặc dù tên Chương
12 là "M iễn hình p h ạ t" nhưng nội dung của các điều luật tương ứng trong Chương này ngoài đề cập đến m iễn hình p h ạ t còn đề cập đến cả m ột số biện
Trang 38pháp khác - m iễn chấp hành hình phạt, thay phần hình phạt chưa chấp hành bằng loại hình phạt khác nhẹ hơn, hoãn chấp hành hình phạt
Trong khi đó, các biện pháp này được Bộ luật hình sự V iệt N am năm
1999 quy định tại m ột số điều luật cụ thể khác nhau (các điều 54, 57 và 61 Bộ luật hình sự V iệt N am năm 1999)
N goài ra, nếu do đ ã hết thời hiệu thi hành bản ấn kết tội được nhà làm luật nước này khẳng định đó là trường hợp miễn chấp hành hình p h ạ t (Điều 84),
trong khi đó nhà làm luật nước ta vẫn "bỏ lửng" chưa điều chỉnh trường hợp người phạm tội được hưởng thời hiệu thi hành bản án hình sự (Đ iều 55) thì
không biết biện p h á p áp dụng đối với họ có tên gọi là gì.
Cũng tại Phần chung Bộ luật hình sự L iên bang N ga còn có hai trường hợp m iễn hình phạt nữa, đó là:
6) M i ễ n h ì n h p h ạ t c h o n g ư ờ i p hạm t ộ i do đ ạ i xá: "Bằng văn bản đại
xá, những người phạm tội có thể được m iễn trách nhiệm hình sự N hững người
bị kếl án có thể được m iễn hình p h ạ t hoặc hình phạt đối với họ có thể được lú i
ngắn hoặc thay bằng hình phạt nhẹ hơn " (khoản 2 Đ iều 85) Trong trường hợp đại xá, pháp luật hình sự V iệt N am chỉ quy định áp dụng biện pháp m iễn
chấp hành hình phạt chứ không coi đây là m ột trường hợp m iễn hình phạt.
7) M iễn hình p h ạ t cho người chưa thành niên p h ạ m tội: "Người chưa
thành niên bị kết án về tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng có thể được Tòa án m iễn hình phạt và áp dụng biện pháp giáo dục bắt buộc quy định tại khoản 2 Đ iều 91 Bộ luật này" (khoản 1 Đ iều 93) và trường hợp "người chưa thành niên bị kết án về tội nghiêm trọng có thể được Tòa án m i ễ n hình phạt nếu
thấy rằng m ục đích của hình phạt chỉ có thể đạt được bằng cách đưa người bị kết
án vào cơ sở giáo dục hoặc chữa bệnh dành riêng cho người chưa thành niên Thời hạn ở lại cơ sở này không được vượt quá thời hạn tối đa của hình phạt được quv định tại Bộ luật này đối với tội đã phạm" (khoản 2 Điều 93) Riêng về trường hợp này, mặc dù nhà làm luật nước ta chưa ghi nhận rõ người chưa thành niên phạm tội được m iễn hình phạt, nhưng căn cứ vào nội dung điều luật về nội
Trang 39dung này (khoản 4 Điều 69 Bộ luật hình sự năm 1999) cho thấy đây là m ột
trường hợp m iễn hình p h ạ t có điều kiện đối với người chưa thành niên phạm tội (khoản 4 Đ iều 69 quy định "Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết p h ả i áp dụng hình p h ạ t đối với người chưa thành niên p h ạ m tội, thì Tòa án áp dụng m ột trong các biện p h á p tư ph á p được quy định tại Đ iều 70 của Bộ luật này”).
Bộ luật hình sự C ộng hòa P háp ban hành năm 1992 có hiệu lực thi
hành ngày 01/3/1994 cũng có quy định về c h ế định m iễn hình phạt (trước đó nhà làm luật nước Pháp đã đưa ch ế định này vào pháp luật hình sự bằng Luật ngày 11/7/1975 M iễn hình phạt được quy định tại Đ iều 132-59 Bộ luật hình
sự với nội du n g như sau: Sau khi tuyên người phạm tội có tội, Tòa án có thể
m iễn toàn bộ h ìn h phạt đối với họ trong lĩnh vực tội vi cảnh và khinh tội, nếu những điều k iện quy định tại Đ iều 132-59 Bộ luật hình sự được thỏa mãn Tuy nhiên, cần phải quyết định tịch thu vật nguy hiểm , có hại, nếu có sau đó quyết định hoặc m iễn hình phạt cho bị cáo (Đ iều 132-58) [68, tr 108] N hư vậy, các
điều kiện để m iễn hình p h ạ t cho bị cáo theo pháp luật hình sự bao gồm:
T h ứ nhất, loại tội để được áp dụng c h ế định này là tội phạm thuộc lĩnh
vực tội vi cảnh và khinh tội;
T h ứ h a i, Tòa án xem xét khả năng tái hòa nhập cộng đồng đã đạt được;
T h ứ ba, thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra đã được sửa chữa, khắc
phục và;
T h ứ tư, sự rối loạn m à tội phạm gây ra đã chấm dứt (Đ iều 132-59).
Do đó, m iễn hình phạt không phải là trường hợp tuyên trắng án hay là phóng thích, đồng thời nó không bao giờ ảnh hưởng tới việc giải quyết về dân
sự, có nghĩa m iễn hình phạt không m iễn trừ việc phải nộp các án phí và nghĩa
vụ bồi thường dân sự (nếu có) của bị cáo V à c h ế định m iễn hình phạt trong pháp luật hình sự Cộng hòa Pháp m ang tính định hướng (m ở) và tùy thuộc vào thẩm quyền đánh giá của Tòa án để quyết định trên cơ sở xem xét các điều kiện đã nêu
Trang 40Bộ luật hình sự C ộng hòa L iên bang Đ ức (1870, Phần chung được biên
soạn mới vào năm 1975), ch ế định m iễn hình phạt vừa được quy định chung vừa được quy định riêng cho những tội phạm n h ất định T heo đó, người ta có thẻ chia thành ba loại m iễn hình phạt: M iễn h ìn h p hạt theo quy định của Điều 46a; theo quy định của Đ iều 60 Bộ luật hình sự và m iễn h ìn h phạt quy định riên g cho trường hợp cụ thể N ội dung cụ thể n h ư sau:
1) Miễn h ì n h ph ạ t theo quy đ ị n h của Đ iều 46a Bộ luật hình sự Theo điều
luật này, người phạm tội bị đe dọa phạt tù không quá 1 năm hoặc phạt tiền không quá 360 ngày lương được m iễn hình phạt trong hai trường hợp sau: a) Đ ã cố gắng dàn xếp với người bị vi phạm và đã chuộc lỗi hoàn toàn hoặc về cơ bản; b) Đ ã cố gắng bồi thường toàn bộ hoặc m ột phần bằng sự nỗ lực lớn củ a chính m ình;
2) M iễn hình p h ạ t theo Đ iều 60 Bộ lu ậ t hình sự T heo điều luật này,
người phạm tội được m iễn hình phạt nếu bản thân tội p h ạm đ ã là hậu quả nặng
nề cho họ và do vậy có thể coi đó cũng là h ìn h phạt đối với họ V iệc áp dụng tiếp hình phạt sẽ là điều không đúng V í dụ: N gười phạm tội gây tai nạn giao thông m à nạn nhân lại chính ỉà con m ình T uy nhiên, chỉ được m iễn hình phạt nếu h ìn h phạt có thể tuyên chỉ từ m ột năm tù trở xuống
3) M iễn hình p h ạ t quy định riêng cho trường hợp cụ thể Đ ây là các
trường hợp m iễn hình phạt cụ thể được quy định cả trong P hần chung và Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự V iệc quy định này là căn cứ vào đặc điểm riêng của trường hợp phạm tội hoặc tội cụ thể và x ét thấy m ức độ vi phạm hoặc m ức độ lỗi có sự giảm nhẹ V í dụ: M iễn h ìn h p h ạt cho trường hợp phạm tội chưa đạt theo khoản 3 Đ iều 23 Bộ lu ật h ìn h sự hoặc m iễn hình phạt cho trường hợp cụ thể của các tội được quy định tại k hoản 4 Đ iều 86, khoản 4
Đ iều 113, khoản 5 Đ iều 129 [40, tr 153-154], [43, tr 139-140]
N h ư vậy, theo pháp luật hình sự Đ ức c h ế đ ịn h m iễn hình phạt chỉ được
áp dụng đối với m ột số tội phạm cụ thể và chỉ áp dụng đối với các tội ít nghiêm trọng hoặc là các tội phạm m à chủ thể thực h iện th u ộ c trường hợp đặc biệt, đáng được khoan hồng N goài ra, về trường hợp m iễn hình phạt quy định