1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách kinh tế đối ngoại Việt Nam từ năm 1986 đến nay

139 1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 67,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khi đó chính sách phát triển kinh tế đối ngoại càng đi vào chiều sâu càng thây rõ đó là cá một quá trình tham gia vào phân công lao động quốc tế nhằm khai Ihác cỏ hiệu quá các nguồ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA KINH TÊ

CHÍNH SÁ C H KINH T Ế Đ ố l NGOẠI V IỆT NAM

1 TS KINH TÊ LÊ XUÂN BÌNH

2 TS KINH TÊ PHAN TRONG PHỨC

3 CỬ NHÂN NGUYỄN TIẾN HÙNG

ĐAI HOC cuọc GIA H À ^ c T

t a : / ^ C K ' G J l f s T T H t J V i Ẽ N

_ P T / f ĩ f

HÀ NÔI - 2004

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ Đ Ầ U L 1

CHƯƠNG 1: C ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THựC TlỄN h ì n h t h à n h CHÍNH SÁCH PHÁT TRIEN k i n h t ế Đ ố i n g o a i 6

1.1 Khái niệm về kinh tế đối ngoại và chính sách phát triển kinh tế đối ng o ại 6

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách kinh tế đối ngoại 18

1.3 Kinh nghiệm hình thành chính sách phát triển kinh tê' đối ngoại ở một số n ư ớ c 26

CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH KINH TÊ ĐỐI NGOẠI Ỏ VIỆT NAM HIÊN N A Y 51

2.1 Điểm lại chính sách kinh tế đối ngoại Việt Nam qua các thời kỳ trước Đổi mới 51

2.2 Chính sách kinh tế đối ngoại trong giai đoạn thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất n ư ớ c 56

2.3 Những đóng góp tích cực trong việc thực thi chính sách kinh tế đối ngoại ở Việt N a m 72

2.4 Phân tích những tổn tại và nguyên nhân của những hạn chế trong việc xây dựng và thực thi chính sách kinh tế đối ngoại 99

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÃN(; CAO HIỆU QUẢ CỦA CHÍNH SÁCH KINH TÊ Đ ố i NGOẠI 108

3.1 Định hướng phát triển chính sách kinh tế đối ngoại Việt n a m 108

3.2 Một sô giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách phát triển kinh tế đối ngoại Việt N a m 119

KKT L U Ậ N 132

IMNH MỤC TÀI LIÊU THAM K H Ả O 134

n h ừ n í ; B à i B á o đ ả c ổ n g b ố 136

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Giai đoạn phát triển hiện nay của nhân loại đánh dấu những bước phát triển nhảy vọt về các mối quan hệ kinh tế sâu rộng giữa các quốc gia Các mỗi liên hệ phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các quốc gia này ngày càng xuất hiện thêm nhiều nhân tố mới Mặc dầu trong quá trình đó vừa có sự hợp tác, vừa có đấu tranh, nhưng đã nổi lên một xu thế tất yếu trong quan hệ quốc tế hiện đại, đó là xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá các nền kinh tế Xu thế đó thể hiện rõ nét nhất trong quá trình lớn mạnh không ngừng của các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực, như WTO, WB, IMF, EU, ASEAN, APEC, AU,

Chính sách kinh tế đối ngoại vừa là một khâu quan trọng của kinh tố đối ngoại của mỗi quốc gia, vừa là một bộ phận hợp thành của chính sách kinh tế đối ngoại, lệ thuộc rất lớn vào các yếu tố chính trị Trong khi đó chính sách phát triển kinh tế đối ngoại càng đi vào chiều sâu càng thây rõ đó là cá một quá trình tham gia vào phân công lao động quốc tế nhằm khai Ihác cỏ hiệu quá các nguồn lực của mỗi quốc gia, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội cua mỗi nước và sự tiến bộ chung của nhân loại

Trong sự nghiệp báo vệ và xây dựng đất nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn luôn coi trọng việc mở rộng quan hệ hợp tác cùng có lợi với các quốc gia, dân tộc trên thế giới, xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế trong từng giai đoạn cách mạng Tuy có trải qua nhiều thăng trầm cùng với sự lớn mạnh về thế và lực của đất nước, nhưng chính sách phát triến kinh té đối ngoại của Việt Nam luôn được phát triển trên cơ sớ những quan điếm nhái quán dưới sự lãnh đạo của Đang Từ năm 1986 đến nay, cùng với cỏtm cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đáng khới xướng, Đárm và Nhà nước la đã đẽ ra chính sách phát triển kinh tế đối ngoại rộng mớ, đa phương hoá đa dạng hoá

Trang 4

PHẦN MỚ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Giai đoạn phát triển hiện nay của nhân loại đánh dấu những bước phát triển nhảy vọt về các mối quan hệ kinh tế sâu rộng giữa các quốc gia Các mỏi liên hệ phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các quốc gia này ngày càng xuất hiện thêm nhiều nhân tố mới, Mặc dầu trong quá trình đó vừa có sự hợp tác, vừa có đấu Iranh, nhưng đã nổi lên một xu thế tất yếu trong quan hệ quốc tế hiện đại, đó là xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá các nền kinh tế Xu thế đó thê hiện rõ nét nhất trong quá trình lớn mạnh không ngừng của các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực, như WTO, WB, IMF, EƯ, ASEAN, APEC, AU,

Chính sách kinh tế đối ngoại vừa là một khâu quan trọng của kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia, vừa là một bộ phận hợp thành của chính sách kinh lê đối ngoại, lệ thuộc rất lớn vào các yếu tố chính trị Trong khi đó chính sách phát triển kinh tế đối ngoại càng đi vào chiều sâu càng thấy rỗ đó là cá một quá trình tham gia vào phân công lao động quốc tế nhằm khai thác có hiệu quá các nguồn lực của mỗi quốc gia, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước và sự tiến bộ chung của nhân loại

Trong sự nghiệp báo vệ và xây dựng đất nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn luôn coi trọng việc mở rộng quan hệ hợp tác cùng có lợi với các quốc gia, dàn tộc trên thế giới, xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế trong từng giai đoạn cách mạng Tuy có trải qua nhiều thãng trầm cùng với sự lớn mạnh về thế và lực của đất nước, nhưng chính sách phát trie'll kinh tố đối ngoại của Việt Nam luôn được phát triển trên cơ sở những quan điếm nhất quán dưới sự lãnh đạo của Đang Từ năm 1986 đến nay, cùns với côn lí cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đáng khới xướng, Đán2 và Nhà nước la đã dê ra chính sách phát Iriển kinh tế đối ngoại rộng 1Ĩ1Ở, đa phươrm hoá, da dạng hoú

Trang 5

quan hệ kinh tế đối ngoại, tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, bình đẳng cùng có lợi, chính sách đó đã phát huy tác đụng rất tích cực trong việc phá

bỏ thế bị bao vây, cấm vận, vươn ra hợp tác làm ăn với các quốc gia trên toàn thế giới, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, hoạt động xuất khẩu ngày càng sôi động, hợp tác chuyển giao công nghệ có nhiều hiệu quả, Các thành tựu đó không những góp phần không nhỏ vào tãng trưởng kinh tế nhanh, cải thiện đời sống của nhân dân, mà còn củng cố vị thế chính trị của Việt Nam trên thế giới

Tuy nhiên, trong việc thực thi sâu rộng và nhất quán chính sách phát triển kinh tế đối ngoại vẫn còn có nhiều hạn chế Một mặt, sức ỳ của lối tư duy

cũ nạng về dựa vào bao cấp, ỷ lại vào sự ban phát của cấp trôn của thời kỳ tập trung quan liêu đang tồn tại trong một số người, nhất là ở các địa phương, các ngành, do đó có lúc, có nơi vẫn còn tình trạng coi việc thực hiện chính sách kinh tế đối ngoại là trách nhiệm của Trung ương, chưa thấy rõ vai trò tạo động lực tăng trưởng mạnh mẽ của kinh tế đối ngoại

Mặt khác, tình trạng sử dụng lãng phí, kém hiệu quả các nguồn lực đang khá phổ biến, điều đó là rất nghiêm trọng khi sử dụng các nguồn ngoại lực, nguy cơ nợ nần chồng chất, nền kinh tế mất khá năng trả nợ dần đến khúng hoảng đang luôn luôn rình rập Bài học của một số nước đang phát Iriển vần còn nóng bỏng Do đó, thu hút vốn đầu tư, đi vay để phát triển mới chí là một khâu khởi đầu của quá trình hợp tác, vấn đề quyết định sự thành bại lại nằm ở khâu sử dụng hiệu quả các nguồn lực ấy

Cuối cùng, tình hình quốc tế ngày càng thể hiện có nhiều biến động và khó lường, có cả thời cơ và thách thức đan xen, VI vậy, việc nghiên cứu chính sách phát triển kinh tế đối ngoại ở Việt Nam'nhằm đưa ra được những kiến giải có sức thuyết phục, có cơ sở khoa học và thực tiễn để vừa xây dựng thành công nền kinh tế độc lập, tự chủ, vừa mở rộng quan hệ quốc lế đế thu hút ngoại lực, phát huy nội lực, chủ động hội nhập thành công với các nên kinh tế khu vực và thế giới là rất cấp thiết Xuất phát từ những iý do đó, lác giá chon

3

Trang 6

nghiên cứu đề tài C hính sách kin h tể đối ngoại Việt N am từ năm 1986 đến

nay.

2 Tinh hình nghiên cứu

Chính sách phát triển kinh tế đối ngoại là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và được thể hiện đầy đủ trong các Văn kiện lớn của Đáng Ngoài ra cũng đã có một số nhà nghiên cứu khai thác dưới nhiều góc độ khác nhau về sự phát triển của kinh tế đối ngoại Việt Nam, như sách “Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam” NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1999; sách Võ Thanh Thu: Kinh tế đối ngoại Việt Nam NXB Thống kê 1997 và nhiều cỏn2 trình nsihiên cứu dã được công bố dưới dạng các bài báo Các công trình hiện có chú yếu tập irung phân tích các quan hệ kinh tế đối ngoại, phần nhiéu đi vào tính chất phương pháp luận của kinh tế đối ngoại Riêng vấn đề về sự hình thành các chính sách phát triển kinh tế đối ngoại chưa dược đi sâu nghiên cứu một cách có hệ Ihống

Do đó, đề tài này đang đặt ra nhiệm vụ nhằm góp phần làm sáng tỏ ihêm chính

sách phát triển kinh tế đối ngoại ớ Việt Nam

3 Mục tiêu đề tài nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hình thành các chính sách phát triển kinh tế đối ngoại qua các thời kỳ

- Phân tích những tác động tích cực của chính sách phát triển kinh tế đối ngoại, vạch ra những hạn chế, nguyên nhân hạn chế và giai pháp nâng cao hiệu quá của chính sách trons bối cánh mới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu Chính sách phát triển kinh tế đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn thực hiện đổi mới toàn diện đất nước, những đóng góp và hạn chế của chính sách và công cụ thực thi chính sạch phát triẽn kinh tố đối ngoại Việt Nam

5 Phưưne pháp nghiên cứu

Trang 7

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Các phương pháp cụ thể sứ dụng: Phán tích, tổng hợp, thống kê, logic, lịch sử,

- Trên cơ sở làm rõ định hướng chính sách phát triển kinh tế đối ngoại

từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiện quả thực thi chính sách kinh tế đối ngoại Việt Nam

7 Kết cấu đề tài

Ngoài phán mớ đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khao, các cóng

đã công bố liên quan đề tài nghiên cứu, để tài kết cấu 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành chính sách phát triển kỉnh tê đôi ngoại.

Chương 2: Chính sách kinh tê đối ngoại Việt Nam hiện nay.

Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả của chính sách kinh tẻ đối ngoại Việt Nam.

Trang 8

CHƯƠNG 1

C ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HÌNH THÀNH CHÍNH

SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TÊ Đ ố i NGOẠI

1.1 Khái niệm vê kinh tế đôi ngoại và chính sách phát triển kinh tế đôi ngoại

Loài người đã xuất hiện trong lịch sử và phát triển liên tục cho đến ngày

nay khởi nguồn cơ bản là từ quá trình lao động sản xuất, do đó có thê khảng

định hoạt động sản xuất là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội loài người Sự

phát triển sản xuất của các quốc gia trong lịch sử đã đưa đến sự hình thành nền

kinh tế quốc dân thống nhất Lực lượng sản xuất càng phát triển, sự phân công

]ao động càng mở rộng thì các hoạt động sản xuất không chí dừng lại Irong

phạm vi quốc gia mà còn vươn ra phạm vi quốc tế, và cuối cùng hình thành

nên một dạng hoạt động mới đó là kinh tế đối ngoại

Kình t ế đổi lỉíỊoại lủ một hệ thốn ọ khó tôm> hợp cúc íỊuon hệ kinh tẽ,

chính trị, x ã hội và văn hoá, mù trung đó một nước tham gia dâu tư, sán xuất

và buôn bán với một hoặc nhiên nước khúc chịu sự chì phôi của tilỉữiu> tlioá

thuận song phương hay đa phương trên cơ sở bình dắng, đôi bên và các bên

đều có ỉợi.

Do vậy, kinh tế đối ngoại cũng cần được đánh giá trong một hệ thống

các hình thức, biện pháp, chính sách của các chú thể râì đa dạng và phonu phú,

đồng thời nó cũng được phát triển từ thấp đến cao Có thế coi những cuộc giao

thương giữa các quốc gia, như Con đườns tơ lụa, sự tiến sang phía Đông của

các thương thuyền châu Ầu từ thế kỷ XV là khởi nguồn cua quá trình phát

triển kinh tố đối ngoại Có đánh giá ràng sự giao thương đẽ trao dổi các san

Trang 9

phẩm giữa các quốc gia và châu lục thậm chí còn xuất hiện từ rất sớm, lừ lúc tiền giấy chưa xuất hiện như là phương tiện thanh toán phổ biến trên thế giới Gần đây một công trình nghiên cứu còn cho răng, các thuyền nhân từ Đông A

đã đến vùng In-ni-phu-ra (In-đô-nê-xia) rồi sang châu Đại Dương từ 84 vạn năm về trước (')

Trong nghiên cứu, kinh tế đối ngoại có thể được mổ xẻ dưới nhiểu lát cắt, nhiều góc độ khác nhau tuỳ theo cách tiếp cận và mục đích nghiên cứu, chẳng hạn:

Xét từ góc độ đầu tư, kinh tế đối ngoại là một hoạt động đầu tư mà Irong

đó các bên có quốc tịch khác nhau, cùng nhau tiến hành các hoại động kinh doanh theo một chương trình đã được thoả thuận và được hoạch định sán trong một khoảng thời gian nhất định nhằm đem lại lợi ích cho tất cả các bên (2) Trong đó có những tính chất cơ bản, như:

- Tính đa quốc tịch của các bên tham gia; tính đa ngôn ngữ của các bcn tham gia;

- Chịu sự chi phối của đồng thời nhiều hệ thống pháp luật - pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia;

- Phân chia lợi ích theo nguyên tắc thoá thuận;

- Thường có gán nhiều đến quá trình chuyến giao công nghệ;

- Chứa đựng nhiều yếu tố bắt định, rủi ro lớn do chịu ánh hướng của các thê chế chính trị khác nhau;

- Phải tính đến yếu tố văn hoá, tập quán, tập tực và luật tục;

1 X em Báo Nhàn Dán hàng tháng, sò 12/1999

; X em Ciiáo trình quán trị dự án đầu tư quốc tê và doanh nghiệp có vòn đáu tư nước ngoiii CiS.TS Tó Xu,UI Dân chù biên Nxb Thòng kẽ Hà Nội - 1998 ir 5

7

Trang 10

- Và cuối cùng là hình thành những pháp nhân mới có yếu tố nước

ngoài.

Xét từ góc độ sán xuất và tiêu thụ hàng lìtìá, kinh tế đối ngoại là một quá

trình phát triển làm cho nền kinh tế một nước thoát khỏi tính chất tự cung, tự cấp, khép kín trong khuôn khổ của một quốc gia riêng lẻ để mở rộng giao lưu buôn bán với các quốc gia khác Như c Mác và Ph Ảng-ghen đã khẳng định :

"Đại công nghiệp đã tạo ra thị trường thế giới " 3 Quá trình này cũng đã và đang phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và cường độ Chứng tỏ đây là một xu thế tất yếu, mà động lực và là tiền đề của nó là sự phất triển va về tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất

Vậy, nội hàm của khái niệm kinh tế đối ngoại là những hoạt động sống của con người trong những loại hình khác nhau của các mối quan hộ kinh tố (theo nghĩa rộng) có liên quan ít nhất hai quốc gia với nhau Các mối quan hệ

đó phát triển từ thấp đến cao xuất phát từ yêu cầu phát triến của lực lượng sán xuất, tính chất xã hội hoá ngày càng mang tính toàn cầu, đòi hỏi một nén kinh

tế của một quốc gia muốn phát triển hơn nữa để phát huy cao độ những lợi thế của mình thì phải mở cửa ra bên ngoài, phát triển kinh tế đối ngoại Sư lớn mạnh cả về quy mô và trình độ của kinh tế đối ngoại của tuyệt đại đa số các quốc gia trên thế giới hiện nay là quá trình phát triển có tính quy luật khách quan chung của nhân loại

Tuy vậy, quá trình đó, cũng như các thành tựu của khoa học, kỹ thuậl vù công nghệ, luôn chịu ảnh hưởng mạnh của các thế chế chính trị Bên cạnh những cái chung, thường đã trở Ihành công ước quốc tế, vé kinh tế đối ngoại hay cụ thế hơn nữa là trong đối xử quốc gia và quốc tế trên lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư, thì mỗi quốc gia đều lựa chọn cho mình những hệ chính

sách riêng - chính sách phát triển kinh t ế đối ni>oạị.

Trang 11

phải lúc nào cũng diễn ra như những ý muốn chủ quan đặt ra, thậm chí cịn cĩ tác dụng ngược lại với ý muốn, nếu nước bị cấm vận cĩ nhiều yếu tố cĩ tác dụng thúc đẩy sự phát triển kinh tế của nước cấm vận (điều này đả từng xẩy ra trong lịch sử nước Anh thời kỳ tiến hành cơng nghiệp hố) Hay như chính sách bảo hộ, một mặt nĩ cĩ tác dụng trong ngắn hạn hoặc trung hạn hỗ trợ cho mặt hàng hoặc ngành được bảo hộ, nhưng về lâu dài là mọi sự bao hộ đều gãy hiệu ứng trì trệ trong áp dụng thời các thành tựu mới về khoa học, kỹ tluiạt và cơng nghệ, và rút cục sẽ dẫn đến đình đốn sản xuất, lạc hậu dán về khoa học,

kỹ thuật và cơng nghệ, và cuối cùng là thua trong cạnh tranh thị trường

Nĩi như vậy khồng cĩ nghĩa là mọi sự mở cửa đều đem lại những yếu tố tích cực, mà khơng chứa đựng những thách thức to lớn Nếu hình dung mớ cửa làm ăn với bên ngồi giống như một cuộc chạy đua, trong đĩ vừa chạy, vừa học để đuổi kịp và vượt các nước, dành phần thắng trong cạnh Iranh, thì vãn đề

là ớ chỗ từng bước chuẩn bị tốt cho các "mơn" thi đế bước ra "đấu Irường" Nhưng điều đĩ cũng khơng hẳn là chắc thắng mới tham gia thi đáu, khơng ai, khơng quốc gia nào cĩ được điều chắc chắn đĩ cá Phải dũng cảm chap nhận

cĩ những trận đấu bị thua, để rồi cĩ điều kiện để củng cố lực lượng cho chiến thắng ớ các trận khác

Lơ ghích của lợi thế so sánh trong kinh tế đối ngoại hồn tồn cho phép các quốc gia, dân tộc cĩ mức độ văn minh và trình độ phát triển rất khác xã nhau cĩ thể cùng kiếm lợi về mình trong quan hệ kinh tế quốc tế (hình thành cái gọi là nguyên tắc win - win trong quan hệ kinh tế và thương mại quốc le) Cộng hó dân chủ nhân dân Lào là nước cịn nhiều lạc hậu vé Hình độ kinh tố

và khoa học, kỹ thuật, cơng nghệ, nhưng cũng chính Lào đã tạo lập được thị trường xuất kháu khá ổn định vé mặt hàng vái và các sán phẩm từ vái ihổ cam

là một bàng chứng về lơ ghích đĩ Nước cĩ sức mạnh về kinh tế như Mỹ mà vần phái dùng đến nhiều thủ đoạn thương mại khỏne cơng bans dế háo hộ sán

10

Trang 12

xuất trong nước, như đối với các mặt hàng nống sán nói chung, cá da trơn (Catfish), tôm như trong các vụ kiện vừa mới xẩy ra gần đây nói riêng, hay như các cuộc chiến tranh thương mại về chuối, về thịt gà, sắt thép trước đây Chứng tỏ nước giàu đâu phải cái gì cũng mạnh!

Lịch sử phát triển của các mối quan hệ kinh tế đối ngoại ban đầu thường thể hiện trong giai đoạn lưu thông sản phẩm, vươn ra bán các sán pháin mình sản xuất được hoặc mua các sản phẩm minh chưa có khả năng sán xuất, nhưng dần dần phát triển sang các mối quan hệ phân công lao động và hợp tác quốc

tế trong đầu tư, sản xuất và trao đổi cồng nghệ, trong giao thông vận tái, thông tin liên lạc, phân công lao động xã hội và nhiều hoạt động khác, tạo ra một tổng thể các quan hệ kinh tế đối ngoại rộng lớn trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội Linh kiện để lắp ráp máy bay của hãng Boing đang được sản xuất tại các công ty, các hãng chế tác của trên 30 quốc gia khác nhau Hãng xe Ford đặt cơ sở sản xuất tại Báng - cốc Thúi Lan và trốn

305 bán sản phẩm là các linh kiện, chi tiết lại nhập của Nhặt Bán Mỗi nước đều tham gia bằng những lợi thế riêng có của nước đó đã tạo nên nang suất và chất lượng ngày một cao trong quá trình chuyên môn hoá vù phân công lao động quốc tế

Dó đó, chính sách phát triển kinh tế đối ngoại của các quốc gia cũng ngày càng rộng mở về phạm vi tác động, chi phối, cũng như tính chất chi phối, hình thành nên những thoả thuận, những hiệp định, hiệp ước và công ước quốc

tế, luật quốc tế (kế cả song phương và đa phương) Các mối quan hệ kinh tế quốc tế về vật chất và tài chính, các mối quan hệ kinh tế và khoa học công nghệ được hình thành giữa các quốc gia với nhau, giữa các quốc gia với các tổ chức kinh tế quốc tế càng phát triển càng đưa đến sự hình thành thị Irườnu the giới thống nhất và nền kinh tế thế giới mang tính toàn cáu Với khoánÍZ h ơ n

200 quốc gia và vùng lãnh thổ cùng hàng chục ngàn tổ chức kinh te quoc ló,

Trang 13

các quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng đa dạng và phong phú, làm cho dời sống kinh tế thế giới, đến lượt mình, ngày càng có ảnh hướng mạnh mẽ đôi với

sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, đó là chưa nói đến mức độ nó còn có thể chi phối mạnh mẽ các nền kinh tế, cũng như luật lệ của các quốc gia

Các mối quan hệ kinh tế đối ngoại là một bộ phận của các mối quan hệ kinh tế quốc tế, một quốc gia nhất định là chủ thể trong mối quan hệ với các quốc gia khác và với các tổ chức kinh tế quốc tế Do đó, mối quan hệ kinh tế đối ngoại trước hết là các quan hệ thoả thuận, tự nguyện giữa các quốc gia dộc tôn, không có một quyền lực chính trị nào ép buộc Các quan hệ này chi có thò’ phát triển trên cơ sở giữ vững chủ quyền, các bên cùng có lợi, thông qua các hợp đồng kinh tế với sự chấp nhận của các bên

Tuy vậy, trong quá trình đàm phát để đạt tới mục tiêu đó không íl các quốc gia, nhất là các quốc gia yếu về quân sự, nghèo về tiềm lực kinh tế, đã phủi đi tới nhiều nhượng bộ nhất định, thậm chí chấp nhận nhiều thiệt thòi đc

có được cái họ cần thiết hơn, thực hiện nguyên lý tối ưu hoá các quyết định Chẳng hạn, chấp nhận các điều kiện chính trị ngặt nghèo để được vay ticn của các tổ chức tài chính quốc tế, như IMF, WB, ADB , trong khi vẫn biết rằng đằng sau các điều kiện đó là sự áp đặt chính sách của các siêu cường, có sự đóng góp cổ phần lớn trong các tổ chức tài chính quốc tế, điên hình là Mỹ Hay như trong các vòng đàm phán của WTO, các nước đang phát trie'll buộc phái chấp nhận tự do thương mại với các nước phát triển trong xu hướng cỏ [ợi cho các nước giàu, thiệt thòi cho các nước nghèo Điển hình là việc sớm dạt tới

tự do hoá thương mại đối với các mặt hàng công nghiệp, trong cuộc đấu Iranh

đế cỏ một mồi trường tự do hơn, thông thoáng hơn, xoá bỏ bảo hộ đối với các mặt hàng nông sản đang còn lắm gian nan vất vá Tr.ong khi đó, các mật hàng nông san chiếm trên dưới 70% kim ngạch xuất khẩu cúa cúc nước nghèo

12

Trang 14

Thực tế cũng đã chứng minh rằng, có thê phát triển các mối quan hệ kinh tế đối ngoại giữa các quốc gia có kết cấu kinh tế- xã hội khác nhau nếu biết đáp ứng và khai thác các nhu cầu lợi ích chính đáng cúa nhau, dam bao sự cân bằng lợi ích và giữ vững chủ quyển của các bên.

Giữa các quốc gia có sự khác nhau về điều kiện sán xuất, nguồn lài nguyên sẫn có, giá cả các nguồn lực lao động, tài chính cũng rất khác nhau, nên giá thành sản phẩm khác nhau Sự trao đổi mậu dịch quốc tế phái dựa trên mức giá quốc tế của sản phẩm, tuân theo yêu cầu của quy luật giá trị-giá cả thị trường Điều đó dẫn đến một trạng thái phổ biến trong các quan hệ kinh tế đối ngoại hiện nay, đó là vừa hợp tác, vừa cạnh tranh, hợp tác càng sâu sác thì cạnh tranh cũng càng gay gắt, và ngược lại, cạnh tranh càng gay gãi đòi hỏi các nước phải tích cực hợp tác sâu hơn, nhất là về mặl khoa học, kỷ thuật và công nghệ Chẳng hạn như, trong gần 4 - 5 thập niên lại đây, các nước cóng nghiệp phát triển ráo riết đầu tư vào nhau với một lượng vốn đấu tư nước ngoài chiếm trẽn dưới 70% tổng lượng vốn đầu tư ra nước ngoài của các nước này,

mà mục đích sâu xa của xu hướng này là để tranh thú kỹ thuật và công nghệ của nhau, tránh sự lụt hậu về công nghệ, điều đó khó có thế đạt được khi tập trung đẩu tư cho các nước đang phát triển có đội ngũ công nhân ít được đào tạo, trình độ tay nghề thấp

Mộl bằng chứng nữa là sự phân tích dựa vào lọi thứ' so sánh ilộnỊ> dã

chứng tỏ các lợi thế truyền thống về lao động ré và sẩn cỏ, lài nguyên lhiC'11

nhiên dổi dào đang lùi dần về vị trí thứ yếu, thay vào đó là yếu lố khoa học, kỹ thuật và công nghệ, trình độ sáng tạo cúa nguồn nhân lực cíitm như của nen kinh tế đang dần dần lên ngôi vị cao nhát trong cạnh tranh quốc tế

Bơi vậy, phái đánh giá đúng lợi thế so sánh cúa đất nước, nám vững xu Ihế vận dộng của thời đại, cũng như mối quan hệ cung - cẩu khi tham gia vào

Trang 15

thị trường thế giới, "biết người, biết ta", tận dụng thời cơ, khắc phục nguy cơ,

có như vậy mới có thể phát triển kinh tế đối ngoại một cách có hiệu quả nhất

Đối với sự phát triển của nền kinh tế mỗi nước thì quan hệ kinh tế (lối ngoại đã thể hiện vai trò là một bộ phận không thể thiếu được, là một đòn bẩy quan trọng, một động lực mạnh mẽ cho sự cất cánh, một cầu nối giữa kinh lố trong nước với nền kinh tế thế giới Kinh tế đối ngoại đã và đang trở thành một

bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân do đó các mối quan hệ kinh tê đối ngoại chịu sự tác động, quán lý rất chặt chẽ của mỗi quốc gia, đổng thời cũng chịu sự tác động qua lại của các hệ thống quản lý của các nước khác nhau với các chính sách, luật pháp, thông lệ, phong tục tập quán riêng của từng quốc gia, dân tộc Điều này đòi hỏi trong hợp tác quốc tế, một mặt, phải thông hiểu các vấn đề có liên quan đến hệ thông quản lý của các quốc gia là đối tượng hợp tác, là bạn hàng Mặt khác, phải tiến tới xây dựng các quy định chung có tính chất quốc tế trong quá trình trao đổi mậu dịch, hợp tác cláu lư, dế điều chỉnh hành vi, lợi ích và trách nhiệm giữa các bên với nhau

Trong các quan hệ kinh tế đối ngoại có rất nhiéu nước tham gia, đo (ló

cũng có nhiều loại tiền tệ khác nhau gặp gỡ và trao đổi Điều dó đòi hỏi cán cỏ

yếu tố đặc biệt đê liên hệ giữa các loại tiền tệ và có các hình thức tổ chức đặc biệt đê tổ chức giao lưu tiền tệ và thanh toán quốc tế Trong quan hệ kinh tế quốc tế, nhất là trong vay nợ, cần phải chú ý đến khả năng trá nợ và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn vay, trong nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài cần quan tâm đến môi sinh, môi trường và cúc vấn đé xã hội đẽ dám háo sự phát triển nhanh và bền vững

Các khoảng cách về không gian đóng vai trò quan Irọng Irong việc xây dựng các mối quan hệ kinh tế dối ngoại, vì chúng tác động đốn chi phí và thời gian vận tái, cũng như túc động đến quá trình tham gia phán cóng lao dộng quốc tế

14

Trang 16

Trong những thập niên gần đây xuất hiện khái niệm hội nlìập

(integration) kinh tế quốc tế v ề mặt từ ngữ integration - là hội nhập còn có hàm nghĩa như là một quá trình làm cho trình độ phát triển của các nước tham gia dần dần xích gần lại với nhau trong khi vẫn bảo đảm tốc độ phát triển nhanh của những nước tiên tiến Bản thân ngôn từ integration cũng có mội ý nghĩa là sự hợp lại thành một hệ thống thống nhất, sự dành quyền bình đáng cho một dân tộc Nội dung này rất quan trọng, vì nếu vậy chứng ló hội nhập còn có nghĩa sâu xa là tiến kịp các nước khác, thì như vậy phát triển kinh tế đối ngoại và chính sách phát triển kinh tế đối ngoại cũng cần phái lưu ý đèn yếu tố đó, làm cho chúng có thêm những nội dung mới - phát triển kinh tê đối ngoại là để mở cửa, hội nhập, tiến kịp với các nước tiên tiến trên thế giới Ngoài ra, hai khái niệm toàn cầu hoá và hội nhập đang có ý kiến cho ràng về thực chất là đồng nhất giống như "đo con cá sấu từ đầu đến đuôi hay từ đuôi đến đầu" Toàn cẩu hoá bao hàm những nội dung của một quá trình phái triển khách quan được quyết định bởi tính chất và trình độ của lực lượng sán xuất mang tính xã hội hoá cao, toàn cầu Hội nhập là quá trình mà một quốc gia, một khu vực hay vùng lãnh thổ chủ động tham gia vào quá trình loàn cáu hoá

Các mối quan hệ kinh tế đối ngoại luôn luôn gắn liền với các quan hệ chính trị dối ngoại Đây là các mối quan hệ chính trị cụ ihc giữa lừng nước phán ánh lợi ích cơ bản lâu dài của mỗi nước Cần phải biết sử dụng các mối quan hệ chính trị - đối ngoại cho việc phát triển các mối quan hệ kinh tế đối ngoại Ngược lại, các mối quan hệ kinh tế đối ngoại có thể đi trước mớ đường cho việc thiết lập các mối quan hệ chính trị đối ngoại Trong sự phát triển kinh

tế thế giới các nước cần phải đảm bảo được nguyên tắc độc lập, tự chủ, ổn định cho sự phát triển bền vững

Mặc dầu sự phát triển của nền kinh tế thế iĩiới luôn da dạng và phức lạp, nhưng các mối quan hệ kinh tế đối ngoại cũng có những những quy iuặl vạn

Trang 17

động riêng với yêu cầu ngày càng nghiêm ngặt, bởi vậy, chúng ta cần phái tuân theo quy luật khách quan của sự phát triển Mọi sự áp đặt chủ quan sẽ làm cho các mối quan hệ kinh tế đối ngoại bị méo mó, chủ quan, duy ý chí thường gây hậu quả xấu và không đem lại hiệu quả kinh tế, thương mại như mong muốn.

Xét lại toàn bộ quá trình lịch sử ra đời và phát triển của Nhà nước Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sau ngày Cách mạng Tháng tám thành cống, Hổ Chí Minh cũng đã tập trung suy nghĩ nhiều đến việc mớ rộng quan

hệ quốc tế nhằm đưa đất nước Việt Nam từ nghèo nàn, lạc hậu vươn lên sánh vai cùng các cường quốc năm châu Việc đầu tiên đã được vị Chủ tịch đầu tiên của một nước mới dành được độc lập, vừa mới thoát khỏi cánh hàng trăm năm

bị dô hộ, bị mất tên trcn bản đổ thế giới, tiến hành là mở rộng quan hệ quốc lố,

là cử cán bộ học tập khoa học- kỹ Ihuật tiên tiến của nước ngoài (cụ thế lúc đỏ

là gửi sang Mỹ) Việc làm này có một ý nghĩa rất sâu sắc, theo một số đánh giá (4), Hổ Chí Minh đã nhằm hai mục đích chính: vừa thể hiện thúi độ là Việt Nam mong muốn có quan hệ hữu nghị với các nước không phân biệt chế độ chính trị, vừa thể hiện tinh thần thực sự muốn đưa khoa học, kỹ thuật vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước để thúc đẩy nhanh sự phát tricn kinh lẽ của Việt Nam hiện (lúc đó) đang rất lạc hậu Trong bối cánh Chiến iranh thê giới thứ hai vừa kết thúc và trong điều kiện bộn bề công việc của một dãi nước mới giành được độc lập, ý tưởng của Người thế hiện tư duy có tấm nhìn xa trông rộng của một vị lãnh tụ thiên tài

Những tư tưởng chiến lược về mở cửa kinh tế, phát triển mạnh mẽ kinh

tế dối ngoại đã được Ngươi đề cập đáy đủ và rõ ràng nhất trong Bức thư gửi cho Liên hợp quốc tháng 12/1946 Trong bức thư đó có đoạn Người viết:

4 Xem : N g u vẻn H u y Oáiih T i í H ồ C h i M l II l ì VI' k i l l l i l e l i a ) 11' ^t ' t i i l i m h i u 11^1‘I I I I I I ( i l l I i l l I II l u i \ II' >1 l i l t

Tạp ch í C ông sân sô 19/tháng 7 nám 200?

16

Trang 18

"Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẩn sàng thực thi chính sách

mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực

a Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu lư cúa các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình,

b Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sú giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế

c Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc

tế dưới sự lãnh đạo của Liên Hợp Quốc

d Nước Việt Nam sấn sàng ký kết với lực lượng hải quân, lục quân trong khuôn khổ của Liên hợp quốc những hiệp định an ninh đặc biệt và những hiệp ước liên quan đến việc sử dụng một vài căn cứ hái quân và không

Những quan điểm trên đây về độc lập và phát triển kinh tố đối ngoại của

Hổ Chí Minh đã đạt tầm hiện đại, xuyên thế kỷ XX Tứ sau cliiến tranli th ế

giới thứ hai, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đã được hình thành, phong

trào giải phóng dân tộc đã dấy lên khắp nơi Nhưng thế giới đã bị chia thành hai phe - phe xã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xồ và phe tư bản chủ nghĩa đứng đầu là Mỹ Mặc dầu tình hình thế giới diễn biến phức tạp, diễn ra cuộc chiến tranh lạnh, Hồ Chí Minh vẫn cố gắng tìm cách mở rộng quan hệ với các nước để vừa tận dụng sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước bạn Irong phe xã hội chủ nghĩa cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bác, đổng thời cũng tranh ihủ sự ủng hộ của toàn bộ nhân loại đối với cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dãn Việt Nam đánh đuổi sự xâm lược của Đế quốc Mỹ đe xây dựng mặl Irận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam Vì vậy, cách xứ lý cúa Hồ Chí Minh có nhiều nét đặc thù, độc đáo riêng có của Việt Nam lúc bấy giời với

' xem: Hồ Chí Minh T o à n rập, sđd, 14, tr 4 7 0

quân"(s)

Trang 19

từng đối tác tuỳ theo vị trí địa lý, quan hệ chính trị, lịch sử truyền thống giữa

Việt Nam với các đối tác, để từ đó vạch ra chính sách đối ngoại làm cơ sở cho

việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại

Ngày nay, ôn lại những điều này càng khẳng định chắc chắn thêm một

điều rằng, Hồ Chí Minh luôn mong muốn Việt Nam được đứng trong lòng bầu

bạn, nhờ mối quan hệ, giúp đỡ của bên ngoài mà kinh tế, văn hoá Việt Nam cỏ

thê nhanh chóng được nâng cao Như vậy, mối quan hệ biện chứng giữa mớ rộng kinh tế đối ngoại với kháng chiến và kiến quốc không những không hổ

chứa đựng mâu thuẩn, mà còn tạo điều kiện cho nhau, hỗ trợ lẫn nhau vì mục

tiêu cao cả là độc lập dân tộc và dân giàu, nước mạnh, xã hội công bàng, dân

chủ, văn minh

1.2 Các nhân tô ánh hưởng đến chính sách kinh tế đối ngoại

ỉ 2.1 Nhân tố chính trị: Trong mối quan hộ biện chứng giữa chính sách ách kinh tế đối ngoại nói riêng với chính sách đối ngoại của một quốc gia nói

chung cũng có nhiều biểu hiện đa dạng, muôn hình muôn ve Một quốc gia có

duy trì được ổn định chính trị đê cùng hợp tác kinh tế binh đảng với các dán

tộc khác, các quốc gia khác trên thế giới hay không, vai trò quyết định lại nằm

ớ yếu tố chính trị, nó thể hiện ở chính sách đối ngoại quốc gia, ở mối quan hộ

biện chứng giữa chính sách đối nội và đối ngoại của một quốc gia

Sau khi đất nước hoàn toàn được thống nhất năm 1975, Đế quốc Mỹ vẫn

tiếp tục duy trì chính sách cấm vận kinh tế hòng trá thù, làm suy yếu nước ta

trong phát triển kinh tế Hiện nay nước Cộng hoà Cu Ba cũng đang trong tlìế bị

bao vậy cấm vận của Mỹ như Việt Nam đã từng bị trước đây Những nước lớn thường sử dụng đòn trừng phạt kinh tế đối với các nước bé và yếu chính là những biêu hiện cua sự chi phối mạnh cúa chế độ chính trị trong chính sách

18

Trang 20

đối ngoại và các chính sách kinh tếđối ngoại Các nước nhỏ và yếu, không còn

cách nào khác, phải tạo cho minh một thế khéo léo vận dụng các quan hệ đối

ngoại nói chung và kinh tế đối ngoại nói riêng để vừa tranh thủ được tối đa

những mặt lợi, cố gắng hạn chế tới mức tối thiểu những can thiệp, những áp

đặt của các nước lớn hơn, nhất là của các cường quốc! về kinh tế và quân sự

1.2.2 Vai trồ ảnh hưởng của cá nhân các vị lãnh tụ, các vị dứniị chỉ ỉ ị ĩần các quốc gia: Trong vấn đề quan hệ giữa chính sách đỏi nội và đối ngoại, giữa

đối ngoại với chính sách kinh tế đối ngoại, vai trò hay ảnh hướng của cá nhân,

lãnh tụ của một quốc gia cũng luôn có ý nghĩa vô cùng lớn Về vấn đề này

phải nói đến nhân cách Hồ Chí Minh trong các giai đoạn cách mạng Việt

Nam Lúc Cách mạng Tháng tám mới thành công, Nước Việt Nam dân chủ

cộng hoà mới ra đời, còn rất non trẻ có tới bốn đạo quân thù địch, đó là Nhật,

Pháp, Tưởng và kẻ thù phong kiến trong nước Muốn giữ vững được thành quá

bước đầu của cuộc cách mạng, nhiệm vụ hàng đầu là phái duy trì hoà bình,

củng cố lực lượng, Hồ Chí Minh đã khôn khéo hoà hoãn với Tướng, chung

sống và kiềm chế lực lượng này, khéo léo lợi dụng máu thuẩn nội bộ của ke thù

để làm lợi cho cách mạng, có điều kiện củng cố lực lượng cách mạng

Sau Hiệp định sơ bộ, ngày 6 - 3 - 1946, giặc Pháp vào miền Bác thay thê

quân Tưởng, Hồ Chí Minh lại tiếp tục khéo léo kết hợp cương với nhu đô kéo

dài hoà hoãn củng cố lực lượng cách mạng Một yêu cầu sống còn đối với

nước Việt Nam mới dành được độc lập là mở rộng đối ngoại nhanh chóng để

chọc thủng vòng vây tứ phía của đế quốc và phong kiến, đưa Việt Nam đến với

thế giới bên ngoài Quan hệ đối ngoại của Việt Nam lúc đó đã vượt dày Trường

Sơn đến với Thái Lan, Miến Điện, Ẩn Độ, năm 1950 lập quan hệ ngoại giao

với Trung Quốc (nước mới tuyên bố độc lặp có một năm), với Liên Xô va với

các nước dân chủ nhân dân khác

Trang 21

Đối với sự nghiệp cách mạng của Việt Nam nói chung, chính sách đối ngoại nói riêng, Lãnh tụ Hồ Chí Minh đóng vai trò rất quan trọng Người tin đặt nền móng cho nền độc lập dân tộc, đồng thời nền độc lập mới ấy đã khới đầu cho một nền ngoại giao cách mạng, nền ngoại giao nhân dân.

Hồ Chí Minh là một trong số không nhiều những lãnh tụ cách mạng đã bôn ba nhiều nước trên khắp thế giới trước khi tìm ra con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc Việt Nam Bởi vậy, trong tư tướng của Người vấn đề mở cửa, hội nhập, nhìn thấy rõ vai trò của việc phát triển kinh tế đối ngoại đối với cuộc kháng chiến và kiến quốc đã sớm hình thành

Ngay từ năm 1919, khi thực dân Pháp cố kết với phát xít Nhật để cùng khai thác Đông Dương, Hồ Chí Minh đả có một nhận định rằng, xét vé nguyên tắc, tiến bộ chung phụ thuộc vào việc phát triển chủ nghĩa quốc lế và văn minh chỉ có lợi khi các quan hệ quốc tế được mở rộng và tăng cường Trên quan điểm đó, một mặt, Người tố cáo, phê phán bọn thực dân Pháp nhân nhượng cho bọn tư bản Nhật vào Đông Dương, làm người “dân bán xứ sẽ sống ngày càng khốn đốn hơn”, mặt khác, Người vẫn cho ràng: “ là phi lý nếu nghĩ rằng hai dân tộc láng giềng như dân tộc An Nam và dân tộc Nhật Bán lại có Ihế cứ tồn tại biệt lập đối với nhau”(6)

Tư tưởng Hổ Chí Minh luôn khuyến khích các dân tộc phái mớ cứa giao lưu, quan hệ bình đẳng, cùng có lợi và kịch liệt phê phán tư tướng hiệt lập giữa dân tộc này với dân tộc khác Cũng với tinh thần ây, trong một lán trá lời phỏng vấn nhà báo Mỹ, Oan-tơ Bờ-rit, Hồ Chí Minh khẳng định: “ Một khi dã độc lập, Việt Nam sẽ đứng với tất cá các bầu bạn”(7), hoặc khi trả lời nhà báo

Mỹ Stan-dơ-lây Ha-ri-son, Hồ Chí Minh đã nói: “Việt Nam sẽ giao dịch với tất

cả các nước nào trên thế giới muốn giao dịch với Việt Nam một cách thật

r’ Hổ Chí Minh, T o á n tập. N xb Chính trị quốc gia, Hà Nội : l lN x |9 tr 10

7 Hổ Chí Minh Toàn tập. N xb Chính trị quoc gia, Hà Nội : 1995 n rr >76

20

Trang 22

thà”(8) Khi ý chí của một lãnh tụ thiên tài đã trở thành ý chí chung của cá dàn

tộc, thì dân tộc đó sẽ kết hợp rất hài hoà và uyên chuyển giữa sức mạnh dãn

tộc với sức mạnh thời đại

ỉ 2.3 Sự khúc biệt vê các điều kiện tự nhiên: Trên giác độ của một quốc lốc gia, các mối quan hộ kinh tế quốc tế của quốc gia đó với các quốc gia khác

nhau và với các tổ chức kinh tế quốc tế được gọi là mối quan hệ kinh tế đối

ngoại Các mối quan hệ kinh tế đối ngoại của một quốc gia ban đầu xuất hiện

trên cơ sở sự khác biệt về điều kiện tự nhiên là chủ yếu Họ cung cấp cho nhau

những nguyên liệu, những sản phẩm đặc thù do các điều kiện về khoáng sán

đất đai, khí hậu mang lại

Một phần sự khác nhau này phản ánh trữ lượng tài nguyên của các nước,

một nước có thế may mán có được nguồn dầu mỏ, còn nước khác lại cỏ thổ

nhiều đấl dai mầu mỡ Hoặc các nước có nhiều núi và hổ dập thì có thê sán

xuất được nhiều điện để bán cho nước láng giềng, trong khi một nước khác có

cảng sâu lại có thể trở thành một trung tâm vận chuyển bằng tầu biến Ví dụ,

cà phê có nhiều điều kiện tự nhiên và đất đai thuận lợi đê phát triển nhiều và

có chất lượng ngon ở Braxin, Việt Nam, In-đô-nê-xia nhưng lại khống thể

phát triển được ở Pháp, nên 2 nước sẽ có lợi khi thiết lập các mối quan hệ

thương mại trong buôn bán cà phê

Nhu cẩu của con người là vô tận trong khi tiềm lực kinh lé' của mỗi nước

là cổ hạn, điểu kiện tự nhiên khác nhau nên nếu không phát triẽn quan hệ kinh

tê đối ngoại thì không thể đáp ứng nhu cầu ngày càng phái triển và tia dạng

của người dân được Sự phát triển của các hoạt động kinh tế dối ngoại cùa một

K Hổ Chí Minh T o à n rập sđđ I 5 tr 578

Trang 23

nuớc đã đưa kinh tế đối ngoại trở thành một lĩnh vực quan trọng của nền kinh

tế quốc dân, một thực thể khách quan của nền kinh tế

1.2.4 Sự phủi triển không đểu vé lực lượnỵ sán xuất: Theo c Mác, các

xã hội khác nhau không phải ở chỗ sản xuất ra cái gì, mà điổu quan trọng !à

sản xuất bằng cái gì Như vậy, nhận biết được sự phát triển của xã hội, nhận

biết được sự phát triển của con người, người ta có thể dựa vào việc đánh giá

trình độ của công cụ lao động Công cụ lao động do con người sáng tạo ra nên

nó gắn liền với trình độ lao động của con người, gắn liền với trình độ phát triển

của khoa học, kỹ thuật và công nghệ

Như đã phân tích ở trên, các mối quan hệ kinh tế quốc dân ban đầu dựa

trên sự khác biệt vể điều kiện tự nhiên, song do sự phát tricn không đcu của lực

lượng s ả n xuất đ ã l à m n ả y sinh những khác biệt mới VC Irình đ ộ c ô n g n g h ệ và

kỹ thuật, sự chênh lệc về năng suất lao động và giá thành sán phám dã làm

xuất hiện lợi thế mới của mỗi quốc gia Điều này cho phép và đòi hỏi mồi

quốc gia phái phái huy triệt đê lợi thế so sánh của mình trong quan hệ kinh tẽ

quốc tế Phai sản xuất ra nhiều hàng hoá có chất lượng cao và giá Ihành hạ đế

trao đổi lấy những hàng hoá khác mà bán thân không thê sán xuất được hoặc

sán xuất với giá thành cao hơn, chất lượng lại kém hơn

Nhật Bản hầu như không có tài nguyên thiên nhiên phong phú như nhiéu

quốc gia đang phát khác, nhưng nhờ có chính sách phát Iriển thích hợp, khai

thác triệt để lợi thế so sánh, nên trong vòng vài ba chục năm sau kết thúc

Chiên tranh thế giới lần thứ hai đã vượt lên thành cường quốc vé kinh té, mà

chủ yếu dựa vào nhập kháu nguyên, nhiên vật liệu dế chế tác xuál khau Mãng

General Elcclric hay IBM có ihế tự sán xuất đẩu video ớ nước Mỷ nêu họ

muôn, nhưng họ không thê sản xuất chúng đủ rẻ đến mức có ihế cạnh iranh với

Trang 24

Nhạt Bán như hãng Sony Vì vậy, Mỹ nhập khẩu toàn bộ đầu video trong khi

đó hãng máy bay Boeing của Mỹ lại chiếm lĩnh thị trường thế giới Ngay bán

thân mỗi chiếc máy bay của hãng Boeing cũng đã bao gồm linh kiện được sán

xuất tại mấy chục quốc gia khác nhau

ỉ 2.5 Khai thác lợi th ế so sánh trong kinh tê dôi mịoạì: Xu hướng này ày ngày càng trở thành yếu tố chi phối động thái phát triển cúa các quan hệ kinh

tế quốc tế và có ý nghĩa đặc biệt đối với các nước chậm và dang phát triển Nỏ

chí ra rằng đối với những nước này đa số là nước đông dàn, nhiều lao động

nhưng nghèo vốn, nên trong giai đoạn đầu công nghiệp hoá đất nước cần phai

tập Irung sản xuất những sản phẩm sử dụng nhiều lao động phù hợp với hoan

cánh đất nước Trong trường hợp này, lao động rẻ và dồi dào trở thành một

trong những lợi thế so sánh của các nước nghèo Hay ngay như nước Anh cũng

có một lợi thế so sánh trong các quan hệ kinh tế đối ngoại, dó là liếng Anh

Tuy nhiên, trong việc đánh giá cái gì là lợi thế so sánh Irong các quan hệ

kinh tế đối ngoại cũng phái có quan niệm động, vì sự phái Iriến liên tục của lực

lượng sản xuất, năng suất lao động tăng lên khống ngừng, sự xuất hiện của các

vật liệu mới nên cái mới ra đời bao giờ cũng có tác dụng bổ trợ, thay thố cái

cũ Chẳng hạn, ngày nay cùng với sự xuất hiện của kinh tế tri thức, khoa học,

kỹ thuật và công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thì vai trò

của tài nguyên thiên nhiên, của lao động rẻ đang mất dẩn vị trí của chúng với

tính chất là lợi thế so sánh Bởi vậy, lao động có trình độ cao, tính chất và trình

độ sáng tạo của nền kinh tế đang được đánh giá rất cao và nổi lên là lợi ihế so

sánh chính trong xu thê phát triển hiện đại

Trang 25

ỉ 2.6 Sự tồn tại khách quan của các quan hệ phân côtiíị lao CÍỘHIỊ xã hội mang tính chất liên quốc gia: Phân công lao động xã hội là một quá trình phát

triển, vận động tự nhiên, khách quan, theo đó ai mạnh về nghé gì thì làm nghé

đó Trong lịch sử loài người, nhất là trong thế kỷ XX các mối quan hệ đó đã phát triển rất mạnh, vượt ra khỏi phạm vi nền kinh tế của một quốc gia, nó diễn ra ngày càng sâu sắc và mạnh mẽ trên toàn toàn cầu, làm xuất hiện khái niệm mới gọi là phân cồng lao động quốc tế

Phân công lao động quốc tế là quá trình tập trung sán xuất và cung cấp một số loại sản phẩm và dịch vụ nhất định dựa trên cơ sơ nhiều ưu Ihẽ của quốc gia đó về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, khoa học cổng nghệ và xã hội

để đáp ứng nhu cầu của quốc gia khác thông qua sự trao đổi quốc tế

Sự phân công lao động quốc tế dẫn đến sự chuyên môn hoú và hợp tác quốc tế trong từng quốc gia và giữa các quốc gia với nhau Đây là ycu cáu tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất, hình thành tính quy luật của quá trình phân công lao động xã hội trên phạm vi rộng lớn, vượt ra khỏi biên giới quốc

Có các hướng chuyên môn hoá khác nhau như chuyC'11 món hoá giữa các ngành, chuyên môn hoá theo từng sán phẩm (nội bộ ngành) và Iheo dây chuyền công nghệ Ban đầu, sự phân công chuyên môn hoá là xuất phát từ điều kiện tự nhiên Khi việc chuyên môn hoá đã đạt đến trình độ phát triển cao, (li vào chiều sâu thì nó chủ yếu lại dựa trên thế mạnh về công nghệ của từng quốc

Quá trình phân công lao động quốc tế diễn ra trên cơ sở các quy luật khách quan nhằm đảm bảo sự vận động liên tục của các yếu tố cơ bản của tái sản xuất và kết quả của chúng, đó là các dòng vận động của công cụ lao động, của vốn và tiền tệ, dòng vận động của các sán phẩm và dịch vụ Sư phân

24

Trang 26

cồng lao động quốc tế chính là quá quá trình sử dụng triệt đê và hợp lý các vếu

tố tái sản xuất xã hội không những trong mỗi quốc gia, nâng cao hiệu quá kinh

tế của quốc gia, mà còn trên quy mô toàn thế giới

Sự phân công lao động quốc tế đang diễn ra với quy mô ngày càng mở rộng, với irình độ ngày càng sâu, thể hiện ớ một số điếm, như sau:

- Có sự chuyển dịch những ngành công nghiệp có dung lượng nguyên liệu và dung lượng lao động sống lớn từ các nước phát triển cao sang các nước đang phát triển, đặc biệt là các ngành, có lượng phát thải gây ô nhiễm môi trường sinh thái cao

- Xuất hiện các ngành công nghiệp chế tạo nguyên liệu lổng hợp có kha năng thay thế một số loại nguyên liệu, nhiên liệu hoá thạch và dưa đốn S Ư cạnh tranh gay gắt giữa chúng

- Xuất hiện và phát triển nhanh các hình thức hợp tác kinh lố và hợp lác khoa học, công nghệ với nội dung phong phú và đa dạng Các sự kiện liên kết kinh tế quốc tế và khu vực phát triển mạnh làm cho sự giao lưu kinh tố ngày càng đan xen và ràng buộc lẫn nhau

- Sự hình thành và phát triển của các tập đoàn và các công ty xuyên quốc gia (những tổ chức này sở hữu các nguồn vốn lớn, công nghệ hiện dại, trình độ quản lý cao và chiếm lĩnh phần quan trọng trên thị Irường) vừa tluìc đẩy phân công lao động quốc tế vừa làm cho sự cạnh tranh quốc lố ngày càng trở nên gay gắt

Chính do việc mở rộng phân công lao động quốc tế mà lốc độ phái Iricn của ngoại thương trong những nãm gần đây nhanh hơn lốc độ lăng của sán phám quốc dân, đổng thời tỷ trọng xuất khẩu trong tổng sán phẩm quốc dân cũng có xu hướng tăng lên Rỗ ràng lĩnh vực kinh tế đối ngoại phất tricn gắn

Trang 27

với việc mở rộng và hoàn thiện quá trình phân công lao động quốc tế đang

ngày càng chiếm ưu thế trên trường quốc tế

1.3 Kinh nghiệm hình thành chính sách phát triển kinh tế dôi ngoại ở một sô nước

1.3.1 Kinh nghiệm của Nhật Bàn: Nhật Bản là một (lien hình thực hiện

khá thành công về chính sách kinh tế đối ngoại Từ một nước nông nghiệp lạc

hậu, đặc trưng nổi bật là văn minh lúa nước như ở Việt Nam chúng ta Thời

điểm thế giới loài người chuyển từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công

nghiệp trong thế kỷ thứ XIX, trình độ phát triển của Nhật Ban và Việt Nam

gần tương đương nhau Trong khi đó, ở Nhật Bản hầu như không tài nguyên

thiên nhiên trong lòng đất, những yếu tố đầu vào quan trọng cho công nghiệp

hoá, như than, dầu khí, sắt thép hoặc có cũng không đáng ké Nhiêu Iigtiổn

nguyên vật liệu phải nhập hoàn toàn, nên có thể nói việc lựa chọn một chính

sách kinh tế đối ngoài thích hợp đã biến yếu thành mạnh, sử dụng được hiệu

quá nhũng lợi thế của mình, kết hợp thành công với những lợi the của bẽn

ngoài (kết hợp nội lực với ngoại lực)

Kinh nghiệm của Nhật Bản là mở cửa để nhập nguyên, nhiên vật liệu và

kỷ Ihuật công nghệ Lựa chọn hợp lý những ngành hàng, sản phẩm, nâng cao

năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới để hướng ra xuất khẩu Trong một

thời gian ngắn, Nhật Bản đã vươn lên đứng hàng thứ nhì thố giới vổ dự Irũ

ngoại tệ Theo tổng kết của các chuyên gia (l)), thời kỳ ban đàu Chính phu Nliat

Bán lựa chọn phát triển các ngành mũi nhọn co khá năng vận dụng lốt ca nói

lực lẫn ngoại lực đối với nền kinh tế quốc dân trong từng giai đoạn, như ntiànli

sợi lổng hợp, hoá dầu, luyện thép, điện tử, sau đó chuyên sang các ngành

26

Trang 28

công nghiệp cơ khí, như chế tạo ô tô, máy móc, xe gắn máy, rồi rô-bớl cổng nghiệp, các thiết bị điện tử dân dụng hiện đại

Riêng trong ngành luyện thép, câu chuyện trở nên rất nổi tiếng là Nhận Bản nhập toàn bộ công nghệ luyện thép liên tục của Liên Xô (cũ), sau đó lại sử dụng rộng rãi và thậm chí còn hiệu quả hơn cả chình nước xuấi kháu công nghệ - đó là Liên Xô lúc bấy giờ Hay như việc Nhật Bán ban đầu chí mua mấy con Rô-bớt của Mỹ, nhưng mấy năm sau Nhật Bán lại trứ ihành nước xuất khẩu Rô-bớt sang Mỹ Những câu chuyện đó đã nói lèn sự vận dụng sáng tạo công nghệ nhập để chuyển hoá, làm chú công nghệ nhập, biến thành công nghệ cua chính mình là bài học còn rất thời sự đối với nhiều quốc gia dang tiến hành công nghiệp hoá hiện nay, trong đó có Việt Nam

Trong quá trình thực hiện các chính sách kinh tế đối ngoại, Chính phủ Nhận Bản luôn đóng một vai trò rất quan trọng, có tính chất quyết định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, huy động vốn đầu tư, tiếp thu kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, xúc tiến thương mại Trước hết, điều đó đã được ihê hiện trong việc đích thân Chính phủ xúc tiến việc thám nhập thị trường quốc tô bàng các hiệp định liên chính phủ, để huy động các khoản ODA cho những hướng drill lư cấn thiết, tăng cường cung cấp thông tin thị trường, tạo môi irương kinh doanh năng động cho các nhà doanh nghiệp, xác định đúng chức năng kinh lê cúa nhà nước

Chiếc chìa khoá của sự thành công, gọi là thần kỳ của Nhật Bản là vươn

ra thị trường thế giới Khái niệm "biên giới m ề m ” đã xuất hiện trong nhận thức của loài người cũng bắt nguồn từ cách làm của Nhật Bản Biên giới mềm nghĩa

là hàng hoá của Nhật Bản vương tới đâu, thì biên giới quốc gia của Nhật Bán

có thể được coi là đã vươn tới đó, không cần đến chiến tranh phán chid ihị

■' Võ Oại Lược Vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế kinh nuhiệm cua Nliál Bán ASHA N va Vici Nam, Nxb Khoa hoc xã hội Hà Nòi: 1993

Trang 29

trường thế giới, không cần đến những tranh chấp về biên giới "cứng" như dã xấy ra trong lịch sử nhân loại, nhất là Chiến tranh thế giới lần thứ nhát và Chiến tranh thế giới lần thứ hai.

Ị 3.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc: Trên cơ sớ rút ra được những bài

học "xương máu" của thời kỳ thực hiện Chiến lược Đại nhảy vọt, đại Cách mạng văn hoá, nền tảng chủ yếu là tự lực cánh sinh, 'đóng cửa với thế giới bên ngoài, bắt đầu từ khi Đặng Tiểu Bình lên cẩm quyển, quan điếm về mớ cửa nền kinh tế của Trung Quốc đã được xúc định rõ, nhất ỉà sự xuâl hiện Ihuyốl "met) trắng, mèo đen" ( l0) của Chủ tịch Đặng Tiếu Bình Mốc son quan trọng cúa quá trình đó được khởi đầu bằng Hiệp định thương mại song phương Trung -

Mỹ năm (1979), thực chất là Mỹ đã nhân nhượng Trung Quốc rất nhiổu điều khoán tối huệ quốc để nhằm mục tiêu chính trị - lôi kéo Trung Quốc chống lại Licn Xô và Việt Nam Sau đó Trung Quốc không những không theo Mỹ hoà loàn, quan hệ ngoại giao Trung - Mỹ lúc nóng, lúc lạnh, lúc căng, lúc chùng, nhưng riêng về quan hệ kinh tế đối ngoại, thì Trung Quốc đã khai thác triệt đê lợi thế mà tối huệ quốc do Mỹ tạo điều kiện Nền kinh tế trung Quốc nhanh chóng chuyển sang phát triển theo hướng xuất khẩu Cứ ngày nối ngày, nam nối năm, kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng, năm sau cao hơn năm trước Irong mấy chục nãm liền Ngày nay hàng hoá Trung Quốc đã Iràn ngập thị trường nước Mỹ và nhiều thị trường các nước phát triển khác, như EU, Châu Đại dương Từ 49 triệu USD kim ngạch xuất khẩu có được trước khi Hiệp định vồ tối huệ quốc năm 1979 ra đời, 20 nãm sau, năm 1999 kim ngạch xuất khẩu của Trung quốc đã lên tới con số trên 195 ti USD, xuất siêu gần 30 tí USD ( ' 1)

Là thuyết nói đại thê rang, phàm là m èo tráng hay m èo (len miên la bill <Ur<K đnin i

" N iê n giám Thống kẽ nàm 2 0 0 1 N xb Thòng kê Hà Nói: 20 0 2 II 5 15

28

Trang 30

Năm 2002, sau khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Trung Quốc đã thu hút được 50 tỉ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Trong năm

2003, Trung Quốc đã thu hút được trên 53 tỉ USD đầu tư trực liếp nước ngoài,

là nước thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn hàng đáu thê giới, chí dứng sau Mỹ Các chuyên gia về đầu tư của Liên hợp quốc nhận định, Iheo li à chuyên biến tốt của kinh tế toàn cầu, lợi nhuận của các công ty đầu lư xuyên quốc gia tăng lên, lòng tin của các nhà đầu tư không ngừng được củng cỏ, dầu

tư trực tiếp của nước ngoài trên toàn cầu sẽ tăng nhanh Năm 2004 có khá năng mức đầu tư trực tiếp nước ngoài của toàn thế giới sẽ đạt mức kỷ lục là 700 tí USD

Riêng đối với Trung Quốc, nhiều dự báo rất lạc quan ve lốc độ tăng trưởng cao của nền kinh tế Việc mở rộng thị trường Irong nước sẽ lạo nhiêu cơ hội cho các nhà đầu tư nước ngoài Nhiều lĩnh vực trọng điổm như ngành sán xuáì kỹ thuật mới, công nghệ cao, ngành dịch vụ, cài tạo các xí nghiệp qiiôe doanh đều có thô’ được Chính phủ Trung Quốc kêu gọi đáu lư Các lĩnh vực như kỹ thuật thông tin, bán buôn, bán lẻ, dịch vụ chuyên ngành, ngân hàng, chứng khoán đều là những ngành các công ty đầu tư xuyên quốc gia có ưu thè cạnh tranh, các ngành này sẽ dần dần được mở cửa ( l2)

Ngoài ra, kinh nghiệm quý báu của Trung Quốc còn thê' hiện ớ việc thí điểm xâu dựng các đặc khu kinh tế mở, như Thâm Quyến, Phố Đông cúa Thượng Hải, Châu Hải, Quáng Đông tạo thành dái bờ biên phía Đông sói động và giàu có v ề mặt tư tưởng và nhận thức, lúc Đặng Ticu Bình "ngãin ngầm" cho Thâm Quyến thí điểm phát triển theo hướng đặc khu kinh lố mớ, thì trong Đảng cộng sán Trung Quốc lúc bấy giờ cũng đã nổ ra nhiổu ý kiến trái ngược, phán dối Trong đó, có ý kiến phán đối mạnh thì cho rằng Thâm Quyên

đã đi chệch hướng sang "họ tư", nghĩa là tư bán chủ nghĩa

12 Xem: Tin kinh tế tham kháo cùa T hông tấn xã Việt Nam ngày 2 5 /0 2 / 2 0 0 4

Trang 31

Trong một chuyến đi thị sát cuối cùng trong cuộc đời lãnh đạo đất nước, trước khi chuyển giao quyền lực cho Giang Trạch Dân, Đặng Tiểu Bình đã có một bài phát biểu dài 45 phút tại một khách sạn 50 tầng ỏ Thâm Quyến (một làng chài nghèo trước đây, nhưng giờ đây đã phát triển tới mức người dân ớ Hồng Kông cảm thấy muốn được sang sinh sống và làm việc tại Thâm Quyến), trong đó khẳng định dứt khoát rằng, phát triển như vừa qua ở Thâm Quyến là đúng hướng, Thâm Quyến vẫn là "họ xã", tức xã hội chú nghĩa Và sáp tới nên nhân rộng điển hình Thâm Quyền ra nhiều nới khác trên đất nước Trung Hoa.

Rõ ràng những ý chí quyết tâm của nhà lãnh đạo đứng đầu Đang và nhà nước của Trung Quốc đã làm cho cán cân lực lượng về nhận thức đương nhiên nghiêng về phía cấp tiến, dẹp sang một bên mọi ý kiến có tính chất bảo thú

ỉ 3.3 Kinh nghiệm phát triển sản xuất nâng nghiệp theo lìiiớiiíĩ mo' cửa m irony quá trình hội nhập khu vực mậu dịch tự do ASEAN (A i'l'A ì Ilia IÌ1ỘI sô nước thành viên ASEAN:

Trong các nước thành viên ASEAN, chúng tôi cho ràng phân lích quá

trình thực hiện chính sách kinh tế đối ngoại theo hướng hỏi nhập, mở cửa có một ý nghĩa rất đặc biệt đối với Việt Nam, nhất là trong vấn đề điều chỉnh cơ cấu sán xuất nông nghiệp

Về điểm tương đồng giữa các nước lựa chọn đê phân tích Trong 10 nước thành viên ASEAN có 4 nước phát triển nông nghiệp khá mạnh là Thái Lan, Malaysia, Indonesia và Philippine, cho nên đề tài lập irurm khái quát những kinlì nghiệm của họ trong việc chuyến dịch cơ cấu sán xuất nóng nghiệp để tham klhảo cho trường hợp Việt Nam, ít nhất cũng bới mây lý do

30

Trang 32

Thứ nhất, nền nông nghiệp của các nước này vẫn còn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Cả năm nước (cùng với Việt Nam) đều có thị phán khá lớn Irên thế giới, hiện đang chiếm tới 45% lượng gạo xuất khẩu và 80% cao su

tự nhiên xuất khẩu, chiếm thị phần lớn trong xuất khẩu cà phê và dầu ăn, đáu thực vật

Thứ hai, cả năm nước ASEAN này đều có những điồu kiện tự nhiên gần giống nhau, nên những mặt hàng là khách hàng của Việt Nam Iliì ít, mà những mặt hàng là đối thủ cạnh tranh trong xuất khẩu với ta (như gạo, cà phó, cao su, hạt tiêu, hàng thuỷ sản v.v.) thì nhiều Những mật hàng Việi Nam phái nhập khẩu của bạn (như dầu ăn, ván nhân tạo v.v.) thường là do công nghệ chê biên của la yếu hơn, chất lượng sản phẩm thấp hơn nên phải nhập nội Tuy vậy, nếu căn cứ vào tỷ trọng của nông nghiệp, thì vai trò của nông nghiệp trong nen kinh tế của mỗi nước có khác nhau, cụ thể:

B iểu ỉ : Vai trò của nông nghiệp trong nén kinh t ế 4 nước A S E A N và

Việt N am (thời điểm của năm 1996)

GDP/người(USD)

B iêu 2: Sản lượng m ột sô sấn p h ẩ m nông nghiệp chủ lực của 4 nước

Trang 33

Có thể rút ra một số kinh nghiệm của các nước này trong việc phái triẽn nông nghiệp theo hưởng mở cửa, như sau:

a T hực hỉệrt chuyển đổi cơ cấu kinh té theo hướng công nghiệp hoa: á:

Các nước ASEAN đều đang trong quá trình thực hiện điều chính cơ cấu kinh lê theo hướng công nghiệp hoá Malaysia có tỷ trọng ngành công nghiệp cao nhất trong cơ cấu kinh tế Thời kỳ 1985-1996, tỷ trọng nồng nghiệp trong cơ cấu GDP đã giảm từ 20,8% xuống 13%, trong khi tỷ trọng công nghiệp tăng từ

19,7% lên 48,5%, tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm tương ứng lừ 31 ,y/< xuống

16% so với lực lượng lao động xã hội Trong cùng thời kỳ này lý trọng nông nghiệp trong GDP của Indonesia giảm từ 22% xuống 16%, lý trọng ngành công nghiệp tăng từ 14,6% lên 30,5% Mặc dầu tỷ trọng nông nghiệp trong nền k i n h t ế đang giảm đi, nhưng nông nghiệp vẫn c ò n là ngành sán xuất CO' bán ớ đất nước đông dân nhất khối ASEAN này Đóng góp cúa ngành nóng nghiệp của Thái lan trong GDP giảm từ 25,1% xuống còn 11%, và cua Philippine cũng giám từ 30% xuống 21%, tuy vậy, nét chung của Thái Lan và Philippine là vẫn còn gần 50% lực lượng lao động xã hội đang làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Lao động nông nghiệp ở các nước đều giảm cá về tương đối và tuyệt đối Số lượng lao động nông nghiệp nhìn chung có xu hướng chuyên (.lịch mạnh sang lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Cùng với xu hướng giám lao (lộng nóng nghiệp là xu hướng tăng dần giá ngày công lao dộng và trình độ co' giới

hoá trong nông nghiệp Đây là xu hướng hợp quy luật, tuy nhiên trường hợp của Malaysia cũng cần được lưu ý Từ năm 1990 đến năm 1995 có khoáng 20% dàn cư nông thôn của Malaysia chuyên từ nông thôn ra thành thị Sự thay đổi quá nhanh này đã làm cho thị trường lao động nông thôn mất cán bàng, các đồn điền phái tăng 30% lương cho công nhân, dẫn đến chi phí lao dộng irong giá thành cây công nghiệp lên cao (chiếm từ 40% đến 60f í giá ihành sán xuáì

32

Trang 34

cây công nghiệp), điều này dẫn tới khả năng cạnh tranh về giá của một sô cày

công nghiệp bị mất dần buộc một số ngành (như cao su, cà phê, cọ dấu) phái

chuyển vốn đầu tư và sản xuất sang các nước có chi phí lao động thấp hơn

Cùng với sự phát triển của kinh tế chung, nhu cầu và tập quán tiêu đùng

của dân cư cũng dần thay đổi, nhu cầu về các sản phẩm chăn nuôi, Ihuý sán,

hoa quả lăng lên nhanh làm cho cơ cấu sản xuất nông nghiệp Ihay đổi: giam

sản xuất lương thực, chuyển sang các cây có hiệu quả kinh tế cao hưn, phát

triển chân nuôi, nuôi trồng thuỷ sản

b Tập trung p h á t triển sản xu ấ t nhữ ng sản p h ẩ m có lợi thê cạnh h tranh: Trong thương mại quốc tế, các nước đều cố gắng phát huy lợi thố so

sánh của mình để sản xuất những sản phẩm có chất lượng cao, giá thành ihíìp,

có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế Sản xuất nông nghiệp irong tliẻu kiện

mở cửa và hội nhập cũng được điều chỉnh theo quy luật đó

+ Thúi Lan chuyển đổi sán xuất nông nghiệp theo hướng íla ílạiiíỊ Itoá

sàn phẩm để giảm bớt rủi ro thị trường và ổn định thị trường tiêu dùng trong

nước, chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp của Thái Lan đã phản ánh rõ

nét định hướng phát triển thương mại đa dạng hoá và phát huy lợi thế so sánh

So với năm 1990, cơ cấu sản phẩm nông nghiệp của Thái Lan có sự thay đổi

đáng kể, trong đó các sản phẩm chăn nuôi, cao su, cây án quá tăng nhanh, sán

phẩm đường tăng giảm thất thường trong khi đó các sán phẩm lúa gao, ngô,

sắn, đậu tương giảm nhanh Trong mười năm qua, Thái Lan tlã giam nhanh

việc xuất khẩu ngô từ trên 1 triệu tấn xuống còn hơn 100 ngàn tân/năm, nhập

khẩu dậu tương tăng nhanh từ 57 nghìn tấn lên 750 ngàn lấn ctc đáp ứng nhu

cầu sán xuất thức ăn gia súc đang tăng nhanh trong nước Gạo là mặt hàng

xuấl khẩu quan trọng của Thái Lan, đều tăng liên tục trong 10 năm qua thì

trong vòng 3-4 năm gần đây lại có xu hướng giám dần Xuất kháu đường cũng

đang có xu hướng chững lại Trong khi đó một số mặt hàng xuất khẩu khác lại

Trang 35

tãng mạnh như thuỷ sản, hạt tiêu, rau quả, hoa Hiện nay Thái Lan đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo, đứng đầu về sản xuất và xuất khẩu cao su, tôm sú, đứng thứ ba về xuất khẩu đường.

+ Khác với Thái Lan, Malaysia điểu chỉnh cơ cấu sán xuất nông nghiệp theo hướng tập trung vào sản xuất cây công nghiệp phục vụ xuất khẩu, nhu: cọ dầu, cao su, ca cao có năng lực cạnh tranh cao Ba loại cây này đã chiếm tới 77% diện tích đất nông nghiệp cả nước và đóng góp tới 71 % GDP nông nghiẹp (riêng cọ dầu chiếm tỷ lệ gần 40% GDP nông nghiệp) Ngoài ra, Malaysia còn chú trọng phát triển cây lúa nước, dừa và hoa quả (lúa gạo và hoa quá chiếm dưới 10% GDP nông nghiệp), các cây trồng khác như cà phê, chè, mía đường v.v chỉ chiếm một phần nhỏ diện tích đất nông nghiệp Hơn 10 năm qua riêng cây cọ dầu phát triển mạnh nhất, lượng sản xuất và xuất khẩu đều tăng nhanh, trong khi đó cây cao su và ca cao có xu hướng giảm dần Các sân phain chán nuôi tăng nhanh làm tăng nhu cầu về ngô, đậu tương làm thức ăn gia súc (mặc dầu sản xuất ngô và đậu tương trong nước vẫn tăng liên tục nhưng Malaysia vẫn đang nhập khẩu nhiều, lượng nhập khẩu ngô tăng đều qua các năm) Malaysia chủ trương tập trung vào một số sản phẩm có lợi thế so sánh, còn nhũng sán phẩm khác sẽ được nhập khấu để đáp ứng nhu cáu tiêu dùng trong nước (nhập khẩu đường, đậu tương, gạo tăng đều trong các năm qua)

Là nước có nguồn tài nguyên về lâm nghiệp lớn trên thế giới, trong thập

kỷ gần đây Malaysia đang chuyển mạnh từ xuất khấu gỗ xẻ vù gỗ vun sang xuất khẩu đồ gia dụng, gỗ xây dựng và ván sàn Việc làm này không những dã làm tăng nhanh giá trị gia tăng hàng xuất khẩu của Malaysia, mà còn nâng cao được khả năng cạnh tranh của sản phẩm gỗ Malaysia trên thị trường quốc lò'

Đicu chỉnh cơ cấu sán xuất nông nghiệp ở Malaysia được thực hiện theo hướng chuyên môn hoá sán xuâl hàng hoá cao, gán sản xuál và lieu dùng Irong nước với thị trường quốc tế Nông nghiệp của Malaysia tập trung vào phái Iriến

Trang 36

theo mô hình trang trại, đồn điền tư bản nông nghiệp có quy mô sán xuâì lớn, ứng dụng công nghệ cao, tập trung sản xuất một số cây công nghiệp xuất kháu Các trang trại gắn bó chặt chẽ với các cơ sở nghiên cứu và triển khai (R&D) để nhanh chóng ứng dụng và hưởng lợi từ các kết quả nghiên cứu khoa học Mật khác, Malaysia rất chú trọng đầu tư cho công nghiêp chế biến nông sản nhờ thế mà nâng cao được giá trị xuất khẩu, tăng khả năng cạnh iranh của hàng nông sản Với cách làm này Malaysia đã tạo ra được sán phẩm hàng hoá mũi nhọn xuất khẩu của đất nước với khối lượng lớn, giá t h à n h hạ, c h ất lượng cao ,

có sức cạnh tranh mạnh trên thị trường quốc tế Nhưng đo chí tập trung vào mộl số mặt hàng cây công nghiệp xuất khẩu nên nông nghiệp của Malaysia luôn phải sắn sàng đối phó với những thay đổi trên thị trường quốc tế VC những sản phẩm mà trong nước không sản xuất hoặc sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầu liêu dùng

+ Indonesia là nước đông dân, lại là quốc đảo nên thị trường ticu dùng trong nước luôn tạo ra sức ép lớn đối với các chính sách kinh tế Bới vậy, một mặt, vẫn duy trì mức độ vừa phải chiến lược đa dạng hoạ ỈKUÌ sán xuất nông nghiệp, mặt khác, tập trung mũi nhọn vào những mặt hàny chú lực, nhu: sún xuất các loại sản phẩm lúa gạo, cọ dầu, dừa, cao su, cà phc, dường, ca cao, hàng lâm sán v.v Indonesia hướng mạnh vào sản xuất các mặl hàng có lợi thế

là lâm nghiệp, chăn nuôi và thuỷ sản, trong khi đó các loại cây lương thực chí

có lốc độ tăng bình quán hàng năm khoáng trên 1,5% Các ngành lâm nghiệp, trồng cây công nghiệp, chăn nuôi và thuỷ sản của Indonesia phát triển mạnh đem lại tăng trưởng khá (gần 3%) cho nông nghiệp Trong những năm gần đây sản xuất cọ dầu của Indonesia tăng mạnh do giá dầu cọ trên thị trường thố giới lên cao, trong khi đó hầu như các cây trồng khác tâng trưởng không dáng ke Giám mạnh đất trồng cà phê và sắn để chuyến sang trồng cọ dấu Ngoìii la, Indonesia còn có thế mạnh về sản xuất và xuất khấu các nông sán pham như:

Trang 37

hạt tiêu, hoa quả, gỗ và các sản phẩm từ gỗ, tôm, đường, cá ngừ v.v Indonesia đứng đầu thế giới về sản xuất hạt tiêu trắng và đứng thứ hai thế giới ve sán xuất hạt tiêu đen với sản lượng lên tới 22 ngàn tấn/năm Trong những năm gần đây xuất khẩu dầu cọ và cao su của Indonesia tăng tương đối ổn định Tuy vậy, Indonesia hàng năm phải nhập khẩu khối lượng lớn lương ihực (gạo, mỳ), đường và nguyên liệu làm thức ăn gia súc, gạo nhập khẩu khoảng 3 triệu tấn/năm, đường 1 triệu tấn/năm.

+ Nông nghiệp của Philippine phát triển hướng vào khai iháe các thế mạnh về chăn nuôi và phát triển thuỷ sản Ngành chãn nuôi chiếm khoáng 24% giá trị sản lượng nông nghiệp và có tốc độ tăng trưởng hình quân irên 5% trong hơn một thập kỷ qua Philippine đứng thứ 12 thế giới vổ nuôi trồng thuý sản, riêng ngành thuỷ sản đã đóng góp 15% GDP nông nghiệp Phần lớn diện tích đất nông nghiệp được dành để trồng lúa (chiếm trên 40% diện tích đất nông nghiệp và tạo ra 22% giá trị GDP nông nghiệp) Chính phủ đã tập Irung đầu tư 1/3 ngân sách nông nghiệp cho vùng Mindacao đế biến vùng này thành vùng chuyên canh lúa của Philippine, nhưng hàng năm phải nhập khẩu khối lượng khá lớn lương thực (trên 1 triệu tấn/nãm) và ngô làm thức ăn chăn nuôi, riêng năm 2004 Việt Nam đã trúng thầu đê cung cấp cho Philippine 410 ngàn tấn gạo (°) Dừa cũng là cây trồng chính trong nông nghiệp của Philippine,

90% sản lượng dừa được chế biến thành cùi dừa khô trong đó 5% đế xuất

khẩu, số còn lại được chế biến thành dầu ăn và dầu công nghiệp Mía đường cũng là cây trồng quan trọng của Philipine do nước này được xuất khẩu theo quota ưu đãi vào thị trường Mỹ, nhưng gẩn đây cả diện tích mía đường và dừa đều có xu hướng thu hẹp lại để mở rộng diện tích cây trổng có hiệu quả hơn như cà phê, cây ăn quá (xoài, dứa v.v) Sản phẩm nông sản xuất khẩu chủ yếu

11 Tin kinh tế Iham kháo Thòng tấn xã Việt Nam, ngày 0 4 / 0 3 / 2 0 0 4

36

Trang 38

của Philippine là dầu dừa, đường, chối, dứa, cà phê, cá hổi với kim ngạch

khoảng 1,4 tỷ ƯSD/năm

c Đ iều chỉnh chiến lược p h á t triển nông nghiệp bám sát nliu càu cà ả

th ị trường trong nước và th ị trường x u ấ t khẩu: Để phát huy lợi thê so sánh

của mình, các nước đều tập trung vào sản xuất một hoậc mội số sán phíún

nông sản chính với khối iượng lớn, giá cả thấp nhằm vươn ra thị trường thế

giới, song lại chấp nhận nhập khẩu các mật hàng nông sản không có khả nàng

cạnh tranh, hoặc nếu sản xuất thì giá trị gia tăng không lớn, hiệu quả kinh tế

không cao so với việc sử dụng các nguồn lực trong nước tiến hành sản xuất các

sản phẩm khác, chẳng hạn nhập khẩu nguyên liệu để phát triển chãn nuôi Xu

thế phát triển và chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp chung của các nước

là: Từ độc canh sang đa canh; từ sản xuất cây hàng năm sang sán xuất cay lâu

nãm, cây công nghiệp, cây ăn quả; từ sán xuất và xuất khâu nguyÍMi liệu thô

sang xuất khẩu nông sản đã chế biến; đẩy mạnh phất triển mạnh chăn nuôi và

thuỷ sán; chuyển từ tự túc lương thực sang cân đối lương thực thông qua

thương mại quốc tế Một số cây trổng truyền thống không có thị trường tiêu

thụ cũng bị thay thế dần (ví dụ như cây sắn ở Thái Lan; mía, dừa ớ Phillipiine,

cao su ở Malaysia)

Điều chỉnh cơ cấu sản xuất để đáp ứng và thích ứng với những biến

động của thị trường thế giới không phải là điều dễ dàng, nhưng trong điéu kiện

mở cửa và hội nhập, chính sách kinh tế đối ngoại của các nước ASEAN (leu

phải chấp nhận một phương án tối ưu, đó ỉà sán xuấl mội số sán phám mũi

nhọn mà nước mình có lợi thế cạnh tranh, chuyển sang nhập kháu những sán

phám ít có kha năng cạnh tranh Nhờ chinh sách đó nên các nước ASEAN (liêu

trên) đều phải có những biện pháp điều chỉnh cơ câu sản xuấl nông nghiệp eúa

mình một cách hiệu quá nhất, tạo thế ổn định sản xuất trong điểu kiện thị

trường luôn biến động

Trang 39

Thái Lan là một ví dụ điển hình: Vào những năm 50 và 60, sản xuất nông nghiệp của Thái Lan mang nặng tính chất tự cung, tự cấp, nông nghiệp phát triển chủ yếu dựa vào quảng canh do quỹ đất đai nông nghiệp còn lớn, cơ

sở hạ tầng cho sản xuất và sinh hoạt còn rất lạc hậu Trong Ihời kỳ này Thái Lan thực hiện chiến lược thay thế nhập khẩu nên sán xuất nóng nghiệp dựa chú yếu vào nhu cầu tiêu dùng trong nước Đến giữa những năm 70, chiến lược thay thế nhập khẩu được thay thế bằng chiến lược hướng ra xuâl khẩu, cơ sớ hạ tầng của Thái Lan được nâng cấp đáng kể, các tiến bộ của cuộc “cách mạng xanh” được ứng dụng vào sản xuất, cơ cấu cây trồng được thay đổi mạnh mẽ Đến thập kỷ 80 Thái Lan chủ trương thực hiện chiến lược đa dạng hoá sán xuất nông nghiệp theo hướng giảm tỷ lệ của cây trồng truyền thống có giá trị kinh

tế Ihấp (lúa gạo), tăng tỷ lệ của các cây trồng mới (rau, hoa quá, cây cỏ dầu, chãn nuối lợn, gia cầm v.v.) đế khai thác hết nội ỉực về vốn và lao động và đối phó với hiện tượng giá cả xuống thấp và thường xuyên gặp rủi ro thị trường của các sản phẩm xuất khẩu truyền thống Diện tích đất trông lúa giám mạnh

từ trên 90% (nãm 1965) xuống còn 62% (năm 1988) và 50% (năm 1998) Sự

đa dạng hoá sản xuất nồng nghiệp kéo theo sự thay đổi cơ cấu xuất khau hàng nông sản Xuất khẩu gạo từ chỗ chiếm 45% tổng kim ngạch xuất khẩu (năm

1953) đã giảm còn 20% (nãm 1969), 8% (năm 1988), 4% (năm 1992) và 3%

(năm 1998) Để tăng khả năng thích nghi với thị trường quốc tế, tăng tính hiệu quá của sản xuất trong điều kiện hạn chế về cơ sở hạ tầng và chi phí sản xuất gia tăng Chính phủ Thái Lan tăng cường khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp và khu vực nông thôn nên vẫn duy trì được tốc độ lãng trướng nông nghiệp trong khoảng từ 2 đến 3%/năm kẻ cả trong thời ky khúng hoang tài chính tiền tệ (1997- 1998)

38

Trang 40

d G iám cải cách m ạnh m ẽ đ ể đương đấu với thách thức:

Indonesia: Trong thời kỳ khủng hoảng tài chính- tiền tệ khu vực, các

nước ASEAN đều trực tiếp bị tác động, trong đó Indonesia là nước thiệt hại

nặng nhất, tinh hình chính trị bất ổn định, thiên tai và cháy rừng lại liên tiếp

xảy ra làm cho nông nghiệp nước này không phát triển đưực, 130 triệu irong

tổng số 205 triệu dân mức sống tụt xuống dưới mức nghèo khổ, tỷ lệ thất

nghiệp gia tăng (38 triệu trong tổng số 90 triệu lao động), lỷ lệ lạm phái limg

nhanh, thu nhập giảm từ 1080 USD đầu những năm 90 xuống còn 480 USD

vào năm 1998 Chính phủ mới của Indonesia đã phải thực hiện cai cách sâu sắc

nhằm đem lại lòng tin và tạo điều kiện để thu hút vốn đầu tư, đổng thời ụio

điều kiện thuận lợi hơn cho các hộ sản xuất quy mô nhó và giám tỷ lê (lói

nghèo, cụ thê như:

+ Xóa bỏ sự độc quyền của BULOG trong nhập khẩu lúa mỳ, bột mỳ,

đậu tương, tỏi, gạo

4- Cắt giảm thuế quan đối với tất cá các hàng thực phum xuống mức cao

nhất là 5%

+ Loại bỏ cản trở đối với việc buôn bán, vận chuyển hàn” hoá

+ Thực hiện tự do buôn bán giữa các vùng

Bên cạnh đó, Chính phú Indonesia còn thực hiện cái cách một số lĩnh

vực để hộ trợ giảm nghèo đói và tăng cường nguồn lực cho khu vực nông

Ngày đăng: 27/03/2015, 13:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 12: Đ ộng thái  vế tỷ trọng một số  thị trường nhập khẩu  chủ yếu - Chính sách kinh tế đối ngoại Việt Nam từ năm 1986 đến nay
Bảng 12 Đ ộng thái vế tỷ trọng một số thị trường nhập khẩu chủ yếu (Trang 80)
Bảng 13:  Tỉnh  hỉnh  đầu  tư nước  ngoài nam 2001 - Chính sách kinh tế đối ngoại Việt Nam từ năm 1986 đến nay
Bảng 13 Tỉnh hỉnh đầu tư nước ngoài nam 2001 (Trang 88)
Bảng 14:  Vốn trong nước  và  vốn  nước  ngoài từ 1991  - 2000 - Chính sách kinh tế đối ngoại Việt Nam từ năm 1986 đến nay
Bảng 14 Vốn trong nước và vốn nước ngoài từ 1991 - 2000 (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w