Đe góp phần giải quyết một số khó khăn trong công tác tư vấn hướng nghiệp cho sinh viên hiện nay, chúng tôi lựa chọn đề tài "Nghiên cứu tồ chức tư vấn nghề cho sình viên trong các trườn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐÈ TÀI KHOA HỌC CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA
Trang 2Bảng 3.1 Thực trạng định hướng nghề nghiệp và tư vấn nghề danh cho 86
sinh viên
của sinh viên ĐHQGHN
gia đình
và tư vấn nghề cho sinh viên
các kênh truyền thông
thông tin về thị trưỏmg lao động của sinh viên
viên
nghiệp và xu hướng chọn nghề của sinh viên
xu hướng chọn nghề của các nhóm sinh viên chia theo ngành đào tạo
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang 3với gia đình, người thân về định hướng nghề nghiệp
đến xu hướng lựa chọn nghề của sình viên
sinh viên với gia đình về xu hướng chọn nghề
đánh giả của sinh viên về ảnh hưởng của môi trường học tập đến định
hướng nghề nghiệp và xu hướng chọn nghề của họ
trường học tập đến định hướng nghề nghiệp của sinh viên
trường nghề nghiệp đến định hướng nghề nghiệp của sình viên
trường học tập đến định hướng nghề nghiệp cùa sinh viên
trường nghề nghiệp đến định hướng nghề nghiệp của sinh viên
4
Trang 4-DANH MỤC BIỂU ĐÒ
Trang
Biểu đồ 01 Mức độ được tư vấn thông tin về nghề gẳn với ngành học 92
của sinh viên khi lựa chọn ngành thi đại học
Biểu đồ 02 Các “kênh ” lựa chọn ngành học của sinh viên 94
nghề nghiệp và tư vấn nghề cho sinh viên
Biểu đồ 04 Mức độ trao đổi của sinh viên với bạn bè về định hướng 106
nghề nghiệp và xu hướng chọn nghề sau khi tốt nghiệp đại học
Trang 5DANH MỤC S ơ ĐỒ
Trang
lòng đường
6
Trang 65 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 16 5.1 Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê N in - 1 6 5.2 Tư tưởng của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn đề tư vấn hướngnghiệp - 16 -5.3 Phương pháp nghiên cứu - 17 -5.3.1 Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp kết hợp với điều tra xãhội học bổ sung - 17 -5.3.2 Phương pháp bảng hỏi cấu trúc - 1 8 5.3.2.1 Mầu nghiên cứu -18 -5.3.2.2 Phương pháp tiến hành và xử lí đữ liệu -18 -5.3.3 Phương pháp phỏng vấn sâu - 1 8 -
II NỘI DƯNG C H ÍN H 19
Trang 7-CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐẺ LÝ LUẬN CHUNG VÈ T ư VẤN NGHÈ
19
1.1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN c ứ u 19
-1.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước - 1 9 1.1.2 Nghiên cứu về công tác hướng nghiệp và tư vấn nghề trên thế giới21 1.2 TƯ VẤN NGHÈ TRONG HỆ THỐNG HƯỚNG NGHIỆP 24
1.2.1 Một số khái niệm công c ụ 24
1.2.1.1 Khái niệm “Giám định lao động” 24
1.2.1.2 Khái niệm “Phù hợp nghề” 27
1.2.1.3 Khái niệm về hướng nghiệp 29
-1.2.2 Những công việc cơ bản của tư vấn nghề - 3 1 1.2.2.1 Chuẩn bị những tư liệu cần thiết cho việc tư vấn nghề 31
1.2.2.2 Xác định miền chọn nghề tối ưu 34
1.2.2.3 Xác định công thức nghề phù hợp 36
-1.2.3 Một số phương pháp cụ thể dung để đo đạc những phẩm chất tâm lý với mục đích tư vấn nghề 40
1.2.3.1 Hứng thú và cách đánh giá hứng thú 40
1.2.3.1.1 Một enquête (survey) tìm hiểu hứng thú học tập 41
1.2.3.1.2 Một test đo hứng thú nghề nghiệp 45
1.2.3.2 Năng lực và cách đánh giá năng lực nghề nghiệp 51
1.2.3.3 Mấy vấn đề lưu ý về sự phát triển hứng thú và năng lực 66
1.2.4 Mô hình tổng quát của một phòng tư vấn 67
1.2.4.1 Nhân sự làm công tác trong phòng tư vấn nghề 67
1.2.4.2 v ề cơ sở vật chất kỹ thuật 68
-CHƯƠNG 2 KINH NGHIỆM TỎ CHỨC TƯ VẤN NGHÈ Ở MỘT SỐ NƯỚC PHÁT T R IẺ N 70
2.1 Kinh nghiệm tổ chức tư vấn nghề ở P h á p 70
2.2 Kinh nghiệm tổ chức tư vấn nghề ở M ỹ 76
2.3 Kỉnh nghiệm tổ chức tư vấn nghề ở A nh 79
8
Trang 82.4 Kỉnh nghiệm tỗ chức tư vấn nghề ở Đ ứ c 80
-2.5 Mô hình tổng họp đối chiếu kỉnh nghiệm tổ chức tư vấn nghề ở các
nước 84
-CHƯƠNG 3 NHẬN THỨC VỀ NGHÈ VÀ TH ựC TRẠNG CÔNG TÁC
TƯ VẤN NGHÈ TẠI ĐẠI HỌC QUÓC GIA HÀ NỘI 86
-3.1 Thực trạng nhận thức về nghề, định hướng nghề và tư vấn nghề tư
vấn nghề của sinh viên tại ĐHQG Hà Nội 87
-3.2 Vai trò định hướng nghề và tư vấn nghề của các tác nhân dưói góc
nhìn của sinh viên ĐH Q GH N 95
-3.2.1 Vai trò của gia đình đối với việc định hướng nghề nghiệp và tư
vấn nghề cho sinh viên ở ĐHQG Hà Nội 98
-3.2.2 Vai trò cùa Nhà trường đổi với định hướng nghề nghiệp và tư vấn
nghề cho sinh viên ĐHQGHN 100
-3.2.3 Vai trò“Truyền thông đại chúng” trong việc cung cấp thông tin về
thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp cho sinh viên năm ĐHQGHN-
102
3.2.4 Vai trò của “Bạn/Nhóm bạn ” trong định hướng nghề nghiệp và tư
vấn nghề cho sinh viên ĐHQGHN 106
-3.2.5 Ảnh hưởng của á‘thị trường ỉao động” đến xu hướng chọn nghề
của sinh viên tại ĐHQGHN. 108
-3.3 Thực trạng công tác tư vấn chọn nghề cho sinh viên Đại học Quốc
Gia Hà Nội xét trong một số tương quan 112
-3.3.1 Tương quan giữa môi trường học tập và việc tư vấn chọn nghề của sình viên ở Đại học Quốc gia Hà N ội - 1 1 3
3.3.2 Tương quan giữa địa bàn cư trú và việc tư vấn chọn nghề của sinh viên ở Đại học Quốc gia Hà Nội - 1 1 5
3.3.3 Sinh viên chia theo nghề nghiệp của cha m ẹ - 117
3.3.4 Nhóm sình viên năm cuối các ngành khoa học xã hội chia theo kết quả học tập - 121 -
3.3.5 Nhóm sinh viên năm cuối các ngành khoa học xã hội chia theo kết
quả học tập 123
Trang 9-i n KẾT LUẬN VÀ KHUYÉN NGHỊ MÔ HÌNH TỔ CHỨC T ư VẤN NGHÈ CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC - 125 -
1 0
Trang 10-I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Tại sao cần nghiên cứu tổ chức tư vấn nghề cho sinh viên hiện nay? Như
chúng ta biết, tư vấn nghề là một hoạt động rất quan trọng nhàm mục đích sau cùng là đưa ra lời khuyên phù hợp cho đối tượng đang “bâng khuâng đứng giữa nhiều dòng nước” Khi một người nào đó hoặc một sinh viên nào đó cần tư vấn nghề, thì chắc chắn đối tượng ấy có những khiếm khuyết mà bản thân họ hoặc không biết, biết không đầy đủ, hoặc hiểu sai
Tư vấn nghề nói chung và tư vấn nghề cho sinh viên nói riêng đã có lịch
sử hình thành và phát triển ở các nước phát ứiển từ hàng trăm năm nay Nhìn chung, định hướng nghề nghiệp và tư vấn nghề đã trở thành một phương pháp tiếp cận liên ngành để lại nhiều thành tựu lí thuyết và thực tiễn quan trọng Ở các nước phát triển, định hướng nghề và tư vấn nghề đã trở thành hệ thống mang đầy đủ các yếu tố: chính trị theo nghĩa (kinh tế chính trị), pháp lí, kinh tế, xã hội,
y học, văn hoá và đạo đức Thành tựu của các nghiên cứu định hướng nghề và
tư vấn nghề đã giúp đỡ rất nhiều người nói chung và giới trẻ nói riêng đi tìm đúng con đường “mưu cầu hạnh phúc” thông qua quyết định lựa chọn nghề nghiệp
Tuy nhiên, ở nước ta nói chung và ở bậc đại học nói riêng, định hướng nghề và tư vấn nghề chi tồn tại dưới dạng manh mún, tình cờ và theo chủ nghĩa
hướng nghiệp
Các văn bản của Nhà nước về định hướng nghề nghiệp và tư vấn nghề hãy
chính trị, chúng ta chưa thực sự có một chính sách kinh tế khuyến khích phát triển khoa học dự báo về sự tiến triển hay biến đổi của các nghề căn cứ theo chính sách phát triển kinh tế của Nhà nước trong môi trường luôn luôn biến
Trang 11đình, chí ít trong việc duy trì hứng thú cho con em theo học một ngành nào đó
Do vậy, việc tiếp cận các nghề có thể để lại nhiều hậu quả nghiêm ữọng: 1/người ta ở vào thế phải làm một nghề không hề phù hợp với chuyên môn hay năng lực; 2/người ta có thể bị rơi vào tình huống làm một nghề không tạo ra hứng thú, đam mê hay động lực và 3/ người ta có thể làm một nghề không phù hợp với nhu cầu xã hội mấy Những hệ quả này, một khi kết hợp lại, trở thành những nguyên nhân sâu xa về sự kém sáng tạo của người lao động, sự bất hạnh
và sau cùng là sự chậm phát triển của xã hội v ề mặt y sinh, có nhiều người không rõ thể chất và tâm lí của mình có phù hợp với những nghề nào
Có bao nhiêu phần trăm sinh viên Việt Nam ữong các trường đại học hiện nay xác định rõ ràng những nghề nào liên quan trực tiếp đến ngành mình đang học? Những yêu cầu cụ thể của các nghề ấy là gì? Hầu hết các điều tra xã hội
học đối với sinh viên về nội dung “cỏ hay không cỏ định hướng ngành học
trước khi bước vào cổng trường đại học ? ” đều cho ra kết quả như sau: sinh
viên của chúng ta cơ bản định hướng ngành học theo năng lực (điểm học tập gắn
được trường đại học để rồi một ngày nhận tấm bằng đại học mói là điều quan trọng Điều này cũng dễ lí giải, bởi không ai nắm rõ năng lực của mình hơn bản thân mình cả Sinh viên gặp đày rẫy khó khăn khi chọn nghề vì các thông tin về các nghề gắn với ngành học còn khiếm khuyết nghiêm trọng hoặc cũng không có thiết chế chuyên nghiệp nói cho từng người biết rằng, với đặc điểm tâm lí hay nhân cách này khác họ hợp với những nghề gì Thêm vào đó, thông tin về sự tiến triển hay biến đổi của thị trường lao động cũng vừa thiếu lại vừa yếu Do vậy, rất ít sinh viên nắm được những nghề gì là xã hội đang cần, sẽ cần và sự biến chuyển quy mô cơ cấu của các nghề như thế nào
Khi những dạng thông tin “ngoài mình” như vậy vừa thiếu lại vừa yếu, sinh viên chỉ còn biết cách dựa vào chủ nghĩa kinh nghiệm, dựa vào gia đình hay
1 Xem các nghiên cứu của Neuvễn Thị Như Trang, Phạm Ngọc Cường
1 2
Trang 12-mạng lưới bạn bè để đưa ra cho mình một quyết định chọn nghề “phù hợp nhất” phối hợp với cảm quan và trực giác của họ.
Trong bối cảnh thiếu thông tin như vậy, chúng ta cũng chưa có một mô hình định hướng nghề nghiệp tương đối ổn định được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn của Việt Nam Và chúng ta lại càng không thể “nhập khẩu” bất kì một mô hình tư vấn hướng nghiệp nào khác, bởi vì ngoài những nét chung, chúng ta có những nét riêng biệt hay đặc thù.
Đe góp phần giải quyết một số khó khăn trong công tác tư vấn hướng
nghiệp cho sinh viên hiện nay, chúng tôi lựa chọn đề tài "Nghiên cứu tồ chức
tư vấn nghề cho sình viên trong các trường đại học” Câu hỏi xuyên suốt của
học hiện nay?” Để thực hiện đề tài này, chúng tôi lựa chọn Đại học Quốc gia
Hà Nội làm địa bàn nghiên cứu không chỉ vì lí do “tính khả thi” hay tính khiêm tốn của các phương tiện tài chính, mà vì đây là tổ chức học đường mang đầy đủ tính chất đại diện cho các trường đại học ở Việt Nam
2 Ý nghĩa lí luận và nghĩa thực tiễn của đề tài
v ề mặt lí luận, nghiên cứu tư vấn nghề cố gắng xây dựng một mô hình tri thức luận liên ngành và xác định được hàm lượng của những khoa học tham gia vào mô hình tri thức luận ấy Hơn nữa, nghiên cứu tổ chức tư vấn nghề cũng góp phần bổ sung vào vãn liệu về mảng hoạt động quan trọng này, tuy nhiên còn thiếu và còn khá yếu ở nước ta Dưới góc độ này - nói theo ngôn từ của Max Weber, nhà xã hội học nổi tiếng người Đức - mô hình tư vấn nghề cho sinh viên là một dạng “mô hình lí tưởng” (ideal - type) đang được xây dựng Mô hình này có hai tác dụng cơ bản sau đây: một mặt, nó cho phép đo được độ vênh giữa nhận thức thực tế của sinh viên với “lí tưởng tư vấn” mà chúng ta hướng đến; mặt khác, bản thân nó là một “tập hợp quan niệm lí thuyết” chặt chẽ cho
phép chúng ta đưa ra giả thuyết bằng cách trả lời câu hỏi "làm thế nào để tổ
chức tư vẩn nghề hiệu quả cho sinh viên đại học?” hiện nay.
Trang 13v ề mặt thực tiễn, một khi xây dựng được các yếu tố cơ bản để tổ chức tư vấn nghề cho sinh viên đại học thì nó sẽ có tác động to lớn và đầu tiên đến chính đối tượng đông đảo này Khi sinh viên lựa chọn nghề của mình theo đúng các nhóm tiêu chí phù hợp với đam mê, năng lực và đáp ứng nhu cầu xã hội, thì điều
ấy không chỉ có lợi cho bản thân họ mà là có lợi chung góp phần phát triển kinh
tế - xã hội một cách bền vững
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tổ chức tư vấn nghề cho sinh viên đại học có ba mục đích chính sau đây:
nghề của sinh viên hiện nay cũng như những yếu tố tác động đến hướng nghiệp hay xu hướng chọn nghề của họ để từ đó tìm ra phương thức tư vấn nghề (lời khuyên chọn nghề) phù hợp nhất
một số nước tiên tiến để từ đó rút ra những bài học quý báu về mặt lí luận cũng như về mặt thực tiễn nhằm cung cấp những yếu tố cơ bản cho công tác tư vấn nghề
trường Đại học thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội
14
Trang 14-4.1 Đổỉ tượng nghiên cứu: mô hình tổ chức tư vấn nghề cho sinh viên đại học
4.2 Khách thể nghiên cứu: sinh viên các trường đại học trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội
4.3 Phạm vi nghiên cứu
4.3.1 Phạm vi nội dung
Nghiên cứu tổ chức tư vấn nghề cho sinh viên đại học liên quan đến nhiều lĩnh vực tri thức và thực tiễn Do vậy, nó đòi hỏi sự tham gia của nhóm nghiên cứu Hên ngành và hệ quả là yêu cầu nguồn lực tài chính cao Tuy nhiên, trong khuôn khổ nhân lực và tài lực khiêm tốn, nghiên cứu này tập trung vào đánh giá nhận thức của sinh viên về định hướng và tư vấn nghề vì chỉ trên cơ sở hiểu được những yếu tố ảnh hưởng đến việc hướng nghiệp cũng như vai trò tư vấn nghề đối với sinh viên, thì nhà tư vấn đã có một hướng làm cơ sờ đưa ra lời khuyên thích hợp Vì ở Việt Nam chưa có mô hình tư vấn hướng nghiệp ở trường đại học nên việc nghiên cứu kinh nghiệm của các nước phát triển về lĩnh vực này đóng vai trò quan trọng Cuối cùng, nghiên cứu cố gắng lí giải và tổng hợp các yếu tố cần và đủ cho một mô hình tư vấn hướng nghiệp: nhóm tri thức nào là cần thiết? hàm lượng sử dụng các nhóm tri thức ấy? những con người làm việc ở Trung tâm tư vấn nghề? Những công cụ để tư vấn ?
4 Đôi tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
Trang 154.3.2 Phạm vi thời gian: từ tháng 7/2007 đến tháng 7/2010
4.3.3 Phạm vi không gian: trong khuôn khổ Đại học Quốc gia
Hà Nội
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin
Như chúng ta biết, chủ nghĩa Mác - Lê Nin dựa vào phương pháp luận biện chứng theo tinh thần phát triển triết học biện chứng của Hégel Nghiên cứu này cũng sừ dụng phương pháp luận biện chứng để phân tích mối tác động qua lại giữa một bên là hướng nghiệp và một bên là tư vấn nghề, giữa một bên là năng lực và một bên là tư vấn chọn nghề, và giữa một bên là nhu cầu xã hội và một bên là tư vấn chọn nghề Tuy nhiên, các cặp quan hệ biện chứng này không được xem xét một cách đom lẻ mà xem xét trong mối quan hệ với các mối quan
hệ còn lại Bên cạnh đó, nghiên cứu còn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử ở chỗ, những kinh nghiệm từ hàng trăm năm nay trong vấn
đề tư vấn hướng nghiệp cho thanh thiếu niên nói chung và cho học sinh, sinh viên nói riêng ở các nước phát triển có mô hình tư vấn hướng nghiệp khác nhau
sẽ là những bài học quan trọng cần nắm rõ để áp dụng vào bối cảnh đại học Việt Nam nhằm rút ngắn khoảng cách về lĩnh vực tư vấn hướng nghiệp của nước ta
người) là thị trường cơ bản đầu tiên và xuyên suốt như vậy, Đảng và Nhà nước
đã ra nhiều văn bản khác nhau về vấn đề hướng nghiệp và tư vấn hướng nghiệp, đồng thời có những chương trình lớn về đào tạo nghề giúp cho thanh niên nói chung và sinh viên nói riêng tìm được công ăn việc làm phù hợp, phát huy được năng lực và trí tuệ, thể hiện được động cơ và đam mê của cá nhân và đáp ứng tốt
-
Trang 1616-nhu cầu xã hội Yếu tố hạnh phúc của con người được Đảng và Nhà nước ta coi
là quan trọng nhất Do vậy, mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta đặt ra là, mỗi
người (trong đó có sinh viên) chọn được nghề phù hợp với năng lực chuyên
môn, hoà quyện với đặc điểm tâm lí của bản thân và đáp ứng tốt nhu cầu xã
hội
Trong hệ thống vàn bản pháp quy của Đảng và Nhà nước, trước hết chúng
ta có thể kể đến Quyết định số 126/CP ngày 19/3/1981 của Chủ tịch Hội đồng
phổ thông và việc sử dụng hợp lí học sinh phổ thông các cấp THCS, PTTH tốt
nghiệp ra trường, Luật giáo dục (1998), Nghị quyết 40/2000/QH10 của Quốc
hội, Chiến lược phát triến Giáo dục Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 (ban hành
theo Quyết định sổ 201/2001/QĐ-TTG ngày 28/1/2001).
Nhiều văn kiện của Đảng, như Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 9 cũng thể
hiện rất rõ tầm tư duy chiến lược và sự chỉ đạo sát sao đói với giáo dục thông
qua hướng nghiệp của Đảng ta Đảng đã nhấn mạnh vai trò của hướng nghiệp và
tư vấn hướng nghiệp gắn với công tác phân luồng học sinh phổ thông, quy
hoạch mang lưới hướng nghiệp và tư vấn nghề từ phổ thông đến đại học trên cơ
sở xem xét nhu cầu kinh tế - xã hội Đây quả thực là những định hướng quan
trọng bậc nhất cho vấn đề hướng nghiệp và tư vấn nghề ở nước ta
5.3 Phương pháp nghiên cứu
5.3.1 Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp kết hựp với điều tra
xã hội học bổ sung
Đe trả lời cho câu hỏi thứ nhất liên quan đến thực trạng nhận thức của
sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội về hướng nghiệp, nghiên cứu này sử đụng
kết quả của một vài nghiền cứu được thực hiện song song như của luận văn thạc
sĩ của tác giả Phạm Ngọc Cường và đề tài nghiên cứu cấp trường của ThS
Nguyễn Như Trang tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tuy
nhiên, để hiểu được mối quan hệ có phần “chồng lấn lên nhau” giữa hướng
1 7
-ĐAI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘl_
ĨPỤNG TAM th ũn g un ĨHƯ v iệ n
Trang 17nghiệp và tư vấn hướng nghiệp, nghiên cứu này tổ chức khảo sát bổ sung ở các trường thành viên để có bộ dữ liệu đủ đại diện cho nhận thức chung của sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội về hướng nghiệp và vai trò của tư vấn hướng nghiệp đối với họ.
Ngoài ra, để xây dựng khung lí thuyết cho vấn đề tư vấn hướng nghiệp, nghiên cứu đã phân tích rất nhiều tài liệu của các đồng nghiệp trong nước cũng như quốc tế, coi đó là những gợi ý quan trọng để xây đựng mô hình tư vấn hướng nghiệp ở Đại học Quốc gia Hà Nội
5.3.2 Phương pháp bảng hỏi cấu trúc
5.3.2.1 Mấu nghiên cứu
Căn cứ vào tiêu chí tính đại diện trong nghiên cứu định lượng và danh sách sinh viên của năm thành viên lớn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, chúng
tôi chọn ngẫu nhiên 550 đơn vị mẫu chia đều cho năm thành viên trong đó Vi là
cuối (275 sinh viên khoá 2007 - X)
* Cơ cấu mẫu nghiên cứu theo khoá học
* Cơ cấu mẫu nghiên cứu theo các trường
5.3.2.2 Phương pháp tiến hành và xử lí dữ liệu
Vì thời gian và phương tiện thực hiện có hạn nên chúng tôi chọn phương pháp trưng cầu ý kiến tại các lớp học đã được lựa chọn và chờ sinh viên trả lời
để thu phiếu lại ngay trong buổi làm việc Các thông tin thu thập được xử lí trên phần mềm SPSS 13.0
5.3.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Dựa vào số lượng 550 đơn vị mẫu đã được lựa chọn, chúng tôi tiếp tục tuyển 20 đơn vị mẫu để phỏng vấn sâu chia đều cho năm trường và hai khoá (mỗi trường phỏng vấn bốn sinh viên)
1 8
Trang 18-n NỘI DUNG CHÍNH
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
Tư VẤN NGHỀ
1.1 Tống quan về Vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Tinh hình nghiên cứu trong nước
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu quan tâm đến vấn đề hướng nghiệp của sinh viên nói chung Tuy nhiên, nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và mang tính liên ngành về các yếu tố tác động đến hướng nghiệp cũng như tư vấn nghề cho nhóm đối tượng đặc thù là sinh viên thể nói là chưa có ở Việt Nam Trong quá trình điểm luận các nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau, chúng tôi thấy rằng, cũng có một số
đề tài phân tích phần nào đó các yếu tố tác động đến hướng nghiệp và tư vấn nghề cho sinh viên hay có nhũng đề tài nghiên cứu được trực tiếp triển khai với khách thể nghiên cứu là sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Tại Hội thảo Pháp - Á có tiêu đề vẩn để và hướng đi cho giáo dục
hướng nghiệp ( 1 1 - 13/1/2010) được tổ chức tại Khoa Sư phạm (nay là Trường
ĐH Giáo dục) - Đại học Quốc gia Hà Nội, có rất nhiều khía cạnh về hướng nghiệp và tư vấn nghề đã được đề cập Tiến sĩ Mạc Văn Tiến có bài viết “Một số vấn đề hướng nghiệp trong lĩnh vực dạy nghề” đề cập đến tương tác quan trọng giữa ba chức năng: 1/ giúp đối tượng hiểu được “mình là ai” trong quyết định lựa chọn nghề; 2/ giúp đối tượng khám phá và làm quen với thị trường lao động
và 3/ thông tin về các hệ thống đào tạo nghề Trong nghiên cứu này, chúng tôi rất quan tâm đến hai chức năng đầu của công tác tư vấn nghề cho sinh viên đại học: khía cạnh tâm lí và khía cạnh thị trường lao động Kết luận của nghiên cứu này phục vụ cho công tác tư vấn nghề chính là sự tương tác sau cùng giữa ba yếu tố: hứng thú, năng lực và nhu cầu xã hội Bài viết “Hướng nghiệp - một vấn
đề cấp bách ở Việt Nam” của giáo sư Nguyễn Quang Quỳnh đưa ra một thông
Trang 19tin thú vị theo đó hàng năm Đại học Huế có khoảng 2500 sinh viên tốt nghiệp cử nhân, nhưng chi có một nửa số đó tìm được việc làm (kế cả việc làm tạm thời)5
đề cập đến nghiên cứu mới nhất là Đề tài khoa học cấp trường T.06.22 của Thạc
sĩ Nguyễn Thị Như Trang (Khoa Xã hội học, Trường ĐHKHXH&NV) được
tiến hành trong năm 2006: “Định hướng nghề nghiệp của sinh viên Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn” Tác giả đã lựa chọn khách thể nghiên cứu là
nhóm sinh viên năm thứ 2, năm thứ 3 và đi sâu phân tích, tìm hiểu thực trạng định hướng nghề nghiệp trong tương quan với định hướng chuyên môn và đánh giá hai yếu tố tác động đến định hướng nghề nghiệp của sinh viên: gia đình và trường học Trong phân tích các yếu tố tác động đến định hướng nghề nghiệp của sinh viên, bàng các chỉ báo định tính và định lượng, tác giả đã chỉ ra thực tế:
“Mặc dù gia đình ít có vai trò trong việc lựa chọn chuyên môn và định hướng giá trị việc làm nhưng gia đình lại có vai trò đáng kể trong việc duy tri hướng chuyên môn của sinh viên”[10, tr.37] Đồng thời tác giả cũng đã chỉ ra thực tế rằng môi trường đào tạo cũng có những tác động nhất định đến định hướng nghề nghiệp của sinh viên tuy nhiên sự tác động đó còn ở mức độ hạn chế hơn so với đòi hỏi của thực tiễn đặt ra Đề tài khoa học này đã hoàn thành tốt việc nhận dạng thực trạng định hướng nghề nghiệp của sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Tuy nhiên việc mới chỉ đi sâu phân tích ảnh hường của hai yếu tố gia đình và trường học đến định hướng nghề nghiệp của sinh viên là chưa đủ, hay nói cách khác dưới góc độ lý thuyết
xã hội học về các môi trường xã hội hóa thì đó mới là các yếu tổ tác động chính thức mà thôi (môi trường xã hội hóa chính thức: gia đình và trường học)
Một đề tài khoa học khá quen thuộc nữa cần được nhắc tới là nghiên cứu
“Định hướng giá trị của sinh viên ỉà con em cản bộ nghiên cứu khoa học” của
PGS TS Vũ Hào Quang có đề cập đến định hướng giá trị nghề nghiệp như một mảng nghiên cứu nhỏ của đề tài lấy khách thể nghiên cứu tập trung vào sinh viên là con em cán bộ nghiên cứu khoa học thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội
2 0
Trang 20-Bên cạnh đó, hướng nghiên cứu tìm hiểu một yếu tố tác động cũng được một số tác giả quan tâm, trong đó sự tác động của gia đình đến định hướng nghề nghiệp của thanh niên nói chung được lưu ý hơn cả Có thể kể đến đề tài luận
văn “ Vai trò của cha mẹ trong việc định hướng bậc học và nghề nghiệp của con
cái trong gia đình nông thôn hiện nay” của Nguyễn Thị Phương Dung (Khoa Xã
hội học, Trường Đại hoc Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà
Nội) hay đề tài khoa học “Vai trò của gia đình trong việc định hướng nghề
nghiệp cho con hiện nay (Qua khảo sát tại TP Hồ Chí Minh) của tác giả Nguyễn
Bảo Huân Chương - ĐH Mở TP Hồ Chí Minh Các tác giả đã đi sâu phân tích vai trò quan trọng của gia đình trong việc định hướng nghề nghiệp cho con Trên
cơ sở những số liệu thu thập được, tác giả đã chỉ ra thực trạng vai trò định hướng nghề nghiệp của gia đình đối với con cái đồng thời tác giả cũng đã đi sâu phân tích các mối tương quan giữa thực trạng đó với giữa trình độ học vấn, nghề nghiệp của cha mẹ, điều kiện kinh tế của gia đình Tuy nhiên chúng ta đều nhận thấy khách thể nghiên cửu của đề tài có sự khác biệt nhiều, thậm chí hoàn toàn
so với đối tượng đề tài luận văn này hướng tới
Chúng ta còn có thể kể đến nhiều đề tài khác nữa có đề cập tới vấn đề nghề nghiệp, ừong đó có đi vào phân tích các yếu tố tác động đến định hướng nghề nghiệp của khách thể nghiên cứu rộng hơn là thanh niên hay sinh viên nói chung Tuy nhiên có thể khẳng định ràng đi sâu phân tích một cách toàn diện có
hệ thống các yếu tố tác động đến định hướng nghề nghiệp của nhóm khách thể nghiên cứu đặc thù là sinh viên năm cuối các ngành khoa học xã hội là việc làm còn mới mẻ
1.1.2 Nghiên cứu về công tác hướng nghiệp và tư vân nghề trên thế gióiCông tác hướng nghiệp và tư vấn nghề xuất hiện khá sớm, điển hình là Pháp đã xuất hiện xu hướng này từ cuối thé kỷ XIX và phát triển mạnh mẽ ở các châu lục trên thế giới, từ Châu Ầu, Châu Á, Châu Mỹ, cho đến Châu Phi Những nghiên cứu về công tác hướng nghiệp, tư vấn nghề tại mỗi quốc gia cũng rất được chú trọng Trong đó, những nghiên cứu của các học giả Pháp đã tổng
Trang 21Bên cạnh đó, hướng nghiên cứu tìm hiểu một yếu tố tác động cũng được một số tác giả quan tâm, trong đó sự tác động của gia đình đến định hướng nghề nghiệp của thanh niên nói chung được lưu ý hơn cả Có thể kể đến đề tài luận
văn “Vai trò của cha mẹ trong việc định hướng bậc học và nghề nghiệp của con
cái trong gia đình nông thôn hiện nay” của Nguyễn Thị Phương Dung (Khoa Xã
hội học, Trường Đại hoc Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà
Nội) hay đề tài khoa học “ Vai trò của gia đình trong việc định hướng nghề
nghiệp cho con hiện nạy (Qua khảo sát tại TP Hồ Chí Minh) của tác giả Nguyễn
Bảo Huân Chương - ĐH Mở TP Hồ Chí Minh Các tác giả đã đi sâu phân tích vai trò quan trọng của gia đình trong việc định hướng nghề nghiệp cho con Trên
cơ sở những số liệu thu thập được, tác già đã chỉ ra thực trạng vai trò định hướng nghề nghiệp của gia đình đối với con cái đồng thời tác giả cũng đã đi sâu phân tích các mối tương quan giữa thực trạng đó với giữa trình độ học vấn, nghề nghiệp cùa cha mẹ, điều kiện kinh tế của gia đình Tuy nhiên chúng ta đều nhận thấy khách thể nghiên cứu của đề tài có sự khác biệt nhiều, thậm chí hoàn toàn
so với đối tượng đề tài luận văn này hướng tới
Chúng ta còn có thể kể đến nhiều đề tài khác nữa có đề cập tới vấn đề nghề nghiệp, trong đó có đi vào phân tích các yéu tố tác động đến định hướng nghề nghiệp của khách thể nghiên cửu rộng hơn là thanh niên hay sinh viên nói chung Tuy nhiên có thể khẳng định ràng đi sâu phân tích một cách toàn diện có
hệ thống các yếu tố tác động đến định hướng nghề nghiệp của nhóm khách thể nghiên cứu đặc thù là sinh viên năm cuối các ngành khoa học xã hội là việc làm còn mới mẻ
1.1.2 Nghiên cứu về công tác hướng nghiệp và tư vấn nghề trên thê'giới
Công tác hướng nghiệp và tư vấn nghề xuất hiện khá sớm, điển hình là Pháp đã xuất hiện xu hướng này từ cuối thế kỷ XIX và phát triển mạnh mẽ ở các châu lục trên thế giới, từ Châu Ầu, Châu Á, Châu Mỹ, cho đến Châu Phi Những nghiên cứu về công tác hướng nghiệp, tư vấn nghề tại mỗi quốc gia cũng rất được chú trọng Trong đó, những nghiên cứu của các học giả Pháp đã tổng
-21
A
Trang 22kết được những đặc điểm cơ bản của công tác hướng nghiệp, tư vấn nghề hiện
đại, điển hình là nghiên cứu “về lịch sử phát triển mô hình hướng nghiệp nhà
trường và chuyên môn Pháp” của GS Anne Lancry-Hoestlandt, Viện trường
Viện INETOP Nghiên cứu này đã khái quát những yếu tố cơ bản nhất của công tác hướng nghiệp và tư vấn nghề, bao gồm: phương pháp tiếp cận, thông tin về thị trường nghề, nghiên cứu đặc điểm tâm lý người tìm việc và tác động của môi trường đến người tìm việc
GS Anne Lancry-Hoestlandt đã chỉ ra xu hướng hiện này là tiếp cận công tác hướng nghiệp, tư vấn nghề theo hướng đa ngành, và triển khai dưới dạng liên ngành Phát triển mô hình tư vấn nghề với sự tham gia của nhiều bộ phận chức năng - đại diện cho những thành tố chính tác động đến việc lựa chọn nghề nghiệp: nhà kinh té chính ữị, nhà xã hội học, nhà tâm lý học đang là mô hình lý tưởng trên thế giới hiện nay Ba nhóm chức năng này có thể tác động trực tiếp đến sinh viên, học viên hay tác động gián tiếp đến cách thức hướng nghiệp, tư vấn nghề của những giảng viên đại học, cao đẳng hay trường nghề, từ đó, ảnh hưởng trực tiếp tới quyết định của lựa chọn nghề nghiệp của người học Nghiên cứu của TS Réne Pierre Halter, trưởng Ban Hướng nghiệp, Vụ Giáo dục học
đường, Bộ Giáo dục Quốc gia Pháp với tiêu đề “Hướng nghiệp tại Pháp: Một
năng lực được chia sẻ, một chính sách đặc thù của nền giáo dục quốc dân, một
tổ chức phục vụ cho chỉnh sách đỏ” cũng góp phần chứng minh điều này Ngoài
ra còn một số nghiên cứu khác cũng đề cập tới những phương pháp tiếp cận liên
ngành như “Mối quan hệ đào tạo - việc làm từ góc độ kinh tế học”, GS Jean
Michel Plassard, Phó hiệu trưởng trường đại học Khoa học Xã hội Toulouse 1 (UT1), Giám đốc Ban nghiên cửu về kinh tế học - Labô nghiên cứu liên ngành
về nguồn nhân lực và việc làm (LIRHE), Trần Thị Thanh Như, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội, NCS kinh tế học giáo dục tại Labô LIRHE, Đại học Toulouse 1, Pháp
Bên cạnh đó, thông tin về thị trường nghề với điểm mấu chốt là mối quan
hệ giữa cung - cầu lao động, hay còn gọi là giữa đào tạo - việc làm cũng đóng
Trang 23một vai trò quan trọng trong định hướng cách thức hướng nghiệp, tư vấn nghề
hiện nay “Hiểu rõ mối quan hệ giữa đào tạo và việc làm để hướng nghiệp tốt
hơn” của GS Jean Francois Germe, Giám đốc trường Nghiên cứu sinh Trường
học - Doanh nghiệp - Lao động CNAM París đã chỉ ra rằng hướng nghiệp, hay
tư vấn nghề không chỉ thuộc về những “người hướng nghiệp” mà đó còn là kết quả của quá trình kinh tế xã hộỉ
Không chỉ thế, trong công tác hướng nghiệp, tư vấn nghề, yếu tố tâm lý, đam mê, sở thích có vai trò rất quan trọng Điều này làm xuất hiện những nghiên
cứu người tìm việc theo hướng tiếp cận tâm lý như “Những ỷ tưởng đón đường
cho một tiếp cận nhân học hướng nghiệp” của GS Francis Danvers Nghiên cứu
này đề cập tới những khủng hoảng đa dạng ảnh hưởng tới công tác hướng nghiệp, trong đó nhấn mạnh đến những khủng hoảng mang sắc thái cá nhân của người tìm việc (khủng hoảng bản sắc), thể hiện qua luận điểm: các cá nhân tự định nghĩa lại bản sắc của chính mình thông qua lựa chọn nghề nghiệp tương lai Đây chính là điểm mấu chốt để các chuyên gia tâm lý căn cứ vào đó tư vấn nghề phù hçrp với đặc điểm tâm lý, tính cách, nguyện vọng, của từng cá nhân
Ngoài ra, tác động của môi trường đến lựa chọn nghề nghiệp cũng rất sâu rộng Trong hệ thống những nghiên cứu về công tác hướng nghiệp, tư vấn nghề,
nhiều học giả đã biện giải về vấn đề này thông qua những nghiên cứu như: “Sự
tiến triển kết hợp của hoàn cảnh học đường và của hướng nghiệp tại Pháp: Một vài điểm mốc cho lịch sử hướng nghiệp” của Régis Ouvrier-Bonnaz, Trung tâm
Nghiên cứu ứng dụng về Tâm lý và Hướng nghiệp Châu Âu INETOP/CNAM;
“Lịch sử hướng nghiệp tại Pháp thu nhỏ theo hai mô hình” TS Pierre Roche,
Chủ nhiệm nhóm nghiên cứu hướng nghiệp INETOP/CNAM mà nổi bật ỉà sự xem xét hướng nghiệp, tư vấn nghề ừong tiến triển của những sự kiện giáo dục,
xã hội, chính trị Đồng thời, nhiều nghiên cứu khác đã so sánh sự khác biệt trong bối cảnh kinh tế xã hội dẫn đến khác biệt trong triển khai hướng nghiệp, tư vấn nghề giữa Pháp với các quốc gia khác, dù quốc gia đó có thể áp dụng mô hình
mẫu của Pháp: “Hướng nghiệp tại Burkina Faso: Những điểm tương đồng và
2 3
Trang 24-khác biệt với hệ thống hướng nghiệp tại Pháp” của TS Rasmata Nabaloum,
Quebec: vấn đề hiện tại, điểm tương đồng và khác biệt so với hệ thống hướng nghiệp tại Phảp'\ GS Marcel Monette, trường Đại học Laval-Quebec; “ơ/áo dục trung học dạy nghề tại Hồng Kông”, TS Ken Volk, Khoa Công nghệ ứng
đụng và thông tin, Viện Nghiên cứu giáo dục Hồng Kông; “Khái niệm hóa sự
phát triển nghề giáo viên tại Singapore - Hướng giáo viên thành những người học suốt đời”, GS Lee Sing Kong & GS Tan Kwang San Steven, Trường Đại
học Công nghệ Nanyang; “Hoạt động hướng nghề tại Ảo”, TS Julia Zdrahal-
Ưrbaneck
Nhìn chung, công tác hướng nghiệp mà đặc biệt là tư vấn nghề ở các quốc gia có nhiều điểm chung bên cạnh những đặc điểm chịu sự chi phối của bối cảnh kinh tế, văn hóa xã hội của quốc gia đó
1.2 TƯ VẤN NGHÊ TRONG HỆ THỐNG HƯỚNG NGHIỆP * ■
1.2.1 Một sô'khái niệm công cụ
1.2.1.1 Khái niệm “Giám định lao động”
Để đưa một người vào một nghề cụ thể, việc quan trọng đầu tiên là phải tìm xem người ấy có phù họp với lao động của nghề đó không Công việc xác lập sự phù hợp của người với những yêu cầu lao động của nghề được gọi là giám định (Expertise) lao động Trên thực tế, bên cạnh giám định lao động còn
có giám định tâm lý, giám định pháp y, giám định y khoa, giám định tội phạm
Chuyên viên giám định là một người nắm vững chuyên môn, hiểu rõ kỹ thuật, có kinh nghiệm và vốn nghiệp vụ cao Nhiệm vụ của họ là soi sáng vấn
đề, phải rất khách quan, không đưa chính kiến và quan điểm của mình chen vào công việc giám định
Trang 25Trước hết, người làm giám định lao động phải hiểu rất rõ những yêu cầu của nghề đặt ra trước người thuộc diện tuyển vào nghề Đó là những yêu cầu về trinh độ kiến thức, năng lực chuyên môn cũng như về sức khoẻ và đặc điểm tâm
- sinh lý v.v
Mặt khác, nguời làm giám định lao động phải xác định cá nhân được tuyển vào lao động có những phẩm chất tâm lý nào, những mặt mạnh, mặt yếu của họ về trình độ nhận thức, kỹ năng chuyên môn, những đặc điểm về thể chất
Trang 26-Hình 1 Sơ đổ khái quát về giám định lao động
Trang 27người có sự phù hợp một phần với nghề Còn nếu sự không tương ứng là chủ yếu thì con người không phù hợp với nghề có nhu cầu tuyển người.
Sau đây là một ví dụ:
Nghề thợ may (Những yêu cầu của
nghề thự may)
Phù hợp ?
Ngồi lâu không mệt
Qua sơ đồ về giám định lao động, ta có thể nói rằng, sự tương ứng giữa
những yêu cầu của nghề đặt ra cho người ỉao động với những đặc điểm tâm - sinh lý của người đó nói lên sự phù hợp nghề của họ Nói cách khác, sự phù hợp
thể hiện ở chỗ, khi làm việc trong nghề, con người thấy mình “hoà hợp”, đáp ứng được những đòi hỏi của nghề nhờ vào những phẩm chất tâm lý và sinh lý của bản thân
2 7
Trang 28-Có ba dấu hiệu cơ bản về sự phù hợp nghề:
Một là, người lao động đảm bảo được tốc độ làm việc, tức là bảo đảm được yêu cầu sổ lượng theo định mức lao động;
Hai là, người lao động phải thực hiện chính xác những yêu cầu đối với
sản phẩm làm ra, tức là phải đảm bào chất lượng của mặt hàng: mặt hàng phải
làm đúng những quy định về mẫu mã, không làm ra quá nhiều thứ phẩm và phế phẩm
Trong công việc hàng ngày của người làm nghề may mặc, nấu ăn trong nhà hàng, cắt tóc, làm đồ trang sức, tạc tượng v.v , chỉ cần sơ xuất, không iàm đủng yêu cầu của người tiêu dùng thì người lao động sẽ mất khách hàng
Ví dụ:
- Nhà hàng đưa lên một món ăn không đúng yêu cầu chế biến sẽ bị khách
trả lại, từ chối không dùng
- Cắt tóc mà không đảm bảo đúng kiểu tóc theo yêu cầu sẽ bị phiền toái ngay với những khách hàng khó tính và thời thượng
- Lái xe trên đường đông người tham gia giao thông chỉ cần ước lượng khoảng cách tối thiểu không chính xác sẽ gây nên va chạm, có khi còn là tai vạ lớn
Ba là, người lao động không bị công việc tác động xẩu tới sức khoẻ.
Trang 29- Không bị nhức mắt khi hàng ngày luôn phải ngồi trước máy vi tính hoặc phải hàn điện suốt buổi làm việc.
- Không bị khản giọng hoặc viêm họng khi phải giảng bài 3,4 tiết học liềnnhau
- Không bị dị ứng sơn trong khi làm công việc luôn phải dùng các loạisơn
Cũng cần nói thêm rằng, một số người lúc đầu có những dấu hiệu không phù hợp nghề, nhưng do họ yêu thích công việc của nghề mà tập luyện để khắc phục những khiếm khuyết, nhờ đó họ làm tốt công việc trong nghề Chẳng hạn, một người thích làm thầy giáo nhưng lại nói lắp hoặc nói ngọng (trường hợp phát âm chữ 1 lẫn với chữ n) tưởng là cố tật, nhưng họ quyết tâm sửa nên tật ngôn ngữ trên đã được triệt tiêu Tuy nhiên, có nhiều trường hợp như gù lưng, khoèo chân, hay quên, dễ nổi nóng v.v thì không nên chọn nghề dạy học
1.2.1.3 Khái niệm về hướng nghiệp
Với những người chưa tham gia lao động nghề nghiệp, đang trong giai đoạn lựa chọn nghề thì việc giám định lao động với họ được gọi là hướng
nghiệp Nhìn chung, công tác hướng nghiệp trong nhà trường (tức là hướng nghiệp cho thanh, thiếu niên đang học tập, chưa đi vào một nghề nhất định), là
những tác động về tâm ỉỷ, giáo dục và y học đối với một người cụ thể, nhằm giúp họ có cơ sở lý giải trong việc ỉựa chọn cho mình một nghề nào đó Nói
cách khác, đó là công việc giúp đỡ con người chọn nghề một cách họp lý
Công tác hướng nghiệp gồm ba bộ phận cấu thành, được nhà tâm lý học
Xô viết K.K Platonov khái quát bàng “Tam giác hướng nghiệp” Dưới đây là hình tam giác đó
2 9
Trang 30-Hình 2 Tam giác hướng nghiệp
Hình tam giác ABC trên đây biểu thị một khối lượng tri thức cần cho công tác hướng nghiệp
- Cạnh AB biểu thị những tri thức về thế giới nghề nghiệp và những yêu cầu của nghề đặt ra đối với người lao động
- Canh AC là những tri thức về thị trường lao động (những lĩnh vực lao động đang cần nhân lực bổ sung và yêu cầu về từng nguồn nhân lực v.v )
- Canh BC là lĩnh vực hiểu biết về đặc điểm nhân cách của người cụ thể (đặc điểm của quá trình cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng, trí nhớ; đặc điểm của tính cách và khí chất v.v )
Trang 31Căn cứ vào thị trường lao động hàng năm và vào những yêu cầu của từng nghề, các chuyên gia hướng nghiệp giúp cho thanh thiếu niên thấy được những hướng cần thiết trong việc chọn nghề tương lai: Lĩnh vực lao động nào đang cần tuyển chọn người; đi vào nghề của lũih vực đó thì con người phải đáp ứng những yêu cầu nào của lĩnh vực lao động nghề nghiệp đó đặt ra v.v Công việc
này gọi là định hướng nghề,
Căn cứ vào sự phát triển của thị trường lao động, vào những năng lực thể chất cũng như năng lực tinh thần của từng con người, người ta quyết định nhận
người này vào nghề này, những người khác vào nghề kia Đó là khâu tuyển chọn
nghề.
Căn cứ vào năng lực cụ thể, dựa trên nghiên cứu, đo đạc những phẩm chất nhân cách của con người và vào những yêu cầu của từng nghề, người ta đưa ra
những lời khuyên chọn nghề Công việc đó gọi là tư vấn nghề.
Qua sơ đồ “Tam giác hướng nghiệp”, chúng ta thấy được tư vấn nghề trong hệ thống hướng nghiệp và hiểu được thực chất của tư vấn nghề là gì để có thể từ đó định ra cách xây dựng phòng tư vấn nghề
1.2.2 Những công việc cơ bản của tư vấn nghể
1.2.2.1 Chuẩn bị những tư liệu cần thiết cho việc tư vấn nghề
Việc cần thiết đầu tiên là phải chuẩn bị cơ sở dữ liệu cho tư vấn nghề Đó
là những sách báo, tài liệu phim ảnh v.v mang tải những thông tin về hệ thống nghề đang cần tuyển chọn lao động Những tư liệu cơ bản nhất phải có là:
a) Những sách và tài liệu giới thiệu về những nghề cụ thể;
b) Những tài liệu giới thiệu về các trường đào tạo nghề (từ sơ cấp đến đạihọc);
c) Những bản mô tả nghề
Bản mô tả nghề (Professiogramme) thường là những thông tin ngắn gọn
về một nghề nào đó như:
3 1
Trang 32Tên nghề và những chuyên môn trong nghề;
- Yêu cầu về trình độ đối với người muốn theo học nghề: nghề đòi hỏi phải có những tri thức vững vàng về các môn học nào, trình độ đầu vào của tri thức đó (sơ cấp, trung cấp hay ưên nữa), những kỹ năng hiện có v.v
- Những đặc điểm cơ bản của nghề (đối tượng lao động, mục đích lao động, công cụ lao động, điều kiện lao động);
- Chế độ làm việc trong nghề (các mức lương và phụ cấp, chế độ nghỉ phép, bảo hiểm xã hội v.v );
- Những chống chỉ định về y tế
- Điều kiện và chế độ, chính sách để đảm bảo sự thăng tiến nghề nghiệp;
- Những cơ sở đào tạo nghề ở địa phương và trong nước;
- Những nơi có thể tiếp nhận sau khi tốt nghiệp khoá học nghề
nghề Công cụ chủ yếu hiện thường dùng là những trắc nghiệm (Test) Bộ trắc nghiệm trong một phòng tư vấn nghề có thể bao gồm hàng trăm test về trí tưởng
tượng, về tư duy và trí nhớ, về nhận thức và học vấn
Để mô tả sơ bộ những việc kể trên, ta đi vào một thí dụ về tư vấn cho một thanh niên muốn học nghề lái xe
Trong bản mô tả nghề nghiệp, với nghề lái xe, người ta có một số thông
tin, tổng họp lại thành mấy yêu cầu cơ bản mà nghề lái xe đặt ra trước người lao động:
- Không mù màu đỏ
- Phản ứng vận động chân, tay phải rất nhanh;
- Lao động nhiều giờ ở tư thế ngồi mà không mệt mỏi;
- Không được đãng trí, thiếu tập trung ý thức vào công việc;
- Không mắc những bệnh như cao huyết áp, tim mạch, đau lưng;
Trang 33- Thích ứng nhanh với những nơi ở mới;
Tiếp theo là đo thời gian tiềm tàng của phản ứng (temps de latence) - đó là thời gian bắt đầu có phản ứng tính từ khi xuất hiện kích thích
Ví dụ: Giả sử có một chiếc xe đang bon trên đường thì bất thình lình có
một người nhảy ra giữa đường vẫy xe Trong trường hợp này, ông Velicanov, một kỹ sư người Nga, cho ràng giữa ôtô với người vẫy xe có một mối “quan hệ nguy hiểm” được mô tả ở hình vẽ sau:
Hình 3 Môi quan hệ nguy hiểm giữa người lái xe với người đứng ở lòngđường
L: Khoảng cách từ mắt người lái xe đến người đi bộ
Trang 34a: Khoảng cách từ mắt người lái xe đén mũi xe Khoảng cách này có số đo không đổi (a: const)
S|I Quãng đường xe chạy khi người lái xe ữông thấy người đứng ở lòng đường nhưng chưa có tác động hãm phanh
s 2: Quãng đường xe chạy tiếp do quán tính mặc dù đã hãm phanh
b: Khoảng cách từ chiếc xe ôtô đã dừng hoàn toàn tới người đi bộ Trường hợp cụ thể, bao giờ b cũng là một độ dài nào đó, tức là độ dài không đổi (b: const)
Ta thấy rằng, nếu b > 0 thi không xảy ra tai nạn
Độ dài b là bao nhiêu tuỳ thuộc hai yếu tố:
- Người lái xe phản ứng nhanh thì quãng đường Si sẽ ngắn Càng phản ứng chậm thì độ dài Si càng lớn
ngắn
v ề phương diện giám định lao động, người ta nhất thiết phải dùng test để
đo thời gian tiềm tàng của phản ứng ở người lái xe
1.2.2.2 Xác định miền chọn nghề tối ưu
Trong công tác tư vấn nghề, chuyên gia tư vấn phải quan tâm tới ba nguyên tắc chọn nghề:
Trang 35có người đã quyết tâm để phát triển những năng lực lao động vốn là điểm yếu của họ.
Với hứng thú hoạt động, con người sẽ làm cho công việc mà mình đảm nhiệm trở nên hào hứng, sôi nổi và đó là điều kiện hết sức cơ bản để lao động trở nên sáng tạo
Năng lực không phải là cái có sẵn, mà là cái được hình thành và được xây dựng Do vậy, trong tư vấn, chuyên gia phải có sự nhìn nhận sâu vào những triển vọng phát triển của người chọn nghề, có sự chẩn đoán vào sự phát triển năng lực của họ
Còn về nhu cầu lao động của các lĩnh vực nghề nghiệp, cần coi đây là một thông số không kém phần quan trọng Nếu chọn những nghề không cần bổ sung thêm nhân lực, hoặc sản phẩm của nghề đó không còn được thị trường chấp nhận thì chắc chắn là kết quả sẽ không như mong muốn
Từ ba nguyên tắc chọn nghề trên, ta thấy việc chọn nghề hội tụ đủ ba yếu
tố, tức là giữ đúng ba nguyên tắc lựa chọn thì sẽ đảm bảo được sự chuẩn xác cần thiết
Hình 4 Miền chọn nghề tôi ưu
3 5
Trang 36có thể được mô tả theo bốn dấu hiệu cơ bản sau đây:
- Đối tượng lao động;
- Mục đích lao động;
- Công cụ lao động;
- Điều kiện lao động
a) Đối tượng lao động
Đối tượng lao động là những thuộc tính, những mối quan hệ qua lại của các sự vật, các hiện tượng, các quá trình mà ở cương vị lao động nhất định con người phải vận dụng và tác động vào chúng Ví dụ, đối tượng lao động của người làm vườn là những cây trồng, những điều kiện sinh sống và phát triển của
phát triển của chúng rất đa dạng và phức tạp
Trang 37Công cụ lao động không chỉ là những đụng cụ gia công mà còn cả những phương tiện làm gia tăng năng lực nhận thức của người về những đặc điểm của đối tượng lao động, đồng thời, làm tăng sự tác động của người tới đối tượng Những dụng cụ đo lường, những máy móc biến đổi năng lượng, xử lý thông tin cùng những quy tắc, phương thức giải quyết các nhiệm vụ thực hành và lý luận đều được coi ỉà công cụ lao động.
d) Điều kiện lao động
Điều kiện lao động ở đây là những đặc điểm của môi trường mà trong đó lao động nghề nghiệp được tiến hành
Từ bốn dấu hiệu cơ bản trên đây, người ta xây dựng các công thức nghề
KIỂU NGHÈ
Căn cứ vào đối tượng lao động, người ta chia các nghề thành năm kiểu:
- Nghề “Nguời tiếp xúc với thiên nhiên” (trồng trọt, chăn nuôi, bảo vệ và
- Nghề “Người tiếp xúc với kỹ thuật” (kỹ thuật tiện, nguội, phay, hàn, lắp ráp ôtô, xe máy v v K i ể u nghề này được kí hiệu là K2
- Nghề “Người tiếp xúc với người” (bán hàng, dạy học, chữa bệnh, tiếp thị
- Nghề “Người tiếp xúc với nghệ thuật “ (soạn nhạc, viết vãn, làm thơ,
- Nghề “Người tiếp xúc với các dấu hiệu” (sắp chữ in, tốc ký, chế bản vi tính, hoạ đồ kỹ thuật v.v )• Kiểu nghề này được kí hiệu là K5
DẠNG NGHÈ
Căn cứ vào mục đích lao động, người ta chia các nghề thành ba DẠNG:
- Nghề có mục đích nhận thức đối tượng (thanh tra chuyên môn, kiểm
3 7
Trang 38Nghề có mục đích biến đổi đối tượng (dạy học, chữa bệnh, sản xuất
- Nghề có mục đích tìm tòi, khám phá, phát hiện đối tượng (nghiên cứu
này được kí hiệu là D3
LOẠI NGHÈ
Căn cứ vào công cụ lao động, người ta chia các nghề thành bốn LOẠI:
Loại nghề này được kí hiệu là Lj
- Nghề lao động sử dụng các máy (may mặc, lái xe, đóng bàn ghế, chế tạo
- Nghề sử dụng kỹ thuật điểu khiển, các máy tự động (sản xuất theo chương trình máy tính, thao tác hệ thống điều khiển và thao tác viên trong hệ
- Nghề sử dụng những công cụ đặc biệt (ngôn ngữ nói và viết, ngôn ngữ động tác, nghiên cứu lý luận, nhạc công V.V Ạ Loại nghề này được kí hiệu là
NHÓM NGHÈ
Căn cứ vào điều kiện lao động, người ta chia các nghề thành bốn NHÓM:
- Nghề được tiến hành trong môi trường đạo đức là chủ yếu (xử án, giáo dục, quản lý tội phạm, cải tạo con người v.v ) Nhóm nghề này được kí hiệu là
- Nghề được tiến hành trong không gian sinh hoạt bình thường (kế toán, thủ quỹ, may mặc, sửa chữa dụng cụ, máy móc, chụp ảnh v.v ) Nhóm nghề này được kí hiệu là N2
Trang 39- Nghề được tiến hành trong không gian khoáng đạt (chăn nuôi các súc vật trên đồng cỏ, trồng hoa, cây cảnh, nuôi cá, nuôi ong v.v ) Nhóm nghề này được kí hiệu là N3.
- Nghề được tiến hành trong môi trường đặc biệt (đu hành vũ trụ, lái máy bay thí nghiệm, làm việc dưới lòng đất như thợ mỏ, xây dựng công trình ngầm
Việc phân chia các nghề theo các dấu hiệu trên đây chỉ có độ chính xác tương đối Có những nghề rất khó dứt khoát xếp vào kiểu nào, dạng nào, nhóm nào, loại nào Trong những trường hợp ấy, nhà tư vấn cần rất linh hoạt khi đưa
ra lời khuyên chọn nghề
Người ta ghép bốn dấu hiệu của nghề định chọn lại Sự ghép Kiểu - Dạng
- Loại - Nhóm của một nghề lại sẽ cho ta công thức của nghề
- Có những nghề có chung ba trong bốn dấu hiệu Người ta có thể chuyển
từ nghề A sang nghề B mà không có khó khăn nhiều
- Đối với những nghề khác nhau hoàn toàn về công thức thì không nên tư vấn chuyển từ nghề này sang nghề khác
3 9
Trang 40-Hình 5: Xác định công thức của nghề phù hợp
Lời khuyên chọn nghề
Công thức của nghề phù hợp
K1D2L2N3
lý với mục đích tư vâh nghề
Sau đây chúng ta đi vào vài cách đo để có khái niệm về những phương
pháp cụ thể mà người ta thường dùng
1.2.3.1 Hứng thú và cách đánh giá hứng thú
a) Hứng thú