Các truyên thuyêt, cổ tích, thơ - văn xuôi, truyện ph ú ng dụ, các biểu tượng lãng mạn, các m ot ip chủ đạ o của tác phẩm được các nhà văn tường giải theo cách lãng mạn, rốt cu ộ c là là
Trang 2B Á O C Á O T Ó M T Ắ T
Đ È T À I K H C N C Á P ĐẠ I H Ọ C Q U Ó C G I A H À N Ộ I
vlà sổ: QX 05-20
rhủ trì đề tài: Ths Ng uy ễn Thị Thu Thủy
Khoa Văn học, trường ĐH K H X H & N V , Đ H Q G H N
Tông quan các vân đê nghiên cứu:
- Đe tài xác định ban chât của những xu hướng lãng mạn trong văn học Nga cuối thế kỷ XIX: đó là sự hồi sinh của chủ nghĩa lãng mạn hay là chủ nghĩa hiện tiực man g nh ữ n g phâm chât mới?
- Đê tài tập trung vào một số tác gia tiêu biêu nh ư Turgenev, Lexcov, Garsin, Korolenco, Gorki, trong đó đặt ra hai vấn đề chính liên quan đến sáng tác:
’ấn đề lựa chọn kiêu nhân vật trung tâm và vấn đề lựa chọn hình thức thể loại cho
úc phẩm
- Đe tài cung câp bản dịch một số tác phâm tiêu biếu của những nhà văntên
1 Ket qu ả nghiên cứu:
- C h ú n g tôi d ù n g thuật ngừ cái lãng mạn (phân biệt với chủ nghĩa lãng mạn)
cê chỉ n h ữ n g trường hợp kể thừa của chủ nghĩa hiện thực đối với thi pháp của chủ rghĩa lãng mạn Bản chất của nhữ ng xu hướng lãng mạn trong văn học Ng a cuối tie kỷ XIX chính là sự kế thừa truyền thong lãng mạn trên các phương diện chủ
CE, nhân vật, các thủ pháp nghệ thuật
- Mặc dù đôi tư ợn g nghiên cứu bao gồm cả sáng tác của Turgenev, Lexcov, Corki, song Garsin và Korolenco được chún g tôi coi là hai nhà văn tiêu biểu nhất CIO nh ữ n g xu hư ớn g lãng mạn này
Trong tác phẩm c ủ a Garsin truyền thống của chu nghĩa lãng mạn được kế
t iừ a rõ n é t: m à u sắc k ỳ ả o , c ổ t í c h c ủ a c ố t t r u y ệ n , c h ấ t b i k ị c h c ủ a s á n g tá c tư ơ n g
đìng với W e l t s c h m e r z y (“nỗi buồn th ế giới”), còn nhân vật đều là những con n;ười lãng mạn, mang đầy chất anh hùng, là “những kẻ điên rồ cô đơn, m ơ ước hiy diệt cái ác th ế giới”
Korolenco còn đi xa hơn trên con đường sử dụng truyền thống lãng mạn tong sáng tác Quan niệm rằng “ngày nay chủ nghĩa lãng mạn không thể hồi sinh nột cách trọn vẹn”, Korolenco đã tích cực sứ d ụ ng các truyền thống lãng mạn
t nng việc xây dựn g nhản vật Nhân vật cua ôno, là những “ anh h ù n e ” - anh hùng
Trang 3của quần chúng C ác biếu tượng ánh sáng, màu sắc, âm thanh trong tác phâm của
Korolenco gần gũi với m ỹ học lãng mạn của Schellinh, Schleghel, Hugo, Novalis
cảm hứng và cách xây d ự n g nhân vật, mà cả trong cách lựa chọn hình thức thể loại
cho tác phâm Các truyên thuyêt, cổ tích, thơ - văn xuôi, truyện ph ú ng dụ, các biểu
tượng lãng mạn, các m ot ip chủ đạ o của tác phẩm được các nhà văn tường giải theo
cách lãng mạn, rốt cu ộ c là làm sâu sắc hơn, khái quát hơn hình tượng lịch sử cụ thê
của một hiện tại đ a n g vận đ ộ n g đầy mâu thuẫn trong sự cọ xát với một tương lai
phía trước Đối tượng điển hình hóa ở đây khô ng chỉ là hoàn cảnh vật chất, các
điều kiện lịch sử xã hội, m à cả tâm lý - đạo đức của con người trong đời sống tinh
thần của thời đại Tác p h ẩ m vì the có một ý nghĩa “hiện đ ại” và tính cấp bách xã
hội to lớn
Trang 4A B S T R A C T
o f S c i e n c e - T e c h n o l o g v P r o j e c t , V N U l e v e l
C od e number: Ọ X 05-20
Author: Nguyen Thi Thu Thuy, MA
Literature Department, University o f Social Sciences and Humanities, Vietnam National University, Hanoi
charateristics o f realism
- This project focuses on some typical writers such as Turgenev, Lexcov,Garsin, Korolenco, Gorki, with two main questions on their writing: the choice o f type for main characters and o f form genre for works
writers
3 Research results:
where realism inherits poetic o f romantism The nature o f the romantic tendencies
in Russian literature late XIX century is an inheritance o f romantic traditions in spheres o f topics, characters, arts methods
- Although our project includes works by Turgenev, Lexcov, Gorki, we consider Garsin and Korolenco as the most typical writers for these romantic tendencies
In G a r s in ’s works the traditions of romantism are inherited visibly: fantastic and legendary colors o f plot, tragedic elements o f writing are parallel to those of Weltschmcrzy (“the world sorrow” ), his characters are romantic, full of heroism, they arc “ lonely insanes, dreaming of abolishing the world evils”
Korolenco went further in using the traditions o f ro mantism in his writing With the concept “ro mantism can not revive fullv these d a y s ” , Korolenco used romantic traditions actively in creating his characters His characters are “ heroes”- who arc belonging to people The symbols o f lights, colors and sounds in Koro lenc o’s works are close to romantic aesthetics o f Schcllinh, Schleghel, Hugo, Novalis
Trang 5- The cha racteristics o f ro m a n tis m are revealed not only through inspiration and ways of cre ating characters, hut also through genre o f works Legend, fairy
tale, poem in prose, allegory, romantic symbols, leading motives are explained by
the writers in a ro m a n tic way, at last, to deepen and generalize a specific historical
figure in the present, what m ove s contradictorily towards the future ahead Being
made typical are not only ci rc um sta nce s, historical and social conditions, but also
psychology and ethic s o f h u m a n beings in that era The works, therefore, carry a
“m o d e m ” mea ni ng an d are socially timely
Trang 6Mục lục
1 Lý d o c h ọ n đ ê t à i
2 Y nghĩa thực tiền của đề t à i
3 Lịch sử van đ ề
4 Phạm vi và đôi tượng nghiên c ứ u
5 Đóng góp mới cùa đê tài
6 Bố cục công t r ì n h
7 Phương pháp nghiên c ứ u
C h ư ơ n g I N h ữ n g tiền đ ề lí t h u y ế t
1.1 Chủ nghĩa lãng mạn như một hệ thống nghệ th u ật
1.2.Cái lãng mạn - một dạng thức của cảm hứ ng ngh ệ th u ậ t '
C h ư ơ n g II X u h ư ớ n g l ã n g m ạ n v ới v ấ n đề l ựa c h ọ n n h â n v ậ t t r u n g tâm i
2.1 K h ủ n g hoản g trong đời sống xã hội và hành trình tìm kiếm “niềm tin mới” trong văn h ọ c < ■ 2.1.1 Thực trạng văn học dân tú y ^
2.1.2 “Hoạt độ ng làm sạch” của C N H T P P và vấn đề chất anh hùng trong thời đại “kh ô ng có anh hùng ” ^
2.2 Kiểu nhân vật trong sáng tác của Turgenev nh ữ n g thập niên cuối đ ờ i ^
2.2.1 Anh hùn g hóa và lãng mạn hóa hình tượng nhân vật dân chú cách mạng-trí thức bình d â n A 2.2.2 Kiểu nhân vật sống xa rời thực tế trong nhóm truyện “bí â n ” 5
2.3 “Sự điên rồ của nhữ ng con người quả c ả m ”, hay kiểu nhân vật trong sáng tác của V.M G ar si n 6
2.4 Lãng mạn hóa nhân vật trong sáng tác của V G K o r o le n c o 7
2.5 Nhân vật với khát vọng tự do của M G o r k i 7
C h ư ơ n g III Xu h ư ớ n g l ã n g m ạ n v ới v ấ n đ ề l ựa c h ọ n h ì n h t h ứ c t hể loại cho tác p h ẩ m 8
3.1 Truyền thuy ết 8
3.2 Truyện - p h ún g d ụ 9
3.3 Một số motip hình tượng biểu t ư ợ n g 9
3.3.1 Motip “ con đ ư ờ n g ” 9
3.3.2 Motip “ giấc m ơ ” 9
3.3.3 Hình tư ợng âm tha nh 9
K ế t l u ậ n 9
T à i l i ệ u t h a m k h ả o 9
Ph ụ lục (ban dịch một sô truyện ngăn) 1( V.M.Garsin
Trang 7Attalca princeps 103Bông hoa đ ỏ 112V.G.Korolenco
Nghịch lí 130
I X Turgenev
Ngưỡng c ử a 152
Trang 8c h ư a phản ánh được hêt những tìm tòi, nhữ ng phản ứng đa dạng trirớc thời cuộc của các nhà văn giai đoạn khó khăn này Đê góp phần hoàn
kỷ XIX, chúng tôi lựa chọn đê tài giới thiệu một xu hư ớn g phát triên văn học nôi bật giai đoạn đó - xu hướng lâng mạn
1.2 Đối với vãn học Nga, sự hiện diện của những yếu tố, truyền thống lãng mạn, đặc hiệt là trong giai đoạn phát triển của chủ nghĩa hiện thực phê phán thế kỷ 19, luôn làm nên nét đặc sắc của tiến trình văn học sir Vân đề xác định bản chất các hiện tượng đó - sự hồi sinh
c ủ a chủ rmhĩa lãng mạn hay vẫn là chủ nghĩa hiện thực nhưng mang thèm những phẩm chất mới- đã được đặt ra không ít lần trong giới nghiên cứu Nua Và câu irá lời có được, trên thực tố là chưa nhát quán Đé tài cua clúnm tỏi xác định quan diêm của mình vê vấn dề đó
và sẽ khai thác nó từ nóc độ nuhiên cứu uiui đoạn văn học còn chưa được uiói thiệu nhiêu tại Việt Nam - i2,iai đoạn cuôi the kv XIX
2 Y liíỊhĩa thực til'll cùa de tìiv.
Trang 9ó Việt Nam việc nghiên cứu chuyên sáu các tác giá, các hiên tượng văn học Nga chưa có điều kiện được triển khai rộng Trong chương trình giang day ớ bậc đại học và cao đắng, văn học Nga thế kỷ
19 dược giới thiệu một cách khái quát và có dừng lại kỹ hưn ỏ một sô nhà văn hiện thực ticu biếu, song những nét phong cách da dạng của
họ, tuy vậy, cùng vần ch ua được khai thác hết Điều này để ngó nhiều
cơ hội cho những nghiên cứu chuyên biệt hơn vê những tác gia và nhữ ng hiện tư ợng văn học đáng chú ý Một trong sô đó là nghiên cứu
vê những xu hướng sáng tác lãng mụn phút lộ rõ nét từ những năm 80 trải dài qua dầu th ế ký XX tạo nên nét đặc sắc của tiến trình văn học giai đoạn này mà độc giá Việt Nam có thê chưa được biêt tới một cách đây đủ Xét từ góc độ đó, chúng tôi cho rằng đề tài mà chúng tôi thực hiện có ý nghĩa thực tiễn và khoa học cao
XIX, cụ thê là nh ữ ng xu hướng lãng mạn trong đó, chưa được đề cập đến với tư cách là một đối tượng nghiên cứu riêng biệt Trong các cuốn giáo trình, phẩn này chỉ được giới thiệu khái quát dạng như
“c àn g về cuối thế kỷ cuộc đấu tranh cà n g mãnh liệt Văn học trở thành một diễn đàn cách m ạn g đầy hiệu lực mà nhà thơ phải là người côn g dân ” [2; 249], có nghĩa là yêu tô hiện thực trong sáng tác văn học vân được nhân mạnh dặc biệt Tron g sô các nhà văn giai đoạn
Ts ekhov đúng là gương mặt điên hình nhất, và cũng sẽ là một trong các đôi tượng nghiên cứu của chúng tôi trong de tài cúa mình Nhiều côn g trình nghicn cửu vê Tsekhov, chủ yêu dưới hình thức các bài báo, các bài uiới thiệu, dược thực hiện tù' năm 1957 dến nay, dã phân
quan trọim tronn sánu tác Tsekhov iĩiúp nhận diện “cái tạng” , “cái
?
Trang 10hôn”, “cái chât riêng” cua nhà văn này N h ữ n g yêu tô lãng mạn trong tác phàm Tsekhov không đirợc các tác giả gọi ra trực tiêp, song có thê cảm thây chúng đã được gợi nhăc đây đó qua các bình luận kiêu như:
“Cái bê ngoài dứ ng d un g mà người ta cảm thây ở Sekhov chăng qua
là một thu pháp nghệ thuật Còn vê phần minh, trong khi làm ra vẻ
vô nguyên tăc, thực sự ong có niêm tin riêng vào cái quyêt liệt riêng cua mình Lây một vài ví dụ rõ rệt nhât: Nhiêu thiên truyện cùa
chiết trung: “K h ô n g ai biết sự thực là thế n à o ” Nh ư ng đó chỉ là xét
vào ta từng chút một, thì sau khi đọc truyện, người ta lại thảy dựng lên một ảm anh khác: "môi người hãy đi tìm cái sự thực đó vê cuộc
“Đọc ôntí, không ai có thê nghi ngờ niêm tha thiêt với tât cả những biêu hiện cua con người và cái ý tư ởn g đau đáu nơi tác giả: lẽ ra, con người có thê song cao đẹp hơn biết bao, so với hàng ngày họ đã song!” (V ươ ng Trí Nhàn)
Các tác gia khác giai đoạn này đều chưa được nhắc tới trong các
triển của văn học cuối thế kỷ và điểm chung của các công trình đó là đều thừa nhận một khác biệt về chất trong văn học giai đoạn này, điểm khác nhau chi là ớ tên gọi đặt cho hiện tượng đó
Từ góc độ loại hình học của chủ nghĩa lãng mạn, một sô nhà nghiên cứu quan niệm chủ nuhĩa lãng mạn đã phát triển liên tục suốt dọc thế kỷ 19, thậm chí dêìi ca đáu thế kỷ 20, sô' khác lại cho văn học cuôi thê k\ là sự hổi sinh trớ lai của chú nghĩa lãng mạn đầu thế kỷ và
Trang 11gọi đó lù “chú nghĩa lãng mạn mới” , một sô khác nữa gọi đó là những
xu hướng lãng mạn phát trie'll trong lòng chủ nghĩa hiện thực
lãng mạn Nga cuối thế kỷ như là “một nghịch lý” Ông viết: “Chấm
thống sinh động và hữu hiệu" Ị 13; 505], Theo Gurevich, điều này hoàn toàn giải thích được Giữa thế kỷ 19, đặc biệt là sau cái cách, khi các
nề nếp hàng thế kỷ của cuộc sống Nga bị phá vỡ, nước Nga lại trái qua một thời kỳ tương tự như tai biến đã lùm rung chuyên thế giới phương Tây ở ranh giới giữa th ế ký 18 và 19 Nhà nghiên cứu dẫn lời của
loại hình chủ nghĩa hiện thực Nga, M.1969): “Các biến chuyển bất ngờ, đột ngột, chiều sâu của các nhiễu loạn xã hội đang diễn ra làm nảy sinh ở người đương thời cám giác không còn tin tướng ớ ngày mai,
lo âu, bất ổn, hấp bênh và sự m ờ mịt xung quanh, nhịp sống khẩn trương”( t r 4 15) Bán thân hiện thực bắt đầu trở nên khó tướng tượng, hoang đường, bới sự phát triến xã hội ở Nga có được sự khán trương chưa từng thấy, man g tính thám họa, còn khủng hoảng c h ế độ nông nô gắn chật với khúng hoảng các quan hệ tư sán vừa mới hình thành Tất
cả điều này tạo ra tiền đề bên trong và m ở ra những khả năng mới cho
sư hồi sinh độc đáo và phát triển truyền thống lãng mạn
Theo Gurevich, truyền thống lãng mạn bộc lộ trong vãn học Nga có hai mặt Một mật, nó thể hiện, theo cách này hay cách khác, trong sáng tác các nhà văn hiện thực phê phán: Turgenev, L.Tolstoy, Dostoievski, Lexcov, Korolenco và Gorki thời trẻ, phán ánh trong hệ vân đề của tác phàm và plurơim pháp nghệ thuật của chúng Mặt khác, hướng tới truyền thông lãng mạn là cá cúc tnrờng phái và trào lưu nghệ thuật đối lập YÓ'i clui nghĩa hiện thực, trước hết là các nhà thư cua
4
Trang 12“nghệ thuật vị nghệ thuật” Không chấp n h ậ n hiện thực, khẳng định các lý tướng vĩnh cửu vẽ sự hài hòa và ve đẹp - tất cá cái đó kéo các nhà thơ này lại gần chú nghĩa lãng mạn Trên quy mô châu Au cũng
có hiện tưựníĩ tương tự, không hắn là chú nghĩa lãng mạn, mà đúng hơn là những hiện tượng như nhóm Thi Sơn ở Pháp, phu nhận xã hội tư bản hiện đại từ lập trường duy mỹ thuần túy Muộn hơn, những người tiếp tục truyền thống lãng mạn lù các nhà tượng trưng chứ nghĩa ‘T u y nhiên chú nghĩa tượng trưng Nga là một hiện tượng tương đối phức tạp, và chí Iĩiột mình mối liên hệ với chú nghĩa lãng mạn thì không thể nói hết về nó Các xu hước lãng mạn ở đây gắn với tâm trạng xuống dốc, với những linh cám về cái chết của văn hóa châu Âu, với tiên tri theo tinh thần Vagner và Nitzse, với những truyền thống duy mỹ độc lập” Đê chốt lại, Gurevich viết: “ vấn đề chủ nghĩa lãng mạn ở Nga dường như bị phân tán, nó được tiếp thu ở các giai đoạn phát triển lịch sử-xã hội khác nhau Và ớ mỗi giai đoạn thì các nhún tố lãng mạn lại
có những kết hợp phức tạp và độc đáo với những nhân tố khác, không phải lãng mạn: như tình cám chủ nghĩa và khai sáng-duy lý, hiện thực chủ nghĩa hay suy đ ồ i”
(tr 4-17) của K.N.Grigorian, ta bắt gặp nhận định: “ Vào nửa sau thế
kỷ 19, xu hướng chủ đạo cua văn học là chủ nghĩa hiện thực Tuv vậy, chủ nghĩa lãng mạn không mất đi Nó thay đổi, nhưng vẫn tiếp tục chặng dường của mình trong thơ Polonski, Maicov, Phet Cuối thế kỷ
19 - đầu thế kỷ 20 chú nghĩa lãng mạn bừng dậy dưới dạng trào lưu
“ lũng mạn mớ i” Đáng kế nhất là một nhánh của chú nghĩa tượng trưng (Briuxov, Bloc, Balmont, Salogub), cố gắng hồi sinh nghệ thuật
Mười Những thành tựu mà chú nghĩa lãng mạn dạt được chủ yếu nhờ vào văn xuôi dãn chu thời hây giờ (Garsin, Korolenco, Kuprin, Gorki r 11 ỉ I
Trang 13V.l.Kaminxki trong D ỏ n g c h à y lảng mạn trong vàn học Nga
“th ờ i kỳ c h u y ế n tiếp" đã lược thuật những thành tựu CƯ hán của việc nghiên cứu văn học Nga cuối thê kỷ Ong trình bày, vào những năm 70-80 vấn đc chú nghĩa lãng mạn trong văn học Nga cuối thế kỷ 19 càng nhận dược nhiều sự chú ý Như một hiện tượng tiến bộ và thể hiện (lặc trưng thẩm mỹ của những tìm tòi cách tàn của các nhà văn, vấn đé chú nghĩa lãng mạn đã được nói tới trong các công trình của Bialưi G.A., L.P.Egorova, M.A.Xocolova, U.R.Phokht, E.P.Txoi Một số xem chú nghĩa lãng mạn cuối th ế kỷ như một phương pháp nghệ thuật độc lập, phát triến song song với phương pháp hiện thực và chỉ tác động qua lại với nó Phần lớn các nhà nghiên cứu thừa nhận sự tồn tại của chú nghĩa lãng mạn trong văn học Nga cuối thế kỷ, nhưng nhấn mạnh rằng nó gần như không bao giờ ở dạng “tinh khiết” (L.P.Egorova, G.A.Ixupova, M.A.Xocolova ) Thường gặp hưn là vấn đề về sự độc đáo của chính phương pháp hiện thực “thời kv chuyển tiếp” , dược phức tạp lẻn bởi cả một tổ hợp các nguyên tắc lãng mạn trong miêu tả” [16]
Một bài háo khác cũng đề cập tới vấn đề ban chất sự phát triển
đê tranh cãi của chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Nga cuối th ế kỷ
Chủ nghĩa lãng mạn Nga như một trào lưu và phươnu pháp nghệ thuật hình thành trong những điếu kiện lịch sử xã hội nhất định và gắn với chúng là bán chát và sự tồn tại của nó Trong nhiều năm, trong khoa nghiên cứu văn học thông trị một quan điểm rằng cùng với sự thay đổi của đời sống xã hội và tư tướng thì chú nghĩa lãng mạn như một phương pháp nghệ thuật không tránh khói cũng chấm dứt sự tồn tại cua mình, và sự hỏi sinh của nó trong những đicu kiện lịch sứ mới, vé
cơ ban là khôim thô được Đôi với các thời kỳ lịch sir sau này chi có
6
Trang 14thê nói về cúi lãng mạn nhu một tâm trạng mơ mộng-cao cả và về các
Tóm lại, một trong những kết luận của hướng tiếp cận loại hình đỏi vứi nghiên cứu chu ntihĩa lãng mạn Nga là sự thừa nhận việc tồn tại của nó trong văn học Nga suốt dọc th ế kỷ 19 và tăng đột hiến các
xu hướng lãng mạn ớ ranh giới giữa hai th ế kỷ Tuy nhiên, các hiện tượng lãng mạn trong văn học Nga những năm 80-90 tương quan thế nào với chú nghĩa hiện thực thì các nhận định vẫn chưa đạt được sự đồng thuận rõ ràng
Từ góc đ ộ loại hình học chủ nghĩa hiện thực thế kỷ XIX, giai đọan văn học hai mươi năm cuối thế kỷ cũng nhận được những phân tích tương tự Ví dụ, Lotman và tập thể các tác giả Tartu chỉ ra các dạng chủ nghĩa hiện thực sau: chủ nghĩa hiện thực chuẩn mực của Radcsev; các yếu tố hiện thực trong văn học lãng mạn của các nhà tháng Chạp; “ở ranh giới của chủ nghĩa hịen thực” - Khổ vì trí tuệ",
tính dân tộc độc đáo trên cơ sớ “phong cách tâm lý” như một dấu hiệu của chủ nghĩa hiện thực Puskin giai đoạn Mikhailovxkoie; chứ nghĩa lịch sử của Puskin dựa trên “suy tư thời đại ” - giai đoạn sau; tính quy định xã hội của nhân vật, đưa ra các đặc điểm điển hình về xã hội trong chủ nghĩa hiện thực của Gogol, Lermontov, trường phái tự nhiên; chú ý tới sô' phận đất nước của chủ nghĩa hiện thực những năm
60 với 3 nhóm: văn học thế hiện các quyền lợi khách quan của nhân dân - sáng tác của các nhà dân chủ cách m ạng và sự hình thành ý thức nhân dân (Tolxtoy, Doxtoievxki, Lexcov), văn học phát hiện sự đi trệch khỏi việc nhận thức các quy luật khách quan, phát triển chủ
cìiii n^lìhi chú (/nan ỉrotiỊi chu nghĩa hiên thực citoi tliế kỷ
chú nghía lãng mạn cũng là đặc diêm của chứ nghĩa hiện thực phê phán trong việc mó ta cái claim hình thành Chu nghĩa hiện thực phê
Trang 15phán là chu nghĩa hiện thực nhất quán đôi với hiện thực đang tồn tại
và qua đi dó và bị phức tap lên bới các yếu tô của chú nghĩa lãng mạn (đối khi cá chủ nghĩa duy lý) khi hướng về lương lai
Phokht [30] lại phân ra các giai đoạn sau của chú nghĩa hiện thực, trong đó cũng nhắc tới giai đoạn văn học mà chúng tôi quan tâm:
! Giai đoạn đau tiên cỏ thê dược gọi là chủ nghĩa hiện thực g iá o huân hay chủ nghĩa hiện thực khai sáng: Radisev, Crưlov, Naredznưi
hiện thực khách quan với lời huấn thị mang tính chủ quan
2 Giai đoạn hai là chu nghĩa hiện thực phê phán Giữa những năm 20, trong bầu không khí chính trị dàng cao, trong điều kiện phong trào cách mạ ng tháng Chạp, trong qua trình vượt qua những nm âu thuẫn của hệ tư tưởng và văn học tháng Chạp và chủ nghĩa lãng mạn công
phê phán trở thành một khuvnh hướng chủ đ ạo từ những năm 40 cho đến đầu t h ế kv 20
Phokht dựa vào đối tượng micu tá, hay nói khác đi, lát cắt của hiện thực m à qua đó đạt tới sự phản ánh và thể hiện thái độ đối với hiện thực, chia ra 3 trào lưu trong chủ nghĩa hiện thực phê phán: trào
(tên gọi ma ng tính ước lệ)
Trào 1 ưu tâm lý có đặc điểm là sự chú ý tới vấn đề cá nhân, tư tưởng lự đo cá nhân, các lý tưởng đạo đức, miêu tá hiện thực trước hết
là thông qua th ế giới nội tám nhân vật, thể loại là tiểu thuyết tâm lý- sinh hoạt với các cáu chuvện tình yêu, cách trình bàv khách quan
Trào lưu xã hội được nhận thấy vào những năm 40 Các quan
Cội nguồn cua Irao lưu này là “trường phái tự nhiên” nhữnc năm 40
s
Trang 16Đinh cao phái triéii là vào những năm 50-60 trong sáng tác của các nhà vãn dân chu cách mạng Một dạng cùa nỏ và văn học của phong
nhân dàn, tư tưởng giủi phỏng nhân dân Không phái một cá nhân mà trước hết là môi trường xã hội là đối tượng quan sát của trào lưu này
Vào cuối thê kỷ XIX, những năm 80 xuất hiện thêm một trào lưu nữa trong văn học hiện thực phê phán - trào lưu chủ nghĩa hiện thực lãng mạn, hình thành ỏ thềm giai đoạn thứ 3 của phong rào giải phóníỉ (Garsin Korolenco, Sekhov và Gorki thời kỳ đầu)
Nếu đối với trào lưu tâm lý cái quan trọng hơn là sự miêu tả cá
thuộc trào lưu xã hội trung tâm chú ý là nhân dân, tiếp đến là “các tip chu ng ” , thì cám hứng của trào lưu này là phát hiện và miêu tả các cá nhân từ quần chung, từ những tầng lớp thấp trong xã hội Việc đánh thức ý thức của những con người này được tìm thấy từ Garsin Nó trờ nên rõ nét trong sáng tác của Korolenco và Gorki Khi miêu tả cái mới đang hình thành, cũng giống như chủ nghĩa hiện thực phê phán nói chung, trào lưu này cũng không thể thực hiện một miêu tả tuyệt đối khả thi Ớ đây phát triển các yếu tố lãng mạn tích cực Garsin m ơ ước
về “một chiến công anh hù ng ” , Sekhov m ong m uố n độc giả “ngoài cuộc sống như nó có, còn phải cảm thấy cả cuộc sống như nó phải c ó ” Korolenco kêu gọi một chú nghĩa anh hùng, đòi hỏi ở văn học không chỉ “ trung thành với hiện thực” mà cả “sự tổng hợp hiện thực và lãng
m ạ n ” Nhiều truyện ngán của Gorki những năm 90 mang tính lãng mạn rõ nét, song song với những tác phẩm hiện thực
Cấu trúc các tác pharn trào lưu này thường là những hình thức thế loại nhỏ phát Iricn tính trữ tình (mạch ngầm của Sekhov), sử dụng các hình thức ước lệ Nó trực tiếp chuẩn bị cho một khuynh hướng mới
n t i h ĩ a
Trang 173 Giai đoạn thứ 3 cúa chủ nghĩa hiện thực là chủ nghĩa hiện thực xã hội chu nghía Đặc trưng của nó là không chí nhất quán khi miêu tá cái đang có và dang qua di, inà cá cái hiện thực đang định hình, cái đang trứ nên có thế nhừ vào sự nhận thức ra các quv luật cúa phát triển
4 P h ạ m vi và đ ố i tượng nghiên cứu:
sử dụng để chỉ giai đoạn văn học bắt đầu từ những năm HO cho đến hết thế kỷ XIX Việc chú ý tới giai đoạn văn học này xuất phát từ bối cánh xã hội có nhiều điểm đặc thù những năm đó dẫn tới những đặc điểm mới trong sự phát triến văn học Chúng tôi đóng khung hức tranh lịch sử xã hội giai đoạn này bát đầu từ sự kiện 1/3/1881, tức là ngày Sa hoàng Alechxandr II bị ám sút, kết thúc vương triều kéo dài từ năm
1855 của ông, m ớ đáu cho triều đại Alechxandr III (1881 -1894), tức là
mục đích cho mình là khắng định chính quyền chuycn c h ế và trật tự nhà nước đã bị làm rung chuyên bới các hành động nổi loạn chống phá
tự phát khi đó Mục đích nàV đạt được trước hét là thông qua việc đàn
1 0
Trang 18áp triệt đê mọi cuộc bạo động, sau là xem xét lại và cái thiện các điều luật dược tạo ra dưới thời kỳ cái cách của Alecxandr II Là một người hao thủ, Alecxandr xác định nc nếp gia trưởng là lối sống khá quan nhất cho tất cá cư dân trong nước, và mọi chính sách của ông đều hướng vé việc đưa nước Nga trở về trật tự thời trước cải cách Song, đất nước, trên thực tế không thể quay lại cái điểm mốc phát triển lịch
sử mà nó đã giã từ lừ 20 năm trước Không khí xã hội lắng xuống, nhưng không phai trong bình yên, mà trong sự chờ đợi những rung chuyến cách mạng mới Trong những nă m 90 bước ngoặt công nghiệp diễn ra song song với quá trình tước đoạt ruộng đất và bần cùng hóa nông dân N ăm 1891, nạn đói khủng khiếp xảy ra cướp đi sinh mạng hàng triệu người, nguy cư chết đói cho hàng chục triệu dân chúng nông dân Nga là hiện hữu Điều này đặt ra vàn đề tìm ra nguyên nhân
vì đâu xảy ra hi kịch, tại sao nông dân sống càng ngày càng khổ cực, tại sao nhiều người, thậm chí cá làng buộc phái rời bỏ quê hương để đi tha phương kiếm việc Tolxtoy, khi viết “ Phục sinh” , đã thấy trước rằng thời điểm “ mớ nút” cho tình trạng này chắc chắn phải xảy đến, còn nhà văn A.I.Ertel năm 1892 đã khắc họa chính xác tâm trạng xã hội thời kỳ đó: “ chúng ta sống đúng như ở đêm trước của một điều gì
đó và khao khát muốn đợi cho kỳ được điều đó xảy ra” [26;48] Đây cũng chính là điều kiện làm náy sinh những xu huớng lãng mạn trong văn học
sát thây một số xu hướng phong cách như phong cách lãng mạn, tự nhiên chú nghĩa, giáo huấn- tuyên truyền Những yếu tố phong cách này hoàn toàn không cáu thành một trào lưu hay trường phái nào đó
mà tổn tại dưới dạng pha trộn trong sáng tác, có khi cùa cùng một nhà
tôi giới hạn nghicn cứu cua mình ớ việc nghiên cứu xu hướng phong cách làng mạn, mà theo chúng tôi, là nổi bật nhất trong thời kỳ này
Trang 194.3 Sáng tác của các nhà văn bộc lộ rõ những yếu tố và truyền thống lãng mạn giai đoạn này có thê phân thành ba nhó m chính: nhóm các nhà văn dân túy, nhóm các nhà văn hiện thực lão thành và nhóm các nhà văn hiện thực thê hệ mới, được gọi là các
“nghệ sĩ tré” Đê tài cua chúng tôi hạn định nghiên cứu của mình ớ
Turgenev giai đoạn cuối, Tolxtoy, Garsin, Korolenco, Sekhov và Gorki thời kỳ đầu, trong sô đó có Garsin và Korolenco là những nhà văn chưa được nói tới ở Việt Nam và cũng là n h ữn g “nghệ sĩ trẻ” dáng chú
ý giai đọan này Bên cạnh đó chúng tôi cũng lưứt qua đôi nét vê đặc trưng sáng tác của các nhà văn hiện thực theo phong trào dân túy Liều lượng phân tích dành cho các tác giả và nhữ ng vân đề khai thác trong sáng tác của họ được chúng tôi thực hiện không đồng đều do đặc trưng riêng cua từng tác giả
trong giai đoạn văn học này, chúng tôi chỉ dừng lại ở hai vấn đề nổi bật nhất, đó là vấn đề lựa chọn và xây dựng nhân vật và các phương thức tái tạo hiện thực đặc thù C hú n g tôi xem hai vấn đề này có quan
hệ mật thiêt và là hệ quả của cảm quan thế giới của các nhà văn, vì thế
vấn đề tư tướn g của tác phàm Tương ứng với hai vấn đề này là hai chương II và III cúa công trình
ý nghĩa thực tiền cùa đé tài như đã nói ở trên, công trình có đóng góp trên phương diện vãn học sứ qua việc giới thiệu một giai đoạn văn học chưa dược dê cập đôn nhiêu, biện uiai vê nhữ ng nmivên nhàn xuất hiện trào lưu làn Li mạn tron 12, S2,iai đọan đỏ và giới thiệu về hai nhà văn Nua Garsin vù Komlenco những tác uiá chưa được dịch và imhiên cứu
12
Trang 20ớ Việt Nam, qua đó uiúp hổ sung, mở rộng giáo trình văn học Nga thê kỷ 19 hiện có.
nội dung, phan kết luận, phun danh mục tài liệu tham kháo vù phần Phụ lục gồm hán dịch một số tác phẩm của Turgenev, Garsin và Korolenco Phần nội dung có ha chương:
Chương I Những tiền đề lý thuyết
Chương II Xu hướng lãng mạn với vấn đề lựa chọn nhân vật trungtàm
Chương III Xu hướng lãng mạn với vân đê lựa chọn hình thức thê loại cho tác phám
Công trình được thực hiện trên cơ sở sử dụng phương pháp nghiên cứu tác phẩm theo hướng thi pháp học chuyên biệt và thi pháp học lịch sử (trong trường hợp đi vào phàn tích từng tác phẩm cụ thế hay xem xét tác phẩm, tác giả trong sự vận động đổng đại, lịch đại), cộng với những ứng dụng của phương pháp loại hình học (trong trường hợp phân loại và nhóm hợp các yếu tố phong cách tương đồng
và dị biệt)
Trang 21C H Ư Ơ N G I
N H Ữ N G H Ể N Đ Ể LÍ T H U Y Ế T
Ớ Nga, trong khoa nghiên cứu văn học tồn tại hai thuật ngữ biểu đạt hai khái niệm khác nhau, mặc dù ớ một mức độ nhất định khá gần nhau và
có sự giao thoa với nhau về nghĩa Đó là p0MaHTH3M và P0M3HTMK3 (trong
niệm hai thuật ngữ trên trở thành nhiệm vụ đầu tiên, then chốt, đế từ đó hiểu đúng bản chất của hiện tượng văn học m à ch úng tôi đang nghiên cứu: các xu hướng lãng m ạn trong văn học Nga cuối th ế kỷ là sự hồi sinh của chú nghĩa lãng mạn, hay là chú nghĩa hiện thực mang những phẩm chất mới?
1.1 Chủ nghĩa lãng mạn như một hệ thông nghệ thuật
1.1.1 Nguồn gấc tên I>ọi:
theo tiếng Tây Ban Nh a có nghĩa một khúc ca trữ tình m ang tính anh hùng
cùng, nó chi các tiểu thuyết hiệp sĩ viết bằng văn xuôi Và o thế kỷ 17, từ
được John Everlean sử dụng và có nghĩa là “ ngoạn m ụ c ” , được dùng để khắc hoạ một địa danh cu thê, mà trong trường hợp này là khu đồi Bat Ị2 7 Ị Vào thế ký 18, từ này thông dụng trong văn giới Anh nhưng là dành
dể chi văn học thời trung cổ và Phục hưng Vào nửa sau thế kv 18, ở Anh
kỳ lạ - những thứ dược xem là veil tô' cán thiết cua thư ca Cùng với các
14
Trang 22trị thám mỹ mới, khác với lý tướng “vạn nă n g " và “duy lý” về cái đẹp trong chủ nghĩa cổ diên.
Âu khác như Ý, Ba Lan, Nga , từ này trớ thành tên gọi của một trào lưu nghệ thuật đối lập với chủ nghĩa cổ điên
1 1 2.Nhữfỉi> tiéiì đ ê x ã lìội-lịclì sử và tiê u chí xác định c ơ bản:
Nh ư trên đã nói, chủ nghĩa lãng mạn như một hệ thông nghệ thuật toàn vẹn hình thành ó' ranh giới giữa thế ký 18 - 19 khi ừ các nước tiên tiến châu  u đang diễn ra sự thay thế mang tính quyết định các quan hệ xã hội phong kiến bằng quan hệ tư hán chủ nghĩa, gắn trực tiếp với hai sự kiện lịch
sử cụ thể đã trở thành tiền đề xã hội cho sự ra đời của nó là Cách mạng công nghiệp Anh và Cách m ạng tư sản Pháp Trên thực tế, những hy vọng được cởi trói sau hàng ngàn năm phong kiến nhanh ch óng hiến thành thất vọng bởi các quan hệ xã hội mới không những không đem lại Tự đo-Bình đẳng- Bác ái, m à còn khắc sâu hơn khoáng cách giữa con người, phân hóa và chia
rẽ họ Nỗi thất vọng vào xã hội tư sản vừa thắng th ế cũng chính là nỗi thất vọng vào cái xã hội tướng chừng tốt đẹp vừa mới xuất hiện, và, không tránh khỏi, nó sẽ trớ thành nỗi thất vọng vào xã hội nói chung, nó m ang tính toàn cầu và đi kèm với một “ nỗi buồn thế giới” Tâm trạng này càng trở nên nặng
nề hơn khi con người đánh mất luôn cả những hình dung rõ ràng về con đường trước mắt và triển vọng phát triển xã hội Nỗi thất vọng vào hiện tại, cộng với hình dung m ờ mịt vào tương lai dẫn tới chủ nghĩa tuyệt đối trong chủ nghĩa lãng mạn, sinh ra nỗi khát khao vươn ra ngoài ranh giới của “cái hiện h ữu ” , để đi tới một lý tướng tuyệt đối Chủ nghĩa lãng mạn theo lời V.M.Girmunski, “di lìm cái tuyệt dối trong cuộc sống, thừa nhận sự vô tận của tâm hổn con người, hướng vé cuộc sống với những đòi hỏi bất tận và phủ
phi nhân đạo của các quan hệ tư sán, các nhà lãng mạn đối lập chúng với giá trị tư thân cùa cá nhân con người Con người như bị bin ra khỏi hệ thống các quan hệ xã hòi hiện hành, đicu khiên V.V.Vanxlov có lí khi nói vé “nguyên
Trang 23tắc tinh thẩn cua sự tổn lại hay phương diện tinh thán của cuộc sống con người Đối lặp trực tiếp với thê giới quan hệ vật chất xấu xa giữa con người với nhau là xứ sứ tuyệt đẹp cua tâm hồn, là nội dung iý tướng của cuộc
s ố n g” [cd I 1 1
Tó m lại, ra đời trên bức ncn lịch sử xã hội không làm ai thoả mãn, chủ nghĩa lãng mạn có thể được hiếu như là một kicu cám nhận cuộc sống đặc hiệt, mà đặc điếm của nó là dựa gán như tuyệt đối vào các cá thể riêng lẻ trong tư cách là những sức mạnh có giá trị tự thân với khả năng giải phóng inình và giải phỏng người khác khỏi những hoàn cảnh sống xa lạ với họ và khẳng định một lối sống khác đúng theo ý nguyện T h ế giới thực đầy sự lệch lạc và hỗn độn, chưa hoàn thiện và rất khó lường, được đặt đôi lập với một
t hế giới lý tưởng, được tạo ra từ trí tưởng tượng của tác giả Ớ đó không có gì
de doạ con người, họ thấy mình được an toàn trong đó Trí tướng tưựng tạo nên những quy luật và không gian riêng của nó
Hcgcl có lẽ là triết gia sớm nhất đưa ra tiêu chí của nghệ thuật lãng mạn khi ông so sánh đặc trưng cúa nó với đặc trưng của nghệ thuật cổ điển
thực sự của nghệ thuật, đó là đời sống nội tâm tuyệt đối, và hình thức tương ứng, đó là một tính chủ thể tinh thần nhận thức được tính độc lập và tự do của m ì n h ” [4;504] Hegel phân tích tiếp: “Nếu như chúng ta so sánh đặc trưng này của ngh ệ thuật lãng mạn với nhiệm vụ của nghệ thuật cổ điển là nghệ thuật đã tìm thấy sự thê hiện hoàn mỹ nhất ở trong điêu khắc Hy Lạp, thì ch ú n g ta nhận thấy ràng các hình tượng tạo hình của các thần linh không biểu hiện những vận độn g và họat động của tinh t h ầ n K ể ra các nét thay đổi và ngẫu nhiên của cái cá tính có tính chất kinh nghi ệm vẫn không bị thù
một tổn tại thực SƯ cua một tinlì chú thê tồn tại vì mình N h ư n g vị thần của nghẹ thuật lãng mạn lại là một Thượrm đe đê biết nhìn, biết ràng mình là Thượng đê có một tính dill thó' bên trong và hộc lộ nội cam của mình cho nội làm người x e m ” Ọuá trình này diên ra khi “ cái nội cám tuyệt đối này bộc
1 6
Trang 24lộ ớ trong tổn tại hiện thực cua mình với tính cách một phưưng thức biểu hiện nhân lính, mà yếu tố nhân tính lại gắn liền với toàn bộ th ế giới mà nó là một bộ phận, cho nên kết quá là có một trình độ đa dạng rộng lớn ca về yếu
lố tinh thần có tính chát chu thể cũng như về yếu tố khách quan cụ thể bên ngoài mà tinh thần cho dó là thuộc về m ìn h” [4;505-506J Đơn gián hóa một chút cách diễn đạt của Hcgel, chúng ta có thê hiểu điều triết gia muốn nói tới
ớ đây chính là quá trình tái tạo hiện thực theo lý tướng của chủ thê sáng tạo
mà sau này Belinxki đã tiếp thu
Về cơ bán, cũng theo tinh thán đó, giữa những năm 60 th ế kỷ XX, ở
nhà nghiên cứu đ ã trình bày và biện giải nhiều quan niệm về chủ nghĩa lãng mạn như là một trong những vàn đề của cuộc tranh luận này Đi tìm lời đáp
về một kiểu quan hệ đặc hiệt giữa cá thế và xã hội, về vai trò đặc biệt của cá thể trong tư cách vừa là khách thể, vừa là chủ thể sáng tạo
U.R.Fokht xác định, trong chủ nghĩa lãng mạn, “con người là một tiểu
vũ trụ, qua m ô tá nó ta sẽ thâm nhập được vào vũ trụ vĩ mô Trung tâm tác
thường là ước lệ” [cd9] Nhà nghiên cứu xếp các đặc điểm sau vào hàng các đặc điểm loại thê của chủ nghĩa lãng mạn: trong chủ nghĩa lãng mạn luôn luồn thấy rõ thái độ phê phán đôi với hiện thực, chủ nghĩa lãng mạn xây
hình tượng
G.Gachev cũng nói vé tư duy liên tướng, về các thu pháp tương phản
và phán đề - cụ thế hóa luận điếm về điển hình hóa trữ tình-chù quan của chú nghĩa lãng mạn Ịcđ 16:15] E.Mikhailova và L.Ginzburg cũng nhiều lần nói ve “quyén năng duy nhâì" của nhàn vật đặc trưng cho chủ nghĩa lãng mạn, nhân vật nám ớ trmm I;ìm toàn hộ hệ thống hình tương của tác phẩm 116]
Trang 25A KI itco trong bài v é phương pháp và truyền thống của chủ nghĩa
cùng một số khác xác định dấu hiệu hàng đầu đó là lý tưởng lãng mạn
Hướng này được giới nghiên cứu đồng tình nhiều hơn vì thấy sự gắn bó đặc
hiệt chặt chẽ cua nó với cám nhận về cái mới, về một tương lai đang nảy nở
Gorki cũng từng nhân mạnh nhịp chú của chủ nghĩa lãng mạn - là “ sự chờ
đợi một cái gì mới mẻ, lo âu trước cái mới và khát vọng vội vã, hồi hộp nhận
biết cái mới này"
con người
K.Grigorian nhìn thấy bản chất của chủ ngh ĩa lãng mạn ỉà ở sự áp đảo
của “tính trữ tình, của yếu tố chú quan-cá n h â n ” N.Giegalov nhìn thấy trong
chủ nghĩa lãng mạn khát vọng “ hướng về niềm bi tráng, tới cường suất cao
của ấn tượng nghệ thuật” , tới sự hé m ở cái sâu kín nhất Như vậy, có thế
bình diện tinh thần, thê giới bên trong của con người, điển hình hoà trữ tình
từ nửa đầu th ế kỷ 19 đốn nay
nhà lãng mạn):
Phong trào lãng mạn phát triển ở các nước kh ôn e đồ n g nhất và nhiều
mâu thuẫn Điể m giao cắt giữa chúng cũng chính là điếm chung trong
nguyên tắc cơ hán thâm nhập và khám phá cuộc sống Đi ểm chun g đó là gì?
Trong triết học, hiếu hiện đặc trưnti của kiêu tư duy lãng mạn là chủ
nghĩa duy tâm chu quan của Fichte: " Cái Tôi là hiện thực duy nhất, là sức
mạnh sáng tạo toàn năng, lạo ra tất ca và cuối cùng sẽ hợp lại với sự tự nhận
18
Trang 26thức của toàn nhân loại” [9; 16| Đây là lời hiện minh triết học cho chủ nghĩa tôn thờ sùng bái cá nhân lãnII mạn.
Trong chính trị, bộc lộ rõ nét cua kiêu tư duy lãng mạn là chủ nghĩa Bonaparte, sùng bái Napoleone
Trong xã hội học và kinh tê chính trị, kiểu lư duy lãng mạn sán sinh ra một loạt các áo tướng xã hội mà nguồn gốc chính cứa ch ún g là ở quan niệm: các điều kiện sông thực tại thù dịch với từng cá thể, bước chuy ển tới một thế chê xã hội lý tưởng sẽ được thực hiện bới “ một sức mạnh kiểu m ẫ u ”, “bằng hoạt động sáng tạo của cá nhân'"
Sau cùng, nhưng lại là điểm cốt lõi nhất, đó là bản thân khái niệm chủ nghĩa lãng mạn xuất hiện trong mối quan hệ với một trào lưu văn học nhất định và ở đó nó được hiểu lộ đầy đủ hơn cả, nên khi nói về chủ nghĩa lãng mạn có nghĩa là ch ún g ta nói về một hiện tượng lịch sử cụ thể - đó là chư nghĩa lãng mạn trong vãn học cuối th ế kỷ 18 - nửa đầu thế kv 19
trên, - đó là sự thất vọng vào nền văn minh tư sán - thực chứng - cái những tương sẽ giải quyết được các mâu thuân cũ, nhưng ngược lại, lại tạo ra những xun g đột và đối kháng mới Một cách vô thức, sự thất vọng này lớn dần
đau, “nỗi buồn thế giới” : các xung đột trở nên “vĩnh c ử u ” , t h ế giới không bền vững, đảo lộn, hoặc đi tới tưưng lai hằng con đường bí ẩn, không sao hiểu hết
Nỗi thất vọng vào hiện thực, vào các khả năng của văn minh và tiến bộ được đặt đối lập ở các nhà lũng mạn với lòng khát khao “cái vĩnh cửu” , khát khao lý tướng tuyệt dối Khát vọng được hoàn thiện là một trong những đặc điểm quan trọng cúa thế giới quan lãng mạn Sự bất đồ n g giữa lý tương và hiện thực (mà cũng thây ớ ca các trào lưu khác nữa) ớ chu nghĩa lãng mạn
“ t ro ng nghệ thuật lãng mạn, chúng ta đứng trước hai thê giới: mộl bên là
Trang 27thê giới tinh thân, tư nó la hoàn mỹ, của cái tâm hồn tìm được sự hoà giải ở trong lòng n ó Mặt khác, trước mắt ta, là cái ngoại giới, với tính cách ngoại giới, được giải phóng khói sự thống nhất với tính chất tinh thần, bây giờ cái
hình thức của nó không còn gì là thú vị đối với tinh th ần Chính vì vậy mà nghệ thuật lãng mạn cho phép thế giới bên ngoài được diễn ra tự do, cho phép bất kỳ tài liệu nào, đến cá màu sắc, cây cối, và những đồ vật bình thường nhất trong gia đình cũng đều được tự do biểu hiện, thậm chí dưới hình thức tồn tại tự nhiên và ngầu nhiên” [ 4 ; 5 11]
Cũng thật dễ hiểu khi từ đó, trong khát vọng khẳng định lý tưởng của mình, các nhà lãng mạn đã hướng về tôn giáo và nghệ thuật, về th ế giới tự
tức là về tất cả những gì không giông với cái hàng ngày “ sáng suốt” , nhưng rất tầm thường Đối cực với các nhà khai sáng ưu tiên cho cái chung, cái điển hình, các nhà lãn£ mạn đề cao sự lự chủ và giá trị của từng cá thể, đề cao tự
do ý chí Họ đối lập thực tiễn vật chất thấp kém với cuộc sống tinh thần m à đôi khi họ thấy ở đó giá trị cao cả, thậm chí là duy nhất Vì thế, sự chú ý của các nhà lãng m ạn khô ng dành cho hoàn cảnh sống của con người, m à là thế giới bên trong của anh ta
Các nhà lãng mạn là những người đầu tiên m ớ ra sự phức tạp khác thường, sự mâu thuẫn của tâm hồn con người Con người đối với họ là một tiểu vũ trụ Đ ắm mình vào chicu sâu tám hồn, quan tâm tới các xúc cảm sáng chói và mãnh liệt, tới các vận động thầm kín của tâm hồn, tới mặt “ ban đ ê m ” của nó, say mê các hán năng vô thức- đó là những nét chú đạo của nghệ thuật lãng mạn Cũng đặc trưng cho chủ nghĩa lãng mạn là sự chú ý cao độ tới cái đơn nhất, độc nhất cúa con người - đó giống như sự tự bảo vệ mình khỏi quá trình cào bàng cá thế đang diễn ra rộng khắp trong xã hội tư sản
C á c n h à l ã n g m ạ n c h o r a n LI t í n h c á c h l à m g ò b ó c á n h â n , đ ặ t r a c h o c á n h â n
2 0
Trang 28điéu đối với mình Còn các nhà lãng mạn lại xuất phát từ nhị nguyên luận của tâm hồn vù tính cách- trong tâm hồn ẩn chứa một con người trong tất cả các khá năng của anh ta, trcn con đường anh ta chưa đi qu a nhưng có thể sẽ qua Còn tính cách- đó là hiện thực của con người, là m ở nút của xung đột giữa con người và thê giới xung quanh, mà hơn hết cà, đó là sự thỏa hiệp giữa hai mạt trong trường hợp xấu nhất, đó là dấu ấn mà thế giới bên ngoài vĩnh viễn để lại, là thất hại mà con người phái chịu từ thế giới đó Đối với các nhà lãng mạn cách thức tự nhiên nhấl để tái tạo con người là thông qua
âm nhạc và thơ trữ tình - hai mối liên hệ trực tiếp tới tâm hồn anh ta Một khắc họa trữ tình tạo một khoáng không lớn để thâm nhập vào con người, mà mọi khắc hoạ bằng tính cách đều nghèo nàn và yếu ớt Mọi lời “ xưng tội” hùng biện đều có thê bộc lộ nhờ âm nhạc
Trong mỹ học, chủ nghĩa lãng mạn đối lập “ sự ph ỏng theo tự nh iên ” kiểu cổ điển chủ nghĩa với tính sáng tạo tích cực của người nghệ sĩ Người nghệ sĩ xây dựng một t h ế giới đặc biệt của mình, đẹ p hơn, lý tưởng hơn, và
vì thế mà theo họ là hiện thực hơn cái th ế giới kia Các nhà lãng mạn nhiệt thành bảo vệ tự do sáng tạo của người nghệ sĩ, trí tướng tượng và bác bỏ tính
nhấn mạn h “cái tự do của nghệ thuật, chống lại cái chuycn chính của các hệ thống, các quy tắc, các điều luật” Họ “đi theo cái gọi là thi hứng của mình, bất kể thi hứng đó dẫn dắt đến đâu; thay kh u ô n mỗi lần cùng với đề tài”
Các nhà lãng man làm mới các hình thức nghệ thuật, tạo ra thể loại tiểu thuyết lịch sử, truyện hoang dường, trường ca trữ tình - sử thi, đổi mới kịch và sân khâu Họ quan tâm đen tính nhạc, tính họa của vãn học, dũng cám kết hợp cái cao cá và thấp hèn hi và hài, cái hình thường và khác thường, thích tlùnu cái hoang dường, cái nghịch dị, các hình thức ước lệ Sự
thành tựu nghè thuật lớn nhát cua chủ nghĩa lãnu mạn V H ugo không phái
Trang 29không có lý khi nói: “Cái đẹp tràn lan mà người xưa long trọng bày ra khắp không phai là khồng dộc diệu đến hóa nhàm; một cảm giác lặp lại nhiều lẩn liệu có thế làm người ta sinh chán Cái siêu tuyệt chồng lên cái siêu tuyệt khó mà gây nên được một tương phán, mà con người ta thì cái gì cũng có thế chán, đến cả cái đẹp cũng thê thói Trái lại hình như cái lố lăng là một khắc nghỉ ngơi, một cái mốc so sánh, một điểm xuất phát để từ đó người ta lại
Đối với các nhà lãng mạn, cái có thê luôn luôn ở phía trước cái hiện hữu Quan trọng hơn đối với họ là cái mới m an h nha hoặc đang ở ngưỡng cửa của một sự sinh sỏi mới, chưa có đường nét rõ rệt Cái mới chính là cái đẹp Schellinh có nói: “Cái thời đó thật đẹp, tâm hồn con người được cởi trói,
nó cho mình cái quyền đặt đối lập mọi thứ hiện hữu với tự do đích thực, và hỏi không phải về cái đang có, mà về cái có thể c ó ” Tài năng của người nghệ sĩ là ở chỗ biết bắt lấy cái mới trong th ế giới con người Cái kỳ lạ, khác thường, cái chưa từng thấy - đó chính là khởi nguồ n của thư ca lãng mạn
bằng một cách thú vị: nghệ thuật đưa ra trước ch ú n g ta một đối tượng nào đó
để nó trông có vẻ kỳ lạ, nhưng lại rất quen thuộc và hấp dẫn - đó chính ỉàm nên thi pháp chú nghĩa lãng m ạ n ”
Trontì số các lại hình nghệ thuật thì các nhà lãng mạn ưu ái âm nhạc, bởi ở đó họ nghe thấy một sức mạnh được giải phóng của cuộc sống Dù là thơ, văn hay hội họa, ớ đâu các nhà lãng mạn cũng kêu gọi vươn tới “tính nhạ c” Cuộc sống với những xung động hí án tăng tiến trong các sự vật và cơ
ở các nhà lãng mạn cũng được giai thích băng cách đó: âm nhạc thể hiện sự hiện hữu của bản thân cái tồn tại, cái cuộc sống của ban thân cuộc sống Bí
án của cuộc sống cho dù ta có xa nó đến dâu trên thực tiễn, thì chúng ta vẫn
có thể thâu hiếu dược qua âm nhạc Thính ui ác thu nhận được cái mà bản thán chúng ta, vì lý trí quá nên không hao giờ nhận dược Nhân vật lũng
Trang 30mạn chi cán tâu nhạc, n h ạ c cua mình hay cúa người khác, là đu đê mọi người biết anh ta là ai.
Heghel không la một nhà lãng mạn, dầu vậy ông lù người biết cách phát biếu về đề tài của các nhà lãng mạn, đôi khi còn mạnh mẽ hơn cả bản thán họ: “ Sự ra đời cùa àm thanh sẽ khỏ có thê hiếu được Khi một sự tồn tại đặc thù- ở bên trong- thoát khỏi gánh nặng, lộ được ra bên ngoài, đó chính là
âm thanh, dó là - lời than của cái lý tưởng đang phải nằm trong quyền lực của một cái khác, nhưng đồng thời đó lại là chiến thắng của nó đối với quy ển lực kia, bới vì nỏ đã giữ vững được mình khi còn sống trong quyền lực
ấy ” [8, 33] Kết quá là “ùm thanh hiểu hiện hai lần phủ định và là một biểu hiện ra ngoài vừa mới sinh ra đã bị húy bỏ ngay, vừa mới xuất hiện đó đã biến mất ngay lập tức Do chỗ âm thanh có một ngu yên tắc cố hữu là cái yếu
tố bên ngoài bị phú định hai lần như vậy cho nên âm thanh tương ứng với tính chủ thể bên trong và bản thân âm hưởng đã làm thành một cái gì lý tưởng hơn là tính vật thê thực tế, do đó, âm thanh trứ thành một phương thức
Cuộc sống tuôn cháy thầm lặng và không ngừng- đó chính là cơ sở dầu tiên của mỹ học lãng mạn Chính vì thế, họ yêu thích micu tả sự biến đổi, các sự vật đang tan huy và cuộc sông đang sinh sôi Sự hiến hóa, biến đổi (metamorphose) này không những là cốt truyện, mà còn là một hiện
mạn, bởi giấc mơ cho các sức mạnh cuộc sống được tự do mà khi ta tỉnh chún g không có được
Các nhà lãng mạn yêu và tin vào những biến đổi, vì vậy họ cũng thích
sự m ờ mịt, kh ôn g xác định Theo họ, ở đó ẩn chứa tự do Nơi nào tất cả đều
rò ràng, thì ớ đó không còn tự do nữa Trong các bức tranh phong cánh được
COM đ ư ờ n g c h ạ y m ã i , v ư ơ n d à i N h ữ n g h ì n h t ư ợ n g c h ú đ ạ o c ủ a v ă n h ọ c l ã n g
mạn đó là dèm sao, COIÌ chin'lli>, trên dó có cỗ xe thư, liếng kcn của người bưu
tá chọc thủng màn dem xe lien nganiỉ ta, rồi ngay lập tức lại cách xa ta c ỗ
Trang 31.xe thư không còn là một dồ vật Bới nếu nỏ là một đổ vật thì sẽ chảng là gì
cá Gắn với nó là suy nghĩ về một chuyến động vĩnh viền, bất tận Sự vĩnh cửu - đó là tình yêu đặc hiệt của các nhà lãng mạn Vì lẽ đó, sự đạt gần tới,
mạn
Chủ nghĩa lãng mạn kết hợp trong nó cá tính trung thực, lẫn tính ảo tưởng cúa cách tiếp cận cuộc sống một cách nghệ thuật Nhưng sự thật và ảo tưởng trong chủ nghĩa lãng mạn có đặc điểm riêng: sự thật ở đây gắn trước hết với sự bộc lộ và khẳn g định giá trị tự thân củ a từng cá thể, còn ảo tưởng- gắn với sự tuyệt đối hóa giá trị đó Nhờ có ảo tưởng lãng mạn này mà cá nhân con người có được tính giá trị toàn nhân loại, trở thành sự thể hiện bản chất của cuộc sông con người nói chung Từ dây sẽ dẫn tới trạng thái không tương hợp, sự mâu thuần giữa kỳ vọng của nhân vật lãng mạn về ý nghĩa của bản thân mình và sự hạn c h ế trong các khá năng của anh ta trên thực tế
Sự không tương hợp này bán thân các nh à lãng mạn cũng nhận thức
soạn ra khái niệm “ sự mía mai lãng m ạ n ” - một trong những hình Ihức đê các nhà lãng mạn nhận ra mâu thuẫn giữa niềm tin vào giá trị, vào sự bất tận của cuộc đời và cái hữu hạn của cuộc sống thực Điều này, theo Schleghel, là
“ sự phỏng nhại thường trực đối với chính m ì n h ”
Thực chất “ phép mỉa mai lãng m ạ n ” là một trong các hình thức chứng
mang về sự tự giá trị tuyệt đối của cá nhân con người Và điều này dẫn tới chỗ họ bắt đầu tìm cách lấp đầy sự không đầy đủ ấy của các ảo tưởng lãng mạn bằng những cuộc tìm kiếm các giá trị tích cực ở bên ngoài khuôn khổ
tương đồng với khát vọng chu quan của cá thể lãng mạn
Khi không tìm thây trong diều kiện cuộc sống đương đại cái nội dung tích cực mà thê giới chủ quan cua cá thê lãng mạn vươn tới, các nhà lãng
24
Trang 32hiện thực cuộc sông nói chung: trong quá khứ, đ ún g hơn là trong nỗi buồn
về quá khứ, ớ đó con người còn thây mình là một hộ phận của tổng thể, ở các đất nước xa lạ chưa bị nén văn minh chạm tới, trong các phong trào giải phóng dân tộc đòi hỏi sự đoàn kết cua mọi sức mạ nh sáng tạo, trong ước mơ, trong các suy nghĩ hoang dường về các điều kiện sống lý tưởng
Việc đi tìm một th ế giới khác với thế giới đang tồn tại thực là cơ sở để nghệ thuật lãng mạn sứ dụng các hình thức nghệ thuật kỳ ảo, văn học dân gian, huyền thoại cổ và ý niệm tôn giáo Cúc hình tượng hoang đường ở mức
độ cao nhất phù hợp với sự đối lập với thế giới thực, và vì bán thân nó không sáng rõ, bí án, nên khổng những không giống thật, mà sẽ là những mong muốn, ước mơ
Quá khứ đối với các nhà lãng mạn đã trôi qua, nhưng cũng có thể sẽ còn quay trở lại Ở đó sẽ còn lại vĩnh viễn các giá trị Vì thế, khi nghiên cứu quá khứ, ta có thể đoán định và tiên tri Các nhà lãng mạn thích quay về quá khứ - mọi hình thức của quá khứ
Tuổi thơ, tức là quãng thời gian đã qua, và những đứa trẻ, tức là hình ảnh quá kh ứ củ a chúng ta, do vậy, luôn xuất hiện trong văn chương lãng mạn T h ế kỷ 18 trước đó xem đứa trẻ như một bản thể lớn nhưng còn nhỏ tuổi, còn từ các nhà lãng mạn ta sẽ có những đứa trẻ thực sự Chúng được đánh giá tự thân, chứ k hông phái trong tư cách những ứng cử viên của tương
phát triển đểu bắt đầu từ thời thơ ấu, vì thố, con người trôn trần t h ế khi đạt tới
sự phút triển cao nhất lại rất gần với trẻ thơ” [8; 4 31
Đỏi với các nhà lãng mạn sự phán ánh quan trọng hơn, chân chính hơn bản thân cái thực thê đang được phán ánh, có nghĩa là họ d ùn g cái này thực chất là để nói một cái khác Các nhà lãng mạn không nói về cái dang
có, mà cái cổ thê có (Schellmh tuyên bô: cái có thể, chứ khôn g phái cái hiện thực đang chiếm chỏ của nó - đó chính là cái quan trọng nhất đối với các nhà lãn SI m ạ n )
Trang 33Có the thây, các nhà lãng mạn cỏ một cách nhận thức vé thế giới theo
cách riéng cúa mình, từ dỏ quv định những yếu tô' nghệ thuật đặc trưng được
trình bày trong tác phám
trong tủcphám
lãng mạn như trên mà nguyên tắc chủ yếu của nó được thê hiện trong tác
p h ẩm sẽ là điển hình hóa chú thê chủ quan, khác với điển hình hóa lý tính
trong chủ nghĩa cổ điển và điên hình hóa khách quan trong chú nghĩa hiện
thực
Nguyên tắc to chức khôntị iỊÌan và thời gian và kết câu tác phẩm:
N g uy ên tắc miêu tả cuộc sống xa về thời gian và không gian là đặc
ch ỗ cội nguổn nuôi dưỡng nó là trạng thái tinh thần của xã hội đương đại với
tác giá, thế nhưng, t h ế giới lãng mạn được dưa vào một tác phẩm cụ thể lại là
một hiện thực “ x a ” Nhà lãng mạn đặt ra và giải quyết các vấn đề hiện đại,
nh ưng trong các sự kiện và hiện tượng được miêu tả bạn đọc sẽ tiếp nhận như
một cái gì đó xa lạ hay ít biết tới trong quan hệ với đời sống thực Các nhân
vật lãng mạn s ố n g và hoạt động “ở tầng trên trái đất” (vũ trụ), “ở tầng dưới
trái đ ấ t ” (thế giới hên kia), hoặc nếu ở trái đất thì cũng là một nơi nào đó bí
hiểm Điều này giải thích tại sao các nhà lãng mạn thuộc các thời đại khác
nhau lại có thể lấy cốt truyện cùng một nguồn gốc
Vì đối tượng của văn học lũng mạn là tái tạo hoạt động tinh thần của
cá thể được quyết định về mặt xã hội, chứ không phái bản thân các quan hệ
xã hội như nó vón có, nên địa điểm triển khai hành độ ng được các nhà lãng
mạn ưa chọn là thiên nhiên, chứ không phai hoàn canh xã hội
Các sự kiện được két câu theo lối cao trào, trong dỏ nhấn mạnh các
ng u yê n do chú quan cua lính cách và tình huống, do đó hành động truyện
tình huônii
2 6
Trang 34NiỊuyớn tấc xủx ílựiiạ hình tượng nhàn vật
Theo nhà nghiên cứu A.A.Ciadziev, hình tượng lãng mạn sẽ là ngôn ngữ của đối tượng lãng mạn Hình tượng lãng m ạn được phân chia, tuy mang tính ước lệ, thành ha tip chính: tip hình tượng anh hùng, tip hình tượng
trung và biểu lộ sức mạnh tinh thần của “toàn d â n ” , hay nói như Bd inx ki , -
“ là tổng hợp sức mạ nh thực thê của nhân d â n ” Ớ loại hình tượng này sẽ thấy thê m ạn h của cái ch u n g đối với cái cá thế; hình tượng sẽ có vẻ hoành tráng, quy mô bề ngoài, và đồng thời sẽ không phức tạp về cấu trúc hên trong
Tip này có cấu trúc bên trong phức tạp hơn tip anh hùng Ở đó nhà lãng mạn
c ố gắ ng giữ lại tỷ lệ bình thường giữa cảm xúc và suy nghĩ, hành động và
xúc tinh thần riêng rẽ thành các nhân vật hoạt động độc lập trong thế giới lãng mạn Ví dụ, Faust của Goethe, Manfred của Byron Các hình tượng biểu tượng có thể là sự nhân cách hóa các bản chất tinh thần củ a một con người riêng lẻ, ví dụ, Mxưri (Lermontov) biểu tượng cho khát vọng tự do, Danco (Gorki) biểu tượng cho tình yêu đối với con người [10]
Hình tượng lãng mạn được biểu hiện thông qua một hệ thống các phương tiện biểu đạt đặc hiệt như: cường điệu nghệ thuật, đi cùng cám hứng anh hù ng ca; nhân vật xuất hiện và hành đ ộ n g trong mộ t bối cảnh khác thường; hình tượng m an g tính ước lệ, tức là có sự sai lệch (ít hay nhiều) khỏi hình thức thực của sự vật, có nghĩa là nó vẫn dựa nền tảng vào cuộc sống, được tạo ra từ những yêu tô hiện thực, song sự kết hợp các yếu tố đó có thể
là rất xa, thậm chí nhiều khi còn không gợi lại gì nguồn gốc han đầu của nó,
có thể trở thành kỳ diệu, hoang đường, nhưng khô ng được dẫn tới sự giả tạo, lừa dôi, hóp m éo hán chất sự thật cuộc sống; hình tượng mang tính biểu tượng, phúng dụ; sir dụng tương phan như một trong những thủ pháp hữu hiệu
N i ị I ì ừ thuật s ứ (ỉụiìỊị M>ÓII l ừ :
Trang 35Các nhà lãng mạn tận dụng tính đa nghĩa, tính un dụ cua từ, tính nhịp (liệu của câu trúc càu, ưu tiên lời thơ với định hướng vào tính nhạc.
Như vậy, chúng tòi đã xem xét chủ nghĩa lãng mạn như một hệ thống nghệ thuật toàn vẹn với những đặc thù riêng về tiền đề xã hội, về cám quan thố giới và phương thức biêu hiện Nhìn tổng thể, nguy ên tắc sáng tạo làm nền tảng cho chủ nghĩa lane mạn như một hệ thống nghệ thuật có thể được xác định như sau: chứ nghĩa lũng mạn tái tạo cuộc sống một cách nghệ thuật dưới dạng các cá thể tự giá trị, độc lập nội tại với các hoàn cảnh xung quanh
và hướng tới một thế giới khác, đổng vọng với họ
Thời gian tồn tại cứa chú nghĩa lãng mạn trong tư cách là một trào lưu độc lập không dài, nhưng n hò nó mà cá nhân con người được giải phóng, nhận chân giá trị của mình để có thế vững tin bước tới tương lai Bercovski khi đánh giá sự hình thành của chú nghĩa lãng mạn Đức có khẳng định:
“Gần năm thế kỷ phát triển cúa châu Âu - 1300-1800 được sống lại từ góc nhìn của một quãng thời gian năm năm vĩ đại - 1789-1794 Đấy, đó chính là chú nghĩa lãng m ạ n ” [8; 114] Điều này cũng có thể nói rộng ra đối với toàn
bộ văn chương lãng mạn châu Âu và th ế giới, trong đó có cả văn chương lãng mạn Nga
Tuy nhiên, cũn g cán phái chú ý thêm một đặc điểm nữa của chủ nghĩa lãng mạn ngay trong cách hiếu của chính các nhà lãng mạn Nó chưa bao giờ, đối với họ, là một trào lưu riêng biệt, chí một thời đại, như gotic, harôc hay chủ nghĩa cổ điển, mà chứa đựng trong nhiều thời đại, nhiều trào lưu thậm chí trong ban thân lịch sử nỏ cũng khôn g được tách biệt Louis Tieck nói: “ Khi người ta yêu cầu tôi đưa ra một định nghĩa về chủ n ghĩa lãng mạn thì đối với tôi điều đó là quá sức Tôi không biết một sự khác nhau nào giữa thơ ca và lãng m ạ n ” “Th ơ ca thì mãi là thơ ca, nó vẫn vậy dẫu gọi nó thế nào
đi chăng nữa - cổ điến hay lãng mạn Bán thân nó đã là lãng mạn rồi, và không có thứ thơ nào khác ngoài thư lãng mạn Chí ra sự khác nhau của chúng thì tôi khônii th e ” “Nhicu nhà thơ hiện dai tuyên bỏ mình là nhà lãng mạn, một sò khác lai cô tạo ra một thứ thơ phan lãng mạn Cá ngưừi này lần
2 X
Trang 36người kia đêu lãng mạn như nhau cả, nếu như trên thực tê họ đúng là nhà thơ Thứ thơ ca được gọi là chống lãng mạn thực ra không là gì khác, mà không phái là thơ ” [8; 1141
Bán chát cua lời phát biếu này dẫn dắt chúng tồi tới khái niệm thứ hai
1.2 C á i l ã n g m ạ n - một d ạ n g t h ức c ủa c ả m h ứ n g n g h ệ t h u ậ t
nhà khoa học (tuỳ thuộc vào lập trường phương pháp luận của họ) gọi hoặc
là những phạ m trù thẩm mỹ (các triết gia thường gọi như vậy), hoặc những phạm trù siêu hình (R.Ingarden), hoặc các dạng cảm hứng (G.N.Poxpelov), hoặc ”các thức mang tính nghệ thuật” thể hiện lập trường tác giả và định rõ đặc tính tác ph ẩm như một thế toàn vẹn (V.I.Tjupa - B.M.Ttona) Nếu sử dụng thuật ngữ của tâm lv học, các hiện tượng này của ý thức con người được gọi là các xúc cám có giá trị trên bình diện thê giới quan, chúng tồn tại trong nghệ thuật với tư cách là ”sớ hữu” hoặc của tác giả, hoặc của các nhân vật Trên cơ sở này, đề tài sẽ tìm hiểu nội hàm khái niệm cái lãng mạn như một dạng cám hứng tác giả sẽ chi phối đến cấu trúc tác ph ẩm của tác giả đó
Mối quan hệ giữa chú nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn, định nghĩa cái lãng mạn là gì, vai trò của nó trong mỗi trào lưu văn học, - tất cả những điều này đã từng gây tranh cãi không ít trong giới nghiên cứu văn học Nga, từ thời của Gorki, tức là những năm đầu th ế kỷ, đến tận những năm 70
th ế kỷ 20 Đáng chú ý là cuộc tranh luận diễn ra năm 1964 trên tạp chí
T h ế nào là cái lãng mạn? là chú đề hay là sự soi sáng cho chủ đề? Sự phân biệt các khái niệm chủ nghĩa lãng mạn như một hệ thống đặc biệt của sáng tạo nghệ thuật mang tính lịch sử cụ thể, được sinh ra hởi thời đại chuyển tiếp cuối thê ky 18 -đáLI thế ký 19, và cái lăng mạn như là cám hứng, như một dạng dạc hiệt cua ciịnh hướng tư tướng tình cám của sáng tạo nghệ thuật có ý nghĩa hun ụ đấu đôi với các nhà nghiên cứu nghệ thuật lãng mạn
Trang 37G.N.Poxpelov la người đẩu tiên kiên trì đề xuất và dã chứng minh một cách thuyết phục việc phái (lịnh giới vù phân biệt hai thuật ngữ chủ nghĩa lãng mạn và cái lãng mạn trong cuộc tranh luận với B.G.Reizov về vân đề
chú nghĩa lãng mạn như là một trào lưu văn học, còn cái lãng mạn là “ thế giới tư tưởng tình c á m ” lãng mạn của cá nhân con người m à có thể tìm thấy
sự biểu hiện mình ớ khá xa ranh giới của trào lưu lãng mạn Cách phân biệt như vậy về mặt khoa học là tiến bộ ” Tiến bộ bởi vì, như G.N Pospelop chỉ
ra, có những tác phẩm của những đại diện chủ nghĩa lãng m ạn mà ở đó không phải lúc nào cũng có cái lãng mạn, hoặc “cái lãng mạn có thế là một đặc điểm, một phẩm chất của chủ nghĩa hiện thực” [cd 15; 4 6 ]
niệm cái lãng mạn đã tồn tại trong khoa học từ trước đây, chỉ có điều nó được gọi bằng những tên gọi khác, do vậy vấn đề chủ yếu đặt ra là định vị vững chắc cho khái niệm này một thuật ngữ tương ứng Ch ú n g tôi cho rằng, Poxpelov có lý khi bắt đầu những kiến giải của mình từ quan niệm của
thuộc về văn học, mà trước hết thuộc về bản thân cuộc sống, rằng đó không chí là một tuyên ngôn văn học, mà là đặc điểm củ a bản thân sáng tác biểu hiện một thái độ tư tướng nhất định đối với cuộc sống, một tâm trạng nhất định có thể xuâì hiện không chí ớ nhà vãn mà ở cá những con người khác Nói khác đi, dỏ là cám hứng của cuộc sống và sáng tác” 115;62] “ ở đâu có COI1 người, ớ đó có lãn Lĩ mạn < > Phạm vi cua nó < > - là toàn bộ cuộc sòng tâm hỏn hên trong con người, là cái manh đất thầm kín của tâm hồn và trái tim đe từ đỏ vươn len lat ca các khát YỌIIÍI hàng khuâng hướna tới cái tốt
30
Trang 38dẹp và cao ca, gáĩig tìm cho mình sự thoá mãn trong các lý tưởng được tạo ra hởi trí tưởng tượng” “ Không có chú nghĩa lãng mạn thì thơ ca sẽ như thê xác mà không cỏ linh hổn" Theo Bclinxki, “các góc cạnh của tâm hổn con người khô ng sao kế hết trong sự đa dạng của nó, nhưng luôn tồn tại hai bình
lại là cái lãng mạn (romantica), và bình diện của trí tuệ < > Chủ nghĩa lãng mạn là nhu cầu vĩnh cứu cùa bản chất tinh thần con người, bởi trái tim tạo nên nền tảng, là mánh đất gốc cho sự tồn tại của con người, kh ông có tình yêu và lòng căm thù không có sự thiện cảm và ác cảm, con người sẽ là một
một đât nước hay ruột thời đại: nó là hình diện vĩnh cửu của bản chất con người; nó kh ô ng chết sau thời Trung đại, mà chỉ biến đổi đi Chủ nghĩa lãng mạn hiện nay của ch ún g ta không có ý định phủ nhận tình yêu như một khát vọng tự nhiên của trái tim, mà chỉ yêu cầu khát vọng này khô ng trở thành một sức mạn h ngầm, tăm tối lôi con người < > xuống vực sâu chết ch óc” [7; 151,152 ] “ Chủ nghĩa lãng mạn không là thuộc tính của một nghệ thuật, hay của một mình thơ ca: cội nguồn của nó là ở trong cuộc sông < > Trong lồng ngực và trong trái tim con người ẩn giấu cội ngu ồn bí ẩn của chủ nghĩ a lãng mạn; tinh cám, tình yêu là biểu hiện hay là hoạt độ n g của chủ nghĩa lãng mạn, và vì thế, gần như mỗi con người là một nhà lãng m ạ n ” [7;
158 ]
trào lưu văn học, mà như là một hiện tượng loại hình thuộc mọi thời đại, mọi dàn tộc Và dĩ nhiên, một hiện tượng như thế phải có một cái tên đặc biệt để
kh ông lẫn nó với tất ca những cái chúng ta gọi là trào lưu lãng mạn
Bài báo của Bclinxki là điếm xuất phát đầu tiên đưa ta đến với nội hàm khái niệm cái lãng mạn Nó khắng định cái lãng mạn là thuộc tính của con người nói chung, "la nhu cáu vĩnh cửu của bán chất tinh thán con người”
ỏ bát kỳ giai (toan phát triến nào, còn ỏ mỗi trường hợp cụ thế sẽ có đặc trưng riêng Nhà phê hình dành nhiéu thời uian đô so sánh các giai đoạn
Trang 39phát tricn khác nhau của cái lãng mạn Ví dụ, ôn g nhân mạnh sự khác nhau giữa lãnu mạn phương Đổng và lãng mạn Hy Lạp, sau đó đối lập lãng mạn
Hy lạp với chú nghĩa lãng mạn theo tinh thần Trung cổ Belinxki xem cái lãng mạn như một tàm trạng thê hiện sự phân chân cao cá của con người, thể hiện các nỗi niềm mơ mộng Cái lãng mạn như th ế Belinski tìm thấy thậm
làm rõ hơn phạm vi bao trùm cua khái niệm cái lãng mạn, nếu như nó có thê tìm thấy cả trong cổ đại Chúng tôi chia sẻ quan niệm của Poxpelov ràng cái lãng mạn dẫu sao cũng không phái lúc nào cũng được tìm thấy và ở bất cứ đâu, nơi có “cuộc sống trái tim" Cuộc sống trái tim là một công thức quá chung; ước mơ, sự hưng phân có thể có tính chất rất khác nhau ớ mỗi người Khu vực rộng lớn cúa cái lãng mạn, xét cho cùng, cũng rất cần phải phân loại Chẳng hạn, cái lãng mạn có thê là cảm xúc mà âm nhạc của ông Lem gợi lên hay cảm xúc mà Lavretxki và Lida trải qu a trong lần gặp gỡ của họ
dâng trào đên mức quá khích nhăm phí báng một ai đó, ch ăng hạn
Có nghĩa là, quan trọng là không chi phân tách cái lãng mạn với chủ nghĩa lãng mạn mà còn phải phân loại được bản thân cái lãng mạn Ngoài tiêu chí: cái lãno, mạn tôn tại ớ nơi có “cuộc sổng trái t im ” cua Belinxki, chắc chan còn cần thèm một vài tiêu chí khác nữa Ớ đây quan niệm của Gorki, Lunatrarxki, Phadeev cho ta một cách hiểu tương đối nhất quán
hướng cơ bán trong văn học: chú nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực Nhưng đối với các nhà văn cổ điên như Balzac, Turgenev, Tolxtoy, Gogol, Lexcov, Sekhov khó có thổ nói ràng- họ là ai? lãng mạn hay hiện thực? ở những nghệ sĩ vĩ (lại lãng mạn và hiện thực luôn hòa lẫn nhau Sự hòa trộn nàv càng đặc trưnn đối với ncn vãn học lớn của chúng ta, nỏ đem đến cho chún g ta lính độc đáo, sức mạnh mà ngày càng ánh hưởng rõ rệt đến văn học toàn thế giới"
3 2
Trang 40Gorki bàn ĩihiéu VC cái lãng mạn trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, nhưng trên thực té những gì ỏng bày tỏ cho thấy cách hiểu của ông về
hiện lên như là một nhà lãng mạn cách mạng k hô n g chí bởi ông vẽ ra một cánh thống nhất toàn nhân loại tràn ngập tính trữ tinh, mà còn bơi ông cám
được và còn phái lâu dài và khó khăn đê đâu tranh giành lây nó
Truyện kể vé tình yêu giữa một chàng trai và một cô gái Chàng là biên tập một tờ báo địa phương, còn cô gái thì tôn sùng chàng và thường nghe chàng nói chuyện Nhưng khi chàng phán ứng gay gắt vé các cha xứ, linh mục thì chàng đọc thấy trong mắt nàng sự căm giận, câu chuyện kết thúc bằng cái chết của cô gái
Đây không phái là một bản tình ca êm đẹp m à là một bi kịch tình yêu Vậy Gorki muôn nói gì? C ô gái vẫn bị vây bủa bởi n h ữ n g suy nghĩ cổ hủ và chưa thể thoát khỏi sự trói buộc cứa nhà thờ Tưởng rằng, Gorki sẽ phải phô phán, nếu không thì cũ ng thấy tiếc cho cách sống của cô Nhưng không, ông khàm phục cô gái, khâ m phục ở chỗ, cô đã báo vệ đến cùng cách sống của mình Hình ảnh cô gái được soi rọi hởi cái lãng mạn, ở cô tác giá nhìn thấy
mới, một cuộc sống mới Gorki không chc dấu rằng bản thân ông cũng xem xác tín của cô gái là lầm lạc, nhưng tác giá đã phân tích tính cách cô một cách hết sức nghệ thuật và tìm ra trong đó cái thực sự đáng giá đối với một con người mới Cái lãng mạn cúa ông - đó không phải là xa rời hiện thực, mà
không làm mờ di, mà làm tăng thêm khát vọng lãng mạn vươn tới lý tướng
Bức tranh tuơng phán giữa cánh mùa xuân tươi đẹp han đầu với cuộc sống cùa các nhãn vật sau đó cho iháv cun phái làm nhicu hơn nữa đế sư tươi đẹp dó không chí là an tượníi thoáng qua inà sẽ là mãi mãi Hệ thống hình tượng, xung dột, vãn phong, kèì câu tác phám và thậm chí cá những chi tiết