Đặc biệt, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Hiến pháp 1992 đã dành hắn một điều để nói về quyền con người, đó là Điều 50 với nội dung khẳng định: “Ở Nước cộng hoà xã hội chủ
Trang 1
Người thực hiện: Trần Hải Yến
Đề tài
CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ
CÁC QUYỀN DÂN SỰ VÀ CHÍNH TRỊ NĂM 1966
VÀ VIỆC THUC HIEN Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
| Đứ
rey
Ma so: 5.05.12
V- Lo] MF
LUAN VAN THAC Si LUAT HOC
Giáo viên hướng dẫn: Ts Nguyễn Hồng Thao
Trang 2
Người thực hiện: Trần Hải Yến
Đề tài
CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ
CÁC QUYỀN DÂN SỰ VÀ CHÍNH TRỊ NĂM 1966
VÀ VIỆC THUC HIEN Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
| Đứ
rey
Ma so: 5.05.12
V- Lo] MF
LUAN VAN THAC Si LUAT HOC
Giáo viên hướng dẫn: Ts Nguyễn Hồng Thao
Trang 3CD NG sa neiieeeenetisssioessereerbbeUkobioooriooidreellisovessoaverisgtlEaikebehsSsesolsdlsetjtaevavasesstssinkiSa 8
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ, csccrreeirrrreeerrrrred 8
VỀ CÁC QUYỀN DÂN SỰ VÀ CHÍNH TRỊ NĂM 1966 .-.- cccc¿-cccccccessccerreee 8
1.1 Lịch sử hình thành quyền dân sự và chính tr . -s-s«<«=s 8 1.2 Khai niệm quyền dân sự và chính fT ] s< «<< «=<sees=ssesseses 14 1.7.1 Các [hế hệ HUY uc csiinibsesibiaguilELasagovisrstbiilleebsesesside 14
1.2.2 Khái niệm quyền dân sự và chính fr] -s<s<ses=ss 15
1.2.3 Vai tro, vi tri cua quyền dân sự và chính trị .- - 15
1.2.4 Dac điểm của quyền dân sự và chính trị -s-«<- 17
1.3 Nội dung của Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị năm
1.3.1 Cơ sở xác định và bảo đảm thực hiện quyền dân sự và chính trị19 1.3.2 Phần 1: Cơ sở bảo đảm thực hiện các quyền dân sự và chính trị trước hết là thực hiện quyền dân tộc tự QUYẾT -s-<«-<«< «<< «5< 5s «s«+<ss+ 20
1.3.3 Phân 2: Xác định sự cam kết của các quốc gia thành viên tôn trọng và bảo đảm cho mọi người các quyền đã được công nhận trong Công LÚC csáxskc<x460161445511301001G7403613831335 0280054583 3:xugtaxcigi88450ã095581S949593461544106081084050.99/fxv9 exzrxixee 21
1.3.4 Phan 3: Noi dung cụ thể của các quyền dân sự và chính trị 22 1.3.5 Phân 4: Thiết chế bảo đảm thực hiện quyền dân sự và chính trị31 1.3.6 Phần 5 Côn ỨC seeeoesesiinaniisaaisaeanoniiabriasnerlssesssrsisssaesi 31 1.3.7 Phần 6 Công ƯỚC eeceeoeeiasniikiieiiessinnisadissssssanssisaesassrisssesdsdi 32 1.4 Hai Nghị định thư không bắt buộc bổ sung của Công ước 32 1.4.1 Nghị định thư thứ nhhất - - - < <- «55 «<< 5< «55 <sesseeeeeseeee 32 1.4.2 Nghị định thư thứ hai . - «5-5-5555 series 33 1.5 Cơ chế bảo vệ và phát triển các quyền dân sự và chính trị theo Công
UG, an csenieccessi12xessaesissdesSSk6888500406903ã0a966563ã056ggg0iidhkaawassiusaevsoeetgssdjssig3ì9xøsa9sxsesassshe3+94® 33
THUC HIEN CONG UGC QUOC TE VE CAC QUYEN DAN SU VA CHINH TRI
NAM 1966 TAI VIET NAMA cccccsssscssssccssssscsssssssssssssssssssesssssessssnscsensecssssccssssscenscessnscesensessosees 36
2.1 Pháp luật Việt Nam về quyền con người -«-«=s=e<esese+ 36 2.1.1 Lịch sử phát triển của pháp luật Việt Nam về quyền con người 36
Trang 42.1.2 Việt Nam với việc gia nhập các Công ước quốc tế về quyền con
"H0 n.ốốốốốốốố 40 2.2 Sự tương thích của pháp luật Việt Nam về các quyền dân sự và chính trị so với Công ước quốc tế về các quyền dân sự - chính trị năm 1966 43
2.2.1 Các nguyên tắc chung của pháp luật bảo vệ quyền con người ở TRÍ NT, sao ceossEcdelGeeiaikdlesexeissttikbrsdtzsibsitie vs cbhjeiloeMaoasksedidtslmastbsrttetosainbmiid cai 44
2.2.2 Các quyền dan sự và chính trị trong hệ thống pháp luật Việt |
NT uc saeesasbdbsslsensioshsryfieayebsDiirenatbypsdrpreeatusirsfSerpbcvlllcyengodkrglnyerrke 52 2.3 Các thiết chế đảm bảo thực thi các quyền dân sự và chính trị theo quy định của Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị năm 1966 91
2.3.1 Quốc hội 5G 5 55s 9 99995 95.98.5885885 03895885 865895858156 92 2.3.2 Chính phỦ << 5 << s9 9.9.9.9 0.0 0.0.0 0.10 010 16 93
“uy CƠ quan HỆ DHẮP siecseneesianaiasdannaasraaaaskistiasniiabasDllsiiskszsripserrse 94 2.3.4 Cơ chế CUng << << «<< s9 9.599.569 9 90.00 0 950 95 2.4 Việt Nam trong sự hợp tác với các nước về quyền con người 97 2.5 Đấu tranh chống diễn biến hoà bình và bảo vệ quyền con người ở Việt Nam trong giai đoạn hiện naV o <5 G56 S3 9v Y9 000004 98
CHUNG Ã naangengggrarrrtrrnntrrrroragBisvg 0040101 01 81XÖÌSE2i0040085.3401430284gSÏN0ï24630011339000:10x/801/140 07848 101
PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN c-s< «s29 SE S200 S205025008008003566040 101
3.1 Về nguyên tắc bảo đảm cho công dân quyền được Toà án bảo vệ 101 3,2 VỀ QUYỀN BS Hữ1 n6 0a ksbsa6sleiiosLplesideenadlisitaaraeseioiea 102 3.3 Về quyền tự do ngôn luậnn - << << «<< 5< «S1 esssxe 105 3:4 Về tị do lÔNi gÌ lũ há 220 0064 babsebsaedibltteoakaecbslEdeiaiadbdsioadbsinsetasek 106 3.5 Về quyền tham gia xây dựng và quản lý Nhà nước của người dân 106
KẾT TU N20 00c 1 soi vedasselfNosoaglslibaedisouert.lbsesklseibtSdida II
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO - 5-52 s55 sSs se£seexexserserseexserserse 112
CÁC.VẬN BAN PHAP LU AT si secssissssscannsuosseossssnlsiceasnennsinshorsoonbipusna egersntoosenseetuasonessocerthsoiis 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO KHHÁCC - se © € € ©E€ SE EE* + E£ eEeverxerserxee 114
Trang 5Quyền con người từ lâu đã là mối quan tâm của loài người, vì quyền con người là một trong những vấn đề thiêng liêng, cơ bản và luôn là khát vọng của toàn nhân loại Quyền con người được sinh ra và được bảo đảm thực hiện như một lẽ tự nhiên Quyền con người là vấn đề trọng yếu của pháp luật quốc tế và cả pháp luật quốc gia Quyền con người đã có từ lâu và ngày càng được phát triển Đến nay, khi nền kinh tế thế giới phát triển thì quyền con người lại càng được các quốc gia quan tâm đảm bảo hơn
Ở Việt Nam, sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, quyền con người chính thức được tuyên bố và ghi nhận bằng pháp luật Hiến pháp 1946 quy định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” Với quy định này, lần đầu tiên việc bảo đảm thực hiện quyền lực của nhân dân Việt Nam được ghi nhận trong đạo luật cơ bản của
Nhà nước và đây cũng chính là sự khẳng định nguyên tắc quyền lực Nhà nước bắt
nguồn từ nhân dân Quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam, xét cho cùng cũng chỉ vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội mà cốt lõi của nó là bảo đảm thực hiện quyền con người, vì hạnh phúc của con người Phản ánh quá trình đó, từ Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 cho đến Hiến pháp 1992 đều thể chế hoá quyền con người, từng bước mở rộng quyền con người Đặc biệt, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Hiến pháp 1992 đã dành hắn một điều để nói về quyền con người, đó là Điều 50 với nội dung khẳng định: “Ở Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội đựơc tôn trọng thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và Luật”
Hàng loạt các văn bản pháp luật liên quan đến quyền con người được ban hành như: Pháp lệnh chống tham nhũng (ban hành ngày 26/02/1998, có hiệu lực ngày 01/5/1998); Pháp lệnh về người tàn tật (ban hành ngày 08/8/1998, có hiệu lực ngày 1/11/1998); Pháp lệnh phòng chống những vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch
Trang 6mắc phải ở người 1995; Pháp lệnh người cao tuổi (ban hành ngày 28/4/2000, có hiệu lực ngày 01/7/2000); Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Quốc hội thông qua ngày 12/11/1996 có hiệu lực ngày 1/1/1996, sửa đổi có hiệu lực ngày 27/12/2002); Pháp lệnh xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam (Quốc hội 28/4/2000 có hiệu lực ngày 1/8/2001); Luật giáo dục (Quốc hội thông qua ngày 2/12/1998, có hiệu lực ngày 1/6/99; Luật khiếu nại tố cáo (ban hành ngày 2/12/1998, có hiệu lực ngày 01/01/1999; Luật hôn nhân gia đình (Quốc hội thông qua ngày 9/6/2000,
có hiệu lực ngày 1/1/2000)
Đồng thời với việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật liên quan đến quyền con người, Nhà nước ta đã tích cực tham gia các điều ước quốc tế về quyền con người Đến nay, Việt Nam đã gia nhập hoặc ký kết và phê chuẩn 8 công ước quốc tế về quyền con người, đó là: Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982); Công ước quốc tế về các quyền kinh tế - văn hoá
- xã hội (Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982); Công ước về loại trừ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (Việt Nam gia nhập ngày 9/6/1981); Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ (Việt Nam ký kết, phê chuẩn ngày 17/2/1982); Công ước về loại trừ và trừng phạt tôi ác Apacthai (Việt Nam gia nhập ngày 9/6/1981); Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng; bốn Công ước Giơ - ne - vơ về bảo hộ nạn nhân chiến tranh (I- Công ước Giơnevơ 12/8/1949 về việc bảo hộ thường dân trong lúc chiến tranh, Việt Nam gia nhập ngày 5/6/1957; 2- Công ước Giơnevơ 12/8/1949 về việc đối xử với tù binh,Việt Nam gia nhập ngày 5/6/1957; 3- Công ước Giơnevơ 12/8/1949
về cải thiện tình trạng thương binh, bệnh binh và những người bị đắm tàu thuộc lực lượng hải quân, Việt Nam gia nhập ngày 5/6/1957; 4- Công ước Giơnevơ 12/8/1949 về cải thiện tình trạng thương binh, bệnh binh và những người bị đắm tàu thuộc lực lượng
vũ trang chiến đấu trên bộ, Việt Nam gia nhập ngày 5/6/1957), Công ước quốc tế về quyền trẻ em (Việt Nam ký kết, phê chuẩn ngày 20/2/1990) Các công ước này đều là những công ước quan trọng và Việt Nam đã nỗ lực phấn đấu thực hiện một cách nghiêm chỉnh
Việc ban hành văn bản pháp luật liên quan đến quyền con người là rất quan trọng nhưng làm sao để pháp luật được tôn trọng và đi vào cuộc sống cũng đóng vai trò
Trang 7đảm thực thi pháp luật về quyền con người nói riêng một cách có hiệu quả
Trong giai đoạn hiện nay, cùng với quá trình đổi mới và xu thế hội nhập thì việc thực hiện quyền con người nói chung, việc thực hiện các quyền dân sự và chính trị nói
riêng ngày càng quan trọng Điều này không những tác động đến sự phát triển của nền kinh tế mà nó còn ảnh hưởng đến chính trị của đất nước, vì nhiều cường quốc thông qua
chiêu bài “nhân quyền” để can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, đặc biệt là
những nước đang phát triển như Việt Nam
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Công ước quốc tế về các
quyền dân sự và chính trị năm 1966 và việc thực hiện ở Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay” để làm luận văn tốt nghiệp
2.Tình hình nghiên cứu:
Trong các công ước về quyền con người thì Công ước quốc tế về các quyền dân
sự - chính trị 1966 là một trong những Công ước quan trọng vì nó quy định những
quyền cơ bản nhất của con người Quyền dân sự và chính trị có thể được xem như những hạt nhân cơ bản đóng vai trò chính trong quá trình con người thực hiện cuộc sống của mình Mặt khác, các quyền dân sự và chính trị còn có giá trị phổ cập đối với
toàn thể nhân loại, không phân biệt dân tộc, tầng lớp, giai cấp, giới tính, màu da Thực
hiện và đảm bảo tốt quyền dân sự và chính trị tức là đã đáp ứng được quyền, tự do, lợi
ích của cá nhân
Quyền con người nói chung được rất nhiều tổ chức quốc tế cũng như các quốc gia quan tâm nghiên cứu Ở Việt Nam, quyền con người không phải là vấn đề mới mẻ
mà đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết của các nhà khoa học về vấn đề này
như : “ Quyền con người, quyền công dân” của Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh xuất bản năm 1993: luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Mạnh “Xây dựng và hoàn thiện bảo đảm pháp lý thực hiện quyền con người trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay” năm 1998; “Một số vấn đề về quyển dân sự và chính trị” của Trung tâm
Trang 8nghiên cứu quyền con người thuộc Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 1997;
“Quyền con người và quyền công dân” của Giáo sư - Tiến sĩ Hoàng Văn Hảo và Chu
Thành năm 2000
Tuy nhiên, các công trình, bài viết này hoặc là tổng quát, hoặc đi sâu nghiên
cứu, phân tích, luận giải một số nội dung về quyền con người, các biện pháp bảo đảm
quyền con người, bảo vệ quyền con người chứ chưa có công trình nào đi sâu nghiên
cứu một cách toàn diện, có hệ thống về Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính
trị và việc thực hiện các quyền dân sự và chính trị tại Việt Nam hiện nay Luận văn này
sẽ tập trung nghiên cứu về vấn đề này
3 Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu các quy định của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và
chính trị năm 1966 và đặc biệt là việc thực thí Công ước trong lĩnh vực pháp luật tại
Việt Nam
4 Pham vị nghiên cứu:
Thực hiện quyền dân sự và chính trị có nội dung rộng lớn, liên quan đến nhiều
lĩnh vực Trong khuôn khổ đề tài luận văn, tác giả không có tham vọng mở rộng phạm
vi nghiên cứu đề tài trên diện rộng mà chỉ giới hạn ở việc đi sâu nghiên cứu pháp luật
Việt Nam liên quan đến các quyền dân sự và chính trị giai đoạn từ năm 1986 đến nay
3 Muc tiêu của luận văn:
Mục tiêu của luận văn là thông qua việc nghiên cứu, phân tích các quy định pháp
luật Việt Nam góp phần làm sáng tỏ các luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc hoàn
thiện pháp luật liên quan đến các quyền dân sự - chính trị
Xuất phát từ mục tiêu trên, Đề tài tập trung làm sáng tỏ các vấn đề sau:
- - Rà soát và hệ thống hoá các văn bản pháp luật Việt Nam trong lính vực liên
quan đến các quyền dân sự và chính trị;
Trang 9thi quyền dân sự và chính trị; những điểm đã đạt được, những hạn chế, phương hướng hoàn thiện
Ó Phương pháp nghiên cứu:
Việc nghiên cứu đề tài được dựa trên cơ sở những quan điểm của chủ nghĩa Mác
~ Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Dang Cong sản Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu của đề tài là phương pháp duy vật biện chứng, kết hợp với việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp nghiên cứu chính trị, phương pháp so sánh
Kết cấu của đề tài
Luận văn có cấu trúc gồm 3 chương
Chương I1: Khái quát chung về Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính
trị năm 1966
Chương 2: Thực hiện Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị nam
1966 tại Việt Nam
Chương 3: Phương hướng hoàn thiện
Trang 10CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ
Quá trình hình thành quyền con người luôn gắn liền với những bước tiến khác nhau về tổ chức xã hội Không phải khi xuất hiện loài người là đã có quyền con người,
mà quyền con người chỉ xuất hiện khi con người bị vi phạm về quyền, nghĩa là khi xã hội có phân chia giai cấp, có sự vi phạm công bằng vốn có của nhân loại sơ khai làm nảy sinh nhu cầu tái lập sự bình đẳng trong xã hội của bộ phận nhân loại bị thống trị Đến lúc này, quyền con người mới bắt đầu lịch sử của nó, và các quyền dân sự chính trị
cũng vậy
Tư tưởng về các quyền dân sự chính trị ra đời từ rất sớm, cùng với sự hình thành Nhà nước và giai cấp trong lịch sử nhân loại Ở xã hội cổ đại phương Đông đã sớm xuất hiện các bộ luật như Luật Manu, Luật Hamurabi Mặc dù là công cụ phục vụ mục đích thống trị nhưng các bộ luật này đều toát lên những ý tưởng bình đẳng, dân chủ:
“Ta thiết lập những đạo luật này nhằm ngăn chặn kẻ mạnh áp bức kẻ yếu” (đạo luật của Hoàng đế Hamurabi thế kỷ 18 TCN) Xã hội Trung Quốc cổ đại đã sớm xuất hiện tư tưởng về quyền bình đẳng tự nhiên của con người, quyền của nhân dân được tham gia quản lý Nhà nước như Mặc Tử (Mặc Địch, 478-392TCN), một triết gia cổ đại của Trung Hoa, trong tác phẩm “Kiêm ái” của mình đã đề cao “những giá trị tự do và bình
đăng tự nhiên của con người, coi nguồn gốc của Nhà nước phát sinh từ sự thoả thuận xã
Trang 11đã lý giải một cách khoa học về sự xuất hiện và hình thành con người cũng như xã hội loài người Theo ông, sự ra đời, tồn tại của Nhà nước và pháp luật: “là kết quả đấu tranh lâu dài của con người bị thiếu thốn và đè nén trong xã hội tiền văn minh buộc phải sống
và liên kết với nhau thành cộng đồng Nhà nước là sự thể hiện các quyền lợi chung của
các công dân trong đó”!°l Theo ông, nhân loại sẽ đạt được sự tiến bộ và để đạt được
điều đó thì trong mọi thứ, bình đẳng là tuyệt diệu, tự do hơn là nô lệ Bên cạnh Đê-mô- crit còn có Pitago, Grocghi, Antiphon, Akhiđam Ngoài ra, nói đến nhân quyền trong thời kỳ này không thể không nhắc đến Arixtot (384-322 TCN), người được Mác đánh
giá là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất thời cổ đại vì quan điểm của ông là:
toàn bộ lĩnh vực quyền là bất biến, không phải ở đâu “quyền con người” cũng giống nhau, mà ngược lại rất khác nhau, có sự phân biệt nhất định giữa người giàu và người nghèo
Thời trung cổ, Giáo hội giữ vai trò thống soái và can thiệp sâu vào đời sống
chính trị, xã hội Tô-mat Đa-canh (1225-1274), trong học thuyết thần quyền của mình cho rằng: thần dân có quyền sống, hôn nhân và sinh đẻ mà nhà cầm quyền không thể
xâm phạm Ngoài ra, phải kể đến Abun Ala Maari (973-1057) - nhà tư tưởng vĩ đại Arap - với quan niệm “quyền lực nhân dân tối cao”, theo đó nhân dân là người tự lựa chọn vị quân vương phục vụ cho lợi ích của mình
Dù tư tưởng về quyền con người thời kỳ này còn ít ỏi, rời rạc, nhưng nó đã toát lên nhu cầu và khát vọng của quần chúng nhân dân về các quyền làm người Có thể nói, những tư tưởng này đều liên quan, gắn bó với cuộc sống của con người, hay nói cách
khác, quyền con người chưa được nêu lên trực tiếp, song nội dung liên quan đến quyền như tự do cá nhân, yêu sách chính trị đã được nhắc đến Giai đoạn này, những tư tưởng
về nhân quyền mới mang tính sơ khai, chưa thành một chỉnh thể, cụ thể hơn, đó là
những quyền mà nội dung mang tính chính trị và dân sự
Xã hội thần dân phong kiến mặc dù xoá đi tình trạng nô lệ, song lại hình thành những luật lệ sùng bái đẳng cấp, cùng với cơ chế kinh tế - chính trị khép kín đã triệt
tiêu các quyền và tự do cơ bản, đồng thời kìm hãm sự phát triển nhân cách con người
Trang 1210
Do đó, địa vị của người nông dân chỉ khác rất ít địa vị của người nô lệ trong xã hội nô
lệ Nhu cầu về quyền tự do dân chủ vẫn là những nhu cầu thường trực và bức thiết mà
người dân vươn tới
Đến năm 1215, lần đầu tiên một trong những nội dung quyền dân sự chính trị, được nêu lên và thừa nhận trong bản Đại hiến chương tự do năm 1215 của Anh Sau nhiều thế kỷ, Nghị viện Anh đã thông qua Luật bảo hộ thân thể con người Tiếp sau đó
là Dự luật về quyền cũng do Nghị viện Anh thông qua năm 1689 Đến thế ky 16 -17, học thuyết về quyền con người được hình thành Quyền con người trở thành một khẩu hiệu, một vũ khí để chống lại vương quyền và thần quyền Các nhà tư tưởng thời kỳ này
đã khẳng định quyền con người là một đặc quyền tự nhiên gắn liền với mỗi con người
kể từ khi được sinh ra trên đời chứ không phải một đặc ân do một thứ vương quyền hay thần quyền mang lại Thời kỳ này, cùng với sự ra đời và phát triển của phương thức sản
xuất tư bản chủ nghĩa ở Tây Âu, giai cấp tư sản ngày càng lớn mạnh đã tập hợp đông
đảo các lực lượng xã hội tiến bộ đấu tranh không khoan nhượng chống lại chế độ chuyên chế phong kiến, tâng lớp quý tộc và nhà thờ Cuộc đấu tranh này là cơ sở để
phục hưng và phát triển các giá trị nhân đạo và nhân văn về quyền con người Điều này thể hiện rõ nét nhất trong Học thuyết pháp lý tự nhiên của giai cấp tư sản Theo học
thuyết này, con người có quyền bẩm sinh, tự nhiên và vốn có của mình, Nhà nước và pháp luật không phải do chúa tạo ra mà là sự thoả thuận xã hội của con người phù hợp với quy luật của ý chí
Hygo Grotxy (Ha Lan 1583-1645) — nha lý luận xuất sắc đầu tiên của trường
phái pháp lý tự nhiên - đã xem xét bản chất và nguồn gốc của Nhà nước và pháp luật từ
lý trí con người chứ không phải từ tôn giáo và kinh thánh Theo ông, pháp luật tự nhiên xuất phát từ bản tính, nhu cầu, lợi ích của con người do ý chí chỉ đạo, còn pháp luật thực định do Nhà nước đặt ra phải phù hợp với những đòi hỏi của pháp luật tự nhiên
Dù còn có những hạn chế nhất định, song những tư tưởng của trường phái tự nhiên có ý nghĩa tiến bộ, góp phần to lớn vào cuộc đấu tranh chống lại vương quyền và thần quyền, phục hưng và khẳng định các giá trị cao quý của con người theo tỉnh thần
của thời đại tư sản
Kế thừa những tư tưởng này, các nhà khai sáng Pháp thế kỷ 18 đã xây dựng học
Trang 13thuyết về quyền tự nhiên như quyền con người sinh ra vốn bình đẳng và phải được bảo
vệ ở mọi chế độ xã hội Salơ Lui Mongteskies (1689-1775) đã phê phán sự lộng quyền chính trị và sự nô dịch của nhà thờ, cổ vũ cho các nhà hoạt động cách mạng Pháp Một trong những tư tưởng chính trị quan trọng nhất của ông là tự do công dân gắn với tuân thủ nghiêm minh pháp luật: “Tự do có nghĩa là làm những gì pháp luật cho phép”, và để đạt được tự do đó phải bằng con đường phân chia quyền lực Nhà nước thành lập pháp, hành pháp và tư pháp Chúng hạn chế nhau, cân bằng nhau và tập trung trong các cơ quan khác nhau Ông kêu gọi thành lập cơ quan đại diện nhân dân để hạn chế quyền lực nhà vua và chia mii nhọn chống chế độ chuyên chế
Một đại biểu ưu tú của hệ tư tưởng cấp tiến Pháp là J.Rutxô (1712-1778) Ông này đã có những đóng góp quan trọng trong việc phát triển tư tưởng về quyền con người Trong “Khế ước xã hội” ông viết: “Con người sinh ra là tự do, song ở khắp mọi nơi con người bị xiểng xích” Ông cho rằng sự bất công phát triển qua từng giai đoạn: giai đoạn đầu là bất công về tư hữu và tài sản Giai đoạn sau là bất công về quyền lực chính trị và nhân dân ngày càng trở nên vô quyền trước những kẻ cầm quyền Để giải quyết nhiệm vụ phục hưng những giá trị chân chính của con người, Rutxô đã khẳng định mạnh mẽ tư tưởng con người phải có tự do công dân và quyền tư hữu về tài sản, thực chất của các thể chế chính trị là bảo vệ quyền tự nhiên của con người và chỉ có sự thoả thuận của con người mới là cơ sở của chính quyền hợp pháp, chủ quyền phải thuộc
về nhân dân Trong quan hệ giữa Nhà nước với con người, ông phân biệt rõ quyền lập pháp và quyền hành pháp Tư tưởng của Rutxô có ảnh hưởng nhiều tới các lực lượng tiến bộ cách mạng và được ghi nhận trong “Tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền” (1789) Có thể nói đây là một trong những cơ sở nên tảng để quyền con người nói chung và các quyền dân sự và chính trị nói riêng được công khai thừa nhận
Giai đoạn này, quyền con người không chỉ dừng lại ở những tư tưởng, những khát vọng về tự do bình đẳng chung chung nữa, mà đã trở thành một trào lưu học thuyết hoàn chỉnh Cùng với sự bùng nổ của các cuộc cách mạng tư sản, hàng loạt các văn bản pháp lý công khai ghi nhận các quyền con người ra đời Nổi bật trong lịch sử đấu tranh giải phóng của nhân dân Mỹ là nhà tư tưởng và hoạt động chính trị lỗi lạc Tômat Giephecxon, tác gia của văn kiện cách mạng vĩ đại nhất thời bấy giờ: '““Tuyên ngôn độc
Trang 1412
lap của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ” (1776), mà theo Mác đánh giá thì đây là “Tuyên
ngôn quyền con người đầu tiên” Từ lập trường khế ước xã hội và quyền tự nhiên không
thể tách khỏi con người, Giephecxon cho rằng: quyền lực nhà vua xuất phát từ quyền lực của nhân dân, sự tồn tại của Nhà nước là vì hạnh phúc của nhân dân và phải đặt
dưới sự kiểm tra của nhân dân Tuyên ngôn khẳng định: “Chúng tôi tin rằng những
chân lý này là hiển nhiên, rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng và Đấng tạo hoá dành
cho họ một số quyền không thể bị tước đoạt, trong các quyền đó có quyền sống, quyền
tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.” Như vậy, bằng việc tuyên bố các quyền tự do,
bình đẳng và quyền khởi nghĩa của nhân dân như những quyền tự nhiên không thể bị
tước đoạt của con người, Tuyên ngôn độc lập của Mỹ đã góp phần xác lập một cách vững chác những nguyên tắc cơ bản của quyền con người trong thời đại tư sản, đó là quyền của cá nhân phải được bảo vệ trước quyền lực chính trị và chủ quyền của nhân dân chính là nền tảng cho mọi hoạt động của Nhà nước, “Rằng để đảm bảo cho các quyền đó, các Chính phủ phải được thiết lập gồm những người lấy nguồn gốc quyền lực
chính đáng của mình từ sự nhất trí của nhân dân Cho rằng bất cứ khi nào chính phủ trở thành nguyên nhân phá huỷ mục đích đó thì nhân dân đó có quyền thay đổi hoặc xoá
bỏ và thiết lập một chính phủ mới” Tuyên ngôn đã nêu lên hệ thống các quyền chính trị bao gồm: quyền tự do bầu cử, ứng cử, tự do ngôn luận, quyền được bảo đảm an ninh
về cá nhân và bước đầu khẳng định quyền con người trong quá trình tham gia quản lý
Nhà nước và xã hội
Nếu cách mạng tư sản Mỹ với Tuyên ngôn độc lập thừa nhận các quyền dân sự
và chính trị, đồng thời thiết lập nguyên tắc bảo vệ chúng thì Cách mạng tư sản Pháp với Tuyên ngôn nhân quyền và Dân quyền năm 1789 đã triển khai quyền con người với mức độ lớn hơn và sâu sắc hơn Có thể nói, cả 2 bản tuyên ngôn đã xác lập vững chắc
những nguyên tắc bảo vệ quyền cá nhân con người trước quyền lực Nhà nước, khẳng định quyền tự nhiên không thể tước đoạt của con người Việc xác định Nhà nước có
chức năng đảm bảo quyền con người của nhân dân là rất quan trọng Nó là cơ sở cho lý
luận về “Nhà nước của dân, do dân, vì dân”
Quyền con người nói chung, các quyền dân sự và chính trị nói riêng không chỉ
được nêu trong các tuyên ngôn mà nó còn được đề cập trong các bản Hiến pháp của
Trang 15Anh, Pháp, Mỹ Trong thực tế, quyền dân sự và chính trị đã trở thành hệ thống nội dung các quyền con người cơ bản và đầu tiên mà giai cấp tư sản thiết lập nên trong quá
trình tiến hành tháng lợi cách mạng chống phong kiến Quyền con người mà trước hết
là quyền dân sự và chính trị đã trở thành nội dung cốt lõi và là nguyên tắc trong quá trình lập pháp tư sản
Có thể thấy, thắng lợi của các cuộc cách mạng tư sản Âu - Mỹ đã thừa nhận về mặt pháp lý các quyền cơ bản của con người Đương nhiên, trong lúc nêu cao khẩu hiệu
chống thế lực vương quyền thần quyền, các nội dung quyền con người trực tiếp và các
quyền dân sự và chính trị tất yếu phải được giương cao phục vụ mục đích đấu tranh của giai cap tu san
Trong thời kỳ này, trường phái luật tự nhiên với những tên tuổi lớn như Hobbes, Cantơ, Locke có vai trò lớn trong việc đặt nền móng vững chắc xây dựng tư tưởng và
nguyên tắc bảo vệ quyền của cá nhân chống lại sự vi phạm quyền lực So với các giai
đoạn lịch sử trước đó, các quyền về dân sự - chính trị trước và trong cách mạng tư sản không chỉ là những tư tưởng, khát vọng về tự do, bình đăng chung chung mà đã trở
thành một trào lưu học thuyết hoàn chỉnh Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, quyền
con người chuyển từ phạm vi thỉnh cầu, yêu sách sang phạm vi thực hiện, từ lĩnh vực triết học sang lĩnh vực pháp lý thực tiễn Nội dung các quyền dân sự và chính trị từng bước trở thành một hệ thống hoàn chỉnh, được ghi nhận và xác lập nguyên tắc bảo vệ
Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, chủ nghĩa tư bản chuyển thành chủ nghĩa đế quốc
và từ bỏ ngọn cờ dân chủ, tự do và nhân quyền và gây ra hàng trăm cuộc chiến tranh tàn khốc trong lịch sử - đặc biệt là 2 cuộc chiến tranh thế giới trong thế kỷ 20 Thảm khốc của chiến tranh và sự tàn bạo của chủ nghĩa phát xít đòi hỏi các nước đồng minh chống phát xít và nhiều quốc gia trên thế giới nhận thấy sự cần thiết phải thành lập một tổ chức quốc tế rộng lớn nhằm phòng ngừa cho những thế hệ tương lai khỏi thảm hoa
chiến tranh gây đau thương cho nhân loại và thực hiện sự bảo vệ quốc tế đối với quyền con người Xuất phát từ lý do trên, ngày 24/10/1945 Liên hợp quốc ra đời và thông qua
Hiến chương Liên hợp quốc Hiến chương yêu cầu: tất cả các thành viên của Liên hợp quốc phải “tôn trọng và tuân thủ triệt để các quyền và tự do cơ bản của tất cả mọi
Trang 1614
người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hay tôn giáo”?! Ngày
10/12/1948, Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền ra đời xác định khá toàn diện các quyền và tự do cơ bản của con người Từ năm 1948 đến 1965, Liên hợp quốc đã thông qua 14 Hiệp ước và Nghị định thư về quyền con người Và đến ngày 16/12/1966, hai Công ước quốc tế quan trọng là Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá được thông qua tại Đại hội đồng Liên hợp quốc Đây là 2 văn kiện pháp lý lớn nhất về quyền con người Hai Công ước cùng bản Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 và 2 Nghị định thư bổ sung Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị hợp thành Bộ luật nhân quyền quốc tế
1.2 Khái niệm quyền dân sự và chính trị
1.2.1 Các thế hệ quyền
Từ sự phát triển quyền con người trong lịch sử nhân loại, cho đến nay, có nhiều
quan điểm cho rằng loài người đã trải qua ba thế hệ quyền con người!??: : 19):
- Thế hệ thứ nhất: gắn liền với cách mạng tư sản cùng với việc khẳng định mạnh
mẽ các quyền tự do cá nhân, chủ yếu là các quyền dân sự và chính trị, tự do, bình đẳng, đồng thời xác lập nguyên tắc bảo vệ quyền cá nhân trước quyền lực Nhà nước Các quyền này thể hiện rõ trong Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp 1789 Đến nay được quy định trong Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (sau đây xin được gọi là Công ước) cũng như trong một số Hiến chương, Công ước và Hiệp ước khu vực
- Thế hệ thứ hai: gắn liền với Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và sự phát
triển của các nước xã hội chủ nghĩa và các nước đang phát triển Nếu thế hệ quyền thứ
nhất đấu tranh cho các quyền dân sự và chính trị, tự do và bình đẳng chống lại chế độ chuyên chế phong kiến và tàn dư của chế độ nô lệ, thì quyền con người thế hệ thứ hai
mở rộng đấu tranh cho các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá, quyền dân tộc tự quyết, quyền độc lập dân tộc chống lại chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân Quyền con người thế hệ thứ hai xác định vai trò tích cực của Nhà nước trong việc thúc đẩy và bảo
Trang 17Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948; Công ước quốc tế về các quyền
kinh tế, xã hội và văn hoá năm 1966 và trong một số Hiến chương, Hiệp ước và Công ước khu vực
- Thế hệ thứ ba: gắn liền với những thay đổi của đời sống quốc tế và các quốc
gia, nhất là sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong những thập kỷ gần đây Quyền
con người thế hệ thứ ba thường được xem là những quyền tập thể như quyền phát triển,
quyền hòa bình, quyền được sống trong môi trường trong sạch, quyền được thông tin,
quyền được hưởng những thành tựu của khoa học - kỹ thuật và công nghệ; nhấn mạnh
ưu tiên quyền của các nhóm trong xã hội như quyền phụ nữ, quyền trẻ em, quyền được thoát khỏi đói nghèo, bệnh tật, quyền chống lại sự huỷ diệt của chiến tranh hạt nhân và
vũ khí giết người hàng loạt
Tuy nhiên, sự phân loại quyền theo thế hệ trên chỉ có ý nghĩa tương đối, nghĩa là
không nên hiểu ở giai đoạn phát triển này của lịch sử chỉ có quyền dân sự và chính trị,
còn ở giai đoạn khác thì chỉ có quyền kinh tế, xã hội và văn hoá Cách hiểu như vậy là phiến diện, không phản ánh đúng hiện thực của khách quan của lịch sử cũng như nhu cầu trọn vẹn và thống nhất của con người ở mỗi giai đoạn phát triển của xã hội
1.2.2 Khái niệm quyền dân sự và chính trị
Quyền dân sự chính trị là những quyền xuất hiện đầu tiên trong các thế hệ quyền con người, là những quyền cơ bản nhất của con người, nó được hiểu là những đặc quyền
mà do tự nhiên con người vốn vẫn có, được pháp luật ghi nhận, điều chỉnh và nó là cơ
sở để các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá và quyền phát triển được thực hiện
1.2.3.Vai trò, vị trí của quyền dán sự và chính trị
Quyền dân sự và chính trị có vị trí rất quan trọng trong hệ thống quyền con người Theo nhận định của nhiều chuyên gia Liên hợp quốc thì các quyền dân sự và chính trị là các quyền thuộc “kiểu loại cổ điển” đã được thể hiện qua sự phát triển lâu đời ở các xã hội dân chủ Còn các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá thì gần đây mới
Trang 1816 được thừa nhận
Các quyền dân sự và chính trị với tính cách là những nhân tố chính trị pháp lý có
ảnh hưởng rất lớn thúc đẩy sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội Do vậy, chúng
được quan niệm là hạt nhân quan trọng nhất để xây dựng xã hội công dân Đó là những quyền bảo đảm cho sự phát triển tự do của con người, bảo đảm quyền làm chủ của công dân đối với chính quyền Nhà nước của mình Trong mối quan hệ lẫn nhau giữa các loại
quyền, việc “ưu tiên” các quyền về dân sự và chính trị là nhân tố làm cho các quyền về
kinh tế, xã hội và văn hoá được thể hiện và thực hiện Nhưng điều đó không có nghĩa là
có thể coi nhẹ quyền kinh tế, xã hội và văn hoá Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 cũng đã đề cập đây đủ cả hai nội dung: quyền dân sự và chính trị và quyền
kinh tế, xã hội và văn hoá và khẳng định tính thống nhất hữu cơ giữa hai nhóm quyền
trong tổng thể quyền con người Tuyệt đối hoá mặt này hay mặt kia của quyền con
người có nghĩa là không phản ánh đây đủ nhu cầu khách quan của con người Mặc dù,
quyền dân sự và chính trị có ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá, nhưng nếu tách riêng khỏi quyền kinh tế, xã hội và văn hoá thì sẽ không thể có
dân chủ thực sự và quyền dân sự và chính trị có nguy cơ trở thành thuần tuý danh nghĩa Ngược lại, không có các quyền dân sự và chính trị thì các quyền kinh tế, xã hội và văn
hoá không thể được bảo đảm lâu dài Như vậy, chúng sẽ triệt tiêu động lực của nhau và
rút cuộc sẽ không thể có một nền dân chủ hiện đại
Có thể nói, việc thực hiện quyền dân sự và chính trị không thể đặt trong môi
trường chân không mà cần thiết phải căn cứ vào điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội cụ
thél!7 311
Cơ sở vật chất và các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội đóng vai tro quan trong
trong thực hiện quyền dân sự và chính trị Mức độ và phạm vi đảm bảo của quyền dân
sự và chính trị được phụ thuộc vào sự ổn định cũng như tính tiến bộ của một nền dân tộc, văn hoá, xã hội Một đất nước kinh tế nghèo nàn, chính trị khủng hoảng, dân trí
thấp kém thì những quyền này không thể được đảm bảo
Yếu tố văn hoá tỉnh thần cũng là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến nhận thức và thực hiện quyền dân sự và chính trị
Trang 19Ngoài ra, cộng đồng quốc tế khẳng định quyền phát triển như một quyền phổ
quát nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thụ hưởng mọi quyền con người, không thể
viện dẫn sự kém phát triển để biện minh cho việc cắt xén các quyền con người đã được
quốc tế thừa nhận
1.2.4 Đặc điểm của quyền dân sự và chính trị
Từ việc phân tích vai trò, vị trí của quyền dân sự và chính trị ở trên, ta có thể thấy một số đặc điểm của nó Nếu so sánh với quyền kinh tế, xã hội và văn hoá thì quyền dân sự và chính trị có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Xét về nguồn gốc, quyền dân sự và chính trị ra đời sớm hơn quyền kinh tế, xã
hội và văn hoá, nhất là quyền được sống như một con người, quyền được làm người đã được đặt ra rất sớm trong lịch sử Ngay trong xã hội chiếm hữu nô lệ đã xuất hiện nhiều
cuộc khởi nghĩa nhằm giành lại quyền làm người mà giai cấp chủ nô đã tước bỏ của
những người nô lệ Ở đó, nổi trội lên là đòi quyền làm người chứ chưa phải là lợi ích kinh tế trực tiếp
Quyền dân sự và chính trị, nhất là quyên dân sự luôn gắn chặt với cá nhân, với
thân nhân, là những giá trị vốn có của cá nhân, không thể tước đoạt và chuyển nhượng
được, cá nhân có thể sử dụng độc lập Mặt khác, từ góc độ pháp chế, có thể coi đó là
những quyền phổ biến tuyệt đối, tức là những quyền phải thực hiện ngay, không điều
kiện, không có hạn chế, vì đó là giới hạn của sự có hay không có quyền con người (ví
dụ như quyền sống, quyền không bị tra tấn đối xử độc ác, Điều 6 và 7 Công ước) Điều
đó khác với quyền kinh tế, xã hội và văn hoá là thực hiện dần tuỳ theo trình độ phát
triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ
Nếu quyền dân sự là những quyền gắn chặt với cá nhân, cá nhân có thể sử dụng độc lập (như quyền tự do đi lại và tự do cư trú quy định tại Điều 13 Tuyên ngôn thế giới
về nhân quyền năm 1948 và được cụ thể hoá tại Điều 12, 13 Công ước) thì quyền chính trị lại là những quyền chỉ có thể tham gia cùng với người khác, như quyền hội họp hoà bình (Điều 21), quyền tự do lập hội (Điều 22), quyền bầu cử (Điều 25) Rõ ràng đây là
những quyền chỉ có thể thực hiện khi tham gia với những người khác
Trang 2018
Về điều kiện thực hiện, có thể nói quyền dân sự và chính trị dễ thực hiện hơn các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá, vì chúng có thể được công nhận về mặt pháp lý và được áp dụng ngay lập tức sau khi phê chuẩn Công ước, chúng ít phục thuộc vào trình
độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, chẳng hạn, việc thực hiện “quyền không bị tra tấn, nhục hình” thì chắc chắn không gây ra sự tốn kém nào, trong khi đó, muốn thực
hiện quyền kinh tế, xã hội và văn hoá như quyền có việc làm, có nhà ở, quyền học tập, thì đòi hỏi phải có điều kiện kinh tế nhất định Do điều kiện kinh tế ở mỗi quốc gia khác nhau, nên mức độ hưởng thụ các quyền này ở các quốc gia cũng khác nhau
Để các quyền dân sự và chính trị được đảm bảo, Nhà nước luôn đóng vai trò quan trọng Đề cập đến sự nhận thức và thực hiện quyền dân sự và chính trị, tức là đề cập đến vị trí của Nhà nước trong việc thúc đẩy những giá trị của chúng Ở đây, cá nhân
là chủ thể của các quyền dân sự và chính trị, vì vậy, cá nhân, tức công dân trong xã hội đóng vai trò là đối tượng trong mối quan hệ với Nhà nước Thực chất của việc thực hiện
và bảo đảm quyền dân sự và chính trị liên quan và chịu sự tác động quyết định bởi mối
quan hệ giữa Nhà nước và công dân!”°:" !4Ì,
Thực hiện quyền dân sự và chính trị phải căn cứ vào điều kiện chính trị, kinh tế,
xã hội cụ thể Quyền con người, đặc biệt là quyền dân sự và chính trị phải gắn với chủ quyền quốc gia, do đó, đảm bảo quyền dân sự và chính trị trước hết phải đảm bảo quyền dân tộc tự quyết Vì trong khi đấu tranh thực hiện các quyền cơ bản của mình, con người không đứng ngoài mối quan hệ hiện thực ở mỗi giai cấp, quốc gia, dân tộc
nhất định Đây là cơ sở thực tế để bảo đảm chủ quyền quốc gia dân tộc, là biểu hiện
trước tiên của quyền con người trên lĩnh vực dân sự và chính trị
1.3 Nội dung của Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị năm 1966 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 được thông qua và
để ngỏ cho các nước ký kết, phê chuẩn và tham gia theo Nghị quyết số 2200 A (XXI) ngày 16/12/1966 của Đại hội đồng Liên hợp quốc Căn cứ vào Điều 49 thì Công ước sẽ
có hiệu lực sau 3 tháng kể từ ngày phê chuẩn hoặc gia nhập văn kiện lần thứ 35 được
Tổng thư ký Liên hợp quốc lưu chiểu Công ước có hiệu lực từ ngày 23/03/1976, Việt Nam gia nhập ngày 24/09/1982 Cùng với Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã
Trang 21hội và văn hoá, Cong ước về các quyền dân sự và chính trị pháp điển hoá nhiều khoản
về các quyền và tự do cơ bản của con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về
quyền con người năm 1948 Nhưng không giống như Tuyên ngôn thế giới về quyền con
người và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá, Công ước quốc tế
về các quyền dân sự và chính trị không chứa đựng một điều khoản chung nào về sự hạn
chế việc thực hiện các quyền trong Công ước Tuy nhiên, một vài điều khoản trong
Công ước này quy định các quyền được ghi nhận trong các điều khoản đó không thể bị hạn chế việc thực hiện trừ khi sự hạn chế đó được quy định trong pháp luật và là cần
thiết để bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự công cộng và các quyền, tự do của người
khác Vì vậy, có một số quyền nào đó trong Công ước sẽ không bao giờ bị hạn chế hoặc
trì hoãn việc thực hiện, thậm chí cả trong những trường hợp khẩn cấp Đó là quyền được sống, tự do không bị tra tấn, tự do không bị nô lệ hoặc nô dịch, quyền không bị tù tội vì
nợ nần, không bị áp dụng các quy định trong hồi tố trong luật hình sự, được thừa nhận
tư cách con người trước pháp luật và tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Công ước gồm Lời nói đầu, 6 chương, 53 điều, được xây dựng trên cơ sở những
nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc về việc công nhận phẩm giá vốn có và
những quyền bình đẳng của mọi thành viên trong xã hội là nền tảng của tự do, công lý,
hoà bình thế giới, công nhận các quyền dân sự và chính trị bắt nguồn từ phẩm giá vốn
có của con người Sau đây là nội dung cơ bản của Công ước:
1.3.1 Cơ sở xác định và bảo đảm thực hiện quyền dân sự và chính tri
Lời nói đầu của Công ước mang tính bao quát, nêu rõ cơ sở các quyền dân sự và chính trị trong Công ước phải bảo đảm theo những nguyên tắc đã được quy định trong Hiến chương Liên hợp quốc Lời nói đầu cũng đã nhấn mạnh nguồn gốc luật tự nhiên
của quyền con người, rằng “những quyền này bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của con
người Nếu so với lời nói đầu của Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá thì chúng ta thấy rằng, từ ngữ của hai lời nói đầu giống hệt nhau, với một ngoại lệ của đoan thứ ba Điều đó càng phù hợp với tinh thần của một Nghị quyết trong năm
1952 của Đại hội đồng là yêu cầu có nhiều điều khoản giống nhau trong 2 Công ước càng tốt để nhấn mạnh tính đồng nhất về mục đích
Trang 22đưa ra cách trình bày về sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ được ghi nhận ở nhiều
quốc gia và nhiều hệ thống pháp luật Sự nhấn mạnh về nghĩa vụ được đưa ra dưới dạng
cụ thể hơn qua việc ngăn cấm sự vi phạm trong Điều 5 và qua những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt khi thực hiện các quyền tự do tư tưởng và tự do thông tin đi kèm với sự
ngăn cấm theo Điều 19 của Công ước
1.3.2 Phan 1: Co sở bảo đảm thực hiện các quyền dân sự và chính trị trước hết là thực hiện quyền dân tộc tự quyết
Điều I của Công ước xác định: tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết Xuất phát từ đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển
kinh tế, xã hội và văn hoá Trong mọi trường hợp, không ai được phép tước đi của một dân tộc những phương tiện sinh tồn của chính họ Các quốc gia thành viên của Công
ước này, kể cả các quốc gia có trách nhiệm quản lý các lãnh thổ uỷ trị và quản thác phải
thúc đẩy thực hiện quyền dân tộc tự quyết và phải tôn trọng các quyền đó phù hợp với
các quy định của Hiến chương Liên hợp quốc
Quyền dân tộc tự quyết trong Công ước có thể theo các khía cạnh sau Một là,
các dân tộc trên thế giới được tự do phát triển và tự do quyết định thể chế chính trị của
mình Hai là, mỗi dân tộc được tự do định đoạt tài nguyên quốc gia và các nguồn sức mạnh vật chất để tồn tại và phát triển, trên cơ sở tôn trọng sức mạnh tài nguyên quốc
Trang 23gia để tôn trọng lợi ích của cộng đồng quốc tế Ba là, xác định quyền bình đẳng giữa
các dân tộc, không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển, là nước uỷ trị hay
quản thác
Quyền dân tộc tự quyết cũng được quy định tại Điều I của Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hoá; được ghi nhận trong Công ước châu Âu về bảo vệ các quyền và tự do cơ bản; Công ước châu Mỹ về quyền con người Quyền tự quyết xác định ý nghĩa là các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị và phương hướng phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá Quyền tự quyết phải được thực hiện trên nền tảng dân chủ, nghĩa là phải thừa nhận nguyên tắc “ý chí của nhân dân là cơ sở thẩm quyền của Chính phủ” Quyền tự quyết dân tộc là quyền của nhóm, có tính tập thể, vì nó không được thực hiện thường xuyên bởi các cá nhân hành động đơn lẻ Quyền tự quyết dân tộc được kháng định trong tiền đề của Công ước, điều đó có nghĩa là nó là điều kiện tiên
quyết, chỉ khi một dân tộc được độc lập về chính trị và kinh tế, thì các cá nhân trong
dân tộc đó mới có điều kiện thực hiện các quyền và tự do cá nhân
1.3.3 Phần 2: Xác định sự cam kết của các quốc gia thành viên tôn trọng và bao dam cho moi người các quyền đã được công nhận trong Công ước
Công ước nêu rõ, các quyền dân sự và chính trị được thực hiện không phân biệt
chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, nguồn gốc dân tộc và xã hội, tài sản, dòng dõi Bằng các cố gắng lập pháp và hành pháp, các quốc gia thành viên
thực hiện các bước công việc cần thiết để xây dựng và bổ sung trong các quy định của Hiến pháp, pháp luật và các biện pháp nhằm mục đích hiện có hiệu quả các quyền dân
sự và chính trị đã được công nhận trong Công ước này
Công ước nhấn mạnh, mỗi quốc gia thành viên cần tăng cường những khả năng bảo hộ pháp lý đối với bất cứ người nào bị xâm phạm các quyền dân sự và chính trị được ghi nhận trong Công ước này, kể cả lập pháp, hành pháp và tư pháp Pháp luật của
mỗi quốc gia thành viên không được trái với các quy định của Công ước Trong trường
hợp các quốc gia áp dụng tình trạng khẩn cấp vì sự sống còn của quốc gia mà sử dụng các biện pháp trái với nghĩa vụ đã cam kết trong Công ước thì phải bảo đảm rằng các biện pháp đó không trái với pháp luật quốc tế; không trái với các điều 6,7,8 (các khoản
Trang 2422
1 va 2), 11,15,16 va 18 cua Cong ước; không chứa đựng nội dung phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo hoặc nguồn gốc xã hội Đồng thời phải thông báo ngay cho các quốc gia thành viên khác, thông qua Tổng thư ký Liên hợp quốc về lý do, nội dung và thời hạn huỷ bỏ cam kết đã ký Công ước cũng lưu ý rằng, không thể có bất
cứ sự biện hộ nào để không công nhận các quyền dân sự và chính trị trong Công ước hoặc hạ thấp giá trị của các quyền đó
1.3.4 Phần 3: Nội dung cụ thể của các quyền dân sự và chính trị
Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 đã tuyên bố các quyền cơ bản nhất của con người, quyền bình đẳng của tất cả mọi người không có bất cứ sự phân biệt nào, quyền sống, tự do an toàn cá nhân, quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền được bảo vệ và tự bảo vệ, quyền bất khả xâm phạm về nhà ở, về nhân phẩm, danh dự và đời sống riêng tư, quyền được bào chữa và tự bào chữa trước toà án (từ Điều 1 đến 12)
Tuyên ngôn thế giới về quyền con người cũng đã tuyên bố về các quyền dân sự
và chính trị, bao gồm các quyền có quốc tịch, quyền cư trú, quyền tự do hôn nhân, quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo, tự do hội họp, hoà bình và lập hội, quyền bầu cử phổ thông và bỏ phiếu kín (từ Điều 13 đến 21)
Mặc dù, Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người vẫn phát huy vai trò tích cực bảo đảm các quyền và tự do cơ bản của con người Nhưng phải đến Công ước quốc
tế về các quyền dân sự và chính trị 1966 thì nội dung quyền dân sự và chính trị mới được cụ thể hoá và phát triển phong phú, đồng thời tạo ra sự ràng buộc pháp lý mà các quốc gia thành viên phải có trách nhiệm bảo đảm thực hiện
Căn cứ vào nội dung và tính chất của các quyền, Công ước đã xác định nội dung
cụ thể của các quyền dân sự và chính trị như sau:
1.3.4.1 Quyền sống
Quyền sống là một trong những quyền cơ bản và quan trọng nhất của con người Các văn kiện pháp lý quốc tế lớn đều ghi nhận quyền này Trước đây, khi nói đến quyền sống, người ta chỉ đòi được hưởng quyền không phải chết, không bị tước đoạt sự sống một cách độc đoán thì giờ đây, quyền sống được hiểu rộng hơn nhiều Theo quan niệm truyền thống thì quyền sống bao gồm các khía cạnh sau: quyền được tồn tại với nhân
Trang 25hiện nay, quyền sống không chỉ là quyền không phải chết mà còn bao hàm cả việc bảo đảm cho con người sống có phẩm giá, không ai được xúc phạm đến nhân cách của
người khác Trong thời đại khoa học kỹ thuật tiến tiến ngày nay, quyền sống còn liên
quan đến khái niệm sống, chết, vấn đề “quyền được chết” (tự sát), vấn đề thụ tinh trong ống nghiệm và nhân bản vô tính
Công ước quy định về quyền sống với nội dung hết sức phong phú, đòi hỏi các
quốc gia thành viên phải tìm tòi nhiều biện pháp hữu hiệu để bảo đảm Để bảo đảm con
người sống như một nhân cách, Công ước quy định các nội dung cụ thể sau đây:
- Mỗi người đều có quyền đương nhiên được sống và được pháp luật bảo vệ,
không ai có thể tuỳ tiện và độc đoán tước đoạt quyền sống của người khác Ở những
nước còn áp dụng hình phạt tử hình thì chỉ được áp dụng đối với những tội ác nghiêm
trọng nhất, và phải căn cứ vào pháp luật quốc gia và không được trái với Công ước này Hình phạt tử hình chỉ được thi hành trên cơ sở bản án đã có hiệu lực pháp luật do toà án
có thẩm quyền phán quyết Không được phép tử hình đối với những tội phạm là phụ nữ đang mang thai và trẻ em dưới 18 tuổi Bất kỳ người nào bị kết án tử hình cũng có
quyền xin ân giảm hoặc xin thay đổi mức án Không được ngăn cản hoặc làm chậm trễ
việc xoá bỏ án tử hình đối với bất cứ quốc gia thành viên nào (Điều 6)
- Quyền không bị tra tấn, nhục hình, bị đối xử hoặc bị áp dụng hình phạt một
cách tàn nhẫn, vô nhân đạo (Điều 7) Đây là quyền tuyệt đối mà các quốc gia thành
viên phải thực hiện ngay, không điều kiện Công ước đặc biệt lưu ý rằng không một người nào có thể bị sử dụng để làm thí nghiệm y học hoặc khoa học mà không có sự
đồng ý, tự nguyện của người đó
- Không một người nào có thể bị bát làm nô lệ, làm nô dịch hoặc bị lao động
cưỡng bức Cấm chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ dưới mọi hình thức (Điều 8) Công ước cũng lưu ý rằng, ở những nước còn áp dụng hình thức lao động cưỡng bức để thi hành
hình phạt đối với người phạm tội, thì phải thực hiện trên cơ sở bản án của toà án đã có
hiệu lực pháp luật
Trang 2624
- Quyền tự do và an ninh cá nhân (Điều 9) Công ước quy định, không ai bị bắt hoặc giam giữ vô cớ Không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp có lý do phù hợp với những quy định của pháp luật Bất cứ người nào bị bắt giữ theo pháp luật phải được thông báo rõ lý do Bất cứ người nào bị bắt giữ về tội phạm hình sự đều phải sớm được
đưa ra toà án hoặc một cơ quan có thẩm quyền để xét xử theo pháp luật Bất cứ người
nào bị tước quyền tự do đều có quyền được yêu cầu xét xử trước toà án để có thể quyết định ngay về tính hợp pháp hay không hợp pháp của việc bắt giữ Bất cứ người nào bị bắt giữ một cách bất hợp pháp đều có quyền được yêu cầu bồi thường
- Những người bị tước quyền tự do phải được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm (Điều 10) Trừ những trường hợp đặc biệt, thì bị can, bị cáo phải được giam giữ riêng, cách ly khỏi những người đã thành án và phải được đối xử theo chế độ riêng phù hợp với những quy chế đối với người bị tạm giam Những bị can chưa đến tuổi thành niên phải được tách riêng khỏi người lớn và phải được đưa ra xét xử càng nhanh càng tốt Chế độ giam thi hành án phải nhằm mục đích là cải tạo và đưa họ trở lại xã hội Những phạm nhân chưa đến tuổi thành niên phải được tách riêng khỏi người lớn và phải được đối xử phù hợp với lứa tuổi và quy chế pháp lý Và không ai bị bỏ tù vì lý do không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng (Điều II)
Trên đây là những quy định về quyền sống trực tiếp liên quan đến tính mạng con người Nhưng con người không chỉ tồn tại mà còn có nhu cầu phát triển để sống như một nhân cách, nghĩa là con người còn có những quan hệ và nhu cầu khác Những nhu cầu này cũng được Công ước quốc đáp ứng và bảo vệ Đó là những quyền cụ thể được Công ước quy định như sau:
- Mọi người đều có quyền tự do đi lại và cư trú hợp pháp (Điều 12) Không hạn chế quyền tự do đi lại và cư trú, trừ những hạn chế do luật định vì sự cần thiết để bảo vệ
an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khoẻ, đạo đức xã hội hoặc các quyền và tự do của người khác và phải phù hợp với những quyền khác được công nhận trong Công ước này Một người nước ngoài cư trú hợp pháp trên lãnh thổ một quốc gia thành viên của Công ước này chỉ có thể bị trục xuất khỏi nước đó theo quy định phù hợp pháp luật (Điều 13) trừ những trường hợp khác do yêu cầu cấp thiết về an ninh quốc gia; người bị trục xuất được phép đưa ra những lý do phản đối việc trục xuất và được yêu cầu xem
Trang 27xét lại trường hợp của mình và được đại diện khi trường hợp của mình được xem xét lại bởi nhà chức trách có thẩm quyền hoặc những người do nhà chức trách có thẩm quyền đặc biệt cử ra
- Quyền có đời sống riêng tư, có gia đình (Điều 17) Mọi người đều có quyền có đời sống riêng tư, có gia đình, được bảo đảm về nhà ở, thư tín, danh dự, uy tín Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo hộ để chống lại những can thiệp hoặc xúc phạm những quyền trên Gia đình là nhóm tự nhiên và cơ bản của xã hội, có quyền được xã hội và Nhà nước bảo hộ (Điều 23) Quyền tự do và bình đăng trong kết hôn, hôn nhân
va ly hon duoc bao đảm thực hiện ở tất cả các quốc gia thành viên Trong trường hợp ly hôn, phải có quy định đảm bảo việc bảo hộ cần thiết đối với con cái
- Về quyền trẻ em, Công ước khẳng định, mọi trẻ em, không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, xuất thân, dòng dõi, tài sản đều có quyền được hưởng những biện pháp bảo hộ của gia đình, xã hội và Nhà nước Trẻ em được đăng ký khai sinh và được có tên gọi ngay từ khi ra đời để khẳng định mình như một con người, mỗi trẻ em đều có quyền có quốc tịch (Điều 24)
- Về quyền của các dân tộc thiểu số, Công ước khẳng định, ở những nước có nhiều nhóm dân tộc thiểu số, tôn giáo và ngôn ngữ, thì những cá nhân thuộc các dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ thiểu số đó, cùng với những thành viên khác của cộng đồng mình, không thể bị tước bỏ quyền được theo hoặc thực hành tôn giáo riêng hoặc quyền
sử dụng tiếng nói riêng
1.3.4.2 Quyền bình đẳng trước pháp luật và trước toà án
Mọi người đều có quyền bình đăng trước toà án và cơ quan tài phán (Điều 14) Việc xét xử phải công bằng và công khai do một toà án có thẩm quyền, không thiên vị, độc lập xét xử trên cơ sở pháp luật để quyết định về lời buộc tội Người bị buộc tội có quyền được coi là vô tội cho tới khi được chứng minh theo pháp luật, có quyền được thông báo về lời buộc tội và lý do buộc tội, có quyền có đủ thời gian theo luật định để chuẩn bị bào chữa hoặc lựa chọn người bào chữa; có quyền được xét xử nếu không có
lý do để chậm; có quyền được có mặt trong khi xét xử và được giúp đỡ về mặt pháp lý không phải trả tiền nếu không có điều kiện trả; có quyền được thẩm vấn nhân chứng và được mời người làm chứng vô tội Người bị buộc tội không bị ép buộc phải chứng minh
Trang 2826
để chống lại chính mình hoặc buộc tự thú là có tội
Bất kỳ người nào bị toà án kết tội đều có quyền yêu cầu toà án cấp cao hơn xem
xét lại bản án và hình phạt Sau khi xét xử và tuyên án, nếu người bị kết tội được tuyên
là vô tội hoặc có những phát hiện về nhầm lẫn tư pháp thì có quyền yêu cầu được bồi thường theo pháp luật, trừ trường hợp những nhầm lẫn tư pháp là do chính bản thân
người đó gây ra
Công ước cũng quy định rằng, không ai có thể bị kết án phạm tội hình sự vì một hành động hoặc một sự khinh suất mà đã không cấu thành tội phạm theo luật quốc gia
hoặc luật quốc tế vào thời điểm xảy ra hành vi đó Cũng không được áp dụng hình phạt
nặng hơn hình phạt đã ấn định vào thời điểm xảy ra hành vi phạm tội Nếu sau khi xảy
ra hành vi phạm tội, pháp luật lại quy định hình phạt nhẹ hơn thì người phạm tội được
hưởng mức hình phạt nhẹ hơn đó (Điều 15) Và trong mọi trường hợp, mọi người đều
có quyền được công nhận là chủ thể của quan hệ pháp luật ở bất cứ nơi nào (Điều 16)
Về quyền bình đẳng trước pháp luật, Công ước quy định, mọi người đều có
quyền bình đẳng trước pháp luật và có quyền được pháp luật bảo hộ bình đẳng (Điều
26), không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào Về mặt này, pháp luật phải cấm mọi phân biệt đối xử và bảo đảm cho mọi người sự bảo hộ bình đăng có hiệu quả, chống lại những phân biệt đỗi xử vì chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, ngôn ngữ, chính kiến, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, dòng dõi hoặc các điều kiện khác
1.3.4.3 Quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo
Quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo là một trong những quyền cơ bản, thuộc nhóm quyền dân sự và chính trị, được ghi nhận trong các văn bản pháp luật quốc tế về quyền con người cũng như trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới Trong bản Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc thì quyền này được quy định tại Điều 18 Trong Công ước, khái niệm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được quy định với bốn nội dung cụ thể, trong đó, nội dung thứ nhất gần giống với Điều 18 của bản Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, nhưng nội dung thứ nhất của khái niệm về
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Công ước được ghi nhận chuẩn xác hơn: “Mọi
người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo Quyền tự do này bao gồm tự
do có hoặc theo một tôn giáo tín ngưỡng một mình hoặc trong tập thể với nhiều người
Trang 29khác, một cách công khai hoặc thầm kín dưới hình thức thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và giảng đạo” Ngoài ra, trong Công ước này, khái niệm về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo còn được bổ sung thêm ba nội dung, làm cho quyền này được hiểu một cách rõ ràng và đầy đủ hơn Đó là:
1 Không một ai bị ép buộc làm những điều tổn hại đến quyền tự do lựa chọn một tôn giáo hoặc tín ngưỡng;
2 Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi những quy định của pháp luật và những giới hạn này là cần thiết cho việc bảo vệ an toàn, trật
tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức của công chúng hoặc những quyền và tự do cơ bản của người khác
3 Các quốc gia thành viên Công ước này cam kết tôn trọng quyền tự do của các bậc cha mẹ và trong trường hợp cu thể có thể áp dụng được, quyền tự do của những người giám hộ hợp pháp trong việc giáo dục tôn giáo và luân lý cho con cái họ theo ý nguyện riêng của họ
Tuy nhiên, quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo có thể bị hạn chế bởi những quy định của pháp luật vì những lý do an ninh, trật tự công cộng, y tế, đạo đức hoặc vi phạm quyền và tự do của người khác (Điều 18)
Nội dung của tự do tín ngưỡng cũng đã được Hiến chương Liên hợp quốc đề cập theo hướng “khuyến khích tôn trọng các quyền con người và tự do cơ bản đối với tất cả
mà không có sự phân biệt về chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo” Đó là mục đích cơ bản của Liên hợp quốc được ghi nhận tại Điều 1(3) và 55(c) của Hiến chương
Tuyên ngôn thế giới về quyền con người cũng đã tuyên bố “các quyền tự do tư tưởng, nhận thức và tôn giáo ”(Điều I8) và ngăn cấm sự phân biệt vì lý do tôn giáo (Điều 2)
Đến nay, nhìn tổng quát, quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo được các văn kiện quốc tế quy định ở những nội dung sau:
- Tuyên bố sự tồn tại quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo;
- Quyền thể hiện tôn giáo công khai một mình trong cộng đồng;
Trang 3028
- Cấm sự phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo
1.3.4.4 Quyền tự do tư tưởng và tự do ngôn luận
Quyền tự do tư tưởng và tự do ngôn luận được Công ước quy định tại Điều 19, gồm quyền thông tin và quyền được thông tin bằng mọi hình thức, trừ trường hợp do pháp luật quy định để bảo đảm quyền và uy tín của người khác, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, vì lý do y tế và đạo đức
Quyền tự do thông tin là quyền chính trị thuộc loại rất đặc biệt, nó là nền tảng
cho tất cả các quyền tự do khác, là điều kiện không thể thiếu được của hầu hết các
quyền tự do Quyền tự do thông tin còn quyết định nội dung của các quyền tự do khác, thiếu nó thì các quyền tự do khác cũng không thể đạt được, cũng có nghĩa là không có nền dân chủ
Do đó, tự do báo chí và những phương tiện thông tin khác là những công cụ rất quan trọng Báo chí và các phương tiện thông tin khác vừa cung cấp các thông tin về quyền con người, vừa định hướng cho dư luận xã hội Chúng là phương tiện đầy sức mạnh đối với việc thực hiện quyền con người trong mỗi quốc gia cũng như trên phạm vi quốc tế
Quyền tự do thông tin mới bắt đầu được công nhận như một quyền con người mang tính quốc tế sau Đại chiến thế giới thứ II, và được đưa vào Điều 19 của Tuyên ngôn và Điều 19 Công ước
Quyền tự do thông tin cũng được quy định kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm cụ thể Điều 29 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền thế giới quy định những trường hợp mà ở đó việc thực hiện quyền thông tin có thể bị hạn chế một cách hợp pháp Những giới hạn này cũng được chấp nhận trong Đoạn 3 Điều 19 của Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị Nghĩa vụ và trách nhiệm cụ thể này bị lệ thuộc vào những hạn chế nhất định do pháp luật quy định và là cần thiết:
a) cho việc tôn trọng và quyền và uy tín của người khác;
b) cho việc bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng hay đạo đức và sự lành mạnh chung
Một hạn chế khác đối với quyền tự do thông tin được quy định tại Điều 20 của
Trang 31Công ước đó là nghiêm cấm sự tuyên truyền cho chiến tranh và quy định: “bất kỳ sự ủng hộ tht: han dân tộc, chủng tộc hay tôn giáo nào mà tạo ra sự xúi giục phân biệt đối
xử, sự thù địch hay bạo lực sẽ bị pháp luật ngăn cấm”
1.3.4.5 Quyền tự do lập hội và hội họp hoà bình
Điều 20 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người khẳng định “quyền tự do lập
hội và hội họp mang tính chất hoà bình” Đây thực chất là 2 quyền được quy gộp trong
một điều khoản Và đến Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị thì 2 quyền này được ghi nhận riêng biệt tại Điều 21 và 22
Về tự do lập hội: Điều 2I Công ước xác định: “quyền hội họp hoà bình phải
được công nhận Việc thực hiện quyền này không bị hạn chế, trừ trường hợp do pháp luật quy định và những hạn chế này là cần thiết trong một xã hội dân chủ, vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, để bảo vệ sức khoẻ của công chúng hoặc
bảo vệ quyền và tự do của những người khác”
Nói chung, quyền tự do hội họp đều được các văn bản quốc tế ghi nhận là “hội
họp mang tính chất hòa bình”, riêng Công ước Châu Mỹ có bổ sung thêm điều kiện là
“không có vũ trang” “Hội họp hòa bình” có thể hiểu là một sự hội họp mang tính hòa
bình mà mục đích của nó không phải là kích động bạo lực đối với người khác Điều 21 nói đến những giới hạn, nghĩa là hội họp hòa bình có thể bị hạn chế, nhưng với điều
kiện là những giới hạn đó phải là cần thiết và phù hợp với một xã hội dân chủ
Về tự do lập hội: Tự do lập hội được ghi như là một quyền cá nhân Điều 20 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền ghi: “Mọi người có quyền tự do lập hội” Đoạn 2 của Điều này còn ghi: “Không ai có thể bị ép buộc trở thành thành viên của một hiệp hội” Điều 22 Công ước chính thức ghi nhận:
1) Mọi người có quyền tự do lập hội với những người khác, kể cả quyền lập
và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình
2) Việc thực hiện quyền này không bị hạn chế, trừ trường hợp do pháp luật
quy định và những hạn chế này là cần thiết trong một xã hội dân chủ, vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, để bảo vệ sức khoẻ hoặc đạo đức của công chúng, hoặc các quyền và tự do của người khác
Trang 3230
1.3.4.6 Quyền tham gia xây dựng Nhà nước và quản lý Nhà nước
Điều 25 Công ước ghi nhận:
“Mọi công dân, không có sự phân biệt nào như đã nêu ở Điều 2 và không có bất
cứ sự hạn chế bất hợp lý nào, đều có quyền và cơ hội để:
a) Tham gia vào việc điều hành các công việc xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua những đại diện được họ tự do lựa chọn;
b) Bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử định kỳ chân thực, bằng phổ thông bỏ phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín nhằm đảm bảo cho cử tri tự do bày tỏ ý nguyện của mình;
c) Được hưởng các dịch vụ công cộng tại đất nước của mình trên cơ sở bình đẳng”
Quyền tham gia xây dựng Nhà nước và quản lý Nhà nước là quyền chính trị thuộc loại rất đặc biệt, là quyền tham gia vào đời sống chính trị, là quyền hiến định
Quyền này đã được Tuyên ngôn thế giới về quyền con người ghi nhận tại Điều 2l với tư tưởng cốt lõi của vấn đề là: “ý chí của nhân dân là nền tang quyền lực của Chính phủ” Và ý chí đó phải được thể hiện “thông qua các cuộc bầu cử định kỳ và
chân thực, được tổ chức theo nguyên tắc bình đẳng, phổ thông đầu phiếu và bỏ phiếu
kín hoặc bằng những tiến trình bầu cử tự do tương tự”
Như vậy, nội dung của Điều 21 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người cũng như Điều 25 Công ước đều đề cập cả hai hình thức dân chủ: dân chủ đại diện (thông qua việc bầu người đại diện vào các cơ quan Nhà nước) và dân chủ trực tiếp (như việc trưng cầu dân ý đối với những vấn đề quan trọng của đất nước)
äxx3?
Quyền này, theo Công ước thì “mọi công dân” đều có, nhưng thực tế không phải
là quyền cho tất cả mọi người vì trong việc bầu cử và ứng cử vào các cơ quan Nhà nước, theo quy định của nhiều quốc gia, có những người không thể tham gia vào quá trình ấy như vị thành niên và những người không có năng lực hành vi
Đối với việc thực hiện quyền tham gia xây dựng và quản lý Nhà nước, Điều 25 của Công ước cũng khẳng định là “không có những sự hạn chế bất hợp lý nào” Như
Trang 33vậy, cũng có thé có những hạn chế hợp lý Điều này, có thể hiểu theo tỉnh thần quy định tại Điều 29 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, rằng:
“Mỗi người trong khi thực hiện các quyền và tự do của cá nhân chỉ phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và sự
tôn trọng đối với các quyền và tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính
đáng về đạo đức, trật tự công cộng và sự phồn vinh chung trong xã hội dân chủ”
Trên đây là nội dung trong các quyền dân sự và chính trị được ghi nhận trong Công ước trên các lĩnh vực: quyền sống, quyền bình đăng trước pháp luật và trước toà
án, quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo, quyền tự do tư tưởng và tự do ngôn luận; quyền
tự do lập hội và hội họp hòa bình; quyền tham gia xây dựng Nhà nước và quản lý Nhà nước Thật tế sự phân biệt theo các lĩnh vực trên chỉ có tính chất tương đối vì giữa các
quyền con người có nội dung liên quan chặt chẽ với nhau Các quyền chính trị là các quyền liên quan đến quá trình chính trị Trong đó, chỉ có các quyền được ghi tại Điều
21 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người và Điều 25 Công ước mới là quyền chính trị đích thực Còn các quyền khác như quyền tự do biểu đạt ý kiến, tự do lập hội hội họp
hòa bình thì không thuần tuý mang tính chính trị mà chúng chỉ liên quan đến quá trình chính trị, ít nhất là trong các xã hội dân chủ, có thể nói tất cả các quyền nói trên đều có đặc trưng của xã hội dân chủ
1.3.5 Phần 4: Thiết chế bảo dam thực hiện quyền dân sự và chính tri
Phần này xác định việc cần thiết thành lập một Uỷ ban quyền con người
(Human Rights Committee) với chức năng giám sát việc thực hiện Công ước và xem xét
các báo cáo của các quốc gia thành viên và cũng như khiếu nại của cá nhân thuộc các quốc gia thành viên Uỷ ban sắn sàng đứng ra làm môi giới cho các thành viên hữu
quan nhằm đạt tới một giải pháp hữu nghị trên cơ sở tôn trọng các quyền và tự do cơ bản của con người đã được Công ước này công nhận
1.3.6 Phan 5 Công ưóc
Phần này xác định không một quy định nào của Công ước này làm phương hại
đến Hiến chương Liên hợp quốc, Luật quốc tế nói chung và quyền đương nhiên của mọi
dân tộc
Trang 34a2 1.3.7 Phan 6 Công ước
Phần này quy định về giá trị, thời hiệu của Công ước và thủ tục sửa đổi, phê
chuẩn, lưu chiểu Công ước
1.4 Hai Nghị định thư không bắt buộc bổ sung của Công ước
1.4.1 Nghị định thư thứ nhất
Nghị định thư thứ nhất của Công ước trao cho Uỷ ban quyền con người, cơ quan được thành lập theo Công ước này, được quyền tiếp nhận và xem xét các thông tin liên quan đến khiếu nại, tố cáo của các cá nhân về việc họ là nạn nhân của sự vi phạm bất
kỳ quyền nào đã được phi nhận trong Công ước này
Theo Điều I của Nghị định thư này, các quốc gia thành viên Công ước muốn trở thành thành viên của Nghị định thư phải thừa nhận thẩm quyền của Uỷ ban quyền con người được tiếp nhận và xem xét các thông tin liên quan đến khiếu nại, tranh chấp của các cá nhân là công dân của quốc gia đó về việc những người này là nạn nhân của sự vi phạm bất kỳ quyền nào do các quốc gia đó gây ra, mà đã được ghi nhận trong Công ước này
Các cá nhân, trước khi gửi đơn khiếu nại, tố cáo đến Uỷ ban, phải bảo đảm là đã
sử dụng tất cả các biện pháp giải quyết có thể ở trong nước nhưng không đạt kết quả
Những thông tin như vậy khi đã được Uỷ ban xem xét và coi là đáng tin cậy (ngoài các Điều 2,3 và 5(2) cũng đề cập đến điều kiện này), sẽ được chuyển cho các quốc gia thành viên là chủ thể bị khiếu nại, tố cáo xem xét Trong vòng 6 tháng, các quốc gia này phải trình lên Uỷ ban một văn bản giải trình hoặc một báo cáo giải thích
rõ vấn đề và nêu ra những biện pháp giải quyết vấn đề đã được áp dụng, nếu có (Điều 4)
Uỷ ban quyền con người xem xét tính tin cậy của các thông tin tại các cuộc họp kín, với tất cả các văn bản do các cá nhân và các quốc gia thành viên có liên quan gửi tới Sau đó, Uỷ ban đưa ra những quan điểm về các quốc gia và cá nhân có liên quan (Điều 5) Hàng năm, Uỷ ban phải tóm tắt những hoạt động của mình liên quan đến việc thực hiện Nghị định thư này và báo cáo với Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Hội
Trang 35đồng Kinh tế và xã hội (Điều 6)
1.4.2 Nghị định thư thứ hai
Nghị định thư thứ hai quy định về việc xoá bỏ án tử hình được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua theo Nghị quyết 44128 ngày 15/12/1998 Theo Điều I của Nghị định thư này, không một ai thuộc quyền tài phán của các quốc gia thành viên Nghị định
thư có thể bị hành quyết
Theo Điều 3 của Nghị định thư thứ hai, các quốc gia thành viên phải đưa vào trong báo cáo quốc gia về việc thực hiện Công ước trình lên Uỷ ban quyền con người những thông tin về các biện pháp mà quốc gia đã tiến hành nhằm thực hiện Nghị định
thư
Điều 5 của Nghị định thư quy định, phù hợp với nội dung của Nghị định thư thứ nhất, Uỷ ban quyền con người có thẩm quyền tiếp nhận và xem xét các thông tin về khiếu nại, tố cáo của các cá nhân về các vấn đề quy định trong Nghị định thư thứ hai, trừ khi quốc gia có liên quan chưa phê chuẩn hoặc gia nhập Nghị định thư thứ nhất
Theo Điều 6, các quy định của Nghị định thư thứ hai được áp dụng như là những
quy định bổ sung của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị”)
1.5 Cơ chế bảo vệ và phát triển các quyền dân sự và chính trị theo Công
ước
Cơ chế bảo vệ quyền con người nói chung, quyền dân sự và chính trị nói riêng là rất quan trọng vì nhờ nó mà các quyền về mặt nội dung được quy định trong các Công ước quốc tế mới được thực hiện trên thực tế Vì vậy, Công ước ngoài việc xác định nội dung các quyền dân sự và chính trị, còn tạo ra cơ chế bảo đảm thực hiện
Về cơ chế bảo vệ quyền con người nói chung: Hội đồng Kinh tế và xã hội thuộc
Đại hội đồng Liên hợp quốc có thể “đưa ra các khuyến nghị nhằm thúc đẩy việc tôn
trọng và tuân thủ các quyền và tự do cơ bản của con người cho tất cả mọi người” (Điều
62 Hiến chương Liên hợp quốc) Hội đồng Kinh tế và xã hội gồm 54 thành viên, hàng năm thường tiến hành 1 khoá họp về tổ chức và 2 khoá họp thường kỳ Khi cần thiết, Hội đồng còn triệu tập những khoá họp đặc biệt Để trợ giúp việc xem xét các đề mục
Trang 36về quyền con người, Hội đồng Kinh tế và xã hội thành lập Uỷ ban quyền con người (Commission on Human Rights) và Uỷ ban về vị thế của phụ nữ Uỷ ban quyền con
người thành lập Tiểu ban ngăn ngừa sự phân biệt đối xử và bảo vệ người thiểu số !!**!3I,
Uỷ ban quyền con người do Hội đồng Kinh tế và xã hội thành lập năm 1946 và họp hàng năm từ thời điểm đó Uỷ ban này hiện nay có 43 nước thành viên (lúc đầu là
18 thành viên) với nhiệm kỳ là 3 năm Uỷ ban này là cơ quan chính trên lĩnh vực quyền con người của Liên hợp quốc, có thẩm quyền giải quyết bất kỳ vấn đề nào liên quan
đến quyền con người {19, tr H4
Ngoài ra, còn có Uỷ ban quyền con người (Human Rights Committee) được thành lập theo Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (nhiệm vụ của Uỷ ban như đã được quy định tại Điều 40 Công ước) Uỷ ban này được thành lập năm 1977, theo Điều 2§ Công ước, gồm I8 thành viên là những người có phẩm chất đạo đức và được công nhận là có năng lực cao trong lĩnh vực quyền con người, được các quốc gia tham gia Công ước đề cử Các thành viên của Uỷ ban là những chuyên gia độc lập có nhiệm kỳ là 4 năm, được bầu bằng phương pháp bỏ phiếu kín tại một cuộc họp toàn thể của các quốc gia thành viên và phục vụ với tư cách cá nhân
Theo Điều 41 của Công ước, các quốc gia thành viên có thể tuyên bố vào bất cứ lúc nào rằng quốc gia đó thừa nhận thẩm quyền của Uỷ ban được nhận và xem xét các thông tin mà một quốc gia thành viên tố cáo một quốc gia thành viên khác không làm tròn trách nhiệm của mình theo Công ước Các thông tin nhận được theo quy định của điều này được xem xét giải quyết theo một quy trình đặc biệt
Theo Nghị định thư không bắt buộc bổ sung cho Công ước (Nghị định thư thứ nhất), các cá nhân có thể khiếu nại bằng văn bản lên Uỷ ban quyền con người xem xét khi thấy rằng một trong những quyền mà họ được hưởng theo Công ước đã bị vi phạm
và họ đã sử dụng hết mọi biện pháp có thể ở nước họ để giải quyết Uỷ ban không được nhận các thông tin nếu chúng liên quan đến một quốc gia thành viên Công ước nhưng chưa tham gia Nghị định thư không bắt buộc bổ sung Uỷ ban xem xét các thông tin về các vi phạm các quyền trong Công ước từ các văn bản do cá nhân hoặc quốc gia thành viên gửi đến rồi chuyển ý kiến của Uỷ ban về những khiếu nại, tố cáo này cho quốc gia thành viên có liên quan và cá nhân đó.
Trang 37quyền trả lời các câu hỏi của Uỷ ban và có thể phát biểu về các báo cáo mà quốc gia mình đã đệ trình; đại diện này cũng có thể đệ trình các thông tin bổ sung của quốc gia
mình Uỷ ban này thường họp 3 lần một năm và báo cáo hoạt động với Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Hội đồng Kinh tế và xã hội Tại mỗi khoá học, Uỷ ban xem xét các báo cáo của các quốc gia thành viên Công ước về các biện pháp mà các quốc gia đó đã áp dụng để thực hiện các quyền đã được ghi nhận trong Công ước, về các tiến
bộ đạt được trong việc thực hiện các quyền trên và về bất cứ một nhân tố hay khó khăn nào làm quan hệ tới việc thực hiện Công ước Các báo cáo được Uỷ ban xem xét tại các
cuộc họp công khai có sự có mặt của đại diện các quốc gia báo cáo!'?:": 23,
Thông thường, Uỷ ban cũng thành lập một Nhóm công tác để trợ giúp việc dự thảo danh mục các vấn đề cần xem xét liên quan đến báo cáo định kỳ của các quốc gia
và chuẩn bị những nhận xét chung Nhóm công tác này gồm tối đa không qua 5 trong
số các thành viên của Uỷ ban
Qua việc thành lập các Uỷ ban và cơ quan theo dõi và bảo đảm quyền con người của Liên hợp quốc, có thể thấy rằng Liên hợp quốc đã xây dựng rất công phu một cơ chế đảm bảo quyền con người Tuy nhiên, qua một số sự việc gần đây do Mỹ và phương Tây gây ra, nhiều nhà nghiên cứu quốc tế cho rằng cơ chế này cho đến nay chưa hề hoạt động thực sự có hiệu quả, vô tư và khách quan Cơ chế này đang có xu hướng bị Mỹ và phương Tây thao túng, lợi dụng để phục vụ cho lợi ích của chính mình Trong cuộc chiến tranh chống I rắc và Nam Tư của Mỹ và phương Tây, cơ chế này hau như không
có tác dụng Một biểu hiện khá rõ ràng là các nước phương Tây thường đưa ra vấn đề quyền con người để chỉ trích các nước khác, thậm chí tấn công các nước này trong khi
họ lại hành động chẳng đếm xỉa gì đến những chuẩn mực cơ bản nhất của quyền con người
Như vậy, dù cơ chế bảo đảm quyền con người trong khuôn khổ Liên hợp quốc được xây dựng hết sức công phu, nhưng để bảo đảm nó mang tính khách quan và hoạt động có hiệu quả thực sự thì đó vẫn còn là một công việc lâu dài và phức tạp mà nhân loại tiến bộ đang cố gắng hoàn thành
Trang 3836
CHƯƠNG 2 THỰC HIỆN CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ CÁC QUYỀN DÂN SỰ
VÀ CHÍNH TRỊ NĂM 1966 TẠI VIỆT NAM
2.1 Pháp luật Việt Nam về quyền con người
2.1.1 Lịch sử phát triển của pháp luát Việt Nam về quyền con người
Tư tưởng về quyền con người ở Việt Nam không phải bây giờ mới có Ngay từ thời phong kiến, pháp luật nhà Lý đã quy định không có án tử hình cho dù phạm nhân
là kẻ giết người Những quyền cơ bản của con người như quyền sống, quyền lao động, quyền sở hữu, quyền được bảo vệ phẩm giá đã được giai cấp cầm quyền quan tâm và phần nào đã được đáp ứng Nổi lên là Bộ “Quốc triều hình luật” hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức dưới triều Hậu Lê Bộ luật này đã thể chế hoá nhiều khía cạnh thuộc quyền con người Bộ luật này đã bảo vệ quyền sống, phẩm giá của con người, giữ gìn cuộc sống bình yên của dân như Điều 312, 453, Điều 501, 503, 715: xử tội vu cáo người khác Bộ luật này, mặc dù mục đích là bảo vệ quyền lợi của giai cấp địa chủ nhưng có nhiều điều luật đề cập đến việc trừng trị quan lại, bảo vệ nhân dân như Điều 138 xử tội quan lại ăn hối lộ, Điều 639 xử tội quan lại tự tiện lấy của dân để làm việc riêng
Ngoài ra, Bộ luật này đã chú ý đến quyền của người phụ nữ Vị trí của người phụ
nữ giai đoạn này rất bị hạn chế nhưng Bộ luật đã có những quy định bảo vệ quyền lợi
của họ như Điều 308, Điều 294 3 “ 3, Như vậy, dù còn nhiều hạn chế nhưng những
quy định của Bộ luật này đã phản ánh tư tưởng tiến bộ về quyền con người trong xã hội chuyên chế phương Đông
Ở Việt Nam, tư tưởng về một nền lập pháp vì con người đã được bắt đầu từ Chủ tịch Hồ Chí Minh Ngay từ năm 1919, trong bản yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Véc- xay, Người đã đề cập đến những quyền rất cơ bản của con người như tự do tư tưởng, tự
do lập hội, hội họp Năm 1926, Người khẳng định: nếu được độc lập, Việt Nam sẽ xây dựng một Hiến pháp về phương diện chính trị và lý tưởng về quyền con người, chú trọng bảo hộ quyền lợi của thợ thuyền Cách mạng tháng Tám thành công, ngay vào
Trang 39thời khác ra đời của Nhà nước Việt Nam, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc
“Tuyên ngôn độc lập”, công bố trước toàn thế giới ngày ra đời của một chính quyền mới - chính quyền nhân dân, một chính quyền luôn lấy độc lập, tự do của dân tộc, quyền làm người, quyền mưu cầu hạnh phúc của mỗi cá nhân làm mục tiêu
Các quyền tự do, dân chủ rộng rãi của nhân dân luôn được ghi nhận trong các bản Hiến pháp Hiến pháp 1946 có 7 chương, 70 điều nhưng đã dành 18 điều quy định các quyền, nghĩa vụ của công dân, được trình bày tập trung tại Chương II “Nghĩa vụ và quyền lợi của công dân” Mặc dù ra đời ở một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, lại vừa thoát khỏi “kiếp đời nô lệ” nhưng Hiến pháp 1946 đã quy định rất đây đủ, toàn diện bao quát về quyền công dân như:
- Quyền bình đẳng: tất cả công dân Việt Nam ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá (Điều 6); bình đẳng trước pháp luật; đều được tham gia chính
quyền và công cuộc kiến quốc (Điều 7); bình đẳng giữa các dân tộc (Điều 8); bình đẳng
nam nữ (Điều 9)
- Quyền tự do: công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự
do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài
(Điều 10), quyền bất khả xâm phạm thân thể; về thư tín, về nhà ở (Điều 11)
- Các quyền dân chủ mà trước hết là quyền dân chủ chính trị: quyền bầu cử, ứng
cử (Điều I8); quyền phán quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia (Điều 2l); quyền bãi miễn các đại biểu là nghị viện và nhân viên Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (Điều 20) Cùng với các quyền dân chủ về chính trị là các quyền kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục: Điều 12, Điều 13, Điều 15, Điều
14121105]
Có thể nói, trong lĩnh vực quyền công dân, di sản hiến định mà Hiến pháp 1946 để
lại cho các Hiến pháp sau là rất đồ sộ Nhưng Hiến pháp sau bao giờ cũng tiến bộ hơn Hiến pháp trước Hiến pháp 1959 ra đời trong tình hình đất nước đã có những thay đổi lớn: miền Bác hoàn toàn giải phóng, tiến lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Hiến pháp 1959 được xây dựng trong gần 3
Trang 40- Trước hết, quyền bầu cử ở Hiến pháp 1946 giành hẳn một mục với 5 điều thì ở Hiến pháp 1959 chỉ còn 1 điều (Điều 23), nhưng lại cụ thể hoá thành một chế định hoàn chỉnh về bầu cử bằng Luật bầu cử đại biểu Quốc được thông qua trong một ngày với Hiến pháp 1959 (31/12/1959) và Pháp lệnh quy định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp được Uỷ ban thường vụ ban hành sau đó Một hướng khác nữa là nếu Hiến pháp
1946 chế định quyền công dân mang đậm tính tuyên ngôn thì Hiến pháp 1959 đã cụ thể hoá một quyền có tính nguyên tắc thành những quyền khác nhau và ở từng quyền cũng
có sự bảo đảm tính khả thi Ví dụ như quyền bình đẳng nam nữ, Điều 9 Hiến pháp 1946 quy định: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”, thì đến Hiến pháp
1959 đã được cụ thể hoá, phát triển thành Điều 24: Phụ nữ có quyền bình đăng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình
- Một biểu hiện khác của sự phát triển không ngừng là ở Hiến pháp 1946 có những quyền chưa được đặt ra thì ở Hiến pháp 1959 đã được ghi nhận, bổ sung như Điều 29, quy định về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân
Cần nói thêm rằng, xét theo thực chất, ở Hiến pháp 1959, các quyền cơ bản của công dân, ngoài Chương III về quyền lợi và nghĩa vụ của công dân còn quy định ở 2 chương đầu: Chương I về chế độ chính trị và Chương II về chế độ kinh tế và xã hội (Điều 14, 15, 16)
Rõ ràng, từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 1959, chế định quyền công dân Việt
Nam đã có bước phát triển dài thể hiện đây đủ tính cách hoặc tiếp cận tính cách của
một chế định quyền công dân hiện đại có tính phổ biến của thế giới ngày nay