Bởi vì sự phân biệt giữa nội dung ý nghĩa của phát ngôn và tình thái của nó rất gần gũi với sự phân biệt giữa “ hành vi tạo lời ” và “hành vi tại lời” hàm ẩn chủ ý giao tiếp của người n
Trang 1i f J U J * '* ' J
Dl - h t
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN HÀ N<
NGỮ PHÁP GIAO TIẾP CỦA CÂU TIẾNG VIỆ
MÔ TÀ THEO MỤC ĐÍCH GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NÓI
-COMMUNICATIVE GRAMMAR OF VIETNAMESE SENTENCE
- A DESCRIPTION WITHIN THE COMMUNICATIVE PUPOSE OF SPEAKt
Mã số: CB 04 11
N gười th ự c h iệ n :
PGS TS ĐỈNH THANH HUỆ
HÀ NỘI, 2006
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Lời nói đ ầ u 1- 4 Chương một: Nhận diện tình thái và nghĩa tình t h á i 5-16 Chương hai: Cơ sở lý thuyết về tình thái nhìn từ góc độ nghiên cứu
khác nhau 17-33
Chương ba: Tinh thái trong Việt ngữ nghiên cứu 34-50 Chương bôn: Tinh thái của phát ngôn tiếng V i ệ t 51-65 Chương năm: Phương tiện biểu đạt nghĩa tình thái và miêu tả
nghĩa tình thái 66-109
K ết luận 110-120 Danh mục sách tham khảo và trích dẫn
Nguồn dấn liệu
Trang 3LỜI NÓ I Đ Ẩ U
phân loại câu: khuynh hướng dựa trên cấu trúc và khuynh hướng dựa
trên mục đích nói năng của người nói trong hoạt động giao tiếp thường
nhật
Theo khuynh hướng cấu trúc, câu được chia thành các tiểu loại:
câu đơn, câu phức, câu ghép và câu đặc biệt
Đây là cách xem xét đơn vị câu theo quan niệm cấu trúc luận “xét
câu trong bán thân nó và vì bản thân nó” [35; 10] Nói cách khác, câu
(Sentence) được nghiên cứu cồ lập khỏi hoàn cảnh giao tiếp liên nhân
trong cộng đổng xã hội
Với khuynh hướng thứ hai, xuất phát từ mục đích giao tiếp của
người nói, “"câu” (phát ngôn - utterance) được xem xét như là “một
phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội loài người” (V.Lênin)
Theo đó, câu giao tiếp/ phát ngôn được phân thành câu trần thuật, câu
nghi vân, câu cầu khiên và càu cảm thán
Xét theo cấu trúc, sự phân giải một cách tường minh giữa các tiêu loại
càu kể trên vẫn còn là ván đề tranh luận Một số thí dụ minh chứng:
1 Hắn (Chí Phèo) cứ di, cứ chửi, cứ doạ giết “ nó” và cứ di (Nam
Cao, C hí Phèo).
khoai lang (Nguyễn Côns Hoan, Thằng ăn cắp).
3 Cái Tíu phải im khóc vì bầu vú của mẹ lấp kín mồm miệng
(Ngô Tát Tô Tui dờn)
Thí dụ (1) có thể phân tích theo hai cách, mặc dù nội dun2 nghĩa
của nó vẫn là một Thứ nhất, nó được xét như một câu dơn, trong dó
thành phán vị ngữ do cụm động từ liên hợp tạo thành Thứ hai, có thể
phàn tích nó là câu ỊỊhứp clẳHỊi lập gồm 4 mệnh đề liên hợp.
1
Trang 4Thí dụ (2) gồm 4 càu cỉơn kích biệt nhưng có thể cài biên thành một càu
đơn mà thành phần bổ ncừcủa nó do một cụm danh từ liên hợp tạo thành.
Cuối cùng, cừu đơn (3) có thể cải biên thành câu ghép qua lụi theo mô hình cấu tạo “ W nên ” Vì bầu vú của mẹ lấp kín mồm miệng nên cái Tíu phải im khóc.
Xét theo “ mục đích nói năng” , câu giao tiếp (phát ngôn) được
khái quát thành 4 loại như trên Theo chúng tôi, đó chí là định hướng
chiến lược của người nói trong giao tiếp liên nhân mà thôi.
Trong thực tế, muốn cho một cuộc giao tiếp thành công, các lượt lời của người nói và người nghe được tiếp nối nhau liên tục cho đến khi
cả hai đều dạt đến kết quả mong muốn của minh thì họ cẩn hiểu thấu
chủ V giao tiếp/ V định ngôn trưnq (Ịllocutioncirỵ ỉntention) của người
nói ngầm án trong “hành vi tạo lở i” (locutionary CỈCÍ) của người nói
Theo đó, người nshe tạo ra phát ngốn phản hồi đồng hướng với chủ ý của người nói Khôns ít những trường hợp “ý tại ngỏn ngoại” trong hoạt
độns giao tiếp hàng ngày Chẳng hạn, người nói dùng phát ngôn hỏi thay cho lời ch à o , người nghe khõníĩ cần hồi đáp lại trọng tâm của câu hỏi;
- Dạ, thưa, bác dang làm gi đấy ạ?
- À, cháu đến chơi đấy à? Vào nhà đi!
Hoặc, ne ười nói bấy tỏ lời cám thán trong “hành vi tạo lời” của mình, nhưnơ
phòns, trời nóng nực mà khôns bật quạt, người nói nói: Ồi! nón” quá! v.v
Như vậy, muốn hiểu thấu chủ ý giao tiếp của noười nói, nsười nshe không chỉ cần có “cái nền hiểu biết chung” / “tri thức bách khoa”
dế hiểu hết nội dung ngữ nghĩa của nsôn liệu (lexis) có trono “ Hành vi tạo lời” cùa người nói, mà còn phái nhận biết những nhàn tố thuộc hoàn cảnh giao tiếp tác động, ảnh hưởns đến “ Hành vi tạo lời” đó
tã theo m ục đích giao tiếp của người nói nhàm tìm hiếu một số vấn
Trang 5đề cơ bán liên quan đến chủ ý giao tiếp của người nói, ngẩm ẩn trong
phát ngôn giao tiếp Đó chính ỉà phạm trù tình thái của câu giao tiếp.
Nội dung nshiên cứu của đề tài gồm các chương:
- Nhận diện tình thái và nghĩa tình thái;
- Cơ sỡ lý thuyết về tình thái nhìn từ những góc độ nghiên cứu
khác nhau
- Tinh thái trong Việt ngữ nghiên cứu
- Tinh thái của phát ngôn tiếng Việt
- Phương tiện biểu đạt nghĩa tình thái và miêu tả nghĩa tình thái
của phát ngôn tiếng Việt
quan niệm:
thống mà là câu iỊÌan tiếp/ phát nẹôn (utterance) Một phát ngồn giao
tiốp có thò tương ứng với “câu - một từ; câu- một thành phần; câu đơn”
[24.a) Câu ngôn ngữ (sentence) chí là những tri thức về câu- đơn vị có
cáu tạo bậc cao - dưới góc độ nghiên cứu, được xem xét cô lập khỏi
hoàn canh giao tiếp liên nhân; chỉ là câu ớ dạng tiềm năng hàm ẩn
trong tiềm thức của người bản ngữ Câu ÍỊÌCIO tiếp/ p h ú t ngôn dùng trong
hoạt động giao tiếp thường nhật bằng ngôn ngữ tự nhiên, lời nói cửa
miộns cùa người bản ngữ Nhờ hoạt độn£ siao tiếp, câu nsổn nsữ mới• c C- • • w c 1 c
được hiện thực hoá chức năng “giao tiếp quan trọng nhất” của mình
là một phạm trù mà “ bản chất ngôn nơữ học và thành phần các ý nshĩa
bộ phận gây ra nhiều ý kiến khác biệt và đối nhau lập nhau”
(V.Z.Panfilov), là một phạm trù đa dạng và phức tạp Tronơ Việt noữ
nghiên cứu, phạm trù tình thái tiếng Việt thực sự được quan tàm, được
đặt ra kế từ bài viết “ Về khái niệm tình thái (1998)” của tác giả Hoàn«
Tuệ dăng trên Tạp chí Ngồn ngữ [43] Vì thế, tiếp cận với nội đun«
3
Trang 6nghiên cứu đề tài, chúng tòi dựa trên lý thuyết “H ành vi ngôn n g ữ ”
(Theory o f Speech Act) của J.L Austin và J.R.Searle; trong đó đặc biệt
quan tâm đến ba “Hành vi lạo lời (Locutionary act)” ; “hành vi tại l ờ i "
(Illcưtionary act)” và “hành vi mượn lời (Perlocutionary act)” của một
phát ngôn giao tiếp Bởi vì sự phân biệt giữa nội dung ý nghĩa của phát
ngôn và tình thái của nó rất gần gũi với sự phân biệt giữa “ hành vi tạo
lời ” và “hành vi tại lời” hàm ẩn chủ ý giao tiếp của người nói.
- Dẫn dụ dùng để minh hoạ, phân tích nghĩa tình thái của phát
ngôn tiếng Việt sẽ được dẫn trích từ văn bản của một số tác phám vãn
học {Xem : Nguồn dãn liệu) hoặc băng ghi âm Trong trường hợp cần
thiết, chúng tôi đẫn ra tiền giả định cua hoàn cảnh giao tiếp Bới vì
nhân tố của hoàn cánh giao tiếp có ảnh hưởng nhất định đến chủ ý giao
tiếp của người nói
tài, tạm thời quy ước:
- Nguồn cứ liệu trích dẫn được ghi trong ngoặc vuông Họ và tên
tác gia của công trình, bài nghiên cứu tương ứng với số thứ tự trong
“ Danh mục sách tham khảo và trích dẫn” ; con sô tiếp theo là số trang
trong công trình có lời trích Thí dụ [21.1; 6]: Cao Xuân Hạo: Tiếng
Việt S(f ihdo ngữ pháp chức năng Tập ỉ , trang 6, Nxb KHXH, 1991.
Đối với nsuổn dẫn dụ rút ra từ các tác phẩm văn học thì shi họ và
tên tác giả, tên tác phẩm và trang có dẫn dụ đê trong ngoặc đơn sau mỏi
trích dần
Tron» trườns hợp cứ liệu trích dẫn mà họ và tên tác giả, công trình
nghiên cứu không có tron» “Danh mục sách tham khảo và trích dẫn” thì sẽ
ghi nguồn gốc cứ liệu đật tron« ngoặc đưn ngay sau lời trích dẫn
sau thuật ngữ tiếng Việt, có ghi thuật nsữ bằng tiếng Anh
Trang 7- Dấu gạch chéo sau một từ, ngữ thay vì từ “h o ặ c” , biểu thị khái
niệm tương ứng với khái niệm của từ, ngữ đứng trước gạch chéo Thí
dụ: T ừ tình thái / tiểu từ tình thái! tình thái từ.
5
Trang 8CHƯƠNG I
NHẬN DIỆN TÌNH THÁI VÀ NGHĨA TÌNH THÁI
Chúng ta đều biết rằng thuật ngữ tình thái ịm o d u s) biểu thị khái
niệm về ngữ nghĩa của một phát ngồn gắn với binh diện tâm lý, cảm xúc, ý chí, thái độ, đánh giá, bình phẩm, của người nói đối với điều được nói ra trong giao tiếp, xét trong mối quan hệ giừa nội dung của phát ngôn với hoàn cảnh giao tiếp, với người đối thoại, người tiếp nhận thông tin của phát ngôn “Tinh thái là linh hồn của phát ngôn” (Ch.Bally)
Trong ngôn ngữ học, người ta phân biệt hai loại tình thái: tình
thái khách quan và tình thái chủ quan Tình thái khách quan thuộc về
lĩnh vực nghiên cứu của lôgíc học Ở đây người ta xem xét các phán
đoán lôgíc thuộc nhóm nào trong ba nhóm khả năng, tất yếu và hiện
thực Tinh thái theo quan niệm này “chỉ nhằm vào một số kiểu quan hệ
chung nhất của phán đoán với hiện thực mang tính khách quan, bản thể
và xem đó như một đặc trưng nội tại của bản thân cấu trúc chủ từ - vị từ lôgíc; hoàn toàn trừu tượng hoá khỏi những nhân tố thuộc mục đích, nhu cầu, ý chí, thái độ tình cảm, đánh giá của con người nói chung và
các chủ thể cụ thê nói riêng” [12] Ngược lại, trong ngôn ngữ học, tình
thái chủ quan - tình thái liên quan đến những gì đang là hiện hữu trong
tâm Iv (cảm xúc, tình cảm, ), trong ý chí (nhận thức, đánh giá, nhận xét, ) của người nói mà họ thể hiện cùng với toàn bộ nội dung phát ngôn nảy sinh trong một tình huống giao tiếp nhất định - là loại tình thái chỉ liên quan đến người nói Nói cách khác, tình thái chủ quan mà ngốn ngữ học quan tâm là “tất cả nhữns gì mà người nói thực hiện cùng với toàn bộ nội dung mệnh đề” (Byee) [Dăn theo Lê Đông, Nguyễn Văn Hiệp [12]
(2) Ông ấy là bác sĩ áấy\
(3) Hình như ông ấy là bác sĩ.
Trang 9Ba phát nsỏn trên déu có một nội dung n sử nghĩa chính là: người đàn ông nào đó ờ độ tuổi trung niên, tốt nshiệp đại học y khoa đang làm nghề khám chữa bệnh cho mọi nsười là bác sĩ Nhưns chúng khác nhau về tình thái chủ quan Với phát nsôn (1), nsười nói chí thông báo cho người nghe về một hiện thực hiển nhiên Đó là cương vị xã hội của
“ông ấy” Cũng nội dung ngữ nghĩa đó nhưng trong thí dụ (2), người nói không chỉ thông báo một hiện thực liên quan đến nghề nghiệp của
“ông ấy” mà còn cam kết với người nghe rằng “điều tôi nói ra là đúng
sự thực” mà sự thực đó đã có trong quá khứ Từ tình thái “đ ấ y ” làm lộ
ra nhận thức cam kết, xác tín này của người nói Trong thí dụ (3), từ
tình thái “Hình n liư ” biểu thị ý phóng đoán bán tin bán ngờ dựa trên
cảm tính của người nói về cương vị xã hội của “ông ấy”
Cỏ thể có ý nghĩ cho rằng trong cấu tạo của phát nsổn nào đó không có từ tình thái thì nội dung ngữ nghĩa của phát ngôn đó không hàm chứa tình thái chủ quan như phát ngôn (1) chắng hạn Sự thực là, khi dưa ra một phát ngôn liên quan đến một sự tình nào đó đã, đang hoặc sỗ xảy ra trong quá khứ, hiện tại và tươns lai so với thời điểm nói, thì nmrời nói buộc phài có một nhận thức khảng định hay phủ định về sự tồn tại của sự tình đó Nhận thức dó, theo chúng tòi, cũng là một loại tình thái chủ quan Nhận thức thay đổi theo thời gian Vì thế, tại một thời điếm nói nào đó, nhận thức vé một sự tình xảy ra có thể bị người nói phù định nhirrm ớ thời điếm khác lại được kháng định Hơn thế, sự phủ định hoặc khẳng định cũng được biểu hiện dưới nhiều dạng thức, phản ánh nhiều nghĩa tình thái giao tiếp khác nhau của người nói So sánh:
b Ô n 2 ấy là bác sĩ tlỉật.
b Ô n 2 ấy dâu phái là bác sĩ.
V V ..
Có thê nói nizhla tình thái biếu hiện tron« (4a) là loại nghĩa “trims tính"
7
Trang 10Người nói chì cam kết rằng cái nhận thức cùa mình vé cương vị xã hội của “ông ấy” là đúng như thế tại thời điểm nói Tinh thái trong (4b) thì khác hản Người nói cam kết rằng cái cươns vị xã hội của ồng ấy đã được kiếm nghiệm, có chứng cứ nhằm bác bò sự nghi ngờ nào đó trong nhận thức của người đối thoại Như vậy, sự cam kết trong (4b) ớ thang
độ cao hơn ờ (4a), tuy sự tình đang đề cập tới trong cả hai chi là một Trong trường hợp phủ định sự tình, cũng có hai thang độ phủ định khác nhau: Trong (5a) người nói thể hiện một nhận thức đối lập với nhận thức cho rằng “ồng ấy là bác sĩ” Còn trong (5b), người nói không chí bầy tỏ thái độ không đồng tình với nhận thức cho ràng “ôns ấy” là bác
sĩ mà còn bác bó nhận thức đó bằnơ nhữno lý lẽ của mình Tình thái biểu hiện trong (5b) là tình thái phủ định - bác bỏ
Như đã rõ, tình thái là một khái niệm dùng để phân tích mặt ngữ nghĩa của phát noỏn trong hoạt động giao tiếp Nhưng kết quả của sự phân tích đó
lại nhằm tìm hiểu mục dich nói nâng của người nói Bởi vì, khi có ý định nói
ra một điều gì đó thì người nổi không chỉ phải lựa chọn từ ngữ, kết cấu cú pháp đê tạo thành nội đun« mà còn phải lưu ý đến mục đích cuối cùng của điều mình nói ra tác độn" trực tiếp hoặc gián tiếp đến người nghe ra sao Do
đó, việc tìm hiếu nghĩa tình thái trong phát ngôn cũng chính là việc tìm hiểu mặt ngữ nghĩa - ngữ dụng của phát ngôn, v ề phía người nshe, khi tiếp nhận phát n£ôn của người nói, ngoài việc hiếu dược nội dung của câu nói còn phải
Hiển ỉiỊỉỏn cùns với liền già dinh là cơ sở cho sự suy ý Thí dụ:
- Minh đang dở việc
Càu trá lời “ Mình đang dở việc” mà người nghe tiếp nhận, cần được hiểu theo suy ý là “ lời từ chối”
Tình thái là một vấn đề cực kỳ phức tạp, tuy đó là binh diện nghiên cứu khỏns thể bỏ qua của ngôn ngừ học hiện nay V.Z Panfilov
đã lìm« viết: “ Không có phạm trù nào mà bán chất ngôn ngừ học và
Trang 11thành phán các ý nghĩa bộ phận lại sây ra nhiều ý kiến khác biệt và đối lập nhau như phạm trù tình thái” [32: 37 - 38] Theo đó, việc nhận diện các kiêu nghĩa khác nhau cùa tình thái, nói chung, là sự nhận diện có
tính khái quát Các kiểu nghĩa tình thái đã được Lê Đông và Nguyẻn
Vãn Hiệp đề cập đến là:
1 Các ý nghĩa thể hiện mục đích phát ngôn của người nói, hay
nói theo lý thuyết hành vi ngôn ngữ, kiểu mục đích tại lời mà người nói
thực hiện (hỏi, ra lệnh, yêu cầu, bác bỏ, khuyên, mời v.v ) gắn trực tiếp với chiều tương tác liên nhân của giao tiếp, với kiểu tác độns của người nói đến người đối thoại
2 Các ý nghĩa khác nhau thể hiện sự đánh giá, thái độ, lập trường
giá nội duns mức độ quan trọn" về độ tin cậy, xem nó là điều tích cực (mong muốn) hay tiêu cực, bất ngờ, ngoài chờ đợi hay bình thường, về khá năng, tính hiện thực v.v
3 Ý nghĩa thuộc đỏi lập giữa kháng định và phù định đối với sự tồn tại cùa sự tình
4 Nhữnsi đặc trưng liên quan đến sự diễn tiến của sự tình, liên quan đến khung vị từ và mối quan hệ giữa chủ thê dược nói đến trong câu và vị từ
ị thời, (ỉ lê) hay các ý nghĩa được thể hiện bằng vị từ tình thái.
5 Các ý nghĩa phản ánh các đặc trưng khác cùa phát ngốn và
hành động phát ngôn với ngữ cánh theo quan điểm đánh giá của nuưừi nói Ví dụ, dặc tính siêu ngôn ngữ, hỏi lại, sự đánh giá của người nói vé mức độ hiếu biết của người nshe, thái độ tình cảm của người nói đối với người nghe, sự đánh giá của người nói đối với các quan điếm, ý kiến khác v.v [12: 22 - 23]
Việc khái quát 5 nhóm nghĩa tình thái như trên là một đóng góp quí siá của nhà nshiên cứu vào việc nơhiên cứu những vấn đề liên quan tiến tình thái Nhừ thế, chúng ta có thể khu biệt 2 hướng đích của phát
no ôn ai ao tiếp Đó là hưởng phát ngôn trực tiếp hoặc gián tiếp tác độn«»
9
Trang 12đến người nghe, gây ra một “ hành động” nào đó, nói theo J.L Austin,
đó là hành dộng / hành vi mượn lời (Perlocutionary act! hành dộng sau
lời) và hướng phát ngôn mà nsười nói tự bộc lộ thái độ, tinh cảm, đánh
giá.v.v của mình trước hiện thực được miêu tả
Vấn đề thường đặt ra trong giới nghiên cứu ngôn ngữ là "thời,
thê " của động từ có biểu đạt ý nghĩa tình thái hay không?
Trong ngôn ngữ tổng hợp tính, từ biến hình, ý nghĩa thời, thê của
động từ được xem như là một loại ý nghĩa ngữ pháp; coi đó là một phạm trù ngữ pháp được biểu hiện qua biến thái của động từ Nhưng trong ngôn ngữ phân tích tính, từ khốn? biến đổi hình thái trong các chức nang cú pháp của mình Nói cách khác, trong ngôn ngữ phân tích
tính phạm trù thời, th ế không được hình thái của động từ - vị ngữ biểu
hiện Tuy vậy, trong giới Việt ngữ học hiện nay vẫn có hai khuynh
hướng đối lập về ván đổ thời, th ể của động từ - vị ngữ thỏng qua ý nghĩa ngữ pháp của một số từ đại diện như “í/ỡ, c!ani> vù s è ”:
1 Khuynh hướng thứ nhất cho rằng những từ trên là những từ biểu
đạt ý n«hĩa “t/ỉời ” của động từ - vị ngữ: “í/í7” chí quá khứ, " đ a n g ”- hiện tại
và “s e ' chỉ tươn" lai Quan điếm đó thể hiện trong hàng loạt công trình
nghiên cứu vé ngừ pháp tiếng Việt, tronơ một số bài nghiên cứu' và trong hàns loạt sách giáo khoa dạy mồn tiếng Việt thực hành hiện nay
ngữ pháp hoá của một sự tình trong thời g i a n ” Tất cả các n s ô n ngữ đều có c á c h đị nh vị các sự tình được nói đến trong thời gian, nhưng
1 X e m : T r á n T r ọ n g K i m Bùi K ỷ và Phạm D u y K h i ê m ( 1 9 4 0 ) : Việt N a m văn p h ạ m; M B
E m e n a u ( 1 9 5 1 ) : St u d ie s in V i e tn a m e s e (A n a m e s e ) G r a m m a r; Bin Đức T ị n h ( 1 9 5 2 ) : Vă n
p h ạ m M ệ t Nam' Tr ườ ng V ă n C h ì n h và N g u y ẻ n H iế n L ê ( 1 9 6 3 ) : Khcio luận về n g ữ p h á p
V iệ t Na m : I S Bu s tr o v N v Stankê vich N g u y ẽ n T à i c á n ( 1 9 7 5 ) : N g ữ p h á p liếng \ ‘iệi
( B á n tiến a N ga) ; v.s P a n f i l o v ( 1 9 9 3 ) : C ơ cưu ngt? p h á p tiến ¡ị V i ệ t; v v Đ ào T h ị Hợi ( 1 9 6 5 ) : R e p r e s e n ta ti o n o f T i m e a n d T im e - R e la ti o n s h ip in E ng li sh a n d in V i e t n a m e s e -
N g u y e n M i n h T h u y ế t ( 1 9 9 5 ) : C á c tiêu ph ó ch i thời - thẻ troniỊ tiéníỊ Việt, v.v
Trang 13ngòn ngữ X ngữ pháp hoá cách diẻn dạt V nghĩa thời gian, chứ không bao giờ có nghĩa là: ngôn ngữ X có những phương tiện hình thức đế diễn đạt ý nghĩa thời gian - một mệnh đề hoàn toàn vô nghĩa, vì đã là neon ngữ tự nhiên của con người thì bao giờ cũng có đủ phương tiện đẻ diễn đạt bất cứ ý nghĩa gì” [ 21 b: 538] và bằng phân tích ngừ liệu có các
từ “đã, dang, s è ”, tham gia trong cấu tạo phát ngôn, Cao Xuân Hạo
khảng định: “Cái kết luận chắc chắn nhất mà ta có thể rút ra được từ
những điều suy xét trên đây là tiếng Việt không biểu hiện ý nghĩa thì
khi không cần định vị sự việc trong thời gian Nói cách khác, tiếng Việt
tuyệt nhiên không có t h ì ”[2 1 b: 549] Nguyễn Đức Dãn tron® bài “Biểu
hiện và nhận diện thời gian trong tiếng Việt” (T/c Ngốn ngữ số 3-1996) cũng đổng tình với quan điểm này Ông viết: “Trong tiếng Việt không
có một lớp từ riêng chuyên biệt thể hiện thời gian như một phạm trù
ngữ pháp Nói cách khác, trong tiếns Việt không có phạm trù thì
(tense)”
Chắc chán không ai phủ nhận rằng trong một ngồn ngữ mà việc
xác định thời! thì cùa hành động, trạng thái xẩy ra sự tinh đã được ngữ
pháp hoá thành một phạm trù ngữ pháp như tiếng Nga, tiếng Anh chảng
hạn, thì nhữns “chí t ố ” (hình thái) biểu đạt ý nghĩa thời gian đó bắt
buộc luôn luôn phái dùng kể cả khi không cần thiết Quan sát thí dụ sau:
(Hôm qua chị tôi cĩcĩ gọi điện cho tỏi, còn anh tôi thì không.)
Theo qui tác ngữ pháp tiếng Nga, danh từ - chủ ngừ trong câu là
"í’iổnậ" gì và sự tinh/ sự việc xẩy ra trong tỉiời (tense) nào thì động từ -
vị ngữ phải (bắt buộc) biến thái tươns hợp Theo đó, trong thí dụ dẫn ra
(giỏng cái); Bpaĩ = anh (giống đực) Do đó, động từ 3BOHHT"b = gọi điện
(hậu tố zero dùng cho danh từ giống đực) Như vậy, một phạm trù nỵtĩ
11
Trang 14pháp nói chung, phạm trù thời nói riêng trong những ngôn ngữ tổng hợp
tính bắt buộc phủi ngữ pháp hoá để thành một qui tác ngữ pháp bén
lý: Sự tình trong phát ngôn dẫn ra (7) đã được xác định khuns thời gian
{hôm qua) là quá khứ, thế mà biến vĩ của động từ - vị ngữ vẫn phái cho
biết thời điểm mà người gọi điện thuộc về quá khứ; nghĩa từ vựng của
nhưng hình thái của động từ - vị ngữ trong phát ngôn vẫn phái lưu ý lại điều đó!
(Ngày xửa ngày xưa d ã có một ôn° vua )
Rõ ràng “ Ngày xửa ngày xưa” không có cách hiểu nào khác là chuyện kể xẩy ra trong quá khứ xa xưa Thế mà, trons tiếng Nga vẫn phái dùng một động từ với hậu tố chỉ thời quá khứ tương hợp với danh
thái chứ không phải là nghĩa ngữ pháp So sánh:
b Ngày xửa no ày xưa đã có một ỏn<z vua
Trong phát ngôn (9a) người nói chi hướng người nghe đến nội đung chuyện kể tiếp đó Trái lại, trong phát nsôn (9b), người nói cố ý hướng người nơhe đến điều gì đó khác thường, ví như ôno vua đó có hàns trăm vợ
chẳng hạn Từ '\ỉíT' dùng trong phát ngôn (9b) là từ tình thúi.
Thêm nữa, nếu cho ràng trong tiếng Việt, từ " d ã ” là chi tố ngữ pháp, biểu thị thời (tense) quá khứ thì thật khó lý giái cách dùng nó
irons các trường hợp sau:
Trang 15(10) a Bây giờ em dã có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu
- Cháu tôi đ ã tốt nghiệp đại học rồi.
Trong (10a), từ “í / ỡ” không chỉ biểu đạt một sự tình xẩy ra trong
quá khứ, trước thời điểm nói mà cả trons hiện tại và tương lai Hơn thế,
nó còn biểu lộ một lời trách của người con gái: Sao anh không nói lời cầu hồn trước khi em lấy chồng?
Trong (10b), trạng thái tuổi tác được gọi là già không chi có ở thời
điểm nói mà nó còn tiếp tục sau thời điểm nói Cũng như thế, việc tốt nghiệp
đại học đâu chi có giá trị trong thời điểm nói? Từ “đ ã / dã rối ” trong thí
dụ trên không có cách hiểu nào khác ngoài cách hiểu đó là từ tình thúi.
Từ “dang/ đương” cũng không phải là “chì t ổ thời" đã nsữ pháp
hoá, bắt buộc phải dùng trons mọi ngữ canh giao tiếp Bằng chírns là trong tiêu thuyết “Tắt đèn” với 2.956 câu thể hiện trên 123 trang khổ
mà chi dùng cỏ l trường hợp với từ “đang” và 10 trường hợp với từ
“đitơníỊ” đứng trước vị từ Những trường hợp mà tác giả dùng “đang/
cỉươnq” đều hàm ý sự tình xẩy ra bất thường, có điều gì dó khác so với
lệ thường Chẳng hạn: “Trong nhà có tiếng thét the thé ( ) Rồi lại im
Thì ra vợ chổng ôn° nghị đương ăn cơm.” (trang 28) “ Ăn cơm - troníz
trường hợp này là “ăn cơm trưa” - là chuyện thườns tình, thườn« vào lúc sau 1 1 giờ trở đi Thế nhưng bữa cơm trưa hôm đó lại: “ Bày giờ
mười một giờ là đúns Nhà ta ăn cơm khí sớm.” (trang 35).
Trong tiếng Việt, bắt buộc dùnơ từ “đang/ đươnq” khi trả lời câu hỏi mà ý đồ của người hỏi muốn biết cụ t h ể việc gì xẩy ra đúng vào lúc
nturời nói và người nghe cùnơ trong một thời điểm giao tiếp Thí dụ:
(11) - Này, cậu dang làm gì d ấ y ?
- Mình dung dọc cuốn “Con Nhân mã ứ trong vườn”
13
Trang 16Hơn thế, "íĩtiỉi”/ LỈươny" còn dùniZ cho ca quá khứ lan tươnu lai Thí dụ:
( 12) a - Cậu cùng học một lớp với Minh à?
- Khôniz! Hồi ấy mình cỉaníỊ học cấp hai, còn Minh thì
dang học cấp ba.
b - Thôi, án bát này nữa thỏi nhé!
- Cháu nó đang tuổi ăn tuổi chơi, cứ đế cho nỏ ăn con ạ!
- Nhưng con sợ cháu béo phì!
Phát ngôn ( 12a) có “khung thời gian” biếu thị sự tình xáy ra Irons
quá khứ, cách xa thời diêm nói do từ "Hói âV' thê hiện Từ "dưng" trong trường hợp này nhấn mạnh nhữns bậc học khác nhau của người
trong cuộc thoại và người thứ ba (Minh) nsoài cuộc thoại
Trôna (12b), trạng thái phát triên của cơ thế và hoạt động của người cháu khòng chỉ diễn ra trong thời điếm nói mà theo quy luật tự
nhiên nỏ còn diễn tiến tron« tương lai nữa Từ “d ư n g ” trong trirờns hợp
này chí ca hiện tại và tương lai
Từ "se" tron" tic n 1Z Việt, theo chime tôi, cũng khỏns đủ tư cách
là clii ro íhừi cil a một phạm trù ngừ pháp, c ỏ diều cần được quan tàm là
tron« íĩiao liếp bànu níĩỏn ngữ tự nhiên vù ngay cả trong văn bản (viết)
từ ‘\s'ír ’ rất ít đùníi Trona; “Tắt đèn” chí cỏ 5 trường hợp dùng “.VÉ7”
- Chỗ mày kêu khóc ớ đây à, con mẹ kia? Muốn sống
thì câm cái mồm, không thì ông s ẽ cho một trận nữa
(trang 67)
hy vọng s è được thấy chị (Tý), (trang 76)
đổng Ví7 phải trình quan phụ mẫu (trang 89)
Trang 17nmrừi ta vỡtường nsài được làm quan chi VI bộ râu (trang 89)
tay ông (trang 98)
Qua các thí dụ trên, chúns ta thấy từ “sể" được dùng trong phát
như (13a), (13c), ( 13d) và ( 13d) Trong phát ngôn mà ớ đó người nói
bcỉv tò một V dinh, V muốn trons dự đoán, trong trí tưởng tượng, trong
mon» muốn v.v mà V dịnh dó khóno có trong hiện tại (tại thời điếm
tươnsĩ lai như (I3b) thì từ “s ề ” được dùng về cơ bán cũng giống như
độn", trạnu thái, cỏ the hoặc không thế xẩy ra
Từ những cuốn hãng «hi được, chúng tôi còn thấy từ “sờ" thường
dược dù nu tronii một số trường, hợp khác:
( 14) a - Dạ mời bác đến chơi nhà cháu, bác nhé!
b Que h ươn lĩ, neu ai khôn« nhớ Ví7không lớn nổi thành người
- Vàn i l ạ cháu s è là bác sĩ
d Khỏ nu ãn sán." mà di học thi sè có lúc lá người ra dây, con ạ?
đ Khône tuân thủ luật lệ giao thông s ỡ b ị công an phạt đấy,
liệu hổn mà đi cho cẩn thận!
e Trời vỡ mưa
Trước hết, dỗ dàns nhận thấy từ “sè" dùng trong (14b) và (14c) giống
như cách đùns trons hàns loạt thí dụ ở (13a), (13c), ( 13d) và ( 13d) như dà
phân tích Tron" các thí dụ dẫn ra ở (14) từ “s e ' được dùng để nói về sự tình
tưứĩiíi như sẽ được hiện thực trong tươns lai, trono thời điểm vô định sau thời
15
Trang 18Trong {14a), " s è dến" chi là một lời hứa với mục đích làm thoa
mãn sự mong muốn của nsười cháu Mà lời hứa dù có chân thành rất mực di nữa thì cũng không lấy gì đám báo cho nó được hiện thực trong
tương lai '"‘Sẽ" dùng irons trường hợp này biểu đạt về một khá năng có
thể thực hiện hành độn" trong thời gian vồ định
Trong (14c), cái hiện thực “s ẽ kì bác s ĩ ' cần kèm theo một điều
kiện tiên quyết là “ tốt nghiệp đại học y” Nếu điểu kiện này không có trong thực tại thì kéo theo danh vị bác sĩ cũng sẽ không trở thành hiện
nghĩa “chỉ thời tươn" lai”
Trôna câu (I4đ), “.Ví7” cũng không biểu đạt V nghĩa thời tương lai,
bới vì nội dung câu phản anh một nhận thức của người nói về một quy
l nậi vĩnh hằnÍỊ đã được xã hội thừa nhận Quy luật không chi hiện thực troim tiran« lai mà cá trong quá khứ và hiện tại
nghiệm Phán đoán đó dược nói ra tại thời điềm “ hiện tại” , nhưng cần dược kiêm nííhiộm tính xác thực cửa nó trono “ tirơns lai” Sau thời điếm• c • ♦ c ÍT'
klions hán là “chí tố thời tươns lai”
p h ạ m trù "t hì " theo n^hĩa “ / / / / ” lủ c á c h cìị/ìlì vị d ư ợ c niịữ p h á p h o á c ủ a
m ộ t s ự lình t r o n g t hời g i a n ”, có thể khẳng định rằng trong tiens Việt các từ “d ã , cîang, s e ' không phải là “ c*/z/ t ố t h ờ i g i u n ” được ngừ pháp
(ÌIỈHỊÌ SỪ" biếu đạt thì chưa hẳn đã đủ sức thuyết phục hoàn toàn.
Cũng cấn nói thêm rằng, ở đày chúng tôi kliônơ đề cập một số
kièn giai cúa mình liên quan đốn phạm trù “thê1", mối quan hộ «iừa
Trang 19"i/iừi, thê" trons tiếna Việt Thiết n<zhĩ, tuv đó là nhửn<z vãn (Jé cũn
dược quan tâm cùa nuữ pháp tiếng Việt nhưns khòns phái là trọn« tàm nơhiên cứu của đé tài nàv.C7 J
T I É U K Ế T
Nghĩa tình thái là một trona hai bộ phận hợp thành ns ữ nghĩa cứa câu trong giao tiếp (phát nsỏn) Bất cứ nội dunơ của một phát ngôn - giao tiếp nào cũng chứa đựng nghĩa tình thái Nghĩa tình thái phán ánh thái độ, nhận thức, đánh giá của người nói đối với điều họ nói ra: tức là cách nsười nói đánh giá tính hiện thực hav không hiện thực; tính tất
không cỏ khá năng hiện thực, của điều được nói ra Hoạt động giao tiếp bằn tí ngôn nsữ tự nhiên là hoạt động được xác lập tron« mối quan
câu tiên« Việt theo mục đích íiiao tiếp của nsười nói” khôna thể khônơ ihco hướng tìm hiếu mặt nchĩa tình thái của phát ngôn
Trang 20C H Ư Ơ N G I I
C ơ SỞ LÝ T H U Y Ế T VỂ T Ì N H T H Ả I
N H Ì N T ừ G Ó C Đ Ộ N G H I Ê N cứu K H Á C N H A U
I K H Ở I N G Ư Ổ N
Trong nsỏn ngừ học Ch.Baỉly là người đáu tiên đưa ra thuật nsữ
tình thúi { m o d u s ) với nghĩa: Modus là một trong hai xểii t ố { b ộ p h ậ n /
t h ành p h a n ) tạo thành cáu trúc nghĩa của phát n£ốn Tình thái tham iĩia vào quá trinh thực tại hoá nội dung được miêu tà trontz phát ngôn, biến
nội dun" đó ờ dạn" tiềm năns thành hiện thưc tron" hoạt động Sĩiao■ c c c • c • * k- u
tiếp Cháng hạn, chi một phát neôn t r ầ n t h u ậ t ( k h á n i> di n h hoặc p h ú clịnh) về sự tinh "mẹ v e ' nhưng nsười nói có thê biếu đạt không ít thái độ, tình cam, ý chí, đánh giá khác nhau đối với nội cluns của phát níỉôn ấy
Trang 21r Em nói có sưi LỈủu me khỏníi vê thụt mà\ v_ ■
vân vân
Còn, yếu tố biếu đạt nội duns cua phát naòn ừ dạng tiềm năng,
được gọi là dictum (niịôn liệu (lexis)/ nội dung phát ngôn).
Như vậy, nghĩa của một phát ngôn là do nsôn liệu và tình thái tạo thành Chức năng khu biệt giữa modus và dictum là tiền đề chủ yếu cho việc xày dựng lý thuyết tình thái trona neôn ngữ học và quan niệm đó
đã được giới neón ngữ học thừa nhận rộng rãi Tuy nhiên, tuỳ theo quan diêm của người nghiên cứu, nội hàm của khái niệm dictum và modus đươe hiên khôn« don" nhất và theo dỏ, có nhừim kiến íziái khác nhau,
Cỏ nlũrng thuật nszữ khác nhau Cháng hạn Ch.J.Fillmore trong “The
case for case" cho rằng câu trúc rmhĩa của câu gồm hai thành phần là
“mệnh dừ" (proposition) và “tình tỉỉái"\ M.A Culioli đề nghị dùnơ
thuật niĩữ “tiiỊỜn liệu" {lexis) thay cho thuật ngữ “mệnh đ ề ” bởi vì thuật nỵữ “ntệnỉì ííê" đã quen dùng trons lôíiíc học, gây nên sự hiểu nhầm đối với thuật niũr "dictum" Trong khi đó F.R Palmer dims cập thuật ngữ
“Mood - M o d a l i t y ” (Thức - tình thúi) thay cho dictum- modus và óna
quan niệm rầrm sự phàn biệt hai thành phần ‘7 ình thúi và nội clntìíỊ
mệnh cỉ ừ" tron" cấu trúc nshĩa của phát nsôn sần ơQi với sự phán biệt
giữa '"hủtìh vi tạo lới (ỉocuĩionary act) " và 'ặỊic)nh vi tụi lời (illcittionarx
Íicí)" của lý thuyết hành CỈỘIỈÍ> ngôn từ (Theory of speech acts) do
J.L.Austin để xướng Bời vl, tron» “hành vi rạo lời" rmrời nói nói về một diều ÍIÌ đó, còn trons "hành vi tại Ịời" người nói hàm một ý sì đó (chủ ý của nuơời nói): còn tins “hành vị mượn lời" nsirời nghe biến đổi trạng thái tâm
lý, nhạn thức hoặc làm một hành động gì đó như hưíia hẹn, xin lỗi, cám ơn, trá lời câu hói v.v
19
Trang 22Troniĩ vãn ban nghiên cứu đo tài nàv, chúng tòi lựa chon cậpw c r J c • ■ ầ
thuật ngữ "tình thái" (modus) và "/lội íỉttiìíỊ phứt tìíỊôn" (dictum) khi cán
lv íĩiái nhĩrn« van đé liên quan Bời * *— 1 VI, dims thuàt rmữ "mệnh cỉê" thayc • W • "*
vì "'nội dung mệnh cìé" cũnơ có cái 2Ì đó chưa ổn Bời lẽ, nói đèn phạm
nói đến những gì gán với mục cỉích ỳ a o tiếp mà nhân vật giao tiếp dùng
nũồn ngữ với tư cách là phương tiện để biểu đạt mục đích đó Mỏi cân
được làm đầy bằng nhữns đơn vị từ vựng cụ thê có thế được dùng trong
nhữns bối cánh giao tiếp khác nhau nhàm biểu thị nhiều mục đích giao
tiếp khác nhau, đỏ chính là phát MỊỎn (câu - lời/ câu giưo tiếp) chứ
nay, thuật ngữ “mệnh đe" (Proposition) được tlùns trong ngôn ngừ học
vẫn chưa dược xác định nội hàm nghĩa của nó; đến nỗi có nhà nghiên
cứu Việt rmữ viốl “Thật không có thuật ngữ nào bất hạnh hơn tluiật ngữ
“ mệnh dề” [ 2 la: 20]
MỤC ĐÍCH
Nhữiiíi thập niên đầu của thố ký XX rmôn ngữ học chịu ảnh
hướim cùa quan diêm cho rànu “dổi íượtiỉị duy nhất và chân thực của
lìíỊÔn ni>ữ học lủ ngôn ni>ữ, xét tronq ban thân nó vù vì bản thân n ó "
[35: 393] Quan điếm này đã tuyệt đối hoá sự đối lập giữa lỉíịôn ngữ
“ như là một hộ thốn« chì biết có trật tự của chính bản thân nó” với lời
nói, cho dù có thừa nhận “ngôn nsữ là cẩn thiết đế cho lời nó có thế
hiểu được và gây được tất cá những hiệu quả của nó” [35: 45]
Trong “Giáo trình MỊôn tìíịữ học dại cương”, F.D Saussure dành
quan tàm lớn đòn việc phàn giai, chứns minh “ ngôn ngữ chỉ là hình
lỉúre, là hệ thốim của những quan hệ phi vật chất” Ngôn Iisữ được
nỵhiên cứu một cách cô lập tách khỏi mỏi trườn» hoạt đ ộns của nỏ
Nhưng, theo chứng tôi, nếu nsổn n»ữ chi được “xem xét trong bán thân
Trang 23no va V I ban thân nổ thì ngôn ngữ đâu còn là một phương tiện 21 ao tiẽp quan trọng của xã hội loài nsười!?
Ngôn ngừ là sản phám của lời nói Lời nói hiện thực chức năn« giao tiẻp và tư duy của ngôn ngữ trons thực tại Và, như đã rõ muốn tư
: c * c c
tiêp gôm hai bộ phận “dictum và modus” Nhờ nghĩa tình thái, chủ thể
Trong lôgíc học, “mệnh cíề1' là đơn vị của phán đoán Nội dung
cua mệnh đề cũng được chia ra làm hai phần: phần ngôn liệu (dictum)
và phần thứ hai là tình thái (modus) Trong phán ngôn liệu (phán nội dung của mệnh đề), người ta quan tâm nhiều nhất đến vị ngữ lôgíc đế
cổ được một phán đoán
Thí dụ: (16) Tôi lủ bác sĩ.
Mệnh đổ này có vị ngữ lôgíc là từ ‘Ví/” ; các từ “/ôi”, “bác s ĩ ' clcu
là tham tố của vị neữ “/ừ” Phần mocỉus là phần cho chúng ta biết môi
liên hệ đỏ có hiện thực (thực hữu) hay khôn"; hoặc mối liên hệ đó có là
ỉ ủ t \' ỜII hay không; hoặc mối liên hệ đó cỏ lù khả nãnq hay khôn« Mệnh
đề "Tòi lủ bác s f ' sẽ là mệnh đổ có nghĩa tình thái khá nãnq, nếu chúng ta thêm tham tố “Có the ’ vào cấu tạo của nó: “Tôi cỏ thê7 là bác sĩ.
Tất ca tình thái trons lôgíc học như trên (hiện thực, tất yếu khá nữ nệ) đều được xác định bằníi giá trị “chân, nqụy" của phán doán với nhũn« mức
độ khác nhau của tính chất ấy và sự phối hợp giữa các tính chất ấy
Nsỏn ngừ học và lỏơíc học đều quan tâm đến tình thái (modus)
Nhưng tình thái trons lôgíc học thiên về tình tìiái khách (/nan tình thái
bị ước định bới íiiá trị chân, ngụy của phán đoán Tình thái trong ngôn
nỵừ học thiên về tình thúi chủ quan, tình thái dược quy định bởi mục
đích eiao tiếp của chù thê giao tiếp
21
Trang 24Tình í/ĩái khách (/¡tan phản ánh mói lien hộ íiiữa nội dunu ihỏnc
tin VƠI thực tại trong sự xác nhận tính ‘7hực hữu hav “/?/?/ ihực" cua tliôníi
tin đó Tinh thái theo nghĩa này đều có Irons bất cứ phát neón nào
I ình thái chủ quưn là môi lien hệ giữa nội duna ihónü lin với lãi• ^ s
cả những gì thuộc về ý chí, tình cảm thái độ bình giá của người nói lại thời điểm nói Nó là dấu hiệu không bắt buộc của phát neón, kliôns bị
ước định bởi giá trị “chân, ngụy” của nội dung phái ngôn Nhir vậy tình
thái chủ quan không những không đồng nhất với tình thái khách quan
về dung lượng mà còn đa dạng phong phú hơn nhiều, mặc dù Irone, tình Ihái chủ quan, phần lớn đều có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến
tinh luện thực, tính lát yêu hay tính klìa nãỉiíỊ Chana hạn irong thí dụ
(15) dẫn ra ở trên, tuy cùng một phán đoán “tlụrc hữu" về sự tình (mẹ
về) nhưng tình thái chủ quan được hiểu đạt qua các phái nuôn thì khác
nhau: o (]5.a), chúng ta có tình thái chu quan k'klniiìíỊ (ỉịnli - xác tín"
Có nghĩa, người nói cam kốt rằng sự tình (“Mẹ YC / Mẹ về rồi") là có
thật- tôi khẳng định lính chán thưc của thông tin ấy - So sánh với (15.h)
- “ Mẹ về ỊỈìậỉ rồi" - cũna là lời cam kéì khán« định tính thưc hữu cua SƯ• c? .
tình, nhưng sự khẳng định đó cổ dược từ mội suy nchĩ trái nmrợc với
suy nghĩ trước đó Có nchĩa, trước khi dưa ra phát ngôn "Mẹ VC íhậi
rồ i'\ người nói đã từng suy nshĩ: “Có ilìé mẹ khỏna hoặc chưa ve’*.
ơ (15.a) ( 15 -b), chúng đã cổ tình thái liên quan đến thời diêm su tình xảy ra trone hiện thực Loại tình Ihái này mane tính Tinh thái khách quan Còn nhừns tình thái chủ quan biểu lộ trone các thí du còn lại (từ 15.C đến 15.n) là vó cùns đa dạnc Có Ihể khái quái chúns thành các nhóm nhỏ như sau:
1/ Tinh thái trong (15.c), (15.d), (15.e) và (15.e) là tình thái
“khẳm* íỉịnỉì - xác tín” được thể hiện qua các lừ tình thái hoặc
kết cấu tình thái, hoặc quán ncữ tình thái: “Klìónĩ> ihứ klỉóìĩỊi
Iilìâi định, ilìứ iưìo cũ nạ", và lili íịì!
Trang 252/ Tinh thái “khẳng định - phòng đoán " trone (15.đ) do từ "hình
n h ư biểu đạt.
3/ Tình thái “khẳng (linh - cam kết / cíoan chắc" trong ( 15.h) dược biểu thị bàng từ “thậtỊ tìiật l ồi ” ở cuối phát rmòn;
4/ Tinh thái “khẳng cĩịnh - điều kiện" do kéì cáu cú pháp “ n ế n
thì ” biểu thị trong (15.i);
5/ Tinh thái “khẳng định - đôi chiếu” trong (15.1) do lừ “c/í/” thế
hiện;
6/ Tình thái “k h ẳ n g đ ị n h - loại trừ” irons (15.k) biểu đạt bầnơ từ
“trừ phi ”;
7/ Tình thái “khẳng dinh - /7í,'ựf nhiên” trona (15.m) \’à tình Ihái
“khẳtìíị cỉị/ilì - monq dợi” trong (J5.n).
Trong từng nhóm nhỏ kề trcn nếu đi sâu phán tích còn có thế phân chiết ra nhiều sắc mẩu tình thái khác do nhữno từ tình thái, quán ngữ hoặc kết cấu tình thái khác nhau thê hiện trong phát imõn
Trên đây chúng tôi đã dề cập đốn các liêu loại của lình thái khẳniị
định Quan sát tiếp các thí dụ dẫn ra trong (15), từ (15.0) đến (15.U) ta
thấy tình thái trong cấu trúc nghĩa của phát ngôn ihuộc loại lình thái
phủ định Đó là loại tình thái “phi Ị hực" đối lập với tình thái "thực Ììữu" theo lôgich học Loại tình thái phù định cĩíns khônc ÍI sắc mấu
biểu hiện irons các phát neôn khác nhau: ớ (15.0) “ Mẹ không vé" là tình thái phủ dinh sự tồn tại của sự tình tại thời điếm nói So vói ( 15.p)
sự tình khốns chỉ không xẩy ra tai thời nói mà người nói còn biếu đạt một nhận định “Lẽ ra mẹ về rồi nhưng đến giờ vẫn chưa vé” Cá hai
tiểu loại tình thái có từ tình thái “không và chưa" tham gia vào câu lạo
của phát n°ồn, thường được 2 Ọ Ĩ là tình thái ‘7?/ í / ĩ dị nil - miêu ta" Tinh
thái trong phát ngổn (15.q) và (15.s) đều là lình thái “phù LỈỊIỈÌI - bác
h o ', tuy cách “bác bỏ" không 2Ìốn2 nhau Tình thái "plìii íỉụih - bác
bó" cho biết irons quá Irình giao tiếp liên nhân, n ê u cỏ m ộ t n g ư ờ i
2 3
Trang 26“khủng dinh - xác ĨÍIĨ” về một ihuộc tính / đặc trims nào dó cua sự tình
đang đề cập tới thì người nglic lại cho rằn« ý kiên kliánc định đó là không đúng (phi thực) và cần phải “bác bỏ” ý kiến đó Ở (15.q), tình thái
“/?//// (tinh - bác bó" được thể hiện qua “kiếm imhiệm” còn tình thái o (15.s) chỉ đơn thuần là miêu tả sự “/;//// định - bức bỏ" Kết cấu “ ( V Í
đâu" trong trường hợp này mang nghĩa “ nhấn mạnh" ý bác bỏ đồn2nghĩa với tình thái trong (15.1) Thật thú vị khi đối chiếu 2 kết cấu có
biểu Ihức khác nhau: “ Mẹ có về đáu!” và “Mẹ không về cíâuV' nhưna
dâu” trong (15.r) thể hiện một niềm tin cliắc chắn của người nói vào
suy nghĩ về tính phi thực của sự tình và đã cánh báo trước với nil ười
nghe về điều ấy Trono khi cĩó, quán neừ tình thái “biết dân" Irons (15.il) lại biểu thị sự khẳng cỉịnlì dò dặt của người nói vé tính phi thực
của sự tình
Tóm lại trên đây chúng ta dã cié cập đốn mối quan hệ' lien imànhgiữa lôgíc học và nsôn ngữ trong vấn đổ nuliĩa tình thái của phái Iiíiỏn,đồng thời nói đến sự khu biệt giữa lình thái khách quan và tình thái chu quan cùng với những nét nghĩa đa dạne
nền móng cho sự phân chia nội clung risilla của tình thái dựa lréII liêu
modality) và tình thái trách nhiệm / đạo nghĩa (cỉeonlic modality), v ề
sau hàn« loat các nhà ncữ hoc đươc si ói n.aôn ns ữ học bict đến nhưo • o • cr cr •
lình với quan điểm phân loại nội dime nchĩa tình thái nhu' tren, mặc dù trong họ cũns có nlnìnc quan niệm về nehìa tinh thái khác nhau, chăng
Trang 27n&ụy (alethic), tình thái tồn tại (existential) bên cạnh tình thái nhạn thưc va tình thái đạo nghĩa Còn M A K Halliday lại cho runs tình thai chi là sự biêu hiện mức độ Irung gian (intermediate decree) íiiữa hai thái cực khăng định (possitive pole) và phủ định (negative pole) về kha năng nhận thức (epistemic possibility), vì khi đưa ra một phát ngôn, người nói đồng thời tỏ rõ quan niệm khảng định hoặc phủ định nội dims của phát ngôn ấy [19: 86] Hiểu một cách khái quát, theo d ú m 2 lôi, tình thái mà Halliday quan niệm như trên chính là tình thái nhận thức
cũng chính là nghĩa tình thái sinh ra từ nhận thức của na ười nói
Theo Lê Đồng và Nguyễn Văn Hiệp, “Những năm aần dây, cách
phán chia các ý nghĩa tình thái thành ba phạm trù: tình thái khách quan
IỎỊỊÍC (alecthic), tình thái nhận thức (epistcmic) và lình thái clạo nghĩa
(deontic) là cách phân loại phổ biến” [11] Nhưng, lại có cách phán loại
nghĩa tình thái như cách phân loại cua F Kiefer Irong cuốn "Bách khoa
thư ngôn ngữ và HỊỊÔn ngữ h ọc" (1994) Tình thái nhận thức, theo ỏng,
được phân biệt thành tình thái nhận thức khácli quan và tình thái nhận
thức chù quan Tình thái nhận í lì ức klìácli quan là tình thái có tron«
nhữns, cáu (hiểu theo nghĩa: phút níỊỏn) trình bẩy mội sự thật mà sự thật
đó được miêu tả có thể được khẳne định, hoặc bị phù định, hoặc bị chát
vấn khi đối chiếu chúns với thực tại Nhữne cáu có íình ihái nhận thức
chù quan là nhĩrníi câu diễn đạt niềm tin cùa người nói vé điều được nói
ra Vì thế, những cáu đó không thể kháng định, phù định hoặc chát vấn:không thể đối chiếu chúns với thực lại
Trong tiếns Việt, Cao Xuân Hạo là ncười đầu tiên để xuấl hai thứ
tình thái khác nhau về bình diện: tình thái của hànli động phát ngón (modalité d ’enoncialion) và tình thái của lời phát nqón (modalilc
done tình, ủns hộ tu\’ có điều chinh đói chúi (Xcni: •w L , • r T/c Nsón nsĩr số v _ 2003)
8-25
Trang 28Theo Cao Xuán Hạo “Tình thái của hùn lì ÍỈỘÌ 1ÍỊ phủi fií>ón phân
biệt các lời nói về phương diện mục tiêu và lúc (lụnq giao lố: dó là sự phán biệt quen thuộc giữa các loại cáu trần thuật, câu hói, câu cưu
klìiến, vốn là những sự phán biệt được ngữ pháp hoá (được the hiện
băng những sự phán biệt về hình thức đã được mã hoá tronsi naừ pháp)
Cho nên được ngữ pháp cố truyền miêu tả từ láu Sons, ở íỉãx còn plìdi
kẽ thêm sự phân bỉệt hai ỉ oại câu trần tỉìuậi (hay miêu t á ) lức m a n a
tính chất thống báo thuần tuý và những cáu cỏ giá trị ngôn trung
(Ulocutionary force) được đánh dấu: Câu xác nhận, cáu phản bác (đặc
biệt là cáu phản bác phủ định) và nhất là cáu ncỏn hành Tình thúi của
hành CỈỘIÌÍỈ phái / 1Í>ÓỈÌ thuộc lĩnh vực' dụnq pháp.
Tình thái của ì (ri plìát ngôn thuộc nội duníỉ được tru ven đạt hay được yêu cầu iruyén đạt (trong cáu Irán thuật hay cáu hỏi), nó có lien
quan CỈCIÌ thái độ của nại rời nói dối với cíicu mình Iiói ra, hoặc đốn quan
hệ giữa sở đề và sở ihuyêt của mệnh cìc Đó là phán quan trọn o (liu bình
diện nqlũa học ” [21: 51] (chúng lỏi in nnhiênc - ĐTH).
Như đã rõ, số đông các nhà neữ học nước neoài nhát trí cho rằnc nội dung nshĩa tình thái chủ quan bao cóm 2 loại nghĩa: nghía cùa tình
thái Iihận thức và nehĩa cua tình thái dạo Hiịhĩư (ní>hĩíi vụ/ trách nhiệm).
ĩiictìì tiu, sự cam kết xác tín, của người nói đối với điểu họ nói ra
trách nhiệm ) là loại nshĩa “liên quan đến tính hợp thức những chuẩn
mực xã hội về đạo đức hay các chuẩn mực khác đối với hành dộng do
một người nào đó hay chính người nói thực hiện" (F.R.Palmer: "Mood
and Modality” - Cambridge University Press 1986 Irani! 51.- Dan theo
Trang 29[12: T/c Ngốn ngữ số 8-2003, trang 57)] Thuật níũr “cỉcontic" trona liếng Hy Lạp có nghTa là “lililí bắt buộc / ràỉìíỊ buộc (phliạation)" hoặc
“sự cho phép ịpermission)" Tinh thái đạo nghĩa Ihườne được xcm xót
dưới góc độ hành vi: bắl buộc hay không bắt buộc; cấm đoán hay khỏnỉỉ cấm đoán; được phép hay không được phép và miễn trừ hay khỏnc miễn trừ Xem xét thí dụ sau đây:
Thí dụ (17): “(Một ông trono bọn họ chỉ vào đồ vật ấy nói:)
a- Thiếu có hai hào rưỡi bạc chúng tôi đã Ịihái sán
mười một cái ô, mà bà vẫn khônc bằrm lòns, thật khồne, biết điều chút nào
(Nhà hàng vãn khăng khănc một mực:) b- Các ông bảo mười một cái ó ấy bán cho ai được hai
hào rưỡi? Nếu khôn« cho tiền thì các ỏng phai đê
lại cho tôi một cái áo thc kha khá lại dãy Chứ lói giữ ổ cùa các ồng đê làm “ cắp chá" à!
c- Nhưng mà chúng tói còn phai vào hâu quan bãy
ciờ Để cái áo llie lại đây thì khoác cái áo cánh nâu vào hầu quan Ư?
d- Tối không biết Nêu không íúri áo thì các ông phai
trả tiền tỏi
(Cả bọn ngơ ngác nhìn nhau, ông kia gát ông nọ:)
oi phái lôi thôi thê nàv Thái là xâu vơi hàng phu
của ncười nói trona íiiao tiép
27
Trang 30Trong thí dụ dẫn ra, các phát ngốn ờ (17.a) (17.C) và (17.đ) ilic
hiện nghĩa tình thái nhận thức chủ quan (epstemic) Tronc (17.a) Ilsười
nói tự hiểu theo lẽ thường là “thiếu tiền/nợ tiền” ai đó thì buộc phai gán/ thê chấp vật gì đó có giá trị tương đương, hoặc nhiều hơn số tien
nợ, nếu chủ nợ không có tiền trả nợ Trong trường hợp này, nghĩa tình thái nhận thức nối trội hơn nghĩa tình thái đạo lý (deontic), bơi vì nsười nói là một người có địa vị chức sắc, hơn thế người đó có ý thức tự trọng, giữ danh giá cho mình Trong phát ngôn (17.C) tình thái nhận thức được xác định theo nghĩa “chầu quan trên thì p h ả i ( c a n / n e n ) ãn mặc chỉnh tể, nghiêm chỉnh (mặc áo dài the) theo chế định (CỊIIV định) của lễ giáo phong kiến.”
Trong (17.CÎ), người nói tự nhận thức vé nguyên nhân xáy ra “việc lỏi thỏi này” Đó cũng là tình thái nhận thức chủ quan
Các phát ngôn còn lại (17.b), (17.đ) đều là nhữnii phát nsỏn maní!
nghĩa tình thái Irácỉì nhiệm (đạo n g h ĩ a / I i í ị h ĩ a vụ) chủ quan Theo đó,
người nói buộc người nghe phải thực hiện trách nhiệm: không có tien trả thì ắt phải gán/ thế chấp (áo the)
Thí dụ khác: (18 ) Tôi cố th ể nói liens Nca.
nçhîa tình thái của nó là tình thái nhân thức: n£irời nói cam kết ràn SIo C / V mình biết nói tiens Nga Nhưng, nếu xem xét phát ncỏn trong tình huống giao tiếp bất Ihườns, chẳng hạn, một người Nea sana Việi Nam đi du lịch, thì phát ngôn đó cùng với ngữ điệu nehi vấn nana cao hơn ớ từ “có the” ( Mory) lại thuộc nghĩa tình thái đạo nshĩa Bởi vì đáy là hành vi xin phép (cho phép tôi được nói bằng tiếng Nsa vì tôi khôns sành ticng Việt)
-Như thế, cùng mộl phương thức có thể biếu đạt nhiều loại nghĩa lình thái và naược lại một nshĩa tình thái có the có nhiều phương thức hiểu hiện
Như đã biết, nsôn ngữ và tư duy cổ mối quan hc tương liên tát yếu Trước khi dưa ra một phát nsỏn tham ỉiia vào hoại động giao tk-p
Trang 31chủ thê của hành động nói năng đã hình thành mục đích ciao tiếp của mình Nhờ ngôn ngữ, mục đích giao tiếp của người nói dược hiện ill ực
những điều cẩn biết, yêu cầu nhau đáp ứng những ctiéu mình chưa biết: thúc đẩy nhau hành động Tất cả những điều đó đều do neôn từ thực
hiện Vì thế, ngòn từ cũng là “hành động” như bất cứ hành độn« nào
khác mà con người trong xã hội cần thực hiện trone cuộc sống đời thường “ Một lời nói cũng là một hành động như bất cứ hành động nào khác của con người tác động đến người khác” [ 2 la: 6]
Quan điểm đúng đắn này bắt nguồn từ ]ý ihuyếl "Hành líộỉiiỊ
tìíỊÔn t ừ ” (Hành vi HÍỊÔIĨ tĩíịữ) của J.L Austin với công trình nshicn cứu
được các nhà ngữ học biết đến: "How to do ílìiníỊs with words" (1962).
Theo ông, có 3 loại hành vi ngôn neữ troim một phát ngón \ à đặt tên uoi cho 3 loại hành vi đó như sau:c > •
1/ Ilành vi tạo lời (Locuìionary act)ỉ hành (lộng lại lời (theo
[21.a: 63] là hành vi mà khi nói một diều gì đó người ta dùng những yếu tố ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp kết hợp lại đế tạo ra một chuỗi âm thanh - ngôn ngữ làm nên một lời nói (phát ngôn) theo chủ ý giao tiếp của người nói; hoặc ghi lại trôn văn bán bàng con chữ
Thí d ụ( 19): Cháu chào ông ạ!
Phát ngôn giao tiếp này do các từ “ợ, chào, ÔIÌỊỊ, chán ” két hợp
với nhau theo qui tắc ngữ pháp của tiếng Việt tạo thành Nhưng nêu chu
ý của người nói (Speaker meaning) - trong trường hợp này là người
cháu - là một lời chào trước khi đi học, thì lời chào đó mang nghĩa "lạm
biệt" Nhưng nếu cũng lời chào áy được dùng trong ngữ cành giao tìếp{U khi người cháu đi học về thì lời chào lại mang nghĩa í% gụp ỊỊỜ •
S'íỉữ cành ỊỊÌCIO tiớp [Conicxt (if Situơtion ) là mol loại moi trướni: cua tinh Iiuhiiị: j:uto tKp phi
ngón ngữ Các YCU tô lạo thành nuữ canh giao ikp lú nhản \ai (vai) iiKiO liOp t|Unii hc hen Iilian hiện thực ngoài dicn ngôn như ticn dinh ngữ dung, chu lic giiio 1ICỊ) \
29
Trang 32Một chuỗi âm thanh - ngốn ngữ tạo thành một phát nsôn trong giao tiếp
bao chứa chủ ý của người nói
Thiện Giáp), Hành vi ở lời (Đỗ Hữu Châu [8: 89], ỉ lủ nil CỈỘUỊÌ xuyên
ngón [Cao Xuân Hạo [21 a: 63] là hành vi mà khi nói ra một lời (phát
ngôn) người nói muốn khuyên bảo, cam kết, hứa hẹn, khắn« định, phủ định, bác bỏ, yêu cầu, đề nghị, trả lời, nghi vấn, v.v Hành vi tại lời nằm ngay trong hành vi tạo lời Có nghĩa, nhận diện ra hành vi tại lời
nhờ vào các yếu tố ngôn neữ, nhất là dộng íừ Iii>ữ vi (l) có trono cấu tạo
của lời nói, có trong “hành vi tạo lời”
3 Hành vi mượn Ị ('ri (Pcrloculionary act) - Hành dộiu> sau lòi (Nguyền Thiện Giáp); Hành cỉộtiiỊ xuyêìì /ìiỊÔn (Cao Xuân Hạo, Hoàn»
nhận nội dung phát naồn của người nói, naười nghe có những biến dổi, thay đổi về tâm trạna, nhân thức, đánh ” i;í lình cám thậm chí biếu
một tác đỏn£ đến ncười níihe Chán” hạn:
(19) a Ồng hỏi cháu có nín đi không, thì bảo?
b Ồng cấm cháu vẽ bậy lên mặt bàn!
Khi nehe xons (19.a ) chắc chán na ười cháu cỏ nín đe không khóc nữa Tươim tự như vậy khi nghe xona phát nsồn (19.b) ncười cháu dìrne việc vẽ bậy lên mặt bàn
( I ) Động lừ ngữ vi {Performative verb) là l o ạ i d ô n g từ đ ặ c i r ư n g c h o “ h à n h vi tại l ờ i " M ộ t phái
n g ô n d ư ơ c g ọ i là n g ữ vị n ê u n ó đ ư ợ c d ù n g đo m i ê u tá rnỏt h à n h vi n à o d ó c ú a n g ư ờ i n ó i ; l ức Iã, khi p h á i n g ô n x o n g đ ộ n g l ừ n g ữ vi thì h à n h vi đ ỏ d ỏ n g t hời d ư ợ c i h ư c h i ệ n
Trang 33Như vậy qua cách nói năng thể hiện hành vi tạo lời qua neừ cảnh giao tiép cụ thể, người nói biểu thị một chú V nào đó một mục đích giao tiếp nào đó mà người nghe có thể nam hát dược Nhưne có khi người nghe hiểu được nội dung câu nói nhưng không the nám bát được
chủ ý của người nói Như vậy, có hành vi mượn lời trực liếp và hành vi mượn lời gián tiếp Quan sát các thí dụ sau đây:
(20) a Cậu có thuốc klỉôriiỊ?
b Vì sao cháu khôns đi họp lớp?
(22) a Thưa cô, cm chưa hiểu cách Íiiiíi bài toán này ạ
b Trưa rồi (Sáng chảng cỏ gì vào bụng cả!)
c Giá xăns nlìữní' 10.000 đ/ lít.
câu và nội duns của nó có sự tương hợp một đối một Theo đó, nsữ pháp truyền thống mặc nhiên chia cáu iheo mục đích nói nãns irong
giao tiếp liên nhân thành bốn loại: cáu trần thuật! cảu kê; cáu hói / cáu
lìiịlii vấn; cáu mệnh lệnh/ cáu cấu khiển và cáu cảm thán/ cáu cảm và ở
mỗi loại câu như thế, trên văn bán cổ dấu cáu iươne line Thực chất,
khi na ười nói, ne ười nghe thật ỉhônc hiếu được chủ ý cua nhau thống
neón của phát nsỏn) Điểu đó cũnc có nahĩa: hình thức cáu tạo cua cáu chia theo mục đích nói năne như níũr pháp trưvén thóns quan niém
31
Trang 34chưa han đã là hình Ihức biêu đạt chủ ý cùa chủ nsỏn tro ne hoai đóns* J v_ • cgiao tiếp Bàng chứng là:
- Câu (20.a ) có hùm V {chủ V cua người nói I n / y C ÒIÌ LỊ(>i là 'life ngôn trung gián l i ế p ” —> (Indirect illocutionary force) của lời là: Đề nghị cậu cho mình xin điều thuốc.
- Câu (20.b), (20.c) và (20.đ) tuy hình thức cấu tạo của cáu là câu nghi vấn như cáu (20.a), nhưng mỗi cáu trong chúng lại có hàm ý khác
nhau của người nói: Đối với cáu (20.b) là một lời khuyên (cháu nên đi họp lớp); với câu (20.c) là một lời chỉ trícli, khiển trách: lẽ ra/ đúno ra ông chủ nhiệm phải có mật; và câu (20.d) hàm ý là yen cầu: Cháu hãy
ngồi xê ra
- Về hình thức cấu tạo, các câu trong thí dụ (21) cỏ thể là câu cảm thán hoặc câu cầu khiến luỳ ihuộc vào bối cảnh ciao liếp cụ thể
Chủ ý của người nói trone câu (21.a) là plìii định: tỏi không Ihê biết được việc ấy/ điều ấy; câu (21.b) có thê là lời yên cấu: hãy bật quai đi!; với câu (21.c) là lời cầu khiến: den uiừ họp rỏi, vào họp đi! và câu (21.d) có thể là lòi de cỉoạ: coi chừnu mẹ vé đấy! hoặc một lời kìiuyén
ngủn: mẹ về đấy, đừng đùa nchịch nữa!.
- Những thí dụ trong (22) cĩins cớ nhừng hàm ý khác với hình
thức biểu hiện (câu trần thuật) của chúns: với cáu (22.a ) - là lời líe nghị (giảng lại bài toán): (22.b) - hàm V dc nụhị (dọn cơm ãn (trưa) \ì đã muộn); câu (22.c) - lời liìatĩ phiền (giá xăno cao): và với cáu (22.đ) - lời
khuyên ngà (Cháu khône nên hái hoa!)
Qua phân tích trên, có thể thấy rằng chí khi nào người nghe thòng
act) trực tiếp hay gián tiếp cua người nói thì khi ấy lời nổi mới có hiệu lực Irons giao tiếp và “hành vi mượn lời" (Perlocutionary act) mới trớ
độns khôns chỉ ỏ' nsưừi nahe mà ca ứ n<:ưò'i nói chánc hạn người nói
Trang 35nói: Chúng ta di nhé! thì sau lời nói này cả người nói lan Iiíiười nghe
đều tiến hành hành động “í//
TIỂU KẾT
Trở lên trên, chúng ta đã đổ cập đến vấn đề nghĩa tình thái trong lôgíc học và ngôn ngữ học
Trong ỉồgíc, giá trị đúng - sai (chán - ngụy) của phán cíoán được
xác định trên tính hiện thực, tính tất yếu hoặc tính khá nãns của phán đoán đó so với thực tại Nội dung nghĩa của một phán đoán chính là nội dung CỐI lõi của một câu trong ngôn ngữ Chỗ khác nhau lớn nhất, dễ nhận ra giữa hai chuyên ngành lồgíc học và ngôn ngữ học là đối tirựna khảo sát: Ngôn ngữ khao sát cả 4 loại cáu Irong hoạt dộníi ciao li ốp; trái lại, lỏgíc học chỉ khao sát mộl trong 4 loại câu Đó là câu trán ihuật
ứng với phán cíoủỉì (hay còn gọi là “mệnh cU' ”) Các mệnh cié logic (các
phán đoán) đều dựa trên đặc trưng cơ bản của mối liên hệ ciữa chu từ
và vị từ lôgíc xét trong khía cạnh phù hợp giữa chúim với Ihực tại
Chẳng hạn, phán đoán: “Trời mưa" Theo quan niệm của lỏgíc học phán đoán đó là đúng nếu vị từ lôgíc “mưa" phan ánh diìng thực tại: ngược lại phán đoán đó là sai nếu trong thực tại “trời nắng” Trong
phán đoán (mệnh đề) lôgíc, người ta gạt bỏ ra ngoài những nhân tố tluiôc về muc đích nói năn2 của ncười nói Vì thế có thế nói ràna lình
thái của 1 ôerc là tình íhái khách (/nan: nỏ khôna hề bị tác động, bị anh
hưởng bởi những nhân lố như thái độ tình cảm, nhận định, đánh giá của chủ thể phán đoán
nhà neừ hoc nước ncoài đã khảng định:
liên nhân
s S
Trang 362 Nội dung nghĩa của một phát ngơn được tạo Ihành tron a sự
ìổHỊỊ hó 2 phương diện: nội dung cơ) lịi cùa phái m>ĩn do từ
ngữ, kết cấu cú pháp trong cấu lạo của phát ngơn và nghĩa tình
llìái biểu đạt mục đích, nhu cầu, thái độ đánh giá v.v cua chu
thể phát ngơn đối với nội dung cốt lõi ấy, xét tron« quan hệ với hiện thực, với đối tượng giao tiếp và với các nhân tố khác của ngữ cảnh giao tiếp
3 Nghĩa tình thái trong một phát nsốn của người nĩi được xác
định gồm hai loại lớn: Tình thái nhận íììửc chù quan và lình
íììúi đạo Hỉịìũa / trách nhiệm.
4 Trong hoạt động giao liếp liên nhân, một lời nĩi (phái nơỏn) cũng là một hành động Với sự ra đời của học thuyết hành
ỈIÍỊĨH từ (Hành vi ngơn Hí>ữ) của Austin, đặc irưng ban chất của
phát ngơn đã được làm sáng tỏ, đồng Ihời xố nhồ ranh íỉiới cực đoan giữa n«ốn ngữ và lời nĩi theo quan niệm cua F.D.Saussure; làm sáng tỏ thêm luận đề “ngĩn ncữ là phươne tiện giao tiếp quan trọng trong xã hội lồi người”
Trang 37C H Ư Ơ X G I I I
TÌNH THÁI TRONG VIỆT NGỮ NGHIÊN c ứ u
Các nhà ngữ học nước ngoài đều xuất phát từ góc độ lý thuyết đế giãi thích nghĩa tinh thái trên bình diện nghĩa học qui chiếu tất cà sdc
mầu đa dạng của tình thái thông qua bộ lọc nhận thức và dạo nghĩa
(nghĩa vụ, trách nhiệm) của người nói Nội dung của nghĩa tình thái đạo
nghĩa được quy định bởi chuẩn mực đạo đức, qui ước của một cộns đồng xã hội Vì thế nó không thể mang tính phổ cập cho tất ca các cộng đổng dàn tộc Nhưng, nội dung cứa nghĩa tình thái nhận thức lại có tính phổ cập, bởi lẽ nó thể hiện mức độ cam kết của người nói về tính chán thực của điều mình nói ra Đây chính là cách trình bày thế aiới khách quan hoặc thố giới chít quan theo quan cticm, nhận thức của người nói Nội dung của nghĩa tình thái nhận thức (epistcmic modality) gồm có:
a/ Tình thái thực hữu (/active): Từ những hiểu biết, trải nghiệm
thực tò của mình, hoặc từ những suy luận dựa trên những căn cứ mà
minh có được, người nói cam kết điều mình nói là đúng với thực tại, là
nil veil.
Bay cao trời nắng, bay vừa trời râm
Mùne mười tháng tám chọi trâu thì vé (1)
Muốn giỏi phải học
báo rồi!
I l ội c h ọ i i r à u ớ Đ ổ S ơ n , H á i P l i ò n í i
3 5
Trang 38b/ Tình thái phi thực hữu (non Ịưcỉive) Nsười nói kfióii'j cam két diêu mình nói ra lí) đúng hay sai so với thực tại mà chi đưa ra một ỉiià
định, một phỏng đoán vé tính có khá nãng hav tất yếu ciia hiện thực Điều giả định, phỏng đoán dó dựa trên những kiến giãi chù quan; hoặc
Ý nghĩa tình thái thuộc loại này thường biêu dạt sự nhận định, đánh giá mang sắc thái không đoan chác của người nói về tính hiện thực của sự tình
c/ Tình thái pluín thực (contra factivc) Nsười nói bác hô lính
hiện thực của diều được nói trong phát ngôn và cho răng điều dó là sai
khỏntì cỏ khả nâng xẩy ra trong thực tại
tạm bợ như thế này
tiên, tôi có nhám mắt cũng yên lòng, bác ạ!
Nội dung trên của cả hai phát ngôn đều cho thây: điều mà người
có trons suy nghĩ của mình đều mang tính giả định (có tiên, có con
trai) hoàn toàn trái ngược với thực tế Trong thực tê, người nói, đương
nhiên, không có tiền, không có con trai
Các nhà ngữ học nước nsoài xuất phát từ nội dung nghĩa của tình thái để xác định phương tiện biểu đạt nghĩa tình thái Không theo hướng này, các nhà Việt ngữ lại xuất phát từ phương tiện biếu đạt nghĩatình thái ctể xác lập nghía tình thái của phát ngôn
Trono Việt ngữ, vân đề tình thái và nghĩa tinh thái mới được quan
tâm khoảng hơn 30 năm trở lại đây, kế từ bài viêt Phân tích ngừ
/1 villa ” của Hoàng Phê (T/c Ngôn ngừ số 2-1975) Trong bài viết cua
Trang 39minh, Hoang Phê trình bày cách hiòu và phàn tích niihĩa cua từ n°ừ
Nhưng, ở đây tác già còn lưu ý bạn đọc đôn vai trò của riưn Ị>ịJ dị nil
tIon» ICC t^o ihdĩih nc hi a của từ; ngữ nghĩa cùa lời V tronii lời - một
trong một hoàn cảnh phát ngôn cụ thế, hay nói cách khác, của một đơn
vị lời nói (lời, phát ngổn) Chính sự thống nhất giữa Iiiihũi và V làm thành toàn bộ ỷ -nghĩa (của lời hoặc của phát ngôn)” Hàns loạt các hài
nghiên cứu đăng tái trên tạp chí Ngôn ngữ trong những nam 1981- 1984
và cuối cùng là cồng trình "Logic - ngôn n g ữ ” ra đời 1989 khán« định
vai trò khời xướng của Hoàng Phê troniĩ việc nghiên cứu vồ phạm trù tình thái tiếng Viêt
Theo dòng cháy của thời gian, có thế khái quát con đường của
“lình thái” đi vào Việt ngữ nhir sau:
a/ Giai đoạn trước í 975 Cuốn “Việt Nam vãn phạm" cùa nhóm
Trần Trọng Kim ra đời (1940) Có thô’ coi đây là giai đoạn manh nha khởi nmiổn cho việc xem xét níihĩa cinniz cùa môt số từ mans nghĩa tình thái trong tiêng Việt Chảng hạn, “đô dặn hay nhác lại điều 21 thì dìinu
trợ - ngữ - từ “nhớ" (Anh đừn" nghe nó mà dại, nhé.): đc rủ làm việc lĩ ì thì dùrm “nào" (Thử nói để ta nshe, nào.)\ đô tỏ V hoài thì dims "ru":
Lượns Xuân dù quyết hẹp hòi
Cône đco - đuối chans thiêt - thòi lám ru v.v c, c •Tiếp theo là cuốn “Studies in Vietnammes (Atuìiimcse) Grammar"
của M.B Emeneau Trong cuốn này, tác giả đã dành cá chương 7 với
tên gọi “Finale particles (tiểu từ cuối ,§m ệ n ỉ i dê "/ câu) " đế nói về công
dụng của 17 tiểu từ mà tác sia đã ghi chép được Tác giá viết: ‘’Những tiểu từ này chù yếu xuất hiện sau những mệnh đề đầy đủ ( ) Một mệnh
dề khôn« có liêu từ ờ cuối có thể soi là mênh dồ tuyên bố Những mênh
đồ cỏ lie’ll lừ ứ cuối là nhữrm mệnh dể tuyên bỏ và thêm một vài thái độ
37
Trang 40cua ngươi noi - hoi, ngạc nhicn hoài nshi thái độ cua n°ười dưới \'ới người trên v.v Đó là ý nghĩa của lớp tiếu từ này" (trang 203- Ban dịch của Tổ ngôn ngữ trường Đại học Tống hợp Hà Nội).
đế “giúp cho thẩn khí của lời nói” [9: 615-616] Ngoài 3 dẫn liệu trên, trong giai đoạn này, còn có những công trình nghiên cứu về nsĩr pháp tiếng Việt như của Bùi Đức Tịnh (1996); cua Lè Vãn Lý (1971): Nguyễn Kim Thán (1963), v.v mà trong đó các tác giá đã dành một số trang xem xét nghĩa dụng của một số tiểu từ mang nghĩa tình thái
Nhìn chung, tuy tên gọi của lớp từ ở cuối câu có khác nhau, nhưng các tác giá đều khái quát công dụns của lớp từ này là dùns đo biểu thị thái độ gì đó cùa người nói gắn với nội duns câu (mệnh dồ) Giai đoạn này chira có nhừng côn« trình chuyên biệt nghiên cứu về lôgíc - tình tlìái hoặc vé nghĩa tình thái của câu Những khản« định về vai trò của các tiêu từ cuối câu như các tác giã dã để cập đến mới chi là nhữrm sợi mở sơ khai cho hướng nsĩhiên cứu về phạm trù tình thái tron« tiốim Viel sau này.CT » J
bỉ Giííi cìoaiì từ 1975 đến 1990 Ịà aiai đoan có nhiều còn.s trình
nghiên cứu vé từ vựníz học tiếng Việt, nsữ pháp tiếng Việt với các tên tuổi được nhiều nsười biết đến như Hoàng Tuệ, Nguyễn Tài cán Hoàng Trọn« Phiến, Đinh Văn Đức Đỗ Hữu Châu, Nsuyễn Kim Thân Nguyễn Thiện Giáp, v.v Trong các côns trình nshiên cứu này, tác giá đã dành một số trang clề cập đến vai trò nsữ pháp, ngữ dụng của một lớp từ bien đạt tình thái tron« hệ thống từ loại tiens Việt Đặc biệt trong giai đoạn V • <— • w w w «này, độc giá được biết đến một số cône trình chuyên luận về lôgich-
ngôn ngữ tiens Việt như “Lỏgicìỉ vủ tiếng V iệ t" (1996), Lỏỉỉich - ngừ
Hịịhĩư - Hi>ữpháp ( 1987) của Nguyễn Đức Dân; L ôịịíc - íìỊỊÔn tìỊiữ ( 1989)
của Hoàng Phê Hans loat bài nghiên cứu liên quan đên tình thái dăng*— c • C- 1