1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát thanh trong cuộc cạnh tranh với các phương tiện truyền thông đại chúng áp dụng bài học kinh nghiệm từ phát thanh của các nước phát triển vào phát thanh Việt Nam

119 1,2K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 57,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÁO CÁO TÓM TẤT KẾT QUẢ TH ựC HIỆN ĐỀ TÀI KHCN CỦA DHQGHNBẰNG TIẾNG VIỆTTóm tắt Tên đề tài: Phát thanh trong sự cạnh tranh với các phương tiện truyền thông khác áp dụng kinh nghiệm của p

Trang 1

ĐẠI H Ọ C QUỐC GIA HÀ NỘI

TR Ư Ờ N G ĐẠI HỌC KHO A H Ọ C XÃ HỘI VÀ N H Â N VĂN

PHƯƠNG TIỆN TRUYÈN THÔNG ĐẠI CHÚNG

(áp dụng bài học kinh nghiệm từ phát thanh của các nước phát triển

vào phát thanh Việt Nam)

Mã số: QX 2003

Họ và tên chủ trì đề tài:

TS Đặng Thị Thu Hương Cán bộ phối họp nghiên cứu: Mai Phương Thúy (VOV) Hoàng Kim Thu (VOV)

Hà Nội, tháng 3 năm 2009

Trang 2

C h ư ơ n g H ai: S ự vận đ ộn g v à p h át triển của p h át th an h A n h và M ỹ kể từ khi ra đời 2 2

2.1 S ự p h á t triển của côn g nghệ phát thanh 2 2

C h ư ơ n g Ba: S ự phát triển của phát th an h V iệt N am từ khi ra đ ờ i đến năm 1986 5 2

Trang 3

C h ư ơ n g Bốn: P h á t th a n h V iệ t N a m sa u đ ổi m ới: th á ch th ứ c, th ò i c ơ tron g cu ộc cạnh 71 tra n h v o i các P T T T D C

4 1 S ự p h át triển củ a p h á t th a n h V iệ t N am sau đ ổ i m ói: 71

4 2 N h ữ n g th ách th ứ c đ ố i v ớ i p h á t th a n h V iệ t N a m sau đ ổ i m ói 7 6

Trang 4

T h e V o ic e o f V iệ t N a m v o v

X ã h ộ i chủ n g h ĩa X H C N

Trang 5

P H IẾ U Đ Ă N G KÝ

K ẾT Q U Ả N G H IÊ N c ứ u C Á C Đ È TÀI K H C N

T ê n đê tà i: Phát thanh tro n g sự cạnh tra n h v ớ i các p h ư ơ n g tiệ n tru y ê n th ô n g đại chúng

(áp dụng b à i họ c k in h n g h iệ m của phát th a n h ở các n ư ớc phát trie n v à o phát thanh V iệ t N a m )

Trang 7

SUMMARYProject title: Radio in the fierce competition with other mass media (applying experiences from radio’s development in the UK and us to die development o f Vietnamese radio)Code num ber QX 2003

Coordinator: Dr Dang Thi Thu Huong

Implementing Institution: Faculty o f Journalism and Communications, University of Social Sciences and Humanities, Hanoi National University

Cooperating Institution: The Voice o f Vietnam

Duration: from 2003 to 2009 (because the coordinator had to complete a PhD study for 4 years in the UK from 2004-2008)

1 Aims:

The project endeavours to investigate the radio’s development in the UK and us since its inception inorder to explore how radio in these countries have adapted and adjusted itselft in the fierce competition with other mass communication This will be done in order to learn and apply relevant experiences from radio in the UK and us to the development o f radio in Vietnam

2 Objectives:

- The development o f radio in the UK and us since its inception, particularly after the invent o f televisioin and the Internet in order to explore its potential capacity in competition with other mass media

- The development o f radio in Vietnam since its inception in 1945, through 30 years and

10 years o f subsidised period to the economic renovation time This will be done in order

to explore the strengths and weaknesses o f radio in Vietnam, particularly at the time when radio has to compete with other media to capture the interests o f audiences (after the Economic Renovation 1986)

3 Contents

- Investigate the development o f radio in the UK and us since its inception in order to explore its adaptabilities in the new socio-economic changcs after a new mass medium arrived

- Investigate the complex relationships between mass media, which allows mass media to co-exist and co-develop even though they have the same functions o f delivering information and entertainment

- Explore the strengths and weaknesses o f radio in Vietnam since its inception Examine the changes in its position in mass media systems in Vietnam, from its inception, through out 30 years o f war, 10 years o f subsidised period and at the economic renovation time.BÁO CÁO TÓM TẮT KẾT QUÀ TH ựC HIỆN ĐỀ TÀI KHCN CỦA DIIQGHN

BẰNG TIẾNG ANH

Trang 8

Investigate its challenges and opportunities when radio has to compete with other mass media to captuie audiences.

- Suggest solutions for Vietnamese radio in order to strengthen its position in the mass media systems and widen its influence in the sodety and capture larger listneres

The project explored the development o f radio in developed countries, found out the changcs and self-ajustments o f radio in the UK and US in the fierce competition with other mass media Having investigated the complex relationships between mass media, the project contended that mass media compete and cooperate with each other This complex relstionship allows mass media to co-exist and co-develop even though they have the same functions o f delivering information and entertainment Whenever a new medium arrives, the traditional ones will adapt and ajust themselves to the new changes

in order to continue to capture the interests o f audiences

The project also investigated the strengths and weaknesses o f Vietnamese radio, particularly in the information booming after Vietnam applied the economic renovation.Experiences from radio in the UK and US are selected to apply to Vietnamese radio in order to strengthen is position in the fierce competition with visual media

4 Results obtained:

Having applied a number o f methodologies, including the historical and secondary research, online and offline surveys and focus group interview, the project obtained some significant findings, particularly reasons for the drop in radio listeners in Vietnam in recent years The project also provided a number o f suggestions which enable the Voice

o f Vietnam strengthen its competitive capabcities, which are as follows:

The Voice o f Vietnam should improve its characteristic strengths, including the intimacy, immediacy, ubiquity, and ‘niche’ medium

Regarding the programme content, the Voice o f Vietnam should improve the quality of its programmes, increase more channels to cater the need and interests of targeted audiences VOV should enhance the interactive programmes which allow listeners to participate in the on air programmes

Regarding the programming, VOV should consider the model o f ‘format’ programmes, in which there are distinctive features between talk radio and music radio Whaterver the overrall fonnat o f the station, or the genre being produced, each radio programme will be produced according to its own particular format This ‘tem plate’ establishes the structure and style o f the programme: its precise content will vary from one edition to the next, but the structure and style will always be essentially the same, at least until there is felt to be

a need for refreshing it further through re-formatting It provides the listeners with a perceptible programme identity because it makes each separate edition sufficiently familiar, and it offers producers the security o f a framework to which they can habitually work As the audiences are fragmented, particularly in the Digital Age, radio should

Trang 9

focus on the ‘niche’ audiences, serving the small groups, catering their needs and demands.

VOV should consider building a running order based on a ‘clock format’ In a given hour, all the ingrients - records, competitions, trails, news bulletins, weather reports, and

so on - are distributed at fixed points throughout the hour: this is represented graphically

as points on a clock face, so that their planned transmission can be checked against the actual position ofthe minute hard as it passed around the studio’s own real clock

VOV should strengthen its liveness in programmes on air by producing open, live and interactive programmes

VOV should also emphasise the importance o f research and applying new technology in producing programmes, recoiding and restoring audio files

VOV should strengthen the power o f its signal, for domestic and external services; and deliver radio programmes via various technology, including broadcasting webcasting, and podcasting in the future

Audience research should be paid greater attention in order to identify the needs and demands o f the new audiences in the Internet Age, consequently, enable VOV to serve the best service to the new generation

Finally, VOV should pay more attention in training and re-training staff in order to improve the quality o f radio producers, in turn, radio programmes

Trang 10

BÁO CÁO TÓM TẤT KẾT QUẢ TH ựC HIỆN ĐỀ TÀI KHCN CỦA DHQGHNBẰNG TIẾNG VIỆT

Tóm tắt

Tên đề tài: Phát thanh trong sự cạnh tranh với các phương tiện truyền thông khác (áp dụng kinh nghiệm của phát thanh ở các nước phát triển vào sự phát triển của phát thanh Việt Nam)

Mã số: QX 2003

Chủ trì đề tài: TS Đặng Thị Thu Hương

Cơ quan chủ trì đề tài: Khoa Báo chí và Truyền thông (Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn)

Cơ quan cùng thực hiện đề tài: Đài Tiếng nói Việt Nam

Thời gian thực hiện đề tài: từ 2003 đến 2009 (vì chủ trì đề tài đi nghiên cứu sinh 4 năm tại Anh)

1 Mục đích nghiên cứu: Đề tài ‘Phát thanh trong sự cạnh tranh với các phương tiện truyền thông đại chúng: áp dụng bài học kinh nghiệm của phát thanh Anh và Mỹ vào phát thanh Việt Nam’ sẽ tìm hiểu sự phát triển của phát thanh ở các nước phát triển, đặc biệt là

ở A nh và Mỹ, nghiên cứu sự vận động của phát thanh trong bối cảnh cạnh tranh với các phương tiện truyền thông khác (báo in, truyền hình và gần đây là Internet) nhằm làm sáng

tỏ nhũng bài học kinh nghiệm phù họp, có thể vận dụng vào bối cảnh truyền thông Việt Nam, từ đó đưa ra những kiến nghị hợp lí cho sự phát triển của phát thanh Việt Nam hiện tại và trong tương lai

2 Đối tượng nghiên cứu: sự vận động và phát triển của phát thanh ở Anh và Mỹ khi xuất hiện cho đến ngày nay, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh với các PTTDC So sánh, đối chiếu với sự phát triển của phát thanh Việt Nam để tìm ra những bài học kinh nghiệm phù họp cho sự phát triển của phát thanh V iệtN am hiện đại

3 Nội dung chính:

- Làm rõ sự vận động, phát triển của phát thanh trên thế giới kể từ khi phát thanh ra đời, tìm hiểu sự điều chinh của phát thanh để thích ứng với sự thay đổi khi một PTTDC mới xuấl h iệ a

- Phân tích mối quan hệ cạnh tranh và tương tác giữa các PTTDC, đế lí giải tại sao các PTTDC cùng tồn tại và phát triển, cho dù chúng có cùng chức năng thông tin và giải trí,

và hiện đang phải cạnh tranh quyết liệt về công chúng tiêu thụ sản phẩm truyền thông

- Phân tích lí giải thành công cũng như nhược điểm của phát thanh Việt Nam Phân tích

sự biến đổi về vị trí của phát thanh Việt Nam trong hệ thống các PTTDC từ khi phát thanh ra đời, cho đến khi truyền hình xuất hiện, trong giai đoạn đổi mới và thách thức đổi với phát thanh Việt Nam hiện nay

Trang 11

- Nêu giải pháp khả thi để nâng cao tính cạnh tranh của phát thanh trong bối cảnh truyền thông Internet.

4 Ket quả thu được: Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, so sánh sự vận động và phát triển của phát thanh ở các nước phát triển đề tài đã rút ra được một số bài học kinh nghiệm cho phát thanh Việt Nam, và đưa ra đề xuất để phát thanh Việt Nam nâng cao tính cạnh tranh với các PTTTDC khác Tóm tắt các đề xuất như sau:

Để có thể phát triển và cạnh tranh trong thời đại truyền thông Internet, việc đầu tiên là phát thanh phải phát huy được thể mạnh của mình, đặc biệt là tính phổ cập rộng rãi, tính đơn giản gọn nhẹ, tính thân mật gần gũi, có thể cập nhật thông tin nhanh chóng, phục vụ được các nhóm đối tượng nhỏ, công chúng đặc thù, là phuơng tiện dễ tiếp nhận

Xét về nội dung chương trình, Đài Tiếng nói Việt Nam cần hoàn thiện và tăng thêm các

hệ chương trình phát thanh, chú trọng nâng cao chất lượng nội dung các hệ chương trình,

đi vào chiều sâu và toàn diện, đáp ứng nhu cầu thông tin của mọi đối tượng thính giả.Đài TNVN cần nghiên cứu áp dụng kênh phát thanh định dạng, chú trọng vào những nhóm công chúng nhỏ, có nhu cầu, thói quen và sờ thích riêng biệt Bởi lẽ xu hướng phát triển của phát thanh trên thế giới là chuyên biệt hóa đối tượng Khái niệm ‘phi đại chúng

h ó a ’ thông tin đại chúng đã được giới nghiên cứu truyền thông thế giới đề cập nhiều từ đầu thập niên tám mươi, tiêu biểu là Alvin Toffler, Philippe Breton và Serge Ploux Các PTTTDC bị ‘phi đại chúng hóa’ là sản phẩm tất yếu của kinh tế thị trường trong điều kiện cách mạng công nghệ và tin học Việc ‘phi đại chúng hóa’ kênh phát thanh chính là yếu tố quan trọng giúp phát thanh ở A nh và Mỹ duy trì vững chắc vị trí của mình trong

m à còn góp phần đa dạng hóa âm thanh trên sóng phát thanh, tạo hiệu quả cao trong quá trình thính giả nghe đài Đưa tiêng nói của những con người đang trực tiếp hoạt động sáng tạo trong các lĩnh vực đời sổng là đưa vào sản phẩm phát thanh sự vận động của đời sổng hiện thực, góp phần tạo cho chương trình phát thanh gần gũi, thiết thực hơn

về sản xuất chương trình, đối mới quy trình sản xuất các chương trình phát thanh, mở rộng hình thức đọc thẳng thay cho các chương trình sản xuất theo kiểu truyền thống - trong studio

Đài cần đẩy mạnh việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ kỹ thuật số và công nghệ mạng máy tính âm thanh trong việc sản xuất chương trình; xây dựng mô hình sản xuất chương trình phù hợp với tổ chức hệ chương trình mới; thống nhất về công nghệ, quy mô và thực hiện số hóa hệ thống lưu trữ âm thanh

Trang 12

về truyền dẫn và phát sóng: Đài Tiếng nói Việt Nam cần kết hợp nhiều phương thức truyền dẫn, phát sóng nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng phủ sóng đối nội; đầu tư, nâng cấp, mở rộng hệ thống phát sóng đối ngoại bằng sóng ngắn kết họp phát sóng trực tiếp qua vệ tinh; tăng cường thời lượng và số ngữ phát triển trên mạng Internet, báo điện

tử bằng công nghệ "online" và "offline"

Ngoài ra, Đài cần chú trọng hơn nữa việc đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học

và phát triển công nghệ, tập trung sản xuất các phương tiện thu nghe chất lượng cao và mẫu mã đẹp Quan trọng hơn, Đài nên tiến hành thường xuyên những cuộc điều tra thính giả để nắm rõ các đặc điểm về trình độ, lứa tuổi, giới tính, sở thích, thói quen tiếp nhận thông tin, để sắp xếp, bố trí một cách họp lí các chương trình cũng như cải tiến nội dung thông tin cho phù họp với nhu cầu của công chúng và sự phát triển của xã hội

Trang 13

MỞ ĐÀU

Lí do lựa chọn đề tài

Xuất phát điểm đầu tiên thúc đẩy chúng tôi nghiên cứu đề tài này bắt nguồn từ những

so sánh về sự thực trạng phát triển của phát thanh ở Việt Nam và phát thanh ở các nước phát triển trên thế giới (đặc biệt là Anh và Mỹ) Ở Việt Nam, sau Đổi mới 1986, trong khi nền kinh tế có những bước chuyển biến tích cực và đời sống của người dân ngày càng được nâng cao thi phát thanh Việt Nam phải đối diện với một thách thức lớn: radio đang dần mất đi vị trí ‘số m ột’ trong hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng

- vị trí mà phát thanh Việt Nam đã có được trong suốt hon 40 năm kể từ khi thành lập Bên cạnh đó phát thanh Việt Nam cũng chứng kiến sự suy giảm đáng kể về thính giả, đặc biệt là ờ nhóm công chúng trẻ, nhóm công chúng ở thành thị, nhóm có học vấn và thu nhập cao

Ở Việt Nam hiện nay, phát thanh chủ yếu được nghe ở các vùng nông thôn, và ‘dường như chỉ dành cho người nghèo’1 (Võ Tiến 2004) Tại các quận nội thành TP Hồ Chí Minh - thành phố lớn nhất Việt Nam - chỉ có 9% công chúng nghe phát thanh hàng ngày (Trần Hữu Quang 2001, p 138) Nguyễn Châu Kỳ, Giám đốc Đài Tiếng nói Nhân dân TP HCM cho biết, trong khi đài của ông có lượng thính giả ổn định ở khu vực nông thôn, số lượng thính giả ở khu đô thị đang ngày càng giảm sút (Tạp chí Người làm báo 2004) Theo số liệu điều tra xã hội học do chúng tôi tiến hành năm 2005 khi thực hiện luận án Tiến sĩ, chỉ có 14.4% công chúng có bằng đại học trở lên ở Hà Nội nghe phát thanh thường xuyên Tại Khoa Báo chí và Truyền thông (Trường ĐH KHXH và NV), theo kinh nghiệm hơn 10 năm giảng dạy tại đây, tôi nhận thấy sinh viên không mặn mà lắm với ngành phát thanh, vì cho rằng, phát thanh không có đông công chúng, phát thanh chỉ dành cho người ít tiền, và do vậy, phóng viên phát thanh không có thu nhập cao như những phóng viên truyền hình hay báo in

1 P hát b iể u củ a Trần X u ân T iế n , T r ư ở n g b an V ă n n ° h ệ Đ à i T iế n g n ó i n h â n d â n T P H C M tại H ộ i thào

‘K h ô n g g ia n â m nh ạc trên s ó n g p h á t th a n h ’, 1 6 3 2 0 0 4

Trang 14

Đã từng có ý kiến cho rằng, phát thanh là phương tiện truyền thông rẻ tiền, nên phù họp hơn ở những vùng nông thôn hẻo lánh và hải đảo, thậm chí, có ý kiến cho rằng, ở thành thị, phát thanh khó có thế cạnh tranh được với các phương tiện truyền thông khác như báo in, truyền hình hoặc là Internet (Võ Tiến 2004).

Trong khi đó, ờ các nước phát triển như Anh và Mỹ (cũng như nhiều nước châu Âu khác), phát thanh vẫn tiếp tục gặt hái thành công, và duy trì lượng thính giả đông đảo,

on định Bất chấp số lượng ngày một gia tăng của các kênh truyền hình, các đầu báo in,

và sự phát triển rầm rộ của Internet, ở Anh, trong 10 năm qua (1992-2002), thính giả của radio vẫn duy trì ở mức 88-90% dân số, với thời lượng nghe đài trung bình khoảng 21.5 giờ mồi tuần (McNair 2003, tr.12) Ở Mỹ, riêng trong năm 1998 đã có 58 triệu máy thu thanh được bán, và hầu hết các gia đình đều có ít nhất 8 máy thu thanh (Mosco

2005, tr.127) Theo số liệu điều tra gần đây của Arbitron/Edison Media Research (2006), trung bình mỗi tuần, có hơn 94% công chúng Mỹ trưởng thành, sống trong những gia đình có thu nhập từ $75,000 trở lên nghe phát thanh Đồng thời, 94% người

Mỹ có bằng đại học trở lên nghe phát thanh Ở Australia, hầu như mỗi xe ô tô đều có

m ột máy thu thanh, và 75% tài xế luôn nghe radio khi cầm lái Có đến 85% dân số Australia sống trong các hộ gia đình có ít nhất 4 máy thu thanh, và mỗi tuần, một người trưởng thành thường bỏ ra hơn 23 giờ đồng hồ để nghe radio (Lois Baird biên soạn, tr.l) Điều đó cho thấy, phát thanh ở các nước phát triển không chỉ tồn tại mà còn gặt hái nhiều thành công, bất chấp những dự đoán về sự suy vong của phát thanh trong thời đại kỹ thuật số (Hendy 2000; Priestman 2002; Fleming 2002; Black 2005; Shingler & Wieringa 1998; Pease & Dennis 1993; Masterton & Patching 2001)

Điều đáng chú ý là, xét một cách toàn diện, đời sống vật chất của công chúng ở các nước phát triển, cũng như cơ hội tiếp cận với truyền hình và Internet của công chúng ở các nước này luôn cao hơn (thậm chí, cao hơn khá nhiều) so với công chúng ở các nước đang phát triển Vậy thì, sự suy giảm của phát thanh Việt Nam ờ khu vực đô thị và trong giới trẻ, có lẽ không phải chỉ do yếu tố về thu nhập của công chúng thính giả hay

vì họ có nhiều cơ hội tiếp cận với các kênh truyền thông bằng hình ảnh Đi tìm hiểu nguyên nhân thành công và hạn chế của phát thanh Việt Nam qua các thời kỳ, đặc biệt tìm hiếu nguyên nhân dẫn đến sụ suy giảm của phát thanh trong giới trẻ và nơi đô thị hiện nay, là một việc làm cần thiết

Trang 15

Quan trọng hơn, cần tỉm hiểu sự phát triển của phát thanh ở các nước phát triển, (đặc biệt là Anh và Mỹ), nghiên cứu cách thức mà phát thanh ở những nước này đã áp dụng trong cuộc cạnh tranh quyết liệt với báo in, truyền hình, và gần đây là Internet, nhằm lí giải sự phát triển của phát thanh, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm phù hợp với tình hình ở Việt Nam Đó cũng chính là mục đích chính của đề tài nghiên cứu này.

Lịch sử vấn đề:

Ở Việt Nam, nghiên cứu báo chí thường được chia ra làm 3 giai đoạn: trước 1945, từ

1945 đến 1975 và sau 1975 Ở giai đoạn đầu, nghiên cứu báo chí được ghép gộp vào nghiên cứu văn học nói chung, bởi lẽ, ranh giới giữa văn học và báo chí lúc đó chưa được xác định rõ nét, và phần lớn những người làm báo, và nghiên cứu báo chí đều là các nhà văn và nhà nghiên cứu văn học (Trần Thé Phiệt 2005, tr.6; Hà Minh Đức 1994, tr.l) Trong giai đoạn hai, từ 1945 đến 1975, do điều kiện chính trị đặc thù, ở Việt Nam

có 2 nền báo chí song song tồn tại, một ở miền Bắc Xã hội chủ nghĩa, và một ở miền Nam theo chế độ Cộng hòa Ở miền Nam, có một số nghiên cứu về báo chí, ví dụ như của Vũ Bằng (1969), Tê Xuyên (1967-1968), Huỳnh Văn Tòng (1965), Nguyễn Ngu Ý (1965) Những cuốn sách này chủ yếu nghiên cứu về lịch sử báo in Ở miền Bắc, phần lớn nghiên cứu báo chí tập trung vào việc nghiên cứu chức năng, nhiệm vụ của báo chí cách mạng, vai trò của báo chí cách mạng trong cuộc vận động quần chúng, trong tuyên truyền, cổ động và tổ chức tập thể, với những nhà nghiên cứu đồng thời là nhà chính trị

và lãnh đạo cách mạng của Đảng như Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí Trường Chinh, Tố Hữu, Hoàng Tùng Giai đoạn thứ ba, sau năm 1975, báo chí được nghiên cứu dưới nhiều góc độ, bao gồm lịch sử báo chí, những vấn đề lí luận và thực tiễn báo chí, thể loại báo chí, báo chí Hồ Chí Minh, báo chí cách mạng Việt N am Tuy nhiên, theo nhiều nhà nghiên cứu trong đó có Trần Thế Phiệt (2005, tr.6) và Đỗ Anh Đức (2005, tr.26), nghiên cứu báo chí truyền thông ở Việt Nam vẫn còn trong giai đoạn sơ khởi, chưa bắt kịp với sự phát triển nhanh chóng của thực tiễn báo chí Bên cạnh đó, phần lớn các nhà nghiên cứu về báo chí của V iệt Nam đều là các học giả được đào tạo về báo chí truyền thông ở các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô Rất ít tài liệu nghiên cứu

về báo chí được trang bị lí luận và thực tiến của các nước tư bản, như Anh và Mỹ

Thêm vào đó, trong lĩnh vực nghiên cứu về phát thanh, các cuốn sách về phát thanh thường là hồi ký, hồi ức của các nhà báo lâu năm, như cuốn ‘Trong lòng tôi tiếng nói Việt N am ’ hay ‘Nửa thế kỷ phát thanh - Một chặng đường’, ‘Phát thanh Việt Nam -

Trang 16

c ầ u nối giữa Đảng với nhân dân' hoặc ’60 năm Tiếng nói Việt Nam’ Một số cuốn về thể loại của phát thanh, như cuốn ‘Phát thanh’ (Phân viện Báo chí truyên truyền - Đài Tiếng nói Việt Nam, 2002) hay ‘Phát thanh trực tiếp’ (Vũ Hiền và Nguyễn Văn Dững chủ biên 2007) tập trung nghiên cửu về các thể loại của phát thanh hay cách thức làm chương trinh phát thanh trực tiếp.

Cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào tìm hiểu về sự phát triển của phát thanh ở các nước Tây Âu, nghiên cứu sự vận động của phát thanh trong cuộc cạnh tranh với các PTTTDC khác, lí giải sự phát triển mạnh mẽ của phát thanh ở các nước này và rút ra bài học kinh nghiệm phù hợp cho sự phát triển của phát thanh Việt Nam trong hiện tại và tương lai

Mục đích nghiên cửu:

Đề tài ‘Phát thanh trong sự cạnh tranh với các phương tiện truyền thông đại chúng: áp dụng bài học kinh nghiệm của phát thanh Anh và Mỹ vào phát thanh Việt N am ’ sẽ tìm hiểu sự phát triển của phát thanh ở các nước phát triển, đặc biệt là ở Anh và Mỹ, nghiên cứu sự vận động của phát thanh trong bổi cảnh cạnh tranh với các phương tiện truyền thông khác (báo in, truyền hình và gần đây là Internet) nhằm làm sáng tỏ những bài học kinh nghiệm phù họp, có thể vận dụng vào bổi cảnh truyền thông Việt Nam, từ đó đưa

ra những kiến nghị họp lí cho sự phát triển của phát thanh Việt Nam hiện tại và trong tương lai

Nội dung nghiên cứu

- Làm rõ sự vận động, phát triển của phát thanh trên thế giới kể từ khi phát thanh ra đời, tìm hiểu sự điều chỉnh của phát thanh để thích ứng với sự thay đổi khi một PTTDC mới xuất hiện

- Phân tích mối quan hệ cạnh tranh và tương tác giữa các PTTDC, để lí giải tại sao các PTTDC cùng tồn tại và phát triển, cho dù chúng có cùng chức năng thông tin và giải trí,

và hiện đang phải cạnh tranh quyết liệt về công chúng tiêu thụ sản phẩm truyền thông

- Phân tích lí giải thành công cũng như nhược điểm của phát thanh Việt Nam Phân tích sự biến đổi về vị trí của phát thanh Việt Nam trong hệ thống các PTTDC từ khi

4

Trang 17

phát thanh ra đời, cho đến khi truyền hình xuất hiện, trong giai đoạn đổi mới và thách thức đổi với phát thanh Việt Nam hiện nay.

- Nêu giải pháp khả thi để nâng cao tính cạnh tranh của phát thanh trong bối cảnh truyền thông Internet

Phương pháp nghiên cứu:

Đã có nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra rằng không có một D hươ ng nháp nghiên cứu riêng lẻ nào có ưu thế vượt trội hơn hẳn các phương pháp nghiên cứu khác (Benbasat chủ biên

1987, tr.382) Thực tế, mỗi nghiên cứu khám phá ra một khía cạnh khác nhau của sự vật, hiện tượng Mỗi nghiên cứu tạo ra một ánh sáng để nhìn sự vật hiện tượng rõ ràng hơn (Berg 2007, tr.5), và do đó các nhà nghiên cứu luôn kêu gọi sự kết họp giữa nhiều phương pháp nghiên cứu trong một đề tài để tạo ra hiệu quả cao hơn trong việc tiếp cận thực tế cuộc sống, để tạo ra những ý tưởng phong phú hơn, những giải pháp hoàn thiện hơn (Berg 2007, tr.5) Cũng bởi vậy, khi thực hiện đề tài nghiên cứu về ‘Phát thanh trong sự cạnh tranh với các PTTTDC’, chúng tôi đã vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, đường lối của Đảng, và pháp luật của nhà nước VN về văn hoá tư tường nói chung và sự nghiệp thông tin báo chí nói riêng, và kết hợp với nhiều phương pháp nghiên cứu như: phương pháp nghiên cứu lịch sử và khai thác tư liệu có sẵn (Historical and Secondary Research), phương pháp hệ thống hóa, so sánh, đối chiểu, điều tra xã hội học, điều tra xã hội học trực tuyến, phỏng vấn nhóm Sau đây là sự trình bày cụ thể ưu thế, và nhược điểm của từng phương pháp nghiên cứu và lợi thế khi kết hợp các phương pháp này với nhau

Theo những nhà nghiên cứu tiền bối, bao gồm Williams (1988, tr.36) và Hansen (1998,

tr 15) thế mạnh của phương pháp nghiên cứu lịch sử và khai thác tư liệu có sẵn là sự khám phá, và giải thích các quá trinh mang tính lịch sử Phương pháp nghiên cứu này chỉ ra sự vận động trong quá khứ, tạo tiền đề cho việc nghiên cứu xu thế phát triển của

sự vật, hiện tượng trong hiện tại, và phán đoán xu thế phát triển của sự vật, hiện tượng trong tương lai Trong đề tài này, phương pháp nghiên cứu lịch sử và khai thác số liệu

đã có sẵn được áp dụng để nghiên cứu sự phát triển của phát thanh ở các nước phát triển (Anh, Mỹ) và Việt Nam kể từ khi phát thanh ra đời ở các nước này để tìm hiểu sự phát triển và cách thức mà phát thanh cùa Anh, Mỹ đã áp dụng trong bối cảnh cạnh tranh với các phương tiện truyền thông khác

Trang 18

Diều tra xã hội học (survey) vẫn được coi là phương pháp quan trọng trọng nghiên cứu định lượng (Jensen 2002, p.214) Survey là phương pháp thu thập lượng thông tin lớn

từ rất nhiều mẫu đối tượng (Hansen 1988, tr.15; Schoroder 2003, tr.225), và do vậy có thể cung cấp một lượng biến số lớn, giúp cho nhà nghiên cứu phân tích được những mối quan hệ đa dạng, phức tạp, liên quan chồng chéo với nhau (Williams chủ biên

1 998, tr 35; Schoder 2003, tr 225) Và cũng bởi vậy, đây là cách hữu hiệu để thẩm định lại một giả thiết khoa học, hay giải đáp các vấn đề khoa học được đặt ra

Điều tra xã hội học trực tuyến (online survey) được áp dụng manh mẽ trong những năm gần đây, không chỉ bởi vì đó là một phương thức mới để tiếp cận công chúng, mà quan trọng hơn, bởi vì Internet đang hình thành một nhóm công chúng truyền thông mới, có đặc tính khác hắn với nhóm công chúng của các PTTTDC truyền thống Do vậy, tìm hiểu thái độ, thói quen, nhu cầu và đánh giá của nhóm công chúng mới này về các PTTTDC truyền thống trong đó có phát thanh là một việc làm cần thiết

Bên cạnh những ưu điểm mang tính vượt trội đó, survey cũng bộc lộ nhiều điểm hạn

Trong khi cung cấp bức tranh toàn cảnh về nhận thức, thái độ, ý kiến, thói quen, nhu cầu của một số lượng công chúng đông đảo, survey không thể đưa ra giải đáp cho lí do khiến họ có thái độ, thói quen hay nhận xét đó Do vậy, nghiên cứu định lượng cần được kết hợp với nghiên cứu định tính, để những thông tin trên diện rộng từ kết quả phân tích số liệu từ survey được kết hợp với những nghiên cứu mang tính chiều sâu, ví

dụ như phỏng vấn nhóm

P h ỏ n g v ẩ n n h ó m ( F o c u s G r o u p I n t e r v i e w s )

Đi tim hiểu vẩn đề công chúng hiểu thông điệp của các PTTDC ‘như thế nào’ và ‘tại sao’ là một việc không thể thực hiện được bằng điều tra xã hội học (Hansen 1998, tr.257) Bởi vậy, để hiểu rõ hơn về công chúng, về thái độ, quan điểm của họ đối với các PTTDC, bẽn cạnh survey, cần có những phương pháp nghiên cứu định tính Trong khi làm luận án Tiến sĩ, chúng tôi đã chọn phỏng vấn nhóm là phương pháp nghiên cứu

bổ trợ cho survey

Phóng vấn nhóm cho phép tôi được quan sát một cách tự nhiên mối quan hệ giữa công chúng đổi với các PTTDC thông qua cuộc chuyện trò, trao đổi Phỏng vấn nhỏm không

6

Trang 19

chỉ giúp cho tôi có thông tin qua cách nhân vật trả lời phỏng vấn, mà còn qua cách họ trao đoi, thảo luận với nhau Đồng thời, những yếu tố phi ngôn ngữ như sự biếu cảm khuôn mặt trong khi nói, cách thức sử dụng ngôn từ biêu đạt, ngữ điệu giọng

n ó i, cũng được nhận diện và khai thác triệt để trong phân tích số liệu Một điều thú vị

là những người tham gia trong nhóm phỏng vấn của tôi là những người đã tham gia trả lời bảng hỏi của tôi 1 năm trước đó Vì vậy, tôi có điều kiện chọn lựa, nhóm các nhân vật theo các nhóm phù hợp về lứa tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vẩn, để có thể tìm hiểu và tổ chức các nhóm phỏng vẩn, thực hiện dạng thức các câu hỏi có một nửa ‘kết cấu’, một nửa mở (semi-structure questions)

Ngoài ra, đề tài còn áp dụng các phương pháp khảo sát, thống kê, phân tích, so sánh và đối chiều để lí giải sự phát triển của phát thanh trên thế giới và ở Việt Nam, từ đỏ tổng kết kinh nghiệm của phát thanh ở các nước phát triển như Anh và Mỹ, nghiên cứu tình hình thực trạng của phát thanh Việt Nam, và đề xuất một số giải pháp nâng cao hơn nữa chất lượng và tính cạnh tranh của phát thanh Việt Nam

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài:

về mặt lí luận

- Đe tài góp phần bổ sung làm phong phú thêm lý luận báo chí phát thanh hiện đại (nhất

là các vấn đề về vị trí, vai trò, chức năng, nguyên tắc truyền thông phát thanh )

- Đề tài hệ thống hóa sự phát triển của phát thanh ở các nước phát triển trên thế giới, lí giải nguyên nhân sự phát triển của phát thanh ở Anh và Mỹ trong mối tương quan với các PTTDC khác

- Đề tài phân tích sự phát triển của phát thanh Việt Nam, hệ thống hóa những thành công và hạn chế của phát thanh từ khi thành lập cho đến nay, đồng thời, phân tích thời

cơ và thách thức của phát thanh trong cuộc cạnh tranh với các PTTDC hiện nay

Trang 20

- Nội dung công trình được sử dụng ở mức độ nhất định vào việc biên soạn đề cương, bài giảng, giáo trình, các báo cáo khoa học tại các hội thảo trong nước và quốc tế.

- sv, học viên sau ĐH, cac phóng viên, biên tập viên các toà soạn báo chí và những ai quan tâm có thể tham khảo nội dung nghiên cứu trong hoạt động thực tiễn nghề nghiệp

Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, đề tài gồm 4 chương

Sau phần Mở đầu, chương I của đề tài sẽ nghiên cứu sự phát triển của phát thanh trong bối cảnh cạnh tranh thông tin với các phương tiện truyền thông đại chúng khác Trong khi lượng thời gian vật chất của con người là không đổi, sự phát triển bùng nổ của các PTTTDC đã tạo nên sức cạnh tranh mạnh mẽ, và ngày càng gay gắt trong giới thông tin Tuy nhiên, cho dù các PTTTDC đều có chung chức năng, nhiệm vụ là chuyến tải thông tin và giải trí cho công chúng, các kênh thông tin này không triệt tiêu nhau Trong thời đại của truyền hình và Internet, báo in và phát thanh ở các nước phát triển vẫn có vị trí và thu hút lượng công chúng đông đảo Vận dụng học thuyết của Dimmick, chương I sẽ lí giải sự song song tồn tại của các PTTDC, và đưa ra bài họckinh nghiệm từ lí luận, cho sự phát triển của phát thanh Việt Nam

Chương II nghiên cứu về sự phát triển của phát thanh ở các nước phát triển như Anh,

Mỹ Chúng tôi nhận thức sâu sắc rằng sự phát triển của truyền thông chịu ảnh hưởng không nhỏ của thể chế chính trị, và những quy định về mặt pháp lí Tuy nhiên, do đề tài xác định là nghiên cứu để tìm ra những bài học kinh nghiệm phù hợp với điều kiện đặc thù của báo chí Việt Nam, nên những yếu tố liên quan đến thể chế chính trị, và quy định pháp luật giành cho sự phát triển của báo chí ở Anh và Mỹ, tuy có được đề cập ở mức độ nhất định, nhung không phải là mục đích chính của đề tài Chương II, do vậy,

sẽ khai thác sự phát triển của phát thanh ở Anh và Mỹ theo những tiêu chí sau: sự vận dụng bước tiến khoa học kỹ thuật vào sự phát triển của phát thanh, sự thay đổi trong cách thính giả nghe phát thanh, sự thay đổi chương trình phát thanh phù hợp với nhu cầu mới của thính giả, và phát thanh hiện đại ờ các nước phát triển

Chương III của đề tài sẽ phác thảo sự phát triển của phát thanh Việt Nam kể từ khithành lập, những ưu điểm, và nhược điểm của phát thanh Việt Nam qua các thời kỳ: 30 năm chiến tranh và 10 năm trong thời kỳ bao cấp Đặc biệt, chương IV đưa ra giải thích làm sáng tỏ sự suy giảm của phát Ihanh trong những năm sau Đổi mới

Trang 21

Chương IV đi sâu phân tích thực trạng của phát thanh Việt Nam hiện nay, những thay đối và phát triển của phát thanh sau đổi mới, những thách thức và thời cơ mới cho phát thanh Việt Nam hiện đại Cuối cùng, chương Ket luận sẽ đưa ra nhận xét và đề xuất để nâng cao tính cạnh tranh của phát thanh Việt Nam trong bối cảnh bùng nổ truyền thông,

để phát thanh có thể phát triển trong hiện tại và tương lai

Trang 22

Chương Một:

MỐI QUAN HỆ CẠNH TRANH VÀ HỢP TÁC

CÙNG TÒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC PTTTDC

Do các PTTTDC có cùng chức năng cung cấp thông tin và giải trí cho công chúng, nên chúng cạnh tranh quyết liệt với nhau về nguồn tin, cũng như về đối tượng người tiêu dùng sản phẩm truyền thông Nhưng có một thực tế thú vị là, mặc dù sức ép cạnh tranh giữa các PTTTDC là quyết liệt - nhất là khi có một phương tiện truyền thông mới ra đời

- bất chấp sự báo tử được các nhà nghiên cứu truyền thông tiên liệu, các phương tiện truyền thông truyền thống như phát thanh và báo in vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển trong kỷ nguyên Internet Điều gì khiến cho các PTTTDC truyền thống tồn tại và phát triển song song với các PTTTDC hiện đại? Mối quan hệ giữa các PTTTDC phải chăng chỉ là cạnh tranh? Nội dung chương Một sẽ giải đáp những câu hỏi này

1.1 Sự cạnh tranh giữa các phương tiện truyền thông đại chúng

Mong muốn được trao đổi, chia sẻ thông tin là một trong những nhu cầu thiết yếu của con người, chẳng kém gì những nhu cầu về vật chất như nhu cầu về nơi ăn, chốn ở hay nhu cầu được ăn uống hàng ngày (Agee 1994, tr.4) Khát vọng được tiếp nhận thông tin

và ước mơ truyền tải thông điệp đến đông đảo công chúng đã bước đầu trở thành hiện thực khi báo in ra đời Cùng với phát minh của Gutenberg về máy in, cuộc cách mạng thông tin đã có cú hích đầu tiên Báo in được nhiệt liệt chào đón, và là kênh thông tin thống trị trong xã hội, bời lẽ, nó là phương tiện truyền thông duy nhất có khả năng chuyển tải thông điệp cho nhiều người Không có bằng chứng nào cho sự cạnh tranh giữa các phương tiện thông tin cho đến khi radio xuất hiện (Dimmick 2003, tr.43)

Khi radio ra đời - mặc dù giá của một chiếc radio vào thời gian đầu rất đắt đỏ, đặc biệt đối với tầng lớp người lao động - công chúng vẫn nhiệt tình chào đón sự ra đời của loại hình truyền thông mới mẻ (Black 1972, tr.23; Briggs 1965, tr.6; Douglas 1999, tr 128)

Sự tác động của radio đối với báo in mạnh mẽ đến mức, đã có nhiều ý kiến cho rằng phát thanh sẽ là sự chấm hết của báo in (Kayany và Yelsma 2000, tr.2 16)

10

Trang 23

Phát thanh ra dời không chỉ đem lại sự hứng khởi cho đông đảo công chúng đối với một phương tiện truyền thông mới, nhanh nhạy, hiệu quả, mà còn hấp dẫn, kích thích sự hiếu kỳ của người nghe bởi phương thức truyền thông rất sinh động, cuốn hút, nhờ vào khả năng biểu cảm của âm thanh, lời nói, âm nhạc và các chương trình giải trí phong phú khác.

Từ năm 1920 đến 1930, phát thanh và báo in có sự cạnh tranh quyết liệt Vào năm

1924, một thống kê ở Mỹ cho biết có khoảng 10 triệu người Mỹ nghe kết quả bầu cử Tồng thống qua đài Năm đó, Mỹ có hơn 3 triệu máy thu thanh và số lượng các đài phát thanh tăng từ 50 đài vào năm 1921 lên đến 530 đài vào năm 1924 Ngay trong cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929-1930 và thời kỳ đại suy thoái sau đó, phát thanh vẫn tiếp tục phát triển Năm 1933, Đức cấp 5.053.000 giấy phép cho công dân được quyền

m ua đài thu thanh Trong khi ở Anh, con số này là 6.000.000 và ở Pháp là 1.308.000 Sáu năm sau (năm 1939), con số này là 13.711.000 máy thu thanh ở Đức (tăng 217%),8.900.000 m áy ở Anh (tăng 148%) và 4.902.000 máy ở Pháp (tăng 318%) (Đặng Thị Thu Hương 2005, tr.89)

Trước sự phát triển mạnh mẽ của phát thanh, ngành công nghiệp báo in đã có nhiều biện pháp phản ứng chống đỡ Phản kháng lại sự phát triển đầy tiềm năng của BBC, ngành công nghiệp báo in ở Anh đã yêu cầu chính phủ cấm tất cả các bản tin trên phát thanh trước 7h tối (Lax 1997, tr.24), đồng thời, không cho phép BBC được lấy bất cứ nguồn tin nào, trừ tin từ hãng thông tấn Reuters - hãng thông tấn chỉ cung cấp tin dưới dạng thức để in ấn hơn là dạng thức để phát trên sóng phát thanh Trong những năm đầu tiên khi phát thanh ra đời, nhà cầm quyền Anh còn cấm mọi binh luận, trao đổi về chính trị và hầu hết những bài viết mang tính chính trị không được phát trên làn sóng (Crisell 2001, tr.21) Cho đến những năm cuối của thập kỷ 30 của thế kỷ trước, báo in vẫn tiếp tục những biện pháp chống đối, ngăn chặn sự phát triển của phát thanh, bằng cách cấm vận một số nguồn tin không được phát cho phát thanh Nhưng, cuối cùng, sự cần thiết phải cung cấp thông tin nhanh chóng, kịp thời về cuộc khủng hoảng Munich năm 1938 bằng mọi phương tiện đã giúp cho tin tức của phát thanh, cuối cùng được cạnh tranh bình đẳng với tin tức trên báo in (Paulu 1956, tr.156)

Ớ Mỹ, với sự phát triển cuả hai hệ NBC và CBS đầu những năm, radio thu hút ngày càng nhiều quảng cáo từ báo in Tận dụng được thế mạnh là kênh thông tin điện tử,

Trang 24

đến năm 1933, Hiệp hội Báo chí Mỹ đã thuyết phục AP, UP và INS ngưng không cung cấp dịch vụ cho phát thanh (Schramm và Robert 1971, tr.53; Lehman-Wilzig và Cohen- Avigdor 2006, tr.7 17) Điều đó có nghĩa là phát thanh phải tự mình tìm kiếm thông tin.

Sự cạnh tranh giữa các PTTTDC ngày càng trở nên gay gẳt sau khi truyền hình xuất hiện, và gần đây nữa là Internet Ở Anh, sự xuất hiện của BBC truyền hình vào những năm đầu 1950 đã làm cho thính giả của phát thanh giảm sút nghiêm trọng, đến mức nhiều nhà nghiên cứu đã cảnh báo sự suy vong của phát thanh (Paulu 1961, tr 155; Shingler và Wieringa 1998) Weiss (trích theo Kayany và Yelsma 2000, tr.217) đã phát hiện ra rằng từ khi có truyền hình, thời gian mà công chúng dành cho các loại hình truyền thông khác (phát thanh và báo in) đều giảm sút Tương tự như vậy, Robinson (trích theo Kayany và Yelsma 2000, tr.217) đồng thời cũng chỉ ra rằng những khán giả trung thành của truyền hình ít nghe phát thanh hon công chúng bình thường

Đối với báo in, tình trạng hoàn toàn tương tự Không chỉ giảm sút về số đầu báo, và tiara phát hành, mà, quan trọng là, tỷ lệ người ham thích đọc báo không còn như xưa nữa ở cả Anh và Mỹ (Agee et al 1994, tr.78; Toffler 1980, tr.174-5; Mediaweek 2005, tr.l 1; Hollifield 2006, tr.l; Kopper 1 2000, tr.503)

Thế nhưng, so sánh với Internet thì cả phát thanh và truyền hình đều là phương tiện truyền thông ‘cưỡng ép ’ (‘push’ medium) (Negroponte 1995, tr 170; Fleming 2002; Priestman 2002) theo nghĩa là một số ít người cung cấp thông tin và ‘đẩy đến’ cho công chúng, những người chỉ được lựa chọn trong một phạm vi hạn hẹp thông tin mà nhà cung cấp thông tin định sẵn Trong khi đó, Internet là phương tiện truyền thông ‘lôi kéo’ (‘pull’ medium), bởi lẽ người lướt web tự quyết định loại thông tin mà họ muốn

có, đơn giản chỉ bàng một cú click ‘chuột’ Và, khá đơn giản để có thể đẩy một thông tin lên mạng, nên sự chia sẻ thông tin giữa những người lướt web là không có giới hạn,

và bởi vậy, sự lựa chọn của công chúng online là rất phong phú Nói cách khác, trong khi truyền hình và phát thanh là những phương tiện ‘thụ động’, Internet là phương tiện

Trang 25

thời gian đọc báo trực tuyến để khai thác thông tin và giải trí, và vì vậy thời gian dành cho truyền hình, cũng như dành cho các PTTTDC khác sẽ ít dần đi.

Rất nhiều nghiên cứu, như Huston (1999), Neuman (1991) Cuilenburg (trích theo Bardoel 1996, tr.286) đã chỉ ra ràng, mỗi người chỉ có 24h/ngày cho tất cả các hoạt động của mình Trong khi các phương tiện TTDC không ngừng phát triển, thì thời gian của mỗi người không đổi, và bởi vậy, khi một phương tiện mới xuất hiện, các phương tiện truyền thông cũ đều bị thu hẹp thị trường

Mối quan hệ giữa các PTTDC thu hút khá nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, tuy nhiên, ý kiến của họ không giống nhau Trong khi một số nhà nghiên cứu cho rằng,

sự xuất hiện của một phưong tiện truyền thông mới không làm thay đối cơ bản diện mạo truyền thông (trích theo Coffey và Stipp 1997, tr.61), thì nhiều nhà nghiên cứu khác lại khẳng định cuộc cách mạng trong cách tiếp cận thông tin của công chúng sẽ dần dần dẫn đến sự diệt vong của các loại truyền thông đại chúng cũ (trích theo Coffey and Stipp 1997, tr.61; Stephens 1998)

Ý kiến trái ngược nhau giữa các nhà nghiên cứu truyền thông bắt nguồn từ thực tế: các phương tiện truyền thông đại chúng cạnh tranh quyết liệt, nhưng không triệt tiêu nhau Không giống như những hàng hóa thông thường khác, mặc dù các PTTTDC đều có cùng chức năng thông tin và giải trí (bởi vậy chủng cạnh tranh quyết liệt để thu hút sự chú ý của công chủng đối với mình), các PTTTDC vẫn tồn tại và song song phát triển trong bối cảnh cạnh tranh thông tin gay gắt của thời đại kỹ thuật số

Xét về khía cạnh kinh tế, cạnh tranh xuất hiện khi một sản phẩm mới ra đời có những đặc tính giống với một sản phẩm đang có sẵn trên thị trường, với giá cả tương đương (Hollifield 2006, tr.3) Trong truyền thông đại chúng, sự cạnh tranh được định nghĩa là

sự ganh đua giữa các cơ quan truyền thông đại chúng trong việc chiếm lĩnh các nguồn tài nguyên ở thị trường hiện tại (Dimmick 2003, 2005) Dimmick (2003, tr.41) cho ràng bản chất của sự cạnh tranh giữa các PTTDC được đo bằng sự chồng lấn giữa các phương tiện trong những ‘chiều’ (dimension) cụ thể Lý thuyết về ‘niche dimension’ đã giải thích sự song song cùng tồn tại của các PTTDC thông qua khái niệm về sự khác biệt trong giới tự nhiên (Dimm ick 2003, tr.61) - với điểm xuất phát từ học thuvết của Darwin - thuyết đa dạng (Dimm ick 2003)

Trang 26

Lý thuyết về sự 'phù hợp' của Dimmick ngụ ý ràng, để cùng tồn tại các đổi thủ cạnh tranh phải thể hiện sự khác biệt của mình Trong truyền thông đại chúng, ít nhất có 6 dạng ‘tài nguyên’ là đối tượng đe cạnh tranh, 1) sự thỏa mãn của công chúng, xét cả vê cách công chúng sử dụng nội dung truyền thông và khả năng tiếp cận thông tin của công chúng thời gian và thời điểm họ cần; 2) nội dung thông tin; 3) chi phí mà công chúng cần để thu nhận thông tin; 4) thời gian mà công chúng cần để tiếp nhận thông tin; 5) nguồn thu nhập từ quảng cáo (Dimmick 2005, tr.351) và 6) lực lượng nhân lực được đào tạo bài bản chuyên nghiệp (Holliíĩeld 2006, tr.60-69).

Tuy nhiên, Dimmick (2003, tr 125) chỉ đề cập đến một phần nhỏ trong mối quan hệ phức tạp giữa các PTTTDC: thu nhập từ quảng cáo và sự thỏa mãn của công chúng đối với phương tiện truyền thông Hơn thế, tuy Dimmick (2003, tr.123) khẳng định là

‘‘trong các cơ quan truyền thông, sự cạnh tranh đến mức triệt tiêu nhau là ít xảy ra, trong khi sự khác biệt phù hợp lại khá phổ biến”, sự khác biệt phù hợp (niche differentiation) do sự khác biệt về đặc điểm loại hình và khả năng tự điều chỉnh của các loại hình truyền thống khi một phương tiện mới xuất hiện, đã không được nghiên cứu

Nói tóm lại, chưa có công trình nào nghiên cứu về sự cạnh tranh giữa các phương tiện TTDC đi sâu tìm hiểu mối quan hệ cạnh tranh và hỗ trợ lẫn nhau giữa các PTTTDC - trong đó, loại hình truyền thông này tận dụng điểm mạnh của loại hình truyền thông khác để nâng cao vị trí và tầm ảnh hưởng của mình trong xã hội: nguyên tắc cơ bản tạo cho các PTTDC sự cùng tồn tại và phát triển Trong phần sau, tôi sẽ đề cập đến mối quan hệ phức tạp này trong các PTTTDC

2.2 Mối quan hệ họp tác và tương tác giữa các PTTTDC

2 2 1 B ứ c t r a n h c ủ a s ự c ù n g t ồ n t ạ i v à p h á t t r i ể n

Radio đã từng được tiên đoán là dấu chấm hết cho báo in, truyền hình đã từng được phán đoán là sự kết thúc của phát thanh, cũng như đã có ý kiến cho rằng, Internet sẽ đặt dấu chấm hết cho cả báo in, phát thanh và truyền hình (Priestman 2002) Nhưng rõ ràng

là nhũng điều dự đoán trên đều không trở thành hiện thực Trong thời đại của Internet, báo in và phát thanh vẫn có những bước phát triển đáng chú ý (Farhi 2005; Howard

2001, tr.viii)

14

Trang 27

Mạng lưới phát thanh toàn cầu vẫn dày đặc với gần 9,000 đài phát sóng ở châu Âu, khoảng 11,000 đài ở Mỹ, và hàng ngàn đài phát thanh ở Mỹ Latinh, và những con số tiếp tục phát triển ở châu Á, châu Phi, châu ú c - tính tổng cộng, ước chừng có ít nhất40,000 đài (Hendy 2000, CIA Fact Book 2006) sổ liệu về các đài phát thanh, nhiều hơn nhiều so với các đài truyền hình Và bởi vậy, thính giả sẽ có nhiều cơ hội và sự lựa chọn đê nghe các chương trình phát thanh.

Hơn thế, công chúng vẫn coi phát thanh là phương tiện hữu hiệu để thu nhận thông tin

và giải trí (đặc biệt là âm nhạc) (Ofcom 2007, tr.25; McNair 2003, tr 12) Trung bình, ở Anh và Mỹ, thính giả nghe phát thanh khoảng 22h một tuần, ít hơn chút ít so với thời gian họ dành cho truyền hình, 23-24h (RAJAR 1999; Douglas 1999) s ố liệu này tương

tự ờ châu Âu, khi phần lớn thính giả dành 17,5h đến 28 giờ mỗi tuần đế nghe phát thanh (Hendy 2000, tr 124)

Bên cạnh đó, báo in, loại hình thông tin cổ điển nhất vẫn được coi là nguồn tin đáng tin cậy và dễ lưu giữ Ngày nay báo in vẫn không ngừng phát triển, đổi mới và mở rộng hơn các cách thức tiếp cận công chúng (Farhi 2005) Hơn 439 triệu độc giả vẫn mua báo hàng ngày (WAN 2006) Hon nữa, khái niệm ‘báo in’ có nội hàm rất rộng, từ tạp chí hàng tuần có đối tượng độc giả rất chuyên biệt, nhỏ hẹp, đến những tờ báo ngày có tiara hàng triệu bản Bởi vậy, nểu ở đâu đó các tờ báo toàn quốc có sự sút giảm trong số lượng phát hành thì các tạp chí khổ nhỏ và báo địa phương, loại ấn phẩm chuyên phục

vụ nhóm độc giả chuyên biệt, có nhu cầu riêng, có tính địa phương, hay những tờ báo không thu tiền vẫn tiếp tục phát triển và lan rộng Với công nghệ in ấn hiện đại, nhanh chóng và không quá đắt đỏ, hầu như cơ quan, tổ chức chính trị-xã hội-khoa học-tôn giáo hay một cộng đồng nhỏ nào đó cũng có thể xuất bản cho mình một ấn phẩm riêng

Ở Anh, nếu năm 1975 chỉ có 185 tờ báo phát không với 1,140 tờ báo thường, thì 11 năm sau, cán cân giữa báo ‘phát không’ và ‘báo bán’ là 842 và 867 (McNair 2003, tr.209) Theo WAN (2006), nếu tính cả các tờ báo phát không, số lượng tiara của báo in toàn cầu năm 2006 tăng 1.21% so với năm trước, và tăng 7.8% so với 5 năm trước Điều này thể hiện rõ ràng là, bất chấp sự sút giảm về mặt số lượng phát hành của các tờ báo toàn quốc, ngành công nghiệp báo in vần có những bước phát triển khỏe khoắn

Nói cách khác, các phương tiện truyền thông mới không thay thế các phương tiện truyền thông cũ, mà trái lại, tồn tại song song với các PTTTDC truyền thống, làm cho môi trường thông tin của con người đang ngày càng trở nên đa dạng, phức tạp hơn bời

Trang 28

sự tổng hợp của cả chữ viết, âm thanh, hình ảnh tĩnh và dộng với nhiều phương thức truyền thông như in ấn, phát sóng, và mạng internet (Lievrouw và Livingstone 2006, tr.l).

Bởi vậy, vấn đề đặt ra là: tại sao và làm thế nào mà các PTTTDC không thay thế lẫn nhau, mà cùng tồn tại và phát triển? Trong phần sau, tôi sẽ nghiên cứu 3 khía cạnh đã tác động đến sự cùng tồn tại và phát triển trong thế cạnh tranh của các phương tiện truyền thông đại chủng: tính chất riêng của từng loại truyền thông

2 2 2 Đ ặ c t r ư n g k h ô n g t h ể t h a y t h ế c ủ a m ỗ i l o ạ i h ì n h t r u y ề n t h ô n g

Mỗi loại hình truyền thông lại có những đặc trưng riêng biệt, có thị trường và chức năng đặc thù, mà các kênh truyền thông khác không thể thay thế được Trong hệ thống các phương tiện TTDC, phát thanh được biết đến như phương tiện ‘mềm dẻo’ nhất, chi phí ít tốn kém nhất và có mặt ở mọi nơi, mọi lúc (Pease và Dennis 1993, tr.xiii; Mosco

2005, tr 127; Potter 2002) Radio còn được coi là phương tiện thông tin nhanh nhất, điều mà báo in và truyền hình khó có thể cạnh tranh (Crisell 2002, tr 13; Masterton và Patching 1986)

v ề phần báo in, loại hình lâu đời nhất trong hệ thống các P T T T D C này vẫn có ưu thế là

dễ dàng mang theo người, có thể được tiêu dùng bất cứ lúc nào độc giả cần, theo bất cứ trinh tự nào mà họ muốn (Quinn và Filak 2005, tr.26) Bên cạnh đó, bởi thông điệp của báo in được truyền tải dưới dạng văn bản, với chữ viết, số liệu, hình ảnh, biểu đồ, etc, báo in có thể truyền tải những thông tin phức tạp và những phân tích có chiều sâu, trong khi cả phát thanh và truyền hình đều là dạng thông tin tuyến tính và thoảng qua Đối với báo in, độc giả có thể đọc bất cứ lúc nào, ở đâu, và theo trình tự nào mà họ muốn (RAB 2007) Những đặc điểm này cho phép độc giả có cảm giác họ đang ‘chủ động tiếp nhận thông tin ’ - cái cảm giác mà phát thanh không mang lại được cho công chúng

Không chỉ có những đặc trưng riêng biệt, mỗi loại hình truyền thông còn có thể hiện khả năng liên tục tự điều chỉnh mình đế thích n^hi với sự thay đổi của xã hội, và môi trường truyền thông mới khi một phương tiện TTDC mới ra đời Sau khi radio xuất hiện, và chiếm lĩnh vị trí độc tôn của báo in, báo in đã liên kết với chính quyền và các hãng thông tấn dưa ra nhiều hình thức cấm vận thông tin cho phát thanh, như chúng tôi

đã đề cập ở phần trên Mặc dù báo in đã có nhiều biện pháp ngăn chặn sự truyền tin của

Trang 29

radio, nhưng không một tác động ngoại lai nào, ngay cả tác động từ phía chính quyền,

có the thay đổi được thực tế: phát thanh là phương tiện truyền thông nhanh nhất và dần dần thống trị dịch vụ đưa tin nóng

Năm 1938, những biện pháp cấm vận thông tin cho phát thanh đã được dỡ bỏ, nhưng điều đáng nói là, cho dù phát thanh thắng thế trên mặt trận đưa tin nóng, báo in không

vì thế bị triệt tiêu Báo in đã tự chuyển đổi, từ phương tiện đưa tin nhanh, dang lĩnh vực mà radio khó có thể cạnh tranh: phân tích và bình luận chuyên sâu Hiện tại, báo in lại đang tiếp tục đổi mới với sự phát triển của báo khổ nhỏ, tạp chí, báo địa phương, tạp chí phục vụ cho 1 nhu cầu riêng và báo phát không (Toffler 1980)

Nói về phát thanh, lịch sử của phát thanh minh chứng khả năng vượt trội của phát thanh trong việc tự điều chỉnh và tự làm mới mình Khi truyền hình xuất hiện, và chiếm lấy vị trí của phát thanh trong hệ thống truyền thông, cũng như trong các gia đình, đã có nhiều

ý kiến cho rằng thời đại của phát thanh đã chấm dứt (Hendy 2000) Thế nhưng, radio đã chuyển mình, trở thành phương tiện thông tin thân mật nhất, song hành với con người bất cứ nơi đâu, bất cứ thời điểm nào, và ở bên thính giả trong khi họ đang làm việc khác Không chỉ biến đối trong cách thức thính giả nghe radio, mà cách thiết kế chương trình phát thanh, cả về nội dung và format cũng đã có nhiều chuyển biến Trong thời đại Internet, radio đã một lần nữa chuyển mình, với nhiều biến thể khác nhau, sẽ được phân tích kỹ ở chương sau

2 2 3 N g u y ê n t ắ c t ậ n d ụ n g t h ế m ạ n h c ủ a c á c p h ư ơ n g t i ệ n t r u y ề n t h ô n g k h á c đ ể c ủ n g c ố

v ị t r í c ủ a m ì n h

Cùng với khả năng tự điều chinh và biến đổi, các PTTTDC còn thể hiện khả năng ưu việt trong việc tận dụng thế mạnh của các PTTTDC khác, để nâng cao vị thế và mở rộng tầm ảnh hưởng của mình Đúng như McLuhan (1987, tr.26) đã khẳng định:

đó là vấn đề thuộc về bản chất của các PTTTDC, và cũng là

sự cần thiết khi nghiên cứu các phương tiện truyền thông: không phương tiện nào có ý nghĩa hoặc tồn tại độc lập, mà luôn trong

sự tương tác với các phương tiện truyền thông k h ác

Sự tương tác và hỗ trợ lẫn nhau giữa các PTTTDC được the hiện qua nhiều khía cạnh,trong đó có sự tận dụng nguồn tin của nhau, tận dụng thế mạnh thông tin của kênh

Trang 30

TTDC khác để quảng cáo nội dung, tiếp thị sản phẩm thông tin của mình, tăng cường ngân sách, hội tụ về chủ sở hữu, hội tụ về nội dung thông tin, hay truyền tải một nội dung thông tin trên nhiều kênh truyền khác nhau (Multiplatform delivery).

Thông tin là yếu tố quan trọng nhất đối với các phương tiện TTDC Các PTTDC cạnh tranh với nhau cũng chỉ vì muốn cung cấp thông tin nhanh nhất và hiệu quả nhất đến với công chúng Thế nhưng, mỗi loại hình lại có những điểm mạnh và điểm yếu riêng, không thể thay thế lẫn cho nhau Và bởi vậy, bên cạnh sự cạnh tranh, các PTTDC còn

bố trợ cho nhau, để phục vụ công chúng được tốt nhất Lí luận báo chí đã chỉ ra rằng khi một sự kiện xảy ra, phát thanh báo tin, truyền hình đưa tin và báo in bình luận về

nó Bởi vậy, thông tin trên phát thanh hay truyền hình ngày hôm trước là nguồn tin hữu ích cho báo in ngày hôm sau khai thác sâu hơn Ngày nay, Internet đang trở nên nguồn thông tin hữu hiệu đối với công chúng cũng như các loại hình báo chí khác (Dueze 1999)

Không chỉ tận dụng thông tin của nhau, các PTTDC còn thừa kể thể loại của nhau Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra ràng, hinh thức thể hiện thông tin của phương tiện truyền thông mới xuất hiện là sự học hỏi theo nội dung và hình thức thể hiện thông tin của các PTTDC trước đó (Pavlik 1998, tr.73; Chan-Olmstead and Park 2000; Lehman-

W ilzig and Cohen-Avigdor 2004, tr.714; Cain 1992, tr.78-80; Perebinossoff 2005, tr.5) Theo Pavlik (1998, tr.73), các chương trình truyền hỉnh đầu tiên đều dựa trên các chương trình ăn khách của phát thanh lúc đó, bao gồm cả kịch truyền thanh, hài kịch và kịch truyền thanh dài kỳ Nhiều chương trình trò chơi trên sóng phát thanh, được chuyển sang truyền hình, như show ‘Đêm thứ bẩy dưới ánh đèn’ ( ‘Saturday Night on the Light’) (Cain 1992, tr.80) Show hài nổi tiểng ‘Nửa giờ của Hancock và Whack-O!, xuất hiện trên radio vào năm 1954, được chuyển sang truyền hỉnh vào năm 1956, và làm rạng danh tên tuổi của Tony Hancock và Jimmy Edwards Tương tự như vậy, ở

Mỹ, nhiều show truyền hình nổi tiếng được sao chép từ các chương trinh phát thanh đang ăn khách (Perebinossoff 2005, tr.5)

Ngoài việc tận dụng thông tin của nhau, các PTTDC còn quảng cáo sản phẩm thông tin của nhau (cross- promotion or cross-fertilising, Kawamoto 2003, tr.l) Việc ‘hỗ trợ quảng bá sản phấm thông tin’ này thể hiện ở mục ‘điểm báo ngày m ai’ trên sóng phát thanh hay truyền hình, và độc giả cũng thường xuyên được đọc các bài binh luận về các chương trình truyền hình và diễn viên, MC truyền hình trên báo hay tạp chí

Trang 31

Việc ‘hỗ trợ quảng bá sản phẩm thông tin’ này còn được thể hiện ở việc các đài phát thanh, truyền hinh luôn tự xuất bản ấn phẩm báo chí của mình, để tuyên truyền, quảng

bá cho các chương trinh phát sóng và chính bản thân đài Ngay từ những năm tháng vừa thành lập, đài BBC đã cho ra mắt tạp chí ‘Thời báo phát thanh’ (1923) và sau đó là tạp chí ‘Thính giả’ (1929) để củng cố mối quan hệ giữa phát thanh với người nghe Hiện tượng các đài PT-TH cho xuất bản báo, tạp chí để củng cố mối quan hệ với công chúng rất phổ biến trong làng báo quốc tế

Với khuynh hướng phát triển thành các tập đoàn báo chí, sở hữu nhiều loại hình truyền thông trong một tố chức, ‘hỗ trợ quảng bá thông tin ’ (Cross-promotion) đồng thời còn thê hiện ở chỗ các kênh truyền thông thường xuyên hướng công chúng của mình tìm hiểu thông tin ở các kênh truyền thông khác

Hiện nay, truyền thông đại chúng truyền thống đang tận dụng Internet một cách sáng tạo và triệt để để hỗ trợ cho sự phát triển của mình Độc giả, thính giả và khán giả của

m ột tờ báo, đài PT hay TH thường được nhắc nhở ghé thăm website của chính các cơ quan TTDC đó để có thêm thông tin, hoặc gửi lại phản hồi Hầu như cơ quan báo chí truyền thống nào cũng tạo dựng website với chi tiết thông tin về các chương trình phát thanh, truyền hình hay giới thiệu những chương trình sắp lên sóng

Sự hội tụ về sở hữu báo chí hiện nay cũng là một xu thế đáng quan tâm (Kawamoto 2003) Việc các đài phát thanh truyền hình xuất bản báo và tạp chí để củng cố mối quan

hệ với công chúng, thực tế, đã làm gia tăng việc một cơ quan báo chí sở hữu nhiều loại hình truyền thông, và cơ quan báo chí đó phải tìm cách hợp lí để duy trì sự tồn tại của các loại hình báo chí mà họ sở hữu, và tìm cách giúp cho chúng hỗ trợ lẫn nhau Một nhà chuyên môn đã nhận xét ‘Sở hữu nhiều loại hình như truyền hình, phát thanh, và báo in ở một thị trường sẽ giảm chi phí giá thành và tăng tính hiệu quả đồng thời, cung cấp chất lượng thông tin cao trong sự o ép về chi p h í ’ (Quinn và Filak 2005, tr.4)

Bên cạnh đó, nhiều đài truyền hình còn đồng thời sờ hữu đài phát thanh Ở Anh, mối quan hệ giữa truyền hình và phát thanh không chỉ được thể hiện ở chỗ, phát thanh công cộng (đài BBC) hoạt động được là nhờ nguồn thu từ phí xem truyền hình, mà còn ớ chỗ, rất nhiều đài truyền hình nối tiếng như Channel 4 đã xin giấy phép để thành lập đài phát thanh Ở Mỹ, CBS, vốn được coi là một mạng lưới truyền hỉnh, trên thực tế, sở hữu 5 đài truyền hình và 13 đài phát thanh

Trang 32

Một khía cạnh quan trọng khác trong mối tương quan hồ trợ cùng phát triển giữa các loại hình truyền thông là việc phát thanh hiện đang ‘gửi' chương trình của mình trên rất nhiều ‘platform ’, từ máy vô tuyến truyền hình số đến máy vi tính Báo cáo mới nhất của Ofcom (2007, tr.33) đã cho biết, hơn 60% người trưởng thành ở Anh (từ 15 tuổi trở lên) đã nghe phát thanh qua tivi hay Internet Việc phát thanh được nghe ở nhiều định dạng khác nhau đã giúp ngành công nghiệp này duy trì phần thị trường của mình, đặc biệt trong bối cảnh nghe phát thanh truyền thống đang có xu hướng giảm rõ rệt trong thời đại Internet (Ofcom 2007, tr.34).

Nói tóm lại, bất cứ lúc nào có thể, các phương tiện truyền thông, từ báo in, phát thanh đến truyền hình đều tranh thủ tận dụng lẫn nhau để củng cố vị trí và thị trường công chúng của mình Tuy nhiên cách ‘tận dụng’ này mới chỉ dừng lại ở mức độ chia sẻ thông tin và hội tụ về quyền sở hữu Khi Internet xuất hiện, tính chất đặc biệt của kênh truyền thông này không chỉ cho phép các phương tiện truyền thông thực hiện các chiêu

‘tận dụng hỗ trợ ’ truyền thống, mà còn cho phép chúng xuất hiện trên Internet với diện mạo mới mẻ Internet vừa là ‘chốn neo đậu’ của tất cả các loại hình truyền thông truyền thông, đồng thời lại tạo ra một loại hình truyền thông khác - loại hình truyền thông thử

tư, sau báo in, phát thanh và truyền hình, nói như Adams và Clack (2000, tr.29) thì Internet vừa là loại hình truyền thông thứ tư, vừa là loại hình truyền thông ‘tổng h ọ p ’ hội tụ Và cũng mới tính chất đặc biệt này của Internet mà mối quan hệ giữa các phương tiện truyền thông đại chúng trở nên phức tạp hơn bao giờ hết

Với tư cách là loại hình truyền thông thứ tư, Internet là đối thủ đối với 3 loại hình truyền thông còn lại Nhưng Internet đồng thời là kênh thông tin ‘hội tụ’, là ‘platform’

để các loại hình truyền thông truyền thống tận dụng để phát tán nội dung thông tin của mình Quan trọng hơn, lần đầu tiên, tất cả các PTTDC cạnh tranh và tương tác với nhau trên cùng một môi trường - Internet Sự giao thoa giữa Internet với các loại truyền thông truyền thống đã hình thành ncn một số dạng báo chí mới mẻ như web radio và internet television, thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu truyền thông trong hơn thập kỷ qua

Nói tóm lại, các loại hình truyền thông luôn cạnh tranh, đồng thời hỗ trợ lẫn cho nhau

để cùng phát trien Trong triết lí cạnh tranh và cùng sinh tồn này, phát thanh Việt Nam

có thể học hỏi kinh nghiệm của phát thanh trên thế giới để tìm lại vị thế của mình trong

Trang 33

bối cảnh cạnh tranh truyền thông, sau khi Việt Nam áp dụng chính sách kinh tế thị trường.

Trong chương sau, chúng tôi sẽ cố gắng phác thảo sự vận động và phát triến của phát thanh ờ các nước phát triển trên thế giới như Anh và Mỹ, để tìm hiểu sâu hơn sự chuyển đổi của phát thanh trong môi trường cạnh tranh quyết liệt với các PTTTDC khác Sức sống mãnh liệt của phát thanh Anh và Mỹ trong suốt gần một thế kỳ qua sẽ là bài học kinh nghiệm hữu hiệu đối với phát thanh Việt Nam, nhất là khi Việt Nam bắt đầu chính sách mở cửa, và phát thanh phải đối diện với sự cạnh tranh từ các PTTDC có hình ảnh, như truyền hình và Internet

Trang 34

Chương Hai:

PHÁT THANH ANH VÀ MỸ KẺ TỪ KHI RA ĐỜI

N hư đã trình bày ở phần Mở đầu, mục đích chính của đề tài là tìm hiểu kinh nghiệm của phát thanh Anh và Mỹ trong cuộc cạnh tranh với các PTTDC khác để vận dụng vào thực tiễn phát thanh Việt Nam Do đó, nghiên cứu sự vận động và phát triển của phát thanh Anh và Mỹ, kể từ khi hình thành, với những biến đổi không ngừng để thích ứng

và khăng định vị trí của mình trong cuộc cạnh tranh thông tin và thu hút thính giả là việc làm cần thiết và trước hết Trong chương này, sự phát triển và biến đổi khôngngừng của ngành phát thanh ở Anh và Mỹ được nghiên cứu theo 4 nội dung chính: Sựthay đổi trong công nghệ phát thanh và sự vận dụng khoa học kỹ thuật cho phát thanh,

sự thay đổi trong cách thức thính giả nghe phát thanh, sự thay đổi trong chương trình phát thanh đế đáp ứng nhu cầu mới của công chúng hiện đại, và cuối cùng là diện mạo của phát thanh hiện đại ở các nước phát triển

2.1 Sự phát triển của công nghệ phát thanh

Trong phần này, những thay đổi mang tính bước ngoặt của công nghệ phát thanh được

đề cập và hệ thống hóa, tuy nhiên, không phải dưới góc độ nghiên cứu về khoa học công nghệ, mà dưới góc độ tiếp cận xã hội Có nghĩa là, chương này sẽ đi sâu phân tích, nghiên cứu tác động ảnh hưởng của khoa học công nghệ tới sự phát triển của phát thanh, chứ không nhằm mục đích nghiên cứu sự phát triển của chính công nghệ đó

Trang 35

‘việc làm của C húa’, và phát thanh là công cụ của Chúa Trời Sự kiện này đã đánh dấu

sự ra đời chính thức của phát thanh Anh

Một điều thú vị là, cha đè của phát thanh được gắn cho khá nhiều người, bao gồm, Marconi, De Forest, hay Popov ((Briggs 1981; Agree 1996; Crisel] 2002; Street 2002; Spencer 2005; Busby 1998), nhưng cho dù họ là ai, họ đều có một điểm chung, đó là họ đều là các nhà vật lí Thêm vào đó, sự phát triển của phát thanh là cả một quá trình lâu dài (từ cuối năm 1890 đến 1914), với sự đóng góp của nhiều nhà khoa học ở các quốc gia khác nhau Những tên tuổi được nhắc tới trong lịch sử hình thành phát thanh như J Clerk-Maxwell, A G Bell, M Faraday, N Telsa, T A Watson, C Ader, o Lodge, H Hertz, R A Fessenden and J A Fleming đều là các nhà khoa học tự nhiên và các kỹ sư (Sterling et al 2002, tr.27; Thumm 2006; Hill 1996, tr.9-10, Street 2002, tr 13 ; Briggs

1961, tr.26; Kryzhanosvky et al; Corazza 1998, tr 1307; Bittner 1996, tr 160; Lochte, tr.27)

Nói cách khác, phát thanh ra đời nhờ mối lương duyên giữa nghệ thuật và công nghệ, trong đó khoa học kỹ thuật đóng vai trò quan trọng Sự phát triển của phát thanh trong gần một thế kỷ qua minh chứng mối quan hệ khăng khít này Phát thanh vẫn, đã và đang tiếp tục tận dụng sự phát triển của khoa học công nghệ để tồn tại và phát triển, như MacGregor (1997, tr 174) đã từng nhận xét:

- CÓ lẽ, ngoại trừ ngành quân sự, không có ngành công nghiệp nào lại phụ thuộc vào khoa học kỹ thuật nhiều như ngành phát thanh - truyền hình.

Với ý nghĩa đó, việc khai thác khoa học công nghệ để nâng cao chất lượng phát thanh hay tạo cho phát thanh một sức sống mới, đom cử như phát thanh kỹ thuật số hay phát thanh qua mạng, đã một lần nữa minh chứng cho mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa phát thanh và khoa học công nghệ

Sụ thay đổi về mặt khoa học kỹ thuật, bao gồm cả kỹ thuật truyền dẫn, kỹ thuật ghi âm,

và sự đổi mới của các máy thu thanh, không chỉ nâng cao chất lượng của ngành phát thanh, mà quan trọng hơn là tạo cho phát thanh cơ hội để tự đổi mới mình, củng cố và phát triến thêm lượng thính giả cho phát thanh, đế phát thanh có thể trụ vững trong cuộc cạnh tranh gay gắt với các PTTTDC khác

Trang 36

Kỹ thuật phát sóng AM thống trị ngành công nghiệp phát thanh trong suốt 2/3 thể ký

20, và tiếp tục được duy trì trong thế kỷ 21 AM (Amplide Modulation) là kỹ thuật điều biên được áp dụng trong phát thanh sóng dài, sóng trung và sóng ngắn, còn FM (Frequency Modulation) là kỹ thuật điều tần được áp dụng trong phát thanh sóng cực ngăn

Kỹ thuật phát sóng AM đom giản hơn so với kỹ thuật FM hay DAB, và trong phần lớn các trường hợp, có sức mạnh hơn và có thế đưa cánh sóng vươn xa hơn so với các đài phát sóng FM (Agee et al 1994, tr.2 18) Đài phát thanh AM có công suất lớn hơn, có độ phủ sóng rộng hơn so với đài FM, nhưng phát thanh FM tiến bộ hon phát thanh AM ở 2 điểm: Thứ nhất là đài FM phát sóng thẳng nên hầu như không bị ảnh hưởng bởi nhiễu nên chất lượng âm thanh tốt hơn rất nhiều so với đài AM, và đặc biệt lợi thế trong các chương trình phát sóng âm nhạc Thứ hai là chi phí đầu tư và khai thác đài FM thấp hơn nhiều so với đài AM

Tuy nhiên, sóng AM có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố vật the, như các tòa nhà cao tầng hay các loại nhiễu sóng khác (Priestman 2002, tr.67; Lax 1997, tr.29) Bên cạnh

đó, biên độ của sóng phát thanh AM không phù họp với những dịch vụ âm thanh chất lượng cao (Inglis 1990, tr.60) Nhiều quốc gia yêu cầu sóng phát thanh AM giảm cường

độ, hoặc cắt sóng khi mặt trời lặn, để tránh xung đột sóng với một sổ đài khác cần chuyển tải sóng đi xa vào ban đêm (Agee 1994, tr.218)

Kỹ thuật phát sóng FM được Edwin H Amstrong phát minh vào đầu những năm 1930 (Hill 1996, tr 166; Inglis 1990, tr 121, Sterling và Kittross 2002, tr.116 và 157) Tuy nhiên, vào buổi ban đầu khi kỹ thuật FM được thử nghiệm, ngành công nghiệp phát thanh coi đó là một phát kiến nhỏ nhoi Chỉ một số ít máy thu thanh được gan thêm thiết bị nghe sóng FM, và các đài phát thanh thử nghiệm phát sóng FM chỉ xuất hiện vào những năm cuối của thập kỷ 30 của thế kỷ trước, và chỉ được cấp phép chính thức phát sóng vào tháng Một năm 1941 (Sterling 1984, tr.3) Theo Sterling (đã dẫn), các đài phát sóng AM phát kèm sóng FM như một dạng dịch vụ đi kèm, với rất ít lợi ích đem lại Các đài này thường phát lại chương trình đã phát trên sóng AM lên sóng FM hay phát đồng thời 1 lúc trên 2 sóng với mục đích tiết kiệm nhất chi phí cho việc lên sóng

2.1.2 Sự thay đối trong kỹ thuật truyền phát: Cuộc cách mạng của sóng FM

Trang 37

FM Mối quan hệ giữa AM và FM không được cải thiện cho đến khi Đại chiến thế giới lần thứ II kết thúc (Agee 1994).

Cho dù sóng FM chỉ nghe được trong phạm vi hẹp, sóng FM gần như không bị nhiễu

và có thể chuyển tải âm nhạc với chất lượng âm thanh nổi Chi phí đầu tư cho đài FM không cao, và do đó, đài FM rất hiệu quả về mặt kinh tế, xét từ góc độ nhà quảng cáo

và nhà đài (Agee 1994, tr.2 18) Hơn nữa, đài FM có thể chuyên biệt hóa nội dung để phục vụ đối tượng thính giả mục tiêu trong bối cảnh công chúng đang phân hóa thành nhũng nhóm công chúng nhỏ, có yêu cầu riêng Hiện tượng này được gọi là ‘phi đại chúng’ (naưowcasting) (Priestman 2002; Agee 1994, tr.218), và ngày nay được sử dụng rộng rãi để nhấn mạnh sự phân hóa trong thính giả phát thanh Bởi sóng AM vươn

xa hơn, có công chúng đông đảo hơn, đài phát sóng AM không thể chuyên biệt hóa đối tượng như đài FM có thể làm Hơn nữa, sự phát triển của đài phát sóng FM stereo đã mang lại cho đài FM khă năng phát sóng âm nhạc không thua kém gì chất lượng băng thu nhạc Và điều này đã lôi cuốn mạnh mẽ giới trẻ

Khoảng giữa những năm 70 và 80 của thế kỷ 20, đài phát thanh FM đã chiếm 38% thính giả nghe đài Đài FM có sức lôi cuốn đặc biệt đối với các thính giả trẻ, bởi vậy, không ngừng được phát triển, đặc biệt sau khi ử y ban Truyền thông Liên bang Mỹ quyết định tiến hành kế hoạch cấp phép cho 1000 hoặc nhiều hơn các đài FM mới vào năm 1984

Hiện nay đài FM đang có vị trí áp đảo so với đài AM vốn trước đây là người anh lớn của mình Theo số liệu tháng 5 năm 1993, trong sổ 11.397 đài phát thanh ở Mỹ hiện nay có 4.956 đài AM và 6.43 ỉ đài FM Đài FM không chỉ có số lượng nhiều hơn so với đài AM mà còn thu hút % thính giả thường xuyên nghe đài của Mỹ

Dần dần, các máy thu thanh ở gia đình và trên ôtô đều được lắp thiết bị để nghe được đài AM và FM Nhiều đài phát thanh FM dần dần cũng có số lượng quảng cáo và giải trí chẳng thua kém gì đài AM Ở Mỹ, từ giữa thập kỷ 70 đến giữa thập kỷ 80 của thế kỷ trước, thính giả của các đài phát thanh FM tăng 38% (Inglis 1990, tr 143) Hiện nay, trên 2/3 số lượng các đài phát thanh trên thế giới là đài FM (29,000 đài FM trong tổng

số gần 46,000 đài phát thanh trên toàn thế giới)

Trang 38

trong kỹ thuật ghi âm với cùng một mục đích - đem lại âm thanh trung thực, hấp dẫn cũng là một yếu tố quan trọng đối với phương tiện truyền thông chi có duy nhất âm thanh này Và bởi vậy, những bước tiến trong công nghiệp thu âm sẽ được đề cập trong phần tiếp theo của đề tài.

2 1 3 N h ữ n g b ư ớ c t i ế n t r o n g c ô n g n g h i ệ p t h u â m

Bởi phát thanh chỉ có duy nhất âm thanh để thu hút sự chú ý của công chúng, các đài phát thanh cần chuyển tải âm thanh trong sáng, rõ ràng, không có tạp âm đến thính giả, đến những ai đang ở nhà, cũng như những ai di chuyển trên các phương tiện giao thông như ô tô hay xe buýt Trong quá trình hoàn thiện dich vụ của mình, phát thanh rất chú trọng đến kỹ thuật thu âm và phát sóng Tuy nhiên, trong tiểu mục này, tôi không có ý định phân tích kỹ lưỡng sự phát triển kỹ thuật ghi âm - từ máy ghi chấn động âm (phonoautograph) đến thiết bị ghi âm đầu tiên, đến máy quay đĩa (phonograph) và cuối cùng là đĩa CD hay minidisk (Steme 2003; Dellaira 1995; Martin 2001; Fish 2001) -

mà chúng tôi muốn nhấn mạnh đến những giá trị về mặt truyền thông mà kỹ thuật ghi

âm đem lại

Đĩa từ xuất phát từ ý tường của V Poulsen vào năm 1898 (Spiceland 2004; Street 2002b, 2006, tr.l 17) Trong suốt một vài thế kỷ sau đó, mặc dù rất nhiều nghiên cứu được tiến hành, nhưng không thành công, cho đến những năm đầu 1930, một số dạng băng từ đã xuất hiện Việc áp dụng kỹ thuật ghi âm để sản xuất chương trình phát thanh được tiến hành chậm chạp Cho đến năm 1927, ý tưởng để sản xuất chương trình ‘đóng gói sẵn’ mới được đề cập đến ở BBC (Street 2006, tr.l 17) Lí do cho sự chậm trễ này là

vì, các chương trình phát thẳng được ưa chuộng hơn, bời phát thanh trực tiếp ‘ngầm báo với thính giả rằng’ đây là những gì ‘đang xảy ra’ Bên cạnh đó, đối với người nghệ

sĩ, nếu họ biết rằng họ đang thực hiện một chương trình thu âm, có thể làm lại được, họ

sẽ không chú tâm và thể hiện hết sức mình, vì họ biết, chương trình có thể làm lại được (Briggs 1985, tr 121)

Trang 39

Công nghệ thu âm

Trang 40

Tuy nhiên, những suy nghĩ trên dần dần thay đổi Các đài phát thanh dần dần nhận ra ràng các chương trình thu âm rất hiệu quả để thực hiện các chương trình quảng cáo và các chương trình đòi hỏi đầu tư nhiều thời gian Quan trọng hơn, việc thu âm cho phép các đài phát thanh phát sóng nhắc lại một chương trình phát thanh nhiều lần trong tuần

Kỹ thuật ghi âm không chỉ làm thay đổi các chương trình phát thanh, mà còn tạo ra nhiều thể loại mới Ngoài kịch truyền thanh, phóng sự truyền thanh hoặc chương trình tài liệu phát thanh (documentary production), còn có một số thể ỉoại khác, ví dụ các chương trình ballad (Madsen 2005, tr.195)

Tuy nhiên, phải đến Đại chiến thế giới II, kỹ thuật ghi âm mới có bước phát triển vượt bậc

về nguyên lí băng từ là băng nhựa mỏng một mặt có phủ bột Trên băng trắng chưa ghi, những bột từ đó như những thanh nam châm nhỏ xíu sắp xếp không theo quy luật, và từ trường của các thanh nam châm nhỏ xíu đó triệt tiêu lẫn nhau Khi ghi âm, băng từ trắng bị nhiễm từ, các thanh nam châm nhỏ xíu đó xếp thành từng vùng nhỏ nhiễm từ Băng từ đã ghi âm thì giữ nguyên hiện trạng, sau đó, muốn ghi chương trình khác thì phải xóa chương trình cũ đi Bởi lẽ cứ mỗi lần một tín hiệu được ghi thì băng từ lại suy biến đi do tín hiệu thay đổi hình thù

Ngày đăng: 27/03/2015, 12:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A DA M S, M .H. A ND M A SSEY , K.K., 1995. I n tro d u c tio n to r a d io : p r o d u c tio n a n d p r o g r a m m in g . M adison: Brown & Benchmark Sách, tạp chí
Tiêu đề: I n tro d u c tio n to r a d io : p r o d u c tio n a n d p r o g r a m m in g
2. AGEE, W .K., A U LT, P.H ., A ND EM ERY, E., 1994. In tro d u ctio n to M a ss C o m m u n ic a tio n s. l l lh. H arpcrCollins College Publishers Sách, tạp chí
Tiêu đề: In tro d u ctio n to M a ss C o m m u n ic a tio n s
3. ANG, I., 1996. D e s p e r a te ly s e e k in g th e A u d ie n c e . London, N ew York: Routledge Sách, tạp chí
Tiêu đề: D e s p e r a te ly s e e k in g th e A u d ie n c e
4. A RBITIO N / ED ISON M ED IA RESEA RCH , 2006. The P o w e r o f R a d io [Online], A vailable from: http://w w w .arbitron.com /dow nloads/por h urricane.pdf rAccessed 10 April 2007] Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Power of Radio
Tác giả: ARBITRON, EDISON MEDIA RESEARCH
Năm: 2006
5. A R B ITIO N / ED ISO N M ED IA RESEA RCH , 2007. R a d io T o d a y 2 0 0 7 [Online], A vailable from: http://w w w .arbitron.com /dow nloads/radiotodav07.pdfrA ccessed 10A pril 2007] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Radio Today 2007
Tác giả: A R B I T I O N, E D I S O N M E D I A R E S E A R C H
Năm: 2007
6. A R B ITR O N / ED ISO N M ED IA RESEA RCH , 2006b. R a d io M a in ta in s its A u d ie n c e s S tre n g th A c c o r d in g to R A D A R 8 8 R a d io L is te n in g E s tim a te s [Online], A vailable from: http://w w w .arbitron.com /national _radio/radar.htm [A ccessed 25 March 2006] Sách, tạp chí
Tiêu đề: R a d io M a in ta in s its"A u d ie n c e s S tre n g th A c c o r d in g to R A D A R 8 8 R a d io L is te n in g E s tim a te s
7. A R B ITR O N / ED ISO N M ED IA RESEA RCH , 2006c. R a d io T o d a y [Online], A vailable from: http://w w w .arbitron.com /dow nloads/radiotoday06.pdf [Accessed 25 April 2006] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Radio Today
Tác giả: A R B ITR O N, ED ISO N M ED IA RESEA RCH
Năm: 2006
10. BA RNETT, s. AND M O RR ISO N , D., 1989. The lis te n e r s p e a k s : th e r a d io a u d ie n c e a n d th e fu tu re o f ra d io . London: H.M .S.O Sách, tạp chí
Tiêu đề: The lis te n e r s p e a k s : th e r a d io"a u d ie n c e a n d th e fu tu re o f ra d io
11. BARRIE, G., 2000. M e d ia re se a rc h m eth o d s: m e a s u r in g a u d ie n c es, r e a c tio n s a n d im p a c t. London: Sage, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: M e d ia re se a rc h m eth o d s: m e a s u r in g a u d ie n c es, r e a c tio n s a n d"im p a c t
12. BBC Press O ffice, 2005. O v e r 1 0 0 ,0 0 0 r e q u e s ts p e r w e e k f o r B B C R a d io d o w n lo a d s a n d p o d c a s t s [Online], A vailable from:http://w w w .bbc.co.uk/pressorfice/pressreleases/stories/2005/08 august/31/stats.shtm l [A ccessed 10 A pril 2006] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Over 100,000 requests per week for BBC Radio downloads and podcasts
Tác giả: BBC Press Office
Nhà XB: BBC
Năm: 2005
13. BBC Press O ffice, 2006. L iste n e rs tu n e in to 2 0 m illio n h o u rs o f B B C R a d io on lin e [Online], A vailable from:http://w w w .bbc.co.uk/pressoffice/pressreleases/stories/2006/05 m av/04/radio.shtm l [Accessed 17 June 2006] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Listeners tune in to 20 million hours of BBC Radio online
Tác giả: BBC Press Office
Nhà XB: BBC
Năm: 2006
16. BBC, 1982. B B C r a d io f o r th e n in eties: a d is c u s s io n p a p e r on r a d io p r o g r a m m e s tr a te g y . London: BBC Sách, tạp chí
Tiêu đề: B B C r a d io f o r th e n in eties: a d is c u s s io n p a p e r on r a d io p r o g r a m m e"s tr a te g y
17. BBC, 1995. P e o p le a n d p r o g r a m m e s : B B C r a d io a n d te le v is io n f o r an a g e o f ch oice. London: BBC Sách, tạp chí
Tiêu đề: P e o p le a n d p r o g r a m m e s : B B C r a d io a n d te le v is io n f o r an a g e o f"ch oice
18. BBC, 1996. G o in g D ig ita l, th e C h a lle n g e fo r B B C R e g io n a l J o u rn a lism . London: BBC Sách, tạp chí
Tiêu đề: G o in g D ig ita l, th e C h a lle n g e fo r B B C R e g io n a l J o u rn a lism
19. BBC, 2003a. P u ttin g A u d ie n c e s F ir s t [Online], A vailable from: http://w w w .bbc.co.uk/info/report20Q 3/pdf7audiences.pdf [A ccessed 20 D ecem ber 2004] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Putting Audiences First
Tác giả: BBC
Nhà XB: BBC
Năm: 2003
20. BBC, 2003b. R e v ie w o f S e r v ic e s : N e w M e d ia [O nline]. A vailable from http://w w w .bbc.co.uk/info/report2003/pdt7new m edia.pdf [Accessed 20 D ecem ber 2004] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Review of Services: New Media
Tác giả: BBC
Năm: 2003
21. BERRY. R, 2004. Speech Radio in the Digital Age. In: A. CRISELL, ed. M o re th an a M u sic B ox. N ew York: Berghahn Sách, tạp chí
Tiêu đề: In:" A. CRISELL, ed. "M o re th an a M u sic B ox
22. BERRY M A N, B., 2004. From on-air to the W eb: R c-defm ing the radio producer. The R a d io J o u rn al: I n te r n a tio n a l S tu d ie s in B r o a d c a s t & A u d io M ed ia , 2 (2), 1 1 8 - 120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: From on-air to the Web: R redefining the radio producer
Tác giả: BERRY M A N, B
Nhà XB: The Radio Journal: International Studies in Broadcast & Audio Media
Năm: 2004
23. BILLINGS, V., 1986. C ulture by the M illions: audience as innovator. In: Sandra J. B all-R okeach and M uriel G. C arton (eds), M ed ia , A u d ie n c e, a n d S o c ia l S tru ctu re.N ew bury Park, Sage, 200-213 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Culture by the Millions: audience as innovator
Tác giả: V. Billings
Nhà XB: Sage
Năm: 1986
24. Bộ V ăn hóa-Thông tin (M CI), 2005. Lịch sử báo chí cách m ạng V iệt N am .http://w w w .cinet.gov.vn/introduce.aspx?source=5& catid=64& n=l 25. Bộ Văn hoá-Thông tin, 2005. Lịch sử báo chí cách m ạng Việt N am.http://ww w .cinet.RO V.vn/introduce.aspx?source=5& catid=64& n=l Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam
Tác giả: Bộ Văn hóa-Thông tin (MCI)
Năm: 2005

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w