1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ngôn ngữ văn học Việt Nam trên lộ trình hiện đại hóa trong thế kỷ XX

97 926 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 59,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích cơ bản của đ ề tài là nhận diện cho được những bước đi, cách thức và các sự kiện biến đổi của ngôn ngữ văn chương Việt nam từ truyền thống đến hiện đại qua khung trời một th ế k

Trang 1

NGÔN NGỮ VĂN HỌC VIỆT NAM TRÊN LỘ TRÌ NI

HIỆN ĐẠI HOÁ TRONG THÊ KỶ XX■ ■

B Á O C Á O T Ổ N G H Ợ P KẾT Q U Ả N G H IÊ N c ứ u

đ a i h ọ c q u ố c g i a Hm , TRUNG TÀM THÔNG TIN Thư VIẼr

~ Ị ) f 7 Ỵ w

H À N Ộ I 2005

Trang 2

N G Ô N N © ữ V Ă N H Ọ C VIỆT N A M TR ÊN L Ộ T R ÌN H

H IỆ N Đ Ạ I H O Ả T R O N G T H Ế KỶ X X• ■

(Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu)

PHẦN THỨ NHẤT

GIỚI THIỆU ĐỂ TÀI VÀ CÁC NỘI DUNG NGHIÊN c ứ u

A-Muc đích nghiên cứu

1 N ghiên cứu tổng kết sự biến đổi và phát triển của tiếng Việt trong thế

kỷ XX là m ột công việc rất cần thiết, có ý nghĩa thời sự và tính tất yếu trong khoa học N g ữ văn L àm được việc này thì đó sẽ là m ột đóng góp cả về mặt lý ỉuận và thực tiễn cho nghiên cứu ngôn ngữ và văn hoá cận hiện đại nước nhà, rộng hơn là cả cho khoa Việt nam học

2 Tuy nhiên đây không phải là m ột công việc dễ dàng, càng không phải một người mà làm được Lý do căn bản là th ế kỷ X X là m ột bước ngoặt lớn trong đời sống của dân tộc Việt nam Bề th ế của th ế kỷ, các sự kiện chính trị,

xã hội, kinh tế đã có những tác động rất lớn lao đến tiếng Việt và sự phát triển của nó

3 Để triển khai việc nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã phải thực hiện hai đề tài nghiên cứu khác, rộng hơn, m ang tính chất “tiền khả thi” Đó là hai

đề tài:

a) M ột số vấn đề về sự phát triển tiếng Việt nửa đầu th ế kỷ XX, M ã

số Q G 97 13, nghiệm thu năm 1999

b) M ột số vấn đề về sự phát triển tiếng Việt nửa cuối th ế kỷ XX, M ã

số Q G 01-23, đã nghiệm thu năm 2003

Đề tài này, Q G 04-18, là một đề tài hẹp hơn, nằm trong một số vấn đề

m à chúng tôi dự định tiếp tục nghiên cứu tổng kết Đề tài khư trú trong đối tượng nghiên cứu cụ thể là Khảo sát và nhận xét vê' quà trình biến đổi phát triển trên lộ trình hiện đại hoá của ngôn ngữ văn học Việt nam trong th ế kỷ XX.

1

Trang 3

Mục đích cơ bản của đ ề tài là nhận diện cho được những bước đi, cách thức và các sự kiện biến đổi của ngôn ngữ văn chương Việt nam từ truyền thống đến hiện đại qua khung trời một th ế kỷ tiêu biểu nhất, thê kỷ XX.

Mục tiêu cơ bản của đ ề tài là mô tả, nhận diện các khía cạnh chủ yếu nhất của ngôn ngữ văn học Việt nam th ế kỷ XX với những biến thiên của chủng theo hương hiện đại hoá từ những giá tri truyền thống N ội dung của công trình s ẽ tập trung vào hai th ể loại quan trọng nhất của ngôn ngữ văn chương

là ngôn ngữ văn xuôi và ngôn ngữ thơ.

Đ ể làm sáng tỏ những đặc điểm của ngôn ngữ vãn chương th ế kỷ XX, chúng tôi s ẽ đ ề cập đến một khía cạnh “ hồi quan ” ỉà “ Ngôn ngữ văn chương Việt nam trước thềm th ế kỷ XX.

Đề tài này sẽ được khảo sát, nghiên cứu theo những định hướng của Ngôn ngữ học vốn đã được dùng cho những để tài trước đây Tuy nhiên, với một đối tượng cụ thể và có giới hạn, chúng tôi đã có m ột số điều chỉnh Tuy nghiên cứu một vấn đề có liên quan đến văn học Việt nam nhưng chúng tôi sẽ không dùng các phương pháp nghiên cứu vốn chuyên dụng trong khoa văn học Các nghiên cứu ở đây sẽ thiên về khảo sát các bằng chứng trong khả năng

có thể, vốn là đặc điểm của ngôn ngữ học, rồi từ đó mới có các tiểu kết, nghĩa

là tuân thủ một cách nghiêm ngặt lối nghiên cứu quy nạp

T h ế kỷ XX là thế kỷ hết sức đặc biệt của Việt nam Nội dung cơ bản của thế kỷ này là công cuộc chiến đấu lâu dài gian khổ của dân tộc ta để giành đoọc lập và thống nhất đất nước K ế theo đó là công cuộc phục hồi, tái thiết đất nước sau chiến tranh và công cuộc Đổi mới đưa đất nước ta thoát nghèo, khởi đầu sự phát triển theo lộ trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Cuộc Cách m ạng Tháng Tám đã chấm dứt c h ế độ phong kiến quân chủ

và ch ế độ thuộc địa của bọn thực dân Hai cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng đã đua đất nước đến độc lập và thống nhất hoàn toàn Công cuộc Đổi mới đã tạo bước ngoặt cho sự phát triển của đất nước Tất cả các sự kiện đó đã ảnh hưởng sâu sắc đến số phận của tiếng Việt

Bắt đầu th ế kỷ là đêm tối của sự nô lệ và mất nước Tiếng Việt cái phương tiện giao tiếp và văn hoá trường tồn của dân tộc Việt, chịu hai sức ép

to lớn M ột bên là áp lực của chữ từ của truyền thống phong kiến nơàn năm một bên là áp lực của tiếng Pháp từ một kịch bản văn hoá nô dịch Tronơ bối cảnh đó, nửa đầu th ế kỷ XX, tiếng Việt, nhờ vào văn hoá Việt nam đã tìm

Trang 4

Mục đích cơ bản của đề tài là nhận diện cho được những bước đi, cách thức và các sự kiện biến đổi của ngôn ngữ văn chương Việt nam từ truyền thống đến hiện đại qua khung trời một th ế kỷ tiêu biểu nhất, thê kỷ XX.

Mục tiêu cơ bản của đ ề tài là mô tả, nhận diện các khía cạnh chủ yếu nhất của ngôn ngữ văn học Việt nam th ế kỷ XX với những biến thiên của chúng theo hương hiện đại hoá từ những giá tri truyền thống N ội dung của công trình s ẽ tập trung vào hai thể loại quan trọng nhất của ngôn ngừ văn chương

lả ngôn ngữ văn xuôi và ngôn ngữ thơ.

Đ ể làm sáng tỏ những đặc điểm của ngôn ngữ văn chương th ế kỷ XX, chúng tôi s ẽ đ ề cập đến một klúa cạnh “ hồi quan ” ỉà “ Ngôn ngữ văn chương Việt nam trước thềm th ế kỷ XX.

Đề tài này sẽ được khảo sát, nghiên cứu theo những định hướng của Ngôn ngữ học vốn đã được dùng cho những đề tài trước đây Tuy nhiên, với một đối tượng cụ thể và có giới hạn, chúng tôi đã có một số điều chỉnh Tuy nghiên cứu m ột vấn đề có liên quan đến văn học Việt nam nhưng chúng tôi sẽ không dùng các phương pháp nghiên cứu vốn chuyên dụng trong khoa văn học Các nghiên cứu ở đây sẽ thiên về khảo sát các bằng chứng trong khả năng

có thể, vốn là đặc điểm của ngôn ngữ học, rồi từ đó mới có các tiểu kết, nghĩa

là tuân thủ m ột cách nghiêm ngặt lối nghiên cứu quy nạp

T h ế kỷ X X là thế kỷ hết sức đặc biệt của Việt nam Nội dung cơ bản của thế kỷ này là công cuộc chiến đấu lâu dài gian khổ của dàn tộc ta để giành đoọc lập và thống nhất đất nước K ế theo đó là công cuộc phục hồi, tái thiết đất nước sau chiến tranh và cổng cuộc Đổi mới đưa đất nước ta thoát nghèo, khởi đầu sự phát triển theo lộ trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Cuộc Cách m ạng Tháng Tám đã chấm dứt c h ế độ phong kiến quân chủ

và ch ế độ thuộc địa của bọn thực dân Hai cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng đã đua đất nước đến độc lập và thống nhất hoàn toàn Công cuộc Đổi mới đã tạo bước ngoặt cho sự phát triển của đất nước Tất cả các sự kiện đó đã ảnh hưởng sâu sắc đến số phận của tiếng Việt

Bắt đầu th ế kỷ là đêm tối của sự nô lệ và m ất nước Tiếng Việt cái phương tiện giao tiếp và văn hoá trường tổn của dân tộc Việt, chịu hai sức ép

to lớn M ột bên là áp lực của chữ từ của truyền thống phong kiến ngàn năm một bên là áp lực của tiếng Pháp từ một kịch bản văn hoá nô dịch T ro n ơ bối cảnh đó, nửa đầu th ế kỷ XX, tiếng Việt, nhờ vào văn hoá Việt nam đã tìm

2

Trang 5

Mue đích cơ bản của đề tài là nhận diện cho được những bước đi, cách thức và các sự kiện biến đổi của ngôn ngữ văn chương Việt nam từ truyền thống đến hiện đại qua khung trời một th ế kỷ tiêu biểu nhất, th ế kỷ XX.

Muc tiêu cơ bản của đ ề tài là mô tả, nhận diện các khỉa cạnh chủ yếu nhất của ngôn ngữ văn học Việt nam th ế kỷ XX với những biên thiên của chúng theo hương hiện đại hoá từ những giá tri truyền thống N ội dung của công trình s ẽ tập trung vào hai th ể loại quan trọng nhất của ngôn ngữ văn chương

là ngôn ngữ văn xuôi và ngôn ngữ thơ.

Đ ể làm sáng tỏ những đặc điểm của ngôn ngữ văn chương th ế kỷ XX, chúng tôi s ẽ đê' cập đến một kỉĩía cạnh “ hồi quan ” là “ Ngôn ngữ văn chương Việt nam trước thềm thê kỷ XX.

Đề tài này sẽ được khảo sát, nghiên cứu theo những định hướng của Ngôn ngữ học vốn đã được dùng cho những đề tài trước đây Tuy nhiên, với một đối tượng cụ thể và có giới hạn, chúng tôi đã có một số điều chỉnh Tuy nghiên cứu một vấn đề có liên quan đến văn học Việt nam nhưng chúng tôi sẽ không dùng các phương pháp nghiên cứu vốn chuyên dụng trong khoa văn học Các nghiên cứu ở đây sẽ thiên về khảo sát các bằng chứng trong khả năng

có thể, vốn là đặc điểm của ngôn ngữ học, rồi từ đó mới có các tiểu kết, nghĩa

là tuân thủ một cách nghiêm ngạt lối nghiên cứu quy nạp

T h ế kỷ X X là thế kỷ hết sức đặc biệt của Việt nam Nội dung cơ bản của thế kỷ này là công cuộc chiến đấu lâu dài gian khổ của dân tộc ta để giành đoọc lập và thống nhất đất nước K ế theo đó là công cuộc phục hồi, tái thiết đất nước sau chiến tranh và công cuộc Đổi mới đưa đất nước ta thoát nghèo, khởi đầu sự phát triển theo lộ trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Cuộc Cách mạng Tháng Tám đã chấm dứt c h ế độ phong kiến quân chủ

và ch ế độ thuộc địa của bọn thực dân Hai cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng đã đua đất nước đến độc lập và thống nhất hoàn toàn Công cuộc Đổi mới đã tạo bước ngoặt cho sự phát triển của đất nước Tất cả các sự kiện đó đã ảnh hưởng sâu sắc đến số phận của tiếng Việt

Bắt đầu thế kỷ là đêm tối của sự nô lệ và mất nước Tiếng Việt, cái phương tiện giao tiếp và văn hoá trường tổn của dân tộc Việt, chịu hai sức ép

to lớn Một bên là áp lực của chữ từ của truyền thống phono; kiến ngàn năm,

m ột bên là áp lực của tiếng Pháp từ m ột kịch bản văn hoá nô dịch Trong bối cảnh đó, nửa đầu thế kỷ XX, tiếng Việt, n h ờ vào văn hoá Việt nam, đã tìm

Trang 6

được kẽ hở rất quan trọng, vượt quan khó khăn đê phát triên: Chữ Hán bị hạn

ch ế và bị đẩy lùi, tiếng Pháp chưa đủ thời gian và k hả năng th ế chỗ

Cách m ạng T háng Tám đã đưa Việt nam đến độc lập Nước Việt nam độc lập thì tiếng Việt cũng được độc lập và có cơ hội tốt nhất để quảng bá và phát triển.Nửa sau của th ế kỷ XX là thời kỳ phát triển vũ bão của tiếng Việt Ngôn ngữ của chúng ta đã phát triển nhanh và toàn diện.Tiếng Việt đã trở thành ngôn ngữ phổ thông, có tính Quốc gia, là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của toàn dân Việt nam (bao gồm dân tộc Việt và hơn năm mươi dân tộc thiểu

số anh em sống trên đất nước này) trên phạm vi toàn lảnh thổ và của người Việt ở nuức ngoài Theo đó, tiếng Việt đã tham gia tích cực vào sự vận động của đời sống xã hội, và từ những hoạt động ấy ngôn ngữ của chúng ta đã không ngừng biến đổi theo hướng phát triẻn toàn diện, đa dạng hóa trong sử dụng trên những phong cách khác nhau

Ngôn ngữ văn chưong Việt nam trong th ế kỷ X X đ ã biến đổi, phát triển hiện đại hoá trên nền tảng đó Nó th ể hiện m ột phần chức năng x ã hội của tiếng Việt Ngôn ngữ văn chương là m ột bộ phận rất quan trọng của giá trị văn hoá nghệ thuật Việt nam trong thê kỷ XX.

Cống trình nghiên cứu này tập trung vào việc nhận xét các đặc trưng nổi trội của ngôn ngữ văn học Việt nam thế kỷ XX Các ưu tiên của chúng tôi là khảo sát quá trình hiện đại hoá ngôn ngữ văn xuôi mới, việc cải cách ngôn ngữ thơ và việc tổ chức các diễn ngôn theo kiểu mới

Thứ nhất: Sự hình thành và phát triển rực rỡ m ột nền văn xuôi mới trên

cơ sở ngôn ngữ hiện đại la thành tưụ nổi bật của ngôn ngữ văn chương

Thứ hai: Sự cải cách ngôn ngữ thơ từ ngôn n g ữ thơ truyền thống đến thơ mới hiện đại

Tliứ ba: Sự thay đổi diện mạo văn xuôi qua lối tổ chức diễn ngôn kiểumới

Thư tư: Ngôn ngữ văn chương và ngôn ngữ báo chí đồng hành trong một

th ế kỷ Sự tương tác giưa ngôn ngữ báo chí và n gô n ngữ văn học là nét đặc thù của tiếng Việt th ế kỷ XX, có những giai đoạn ngô n ngữ báo chí đã làm hoa tiêu cho ngôn ngữ văn học

Công trình nghiên cứu này được thực hiện theo nguyên tắc quy nạp Lấy

mô tả ngữ liệu làm trọng tâm N guyên tắc này xuyên suốt mười bốn chuyên luận cụ thể dành cho từng vấn đề mà chúng tôi lựa chọn Ba phương diện mà chúng tôi dành nhều quan tâm là a/ sự hình thành và tiến triển của cáu văn

3

Trang 7

mới trong văn xuôi (tự sự), b/ diễn tiến của quá trình tự đo hoá ngôn ngữ thơ, c/ lối tổ chức mới của các diễn ngôn, nhất là việc sử dung mạch lạc (coherence) làm phương tiện liên kết (ngôn bản).

Vấn đề phân kỳ để nghiên cứu diễn tiến của ngôn ngữ văn học cũng được chúng tôi chú ý Trong các nghiên cứu trước đây (đề tài Q G 97-13 và đề tài

QG 01-23) chúng tôi đã lưỡng phân thế kỷ XX, sau đó mỗi nửa thế kỷ sẽ có những giai đoạn cụ thể Với lộ trình của ngôn ngữ văn học Việt nam, chúng tôi vẫn tôn trong sự phân đoạn đó Tuy nhiên, ngồn ngữ văn học không phải là cái bóng của ngôn ngữ toàn dân trong mọi giai đoạn N gôn ngữ văn chương luôn có những đặc thù trong phát triển với tư cách là m ột thú phương tiện nghệ thuật Với tiếng Việt cũng như vậy Chúng tôi đặc biệt chú ý đến các diễn tiến của ngôn ngữ văn chương trong hai thập kỷ hai mươi và ba mươi, giai đoạn sau cách m ạng Tháng Tám và mười lăm năm cuối th ế kỷ kể từ khi có công cuộc Đổi mới

Những biến động to lớn trong đời sống xã hội Việt nam đã có ảnh hưởng rất sâu sắc và toàn diện đến lộ trình của tiếng Việt suốt th ế kỷ XX

Nôi duns nghiên cứu của đê tài đươc thể hiên trong 14 chuyên luân Nôi duns nghiên cứu tóm tắt như sau (có văn bản kèm theo)

C Á C C Ô N G T R Ì N H V Ể N G Ữ P H Á P , T Ừ V Ụ N G

VÀ N G Ô N N G Ữ T Á C G IẢ V Ă N X U Ô I

1 Đ in h V ă n Đức- Dương H u y ề n N gân, Bước đ ầ u n h ậ n xét n g ô n n g ữ

t r ầ n t h u ậ t t r o n g v ă n xuôi tiếng Việt hiện đại (trên tư liệu tác phẩm “ Dế mèn phiêu luu ký” của Tô Hoài), 72 trang.

Nôi d u n g c h í n h :

A-M ố tả : (trên tư liệu tác phẩm văn học D M PLK )

1 C huẩn mực: Mô tả cấu trúc cú pháp của ngôn ngữ trần thuật trong văn xuôi Nét khu biệt với ngôn ngữ đối thoại

2 M ô tả các dạng câu thường gặp

3 M ô tả các dạng thức liên kết thường gặp

4 M ô tả các phươns thức liên kết tiêu biểu

Trang 8

B- Các bàn luân:

1 Bàn luận về các phương thức liên kết của ngôn ngữ trần thuật (LK lặp, PT đối, PT thế, PT nối, PT liên tưởng, PT trật tự kết hợp, PT tỉnh lược, PT trích dẫn, PT quy chiếu, PT triển khai mệnh đề.)

2 Bàn luận về cách sử dụng câu

3 Bàn luận về cách sử dụng các phương thức liên kết

2 Đ in h V ă n Đức- P h ạ m N guyên N h u n g , Bước đ ầ u n h ậ n xét về câu

đơn phần trong truyện ngắn Việt nam hiện đại, 101 trang

Nối d u n g c h ín h

2 Tiêu chí phân loại và hướng phân loại câu đơn phần trong truyện ngắn VNHĐ

3 Mô tả diện mạo câu đơn phần trong truyện ngắn V N HĐ

4 Nhận xét cách dùng câu đơn phần theo hành động ngôn trung

5 Các nhận xét về câu đơn phần sử dụng trong các mục đích phát ngôn: tường thuật, nghi vấn, cầu khiến, phủ định, cảm thán

6 Bàn luận về hình thức câu đơn phần trong truyện ngắn VNHĐ

7 Bàn luận về ý nghĩa và thông tin của câu đơn phần

8 Bàn luận về cách sử dụng câu đơn phần và chuỗi câu đơn phần

Việt hiện đại), 76 trang.

N h ữ n g nối d u n g c h ín h

Xuất phát từ tư liệu ngôn ngữ truyện ngắn Việt nam hiện đại:

1 M ô tả trạng ngữ ngữ dụng như một loại biểu thức đặc biệt, thườn ơ gặp ở đầu câu

2 Các dữ loại thường được dùng làm trạng ngữ ngữ dụng: Hô nơữ thán từ, đại từ, trợ từ, ngữ cố dịnh, các dấu câu phụ trợ tronơ văn bản

5

Trang 9

3 M ô tả và phân loại trạng ngữ ngữ dụng xét về hình thức (trong truyện ngắn).

4 M ô tả trạng ngữ ngữ dụng trên bình diện n gữ nghĩa và ngữ dụng

5 Các biểu hiện tình thái của trạng n gữ ngữ dụng

6 M ối quan hệ giữa trạng ngữ ngữ dụng với các bộ phận còn lại của câu nói

7 Bàn luận về trạng ngữ ngữ đụng và thành phần tr ạ n g n g ữ của ngữ pháp truyền thống

sự h ìn h t h à n h c ủ a c â u v ăn tiếng Việt hiện đại (Qua tiểu thuyết “ Đoạn tuyệt” của Nhất Linh), 94 trang

Những nôi dung chính

1 Câu văn mới trong sự hình thành của văn xuôi Việt nam

2 Nghĩa sự tình của câu văn Việt mới

3. Nghĩa tình thái của câu văn Việt mới

4. Phân tích hình thức và nội đung của câu văn Việt qua tiểu thuyết Đoạn tuyệt

5 Các cấu trúc hình thức chung của câu văn tiếng Việt hiện đại: Cấu trúc nòng cốt câu, câu có khởi ngữ, câu có tình thái ngữ, câu có định ngữ, câu có trạng ngữ

6 Phân tích hình thức và nội dung của câu văn trong tiểu thuyết Đoạn Tuyệt của Nhất Linh

7 Sự trưởng thành của câu văn Việt qua một tác phẩm văn học

8 Đối chiếu câu vãn truyền thống với câu văn trong Đoạn Tuyệt

5 Đ ào T h a n h L a n - N guyễn Thị T h u T h u ỷ , Bước đ ầ u tìm hiểu các

Trang 10

b / Các kiểu câu ghép,

c/ Các kiểu câu đẳng lập

2 Khảo sát cấu trúc câu trong truyện ngắn hiện nay (1990-2000)

a/ Câu đơn (song phần và đơn phần),

b / Câu ghép (ghép qua lại và ghép đẳng lập)

3 N hận diện các cấu trúc cú pháp mới

b/ Về cách cấu trúc câu văn qua một số tác phẩm

c/ Các nhận xet về viẹc sử dụng câu vàn

7 N g u y ễ n H ữ u Đ ạt- Đào T hị T h u H iền, Đ ặc đ iểm ngôn n g ữ tác giả

tr o n g v ă n xu ô i T h ạ c h L a m q u a “ Hà nội băm sáu phố phường” , 64 trang.

N h ữ n g nôi d u n g ch ín h

1 Việc sử dụng câu văn trong “ Hà nội băm sáu phố p h ư ờ n s”

7

Trang 11

b / Các loại câu theo mục đích sử dụng ( câu tường thuật, câu hỏi, câu cảm thán, câu cầu khiến)

2 Đ ặc điểm ngôn ngữ miêu tả của Thạch L am trong “ Hà nội băm sáu phố phường”

a/ M iêu tả và các dạng miêu tả

b/ Sự thể hiện các đoạn văn tả

c/ Vai trò của các đoạn văn tả

3 Nghệ thuật khai thác, sử dụng các dạng miêu tả trong việc mở đầu và kết thúc truyện

4 Ý nghĩa của nghệ thuật miêu tả khi tham gia vào việc xây dụng không gian và thời gian nghệ thuật

5 So sánh ngôn ngữ Thạch Lam với ngồn ngữ miêu tả của Vũ trọng Phụng (Giông tố) và Đoạn tuyệt (Nhất Linh)

8 Đ in h K iều C h â u - Lưu T h ị T h u H ư ơ n g , K h ả o sát lớp từ địa

p h ư ơ n g N a m Bộ q u a tác p h ẩ m “ Đất rừng phương nam” c ủ a Đ o àn Giỏi,

49 trang.

N h ữ n g nôi d u n g chính

1 Giá trị từ địa phương trong sử dụng và trong sáng tạo văn học

2 Đoàn Giỏi và ngôn ngữ “Đất rùng phương Nam” ưong một bức iranh chung

3 Đặc điểm của việc sử dụng từ ngữ địa phương trong ĐRPN

a/ Đặc điểm từ vựng ngữ nghĩa qua các lớp từ địa phương

b/ Từ ngữ địa phương đối lập và không đối lập với ngốn ngữ toàn dân

c/ Sự phân bố từ loại từ địa phương

4 N gôn ngữ nhân vật qua từ ngữ địa phương

5 Ngôn ngữ của người kể chuyện qua từ ngữ địa phương

6 Phong cách tác giả qua việc sử dụng từ ngữ địa phương N am bộ

a/ Các loại câu theo cấu trúc ngữ pháp (câu đơn và câu phức)

Trang 12

CÁC CÔNG TRÌNH yỂ PHÂN TÍCH DIEN NGÔN

tư ợ n g nối k ế t b ằ n g m ạ c h lạc tro n g các chuỗi c â u n g ắ n (trong phóng sự “ Việc làng” và tiểu thuyết “ Tắt đèn ” của Ngô Tất Tố), 66 trang.

Những nôi dung chính

1 Chuỗi câu ngắn và liên kết chuỗi câu ngắn, m ột nét rất mới của diễn ngôn văn xuôi tiếng Việt hiện đại

2 Nối kết m ạch lạc trong triển khai m ệnh đề

3 Đặc trưng và phân ỉoại các kiểu m ạch lạc trong triển khai mệnh đề

4 Phương thưc thể hiện mạch lạc giữa các câu ngắn trong hai tác phẩm

“Việc làng” và “ Tắt đèn”

5 Nối kết bằng mạch lạc thông ứu chức năng của các hành động ngôn từ

a/ M ạch lạc thông qua chức năng hiển ngôn,

b/ M ạch lạc thổng qua chức năng hàm ẩn

6 Sự nối kết mạch lạc theo nguyên tắc cộng tác

a/ N guyên tắc cộng tác qua các đặc trưng

b/ N guyên tắc cộng tác qua các phương thức thể hiện

2 H o à n g T r ọ n g Ph iến - N guyễn thị K im D u n g , K h ả o sát đ o ạ n văn

m ở đ ầ u , đ o ạ n v ă n k ết th ú c tro n g kỷ Nguyễn Tuân, 72 trang.

Những nôi dung chính

1 N guyễn Tuân v à thể tuỳ bút Bố c ụ c trong tuỳ bút

2 Đoạn văn m ở đầu:

a/ Cấu tạo ngữ pháp

b/ Nội dung phản ánh,

c/ Kiểu m ở đầu của đoạn văn mở đầu,

d/ Liên hệ của đoạn văn mở đầu với các đoạn văn khác

9

Trang 13

a/ Cấu tạo ngữ pháp,

b/ Nội dung phản ánh trong đoạn văn kết thúc,

Kiểu kết thúc của đoạn văn kết thúc

Quan hệ giữa đoạn văn kết thúc với các đoạn văn khác

3 N g u y ễ n H ồ n g c ổ n - Đ ặng H ồ n g H iếu, K h ả o sá t p h ưtm g th ứ c liên

k ết v ăn b ả n t r o n g h a i tác p h ẩ m “ Tố Tâm” v à “ Lặng lẽ cuối cùng”, 75 trang.

N h ữ n g nôi d u n g c h ín h

1 Nhận xét chung về ngôn ngữ hai tác phẩm “Tố T âm ” và “ Lặng lẽ cuối cùng”

2 Liên kết văn bản trong “ Tố Tâm ”

a/ Các phương thức liên kết được sử dụng: Phương thức lặp, phương thức thế, phương thức tỉnh lược va các phương thức đối, dùng từ nối, trật tự tuyến tính

b/ Các liên kết phức

3 Liên kết văn bản trong “ Lặng lẽ cuối cùng”

a/ Các phưong thức liên kết được sử dụng: phương thức lặp, phương thức thế, phương thức tỉnh lược và lác phương thức : liên tưởng đối, dùng từ nối, trật tự tuyến tính

b/ Các liên kết phức

4 So sánh phương thức liên kết qua hai tác phẩm

a/ Liên kết trên phương diện chức năng: liên kết duy trì chủ đề, liên kết phát triển chủ đề, liên kết lô gích

b / Liên kết trên phương diện kết hợp: So sánh từng phương thức được sử dụng qua hai tác phẩm (từ phương thức lặp cho đến liên kết phức

3 Đoạn vân kết thúc

Trang 14

CÁC CÔNG TRÌNH VỂ NGÔN NGỮ THI CA

1 Đinh Văn Đức - Nguyễn thị Phương Thuỳ, Bước đầu khảo sát thơ mới bảy chữ tiếng Việt (trên tư liệu hai tập thơ của Xitán Diệu và T ố

Hữu), 93tr.

Những nối dung chính

A- Mổ tả

1 Thơ cũ và thơ mới xét về ngôn từ Tập thơ mới

2 Mô tả bài thơ và nhận xét

3 Mô tả khổ thơ và nhận xét

4 Mô tả câu thơ và nhận xét

5 Tự do hoa xét về định lương và xét về định tính

B- Bàn luân

Bàn luận 1 : Sự thay đổi về lượng và danh tính của bài thơ

Bàn luận 2: Sự thay đổi về tính chất của khổ thơ

Bàn luận 3: Sự thay đổi về hình thái và tính chất của câu thơ

Bàn luận 4: Những sự thay đổi về âm điệu, vần và nhịp

Bàn luận 5: Tự do hoá qua các thống kê

2 Đ in h V ă n Đức- N guyễn Thị L a n H ư ơ n g , Bước đ ầ u tìm hiểu

lối nói mói trong thơ các cây viết trẻ (trên tư liệu các tập thơ và tạp chí xuất bản những năm gần đáy), 100 trang.

Những nôi dung chính

1 Thơ mới và thơ trẻ (những năm gần đây)

2 Lối nói mới trong thơ: cấu trúc ngữ pháp và đặc điểm ngôn ngữ

3 Mô tả các lối nói mới trong các tập thơ trẻ

a / Mô tả lối nói mới trong bài thơ

b/ Mô tả lối nói mói trong câu thơ

4 Mô tả cấu trúc các lối nói mới

a/ Lối nói mới biểu đạt bằng danh ngữ

11

Trang 15

b / Lối nói mới biểu đạt bằng động ngữ

c/ Lối nói mới biểu đạt bằng tính ngữ

d/ Lối biểu đạt m ệnh đề mới

5 Đặc điểm ngôn ngữ các lối nói mới trong thơ trẻ

a/ Đặc điểm tính hình tượng

b/ Đặc điểm tính thẩm mỹ

c/ Những từ ghép mới, đa nghĩa

6 Những lối nói mới nhưng đã thành “ lối m ò n ” trong ngôn ngữ thơ trẻ

7 Các bàn luận về việc sử dụng lối nói mới trong thơ trẻ C ấ u trúc, chủ

Trang 16

N G Ô N N G Ữ VĂ N H Ọ C V I Ệ T N A M T R Ê N L Ộ T R Ì N H

HIỆN ĐẠI HO Á TRONG THẾ KỶ XX

(Tổng hợp các kết quả nghiên cứu và bàn luận)

Dấn nhâp I

Công trình nghiên cứu này, đề tài khoa học đặc biệt của ĐH QGHN, mã

số QG 04-18, như đã nói, có mục đích nghiên cứu và đánh giá những vấn đề chủ yếu trong lộ trình biến đổi, phát triển và hiện đại hoá ngôn ngữ văn học Việt nam trong thế kỷ 20, thế kỷ chúng ta vừa đi qua Công trình bao gồm báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu này và 14 chuyên luận nghiên cứu cụ thể các khía cạnh của vấn đề Dưới đây là những nhận xét tổng quát các kết quả nghiên cứu

1- Văn học ngày nay rất quan trọng Nó trở thành một bộ phận trong đời sống tinh thần của con người, ở nước ta, cách đây một vài thế kỷ, công chúng văn học rất hạn chế Văn chương thành văn chỉ là món quà quý dành cho giơí thượng lưu Người ta ngâm vịnh, thưởng thức văn chương như một thứ sở hữu riêng Nay thì khác, văn chương đã đổi đời, đã trở thành tài sản của quảng đại dân chúng, thu hút sự quan tâm của đông đảo mọi lớp người và trên phương diện nào đó đã trở thành một thứ động lực của tinh thần xã hội Vãn chương còn có cương vị của một công cụ truyền thông

S ự liê n k ế t g iữ a vâ n ch ư ơ n g V iệ t n a m v ớ i x u ấ t b á n , c á c p h ư ơ n g tiện

th ô n g tin đ ạ i c h ú n g của th ờ i đ ạ i c ô n g ngìiệ cao đã mở ra những khả năng và triển vọng vô cùng to lớn cho nghệ thuật này M ột ví dụ, các tác phẩm văn học vừa được trao giải Nobel năm trước, thì chỉ m ấy tháng sau, các bản dịch trang trọng bằng tiếng Việt đã có trong tay người đọc nước ta Nền “ văn hoá đọc” vẫn là trung tâm và đối tác của nghệ thuật văn chương

Trước đây, khi văn học thành văn còn nằm trong tay gioi quyền quý thì

! bên cạnh nó nó vẫn có một dòng chảy rất sinh động là văn học dân gian Văn

học dân gian, với tư cách là sản phẩm nghệ thuật của người bình dân, qua sự chắt lọc còn lại n h ữ n g tinh hoa cực kỳ sắc sảo, giàu trí tuệ và n sh ệ thuật Nó luôn luôn bổ sung và góp phần nuôi dưỡng văn chương bác học

Đọc một câu Kiều:

“ L o g ì v iệ c ấ y m à lo ,

K iế n tr o n g m iệ n g ch én c ó b ò đ i đ â u ”

13

Trang 17

Văn chương dân gian là một sân chơi rất đặc biệt Văn học ở đây không phải là du hí Người bình dân đã gưỉ gắm vào các hình tượng nghệ thuật ngôn

từ những triết lý, những kinh nghiệm và những nhu cầu, m ong muốn, nhũng ước mơ và cả những nỗi đau

Người xưa nói “th ì tru n g hữu ỉioạ" (trong thơ có hoạ), đó là lối nói hình tượng Hội hoạ cũng là một loại hình nghệ thuật Nó xuất hiện vào loại sớm nhất trong lịch sử nghệ thuật, thể hiện khát vọng con người muốn tái hiện thế giơí Hội hoạ lấy chất liệu từ màu sắc làm căn bản Nó cũng có hai dòng: hội hoạ b á c học và hội hoạ dàn gian Tuy nhiên công chúng hội hoạ và công chúng văn học không giống nhau cả về mặt xã hội lẫn cá tính nghệ thuật, nghệ sĩ

Văn chương dường như có một công chúng quảng đại hơn Bằng chứng

là không mấy ai từ chối sản phẩm văn học, muốn tiếp nhận nó, muốn thử sức với nó Trong cuộc đời, không mấy ai không thử một lần tập làm thơ Thành bại là một chuyện, cố gắng thử sức lại là một chuyện khác, sở dĩ có đều đó là

vì ai cũng sở hữu riêng ngôn ngữ, có trong bản thân mình một n°ỉ7 năng'

('compétence), rồi cái biểu hiện của nó là n ° ữ th i (performence) Đây là nói theo lối nói của N Chomsky Nó cũng có nét nào đó giống lối phân lập của F

De Saussurre thành ngôn ngữ (langue) và lời nói (parole) Bên cạnh cái ngôn ngữ thường ngày dùng để giao tiếp cho những lợi ích của cuộc sống, mỗi nsười đều có một góc riêng tinh thần vãn chương, một năng lực cảm thụ và sáng tạo văn chương bàng thứ ngôn ngữ hình tượng mà họ sở hữu C ố nhiên cái sản p h ẩ m văn chương còn phụ thuộc rất nhiều, mà điều này là cơ bản vào tài năng, sáng tạo và cá tính của người làm ra nó Không phai ai cũnơ trở thành nhà văn, nhà thơ, và hơn thế là thiên tài văn chương

Nguyễn Khuyến là thi gia lớn, Dương Khuê là học giá c ó đanh Họ “ đổng thanh tương ứng, đổng khí tương cầu” Nguyễn Khuyến khóc Dương Khuê thật thiết tha, ân cần và trung thực Công chúng được chúns kiến nhữn^ hình tượng nghệ thuật sâu sác, chân thành, đầy cảm xúc tronc bài thơ nôm

Trang 18

viếng bạn Cho dù là “thi trung hữu hoạ” nhưng m ột bài thơ vẫn khác với một bức tranh Bài thơ này không phải một nhát cắt đồng đại bằng hình tượng mà chứa đựng nhiều sự tình theo diễn tiến, được mô tả bằng một thứ ngôn ngữ trần thuật Các nghệ thuật khác, tuyệt đại bộ phận thường lấy chất liệu biểu đạt trong khách thể (màu sắc, đường nét, âm thanh, hình khối, các loại vật liệu được gia công, Văn chương có cái khác, chất liệu ngôn ngữ nằm ngay trong chủ thể (người nói), bởi vậy việc sử đụng cái chất liệu đó có mối quan

hệ rất đặc biệt với sở biểu của sản phẩm Người sáng tác trực tiếp thể hiện khả năng tri nhận và khả năng tái tạo thế giới trong ngôn ngữ riêng của chính minh Họ không “ lấy cái của thế giơí để mô tả thế giơí” mà lấy ngay ở cái vốn riêng của bản thân mình Đó là ngôn ngữ, ngôn ngữ nghệ thuật

2- Từ ngôn ngữ vâ n ch ư ơ n g đến ngôn ngữ văn chương Việt nam.

Trước hết Văn chương là một hình thái của ý thức xã hội, nghĩa là một yếu tố thuộc thượng tầng, có chức năng phản ánh thực tại, phản ánh chân lý cuộc sống Nhưng văn chương lại là một ý thức xã hội có b ả n c h ấ t n g h ệ th u ậ t

N ó tá i tạ o t h ế g iớ i b ằ n g hình tư ợng, và đ iề u q u a n tr ọ n g hơn d ã c h o n ó n ét khu

b iệ t ỉcì vă n ch ư ơ n g là s ả n p h ẩ m n g h ệ th u ậ t lẩ y c h ấ t liê ụ từ ngốn ngữ C á i c h ấ t liệu d ồ n g ĩlìờ ỉ là p h ư ơ n g tiện g ia o tiế p q u a n tr ọ n g n h ấ t c ủ a con n g ư ờ i v ò ìà

c ô n g cụ đ ể t r i n h ậ n , đ ể s u y n g h ĩ củ a con n gư ời.

T h i p h á p ngôn n g ữ trong văn chương chính là nghệ thuật tạo hình bằng ngôn ngữ R om an Jakovson, nhà chức năng luận trứ danh của nhóm ngữ học Praha, đã có nhũng nhận xét mang tính cơ sở lý luận khi ông nói về “ Ngôn ngữ học và thi h ọ c,,(t)

Trong cách hiểu khái niệm văn chương, văn học và ngữ học có hơi khác nhau một chút Thi pháp văn học, đường như, chú ý nhiều hơn đến nshệ thuật của việc xây dựng và biểu đạt hình tượng, đến cung cách tái hiện cuộc sống bằng hình tượng, trong khi đó thi pháp ngôn ngữ quan tâm đến nghệ thuật ngôn từ, đến cá tính và sáng tạo của nhà vãn trong nghệ thuật nsôn từ để tạo

» rar) hình tượng Tuy nhiên bất kỳ một thành công thật sự nào của vãn chươnơ

cũng ỉà thành công của nghệ thuật kết hợp thi pháp vãn pháp với thi pháp ngôn ngữ

(t) R Jakovson, N gôn ngữ học và Thi học, tiếng V iệ t, Cao X uân Hạo dịch, Tạp chí Ngôn naữ, sô 14/2001, Hà nội, 2001

15

Trang 19

Mọi kết quả sáng tạo của văn học, rốt cục, phải là một chân lý cuộc sống được tổng kết bằng m ột hình tượng ngôn ngữ.

Câu ca dao: ‘T rờ i ơi, trời ở bất nhân,

Kẻ ăn không hết kẻ lần chẳng ra” hay là câu: “Ai ơi bưng bát cơm đầy,

Dẻo thơm một hạt, đắng cay m uôn phần”

Đó là những định lý về công bằng xã hội và về lao động được người bình dân biểu đạt bằng nghệ thuật ngôn từ

Ngôn ngữ, qua hình tượng văn học mà nó biểu đạt, càng gần chân lý bao nhiêu thì giá trị nghệ thuật càng cao bấy nhiêu Truyện Kiều là một kho quy tắc về cuộc sống m à nhà thơ đã tổng kết được Tính khái quát của các câu thơ, tần suất cao của các chân lý trong nghệ thuật ngôn từ của Nguyễn Du đã khiến tác phẩm trở thành cái cẩm nang của cuộc sống máit nhất ai cũng có một lần tìm tới

Văn chương là một loại hình nghệ thuật phản ánh thực tại lấy chất liệu từ ngôn ngữ. N gôn ngữ văn học là công cụ để sáng tạo (tạo hình) vãn chương trước hết nhờ vào tư duy người bản ngữ Thi pháp ngôn ngữ của mỗi nền văn chương được bắt đầu từ tiếng mẹ đẻ “N gôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” (M Gorki), xét trên phương diện sáng tạo nghệ thuật thì đúng là như thế

N gôn ngữ văn học lấy chất liệu từ ngôn ngữ toàn dân, cái n2ôn ngữ vốn tổn tại để thực hiện chức năng giao tiếp và làm công cụ tư duy Khi con người bước vào thời đại văn minh thì bên cạnh tư duy lô gích, c ó từ khới nguyên, đã xuất hiện thêm khả năng mới, đó là khả năng tái tạo th ế giới bằng hình tượng Con người, nhờ năng lực trừu tượng hoá cao, đã hình dung được thế giới trong các sáng tạo nghệ thuật của mình: âm nhạc, hội hoạ, và sau đó là văn chương Các loại hình nghệ thuật khác thì lấy chất liệu trong tự nhiên (âm

> thanh, màu sắc, các loại vật liệu sắn có) Riêng văn chương, đến lượt mình, đã

làm phong phú thêm th ế giới của trí tưởng tượng bằng các hình tượns lấy chất liệu từ n sô n ngữ, một h iệ n tượng đặc biệt của đời sống xã hội Nhờ đó, ngôn ngữ có thêm một chức năng mới, một chức năng là hệ quả của hai chức nãng bản chất đà nói ở trên, chức năng ấy gọi là Thi học (poetic function) như Rom an Jakovson đả gợi ý

Trang 20

“N hà văn” , theo nghĩa rộng là người sáng tác văn chương, có vai trò rất quan trọng trong việc làm hình thành ngôn ngữ văn học của một dân tộc.

Ngôn ngữ văn học là chất liệu khai thác m à các nhà văn, trong khi sáng tác, đã dùng nó với sự sáng tạo cao và cá tính rất đặc sắc Đó là bản chất của sản phẩm nghệ thuật Rồi cũng nhờ th ế m à ngôn ngữ văn học, trong thực tế sáng tác, ngày được bồi đắp và nâng cao năng lực, nâng cao chất lượng

D ẫn n h â p I I

1- N g ô n n g ữ v ăn h ọ c V iệ t nam cũ n g k h ô n g đi ra n g o à i q u ỹ đ ạo ch u n g

c ủ a n g ô n n g ữ to à n dân H ìn h thành từ thực tiễn lịc h sử tiế n g V iệ t và văn hoá

V iệ t n am , n g ô n n g ữ v ăn h ọ c đã trải qua b a o th ă n g trầm tron g s ố phận ch u n g

củ a tiến g V iệ t T u y n h iê n , n ếu so vớ i m ộ t d ò n g c h ả y b ìn h th ư ờn g thì n g ô n n g ữ

văn h ọ c V iệ t n a m đã p h ải đi qua m ộ t lộ trìn h c ự c k ỳ gian khó; vừa đ ể hình

thành vừa đ ể tồ n tạ i v à p h á t triển. N h ư n g ch ín h tron g c u ộ c cạ n h tranh k h ố c

liệt đ ó , n g ô n ngữ văn h ọ c V iệ t nam đã là m nên những th à n h quả to lớn T iê n g

V iệt đ ã sin h ra ngôn n g ữ văn liọc V iệt nam và chính ngôn ng ữ VCIIÌ liọc V iệt nam d ã làm rạ n g rỡ tiếng Việt.

Đến cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, ngôn ngữ văn học Việt nam đã đạt tới độ chín của sự phát triển Trình độ ấy đã được thể hiện trong các sáng tác văn học dân gian và văn học thành văn Nền văn học, nhất là văn học Nôm, đã có những tác gia tiêu biểu: Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Nhuyễn Huy Tự, Phan Huy Vịnh, Bà huyện Thanh Quan, và cao nhất là Nguyễn Du Tuy nhiên trong th ế kỷ XIX, ngồn ngữ văn học nước nhà vẫn phải chịu những nguy cơ và thách thức lớn:

a) Trên thực tế, nước ta đã giành được độc lập từ thế kỷ thứ X, nhưng tiếng Việt thì vẫn chưa có được cương vị chính danh trên phưons diện quốc gia trong mọi hoạt động Theo đó, ngôn ngữ sáng tác văn học có tính chính thống vẫn là chữ Hán Tư tưởng “Nôm na là cha mách qué” không phải là không có chỗ đứng

b) Cuộc xâm lăng của thực dân Pháp, lúc đầu là rập rình ngoài khơi, sau

là chinh phục toàn lãnh thổ Tiếng Pháp có tham vọng thay chân chữ Hán với

tư cách Quốc ngữ

Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là dân tộc Việt nam, với ý thức bền vững

về sự trường tổn qua kinh nghiệm lịch sử, đả biết cách “ từ cái khó, ló cái khô n ”, vượt qua thác ghềnh để bảo tổn tiếng Việt và tìm ra cơ hội phát triển

Có thể tóm tắt là: - ——— - — -

ĐẠI HQC Q u ó c GiA PV Ĩ,Q| I

TRUNG T/ í/ T h ô n g tin T hư v ì n '

17 [õĩZjjg ^ j

Trang 21

a) T ranh thủ khả năng có được, tìm cách giảm dần v à thoát ly k h ỏi quỹ

đạo tiếng Hán

b) Tranh thủ khả năng tiếp xúc tiếng Việt với tiếng Pháp v à c á c ngôn

ngữ Âu châu để m ở m ang phát triển

c) Len lách để đẩy m ạnh nội lực của nền Quốc ngữ, tạo ra sự biến đổi

Kết quả là, th ế kỷ X X đã thật sự trở thành kỷ nguyên mới c ủ a tiếng Việt

M ột thế kỷ đẩy ắp biến cố lịch sử, chính trị, xã hội cũng là một thế kỷ đ ầ y ắp

các biến đổi và phát triển của tiếng Việt, trong đó có ngôn ngữ văn học Việt

k h ố n g tá c h kh ỏ i t h ế kỷ XX tro n g đ á n h giá bởi vì các sư tìn h của ngôn

n g ữ v ă n hoc th è kỷ XX đểu cỏ m á m m ông tr o n g giai đ o a n này

1- Trước thềm thế kỷ XX là một thời kỳ đau buồn và khó khăn trong lịch sử Việt nam.

X ã h ộ i p h o n g k iế n lạ c hậu và đ iêu tàn k h ô n g đủ sứ c đ ề k h á n ơ trước cu ộ c

x â m lă n g củ a P h áp V ớ i h oà ước Pa- tơ- n ố t ( 1 8 8 5 ) , ch ủ n g h ĩa thực dân Pháp

đã đạt n ền đ ô h ộ trên c ả đất nước ta C ác c u ộ c k h á n g c h iế n C ần v ư ơ n g lần lượt

bị dập tắt T ừ đ â y , n ư ớc ta ở trong cản h “đ êm trường d ạ tối tăm trời đ ấ t” , c ơ

cự c, lầm than c ủ a c h ế đ ộ th u ộ c đ ịa nửa p h o n g k iến

C ù n g v ớ i lịc h sử, x ã h ội truyền th ố n g cũ n g bãt đầu n h ũ n g khới đ ộ n g củ a

sự đ ổ i th ay M ộ t m ặt, g ia i cấp p h o n g k iến su y tàn, tuy thất bại n hư ng vần c ố

s ố n g c ố c h ế t g iữ lạ i q u y ền u y và trật tự p h o n g k iế n đ ã c ó m ặt tự n g h ìn năm

trong m ộ t n ư ớ c n ô n g n g h iệ p lạ c hậu M ộ t m ặt k h á c, ch ủ n g h ĩa thực dân số t

sắ n g và v ộ i vã tìm c á c h áp đặt nhữ ng g iá trị p h o n g k iế n và lư sản châu  u

n h ằm bắt đẩu c ồ n g c u ộ c khai th ác, b ó c lộ t và n ô d ịc h tại m ột x ứ th u ộ c địa

Trang 22

Pháp Đi đồi với công cuộc khai thác thực dân, các yếu tố công nghiệp và tư sản cũng bắt đầu len chân vào đất Việt như m ột thực tế khách quan.

Văn hoá Việt nam, từ truyền thống, đã bước vào một giai đoạn phăn hoá đầy khó khăn. N gôn ngữ và văn học Việt nam n ằm trong bối cảnh chung ấy

2- Những giá trị định hình trong ngôn ngữ văn học buổi giao thời.

Để hiểu được ngôn ngữ văn học, cần đặt nó trong tương quan với đời sống ngôn ngữ chung, cái nôi và nguồn tiếp sức cho nó

Ngôn ngữ văn học Việt nam, cho đến cuối th ế kỷ XIX, vẫn là công cụ sáng tạo nghệ thuật của cả hai dòng văn học dân gian và văn học thành văn

Ngôn nsữ văn hoc dân gian

Nghệ thuật ngôn từ của văn học dân gian bao giờ cũng đi tiên phong cho

ngôn ngữ văn học. Đó là thứ ngôn ngữ :

+ Lấy chất liệu từ ngôn ngữ thường ngày của ngôn ngữ dân tộc, gần nhất với lời ăn tiếng nói của cộng đổng

+ Được tinh luyện qua tay những “thợ kim hoàn vô danh” , có tính cộng đổng

+ Được sànơ lọc, chắt chiu qua công chúns đời này qua đời khác, bằng truyền miệng

+ Có thể loại đa dạng về ngôn từ

N gồn ngữ văn học dân gian tổn tại dưới dạng truyền miệng, ai cũng có quyền vàc có cơ hội tham gia sửa sang để cho nó giàu hơn, đẹp hơn, đa phone cách hơn Rồi văn học thành văn cũng theo đó mà học, mà sáng tạo

Ca dao, thành ngữ, tục ngữ, câu đố, lời các bài hát (hát quan họ, hát trống quân, hát xoan, hát ghẹo, hát dặm, hát bài chòi ), lời các câu hò (hò giã gạo

hò chèo đò, hò mái đẩy, hò hụi, ), lời các làn điệu kèm theo vũ khúc là những sản phẩm có cương vị rất quan trọng, là những bằng chứng rất tự nhiên của ngổn ngữ văn học Nó không chỉ có ý nghĩa về xã hội học, phons tục học văn hoá học, mà còn là bằng chứng rất quý của nghệ thuật văn chương, nghệ thuật ngôn từ (ẩn dụ, hoán dụ, hô ngữ, ) Chính từ ngôn n sữ ca dao đã hình thành thể thơ ỉục bát, đặc trưng cho ngôn ngữ thơ truyền thống thuần Việt

19

Trang 23

Dưới thời Bắc thuộc, dân tộc ta đã có văn tự riêng để ghi tiếng Việt hay chưa còn là vấn đề phải nghiên cứu vì chưa đủ tư liệu Sau khi nước nhà độc lập, tuy chữ H án vẫn là văn tự chính thức, người Việt đã nghĩ đến và từng bước c h ế tác m ột thứ chữ viết riêng cho mình Đó là chữ Nôm Chữ Nôm là chữ Việt cổ, đặt theo nguyên tắc khối vuông, ghi theo âm tiết (tự) chứ không theo âm vị kiểu châu Âu.

Có chữ N ôm thì cũng có ngôn ngữ văn học Nôm trên vãn bản Văn bản vãn học Nôm chia làm hai kiểu:

a) Dựa vào thi pháp Hán ngữ, nhưng sáng tác bằng lời Việt (tiếng Nôm),b) Thi pháp riêng của Việt ngữ

và tiếng Việt đều là ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập (isolating language), lấy

“ tiếng” (tự) làm đơn vị cơ sở cho cơ cấu ngôn từ Các thể văn phổ biến là: a) vận vân (văn có vần, dựa trên sự tách bạch giữa thanh mẫu và vận mẫu trong

âm tiết) bao gồm thơ, phú, văn tế, b) biền văn, một loại văn không viết theo vần nhưng có đối (câu đối tứ lục, kinh nghĩa theo lối bát cổ) Cho đến cuối thế

kỷ XIX, trong tiếng Việt cũng tổn tại một ít văn bản Nôm theo lối văn xuôi Hán cũ (tự, bạt, truyện, bi, ký luận)

V ề k iể u lo a i th ứ h a i

Thi pháp riêng của tiếng Việt tiêu biểu là hai thể lục bát và song thất lục bát Từ hai nguyên thể ấy, dần dần trong thực tế hình thành cắc biến thể văn vần như trong các ca khúc hát nói, sẩm, lý, hề,điên nói lối ( tr o n g tuồns) .Ngôn ngữ văn học Nôm buổi sơ thời không lưu lại nhiều sản phẩm

N hũng ghi chép còn lại cho hay, trong văn học Trần-Hồ, sau Hàn Thuyên còn

có một vài tác giả như Nguyễn Sĩ Cố, Chu An, Hổ Quý Ly, sáns tác bans quốc âm, nhưng rất tiếc là các văn phẩm đã bị thất truyền Vãn h ọ c N ỏ m lưu ban c h ỉ bắt đầu từ Lê sơ vói Nguyễn Trãi, Lê Thánh T ô n s , Hồna Đ ứ c Q u ố c

N e ô n n e ữ v ă n h o c N ô m

Trang 24

âm thi tập, đến đời Mạc thì có Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đỗ Cận, Nguyễn Hãng, Hoàng Sĩ Khải, v ề hậu kỳ, sau mỗi thế kỷ văn N ôm càng phát đạt, nhiều về số lượng và nâng cấp về chất lượng., đến thế kỷ XVIII, với nhà Lê trung hưng, các tác phẩm N ôm đã bề thế về ngôn ngữ mà tiêu biểu là Chinh phụ ngâm (Đoàn Thị Điểm), Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều), Hoa tiên (Nguyễn Huy Tự) Đầu thế kỷ XIX, Truyện Kiều của Nguyễn Du đạt đến đỉnh cao nhất của văn học Nôm, trở thành biểu tượng của ngôn ngữ văn học Việt nam mọi thòi đại Thơ Nôm của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, tiếp tục đóng góp những sáng tạo mới cho thi pháp ngôn ngữ nước ta Không có cái nền thơ Nôm sáng chói như thế thì c ũ n g không thể có ngôn ngữ thơ mới rực rỡ trong thế kỷ XX.

Nsôn ngữ sáng tác văn chươns bằng chữ Hán

Đ â y là m ộ t n é t đ ặ c thừ c ủ a n gôn n g ữ vă n h ọ c V iệ t n a m trư ớ c nửa d ầ u t h ế

k ỷ XX.

Sau khi thoát khỏi ách đô hộ của phong kiến phương Bác (939) cho đến đầu thế kỷ XX, các triều đinh nước ta, vì những lý do chính trị và lịch sử, vẫn lấy chữ Hán làm Quốc gia văn tự Ngốn ngữ của nền hành chính quốc gia, ngôn ngữ trong giáo dục đào tạo (dạy học, khoa cử), theo đó, cũng dùng chữ Hán cả Trong các giao dịch dân sự ở làng xã, chữ Hán cũng là công cụ chính.Trong bối cảnh như thế, việc sáng tác văn học thành văn thuộc về các nho sĩ và không thể không có các sáng tác bằng chữ Hán Đó là dòng văn học chính danh, nhưng ngôn ngữ văn học lại không phải là bản ngữ.

Nền văn học chữ Hán ở nước ta, chỉ tính từ Thời Lý Trần, đã thấy quy

mô đáng kể Tuy gọi là văn học nhưng các sáng tác bằng chữ Hán là đa lĩnh vực và rất đa dạng, bao gồm cả các bài văn viết về sử học, triết học, đạo đức luân lý, với những thể loại khác nhau Các nhà văn trứ danh từ Nguyễn Trãi

Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm đến Nguyễn Du, Nguyễn Cônơ Trứ Nguyễn Đình Chiểu, đều là những tác gia thành công lớn trons sáng tác bằng quốc âm và chữ Hán Trong thế kỷ XX, Hổ Chí M inh cũng là một tác gia như thế, song có điểu, những nhà văn như vậy đã trở nên rất hiếm hoi tron2 thế k v mới

Cho đến bên thềm thế kỷ XX, ngôn ngữ văn học bằng chữ Hán đã có những ảnh hưởng to lớn đến ngôn ngữ văn học Việt nam N ó k h ỏ n s c h í ánh hưởnơ đến các thể loại mà còn ánh hưởnơ tới p hons cách và c á c th ủ p h á p s á n "

21

Trang 25

Sự hình thành cách đọc Hán-Việt, khác với cổ Hán-Việt, đã mang lại cho ngôn ngữ văn học Việt nam những điều rất mới mẻ:

+ Lối đọc Đường âm đã giúp tiếng Việt có thêm m ột kho từ vựng phong phú, một n guồn bổ sung vô tận về từ ngữ với khả năng sáng tạo của người Việt cho tiếng m ẹ đẻ của mình

+ Nhờ cách đọc riêng, âm Hán-Việt đã cho người Việt một cái khả năng tri nhận (cognitive) mới về nghĩa tự do hơn Nhiều tiếng đã tăng thêm nét nghĩa khi qua tay các “thợ kim hoàn” người Việt Người Việt, đến mức, trong ngổn ngữ văn học, đã coi các yếu tố Hán-Việt là Việt chứ không phải là Hán.+ Các thể loại truyền thống (thơ, phú, văn tế) được tôn trọng, nhưng không loại trừ những cố gắng cải cách, do vậy thi pháp tiếng Việt đã có thêm

Có trong tay những kinh nghiệm dày dạn và phong phú trong tiếp xúc ngôn ngữ suốt hàng chục thế kỷ, người Việt đã nhanh chóng và tự tin khi đôi mặt với tiếp xúc ngôn ngữ châu Âuđể từ đó nhanh chóng tìm ra giải pháp hợp

lý, hiện đại hoá tiếng Việt và tạo ra những bước phát triển có tính chất đột phá trong thế kỷ XX bao gồm cả việc hình thành một nền quốc văn mới

Ảnh hưởns của tản thư

Tân thư là khuynh hướng mới trong nền tư tưởng và văn học Trung quốc buổi cận kề thế kỷ XX

Trong quá khứ, văn học Việt nam đã chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng truyền thống và Hán ngữ Tuy nghiên, cận cuối thế kỷ XIX, tình hình tư tưởng

và văn học Trung Quốc đã có những biến đổi và diễn tiến

Sau những biến cố chính trị trong quan hệ với phương Tây, sau chiến tranh N ha phiến giới học giả và trí thức Trung hoa tìm cách thoát ra khỏi vòng văn chương khoa cử và văn học cũ, mộĩ truyền thống đã trở nên không hợp thời Giới trí thức đã mở đầu phong trào Tàn thư với những tư tưởng mới, soạn sách vở, dịch thuật, viết báo chí để truyền bá những tư tưởng cấp tiến Trong địa hạt ngôn ngữ thì cải cách văn tự, từ chối cổ văn dẫn đến một lối mới trong văn phong gọi là Bạch thoại, giản dị, sáng sủa

Hai người có ảnh hưởng nhất đến giới nho học Việt nam là Luơng Khái Siêu và K hang Hữu Vy Tư tưởng của Khang&Lương đã thức tỉnh lớp sĩ phu nước ta đang lúng túng trong vòng khoa hoạn giữa lúc tư tưởng Âu tây đang tràn vào cùng với cuộc xâm lược của thực dân Pháp Những thức siâ bắt đầu

Trang 26

tìm cách tiếp xúc với Tân thư Trung hoa, tìm đường sang Nhật, sang Trung Quốc để tiếp xúc với cái mới Một số khác tìm đường sang châu Âu để học những ý tưởng mới N hờ ảnh hưởng của Tân thư, lối văn Bạch thoại cũng được thức giả Việt nam biết đến, nhiều tiếng Hán-Việt mới đã xuất hiện, đặc biệt là một số chữ Hán đã đi vào tiếng Việt với tư cách những thuật ngữ đẩu tiên của khoa học xã hội&nhân văn, thoạt tiên là triết học Tân thư chính là một kênh quan trọng để nền Quốc văn nước ta tiếp xúc với châu Âu và học kinh nghiệm canh tân của nền Hán học.

Buổi đầu tiếp xúc với Pháp hoc

Châu Âu là m ột cổng mà Pháp là một lăng kính để nhìn vào Tân thư đã góp cơ hội cho ngôn ngữ và văn chương Việt nam tiếp xúc với Âu tây Nhưng kênh này vẫn là gián tiếp

Từ thế kỷ XVII Âu tây đã có những cố gắng tiếp cận Việt nam qua giao thương và truyền giáo Trong ngôn ngữ, việc ra đời chữ Quốc n sữ (1651) là một cái mốc quan trọng Tuy nhiên, đạo bị cấm thì chữ Quốc ngữ cũng bị cấm

và không có cơ quảng bá Các văn bản của giáo hội Thiên chúa giáo còn để lại cho thấy, trong tiếng Việt, từ chữ Quốc ngữ đã hình thành một lối viết mới, mang tính chất “ tiền văn xuôi” Lúc đầu lối văn Quốc ngữ này chỉ dùng để ghi chép và dùng vào các giáo dịch trong nhà đạo Cuộc Pháp xâm đã tạo ra cuộc

đổ bộ của văn hoá-văn minh châu Âu vào Việt nam kèm theo một áp lực tiếp xúc, dù có bảo thủ mấy cũng không cưỡng lại được

Ba cánh quân của văn minh Pháp vào Việt nam là : a) dạy và học tiếng Pháp, b) báo chí và truyền thông Pháp, c) dịch thuật văn học Pháp

Cuộc tiếp xúc trực tiếp đã có những ảnh hưởng sâu xa và có những tác động trực tiếp đến diện mạo ngôn ngữ và văn chương Việt nam Đây là thời kỹ

dự bị của việc thành lập một nền Quốc văn mới trong thế kỷ XX

Sau khi thiết lập ách thống trị trẽn toàn cõi nước ta, thực dân Pháp coi việc phổ biến tiếng Pháp và đẩy lùi ảnh hưởng Hán học như một cuốn sách Việc đầu tiên là inở trường dạy chữ Pháp ở N am kỳ rồi các trư ờ n ơ các trường tiểu học, trường th ô n s nsôn ở cả ba kỳ Số người học và biết tiếng Pháp sau vài ba thập kỷ đã tăng lên Báo chí tiếns Pháp được tung vào thuộc địa, và bắt đầu có cônơ chúng là lớp người Việt đầu tiên biết tiếng Pháp

Đổng thời với báo chí tiếng Pháp là sự khai trương của nền báo chí quốc ngữ ở Nam kỳ v ớ i Gia định báo ( ỉ 865). Đầu thế kỷ X X , b á o c h í q u ố c ngừ đà được mở rộng ra Bác kỳ và toàn cõi nước ta, trở thành m ộ t c ô n2 việc tru y ề n

23

Trang 27

thông có ý nghĩa Từ ngôn ngữ báo chí, một kênh mới đã mở ra cho ngôn ngữ văn học nước ta theo lô gích: không có ngôn ngữ báo chí thì không thể có văn xuôi mới Không có văn xuôi mới thì cũng không thể có ngôn ngữ văn học cho các thể loại mới ơ nước ta, ngôn ngữ văn học hiện đại đã ra đòi trước hết bằng con đường của ngôn ngữ báo chí Ngôn ngữ thông tấn và ngôn ngữ bình luận là bước đi thứ nhất của ngôn ngừ văn xuôi tự sự sau này.

Trong văn học, lực lượng sáng tác căn bản trước kia là các nhà nho Với

họ, sách dạy đạo và phép tắc thánh hiền mới là mục tiêu chính, cũng là thước

đo vậy Họ vốn coi thường và xa lạ quốc vãn, thích từ chương, khuôn sáo Nay thì khác, các nhà thức giả biết quan sát thế giới đời thường, bình dị, qua cuộc sống và các tiếp xúc đa dạng chung quanh minh

Ngôn ngữ văn học bắt đầu có những khởi động biến chuyến, v ề trước, sáng tác văn học Nôm là bộ phận thứ cấp so với sáng tác bằng chữ Hán Nay,

sự tiếp xúc Âu tây đã thổi vào một làn gió nhẹ Văn học tuy chưa thật sự có nhũng tác phẩm viết bằng quốc văn, nhưng các học giả đã bước đầu có cách

xử lý mới

N hư đã nói, lối viết văn trong các văn bản của giáo hội Thicn chúa giáo lúc xưa chỉ có trong các giao dịch nội giáo thì nay đã bước một bước ra vãn chương Giáo sĩ Trương Vĩnh Ký, đã dùng lối văn này mà viết liChuyện đời xưa” (1866), “Chuyên khôi hài”( 1882), Huỳnh Tịnh Của viết “ Chuyện giải buồn” (Q.1,1880 và Q II,1885) Đặc biệt, năm 1887, NXB Diệp vãn Kỳ ở Sài gòn đã cho in truyện ngắn (32 trang) nhan đề “Thầy Lazaro Phiền” của Nguyễn Trọng Quản Đây là thiên truyện bằng văn xuôi lối mói đầu tiên, có kết cấu tự sự, có ngôn ngữ trần thuật và ngôn ngữ đối thoại thường gặp trong các văn bản của giáo hội (với đặc trưng cú pháp là viết các câu rất dài, ghép nối các mệnh đề bằng rất nhiều liên từ)

Nền văn dịch được khởi đầu cũng là một nét mới Nó chuẩn bị cho sự tiếp xúc lớn với ngôn n sữ châu Âu vài thập kỷ sau Bước đấu tiên chưa phải là dịch thuật từ tiếng Pháp

Xưa các nhà nho quan tâm dịch vận văn ra quốc văn và đã có nhiều thành tựu tốt Nay các dịch giả lại tìm cách diễn dịch ra văn xuôi Việt, đó là nét mới Trước tiên là một số sách giáo khoa chữ Hán rồi sau đó là trườns thiên tiểu thuyết chữ Hán (Trương Vĩnh Ký, Trần Văn T hôns, Trần Văn Khánh, rồi Phan K ế Bính), dịch Tân thư Qua biên dịch, do công việc, các dịch sia phái xây dựng những thuật ngữ xã hội và nhân văn sơ kỳ, mở đầu cho một nsữ

Trang 28

vựng mới (thoạt tiên là triết học, văn hoá, rồi m ở rộng dần ra), tích luỹ được kinh nghiệm cho việc tiếp xúc với từ ngữ mới của tiếng châu Âu sau này.

N hư vậy, nửa sau của th ế kỷ XIX, từ trong biến cố đau thương của việc mất nước, m ột sự đảo lộn của xã hội truyền thống Việt nam cũng đã bắt đầu Ngoài ý muốn nô địch của bọn thực dân, và tư tưởng nô lệ của một bộ phận giai cấp phong kiến buổi suy tàn, d ân tỏc V iẽt đ ã biết “ lưa chèo khéo

chống”, tìm cách bảo tồn những giá tri văn hoá truyền thống, tiếp thu những giá tri cấp tiến của nhản loai để p h á t triển văn hoá trong hoàn cảnh mới của thế kv XX.

Con đường phát triển của ngôn ngữ văn học Việt nam trong thế kỷ XX cũng nằm trong quỹ đạo đó Nó đi từ truyền thống đến hiện đại trong lộ trình của cuộc đấu tranh giành độc lập dán tộc, thống nhất đất nước, chống nghèo đói ỉạc hậu để phát triển.

T H Ế K Ỷ XX

D án n h â p IV

1 -T h ế kỷ X X là thế kỷ đau thương và hiển hách nhất trong lịch sử Việt nam Nội dung cơ bản của thế kỷ này là cuộc đấu tranh anh dũng vô song của dân tộc ta để giành lại độc lập dân tộc, tái thống nhất đất nước và quyết tâm cao độ chống lại đói nghèo, lạc hậu để đưa đất nước bước vào phát triển.

Trong cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ ấy, văn hoá Việt nam đã tìm được nguồn lực để phát triển, và chính nó đã hỗ trợ đắc lực cho sự nshiệp cách mạng của dân tộc ta

Văn học Việt nam là một nhánh của văn hoá dân tộc

Tiếng Việt cũng là một nhánh của văn hoá dân tộc

2- N h ữ n g q u a n s á t và n h ậ n xét theo thời đ o ạ n

Quan sát thời đoạn (hồi quan) là một lối khảo sát quan trọng Vói ngôn ngữ văn học Việt nam một thế kỷ, nó là cần thiết cho việc nhận diện

và đánh giá các sự kiện.

Trang 29

Như đã nói, sự phân kỳ lộ trình phát triển ngôn ngữ văn học Việt nam

của chúng tôi dựa trên đặc điểm của bản thân sự phát triển văn học Nhưng

văn học, trong tiến trình của nó, cũng có những quy chiếu với các sự kiện ỉịch

sử của đất nước.

Trước hết chúng tôi nói tới một sự lưỡng phân trong khảo sát:

Ngôn ngữ văn học Việt nam nửa đầu th ế kỷ và nửa cuối thế kỷ Cái mốc đánh dấu lưỡng đoạn này là cuộc Cách m ạng Tháng Tám thành công

Nửa đầu th ế kỷ, nước ta chìm đắm trong cảnh nô lệ Dân tộc ta, văn hoá Việt nam phải vật lộn với ngoại bang để tồn tại Tiếng Việt cũng trong cảnh hai tròng áp chế N ó là công cụ để bảo tổn văn hoá, truyền bá lòng yêu nước

và vũ khí tuyên truyền cách mạng trong cuộc đấu tranh giành độc lập

Nửa thế kỷ thứ hai, Nước Việt nam sự thật đã trở thành một nước độc lập thì tiếng mới có độc lập Tiếng Việt có độc lập thì mới thật sự phát triển mạnh

mẽ Theo đó, ngôn ngữ văn học Việt nam mới được giải phóng và tiến bộ Hai cuộc đụng đầu lịch sử với hai đế quốc to trong chiến thắng đã đưa nước ta lén hàng nhũng nước vẻ vang Niềm tự hào dân tộc là bà đỡ cho ý chí tự tin trong phát triển, chống đói nghèo, lạc hậu Hổ Chủ Tịch dạy chúng ta:

“Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đòi, vô cùng quý báu của dán tộc Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó và làm cho nó phổ biến ngày

càng rộng khắp” (1962). Đó là cái cốt lõi của phương châm phát triển tiếng Việt

Trong từng phân nửa thế kỷ, chúng ta lại có các tiểu thời đoạn (tạm gọi là các giai đoạn) Nó thể hiện các hình thái phát triển của văn học trong sự quy chiếu với xã hội Ví như, nửa đầu thế kỷ XX, có thể xác lập hai giai đoạn với nét khu biệt của văn học: sự chuẩn bị và sự khởi phát Nửa sau của thế kỷ XX

là các tiểu thời đoạn của văn học kháng chiến và văn học kiến quốc (đặc biệt

là văn học của thời kỳ đổi mới) Theo đó, ngôn ngữ văn học đã ghi được

• những dấu ấn qua lộ trình sáng tác với những sự kiện văn chưoĩis và có ảnh

hưởng đến văn chương

Những quan sát sự thể ngôn ngữ văn học

V ă n ch ư ơ n g k h ô n g trừ u tượng N ó là n g h ệ th u ậ t n ên tồ n tạ i trên những sein p h ẩ m cụ th ể Đ ó là c á c trư ớ c tá c văn h ọ c th à n h d a n h

Trang 30

Khảo sát các sự thể (statement) văn học (tác phẩm, nhà văn, các sự kiện, ) sẽ góp phần soi sáng diễn tiến của ngôn ngữ văn học trong tiến trình văn học T h ế kỷ XX, sự thể văn học Việt nam rất phong phú, đa dạng và phức tạp Lần theo nó sẽ giúp ta tìm ra cái sợi chỉ xuyên suốt cái phức thể của ngôn ngữ vãn học Trong 14 chuyên luận cuh thể, đề tài đã lựa chon mầu và điểm từ một số sự thể tiêu biểu và khảo sát nó theo phương pháp “ cửa sổ”.

27

Trang 31

PHẦN THỨ HAI

MỘT SỐ KHÍA CẠNH c ơ BẢN VỂ LỘ TRÌNH HIỆN ĐẠI HOÁ NGÔN NGỮ VẢN HỌC VIỆT NAM THẾ KỶ XX

BA MƯƠI NĂM ĐẦU THẾ KỶ XX

N gôn n g ữ v ă n học Việt n a m tro n g nỗ lực p h ấ n đ ấ u c h o m ột nền quốc văn mới

1- N hư đã nói, nửa đầu thế kỷ XX, ngôn ngữ văn học Việt nam, trên đại thể, có thể chia làm hai giai đoạn phát triển:

a) Ba mươi năm đầu thế kỷ

b) Mười lăm năm tiếp theo, tính đến Cách m ạng tháng Tám

Ba mươi năm đầu thế kỷ chính là thòi kỳ thứ hai của sự chuẩn bị một nền quốc văn mới mà sự khởi đầu nằm ở nửa cuối thế kỷ trước Những gí

đã được khởi động trước đó thỉ nay tăng tốc và có các kết quả cụ thể.

2- Ba mươi n ă m đ ầ u th ê kỷ là buổi giao thời củ a xã hội Việt nam

Các sự kiện lịch sử có ảnh hưởng lớn là:

a) Sau khi đàn áp được các phong trào yêu nước, thực dàn Pháp thiết lập trật tự thuộc địa hà khắc và bắt đầu tiến hành các cuộc khai thác, v ể văn hoá, chúng ra sức thực hiện chính sách nô dịch và áp đặt

b) Các cuộc vận động của phong trào yêu nước vẫn âm ỉ dưới những hình thức khác nhau.Thực dân Pháp cảnh giác và đàn áp

c) Sự phân hoá giai cấp Hình thành giai cấp vô sản

d) Nguyễn Ái Quốc và việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lê nin vào nước

ta Cuộc Vận động thành lập Đảng

S ư thè văn hoc đ á n g q u a n tâ m là:

Bất chấp ách nô dịch của thực dân Pháp, với sự chuyển mình của xã hội

V iệ t n a m , tư tư ở n g y ê u n ư ớ c và d ộ c lậ p d â n tộ c đ ã tìm dược những k ẽ h ở

n h ữ n g "mô m e n " th u ậ n lợ i d ê k iến tạ o m ộ t n ền q u ố c vân m ớ i.

Trang 32

Theo đó là các sự kiện:

a) Sự suy tàn của Hán học trước uy lực của Pháp ngữ

b) Những kẽ h ở từ sự truyền bá văn hoá và “văn m inh” Pháp

c) Thành hỉnh một nền Quốc văn mới trên cơ sở của:

+ Sự phát triển của văn học dịch,

+ Sự tiến triển của ngôn ngữ báo chí,

+ Sự khởi đầu của văn xuôi mới,

+ Sự đa dạng hoá thể loại văn học,

+ Các biến đổi của ngôn ngữ và văn tự

S ư th o ái lui c ủ a ả n h hưởng nho hoc

Sau khi chiếm xong nước ta, để thiết lập trật tự mới trên thượng tầng, thực dân Pháp, trong chính sách của chúng, nhanh chóng tìm cách đẩy lùi để tiến tới gạt bỏ các ảnh hưởng của Trung hoa nhằm quảng bá văn hoá Pháp thế chỗ

Tuy nhiên, trong thực tế tình hình không hoàn toàn như vậy Những gì diễn ra đầu thế kỷ XX cho thấy dàn ta đã tận dụng cơ hội của chính sách này

Trong khi chèn ép ảnh hưởng của Trung hoa vê văn hoá, Pháp (ỉã tạo ra một khoảng trống để Việt nam thoát ra khỏi quỹ đạo bảo thủ của hủ nho, tìm kiếm những yêu tô mói Trong khỉ Pháp chưa kịp “bình định” vãn hoá thì Việt nam đã tranh thủ cơ hội để bắt tay kiến tạo nền quốc vãn mới dừ là theo cách tự phát nhưng rất có hiệu quả.

Ngôn ngữ văn học Việt nam không thể phát triển đưọc trong điều kiện chữ Hán (nho) giữ địa vị chủ đạo, khi lối khoa cử Nho học còn thống trị

Phải có cơ hội mới thoát ra được Và cơ hội đó c ũ n s chí có được khi Pháp chưa kịp áp đật nền Pháp học thực dàn

Cơ hội đó đã đến như sau: Cuối thế kỷ XIX, sau khi chiếm xong ba tỉn h miền đ ô n s và ba tỉnh miền tây (1862,1867), Pháp liền bãi bỏ việc học và thi chữ nho ở Nam kỳ, bắt tay xây dựng nền giáo dục thuộc địa

ở Bắc và Trung kỳ tình hình diễn ra chậm hơn Pháp ép chính quyền Nam triều lập ra Hội đổng cải lương học vụ để cải cách học và thi Nãm 1906, Toàn quyền Đ ông đương ban bố đạo luật mới về thi cử theo mô hình Pháp với

ba bậc (ấu học, tiểu học, trung học) Với mô hình này, cách học và thi đã có

29

Trang 33

thay đổi tuy chương trình học vẫn lấy chữ nho làm căn bản,nhưng các thê văn truyền thống(kinh nghĩa, thơ phú đã bị bãi), đồng thời, thay vào đó có thêm các môn học bằng quốc ngữ (toán, cách trí, địa dư, ), và tất nhiên là có môn tiếng Pháp Cuộc quá độ này sẽ kết thúc vào năm 1919 khi Pháp bải bỏ nền nền giáo dục nho học với khoa thi hương cuối cùng.

Việc các nhà nho Việt nam “bỏ bút lông cầm bút chì” là một đổi thay rất quan trọng trong việc sử dụng ngôn ngữ

Cùng với việc truyền bá Tân thư Trung hoa, nhiều nhà nho đã chuyển sang tiếp cận với tây học, cho ra đời những sản phẩm mới, mở đầu cho một chương mới của ngôn ngữ văn học Việt nam

Từ nay nho học ở nước ta chỉ còn để những dấu ấn của cá nhân chứ

không tồn tại một cơ chế của lối xưa nữa.

Ả n h h ư ở n g của nền văn hoc mới T r u n g h o a

Cũng là ảnh hưởng của Hán học, nhưng đày lại là ảnh hường kiểu mới, được thức giả nước ta tiếp đón một cách hổ hởi

N hư đã nói, nền văn học mới của Trung hoa đã có ảnh hưởng tích cực đến giới sĩ phu nước ta, trước hết là các thức giả nho học Buổi giao thời giữa hai thế kỷ, việc hình thành một lối viết mới trong tiếng Hán, gọi là Bạch thoại,

đã làm thay đổi nhận thức về ngôn ngữ văn chương Cái giản dị và sáng sủa của Bạch thoại đã đối lập với lối văn chương cử tử, đãng đối, biền ngầu của cổ văn Nó thổi một luồng gió mới vào các nho gia đang miệt mài khoa cử, ham chuộng từ chương Việc cải cách văn tự đã cho phép giơí thiệu bằng tiếng Hán các tác phẩm triết học Âu tây (Montesquieu, Rousseau, Huxley, spencer, Smith, ), văn học (Hugo, Dumas, Balzac, Dickens, Stevenson, Scott, Cervantess, Tolstoi, ), rồi từ đó mà vào Việt nam Giới sĩ phu nước ta lần đầu tiên tiếp xúc với những tư tưởng dân chủ, cải cách của Khang&Lương, đọc các sách mới và trở nên thức giả Họ muốn tìm hiểu Âu tây, du học, mua sách tàn thư, một số muốn canh tân như mở trường, lập công ty, cả hoạt động chính trị Phong trào Đ ông du đo Phan bội Châu khởi xướng và Đông kinh nghĩa thục ở

Hà nội là những bằng chứng Những thuật ngữ triết học, xã hội học, nhân vãn học bằng tiếng Hán-Việt lần đầu tiên xuất hiện trong tiếng Việt mở đầu cho một lối giao tiếp mới trong ngôn ngữ Nó là dộng thái đầu tiên ảnh hưởng đến ngôn ngữ văn học.

Trang 34

Trong quá khứ, và cho đến đầu thế kỷ mới, học thuật nước ta, trong đó có văn chương đã chịu quá nhiều ảnh hưởng của Trung hoa Việc mô phỏng, lấy Hán học làm mẫu mực đã được thực hiện m ột cách tự nhiên Do chính sách đóng cửa, việc tiếp xúc với bên ngoài, đặc biệt với Âu tây rất hạn chế, học thuật không m ở mang được.

Đầu thế kỷ, nền Tân thư Trung hoa, tuy đã góp phần thổi luồng gió mới vào nước ta, nhưng nó vẫn là gián tiếp, vì a) Các tư tưởng mới đã đi qua kênh chữ Hán, nghĩa là một nước thứ ba, b) Các tư tưởng này đi qua giới sĩ phu nho học, nghĩa là đi qua lăng kính của một lực lượng vốn bảo thủ Phải đợi đến khi xuất hiện lớp trí thức tây học đầu tiên thì tốc độ mới nhanh được

Sự tiếp xúc với tây học khiến giới học giả nước ta hấp thụ trực tiếp những

tư tuởng mới của nền Pháp học Lúc đầu chưa phải là những học giả chuyên nshiệp mà là công chúng biết tiếng Pháp, họ là viên chức, thông ngôn, ký giả, lâu dần mới có người đi vào học thuật chuyên chú

Sự khởi đầu của văn chương bắt nguồn từ những tư tưởng xã hội Theo

đó, khác với luân lý phong kiến với tam cương, ngũ thường, tư tưởng mới quan tâm đến cá nhân, trách nhiệm và quyền lợi công dân, năng lực, lý trí và nhân cách đây là cái nguổn cho một thế giới quan mới trong sáng tác Ngôn ngữ mới là để tải cái đạo mới

Nhờ có tư tưởng mới, giới trí thức, tuy còn nhỏ nhoi, đã quan tâm đến học thuật của các nước ngoài Trung hoa, để ý đến phương pháp trong nghiên cứu, khảo sát, đánh giá, nghĩa là đã manh nha m ột lối tư duy mới trong tiếp cận thực tế Bằng chứng là xưa kia văn chương nước ta trọng Hán, khinh Nôm, nặng về tầm chương trích cú, xa rời thực tế, trọng kẻ sĩ khinh thường dân (quân tử/tiểu nhân), không quan tâm đến đời sống và thực tại chuns quanh.Nay tình hình đã có biến chuyển, tư tưởng, văn chương, nsôn ngữ văn tự của người Việt đa thay đổi nhiều trong vòng vài chục năm, thành quả cụ thể là gây d ụ n s nên m ột nền quốc văn mới, rất non trẻ nhung nhiều hứa h ẹ n Lần đầu tiên, văn chương hướng vào mô tả hiện thực với một vãn phong mới lạ, gián dị, gọn gàng với vốn từ vựng mới, đa dạng, phong phú, cú pháp mới mỏ

Ảnh hưởng buổi đầu của nền Pháp hoc

31

Trang 35

S ư b ắ t đầu c ủ a m ố t nền q u ố c v ãn mởỉ ià s ư kiên lớn củ a ngốn ngữ

vủn hoc

Nền quốc vãn mới được hiểu là nền văn chương Việt hình thành từ đầu thế kỷ X X N ền văn học này được viết bằng chữ Quốc ngữ, nó đối lập và khu biột với nền quốc văn cũ lấy văn học N ôm làm căn bản

Nền quốc văn mới ở nước ta thoát thai từ ngôn ngữ báo chí, ngôn ngữ dịch thuật văn học, ngôn ngữ khảo cứu học thuậtcùng với nó là ngôn ngữ các sáng tác văn chương mới (ngôn ngữ ván xuôi mói, kịch mói, thơ mới, và ngôn ngữ của các loại tự sự mói) Đó là một nét vừa đặc trưng, vừa đặc thù.

Nó khu biệt với văn Nôm bởi một loạt nét mà Dương Quang Hàm đã nêu

“1-Vãn nôm cũ hầu hết là vận văn (thơ, ca, phú) hoặc là biền văn (kinh nghĩa, tứ lục) chứ văn xuôi hầu như không có Trong quốc văn mới, tuy văn vẩn cũng có, nhưng chỉ giữ một địa vị nhỏ hẹp, còn văn xuôi là thể mới thành ỉập lại chiếm phần quan trọng hơn

2- Văn N ôm cũ thường có tính cao quý, thuờng tả tính tình và cảnh huống của các bậc phong lưu, quyền quý Quốc văn mới có tính cách bình thường, hay mô tả các sinh hoạt, sự làm ăn của kẻ thường dân lao động

3- Văn N ôm cũ thiên về lý tưởng, nên ít tả cảnh thực, việc thực Quốc văn mới vụ sự thiết thực nên thường tả các cảnh vật ở trước mắt và các việc xảy ra ở quanh ta

4- Văn N ôm cũ thường nói về việc nước Tàu chểnh mảng việc nước ta Quốc văn mới chú trọng đến việc nước Nam và thường mượn đề mục và tài liệu ở lịch sử, phong tục, tín nguỡng, văn chương của dân tộc ta

5- Về văn từ thì văn Nôm cũ thường chuông sự hoa mỹ cầu kỳ, lại hay dùng điển cố và những chữ sáo Quốc văn mới có tính cách bình giản, tự nhiên và chuộng sự mới mẻ đặc sắc.”

Theo Dương Quảng Hàm, Việt nam ván học sử yến, ỉr

Thiết nghĩ, n h ậ n x é t n h ư t h ế ì à v ấ t x á c đ á n g

Vốn từ vưng mới trong ngốn ngữ văn hoc

Nghiên cứu ngôn ngữ bao giờ cũng bắt đầu từ từ vựng (lexique) Từ vựng là bộ phận nhậy cảm nhất, năng dộng nhất trong các biến dổi ngôn

Trang 36

ngữ Từ vựng phản ánh những biến đổi của thực tại trong mối tương quan với ngôn ngữ.

Nói tới các phát triển vổ biến đổi của ngôn ngữ văn học, không thể không quan tâm đến các biến đổi từ vựng.

Nền quốc văn mới và quốc nôm cũ có sự khác nhau đáng kể về ngôn ngũ cũng chính là ở địa hạt này.

Do tính chất quan trọng của vấn đề, chúng ta sẽ phải trở lại một cách chi tiết hơn cho vấn đề nay, tuy nhiên cũng cần nói ngay tới mấy nhận xét chung:Cho đến đầu th ế kỷ XX, tiếng Việt, về cơ bản, mới thực hiện chức nâng giao tiếp trong đời sống thường nhật Nó đã săn sàng cung cấp cho ngôn ngữ văn học, nhất là văn xuôi, một ngữ vụng phong phú khi cần đến Thế nhưng các từ ngữ trên phương diện khoa học bao gồm khoa học tự nhiên, khoa học

xã hội và nhân văn thì còn rất hạn chế Nó tất sẽ ảnh hưởng đến các hành động ngôn từ và các vai giao tiếp của ngôn ngữ văn học trong điều kiện mới

Như đả nói, việc truyền bá Tân thư ở nước ta đã mở đầu cho việc tìm kiếm các từ ngữ mới cho việc dịch thuật triết học, tư tưởng và học thuật Âu châu

a- Trước hết các tác giả tìm đến nguồn tiếng Hán -Việt.

Tiếng Hán-Việt là một vốn quý của tiếng Việt Tuy có gốc Hán nhưng nó

đã trở thành tiếng ía một khi được đọc theo kiểu Việt và được người Việt sử đụng trong hệ thống nghĩa Việt Tính chất đơn lập của âm tiết đã làm cho các

“tự” trong chữ Hán được người Việt sử dụng như các “tiếng” có nghĩa (dù là độc lập hay không độc lập trong cách dùng) Tiếng Hán việt, theo đó, trở thành một nguồn phong phú, một khả năng không giới hạn trong việc đặt các thuật ngữ theo nhu cẩu Các thuật ngữ như : vân minh, kinh tế, duy tâm, duy vật dưỡng khí, vô tuyến điện, đã ra đời trong thời kỳ này, chíins; góp phần làm thay đổi diện mạo từ vựng tiếng Việt qua kênh báo chí và các công trình học thuật

b- N gữ vựng phản ánh những cái mới trong đời sống đã nhanh chóng tăng ỉên, rồi chúng cũng tự nhiên xuất hiện trong ngôn ngữ của các sáng tác văn học: tàu bay, tàu thuỷ, tàu điện, xe đạp, dây tìiép (bưu điện), thuốc lá, ống tiêm,

33

Trang 37

c- Tiếp xúc ngôn ngữ Pháp-Việt đã đem lại sự khuếch tán đầu tiên: Trong tiếng Việt bắt đầu xuất hiện các từ gốc Âu được vay mượn theo con đường dân gian: sà bông/xà phòng, cao su, bồ tạt, xi măng, xà lan, bơm, tê lê phôn,

d- Sự xuất hiện của các lối đọc, lối phiên âm nhân danh và địa danh mới Xưa nước ta quan hộ hẹp, trong các tài liệu hành chính và địa chí thường chỉ

có hai loại tên chữ Hán và tên Nôm Các cuộc tiếp xúc mới đặt ra yêu cầu phải ghi danh tên người, tên đất, tên các thương hiệu, cập nhật trong các sách báo Trong tiếng Việt giai đoạn này bắt đầu thịnh hành các lối phiên âm

+ Phiên âm qua chữ Hán: Ba lê, Luân đôn, Bá lỉnh, Pháp Lan Táy, Anh Cát lợi, Nã Phá Luân, LưTìioa, Hoa Thịnh Đốn,

+ Phiên âm trực tiếp từ nguyên ngữ: Mô-li-e, Voìi-te, Rut-sô, La-pỉiôììg- ten, ngôn ngữ báo chí và dịch thuật đi tiên phong trong chuyện này

Ngôn ngữ báo chí: tác nhân trưc tiếp hình thành văn xuôi mởi

Đây là một nhận xét quan trọng của chúng tôi vốn dựa trên sự quan sát và so sánh cú pháp của ngôn ngữ báo chí và ngôn ngữ các thể ván xuôi quốc văn

Sụ hình thành văn xuôi mớiỉvăn xuôi hiện đại cần được coi là sự kiện quan trọng nhất của ngôn ngữ văn học Việt nam thế kỷ XX Nội dung cơ bản của việc này là sự thiết lập một cú pháp hoàn toàn mói mẻ cho văn viết

Cú pháp ấy thường gọi là lối diễn đạt mệnh đề của văn phong châu Ầu vói công cụ ngữ pháp là hệ thống các dấu câu.

Chúng ta sẽ dành nhiều cho sự phân tích vấn đề này Nhưng trước hết cần phải phân tích những động lực đã dẫn tới việc hình thành nó

Cho đến cuối thế kỷ XIX, trong ngôn ngữ văn học Việt nam, chúng ta chưa có văn xuôi chính danh (thuật ngữ của ĐVĐ) Thuở trước, cha ông ta đã

có lối viết văn ngoài vận văn trên chữ Nôm, ví dụ lối viết văn trong “Truyền

kỳ mạn lục” , tuy nhiên lối diễn đạt không chấm câu trong vãn tự khối vuông

> là một việc có nét khu biệt khá lớn Văn xuôi nói ở đây là lối văn được viết

trên chữ Quốc ngữ, có quy tắc của dấu ngắt câu Nó là một lối viết viết mới, đầu thế kỷ XX mới được quảng bá

Ngôn ngữ văn xuôi sơ kỳ, đầu thế kỷ XX, chịu nhiều ảnh hưởng của lối diễn đạt Hán ngữ trong Tàn thư Các tác giả chịu nhiều ảnh hưởns của ván phong chữ Hán

Trang 38

Đặc điểm cơ bản của cú pháp văn xuôi lúc đó là người viết chưa quen với lối diễn đạt m ệnh đề của văn xuôi quốc tế (trước hết là các ngôn ngữ châu Âu) Những cố gắng của các tác giả vẫn là lấy diễn ý làm trọng do đó mạch lạc còn phức tạp, tôn ty cú pháp không rõ Tuy là lối văn mới, nhưng văn xuôi

sơ kỳ còn rất nặng lối văn biền ngẫu, có cấu trúc đăng đối diễn đạt cầu kỳ, kiểu cách, lạm dụng vốn từ ngữ Hán-Việt Nhiều tác giả vẫn có ý sùng bái âm điệu để đọc lên ngâm vịnh hơn là phục vụ cho kỹ năng đọc hiểu

Ngồn ngữ văn xuôi kiểu châu Âu bằng chữ quốc ngữ xuất hiện khá sớm Như đã nói, dòng văn này còn để lại nhiều chứng tích trong các vãn bản giao dịch của Giáo hội Thiên chúa giáo, nhưng không quảng bá dược vì trong mây thế kỷ đạo Gia tổ, trên nguyên tắc, bị cấm đoán ở nước ta Lối văn này là những bước tiên phong của lối văn diễn đạt mệnh đề Theo đó, văn đả có dùng dấu chấm câu, giữa hai dấu chấm có nhiều vế, có vế chính, vế phụ Các về được nối với nhau bằng liên từ Câu trúc câu còn khá phức tạp, vì chưa có tổ chức cú pháp chặt chẽ nên các ý còn lộn xộn, trùng điệp lên nhau Loại vãn này khó đi vào ngôn ngữ văn học như một lối viết chính thức ‘T ru y ện thầy Lazaro Phiền” (1887) là một thử nghiệm, nhưng về sau các truyện và các áng văn tự sự đều phải viết theo một lối khác

Đến đầu thế kỷ XX, văn xuôi mới trong nền quốc văn đã tạm gọi là thành hình dưới ảnh hưởng của Tàn thư và học thuật Pháp ngữ Tuy nhiên phải nói đến vai trò của ngôn ngữ báo chí và văn học dịch

Vói các nước châu Ally ngôn ngữ văn học dường như di trước ngôn ngữ báo chí một bước Ngôn ngữ báo chí được thừa hưởng những thành

ÍỊC II M I thế của ngôn ngữ văn học, nhất là trong thế kỷ XIX Ở nước ta, trái lại, ngôn ngữ văn học, nhất là văn xuôi đầu thế kỷ XX, lại thừa hưởng thành tựu của ngôn ngữ báo chí, nhờ ngôn ngữ báo chí mà trưởng thành

Nhiều nhà vãn đã trưởng thành từ nhà báo, những áng văn xuôi mới hay nhất

đã từng xuất hiện trên báo chí trước khi được in thành sách Lối văn giản dị, trọng sự thật, gãy gọn vốn là đặc trưng của ngôn ngữ thôns tấn đã là tiền đề cho ngôn ngữ trong các sáng tác văn xuôi mới với các thể loại khác nhau (phóng sự, truyện ngắn, kịch, tiểu thuyết, và cả ngôn ngữ phê bình nữa)

Ba mươi năm đầu thế kỷ tiếp tục là thời kỳ đựng nghiệp của báo chí Việt nam, nhất là báo chí chữ quốc ngữ (báo chí cô n s khai và báo chí cách mạng).Báo chí công khai mở đầu thế kỷ là các tờ Nông cổ mill đùm (1900) ở

Nam kỳ, k ế đó là Nhật báo tỉnh (1905), Đại Việt Tán báo (Bắc kỳ, 1905), Đại

35

Trang 39

Nam đồng văn Nhật báo (1907) còn có tên là Đăng cổ tùng báo. Báo chí lúc đầu chỉ làm việc đưa tin và các thông điệp nhà nước, chưa có hoạt động vãn nghệ.

Từ 1910 trở đi, tình hình có thay đổi, do nhu cầu xã hội và sự tiến bộ của

kỹ năng nghiệp vụ, báo chí quốc ngư có các xu hướng mới:

a) Bắt đầu có những nhật báo có uy tín trong thông tấn: Lục tỉnh Tân văn (1910), Trung Bắc tân văn (1915), Thực nghiệp dân báo(1920), Tiếng dân (1927), ,

b) Có các tạp chí dành cho học thuật và chuyên khảo: Đông dương tạp chí (1913), Nam phong tạp chí (1917), Đại Việt tạp chí (1918), Hữu Thanh tạp chí (1921), An nam Tạp chí (1926),

Các báo chí lúc này đã thiên về văn chương, có lối diễn đạt của ngôn ngữ vãn chương, trong báo chí đã có những chuyên mục văn nghệ, đăng các tác phẩm vãn học (nước ngoài) qua dịch thuật và có nhũng tờ có cả phụ trương về văn học nữa

c) Sự xuất hiện của báo chí cách mạng vào năm 1925 là một nhân tố rất quan trọng Báo chí cách mạng bị cấm, nhưng nó vẫn liên tục len lỏi trong quần chúng, nhen nhóm ngọn lửa yêu nước và cách mạng Ngôn ngữ báo chí cách mạng, do mục tiêu vận động quần chúng, là ngồn ngữ giản dị, dễ hiểu,

có sức cảm hoá, có nhiều đóng góp cho một ngữ vựng mới Nó là một bộ phận quan trọng, tiền thân của ngôn ngữ báo chí ngày nay M ở đầu của dòng báo chí này là tờ Thanh niên (21-6-1925) do Nguyễn Ai Quốc sáng lập, có chủ kiến về ngôn ngữ : “Chúng tôi xin báo với độc giả của mình rằng chúng tôi bất chấp sử dụng những từ mỹ miều, vãn phong lịch lãm, câu chữ đong dưa, nhịp câu đăng đối song hành, những sự tô vẽ văn chương mà các nhà nho ham chuộng Nhung ngược lại, chúng tôi cố gắng hết sức vì lợi ích của tất cả mọi người, dùng một văn phong sáng sủa, đễ hiểu” (Thanh niên, số 28,17/1/1926) Tuyên ngôn này đại diện cho ý chí thay đổi lối viết xưa, kiến tạo một văn

» phong mới phục vụ xã hội, một hướng đi mà nhờ nó, tất yếu, ngôn ngữ văn

học Việt nam sẽ được cải cách

Ngôn ngừ báo chí đã thổi vào văn học Việt nam một luồng gió mói, trong đó văn xuôi nhận được nhiều ảnh hưởng nhất. Các sáng tác văn học

từ đầu thập kỷ XX (truyện ngắn, kịch, tiểu thuyết, ) đã có thứ ngôn ngữ Irons sáng, theo hướng tự do hoá:

Trang 40

+ Câu vãn diễn đạt các nhận định có cú pháp m ệnh đề Câu ngắn có một

m ệnh đề, câu dài có hai mệnh đề trò lên, tổ chức chặt chẽ, tinh giản

+ Lối thiên lệch biền ngẫu đã giảm nhiều, thay vì một lối diễn đạt chân thực nhưng uyển chuyển

+ Lối viết mới có từ ngữ phong phú, đa dạng, không xơ cứng, được nhiều người ủng hộ vì rất gần gũi người đọc

Ngỏn ngữ dich thuât đã có ảnh hưởng đáng kể t r o n g n ề n q u ố c văn

m ó i

Các dịch giả xưa dịch vận văn là chính Trong quá khứ, ngôn ngữ văn học Việt nam đã có những sản phẩm dịch m ang tính kinh điển của Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Phan Huy Vịnh Vào thế kỷ XX, nền văn học dịch có những bổ sung mới, rất quan trọng -

a) Dịch văn xuôi Hán văn: Khi chữ quốc ngữ bắt đầu phổ dụng, các nhà nho “cầm bút chì” đã nhanh chóng tìm cách dịch truyện Trung hoa ra quốc ngữ Mở đẩu là các truyện dài, tiểu thuyết chương hồi được giới thiệu theo lối ngôn ngữ mới Các dịch giả Phan Kể Bính, Tản Đà, Nghiêm Thượng Văn, Đặng Đức Tô, Hà Tu Vi, Nguyễn Vãn Đang,.,, đã có đóng góp đáng kể cho việc ra mắt các tác phẩm dịch vãn xuôi quốc văn (Tây du ký, Chinh đông chinh tây, Tam quốc diễn nghĩa, Kinh thi, Trung dung, )

b) Dịch văn học Pháp và các luận thuyết Âu châu: Việc dịch thuật này được khởi động và phát triển từ thập kỷ thứ hai Có đóng góp đáng kể cho việc dịch thuật là hai tờ tạp chí Đông dương tạp chí của Nguyễn Văn Vĩnh (từ 1913) và N am phong tạp chí của Phạm Quỳnh (từ 1917) Việc dịch thuật lúc này đã trở nên khá đa dạng bao gồm các trước tác Triết học, Văn chương Lần đầu tiên, công chúng văn học mới được tiếp cận với những tác phẩm văn chương Âu tây mà trước đó chỉ nghe nói hoặc đọc qua văn chưons Trung hoa cận đại

Cuộc tiếp xúc trực tiếp ngôn ngữ Việt-Pháp qua kênh dịch thuật đã mang lại những nét mói cho ngôn ngữ văn học Việt nam :

a) Lần đầu tiên tiếng Việt được dùng để diễn đạt các thể loại văn học trước đó chưa từng có Đó là ngôn ngữ của các thể văn tự sự châu Âu được diễn đạt bằng tư duy ngôn ngữ Việt nam

b) Lối diễn đạt kết hợp giữa ngôn ngữ trần thuật (của tác siả) với nsôn ngữ đối thoại (của các nhân vật) thật sự đã có sức hấp dân Nó gợi ý và kích

37

Ngày đăng: 27/03/2015, 13:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
21- Nguyên Hữii Tiến, Thơ mới và thơ cũ,in: NP., t.XXXIV 22- Chất Hằng, 1933, Thơ mới, Văn học tạp chí, H à nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ mới
Tác giả: Chất Hằng
Nhà XB: Văn học tạp chí
Năm: 1933
27- Bùi Việt Thắng,2002, Văn học Việt nam ,1945-1954, Văn tuyển. ĐHQGn à nội. ' Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùi Việt Thắng,2002, Văn học Việt nam ,1945-1954, Văn tuyển. ĐHQG"n à nội
29- N im a /1 David, 1997, Dẩn nhập phân tích cliễn ngôn, Giáo dục, Hả nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: /1
20- Nhất Lin h ,T h ế nào là thơ mới, Phong Hoá, s ố 36 Khác
28- M ã Giang Lân, 2000, Tiến trình thơ hiện đai Viêt nam, ĐHQG HNHà nội. ‘ Khác
30- Roicỉextvenxki lu. V .,1997, Những bài giáng Ngôn ngữ học dại cưưnỵ Giáo dục, Hà nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w