ở Việt nam, gần đây, nhận thức được rằng xây dựng chuẩn đánh giá một nhu cầu cấp thiết, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xúc tiến việc xác định chuẩn cho các môn học ở trường phổ thông các cấp
Trang 1đ ạ i h ọ c q u ố c g i a h à n ộ i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
ĐẾ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA
GIÁ CÁC KỸ NÃNG TIẾNG ANH CHO SINH VIÊN
HỆ S ư PHẠM NĂM THỨ HAI KHOA NN - VH ANH-MỸ
MÃ SỐ: QN 01 - 02 CHUYÊN NGÀNH: GIẢNG DẠY NGOẠI NGỮ
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI:
THS HOÀNG THỊ XUÂN HOA - KHOA NN & VH ANH-MỸ
, -^Ai HOC QUỐC GIA H *
I ÍRUNQ TÂM THÕNG T in T hự V
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
ĐẾ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA
GIÁ CÁC KỸ NÃNG TIẾNG ANH CHO SINH VIÊN
HỆ S ư PHẠM NĂM THỨ HAI KHOA NN - VH ANH-MỸ
MÃ SỐ: QN 0 1 - 0 2 CHUYÊN NGÀNH: GIẢNG DẠY NGOẠI NGỮ
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI:
THS HOÀNG THỊ XUÂN HOA - KHOA NN & VH ANH-MỸ
NHŨNG NGƯỜI CÙNG THAM GIA THỰC HIỆN:
THS NGỰYỄN THỊ VƯỢNG THS NGUYỄN THỊ BACH THẢO
GV LÊ THÚY HÒA
GV NGUYỄN VIỆT KỲ
GV CAO THỊ TƯỜNG MINH
GV DƯƠNG THANH TÂM
Trang 3MỤC LỤC* •
trans
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề t à i 1
2 Mục tiêu của đề t à i 2
3 Phạm vi và đối tượng nghiên c ứ u 2
4 Nhiệm vụ của đề t à i 3
5 Phương pháp nghiên c ứ u 3
6 Cái mới của đề t à i 4
7- Ý nghĩa của đề t à i 4
8 Cấu trúc của đề t à i 4
CHƯƠNG 1 - C ơ SỞ LÍ LUẬN CHUNG 1.1 Một số vấn đề khái quát về chuẩn và xây dựng c h u ẩ n 6
1.2 Chuẩn đánh giá với các quan niệm về ngôn ngữ và việc dạy ngoại n g ữ 12
1.3 Chuẩn đánh giá với các thang bậc nhận th ứ c 15
1.4 Các hệ thống chuẩn ngoại ngữ phổ biến đang được sử dụng trên thế g i ớ i 16
1.4.1 Hệ thống chuẩn cho môn ngoại ngữ ở trường phổ thông Mỹ 17 1.4.2 Chuẩn IELTS - Hệ thống kiểm tra tiếng Anh Quốc tế 26 1.4.3 Hộ thống chuẩn C am bridge 29
1.4.4 Hệ thống chuẩn T O E F L 32
CHƯƠNG 2 - NGHIÊN c ữ u THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO VÀ TRÌNH ĐỘ SINH VIÊN NĂM THỨ HAI KHOA NN & VH ANH-MỸ 2 1 Chương trình đào tạo cử nhân ngoại ngữ hệ sư p h ạ m 35
2.1.1 Mục tiêu đào t ạ o 35
2.1.2 Nội dung chương tr ìn h 36
2 1.3 Chương trình năm thứ hai khoa NN & VH A n h -M ỹ 36 2.1.4 Kiểm tra, đánh giá ở năm thứ hai khoa NN & VH Anh-M ỹ 37
Trang 42.2 Điều tra hiện trạng trinh độ tiếng Anh sinh viên năm thứ hai 39
2.2.1 Mục đ í c h 39
2.2.2 Công cụ khảo s á t 39
2.2.3 Các nghiệm t h ể 55
2.2.4 Kết quả khảo s á t 56
2.2.5 Phân tích kết quả khảo s á t 58
CHƯƠNG 3 - XÂY DỤNG HỆ THốNG CHưẨN đ á n h g iá c á c k ĩ NĂNG THỰC HÀNH TIÊNG CHO SINH VIÊN NÁM THỨ HAI KHOA NN & VH ANH-MỸ 3.1 Mục tiêu chung 62
3.2 Đề xuất chuẩn các kĩ năng thực hành tiếng năm thứ h a i 63
3.2.1 Kĩ năng n g h e 64
3.2.2 Kĩ năng đ ọ c 64
3.2.3 Kĩ năng v i ế t 65
3.2.4 Kĩ năng n ó i 66
3.2.5 Sử dụng ngôn n g ữ 67
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 6 Chủ đề, kĩ năng và các loại bài tập nghe hiểu 64Bảng 7 Chủ đề, kĩ năng, thể loại bài đọc và bài tập đọc hiểu 65
TỪVIÊT TẮT
IELTS International English Language Testing System
GRE Graduate Record Examination
TOEFL Test of English as a Foreign Language
ƯCLES University of Cambridge Local Exam ination SyndicateALTE A ssociation of language Tester in Europe
FCE First Certificate in English
PET Prelim inary English Test
CAE Certificate in Advance English
MOET M inistry of Education and Training
Trang 6MỞ ĐẦU
1- Tính cấp thiết của đề tài:
ơ các nước tiên tiến trên thế giới, bất cứ một chương trình giáo dục, đào tạo nào cũng cần phải xây dựng cho mình một hệ thống chuẩn - những kiến thức và kỹ năng mà người học cần đạt được như là kết quả của quá trình đào tạo đó Hộ thống đó chính là cơ sở, căn cứ để xây dựng chương trình đào tạo phù hợp, để người dạy và người học biết được cái đích mà họ cần đạt tới là gì, đồng thời cũng là nguồn thông tin cần thiết để cho xã hội bên ngoài có thể đánh giá đúng thực trạng giáo dục Xác định chuẩn giáo dục là một công việc phức tạp, liên quan đến các lĩnh vực khoa học và nghiên cứu khác nhau và đòihỏi có những nghiên cứu hết sức nghiêm túc ở Việt nam, gần đây, nhận thức được rằng xây dựng chuẩn đánh giá một nhu cầu cấp thiết, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xúc tiến việc xác định chuẩn cho các môn học ở trường phổ thông các cấp và bước đầu các chuyên gia đã đề xuất các bộ chuẩn cho các môn học trong đó có chuẩn cho bộ môn ngoại ngữ
ở bậc đại học, chuẩn cho các môn học, ngành học là do các cơ sở đào tạo tự xây dựng dựa trên mục đích, yêu cầu và điều kiện đào tạo cũng như nhu cầu của xã hội Chương trình đào tạo ngoại ngữ ở trường Đại Ngoại ngữ - ĐHQG HN nói chung cũng như ở khoa NN & VH Anh~Mỹ nói riêng việc xây dựng chuẩn chưa được thực hiện một cách hệ thống, đồng bộ và khoa học, các chuẩn được xác định một cách chung chung, chưa thể hiện rõ đặc thù môn học ngoại ngữ và mức độ kiến thức và kỹ năng người học cần đạt được sau từng giai đọan học tập Chính vì vậy việc xác định chuẩn cho tòan bộ chương trình đào tạo và từng năm học và một công việc hết sức cần thiết hiện nay Chuẩn đánh giá khoa học và phù hợp sẽ giúp điều chỉnh chương trình giảng dạy phương pháp giảng dạy để đạt được mục đích của chương trình đào tạo Bên cạnh đó chuẩn đánh giá cũng góp phần xây dựng hình thức kiểm tra đánh giá
Trang 7phù hợp và hiệu quả Và hơn thế nữa, chuẩn đánh giá cũng giúp cho việc hội nhập với khu vực và thế giới dễ dàng hơn.
Đề tài ‘Nghiên cứu xây dựng chuẩn đánh giá các kĩ năng tiếng Anh cho sinh viên hộ sư phạm năm thứ hai khoa NN & VH Anh-Mỹ’ là một trong bốn
đề tài xây dựng chuẩn cho các năm trong chương trình đào tạo cử nhân ngoại ngữ của khoa NN & VH Anh-Mỹ từ năm thứ nhất cho tới năm thứ tư với mục đích là bốn đề tài này kết hợp sẽ đánh giá nhìn nhận lại toàn bộ các giai đoạn của chương trình và sẽ có thể xác định được chuẩn cuối cùng mà sinh viên của khoa phải đạt tới khi ra trường cũng như chuẩn cho từng năm học mà sinh viên phải đạt được để tiến đến đạt chuẩn cuối khoá
2- Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu chính của đề tài là nghiên cứu xây dựng một hệ thống chuẩn đánh giá năng lực thực hành tiếng Nói, Nghe, Đọc và Viết cho năm thứ hai như một bộ phận của bộ môn Thực hành tiếng Anh cho sinh viên hệ sư phạm, khoa NN & VH Anh-Mỹ thông qua việc nghiên cứu các nguyên tấc, cãn cứ và phương pháp xây dựng chuẩn và thực trạng đào tạo và kiểm tra đánh giá của nhà trường
3- Phạm vi và đối tượng của đề tài
Một cử nhân ngoại ngữ hệ sư phạm khi ra trường, để có thể đáp ứng được nhu cầu công việc cần có một khối lượng kiến thức tương đối phong phú
và cùng với các kĩ năng chuyên môn còn cần có những kĩ năng nghiệp vụ và các phẩm chất khác Bên cạnh đó, chuẩn đánh giá cuối khoá đào tạo có tầm quan trọng đặc biệt chỉ ra chất lượng của sản phẩm đào tạo của nhà trường Tuy vậy, trong phạm vi của đề tài, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu việc xây dựng chuẩn đánh giá các kỹ năng thực hành tiếng và chỉ cho năm thứ hai, trong chương trình đào tạo cử nhân hệ sư phạm, khoa NN & VH Anh-Mỹ
Trang 84- Nhiệm vụ của đề tài:
- Xây dựng cơ sở lý luận cho việc xây dựng hộ thống chuẩn đánh giá các kỹ năng thực hành tiếng
- Nghiên cứu thực trạng về nhu cầu đào tạo và kết quả đào tạo của hệ đào tạo cử nhân sư phạm ngoại ngữ
- Nghiên cứu về chuẩn đánh giá đang được sử dụng ở khoa NN & VH Anh-Mỹ, ĐHNN - ĐHQGHN
- Nghiên cứu các hệ thống chuẩn đánh giá của các nước trong khu vực
và thế giới Tìm hiểu những mặt mạnh và mặt yếu, cũng như những điểm phù hợp và điểm chưa phù hợp của các hệ thống này đối với hoàn cảnh và mục đích đào tạo của hệ đào tạo này
- Xây dựng một hệ thống chuẩn đánh giá các kỹ năng thực hành tiếng của sinh viên hệ sư phạm năm thứ hai khoa NN & VH Anh-Mỹ
5- Phương pháp nghiên cứu:
- Phân tích lý luận: Cơ sở lí luận của đề tài được xây dựng thông qua việc tập hợp và nghiên cứu các nguồn tài liệutham khảo, phàn tích, đánh giá
và tổng hợp các nguồn tài liệu đó:
- Các phương pháp thu thập thông tin:
- Đề tài thu thập thông tin về thực trạng trình độ sinh viên thông qua khảo sát: Một mẫu đề thi trắc nghiệm được sử dụng cho các nghiệm thể Kết quả bài thi được tổng hợp và phân tích cho thấy khả năng tiếng Anh của sinh viên ở các khía cạnh khác nhau trong từng kĩ năng
- Phân tích tài liệu: Các tài liệu có liên quan đến chương trình đào tạo cử nhân nói chung và chương trình các môn tiếng Anh của nãm thứ hai nói riêng được phân tích để cung cấp thông tin về mục đích và thực trạng của chương trình đào tạo Những thông tin thu thập được qua
Trang 9hai phương pháp trên sẽ ỉà cơ sở để xác định chuẩn cho các kĩ năng thực hành tiếng ở năm thứ hai.
6- Cái mới của đề tài:
Cùng với nhóm đề tài, đây là những công trình nghiên cứu khoa học mang tính hệ thống đầu tiên về chuẩn đánh gía, tìm hiểu các hệ thống chuẩn đánh giá môn ngoại ngữ phổ biến trên thế giới, làm rõ được hiện trạng về trình độ của sinh viên và cuối cùng là xây dựng được chuẩn đánh giá các kỹ năng thực hành tiếng của sinh viên năm thứ hai được thực hiện ở trong nhà trường đào tạo cử nhân ngoại ngữ hệ sư phạm
7- Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa lý luận: Góp phần xây đựng cơ sở lý luận cho việc xây dựng chuẩn đánh giá các kỹ năng thực hành ngoại ngữ ở Việt nam, cụ thể là các kỹ năng nói, nghe, đọc và viết
- Ý nghĩa thực tiễn: Đưa ra được một hệ thống chuẩn đánh giá các kỹ năng thực hành ngoại ngữ cho năm thứ hai, trong chương trình đào tạo cử nhân sư phạm ngoại ngữ Từ đó tác động tới việc điều chỉnh, thay đổi chương trình, nội dung giảng dạy và cải tiến phương pháp giảng dạy
8- Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu giới thiệu tính cấp thiết, mục tiêu, nhiệm vụ và phươns pháp của đề tài và phần kết luận tóm tắt nội dung chính và kết quả nghiên cứu cũng như những hạn chế của đề tài và đề xuất phương hướng nghiên cứu tiếp theo, nội dung chính của đề tài gồm ba chươns:
Chương 1 xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài thông qua việc cung cấp một số khái niệm khái quát về chuẩn, tầm quan trọng của chuẩn, căn cứ để
Trang 10xây dựng chuẩn, V.V., và thông q u a phân tích phương pháp xây dựng chuẩn cũng như một số chuẩn cho ngoại ngữ thông dụng trên thế giới.
Chương 2 nghiên cứu thực trạng đào tạo và trình độ của sinh viên tiếng Anh hộ sư phạm nói chung và năm thứ hai nói riêng
Chương 3 dựa vào cơ sở lí luận đã xây dựng ở chương 1 và kết quả khảo sát thực tế đề xuất những mô tả chuẩn cho các kĩ năng thực hành tiếng năm thứ hai khoa NN & VH Anh-Mỹ
Trang 11xây dựng chuẩn, V.V., và thông qua phàn tích phương pháp xây dựng chuẩn cũng như một số chuẩn cho ngoại ngữ thông dụng trên thế giới.
Chương 2 nghiên cứu thực trạng đào tạo và trình độ của smh viên tiếng Anh hệ sư phạm nói chung và năm thứ hai nói riêng
Chương 3 dựa vào cơ sở lí luận đã xây dựng ở chương 1 và kết quả khảo sát thực tế đề xuất những mô tả chuẩn cho các kĩ năng thực hành tiếng năm thứ hai khoa NN & VH Anh-Mỹ
Trang 12CHƯƠNG 1: C ơ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
1.1 Một sô vấn đề khái quát về chuẩn và xây dựng chuẩn
1.1.1 Chuẩn là gì?
Khi tiến hành xây dựng bất cứ một khoá học hay một chương trình đào tạo nào người ta cũng hướng đến một kết quả nhất định mà khoá học hoặc chương trình đào tạo đó cần đạt được Nói cách khác mỗi chương trình đào tạo đều phải đặt ra những cái đích (targets) cho nó Chuẩn (Standard) là sự mô tả chi tiết những cái đích mà người học phải đạt được sau quá trình học Chuẩn được xác định xuất phát từ mục đích đào tạo (goal) và việc xác định chuẩn đi theo nhiều cấp bậc: đi từ việc xác định chuẩn khái quát đến việc cụ thể hoá các chuẩn đó dưới hình thức các tiêu chí miêu tả (descriptors) và các chỉ số tiến bộ cần đạt được (sample progress indicator) Có thể hình dung hệ thống chuẩn của một môn học như thí dụ sau:
Mục đích 1
mô tả 1 mồ tả 2 mô tả 3 mô tả 1 mô tả 2 mò tả 3 mô tả 1 mô tả 2 mõ tả 3
Muc đích 2
mò tả 1 mó tả 2 mô tả 3 mó tả 1 mô tả 2 mò tả 3 mô tả 1 mỏ tả 2 mỏ tả 3
Figure 1 - Thí dụ mô tả cấu trúc chuẩn
Trang 13Các chuẩn khái quát giúp xác định được đường hướng chung cho chương trình, thể hiện nguyên tắc chung của chương trình Trong khi đó các chuẩn cụ thể đóng vai trò làm căn cứ cho việc xây dựng nội dung cho chương trình môn học và xây dựng các tiêu chí đánh giá, xác định được tiến bộ của người học cũng như kết quả của toàn khoá học.
Chuẩn trong giáo dục có thể được xác định trên hai phương diện:
- chuẩn nội dung (content standards): là mô tả khái quát kiến thức và kỹ năng mà người học phải có được sau khoá học Kiến thức bao gồm những ý tưởng, khái niệm , vấn đề và thông tin quan trong trong lĩnh vực của môn học
Kỹ năng bao gồm cách thức tư duy, làm việc, giao tiếp, phân tích, và tìm hiểu, nghiên cứu mang tính đặc thù của từng môn học
- chuẩn hoạt động (performance standards): là những thí dụ cụ thể và những xác định rõ ràng những điều mà người học cần biết và có thể làm được
để chứng tỏ rằng họ có năng lực đối với kiến thức và kỹ năng quy định trong chuẩn nội dung ■
Việc xây dựng chuẩn không chỉ là đặc thù của giáo dục ngoại ngữ mà còn là công việc của tất cả các môn học trong chương trình học nói chung Trong đào tạo ngoại ngữ, chuẩn thường được mô tả như các hành vi ngôn ngữ
có thể quan sát được thể hiện năng lực giao tiếp ngôn ngữ
1.1.2 Vai trò của chuẩn
Chuẩn là một bộ phận cấu thành của một chương trình đào tạo, nó vừa là cơ sở
để xây dựng nội dung chương trình vừa là đích cần vươn tới của người học và đồng thời là công cụ của người quản lý đào tạo theo dõi tiến độ và tiến bộ của quá trình đào tạo Vì vậy chuẩn có những vai trò sau:
• Làm định hướng cho việc xây dựng hay đổi mới chương trình đào tạo nơoại ngữ: Bởi vì chuẩn xác định trình độ đầu ra (exit level), những kiến thức và
kỹ năng cụ thể và mức độ thành thạo khi sử dụng các kỹ năng đó mà nó sẽ
Trang 14được dùng làm căn cứ để xây dựng hoặc điều chỉnh các chương trình đào tạo Các nhà xây dựng chương trình sẽ theo đó mà lựa chọn nội dung phù hợp cho chương trình, sắp xếp các nội dung đó theo một trình tự hợp lý, đề xuất được những phương pháp giảng dạy hiệu quả, đồng thời xây dựng phương thức kiểm tra đánh giá phù hợp, xác định được các tiêu chí đánh giá cụ thể.
• Là định hướng cho việc biên soạn hoặc đổi mới giáo trình, biên soạn học liệu bổ sung: Chuẩn đánh giá là thước đo độ phù hợp và hiệu quả của tài liệu học tập, cho thấy những điểm mạnh và điểm yếu của nó để các nhà quản lý cũng như bản thân giáo viên có định hướng biên soạn học liệu bổ sung nếu cần
• Tạo sự linh hoạt cho giáo viên trong việc đổi mới PPGD: Để đạt được chuẩn, các giáo viên khác nhau có thể có những phương pháp giảng dạy khác nhau và thậm chí có thể lựa chọn các tài liệu học tập khác nhau cho sinh viên, sao cho những phương pháp và tài liệu học tập đó phù hợp và hiệu quả nhất đối với sinh viên của mình, miễn là cuối khóa học sinh viên đạt được những mức chuẩn đề ra
• Là căn cứ để kiểm tra đánh giá quá trình đào tạo: Chuẩn đánh giá cũng giúp cho các nhà quản lý cũng như những người tham gia giảng dạy trực tiếp đánh giá được hiệu quả của quá trình giảng dạy, nhận ra được những thiếu sót, những điểm yếu trong quá trình giảng dạy để từ đó điều chỉnh,
bổ sung nội dung và phương pháp giảng dạy
1.1.3 Đặc tính quan trọng của hệ thống chuẩn
Hệ thống chuẩn vừa phải đảm bảo tính cố định vừa phải đảm bảo tính linh hoạt Tính cố định có giá trị trong một khoảng thời gian nhất định và tính linh hoạt gợi ý sự điều chỉnh theo thời gian, theo yêu cầu đào tạo Điều đó có nghĩa
là hệ thống chuẩn có tính quy định bởi thời gian (time-bound) Vì chúng ta
Trang 15đều biết khả năng sử dụng ngoại ngữ không mang tính tĩnh, không đứng yên một chỗ Một chuẩn có thể có nhiều mức khác nhau phù hợp với người học khác nhau và yêu cầu của người sử dụng sản phẩm đào tạo Sau một khoảng thời gian sử dụng các mức chuẩn có thể được điều chỉnh và bổ sung.
Hệ thống chuẩn cần có một thang chuẩn có độ bao quát rộng từ thấp nhất đến cao nhất, được hiểu là mức chuẩn tối thiểu và mức chuẩn tối đa Các mức chuẩn này có thể tham gia vào đánh giá ở các giai đoạn khác nhau, tuỳ thuộc vào mục đích của việc đánh giá: đánh giá trong quá trình đào tạo hoặc đánh giá kết quả cuối cùng Với việc đánh giá quá trình, mức chuẩn có thể cho thông tin điều chỉnh (remedial), giúp người quản lí đào tạo hoặc trực tiếp đàp tạo điều chỉnh những thành tố liên quan trực tiếp đến qua trình này như phương pháp dạy học, tài liệu học tập, môi trường học tập, v.v Nhưng với việc đánh giá cuối cùng (end-product), thông tin do mức chuẩn này cho biết sẽ giúp đưa ra quyết định ‘đỗ/trượt’ đối với người học Như vậy mỗi mức chuẩn đều có thể sử dụng vào những mục đích cụ thể nào đó Giữa mức tối thiểu và tối đa trong hệ thống chuẩn có thể có nhiều bậc khác nhau Các bậc này có số lượng càng lớn thì việc đánh giá càng chính xác và công bằng hơn Người xây dựng chuẩn cần phải xác định được và mô tả chi tiết các kiến thức hoặc kỹ năng cho từng mức chuẩn Mỗi mức trên thang chuẩn có thể được chia nhỏ hơn thành một số bậc phụ trên và dưới mức
Việc xác định chuẩn cuối cùng cho chương trình đào tạo cử nhân ngoại ngữ hộ sư phạm của khoa NN & VH Anh-Mỹ là hết sức cần thiết để xác định các cử nhân - sản phẩm của quá trình đào tạo đó có trình độ và kiến thức ở mức nào Bên cạnh đó, cũng cần xác định chuẩn cho từng giai đoạn đào tạo - từng năm học vì việc học một ngoại ngữ sẽ được kiểm soát tốt hơn, chương trình, giáo trình cũng như phương pháp giảng dạy có thể được điều chỉnh kịp thời hơn và thông tin về tiến độ chương trình cũng như tiến bộ của người học
sẽ được cung cấp kịp thời nếu nó được phân chia thành từng đơn vị nhỏ
Trang 161.1.4 Căn cứ để xây dựng chuẩn
Xác định chuẩn cho một mồn học trong một khóa học đòi hỏi một quá trình nghiên cứu thu tập nhiều thông tin khác nhau Sâu xa về mật lý luận, chuẩn được xây dựng dựa trên quan niệm về bản chất và chức nãng của ngôn ngữ và việc học ngoại ngữ, về việc thụ đắc ngôn ngữ thứ hai Người xây dựng chuẩn cũng cần nhận thức được đầy đủ một số vấn đề cơ bản trong hoạt động dạy/học ở bậc đại học, các lĩnh vực nhận thức, kỹ năng và cảm nhận của người học Chuẩn cũng phải dựa trên mục đích của chương trình đào tạo, điều kiện
và hiện trạng đào tạo, và cuối cùng, nó phải được xây dựng theo xu hướng hoà nhập - theo chuẩn quốc tế Xây dựng theo xu hướng hoà nhập - xác định chuẩn Việt nam trên cơ sở tham khảo các hệ thống chuẩn quốc tế và có thể tương đương với những chuẩn quốc tế nhất định Việc xây dựng chuẩn cũng phải xét đến việc đào tạo như là một quá trình động, đầu vào cũng như trình
độ của sinh viên tăng lên trong khoảng 10 năm tới, và kết hợp với yếu tố trên
để xây dựng cho mình một hộ thống theo chuẩn quốc tế song có tính khả thi trong điều kiện của VN
1.1.5 Sự cần thiết phải xây dựng chuẩn theo hệ thống quốc tế.
Trên thế giới, đã có những hệ thống chuẩn được xây dựng từ lâu để đánh giá năng lực ngoại ngữ Tại châu Âu, hệ thống chuẩn của hiệp hội các nhà kiểm tra đánh giá châu Âu đã xác định chuẩn trình độ tiếng chung (ALTE) cho 15 ngôn ngữ tại châu Âu trong đó có tiếng Anh, Pháp, Nga, Đức, Tây Ban Nha, v.v Và như chúng ta biết, bất kể người học học theo chương trình gì, xuất xứ từ đâu, nếu được thừa nhận trên một phạm vi rộng rãi, ta phải thi HSK với tiếng Trung, Delf với tiếng Pháp, và để có thể đi học tại các trường ĐH tại các nước nói tiếng Anh, hay tại các trường ĐH sử dụng tiếng Anh, người ta đều đòi hỏi trình độ tiếng phải được đánh giá theo chuẩn của Cambriđge,
Trang 17IELTS, T0EF1, GMAT Có thể thấy rằng xu thế hội nhập và thống nhất trong chuẩn ngoại ngữ là một thực tế không thể đảo ngược Chúng ta cũng không thể đứng ngoài xu thế này Khi chúng ta đưa ra các trình độ đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với các chương trình ngoại ngữ như A, B, c, người bên ngoài đều không hiểu mức độ kiến thức và kỹ năng của các trình độ đó là
gì, và thực tế là bằng A, B, c, của chúng ta không có tác dụng khi xin học bổng, đi xin việc ở các cơ quan nước ngoài hay đi học nước ngoài Người có nhu cầu đều phải thi lại Còn một khi đã có chứng chỉ IELTS, hay TOEFL, hoặc GMAT là các trường ĐH trong các nước nói tiếng Anh đều chấp nhận Tuy nhiên, cũng cần xác định rằng, với mục tiêu chung của chương trình là đào tạo các giáo viên ngoại ngữ, một số mô tả và khía cạnh chuẩn quốc tế sẽ không hòan tòan phù hợp Do vậy, tuy rằng việc xác định và xây dựng chuẩn kiến thức là một nhu cầu tất yếu, và cũng cần phải xây đựng chuẩn theo chuẩn quốc tế nếu chúng ta muốn chơi cùng một sân với thế giới, cũng cần có nghiên cứu thực trạng để có những điều chỉnh đối với chuẩn dùng trong chương trình đào tạo cử nhân tiếng Anh hệ sư phạm của trường ĐHNN - ĐHQG HN
Một hộ thống chuẩn tối ưu phải đáp ứng được yêu cầu của cả hai mục tiêu trước mắt và lâu dài Để xây dựng được một hệ thống như vậy việc tham khảo các hệ thống chuẩn quốc tế là tối cần thiết Hệ thống chuẩn này cần dựa trên
cơ sở bối cảnh phát triển của đất nước hiện tại và tương lai có ảnh hưởng đến nhu cầu học ngoại ngữ trong nước
Sự cân bằng hài hoà giữa chuẩn nội địa và chuẩn quốc tế hoặc sự kết hợp
có chọn lọc chuẩn quốc tế là cần thiết, tránh các phương án cực đoan hoặc bài ngoại, chỉ dùng chuẩn nội địa hoặc rập khuôn cứng nhắc chuẩn quốc tế vào hoàn cảnh Việt nam
Trong phần này chúng tôi đã điểm qua một số vấn đề cơ bản về chuẩn đánh giá: đã xác định chuẩn đánh' giá là gì, vai trò của nó trong việc xây dưng
Trang 18và phát triển chương trình đào tạo cũng như trong quá trình dạy và học của người dạy và người học Bên cạnh đó chúng tôi cũng đã xác định được các căn
cứ để xây dựng chuẩn và yêu cầu đối với việc xây dựng một hệ thống chuẩn đánh giá năng lực ngoại ngữ dựa theo các chuẩn quốc tế có uy tín có tính đến thực trạng và nhu cầu đào tạo ở Việt nam Sau đây, chúng tôi sẽ đi vào một số phần chính đó
1.2 Chuẩn đánh giá với các quan niệm về ngôn ngữ và việc dạy ngoại ngữ
Việc xác định chuẩn đánh giá thường chịu nhiều ảnh hưởng của các thành tựu của cả ngôn ngữ học ứng dụng và đo lường giáo dục Nói một cách khác chuẩn đánh giá thường được xây dựng dựa trên quan niệm về ngôn ngữ
và vai trò, nhiệm vụ của việc dạy ngoại ngữ, vào quan niệm về bản chất ngồn ngữ và thế nào là nắm được một ngoại ngữ Nhìn chung có hai trường phái chính có ảnh hưởng lớn nhất đến đường hướng xây dựng chuẩn phổ biến, đó là quan điểm cấu trúc và quan điểm giao tiếp
\
1.2.1 Chuẩn đánh giá theo đường hướng cấu trúc
Quan điểm cấu trúc cho rằng ngôn ngữ là một hệ thống các thành tố có quan hệ với nhau về mặt cấu trúc để mã hoá ý nghĩa Vì vậy mục tiêu học ngoại ngữ là nắm được các thành tố trong hệ thống đó, thí dụ như các đơn vịngữ pháp ( câu, đoạn, mệnh đề), ngữ âm (âm vị), các đơn vị từ vựng, các hoạt
\
động ngữ pháp ( chuyển đổi, thêm bớt, kết hợp, V.V.) Từ quan điểm trên dẫn đến quan niệm có tính truyền thống rằng biết một ngoại ngữ là nắm được các đơn vị âm thanh, các đơn vị từ vựng, mẫu câu của ngốn ngữ đó và’biến chúng thành thói quen tự động
Chuẩn đánh giá theo đường hướng cấu trúc thường tập trung vào việc những kiến thức ngôn ngữ đơn lẻ và khả năng biến việc sử dụng các đơn vị ngôn ngữ đơn lẻ này thành tự động hóa
Trang 19Quan niệm trên về bản chất ngôn ngữ và thế nào là biết một ngoại ngữ
có những điểm yếu: nó đã không tính đến đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ là tính dư, tính có thể dự đoán được cũng như tính sáng tạo và tính duy nhất của các câu nói đơn lẻ Gần đây hơn, các đường hướng kiểm tra đánh giá đã chịu nhiều ảnh hưởng của những quan niệm mới về ngôn ngữ như một phương tiện giao tiếp và đã cố gắng đánh giá việc thực hiện chức năng ngôn ngữ cũng như khả năng sử dụng nó vào mục đích giao tiếp của người học (Rea-Dickins,
2000 ).
1.2.2 Chuẩn đánh giá theo đường hướng giao tiếp
Quan niệm về thế nào là 'biết' (know) một ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng trong việc xác định chuẩn Phần đông các nhà nghiên cứu và nhà ngôn ngữ học hiện nay (Jong and Verhoeven 1992, Fromkin and Rodman 1993) đều thống nhất quan điểm rằng biết một ngôn ngữ bao gồm khả năng thực hiện một số lượng lớn các nhiệm vụ khác nhau bằng ngôn ngữ đó Những người biết một ngôn ngữ nói ngôn ngữ đó và được những người nói cùng thứ ngôn ngữ đó hiểu Họ biết những âm thanh nào có và những âm thanh nào không có trong ngôn ngữ đó; họ biết rằng một tập hợp các âm thanh nhất định
sẽ tạo thành từ có nghĩa; họ có thể kết hợp các từ thành các cụm từ và các cụm
từ thành các câu có nghĩa Biết một ngôn ngữ có nghĩa là kiểm soát được hệ thống ngôn ngữ của nó (cú pháp, hình vị, âm vị, từ vựng, V.V.) Nó cũng có nghĩa là có khả năng tiếp cận với các khía cạnh ngữ dụng, ngữ cảnh, ngôn ngữ
xã hội học của ngôn ngừ đó, bao gồm cả việc biết cách sử dụng ngôn ngữ đó
để đạt được mục đích giao tiếp bằng những cách thức phù hợp với từng ngữ cảnh văn hóa cụ thể
Giao tiếp được coi là tâm điểm của mọi mối quan hệ xã hội Mục đích giao tiếp được coi là mục đích quan trọng nhất của việc học ngoại ngữ Hệ thống chuẩn cần được xây dựng dựa trên quan niệm rằng một trong những mục đích quan trọng nhất của học ngoại ngữ là khả năng giao tiếp bằng ngoại
Trang 20Quan niệm trên về bản chất ngôn ngữ và thế nào là biết một ngoại ngữ
có những điểm yếu: nó đã không tính đến đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ là tính dư, tính có thể dự đoán được cũng như tính sáng tạo và tính duy nhất của các câu nói đơn lẻ Gần đây hơn, các đường hướng kiểm tra đánh giá đã chịu nhiều ảnh hưởng của những quan niệm mới về ngôn ngữ như một phương tiện giao tiếp và đã cố gắng đánh giá việc thực hiện chức năng ngôn ngữ cũng như khả năng sử dụng nó vào mục đích giao tiếp của người học (Rea-Dickins,
2000 ).
1.2.2 Chuẩn đánh giá theo đường hướng giao tiếp
Quan niệm về thế nào là 'biết' (know) một ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng trong việc xác định chuẩn Phần đông các nhà nghiên cứu và nhà ngôn ngữ học hiện nay (Jong and Verhoeven 1992, Fromkin and Rodman 1993) đều thống nhất quan điểm rằng biết một ngôn ngữ bao gồm khả năng thực hiện một số lượng lớn các nhiệm vụ khác nhau bằng ngôn ngữ đó Những người biết một ngôn ngữ nói ngôn ngữ đó và được những người nói cùng thứ ngôn ngữ đó hiểu Họ biết những âm thanh nào có và những âm thanh nào không có trong ngôn ngữ đó; họ biết rằng một tập hợp các âm thanh nhất định
sẽ tạo thành từ có nghĩa; họ có thể kết hợp các từ thành các cụm từ và các cụm
từ thành các câu có nghĩa Biết một ngôn ngữ có nghĩa là kiểm soát được hệ thống ngôn ngữ của nó (cú pháp, hình vị, âm vị, từ vựng, V.V.) Nó cũng c ó
nghĩa là có khả năng tiếp cận với các khía cạnh ngữ dụng, ngữ cảnh, ngôn ngữ
xã hội học của ngôn ngữ đó, bao gồm cả việc biết cách sử dụng ngôn ngữ đó
để đạt được mục đích giao tiếp bằng những cách thức phù hợp với từng ngữ cảnh văn hóa cụ thể
Giao tiếp được coi là tâm điểm của mọi mối quan hệ xã hội Mục đích giao tiếp được coi là mục đích quan trọng nhất của việc học ngoại ngữ Hệ thống chuẩn cần được xây dựng dựa trên quan niệm rằng một trong những mục đích quan trọng nhất của học ngoại ngữ là khả năng giao tiếp bằng ngoại
Trang 21ngữ đó, có nghĩa là khả năng chuyển tải và thu nhận thành công những thông điệp thuộc nhiều thể loại khác nhau; khả năng sử dụng ngốn ngữ đó để tham gia vào các tương tác xã hội và thiết lập các mối quan hệ xã hội; khả năng trò chuyện, tranh luận, phê phán, yêu cầu, thuyết phục và giảng giải một cách hiệu quả, biết tính đến sự khác biệt về tuổi tác, nguồn gốc, học vấn, độ thân quen của người tham thoại Bèn cạnh đó là khả năng thu nhận thông tin từ các văn bản viết và các phương tiện thông tin khác, diễn giải được các thông tin đó phù hợp với phong cách, hoàn cảnh giao tiếp và mục đích giao tiếp Nói cách khác, khả năng giao tiếp là sự kết hợp giữa kiến thức về hệ thống ngôn ngữ đó với kiến thức về các thể thức văn hoá, các quy tắc lịch sự, các quy ước ngôn bản, v.v để chuyển tải và nhận về một cách thành công các thông điệp có nghĩa.
Với quan niệm về bản chất của ngôn ngữ và quan niệm về thế nào là biết một ngoại ngữ của đường hướng giao tiếp, chuẩn đánh giá ngoại ngữ không những tập trung vào khả năng ngữ pháp mà còn nhấn mạnh cả kiến thức về ngôn ngữ xã hội học, khả năng hiểu hàm ý và chiến lược giao tiếp của người học Nó đòi hỏi người học phải sử dụng ngôn ngữ một cách tự nhiên trong những hoạt động giao tiếp thực sự, và nó phải kiểm tra được trực tiếp người học một loạt các chức năng giao tiếp khác nhau Chuẩn đánh giá theo đường hướng giao tiếp phải xác định được một loạt các đặc điểm mà trước đó không thể tìm thấy được trong các chuẩn truyền thống Các đặc điểm đó phải phản ánh được việc sử dụng ngôn ngữ dựa trên cơ sở tương tác, nhằm thực hiện các mục tiêu giao tiếp cụ thể của người nói hoặc người viết đối với các thính giả hoặc độc giả đã được xác định Chuẩn đánh giá đã được thay đổi nhiều, đặc biệt là với việc đánh gìá các kỹ năng nói và viết Các tiêu chí đánh giá truyền thống thường tập trung nhiều vào năng lực ngữ pháp, độ chính xác
vể ngữ pháp, việc sử dụng từ vựng thích hợp, hoặc hình thái đúng của câu hỏi, v.v Bên cạnh các tiêu chí trên, đánh giá theo đường hướng giao tiếp còn đánh
Trang 22ngữ đó, có nghĩa là khả năng chuyển tải và thu nhận thành công những thông điệp thuộc nhiều thể loại khác nhau; khả năng sử dụng ngôn ngữ đó để tham gia vào các tương tác xã hội và thiết lập các mối quan hệ xã hội; khả năng trò chuyện, tranh luận, phê phán, yêu cầu, thuyết phục và giảng giải một cách hiệu quả, biết tính đến sự khác biệt về tuổi tác, nguồn gốc, học vấn, độ thân quen của người tham thoại Bên cạnh đó là khả năng thu nhận thổng tin từ các văn bản viết và các phương tiện thông tin khác, diễn giải được các thông tin đó phù hợp với phong cách, hoàn cảnh giao tiếp và mục đích giao tiếp Nói cách khác, khả năng giao tiếp là sự kết hợp giữa kiến thức về hệ thống ngôn ngữ đó với kiến thức về các thể thức văn hoá, các quy tắc lịch sự, các quy ước ngôn bản, v.v để chuyển tải và nhận về một cách thành công các thông điệp có nghĩa.
Với quan niệm về bản chất của ngôn ngữ và quan niệm về thế nào là biết một ngoại ngữ của đường hướng giao tiếp, chuẩn đánh giá ngoại ngữ không những tập trung vào khả năng ngữ pháp mà còn nhấn mạnh cả kiến thức về ngôn ngữ xã hội học, khả năng hiểu hàm ý và chiến lược giao tiếp của người học Nó đòi hỏi người học phải sử dụng ngôn ngữ một cách tự nhiên trong những hoạt động giao tiếp thực sự, và nó phải kiểm tra được trực tiếp người học một loạt các chức năng giao tiếp khác nhau Chuẩn đánh giá theo đường hướng giao tiếp phải xác định được một loạt các đặc điểm mà trước đó không thể tìm thấy được trong các chuẩn truyền thống Các đặc điểm đó phải phản ánh được việc sử dụng ngôn ngữ dựa trên cơ sở tương tác, nhằm thực hiện các mục tiêu giao tiếp cụ thể của người nói hoặc người viết đối với các thính giả hoặc độc giả đã được xác định Chuẩn đánh giá đã được thay đổi nhiều, đặc biệt là với việc đánh gìá các kỹ năng nói và viết Các tiêu chí đánh giá truyền thống thường tập trung nhiều vào năng lực ngữ pháp, độ chính xác
về ngữ pháp, việc sử dụng từ vựng thích hợp, hoặc hình thái đúng của câu hỏi, v.v Bên cạnh các tiêu chí trên, đánh giá theo đường hướng giao tiếp còn đánh
Trang 23ngữ đó, có nghĩa là khả năng chuyển tải và thu nhận thành công những thông điệp thuộc nhiều thể loại khác nhau; khả nâng sử dụng ngôn ngữ đó đê tham gia vào các tương tác xã hội và thiết lập các mối quan hệ xã hội; khả năng trò chuyện, tranh ỉuận, phê phán, yêu cầu, thuyết phục và giảng giải một cách hiệu quả, biết tính đến sự khác biệt về tuổi tác, nguồn gốc, học vấn, đô thàn quen của người tham thoại Bên cạnh đó là khả năng thu nhận thông tin từ các văn bản viết và các phương tiện thông tin khác, diễn giải được các thông tin đó phù hợp với phong cách, hoàn cảnh giao tiếp và mục đích giao tiếp Nói cách khác, khả năng giao tiếp là sự kết hợp giữa kiến thức về hệ thống ngôn ngữ đó với kiến thức về các thể thức văn hoá, các quy tắc lịch sự, các quy ước ngôn bản, v.v để chuyển tải và nhận về một cách thành công các thông điệp có nghĩa.
Với quan niệm về bản chất của ngôn ngữ và quan niệm về thế nào là biết một ngoại ngữ của đường hướng giao tiếp, chuẩn đánh giá ngoại ngữ không những tập trung vào khả năng ngữ pháp mà còn nhấn mạnh cả kiến thức về ngôn ngữ xã hội học, khả năng hiểu hàm ý và chiến lược giao tiếp của người học Nó đòi hỏi người học phải sử dụng ngôn ngữ một cách tự nhiên trong những hoạt động giao tiếp thực sự, và nó phải kiểm tra được trực tiếp người học một loạt các chức năng giao tiếp khác nhau Chuẩn đánh giá theo đường hướng giao tiếp phải xác định được một loạt các đặc điểm mà trước đó không thể tìm thấy được trong các chuẩn truyền thống Các đặc điểm đó phải phản ánh được việc sử dụng ngôn ngữ dựa trên cơ sở tương tác, nhằm thực hiện các mục tiêu giao tiếp cụ thể của người nói hoặc người viết đối với các thính giả hoặc độc giả đã được xác định Chuẩn đánh giá đã được thay đổi nhiều, đặc biệt là với việc đánh gìá các kỹ năng nói và viết Các tiêu chí đánh giá truyền thống thường tập trung nhiều vào năng lực ngữ pháp, độ chính xác
về ngữ pháp, việc sử dụng từ vựng thích hợp, hoặc hình thái đúng của câu hỏi, v.v Bên cạnh các tiêu chí trên, đánh giá theo đường hướng giao tiếp còn đánh
Trang 24ngữ đó, có nghĩa là khả năng chuyển tải và thu nhận thành công những thông điệp thuộc nhiều thể loại khác nhau; khả năng sử dụng ngôn ngữ đó để tham gia vào các tương tác xã hội và thiết lập các mối quan hệ xã hội; khả năng trò chuyện, tranh luận, phê phán, yêu cầu, thuyết phục và giảng giải một cách hiệu quả, biết tính đến sự khác biệt về tuổi tác, nguồn gốc, học vấn, độ thân quen của người tham thoại Bên cạnh đó là khả năng thu nhận thông tin từ các văn bản viết và các phương tiện thông tin khác, diễn giải được các thông tin đó phù hợp với phong cách, hoàn cảnh giao tiếp và mục đích giao tiếp Nói cách khác, khả nãng giao tiếp là sự kết hợp giữa kiến thức về hệ thống ngôn ngữ đó với kiến thức về các thể thức văn hoá, các quy tắc lịch sự, các quy ước ngôn bản, v.v để chuyển tải và nhận về một cách thành công các thông điệp có nghĩa.
Với quan niệm về bản chất của ngôn ngữ và quan niệm về thế nào là biết một ngoại ngữ của đường hướng giao tiếp, chuẩn đánh giá ngoại ngữ không những tập trung vào khả năng ngữ pháp mà còn nhấn mạnh cả kiến thức về ngôn ngữ xã hội học, khả năng hiểu hàm ý và chiến lược giao tiếp của người học Nó đòi hỏi người học phải sử dụng ngôn ngữ một cách tự nhiên trong những hoạt động giao tiếp thực sự, và nó phải kiểm tra được trực tiếp người học một loạt các chức năng giao tiếp khác nhau Chuẩn đánh giá theo đường hướng giao tiếp phải xác định được một loạt các đặc điểm mà trước đó không thể tìm thấy được trong các chuẩn truyền thống Các đặc điểm đó phải phản ánh được việc sử dụng ngôn ngữ dựa trên cơ sở tương tác, nhằm thực hiộn các mục tiêu giao tiếp cụ thể của người nói hoặc người viết đối với các thính giả hoặc độc giả đã được xác định Chuẩn đánh giá đã được thay đổi nhiều, đặc biệt là với việc đánh gìá các kỹ năng nói và viết Các tiêu chí đánh giá truyền thống thường tập trung nhiều vào năng lực ngữ pháp, độ chính xác
về ngữ pháp, việc sử dụng từ vựng thích hợp, hoặc hình thái đúng của câu hỏi v.v Bên cạnh các tiêu chí trên, đánh giá theo đường hướng giao tiếp còn đánh
Trang 25giá khả nãng tiếp ứng, đối đáp với thông tin thu nhận được, tính phù hợp của ngôn ngữ và hiệu quả giao tiếp của ngôn bản tạo ra bởi người học Nói một cách khác, các tiêu chí về từ pháp và cú pháp cần được kết hợp với các tiêu chí xác định được các khía cạnh của việc sử dụng ngôn ngữ giao tiếp.
1.3 Chuẩn đánh giá với các thang bậc nhận thức
Việc xác định hệ thống chuẩn cần phải tính đến các lĩnh vực nhận thức,
kỹ năng và cảm nhận của người học
• Lĩnh vực nhận thức (cognitive domain)
Theo phép phân loại của Bloom, lĩnh vực nhận thức có thể sắp xếp theo những thang bậc từ thấp (1) đến cao (6) như sau:
1 Biết (knowledge) Nhớ, thuộc ỉòng, nhận biết, tái hiện
2 Hiểu (comprehension) Hiểu, chuyển đổi được từ phương tiện
này sang phương tiện khác, mô tả được bằng ngôn ngữ của mình
3 Áp dụng (application) Giải quyết vấn đề, sử dụng thông tin
có hiệu quả
4 Phân tích (analysis) Có khả năng phân tích quá trình, sự
việc, tìm ra được cấu trúc bề sâu của thông điệp, xác định được động cơ
5 Tổng hợp (synthesis)
\
Có khả năng tạo sản phẩm lời nói đặc thù, bằng lời nói hoặc ngôn ngữ phi lời nói
6 Đánh giá (evaluation) Đánh giá được vấn đề, phán quyết
được những tranh uận, bất đồng ý kiến
Bảng 1 - Thang bậc nhận thức theo mô hình của Bloom
• Lĩnh vực kỳ năng
Trang 26Kỹ nãng cũng được xếp hạng từ thấp đến rất cao (highly skilled) Trong lĩnh vực đánh giá năng lực sử dụng ngoại ngữ, mức cao nhất thường là mức gần giống người bản ngữ (near native/native like) Quá trình hình thành kỹ năng được xếp theo trình tự:
1 Tiếp thu (Recetion)
Như trên đã phân tích ở phần trước, chuẩn cần được xây dựng ở nhiều thang bậc khác nhau và các thang bậc đó có thể xây dựng để thể hiện các thang bậc nhận thức và cảm nhận trên
1.4 Các hệ thống chuẩn ngoại ngữ phổ biến đang được sử dụng trên thê giới
Trên thế giới có nhiều hệ thống chuẩn đánh giá năng lực ngoại ngữ của các tổ chức khác nhau cho các thứ tiêng khác nhau Các hệ thống có uy tín và phổ biến là Cambridge, ALTE (Hiệp hội Các nhà Kiểm tra Ngôn ngữ Âu Châu - Association of Language Testers in Europe), IELTS, TOEFL, v.v Các
hệ thống chuẩn đó được xây dựng dựa trên mục đích chính trong sử dụng ngoại ngữ của người học: sử dụng ngoại ngữ cho mục đích học thuật hay chomục đích công việc, ở Mỹ, trong những năm qua, cùng với công việc xác định
Trang 27lại chuẩn cho toàn bộ các mồn học ở trường phổ thông của Bộ Giáo Dục Mỹ,
bộ môn ngoại ngữ cũng có một bộ chuẩn được xây dựng hết sức cônơ phu và
tỉ mỉ Dựa vào tính phổ biến và uy tín của các hệ thống chuẩn, chúng tôi lựa chọn phân tích các bộ chuẩn Cambridge, CELTS, TOEFL và cách thức tiến hành xây dựng chuẩn cho bộ môn ngoại ngữ của Bộ Giáo dục Mỹ để làm cơ
gì và có khả năng làm được gì cho bộ môn ngoại ngữ ở lớp bốn, lớp tám và lớp mười hai Các chuẩn này được xác định dựa trên một số triết lý về giáo dục ngoại ngữ, trong đó triết lý số 1 là biết thành thạo hơn một ngôn ngữ sẽ giúp cho người ta:
• giao tiếp với những người khác trong các nền văn hoá khác trong các hoàn cảnh hết sức phong phú,
• nhìn ra xa hơn đường biên giới của nước mình,
• có được sự hiểu biết sâu sắc hơn về ngôn ngữ và văn hoá của chính nước mình,
• cư xử với một ý thức lớn hơn về bản thân, về các nền văn hoá khác và
về mối quan hệ của chính minh với các nền văn hoá đó,
• tiếp cận được trực tiếp vcd những bộ phận kiến thức khác, và
• có thể tham gia được đầy đủ hơn vào cộng đồng và thị trường thế giới
Trang 28lại chuẩn cho toàn bộ các môn học ở trường phổ thông của Bộ Giáo Dục Mỹ,
bộ môn ngoại ngữ cũng có một bộ chuẩn được xây dựng hết sức công phu và
tỉ mỉ Dựa vào tính phổ biến và uy tín của các hệ thống chuẩn, chúng tôi lựa
chọn phân tích các bộ chuẩn Cambridge, CELTS, TOEFL và cách thức tiến hành xây dựng chuẩn cho bộ môn ngoại ngữ của Bộ Giáo dục Mỹ để làm cơ
gì và có khả năng làm được gì cho bộ môn ngoại ngữ ở lớp bốn, lớp tám và lớp mười hai Các chuẩn này được xác định dựa trên một số triết lý về giáo dục ngoại ngữ, trong đó triết lý số 1 là biết thành thạo hơn một ngôn ngữ sẽ giúp cho người ta:
• giao tiếp với những người khác trong các nển văn hoá khác trong các hoàn cảnh hết sức phong phú,
• nhìn ra xa hơn đường biên giới của nước mình,
• có được sự hiểu biết sâu sắc hơn về ngôn ngữ và văn hoá của chính nước mình,
• cư xử với một ý thức lớn hơn về bản thân, về các nền văn hoá khác và
về mối quan hệ của chính mình với các nền văn hoá đó,
• tiếp cận được trực tiếp với những bộ phận kiến thức khác, và
• có thể tham gia được đầy đủ hơn vào cộng đồng và thị trường thế giới
Trang 29Các thành viên trong tổ công tác bắt đầu công việc xây dựng chuẩn bằn2
việc khảo sát xem giáo dục ngoại ngừ sẽ phải chuẩn bị cho học sinh làm được những gì: họ xác định các mục đích lớn và chung nhất của ngành học Trons mỗi lĩnh vực họ lại xác định các kỹ nãng và kiến thức cơ bản mà học sinh phải tiếp thu được khi họ rời ghế nhà trường cuối năm lớp 12 Chính những kiến thức và kỹ năng đó cấu thành các chuẩn
Năm 1986, Hội đồng giảng dạy ngoại ngữ Mỹ đã đưa ra các Hướng dẫn
về Trình độ (ngoại ngữ) (Proficiency Guidelines) Các hướng dẫn đã cung cấp một thước đo chung đối với các hoạt động nghe, nói, đọc và viết bằng ngoại ngữ của học sinh, từ đó phát triển thể loại kiểm tra đánh giá mới: kiểm tra đánh giá dựa vào hoạt động (performance-based assessments) Các chuẩn nội dung được xây dựng năm 1993 cũng phản ánh quan điểm này, tuy nhiên thay
vì coi nói, nghe, đọc và viết là các kỹ năng riêng biệt để đánh giá, giao tiếp được nhìn nhận dưới một góc độ khái quát và tổng hợp hơn Hoạt động giao tiếp được tổ chức trong một khuôn mẫu trong ba kiểu khác nhau: giao tiếp liên nhân (interpersonal), diễn dịch (interpretive) và trình diễn (presentational) Các căn cứ để xây dựng bộ chuẩn là chương trình học, điểm xuất phát của người học, đường hướng dạy học và quan niệm về đặc điểm của việc học ngoại ngữ Những nhà xây dựng chuẩn tin tưởng rằng, khác với các mồn học khác, ngoại ngữ không thể được thụ đắc khi học sinh học một tập hợp các ‘dữ liệu’ theo một trật tự nhất định về ngôn ngữ (ngữ pháp, từ vựng, V.V.) Một cách lý tưởng, người học cần phải được sử dụng ngôn ngữ đích vào mục đích giao tiếp thực sự, có nghĩa là họ phải được thực hiện một quá trình phức hợp các tương tác bao gồm nói và hiểu được điều người khác nói bằng ngôn ngữ đích, cũng như đọc và hiểu được các tài liệu bằng ngôn ngữ viết Các chuẩn được viết ra cho thấy quan niệm rằng không thể chia nhỏ các mục đích học ngoại ngữ thành một tập hợp các bước theo một trình tự nhất định và người học không phải xử trí với các mẩu ngôn ngữ Giao tiếp thực sự có thể được
Trang 30những người học ở bậc thấp cũng như những người học ở bậc cao thưc hiện Chính vì vậy, một bộ chuẩn được xây dựng xác định người học phải đạt được những gì sau quá trình học, và có một tập hợp các chỉ số tiến bộ (progress indicators) để đo sự khác biệt về mặt khả năng và trí tuệ cũng như độ chín chắn và sự quan tâm của người học sau một giai đoạn học tập.
Mục đích học ngoại ngữ của các cá nhàn hết sức khác nhau, nhưna tổ công tác xây dựng chuẩn nhận thấy có 5 lĩnh vực mục đích bao trùm lên tất cả các mục đích khác nhau là Giao tiếp, Văn hóa, Liên hệ, So sánh và Cộng đồng
- Communication, Culture, Connections, Comparisons and Communities - được gọi là 5 c trong giáo dục ngoại ngữ
Với các quan niệm về vai trò của ngoại ngữ và về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá, hệ thống chuẩn được tổ chức thành 5 khu vực mục đích (goal areas): giao tiếp, văn hoá, liên hệ, so sánh và cộng đồng, các khu vực này không đứng độc lập mà có liên hệ qua lại với nhau Sau đó mỗi khu vực mục đích lại bao gồm hai hoặc ba chuẩn nội dung Các chuẩn này mô tả kiến thức
và khả năng mà mọi học sinh phải tiếp thụ được sau khi hoàn thành chương trình phổ thông Dưới mỗi chuẩn lại có các mẫu chỉ số tiến bộ (sample progress indicators) cho từng giai đoạn lớp 4, lớp 8 và lớp 12 để xác định xem sau từng giai đoạn học sinh đã tiến đến gần chuẩn như thế nào
Trong năm lĩnh vực mục đích của học ngoại ngữ, lĩnh vực giao tiếp là quan trọng hơn cả Các chuẩn của lĩnh vực này tập trung vào ba kiểu giao tiếp (đã nói ở trên)
Chuẩn giao tiếp 1: Học sinh tham gia vào các cuộc hội thoại, cung cấp và thu
thập thông tin, diễn đạt được cảm xúc và trao đổi ý kiến
Mầu chỉ sô tiến bộ cho học sinh lớp bôn:
Trang 31• Học sinh đưa ra được và thực hiện các chỉ dẫn để có thể tham oia vào các hoạt động văn hoá và lớp học phù hợp với lứa tuổi.
• Học sinh hỏi và trả lời những câu hỏi về các chủ đề như gia đình, các
sự kiện ở trường học, và các lễ kỉ niệm trực tiếp hoặc thông qua thư từ
e m a il
• Học sinh chia sẻ được những sở thích với nhau và với cả lớp
• Học sinh trao đổi những mô tả về người và các vật phẩm hữu hình của văn hoá như đồ chơi, quần áo, loại nhà cửa, và thức ăn với nhau và với các thành viên khác trong ỉớp học
• Học sinh trao đổi những thông tin cơ bản như là chào hỏi khi gặp mặt
và khi chia tay và các tương tác trong lớp học thông thường sử dụng được các cử chỉ phù hợp về mặt văn hoá và các cách diễn đạt nói
Mẫu chỉ sô tiến bộ cho học sinh lớp tám:
• Học sinh đưa ra được các chỉ dẫn và thực hiện để tham gia vào các hoạtđộng văn hoá phù hợp với lứa tuổi và tìm hiểu chức năng của các vật phẩm trong văn hoá nước ngoài Họ hỏi và đáp các câu hỏi để nhận được sự giải thích
• Học sinh trao đổi các thông tin về các sự kiện cá nhân, các kinh nghiệm, các kỉ niệm đáng nhớ và các môn học trong nhà trường với bạn cùng lớp hoặc các thành viên của nền văn hoá đích
• Học sinh so sánh sự tương phản và bày tỏ quan điểm và sở thích đối với các thông tin thu thập được về các sự kiện, kinh nghiệm và các môn học trong nhà trường
• Học sinh biết cách nhận được hàng hoá, các dịch vụ thông qua nói hoặc viết
Trang 32• Học sinh xây dựng và đề xuất các giải pháp cho các vấn đề liên quan đến trường học hoặc cộng đồng thông qua thảo luận nhóm.
Các chỉ số tiến bộ cho lớp mười hai:
• Học sinh bàn luận thông qua hình thức nói và viết về các sự kiện ờ quá khứ hoặc hiện tại có ý nghĩa trong nền văn hoá đích, hoặc nhữns sự kiện được học ở các môn học khác
• Học sinh xây dựng và đề xuất các giải pháp cho nhữna vấn để mà họ quan tâm thông qua thảo luận nhóm
• Học sinh chia sẻ với nhau hoặc với các thành viên trong nền văn hoá đích các bài phân tích và cảm tưởng đối với các bài văn bằng ngôn ngữ viết
• Học sinh trao đổi bảo vệ và thảo luận các ý kiến và quan điểm cá nhân với bạn bè cùng lớp hoặc những người sử dụng ngôn ngữ đích về các chủ đề có liên quan đến các vấn đề đương đại và lịch sử
Chuẩn giao tiếp 2: học sinh hiểu và diễn giải được ngôn ngữ nói và viết vềcác chủ đề khác nhau -
Các mẩu chỉ số tiến bộ cho học sinh lớp bốn:
• Học sinh hiểu được các ý chính của các câu chuyện như giai thoại cá nhân, các truyện cổ tích quen thuộc, và các âu truyện về các chủ đề quen thuộc khác
• Học sinh xác định được con người và vật thể trong môi trường của họ hoặc của các chủ thể của các môi trường khác dựa trên các miêu tả viết hoặc nói
• Học sinh hiểu được các thông điệp viết ngắn, các ghi chép vắn tắt về các chủ đề quen thuộc như gia đình, các sự kiện trong nhà trường
Trang 33• Học sinh hiểu được ý và chủ đề chính và nhận ra được các nhàn vật chính trong các câu truyện hoặc văn học thiếu nhi.
• Học sinh hiểu được các thông điệp chính trong các phương tiện thôn» tin khác nhau như các bài viết có minh hoạ, và tranh ảnh quảng cáo
• Học sinh hiểu được các cử chỉ ngữ điệu và các gợi ý khác thông qua nghe hoặc nhìn
Mấu chỉ số tiến bộ cho học sinh lớp tám:
• Học sinh hiểu các thông tin và các thông điệp liên quan đến các môn học khác
• Học sinh hiểu được các thông báo và các thông điệp có liên quan đến các hoạt động hàng ngày trong nền văn hoá đích
• Học sinh hiểu được các chủ đề chính và các chi tiết quan trọng về các chủ đề từ các môn học khác và các vật phẩm văn hoá được trưng bày trên Ti vi, radio, video hoặc các hình thức trình bày trực tiếp
• Học sinh xác định được các nhân vật chính và hiểu được các ý chính của các bài văn chọn lọc
• Học sinh sử dụng được các kiến thức tiếp thu được trong những hoàn cảnh và từ các môn học khác để hiểu các thống điệp nói và viết bằng ngôn ngữ viết
Các mẩu chỉ sô tiến bộ cho lớp mười hai:
• Học sinh chứng tỏ được họ hiểu các ý chính và các chi tiết quan trọng trong các cuộc thảo luận và các bài giảng trực tiếp hoặc được ghi âm lại, và các bài thuyết trình về các sự kiện ở hiện tại và trong quá khứ được học ở các lớp học khác
Trang 34• Học sinh chứng tỏ họ hiểu được các thành tố chủ yếu trong các bài báo, tạp chí và email về các chủ đề quan trọng đối với các thành viên trong nền văn hoá đích
• Học sinh phân tích được cốt truyện, các nhân vật, sự mô tả, vai trò, ý nghĩa các nhân vật trong các văn bản văn học gốc
• Học sinh chứng tỏ được việc hiểu biết ngày càng tăng các yếu tố văn hoá trong ngôn ngữ nói và viết của người sử dụng ngôn ngữ đích trong các bối cảnh trang trọng cũng như thân mật
• Học sinh biểu lộ đực sự hiểu biết ngày càng tăng đối với các yếu tô' vãn hóa trong các vật phẩm văn hoá biểu hiện bao gồm những tuyển chọn các thể loại văn học khác nhau
Chuẩn giao tiếp 3 : học sinh trình bày được các thông tin, khái niệm, và
các ý kiến thông qua nói hoặc viết về một tập hợp các chủ đề khác nhau
\
Mẫu chỉ số tiến bộ của học sinh lớp bốn:
• Học sinh chuẩn bị được các câu truyện có minh hoạ về các hoạt động hoặc các sự kiện ở trong môi trường của họ và chia sẻ các câu truyện đó với các bạn trong lớp
• Học sinh kịch hoá các bài hát, các giai thoại ngắn, hoặc các bài thơ cho các bạn bè cùng lứa ở các lớp khác xem
• Học sinh đưa ra được các lời nhắn ngắn hoặc viết các báo cáo ngắn vềcon người và sự vật trong môi trường trường học của họ và trao đổi các thông tin đó với một lớp học ngoại ngừ khác trong địa phương hoặc thông qua email ’
• Học sinh kể hoặc kể lại nhưng câu truyện dưới hình thức nói hoặc viết
Trang 35• Học sinh chứng tỏ họ hiểu được các thành tố chủ yếu trong các bài báo, tạp chí và email về các chủ đề quan trọng đối với các thành viên trong nền văn hoá đích
• Học sinh phân tích được cốt truyện, các nhân vật, sự mô tả, vai trò, ý nghĩa các nhân vật trong các văn bản văn học gốc
• Học sinh chứng tỏ được việc hiểu biết ngày càng tăng các yếu tố văn hoá trong ngôn ngừ nói và viết của người sử dụng ngôn ngữ đích trong các bối cảnh trang trọng cũng như thân mật
• Học sinh biểu lộ đực sự hiểu biết ngày càng tăng đối với các yếu tốvăn hóa trong các vật phẩm văn hoá biểu hiện bao gồm những tuyển chọn các thể loại văn học khác nhau
Chuẩn giao tiếp 3: học sinh trình bày được các thông tin, khái niệm, và
các ý kiến thông qua nói hoặc viết về một tập hợp các chủ đề khác nhau
Mẫu chỉ số tiến bộ của học sinh lớp bốn:
• Học sinh chuẩn bị được các câu truyện có minh hoạ về các hoạt động hoặc các sự kiện ở trong môi trường của họ và chia sẻ các câu truyện đó với các bạn trong lớp
• Học sinh kịch hoá các bài hát, các giai thoại ngắn, hoặc các bài thơ cho các bạn bè cùng lứa ở các lớp khác xem
• Học sinh đưa ra được các lời nhắn ngắn hoặc viết các báo cáo ngắn vềcon người và sự vật trong mồi trường trường học của họ và trao đổi các thông tin đó với một lớp học ngoại ngữ khác trong địa phương hoặcthông qua email ■
• Học sinh kể hoặc kể lại nhưng câu truyện dưới hình thức nói hoặc viết
Trang 36• Học sinh viết hoặc kể về các vật phẩm hoặc các hoạt động vãn hoá của mình cho các thành viên của vãn hoá đích.
Mẫu chỉ số tiến bộ cho học sinh lớp tám:
• Học sinh trình bày các vở kịch ngắn, đọc được một sổ bài thơ có chon lọc, biểu diễn một sổ bài hát bằng ngôn ngứ đích trong các buổi liên quan của nhà trường
• Học sinh chuẩn bị được các cuộn băng cát xét hoặc Video có ghi những thông điệp ngắn để chia sẻ với các bạn trong trường hoặc các thành viên của văn hoá đích về các chủ để mà cá nhân quan tâm
• Học sinh chuẩn bị các câu truyện và các bản báo cáo vắn tắt về các kỉ niệm của bản thân, các sự kiện trong cuộc đời của mình hoặc các môn học trong nhà trường để chia sẻ với các bạn học hoặc các thành viên trong nền văn hoá đích v
• Học sinh chuẩn bị một bản tóm tắt miệng hoặc viết về cốt truyện và các nhân vật trong các tác phẩm văn học chọn ỉọc phù hợp với lứa tuổi
Mẫu chỉ số tiến bộ cho học sinh lớp 12:
• Học sinh trình diễn được các cảnh hoặc đọc được các đoạn trích thơ văn
có liên quan đến chủ đề của các môn học khác như lịch sử, địa lí thế giới, tóan học hay nghệ thuật,
• Học sinh trình diễn được các cảnh hoặc đọc được các đoạn trích thơ văn phổ biến trong văn hóa đích
• Học sinh tạo ra được những câu chuyện, vở kịch ngắn dựa vào kinh nghiệm cá nhân và sự tiếp thụ văn hóa đích
• Học sinh lựa chọnn và phân tích các vật phẩm văn hóa thể hiện của văn hóa đích như các thể loại văn học, nghệ thuật
Trang 37• Học sinh tóm tắt được các văn bản, bài báo dành cho người bản nơữ để
có thể thảo luận về các chủ đề trong đó qua e-mail với người bản nơữ
• Học sinh viết bài báo hoặc thư từ mô tả và phân tích các vấn đề trên các ấn phẩm của tuổi học trò
• Học sinh chuẩn bị được một bài phân tích dựa trên nghiên cứu về một
sự kiện ở hiện tại dưới cách nhìn nhận của cả người Mỹ và người bản ngữ
Trên đây là một số thông tin về quá trình xây dựng chuẩn ngoại ngữ cho trường phổ thông tại Mỹ do Bộ Giáo dục Mỹ khởi xướng và tài trợ Thoạt nhìn, người ta có cảm tưởng rằng việc phân tích hệ thống chuẩn nói trên của
Mỹ có vẻ như không phù hợp với mục đích của đề tài vì các chuẩn ngoại ngữ cho học sinh phổ thông của Mỹ là quá cao so với chuẩn ngoại ngừ của học sinh ở trường phổ thông Việt nam, hơn thế nữa, mục đích chính của đề tài là xây dựng chuẩn cho sinh viên hệ đại học chuyên ngữ ở Việt nam Nhưng chúng tôi quan niệm rằng phương pháp và quá trình xây dựng chuẩn đó có thể cung cấp thông tin cho đề tài Hơn thế nữa, các cử nhân hệ sư phạm sẽ là những giáo viên dạy ngoại ngữ ở trường phổ thông sau này, và giáo dục phổ thông của chúng ta cũng đang trên con đường hội nhập với xu thế chung của thế giới, vì vậy chúng ta cũng cần đạt ra các chuẩn để đào tạo cho các lớp giáo viên sau này để có thể đáp ứng được quá trình hội nhập đó Quá trình xây dựng hệ thống chuẩn này được đánh giá là hết sức kĩ lưỡng và khoa học, dựa trên thành tựu của các nghiên cứu về ngôn ngữ và việc thụ đắc ngôn ngữ thứ hai và việc nghiên cứu thực trạng dạy và học ngoại ngữ ở các trường phổ thông ở Mỹ Các chuẩn được xác định, đặc biệt là chuẩn giao tiếp cùng các chỉ số tiến bộ cho từng giai đoạn học tập của học sinh đã cung cấp một thước
đo hiệu quả cho quá trình dạy và học ngoại ngữ, đồng thời cũng làm định hướng cho công tác biên soạn chương trình và giáo trình cũng như kiểm tra
Trang 38đánh giá môn học ngoại ngữ ở Mỹ Đó là bộ chuẩn tổng quát cho các môn ngoại ngữ nói chung, dựa vào đó, tùy theo đặc thù từng ngồn ngữ mà mỏi thứ tiếng cụ thể như Ý, Tây Ban Nha, Hy lạp, Trung Quốc, Pháp, Nga v.v lại có một bộ chuẩn riêng.
1.4.2 Hệ thống chuẩn IELTS - Hệ thống kiểm tra tiếng Anh Quốc tê
Đây là một hộ thống kiểm tra đánh gía tiếng Anh được công nhận một cách rộng rãi, được coi là một phương tiện đáng tin cậy để đánh giá xem các thí sinh đã sẵn sàng để học tập hoặc đào tạo ở một trường tiếng Anh hay khống
Ba thành viên đồng sở hữu IELTS là Tập đoàn Khảo thí Địa phương thuộc Đạihọc Cambridge, Hội đồng Anh và cơ quan IDP của úc
IELTS tập trung vào cả bốn kỹ năng ngôn ngữ: Nghe, Nói, Đọc và Viết, phục vụ hai mục đích: đào tạo tổng quát và học thuật IELTS phàn chia các thang chuẩn theo 9 mức: mức cao nhất là 9 và mức thấp nhất là 1
• 9 - Người sử dụng ngôn ngữ thông thạo (Expert User): Hoàn toàn nấm vững ngôn ngữ: sử dụng ngôn ngữ một cách thích hợp, chuẩn xác và lưu loát, với sự thông hiểu tuyệt đối
• 8 - Người sử dụng ngôn ngữ rất tốt (Very good user): Hoàn toàn nắm vững ngôn ngữ, thỉnh thoảng mới có chỗ chưa được chính xác và phù hợp nhưng những lỗi đó không mang tính hệ thống Có thể có những hiểu lầm trong những tình huống không quen thuộc Xử lí tốt các lập luận chi tiết phức tạp •
• 7- Người sử dụng ngôn ngữ tốt (Good User): Nắm vững ngồn ngữ mặc
dù có những chỗ thiếu chính xác, không phù hợp và hiểu sai Nhìn chung là xử lý tốt ngôn ngữ phức tạp và hiểu được lý luận chi tiết
• 6- Người sử dụng ngôn ngữ có năng lực (Competent user): Nhìn chung
sử dụng ngôn ngữ một cách tương đối hiệu quả mặc đù có những chỗ
Trang 39không phù hợp, không chính xác và hiểu lầm Có thể dùng và hiểu ngốn ngữ khá phức tạp, đặc biệt trong các tình huống quen thuộc.
• 5 - Người sử dụng ngồn ngữ khiêm tốn (Modest user): Phần nào nắm được ngôn ngữ, hiểu được nghĩa tổng quát trong phần lớn các tình huống dù có thể phạm nhiều lỗi Có khả năng xử trí các tình huốns giao tíêp cơ bản trong lĩnh vực của mình
• 4 - Người sử dụng ngôn ngữ hạn chế (Limited user): Khả năng cơ bản chỉ hạn chế ở những tình huống quen thuộc Thường xuyên gặp trở naại trong việc hiểu và diễn đạt Không thể sử dụng ngôn ngữ phức tạp
• 3 - Người sử dụng ngôn ngữ cực kì hạn chế (Extremely Limited user): Chỉ diễn đạt và hiểu được nghĩa tổng quát trong những tình huống hết sức quen thuộc Thường xuyên thất bại trong giao tiếp
• 2 - Người sử dụng ngôn ngữ thất thường - lúc được lúc không (Intermittent user): Không có khả năng giao tiếp thực sự ngoại trừ những thông tin cơ bản nhất, sử dụng các từ rời rạc hoặc các công thức ngắn trong những tình huống quen thuộc để đáp ứng những nhu cầu tức thời Gặp nhiều khó khăn trong việc diễn đạt và hiểu tiếng Anh
• 1 - Không phải là người sử dụng ngôn ngữ (Non user): Về cơ bản là không có khả năng sử dụng ngôn ngữ ngoại trừ một vài từ riêng lẻ
IELTS có hai phiên bản, một là phiên bản học thuật dành cho những người muốn học ở một trường đại học hay viện cao học cấp bằng đại học hoặc sau đại học và phiên bản phổ thông dành cho các đôi tượng muốn theo học ở một trường trung học hay những khoá đào tạo hướng nghiệp Các mô tả chuẩn cụ thể cho từng kĩ năng như sau:
♦ Kĩ năng nghe:
- Nghe hiểu những đoạn đối thoại và độc thoại trong các tình huống
xã hội thông thường
Trang 40- Nghe và xác định được ai nói điểu gì trong những cuộc hội thoại đông người hơn
- Nghe và nắm được ý chính cũng như các thông tin chi tiết cần thiết trong một bài nói chuyện về chủ đề học thuật hoặc giáo dục chun2
- Nghe và có thể tóm tắt được ý chính của bài nghe hoặc hoàn thành được bảng hoặc biểu đồ
- Đọc nắm được ý khái quát và chủ đề chung của bài đọc
- Đọc và tìm thông tin chi tiết
- Đọc và hiểu được quan điểm, thái độ của tác giả thông qua các thông tin có trong văn bản và cả những thông tin không trình bày trực tiếp trong văn bản
♦ Kĩ năng viết:
- Viết được đoạn văn mô tả biểu bảng: biết cách tổ chức, trình bày
và so sánh các dữ liệu; mô tả các giai đoạn của một quá trình; mồ tả một đối tương hoặc một sự kiện; giải thích được cơ chế hoạt động của một vật nào đó thông qua cách dùng ngôn ngữ chính xác, thích hợp về văn phong và nội dung
- Viết bài luận tranh cãi về một vấn đề: biết cách trình bày giải pháp cho một vấn đề, trình bày và biện luận cho một quan điểm, so sánh
và đối lập các chứng cớ và quan điểm, đánh giá, thẩm định ý kiên