1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích tác phẩm báo chí Việt Nam trên cơ sở văn hóa học và văn bản học

131 1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 62,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và tác phẩm báo chí cũng chưa được xem xét ở dạng chung nhất, khái quát nhất của nó, với tư cách là một chỉnh thể thông tin, trên sự thống nhất giữa hai phương diện nội dung và hình thức

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘ I & NHẢN VĂN

Tén đề tài:

PHÂN TÍCH TÁC PHẨM BÁO CHÍ VIỆT NAM TRÊN c ơ SỞ

VÃN HOÁ HỌC VÀ VÃN BẢN HỌC

H ọ và tên ch ủ trì đ ề tài: T S N g u v ẻn T h ị M in h T h ái

Dương Trọng Dặt - Báo Sài (tòn Cỉiái Phúng Hữu Ước - Tạp chí Vãn hoá Văn nghệ Cóng an Bùi Ngọc Hãi - Tạp chí Thế thao Văn hoá

Đ A I H O C Q U Ố C G I A H A í \ O i T- [ / ~ H O \ ' G TIM THƯ V I ÊN

P T /

■ 3 F 4

-Hà Nội, tháng 12 năm 2004

Trang 2

Phân tích tác phẩm báo chí (văn bản tác phẩm phê bình

văn học nghệ thuật) từ góc nhìn th ể loại

Kết luận:

Hiện đại hoá ngôn ngữ văn bản tác phầm phê bình

văn liọc Iighệ thuật là một quá trình văn ìioá

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 3

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC c ơ BẢN

Đ ề tài:

P hân tích tác phẩm báo ch í V iệt N am trên cơ sở

Văn hoá học và văn bản học

(Chủ yếu dựa trên những tác phẩm báo chí (báo viết), và chỉ đi sâu vào thể loại phê bình trên trang văn hoá văn nghệ của những tờ báo lớn đương đại)

Chuyên đề nghiên cứu này gồm:

Phần mở đầu, phần kết luận và 2 chương

Phẩn m ở đầu '.

Nêu lí do chọn đề tài này và lịch sử vấn đề:

Tác phẩm báo chí với tư cách là tác phẩm thông tin, từ trước đến nay mới được nghiên cứu chủ yếu trên phương diện thể loại, trong các nhóm thể loại Tuy nhiên, ở góc độ lý luận, tác phẩm báo chí chưa được nhìn nhận , lí giải trên cơ sở văn hoá học và văn bản học, vốn là những cơ sở lý luận quan trọng, nhất là đối với những tác phẩm báo chí đương đại của nền báo chí Việt Nam đang vận động và không ngừng phát triển Và tác phẩm báo chí cũng chưa được xem xét ở dạng chung nhất, khái quát nhất của nó, với tư cách là một chỉnh thể thông tin, trên sự thống nhất giữa hai phương diện nội dung và hình thức, do đó, ngôn ngữ thể loại của các loại tác phẩm báo chí cũng chưa được đề cập đến một cách rõ ràng về lí thuyết, như vấn đề của tác phẩm văn học đã từng được đề cập và giải quyết trong lý thuyết về thể loại của lý luận văn học

Mặt khác, cũng không thể không xem xét nhũng tác phẩm báo chí Việt Nam trên nền tảng văn hoá hiện đại Việt Nam, với cơ sở hình thành là cuộc giao lưu văn hoá Đông Tây đã diễn ra hàng trăm năm của th ế kỉ trước Chính cuộc giao lưư Đông Tây quan trọng này đã ra đời hai yếu tố tiền đề của báo chí Việt Nam ngay

trong lòng chế độ thuộc địa : Chữ quốc ngữ, vừa là chất liệu vừa Vảphương tiện biểu

1

Trang 4

cũng chỉ chú ý nghiên cứu những tác phẩm báo chí thể loại phê bình văn học nghệ thuật trong một thập niên trở lại đây, nằm trong giai đoạn báo chí đổi mới, với sự

đặc biệt chú ý ( nhằm mục đích so sánh, khi đưa ra những tác phẩm báo chí thể loại phê bình, từ năm 1930 đến 1945): giai đoạn báo chí đầu TKXXI ( giai đoạn báo chí

đương đại).

Phương pháp nghiên cứu : Liên ngành.

Chuyên đề này gồm 2 chương , ngoài phần mở đầu và kết luận

Mở đầu: Nêu lịch sử vấn đề và lí do chọn đề tài

Chương một: Báo chí Việt Nam trong bối cảnh giao lưu văn hoá Đông Tây

Chương h a i: Phân tích tác phẩm báo chí (văn bản tác phẩm phê bình văn học

Trang 5

hiện của báo chí và vai trò báo chí Việt Nam như một công cụ thông tin của xã hội

Việt Nam hiện đại Vì thế, nhũng yếu tố văn hoá dùng để phân tích tác phẩm báo chí trong chuyên luận này, trước hết được hiểu như những tiền đề cho sự ra đời của nền báo chí Việt Nam, với hàm nghĩa lịch sử và sau đó, trở thành phương tiện: chữ quốc ngữ, và cuối cùng, là yếu tố văn hoá được xem xét trong chính tác phấm báo

chí về về thể loại và về ngôn ngữ báo chí.

Mục tiêu nghiên cứu : Các tác phẩm báo chí, xét trên phương diện lý luận, là

đơn vị chứa đựng thông tin của nhà báo, nhằm để truyền tin, và, do đó, trở thành đối tượng tiếp nhận thông tin của người đọc báo, lại chính là chỉnh thể trung tâm của hoạt động báo chí,( được hiểu như một chuỗi hoạt động tiếp nối đặc thù: Nguồn

thông tin : Cuộc sống Chã th ể thông tin : Nhà báo Phương tiện thông tin: tác phẩm

báo chí Người tiếp nliận thông till : Công chúng.)

Vì thế, bản chất của tác phẩm báo chí được thể hiện đặc thù ở tính thông tin

cập nhật hàng ngày hàng giờ, hàng giây, hàng phút của nó T ác phẩm báo chí viết,

đương nhiên hiện diện trên vãn bản, vối tư cách là văn bản truyền thông, nên chuyên luận này sẽ phải hướng sự chú ý nghẽn cứu vào các đặc trưng văn bản của

nó, xem xét nó trong sự khác biệt với văn bản của tác phẩm văn chương, và trong sự

tồn tại đặc thù của nó ở các thể loại báo chí, chủ yếu là các tác phẩm báo chí thể

loại phê bình văn học nghệ thuật, để từ đó có thể rút ra các mô hình tổ chức hiệu

quả nhất một tác phẩm báo chí với tư cách là văn bản truyền thông trong tính thể loại riêng biệt và trong sự vận động tất yếu của nó

Giới hạn phạm vi nghiên cứu:

Chỉ nghiên cứu loại tác phẩm báo chí là văn bản truyền thông, gọi theo cách thông thường là "báo viết"{mà không nghiên cứu báo nói ( phát thanh), báo liình (

vô tuyến truyền hình ), báo điện tử (on line) Cũng chỉ khoanh vùng nghiên cứu các

tác phẩm báo chí viết về lĩnh vực văn hoá văn nghệ trên trang vãn hoá văn nghệ của

một số tờ báo lớn, có lượng phát hành cao, như các báo: Thanh Niên, Lao dộng,

Người Lao động, T h ể thao Văn hoá, Tuổi T r ẻ T P HCM , Tiền phong VI’ và vv Và

2

Trang 6

cũng chỉ chú ý nghiên cứu những tác phẩm báo chí thể loại phê bình vãn học nghệ

thuật trong một thập niên trở lại đây, nằm trong giai đoạn báo chí đổi mới, với sự đặc biệt chú ý ( nhằm mục đích so sánh, khi đưa ra những tác phẩm báo chí thể loại phê bình, từ năm 1930 đến 1945): giai đoạn báo chí đầu TKXXI ( giai đoạn báo chí đương đại)

Phương pháp nghiên cứu : Liên ngành.

Chuyên đề này gồm 2 chương , ngoài phần mở đầu và kết luận

Mở đầu: Nêu lịch sử vấn đề và lí do chọn đề tài

Chương m ột: Báo chí Việt Nam trong bối cảnh giao lưu văn hoá Đông Tây Chương hai: Phân tích tác phẩm báo chí (văn bản tác phẩm phê bình văn học

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

Cuộc giao lưu văn hoá Đông Tây diễn ra ở Việt Nam, bắt đầu bằng nhũng tiền đề giao lưu tôn giáo và giao lưu thương mại xảy ra ở Việt Nam vào mấy thế kỉ trước, và thực sự diễn ra, trong tư thế Việt Nam bị cưỡng bức về văn hoá, bằng cuộc xâm lược của thực dân Pháp năm 1858 v ề mặt tiến trình, cuộc giao lưu này Đông Tây này đã ghi một dấu ấn đậm nét, sau cuộc giao lưu văn hoá với Trung Hoa trước

đó, vốn đã là dấu ấn hết sức đậm, trong tiến trình văn hoá Việt Nam, đã trải qua bốn nghìn năm lịch sử

Mặc dù cuộc giao lưu văn hoá Đông Tây xảy ra ở Việt Nam không phải do

sự tự nguyện muốn giao lưu văn hoá của người Việt Nam, song, người Việt đã có đầy đủ kinh nghiệm lịch sử từ cuộc giao lưu trước đó với Trung Hoa, đó là kinh nghiệm "không chối từ "( chữ dùng của giáo sư Trần Quốc Vượng), những ảnh

hưởng văn hoá từ những nền văn hoá khác mình, và không phải là mình Hai xu hướng văn hoá trở thành đặc trưng chung của lớp văn hoá diễn ra trước Lớp văn

hoá giao lưu với Phương Tây, là Lóp văn hoá giao lưu với Tritiìg Hoa vờ klut vực,

đó là "sự song song tồn tại của hai xu hướng trái ngược nhau: Hán hoá và chống

Hán hoá về mặt văn hoá" của người Việt trong thời kì lịch sử đó Trong tiến trình

văn hoá Việt Nam, những xu hướng ấy đã mang trong lòng chúng những quy luật lịch sử, và đã được lặp lại, cũng về mặt lịch sử , khi diễn ra nối tiếp sau đó, ở Việt

Nam, một cuộc giao lưu khác, trong lớp văn hoá tiếp theo : Lớp giao lưu với văn

lìfíá phương Tây Và "tại lớp vãn hoá này cũng cố hai xu hướng trái Iigược song song tồn tại - Ăn hoá và chông All hoá - song biểu hiện của chúng không còn vạch ròi theo từng giai đoạn như ở lớp văn hoá thứ hai mà đan cài trong thời gian và klìông gian " 1

' Trần N gọc Thêm, Tìm về bàn sắc vãn hoá Việt Nam NXB TP HCM 2001.tr 87-91

4

Trang 8

Cũng trong tiến trình phong phú và phức tạp của văn hoá Việt Nam, xu hướng chống "Hán hoá" và "Tây hoá" trong hai lớp vãn hoá trên, còn bao hàm luôn

một xu hướng lịch sử nữa, đó là xu hướng "Việt Nam hoá" những ảnh hưởng của Trung Hoa và phương Tây, (thông qua vãn hoá Pháp) Xu hướng này, trong lớp văn hoá hoá giao lưu với Trung Hoa, đặc biệt trở nên tích cực, khi Kỉ nguyên Đại Việt bắt đầu, với sự độc lập về cương vực, bờ cõi, quốc gia, năm 938, ở thời điểm lịch sử : Ngô Quyền đại thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, cho đến hết triều đại của các vua chúa nhà Nguyễn Và xu hướng này lại phát huy sự tích cực một lần nữa, khi cuộc Cách mạng tháng Tám, và cuộc kháng chiến chống Pháp thành công, bằng chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, với sự khẳng định vị thế của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà

Chính vì vậy, cuộc giao lưu văn hoá Đông Tây đã cung cấp những tiền đề văn hoá, trước hết là cho sự thay đổi một xã hội Việt Nam về mọi phương diện cơ bản nhất của nó, và sau đó, là cho sự ra đời một nền báo chí hiện đại ở Việt Nam, với một phương tiện hữu hiệu để truyền thông: chữ quốc ngữ Và như thế, lần đầu tiên, trong cuộc sống xã hội của người Việt Nam hiện đại đã xuất hiện báo chí, trong bối cảnh giao lưu văn hoá đặc biệt với phương Tây Từ đó đến nay, nền báo chí Việt Nam, được khởi đi từ trong lòng xã hội thuộc địa, đã và đang phát triển mạnh mẽ, theo các biến thiên lịch sử của xã hội Việt Nam hiện đại, mà việc nghiên cứu những cơ sở văn hoá, những quy luật phát triển văn hoá của nền báo chí này, thông qua những tác phẩm báo chí là những vãn bản truyền thông, trong sự phát triển đa dạng của các thể loại báo chí, đã trở thành mục đích cơ bản của chuyên luận này Tuy nhiên, do sự hạn hẹp của thời gian và sự tìm tòi tư liệu còn chưa phong phú, chuyê luận này chỉ đặc biệt chú ý đến những tác phẩm báo chí phê bình văn nghệ, như một thể loại đặc thù Chính vì thế, nội dung của của chuyên luận nghiên cún này bao gồm 2 chương, nhằm giải quyết các vấn đề sau:

Nhũng tiền đề vãn hoá và ngôn ngữ văn bản nào đã dẫn đến sự ra đời của báo chí Việt Nam hiện đại trong TKXX? Hoặc nói một cách khác, chương này đi tìm những cơ sở van hoá học và văn bản học cho sự ra đời của báo chí Việt nam

5

Trang 9

Chương Một mang tên: Báo chí Việt N am trong bối cảnh giao ỉ ưu văn hoá

Đông Tây.

Sau khi đã phân tích rõ ràng các yếu tố văn hoá dẫn đến sự ra đời và phát

triển của báo chí Việt Nam, chuyên luận này đề cập đến cấu trúc chung nhất của tác phẩm báo chí, về mặt nội dung, nhất thiết nó phải chứa đựng những nội dung thông tin văn hoá của tiến trình văn hoá Việt Nam, ngay từ khi nó ra đời, trong giai đoạn văn hoá hiện đại, mặt khác tác phẩm báo chí không thể chỉ tồn tại bằng nội dung thông tin, nó phải được hiển hiện trong những hình thức thể loại tương ứng Nói một cách khác, tác phẩm báo chí phải được " phát ngôn" bằng ngôn ngữ thể loại Vì thế nhiệm vụ của chương thứ hai là phải giải quyết vấn đề thể loại báo chí và phân tích tính thể loại của một loại tác phẩm báo chí: phê bình văn nghệ, và chủ yêus là phê bình vãn học Chương H a i, do đó , mang tên:

Phân tích tác phẩm báo chí

( văn bản tác phẩm báo chí phê bình văn học) từ góc nhìn th ể loại

Trong quá trình vận động và phát triển của báo chí Việt Nam, báo viết đóng vai trò nền tảng Ngôn ngữ của báo viết cũng phát triển vận động không ngừng để đáp ứng yêu cầu" hiện đại hoá", là một nhu cầu văn hoá của sự phát triển báo chí

Do đó, chúng tôi viết phần kết luận, nhằm gợi ra vấn đề : khi nghiên cứu về sự vận động và phát triển của ngôn ngữ báo viết( văn bản truyền thông), nhất là tác phẩm báo chí phê bình văn học trong tiến trình hiện đại chung của văn học nghệ thuật Việt Nam thế kỉ XX, chúng tôi thấy đó cũng là một quá trình văn hoá.Vì thế, phần kết luận mang tên:

"Hiện đại hoá" ngôn ngữ văn bản truyền thông ỉ à một quá trình văn ìioá

Và cuối cùng là những kết luận rút ra từ toàn bộ nội dung khảo sát của chuyên đề, với những đánh giá và đề xuất những giải pháp nghiên cứu sâu rộng hơn

về sự phát triển thể loại và ngôn ngữ báo chí, nhất là trong các tác phẩm báo chí viết bằng ngôn ngữ bình luận.( Trong đó đặc biệt chú ý đến những tác phẩm phê bình văn học nghệ thuật)

6

Trang 10

CHƯƠNG MỘT

BÁO CHÍ VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH GIAO L ư u VÃN HOÁ ĐÔNG TÂY

Về mặt văn hoá, xét theo tiến trình văn hoá Việt Nam, dựa theo cách chia thành 3 lớp văn hoá2 và 6 giai đoạn văn hoá tương ứng, kể từ lớp văn hoá Bản địa là lớp văn hoá đầu tiên của 4000 năm văn hoá Việt Nam, k ế sau đó là lớp văn hoá giao lưu với Trung Hoa, thì lớp văn hoá giao lưu với văn hoá phương Tây là lớp thứ ba, bao gồm hai giai đoạn: văn hoá Đại Nam và văn hoá hiện đại

Tại lớp văn hoá này, theo Trần Ngọc Thêm, cũng có hai xu hướng song song

tồn tại: Â u hoá và ch ố n s A u hoá - song biểu hiện của chúng không còn rạch ròi

theo từng giai đoạn như ở lớp thứ h a i : giao lưu vãn hoá với Trung hoa và khu vực ( Với 2 giai đoạn vãn hoá Chống Bắc thuộc và Đại Việt ), mà đan cài trong thời gian

và không gian

Cũng theo cách chia này, Giai đoạn văn hoá Đại Nam được chuẩn bị từ thời các chúa Nguyễn và kéo dài hết tời Pháp thuộc và chống Pháp thuộc Sở dĩ có thể gọi giai đoạn này là " Đại Nam", vì đó là quốc hiệu chủ yếu của nước ta trong giai đoạn này.( Đẩu triều Nguyễn, vua Gia Long đặt quốc hiệu là Việt Nam Năm 1838, vua Minh Mạng đổi quốc hiệu thành Đại Nam, với chỉ dụ của nhà vua, rằng "trước gọi là Việt Nam, nay gọi là Đại Nam, càng tỏ nghĩa lớn, mà chữ Việt cũng vẫn ở

trong đó,( ) gián hoặc có nói liền là nước Đại Việt Nam, về lẽ vẫn phải" ( Đại

Trang 11

a -Từ những tiền đề mà nhà Tây Sơn đã chuẩn bị, với sự hoàn tất của nhà

Nguyễn, lẩn đẩu tiên đất nước ta có được sự thống nhất về lãnh thổ và tổ chức hành

chính từ Cao Lạng đến M inh Hải.

b - Sau thời kì Lê - Mạc , Trịnh - Nguyễn hỗn độn, đến nhà Nguyễn, Nho

giáo lại được phục hồi làm quốc giáo, nhưng nó ngày một suy tàn.

c - Khởi đầu thời kì thâm nhập của văn hoá phương Tây( và cùng với nó là

Kitô giáo), cũng là khỏi đầu thời kì văn hoá Việt Nam hội nliập vào nền văn lioá

nhân loại Sự giao lưu đó đã làm biến đổi nền văn hoá Việt Nam về mọi phương

diện, khiến cho lịch sử văn hoá Việt Nam lật sang trang mới

Được chuẩn bị từ trong lòng văn hoá Đại Nam, bằng cuộc giao lưu với

phương Tây, giai đoạn văn hoá hiện đại đã được hình thành từ những năm 30-40 của thế kỉ XX trở lại đây, chưa đầy một thế kỉ, nên được coi là giai đoạn văn hoá

chưa định hình Tuy nhiên, Trần Ngọc Thêm vẫn phác thảo một vài đặc điểm mới

của giai đoạn văn hoá này như sau:

a - Óc phàn tích, khoa học thâm nhập từ cuối giai đoạn Đại Nam cùng với các tư tưởng của triết học duy vật biện chứng mácxít đã bổ sung tương đối nhuần nhuyễn cho lối tư duy tổng hợp truyền thống ( mà điển hình của sự tích hợp vãn hoá Đông - Tây với lí tưởng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở của truyền thống văn hoá dân tộc chính là : Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, người đã được UNESCO công nhận

nãm 1990 là Anil hùng giải phóng dân tộc và Danh nhân văn hoá).

b - Ý thức về vai trò con người cá nhân đang được nâng cao bổ sung cho ý thức cộng đồng truyền thống

c - Đô thị ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, quá trình đô thị hoá diễn ra ngày một nhanh hơn; cùng với nó là sự lớn mạnh của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhu cầu về một cuộc sống văn minh tiện nghi

Về cuộc giao lưu văn hoá Đông Tây, các nhà nghiên cứu văn hoá Việt Nam từng có nhiều cách phân tích từ các góc độ khác nhau, v ề góc độ văn hoá, với

8

Trang 12

nhũng thao tác luận hợp lý, nhà nghiên cứu văn hoá Phan Ngọc,4 trong cuốn sách

"Bản sắc Văn hoá Việt Nam", đã có một cách nhìn văn hoá học riêng để nhìn nhận,

lý giải cuộc giao lưu văn hoá Đông Tây rất quan trọng này, trong chương XIV,

mang tên " Tiếp xúc văn hoá Việt - Pháp"5, mà theo ông " để giới thiệu cách nhìn

vãn hoá học đối với vãn học" Việt Nam hiện đại, vốn dĩ có cùng một bối cảnh ra đời với báo chí Việt Nam Không dùng khái niệm "giao lưu", Phan Ngọc dùng khái niệm "tiếp xúc văn hoá" Trong chương viết này, Phan Ngọc cho rằng, muốn hiểu thực chất văn hoá của cuộc tiếp xúc văn hoá Việt - Pháp và cao hơn nữa, muốn hiểu

rõ ràng về bản sắc văn hoá Việt Nam, không có cách gì tốt hơn là xem xét nó trong

sự tiếp xúc với một văn hoá khác hẳn Phan Ngọc nhấn mạnh:" Qua sự tiếp xúc này,

ta sẽ thấy bản sắc văn hoá dân tộc bộc lộ một sự hoán cải khá đặc biệt Trong khi chịu những thay đổi hết sức quan trọng, đến mức một cách nhìn hời hợt sẽ tưởng đâu rằng bản sắc trước đây đã mất, thì một cách nhìn theo nhận thức luận sẽ cho thấy đây chính là biện chứng pháp riêng của văn hoá Ta chứng kiến một sự vượt gộp (dépassement), tức là văn hoá Việt Nam tiếp thu những điều mới khác hẳn văn hoá trước đây của mình, nhưng vẫn duy trì bản chất dưới một hình thức cao hơn và hiện đại hơn Việc nghiên cứu văn hoá Việt Nam trong sự tiếp xúc với văn học Pháp

sẽ giúp chúng ta hiểu rõ biện chứng pháp này hơn một công trình thuần tuý lý luận."

Phan Ngọc khẳng định về mặt lý luận , đối với văn hoá Việt Nam hiện nay,

sự tiếp xúc văn học Việt -Pháp còn quan trọng hơn tiếp xúc văn học Việt-Hoa, mặc

dù sự tiếp xúc thứ nhất kéo dài hai ngàn năm; trái lại sự tiếp xúc thứ hai chủ yếu là

bó hẹp vào một thời gian ngắn ngủi dưới một thế kỉ ( 1858-1945)

4 sờ dĩ chúng tôi chọn Phan N gọc và cuốn sách của ông để dần giải cho chuơng viết này, vì chúng tôi đồng ý với cách

đánh giá cua Trần Đình Sừ, trong phần b ả y , sách Văn học V iệt N am i h ế k ỉ XX, Phan Cự Đệ (chú biẽn) tr.794.795

viết: Phan Ngọc ( Sinh năm 1925) không chỉ là một người học rộng, dịch nhiều tác phẩm vãn học m ĩ học và nghiên cứu văn hoá nước ngoài, mà còn là một nhà nghiên cứu văn học và văn hoá độc đáo.( ) Ong có cách viết lói cuốn và gợi mờ Đổng thời, ông là nhà nghiên cứu văn hoá Việt nam trẽn cơ sờ hệ thống ứng xử vật chất cùa nó tức là sự lựa chọn, chống lại cách nhìn văn hoá Việt Nam theo mô hình nước ngoài, nhìn các nhà tư tường Việt Nam thành anh học irò dở dang cùa học thuyết nước ngoài Õng đã nghiên cứu N guyễn Du, N guyễn Trãi, Hồ Chí Minh và bản sắc văn hoá Việt Nam theo cách đó Tuy người ta có thẻ (rao đổi, tranh luận với ông nhiéu điều, song ông là nhà nghiên cứu có lí thuyết và chủ kiến.

' Phan N gọc Bàn sắ c văn lìoá V iệt N am N X B Văn hoá Thông till, Hà N ội, năm 2004 Chương này gồm từ trang 432

đến 476.

9

Trang 13

Vì thế, khi so sánh hai tiếp xúc trên, Phan Ngọc thấy rõ sự quan trọng của tiếp xúc văn học Việt - Pháp tronglO điểm đáng lưu ý, mà trong đó, có những luận

điểm mà chúng tôi có thể dùng làm cơ sở cho chương thứ nhất của chuyên luận này,

nhằm tìm hiểu báo chí Việt Nam từ góc nhìn văn hoá và ngôn ngữ báo chí( với chữ

quốc ngữ, là phương tiện và chất liệu chủ yếu để xây dựng tác phẩm báo chí Việt Nam, ngay từ buổi đầu xuất hiện):

1 Xét về mặt nhận thức luận, tiếp xúc văn hoá Việt-Pháp khác với tiếp xúc

văn hoá Việt- Hoa về những điểm sau :

(1) Tiếp xúc văn hoá giữa Việt Nam và Trung Quốc là tiếp xúc giữa hai nước cùng một nền kinh tế tự túc tự cấp Vì có những sự giống nhau như vậy, cho nên dù Việt Nam có chấp nhận nhiều thể văn Trung Hoa, các thay đổi vẫn biểu lộ về mặt hình thức hơn là về mặt nội dung Điều này chúng ta đã thấy một phần trong

chương nói về sự khúc xạ của Nho giáo ở Việt Nam Còn sự tiếp xúc với Pháp là

thuộc loại khác hẳn Một nền văn minh nông nghiệp tiếp xúc với một nền văn minh công nghiệp Văn hoá Pháp khấc xa văn hoá Việt Nam, các thể chế của Pháp chẳng

có gì chung với các thể chế Việt Nam Nhưng tiếp xúc này đòi hỏi những thay đổi không chỉ về hình thức mà cả về nội dung

2 Những tiếp xúc văn học giữa Trung Quốc và Việt Nam là những tiếp xúc giữa hai nước, nhưng những tiếp xúc giữa văn học Việt Nam với văn học Pháp lại là một bộ phận của những tiếp xúc quốc tế có tính chất thế giới Để đáp ứng tình hình mới, Việt Nam phải Tây phương hoá văn hoá của mình về hình thức và nội dung, phải chấp nhận những cái lí giải trái ngược với kinh nghiệm trước đây, phải giải quyết những cái mới xuất phát từ một hệ tư tưởng mới, phải tiến hành một sự xét lại triệt để cách làm trước đây bởi vì tiếp xúc văn hoá trước mắt cũng là tiếp xúc với văn hoá phương Tây Và Việt Nam cần phải nhận thức rõ bản sắc văn hoá của mình,

để cho việc tiép xúc này có lợi, tránh được những mò mẫm kéo dài

3 Sự tiếp xúc văn học giữa Việt Nam và Trung Quốc là được tiến hành có ý

thức bởi bộ máy chính quyền để đảm bảo " M ột cliủ quyền thực sự dưới cái ve' lệ

thuộc giả tạo" Nhưng những đổi mới của văn học Việt Nam đưới thời Pháp thuộc

10

Trang 14

lại được tiến hành bởi một nhân dân đấu tranh chống lại chế độ thuộc địa của Pháp,

vì chính phủ Việt Nam lúc này đã là công cụ của chế độ thuộc địa v ề bản chất, nó thuộc phong trào chống thực dân của thế kỉ này và khác các phong trào văn học của thời kì độc lập trước đây.

Đặt vấn đề liên quan giữa hai tâm thức đối lập nhau, trong một phạm vi lớn như vậy, Phan Ngọc đã buộc phải tự mình "bó hẹp vào việc giới thiệu những nét chính của một bên là tâm thức Việt Nam và một bên là tâm thức Pháp, để nêu lên những ảnh hưởng của một sự Tây phương hoá rất thành công ở cái góc xa xôi này của Viễn Đông, của một sự tiếp xúc Đông -Tây mà ảnh hưởng sẽ ngày càng quan trọng trong cái thế giới mới này, trong đó tiếp xúc văn hoá sẽ trở thành nền tảng cho mọi sự tiếp xúc"

Đây là một phương pháp nghiên cứu thực sự khoa học về văn hoá học Khi viết chương này và nói chung, viết cuốn sách này, để đạt đến sự nhất quán cần thiết, Phan Ngọc đã " phải bỏ qua vấn đề chính trị, chủ nghĩa thực dân", để "nói đến văn hoá Pháp mà không nói đến chủ nghĩa thực dân Pháp" Có lẽ Phan Ngọc đã đúng về mặt phương pháp luận, như đã tự nhận:" v ề mặt phương pháp luận, khi người ta nghiên cứu văn hoá gắn liền với chính trị, thì không thể nào đi đến những kết luận thoẳ đáng về tiếp xúc vãn hoá Chủ nghĩa thực dân Pháp là một sự xuyên tạc văn hoá Pháp cũng như chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc là một sự xuyên tạc học thuyết Khổng Tử" Trên cơ sở phân biệt đó, Phan Ngọc kết luận luận điểm thứ nhất :

" Chính trị thay đổi nhưng văn hoá còn lại Việt Nam chống lại chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc nhưng lại rất tôn trọng văn hoá Trung Quốc Các nhà cách mạng Việt Nam chống lại thực dân Pháp nhưng lại tôn trọng văn hoá Pháp, truyền thống cách mạng và những xu hướng xã hội chủ nghĩa của nền văn hoá này

Luận điểm thứ hai của Phan Ngọc về tiếp xúc văn hoá Việt Pháp là chỉ ra cái cốt lõi của người Việt Nam trong văn hoá tiếp xúc, đó là "thái độ cực đoan" với

"tinh thần yêu nước triệt để, và cũng triệt để như thế, là yêu làng xóm gia đình, gia tộc của mình Từ đó, Phan Ngọc đặt vấn đề "thân phận và diện mạo" và ý thức về nhân cách của con người Việt Nam truyền thống: " Anh ta sinh ra với ý thức trách

11

Trang 15

nhiệm đối với gia đình, họ hàng, làng mạc và tổ quốc Ngược lại, do ý thức trách

nhiệm này mà anh ta được đảm bảo về thân phận trong sự đùm bọc của cộng đồng,

về diện mạo trong cương vị của anh ta trong những thể cộng đồng khác nhau theo

những tiêu chí khác nhau và đều tự quản Thực chất của câu "Phép vua thua lệ

làng" chính là khẳng định tính tự quản này của vãn hoá Việt nam Hai sự "triệt để"

trên của con người Việt Nam, được đặt trong mối quan hệ với quốc gia và làng xã truyền thống, theo Phan Ngọc, đã tạo thành" tính hai mặt" tốt đẹp của con người

Việt Nam, và cuối cùng: " tính độc đáo của văn học Việt Nam là ở tính hai mặt

của nó Phan Ngọc còn nhắc thêm: " Tính hai mặt này mà các công trình nghiên

cứu văn hoá theo châu Âu luận đều bỏ qua chính là cơ sở của hiện tượng hai văn hoá tồn tại song song trong văn học, nghi lễ, tín ngưỡng, chính trị, tổ chức xã hội, kinh tế và cả quân sự Cả làng đánh giặc, và người dân rất chủ dộng, giàu sáng kiến trong chiến đấu cũng là xuất phát từ tính hai mặt này"

Luận điểm này của Phan Ngọc có thể giúp nhũng người nghiên cứu, có thêm một góc nhìn mới, khi đi tìm cốt lõi riêng biệt về văn hoá của con người Việt Nam, trong cuộc tiếp xúc với văn hoá Phương Tây và trong sự phản ánh của văn học Việt Nam hiện đại, với tư cách là nhân vật trung tâm Và đương nhiên, trong cả cái cách người Việt Nam lần đầu sử dụng báo chí như một phương tiện thông tin hiện đại,

mà từ trước đó, người Việt Nam đã chưa hề được sử dụng trong gần 10 thập kỉ kể từ mốc lịch sử 938, Ngô Quyền đại thắng quân Nam Hán trên sóng Bạch Đằng

Trong luận điểm thứ ba của chương viết này, Phan Ngọc nêu lên sự khác nhau về tâm thức, giữa văn học phương Tây và văn học châu Á Ông "thừa nhận rằng vãn học phương Tây đã ảnh hưởng rất lớn đến văn học châu Á nhưng ảnh hưởng của văn học châu Á tới phương Tây lại không sâu" Phân tích rõ hơn, Phan Ngọc viết:" những tác phẩm lớn nhất của văn học châu Á không được quần chúng rộng rãi phương Tây ham thích, lí do không phải ở tài năng của các nhà văn nhà thơ châu Á trước đây, mà ở sự khác nhau về tâm thức" Cụ thể hơn, ông đã đưa ra sự đối lập giữa hai tâm thức: "tâm thức Việt Nam và tâm thức Pháp", và đi đến kết luận

12

Trang 16

khá là độc đáo (sau khi đã tự thừa nhận, trong cách nhìn của mình" có cái gì giản

đơn", v ì " văn hoá của một dân tộc là cực kì đa đạng và phức tạp” Có thể nói đây

không phải vãn hoá Pháp ở bản thân nó, mà văn hoá Pháp qua sự cảm nhận của một

người Việt Nam theo cách mạng và chủ nghĩa xã hội), là ông, rằng: " Bốn nguyên lý chủ đạo của văn học Pháp ( tính toàn nhân loại, chủ nghĩa duy lí, cá nhân luận và tự

do cá nhân) là đối lập lại bốn nguyên lý của văn hoá Việt Nam trước đây ( Tổ quốc, gia đình-làng mạc, thân phận và diện mạo) Sau khi đã kết luận như vậy, ông dùng luận điểm thứ tư để phân tích những nguyên lí chủ đạo này trong văn học Pháp, và

so sánh với văn học Việt Nam Theo ông," tính toàn nhân loại của văn học Pháp là xuất phát từ truyền thống Hy-La, rồi truyền thống Thiên Chúa giáo xem con người như một sáng tạo có nguồn gốc thần linh, không liên quan gì tới động vật và vũ trụ, trái lại liên quan tới toàn thể loài người Xuất phát điểm này là trái ngược với truyền thống Trung Quốc và Việt Nam không tách con người ra khỏi thế giới động vật và

vũ trụ ( )• Có thể nói văn học cổ Việt Nam là một văn học không có thượng đế Văn học Pháp chủ yếu có nguồn gốc thành thị, không nói đến làng, vai trò của gia đình rất nhỏ bé, ( ) và nếu như thân phận ở người Việt có thể xét ở lá số Tử vi, thì thân phận trong văn học Pháp, nhất là ở những nhà hiện sinh mang tính chất một tình trạng phi lí của toàn thể loài người, không có nguyên nhân cũng không có lối thoát Còn diện mạo trong văn học Pháp lại không dựa trên địa vị của cá nhân trong cộng đồng mà dựa trên tài năng và sở hữu của cá nhân đối lập với cộng đồng

Tính toàn nhân loại của nền văn học này biểu lộ ở điểm gần như không bao giờ nó tìm một nội dung đặc biệt Pháp mà trái lại, nó tìm một cách diễn đạt đặc biệt Pháp để nói lên những vấn đề của toàn nhân loại " v ề tính duy lý của văn học Pháp, Phan Ngọc lí giải sắc nét: "Tính duy lý chung cho phương Tây, nhưng tính duy lý của Pháp rất đặc biệt Nó không phải là duy lý luận vụ lợi như ở Mỹ, duy lý luận dựa trên kinh nghiệm như ở Anh, duy lí luận dựa trên ý niệm như ở Đức Nó là duy lý luận triệt để và cực đoan dựa trên lẽ phải (raison) mà nó nâng lên địa vị một thượng đế mới Đành rằng duy lý luận này vẫn xuất phát từ tự do cá nhân, nhưng cá nhân luận này không khép kín mà để ngỏ cho nên nó quan tâm tới quyền lợi của

13

Trang 17

người dân lao động Chính vì vậy phần nào nó gần với chủ nghĩa xã hội, đóng góp

có tính chất thế giới của văn học Pháp và là thành tựu của văn học Pháp được duy trì

bền vững suốt ba th ế kỉ này." Sau khi phát hiện ra cái "cá nhân luận để ngỏ" ấy,

Phan Ngọc tán đồng nhận xét của Hồ Chí Minh về người Pháp, viết trong Nlìật kí

về chuyến thăm Paris năm 1946:

" Nói chung, những người Pháp đều chuộng những đức lành như: Tự do, bình

đẳng bác ái Phần đông người Pháp có tính hào hiệp không giận hờn lâu thấy việc phải thì họ làm, không quản mất công tốn của: họ đ ã cho là trái thì dù an hem ruột thịt họ cũng phản đối đến nơi Họ đã nhận là phái thì dù người dưng nước lã, họ cũng hết sức giúp giùm Người Pháp lại vui tính d ễ làm quen, nói dăm ba câu chuyện mà ỷ hợp tâm đẩu, thì liền trở nên bạn tốt Tóm lại, người Pháp rất dễ thương dễ mến".

Ớ luận điểm thứ năm, điều đáng chú ý về thao tác văn hoá của Phan Ngọc,

và đây có lẽ là một cách nhìn văn hoá thích hợp, là khi Phan Ngọc phân chia quá trình tiếp xúc văn hoá Việt- Pháp thành ba giai đoạn, với nhận xét chung: " Mỗi giai đoạn như vậy đều diễn ra với sự thay đổi của cả hai bên, bên nhân dân Việt Nam và bên chính sách của Pháp

(1) Giai đoạn từ 1858 đến hết TK XIX

Theo Phan Ngọc, ở giai đoạn này, người Pháp không hề chú ý tới vãn hoá, và

người Việt nam, mà đại biểu là các nhà Nho chỉ nhìn thấy người Pháp là đại biểu cho chế độ dã man dựa trên sức mạnh của võ khí Đạo Thiên Chúa dạy người Việt nam bỏ Tổ quốc, phục vụ địch Người Pháp chỉ lo đào tạo những thông ngôn giúp

họ dàn áp người V iệt( ) v ề phía Việt Nam, những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch đều xuất phát từ yêu cầu độc lập dân tộc của người Việt trước nguy cơ mất nước vào tay người Pháp, v ề văn hoá, những người am hiểu tiếng Pháp lúc bấy giờ chủ yếu là công giáo, trong khi chấp nhận một tình trạng không đảo ngược được vẫn tìm cách bảo vệ nền văn hoá dân tộc, chống sự đồng hoá về văn hoá bằng cách dùng chữ quốc ngữ như một công cụ để dịch các sách kinh điển Hán, phiên âm các tác phẩm xưa của người Việt, hay làm từ điển( Trương

14

Trang 18

Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Trương Duy Toàn, Huỳnh Tịnh Của).Năm 1866,

Nguyễn Trọng Quản viết Truyện thầy Lazaro Phiền, tiểu thuyết đầu tiên theo xu

hướng tiểu thuyết Pháp Sự tiếp xúc này vẫn chưa rộng lớn, vẫn còn theo xu hướng yêu nước quân chủ, do các nhà Nho yêu nước( Phan Văn Trị, Nguyễn Đình Chiểu ) lãnh đạo.

Từ góc nhìn văn hoá này soi chiếu vào báo chí, sẽ thấy đây là giai đoạn chứng kiến buổi bình minh của báo chí Việt Nam, với những tờ báo đầu tiên xuất hiện vào khoảng giữa th ế kỉ XIX, chính xác là vào những năm sáu mươi So với các nước châu Âu, báo chí Việt Nam đã sinh sau đẻ muộn hàng vài trăm năm, và không

hề là kết quả nhu cầu bên trong của xã hội Việt Nam trong giai đoạn này Ra đời cùng lúc với việc người Pháp xâm lược và thiết lập chế độ thuộc địa ở Đông Dương, báo chí ra đời là do nhu cầu áp đặt sự thống trị và đồng hoá về văn hoá của chính quyền thực dân Pháp đối với người Việt Nam Là con đẻ của văn minh phương Tây như thế, báo chí đã trở thành phương tiện hữu hiệu cho công cuộc Âu hoá của người Pháp ở Việt nam Vì thế, ngay từ đầu, người Pháp đã có ý thức sử dụng báo chí như một phương tiện truyền thông hiệu quả đê phục vụ cho công cuộc chinh phục người Việt Nam bản xứ Và ngay từ đầu, một tính cách nổi bật đã được xác lập và xuyên suốt của báo chí Việt Nam từ khi ra đời cho đến khi Cách mạng Tháng Tám thành

công năm 1945, chính là tính cách thuộc địa, được hình thành tất yếu trong một

môi trường thuộc địa 6 Khi nêu lên đặc điểm nổi bật này, các tác giả của " Lịch sử

báo chí Việt Nam" đã giải thích khá thuyết phục rằng " Báo chí Việt Nam ra đời gần như cùng với sự thiết lập chế độ thuộc địa của chủ nghĩa tư bản trên đất nước ta Báo chí ra đời trước hết do nhu cầu thống trị và xâm lăng văn hoá của chủ nghĩa thực dân Mặt khác, sự phân hoá và phát triển của báo chí lại theo sát từng bước đi của cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp diễn ra hết sức sâu sắc trong lòng xã hội nước ta Cho nên lịch sử báo chí Việt Nam đồng thời cũng là sự phản ánh của lịch

f' Đây là một trong 3 đặc điểm cùa sự phát triển báo chí Việt Nam trước 1945, được néu lẽn trong chương Tổng

luận,sách Lịch s ù báo c liíV iệ l N am 1865-1945 Đỗ Quang Hưng chủ biên, N xb ĐHQG Hà N ội- 2000.từ trang 217

đến trang 243 Hai đặc điểm tiếp theo là: "Báo chí Việt Nam vẫn phát triển, và phát triển khá nhanh theo những quy luật nội tại của nó" Và đạc điểm thứ ba:" Báo chí Việt Nam trước 1945" không phải là một khái niệm thuán nhất"

15

Trang 19

sử cận đại Việt Nam, là lịch sử của cuộc đấu tranh giành dộc lập tự do và cũng phản ánh cuộc đấu tranh gay gắt giữa một nền báo chí thực dân với một nền báo chí yêu nước và cách mạng.7

Tuy nhiên, nhìn ở góc độ ngôn ngữ, thì lịch sử báo chí Việt Nam trong buổi

bình minh của mình, đã gắn liền với lịch sử văn hoá ngôn ngữ, chữ Quốc ngữ, vãn học, nghề in ấn, xuất bản Nhưng nếu như những tờ báo đầu tiên của Việt nam mới xuất hiện trong những năm 60 của thế kỉ XIX, thì xét về điều kiện ra đời của

nó, các tác giả "Lịch sử báo chí Việt Nam" thấy rằng, " cũng như nhiều quốc gia

khác, mầm mông của báo chí đã có từ lâu" và cho rằng xa nhất là " Từ những truyền

thống xa như những câu vè lưu truyền trong dân gian, tiếng mõ làng ( Mẹ Đốp-Xã

Trưởng), những cuộc " giảng thập điều" trong sinh hoạt đình là n g

Nhưng nếu hiểu một cách rộng rãi nhất trên tinh thần báo chí là thông tin, thì

có thể cho rằng, từ khi Việt Nam có chữ viết, có thể đã có nhu cầu thông tin ( viết một cái gì đó cần thông báo ) cho những ai đó có nhu cầu nhận thông báo đó, bằng cách ghi thành những kí hiệu, thì những thông báo đó, đã có thể có từ rất lâu, mặc

dù, cho đến bây giờ, vẫn chưa thể giải mã được

Vẫn xét về mặt tiến trình văn hoá, nếu coi chữ viết là nhũng thành tựu văn hoá đặc trưng cho từng lớp văn hoá, thì trong lớp văn hoá Bản địa, có từ trước Công Nguyên hàng vài ngàn năm, việc có hay không một giai đoạn văn tự tương ứng, vẫn

còn là nghi vấn Theo Trần ngọc Thêm, sở dĩ trước đây, vấn đề chữ viết của lớp văn

hoá bản địa hầu như chưa được đặt ra, đơn giản ìà vì, trong một thời gian dài, dưới

áp lực của định kiến" lấy Trung Hoa làm trung tâm", người ta không thể hình clung được rằng phương Nam có th ể có một nền văn hoá riêng chứ đừng nói gì đến chữ

Tuy nhiên, theo tác giả, dưới ánh sáng của những nhận định mới về quy mô, tầm cỡ và vai trò của văn hoá phương Nam trong lịch sử văn hoá khu vực; nhũng cứ liệu khảo cổ học về dấu vết chữ viết đã phát hiện được trên đá ở thung lũng Sapa, trên qua đồng Thanh Hoá, trên lưỡi cày Đông Sơn( Theo Hà Văn Tấn 1982,1983),

7 sdd, tr.7.

16

Trang 20

trên trống đồng Lũng Cú ( Phan Hữu Dật 1974); và cuối cùng là ghi chép của sử sách Trung Hoa về một thứ chữ "khoa đẩu"( hình con nòng nọc bơi ) của người

phương Nam; thì ta có thể nghĩ đến giả thuyết về sự tồn tại của một nền văn tự

phương Nam " trước Hán và khác Hán"( chữ dùng của GS Hà Văn Tấn 1982)8.

Như vậy, có thể đã có chữ viết trong lớp văn hoá bản địa, ngay từ thời các vua Hùng, nhưng rõ ràng, chưa thể chứng minh rằng nó đã được sử dụng như nó phải được sử dụng để ghi lại tiếng nói của người Lạc Việt thời bấy giờ Vì vậy cho đến nay, vấn đề này mới chỉ tồn tại như một giả thuyết

Khác hẳn với vấn đề này trong lớp văn hoá văn hoá B ản địa, vẫn theo Trần Ngọc Thêm, lớp văn hoá giao lưu với Trung H oa và kh u vực đã được đặc trưng bởi việc dùng chữ Hán làm văn tự chính thống chủ yếu C h ữ N ôm - chữ của người

Nam, một trong những sản phẩm của cuộc giao lưu này - manh nha từ cuối giai đoạn chống Bắc thuộc và hình thành vào đầu giai đoạn Đại Việt, được dùng trong sáng tác văn chương và rất được đề cao dưới thời đại nhà Hồ và Tây Sơn Quang Trung Nguyễn Huệ đã sử dụng chữ Nôm làm văn tự chính thức trong các chiếu chỉ

và có kế hoạch giao cho Viện trưởng Sùng chính viện - La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp - tổ chức dịch các sách vở kinh điển từ chữ Hán sang chữ Nôm

Trong lớp văn hoá thứ ba, lớp văn hoá giao lưu với phương Tây đã đem đến

một sản phẩm văn tự m ớ i: ch ữ Quốc ngữ.

Như thế là đã rõ, sự tiến hoá về văn hoá Việt Nam là một quá trình phát triển liên quan mật thiết đến sự tiến hoá về chữ viết và tất nhiên, liên quan đến một nghệ thuật sử dụng chữ viết như một công cụ duy nhất để sáng tạo( tạo hình), đó là văn chương của người Việt trong suốt quá trình tiến hoá về văn hoá của mình Và trước khi báo chí Việt Nam ra đời, và nhất là báo chí viết bằng chữ Quốc ngữ, thì Việt Nam đã có đến 10 thế kỉ văn học trung đại được sáng tác bằng chữ Hán chữ Nôm Vậy mà, trong cả 10 thế kỉ văn học trung đại , gắn liền với các thời phong kiến cực

* Sdd, $ 4 Mớ rộng3: Bài C ó m ột hệ tliống ch ữ V iệt cô' thời các vua Hừng cùa GS Hà Vãn Tấn tr 94.95.96 Trong dó,

có một kết luận quan trọ n g : có một hệ Ihống chữ viết Việt cổ thời kỳ vãn minh Đ ỏng Sơn phát triển rực rỡ ờ khoáng khoảng thế kỷ IV trước công nguyên, trước khi người Hán vào xâm lược, đó hộ đát nước của người Việt cổ hơn một nghìn năm, và đến năm 938 đã bị đánh đuổi về phương Bắc.( Theo bài in trong Báo ảnh Việt Nam số 291 thána 3- 1983)

17

r.f >, HOC o u õ c ri A '

Trang 21

thịnh của các nhà nước phong kiến Việt Nam, ở nước ta vẫn chưa hề có báo chí

Nếu có hình thức nào đó có vẻ báo chí, hoặc có thể coi là nguồn gốc của báo chí, đã

trở thành những tiền đề gần gũi hơn những "truyền thống xa" đã nói ở phần trên kia, và đúng là sự chuẩn bị cho sự ra đời thực sự của báo chí, thì chính là những

hình thức thông tin kiểu Quảng Văn Đình thời Lê Thánh Tông hay Quảng Minh Đình thời Nguyễn Gia Long Giải thích về nguồn gốc báo chí nước ta, học giả Nguyễn Văn Tố có một cách thức độc đáo, khi viết:

Khâm định Việt sử ( quyển 14 tờ 15a) chép lại rằng" Nguyên trước, nhũng

chiếu, lệnh của nhà vua, lâm thời bộ đem yết bảng, đến năm Tân Hợi(1491) vua Lê Thánh Tông cho dựng một cái đình ở ngoài cửa Đại Hưng( tức Cửa Nam thành Thăng Long) để làm nơi niêm yết những phép tắc tri dân, đặt tên là Quảng Văn

Đ ình " Ba chữ Quảng Văn Đình nghĩa là một cơ sở để thu nhặt giấy tờ ở các nơi Đến đời Gia Long ( 1802- 1819), làm đình ở phường Nam Hưng (tức cử a Nam bây giờ), trên có đặt tên là Quảng Minh Đ ình cũng để dán những huấn lệnh của nhà vua Cạnh đó có hai toà nhà ngói ở cửa đông nam gọi là Hiệp Nghị Đường ( nhà để họp bàn) phàm dân gian có việc gì uất ức cho đến để bày tỏ, cho nên các đình ở mé ngoài miếu thờ thành hoàng vừa là để tụ họp khi tế lễ, lúc hương ẩm vừa để dán những huấn lệnh của nhà vua, cứ ngày một và rằm các huynh thứ trong làng ra đọc những huấn lệnh và giảng nghĩa cho dân gian nghe thường gọi là giảng thập điều.Như vậy cái đình tức là báo chí, có định lệ mồng một và rằm tức là nhật báo

hoặc tuần báo B áo chí tức là nhũng tờ huấn lệnh dán ở đình làng tựa như tờ Acta

diurna của người La Mã đời xưa.9

Song dù có giải thích cách nào, thì cũng không thể phủ nhận rằng báo chí Việt Nam chỉ có thể thực sự ra đời theo đúng nghĩa hiện đại của nó, khi có cuộc xâm lãng của thực dân Pháp và sự áp đật vãn hoá Pháp với một môi trường văn minh cưỡng chế ở Việt Nam như đã phân tích ở trên Cũng cần phải nói thêm rằng, trong triều đại của các vị vua nhà Nguyễn, với tư cách là triều đại cuối cùng của các

* Nguyễn Văn Tố Nước ta xưa cỏ dược lự do Iigôn luận không? B áo Tri Tán, sỏ'206ị4.I0A 945) Dẫn theo Lịch sir bán chi V iệt nam sdd, tr.9.

18

Trang 22

triều đại phong kiến Việt Nam, có một vài sĩ phu yêu nuớc và thức thời, có cái nhìn vượt khỏi chính sách b ế quan toả cảng phi lí của triều Nguyễn, đã thấy cẩn thiết

phải có báo chí Trong bản điều trần Tám điều cấp cứu ( Tế cấp bát điều) Nguyễn

Trường Tộ đã lên tiếng đề n g h ị" ấn hành một tờ nhật báo, đăng những chiếu, sớ,

dụ và những hành sự của các vị danh thần, công cụ của quốc gia hiện thời cho học sinh đọc để biết công việc trong nước, đó cũng là một việc ích lợi( lợi ích của nó rộng rãi thấm nhuần như mưa móc, nhưng không thể chỉ rõ ra hết được, để làm sẽ thấy"10 Tiếc rằng, những tiếng nói thiết tha ấy đã bị chối từ, và ngay cả khi, ở Nam

Kì lúc đó, đã bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu báo chí đầu tiên của một nền báo

chí thuộc địa ở Việt Nam, thì triều đình nhà Nguyễn vẫn giữ thái độ nhắm mắt làm

ngơ Cho nên, kinh thành Huế của nhà Nguyễn không thể là cái nôi của báo chí Việt Nam, mà lại chính là Nam Kì- Sài Gòn, đã trở thành cái nôi của báo chí Việt Nam, bởi lẽ đơn giản: đây là mảnh đất đầu tiên chịu ách thống trị của thực dân Pháp trên lãnh thổ nước ta Vì th ế ," ngay từ trước khi thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kì lần thứ hai (1882-1883), giới thượng lưu ở Sài Gòn đã có thể vận đồ Tây, ãn bánh

mì sáng với cà phê sữa và vào Tiệm sách Catina ( phố Lê Lợi, Bến Thành hiện nay)

để mua báo, sách truyện, thơ văn dịch từ chữ Hán, chữ Nôm, chữ Phápv.v 11

Do đó, những tờ báo đầu tiên xuất hiện ở Nam Kì, ngay trong tiếng súng xâm lăng cuả thực dân Pháp vẫn chưa kết thúc với 3 tỉnh miền Tây Nam Bộ, lại chính là

những tờ Công báo tiếng Pháp, ra đời trước tờ Gia Định báo ( 1865), vốn được

khẳng định tờ báo đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ ở Việt Nam

Năm 1861, tờ báo đầu tiên bằng tiếng Pháp xuất bản ở Sài Gòn là tờ Bulletin

official de Vexpedition de la Cochinchine ( Nam Kì viễn chinh công báo), do thống

đốc Pháp ở Nam kì làm chủ bút

Nam 1883, ngay sau khi người Pháp chiếm Hà Nội lần thứ hai, một tờ công

báo tương tự đã lại xuất hiện ở Bắc Kì, đó là tờ : Le Bulletin du Commité cư Etudes

111 Dẫn theo Lịcli sử b á o ch í V iệt N am , sdd tr.9.10.

"S dd tr 18 '

19

Trang 23

Agricoles, Industrieỉles et commerses de I'Annam et du Tonkin ( Tập san của Hội

Nghiên cứu công nông thương Bắc và Trung kì).

Từ sau hai tờ công báo này, như một thứ nền móng báo chí, hàng loạt báo tiếng Pháp đã ra đời và được lưu hành rộng rãi cả Nam kì, Trung kì và Bắc kì

Những tờ báo Pháp ngữ này đều là của chính quyền thực dân, hoặc của những hội đoàn của người Pháp ở Đông Dương, như u ỷ ban công nông nghiệp Nam Kì, Hội nghiên cứu Nông công thương Bắckì, hoặc do những người Pháp nhận trợ cấp của chính quyền thức dân bỏ vốn nhận thầu, nên đối tượng phục vụ chỉ bó hẹp trong một số người đọc Đó là những người Pháp ở Việt Nam và một số không nhiều những người Việt nam làm nhân viên bản xứ cho bộ máy cai trị của Pháp Có thể nói, có một dòng báo chí chữ Pháp đã ra đời, đặc biệt là" ngay sau khi toàn quyền Đông Dương ban bố sắc luật đầu tiên về báo chí ở thuộc địa (1881), cho phép người Pháp sống ở thuộc địa được tự do ra báo chí, thì hàng loạt báo tư nhân bằng tiếng Pháp đã được khai sinh

Ngoài báo chí Pháp ngữ, chính quyền thực dân Pháp cũng không muốn bỏ qua đội ngũ quan lại nguời Việt, nên đã cho xuất bản báo chí bằng chữ Hán Tại

Nam kì, những tờ báo như Nam kì viễn chinh công báo hay Xã thôn công báo đều

có bản chữ Hán Các tác giả Lịchsử báo clú Việt nam còn cho biết một sự việc thú

vị như sau " Trên mặt báo sau này, có lẽ tờ báo đầu tiên đề cập một cách nghiêm túc

về nghề làm báo là tờ Đ ại Nam Đồng Văn N hật Báo, một tờ báo bằng chữ Hán, tờ

báo đầu tiên ở Hà Nội

Trong số 213( 24-11-18950), tức năm Thành Thái thứ ba, một tác giả khuyết danh đã viết một bài dài (4 trang) gọi là "Nhật báo thuyết lược", kể về lịch sử báo chí Âu- Mỹ, trong đó đưa ra những con số về báo chí các nước dẫn đầu như nước Pháp, kể cả báo ở thủ đô Paris"12

Tuy nhiên, những tờ báo Pháp ngữ mới là chủ yếu, chứ không phải là Hán ngữ, bởi chiến lược vãn hoá chung của người Pháp là đẩy lùi đến mức thấp nhất, ảnh hưởng của Hán ngữ Muốn vậy, cần phải triển khai báo chí bằng chữ Quốc ngữ

12 Sdd Tr.10.

20

Trang 24

Bởi vì, như đã phân tích, những tờ báo Pháp ngữ đầu tiên chủ yếu dành cho người đọc là người Pháp, và rất ít người Việt đọc được tiếng Pháp.

Do đã thấy đến lúc phải mở mang giáo dục, truyền bá công cuộc Âu hoá,

chính thức đưa chữ Quốc ngữ vào vị trí chính thống, đánh bạt chữ Hán, Soái phủ

Nam kì quyết định cho xuất bản tờ báo tiếng Việt đầu tiên: Gia Định báo, mỗi

tháng một số, số đầu tiên ra ngày 15-4-1865, 4 trang, khổ 25x32cm

Cũng chính là từ tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên này, mà lịch sử báo chí Việt Nam bắt đầu13, với tính cách đầu tiên và xuyên suốt cho đến năm 1945 là tính cách thuộc địa Cũng cần phải khẳng định lại rằng, sự du nhập của vãn hoá Pháp vào Việt Nam đã đem theo báo chí vào Việt Nam như một phương tiện truyền thông hiện đại, đắc dụng và báo chí Việt Nam ra đời trước hết là do yêu cầu cai trị của người Pháp, bị người Pháp kiểm duyệt chặt chẽ Tuy nhiên, cũng trong bối cảnh văn hoá đặc thù đó, mà báo chí Việt Nam đã hình thành và phát triển với tính cách riêng về

văn hoá báo chí Lịcli sử báo chí Việt Nam cho biết: tờ Đăng c ổ Tùng Báo(1907) tục bản của Đại Nam Đổng Văn Nhật Báo ( 1893), tờ báo tiếng Việt đầu tiên của

Hà Nội ( tờ Đại Việt tân báo, cho đến nay chỉ có tên trong Báo cáo của Phủ Thong

sứ Bắc Kì gửi Toàn quyền Đông Dương, và do một người Pháp là E Babut đứng ten

xin xuất bản ngày 21-5- 1905 Hiện chưa tìm được số báo nào của tờ này), đã kết thúc giai đoạn hình thành của báo chí này, với khoảng 10 tờ báo trong cả nước

Vẫn vận dụng luận điểm thứ năm của Phan Ngọc trong cách" phân kì giai đoạn văn hoá" của cuộc tiếp xúc văn hoá Việt-Pháp, thì giai đoạn thứ hai được tính

từ đầu thế kỉ XX đến năm 1920, khi Nguyễn Ái Quốc vào Đảng Cộng sản Pháp,

thường được gọi là "phong n ào Tân Tliư" Giai đoạn này được đặc trưng bởi việc

tiép xúc của các nhà Nho Việt Nam với văn hoá Pháp và phương Tây, không phải qua người Pháp và sách báo Pháp mà qua con đường sách báo cải cách của Trung

Hoa Sự hiểu biết này về phương Tây dẫn tới hai xu hướng: XII hướng bạo động của

11 v ề sự kiện này Lịch sử báo chi V iệt Nam ( sdd tr 27), ghi chú như sau: Tờ Gia Địnli báo ra số đáu ngày nào? Vì bộ

lưu chiểu báo ớ iurớc ta không có các số đấu, nên trước đây thường theo ý kiến cùa Vương Hống sến và Nguyễn Khánh Đàm là ngày 1-4 -1865 N hờ sự phát hiện cùa Huỳnh Văn Tòng, Phạm Long Đ iền, chúng ta mới biết đó là ngày 15-4-1865 nói trẽn.

21

Trang 25

phong trào Đông Du do Phan Bội Châu chủ trương, gửi khoảng hai trăm thanh niên sang Nhật học tập quân sự , tiến hành khởi nghĩa võ trang Xu hướng thứ hai của

Phan Châu Trinh là xu hướng hợp pháp, chủ trương truyền bá tư tưởng mới, mở

trường dạy chữ Quốc ngữ không lấy tiền, cổ vũ cải cách xã hội theo phương Tây,

với Đông Kinh Nghĩa Thuc là trường học nổi tiếng nhất ở Hà Nội, nãm 1907-1908

Xu hướng này lôi cuốn hầu hết các nhà Nho học Việt Nam và tạo nên một nền vãn học mới mang tinh thần yêu nước mạnh mẽ Kết hợp với phong trào cắt tóc, chống thuế năm 1908, xu hướng này đã đẻ ra một hiện tượng văn hoá mới, theo Phan Ngọc là: " lần đầu tiên văn hoá gắn liền với đấu tranh vì quyền sống của quần chúng lao động" Dù hai xu hướng này đã bị thất bại, nhưng một sự đổi mới văn hoá đã

thực sự diễn ra: trong đó, ảnh hưởng của văn hoá Pháp đến đây là khá rỗ.

Khá rõ ở chỗ nào? Thứ nhất, theo Phan Ngọc là tính toàn nhân loại.

Khi Việt Nam nhận ra rằng, mọi đế quốc đều cấu kết với nhau để đàn áp bóc lột các nước thuộc địa, thì Việt Nam cũng phải dựa vào một tổ chức toàn nhân loại để chống lại chủ nghĩa đế quốc trên toàn cầu Tổ chức ấy chỉ có thể là chú nghĩa Quốc tế cộng sản Phong trào Tân thư thất bại vì không nhận thức được điều

đó, chỉ bởi đặt hết hi vọng vào một nước Pháp theo cách mạng Pháp, để rồi hi vọng này đã lụi tàn trong thực tế lịch sử Mặc dầu vậy, Tân thư cũng giúp cho trí thức Việt tỉnh ngộ khỏi những giấc mơ giáo điều, là trông chờ ở sự giúp đỡ của Nhật bản chống lại Pháp chẳng h ạ n

Thứ hai là chủ nghĩa duy lí của các nhà Nho tức thời, biểu hiện bằng thái ctộ triệt để chống Tống Nho, đòi huỷ bỏ chế độ khoa cử, chống chế độ quân chủ, yêu cầu cải cách theo phương Tây Lần đầu tiên các nhà Nho xuất thân từ khoa cử và là những nhà giáo dục lỗi lạc nhất của nền giáo dục xưa, yêu cầu bỏ chữ Hán, học chữ Quốc ngữ, tự họ làm thương nghiệp, tham gia các phong trào quần chúng Tuy nhiên, Phan Ngọc nhận xét: " Duy lí luận của nó thiếu một sự phân tích khoa học

mà chủ yếu vãn dựa trên tình cảm ( ) Tuy nhiên, ưu điểm của phong trào là nó thay đổi rất nhanh và kịp thời, chuyển từ Cần vương kiểu cũ sang quân chủ lập hiến năm 1904 khi Phan Bội Châu thành lập Duy tân hội, rồi sang dân chủ trong Việt

22

Trang 26

Nam quang phục hội năm 1912 Phan Châu Trinh chủ trương đường lối dân chủ"

Chấn dân trí, Khai dân trí, Hậu dân sinh", cùng với chính sách bất bạo động từ

năm 1906 trong khi chủ trương bất bạo động của Gan- đi là vào năm 1909

Tất cả những sự vụ trên đã chứng tỏ trí thức Việt Nam rất nhạy bén với cái mới Khác hẳn với trí thức Nho học Trung Quốc rất vất vả khi phải từ bỏ Nho giáo,

trí thức Việt Nam, dù đỗ đạt cao nhất trong chế độ khoa cử xưa, vẫn sẵn sàng từ bỏ gia tài văn hoá xưa để theo cái mới, miễn là họ tìm thấy ở đó biện pháp cứu nước

Để đối phó với một Đông du thứ hai, một mặt chính thực dân Pháp phải chủ động phổ biến văn hoá Pháp và chấm dứt ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc, bằng cách huỷ bỏ chế độ khoa cử trên toàn quốc năm 1919 Chữ Hán và chữ Nôm biến mất từ 1920, vì thế cái cầu nối văn hoá Trung Quốc với Việt Nam cũng mất theo.Cuộc cải cách giáo dục 1917 chia chế độ giáo dục thành 3 cấp: sơ đẳng( 3 năm), tiểu học(3 năm) và cấp cao đẳng tiểu học(4 năm) Nhiều trường học được mở cửa.( Ba trường Bách công được mở ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn để đào tạo nhũng người cai, Một trường đại học được mở ở Hà Nội năm 1907 gồm khoaY, khoa Vãn, khoa khoa học , khoa luật và khoa công chính )■ Nhưng điều quan trọng nhất, theo Phan Ngọc là nhân cách của một thế hệ trí thức mới đã được xác lập, với những" nhân vật quốc tế": "Hồ Chí Minh, Trần Phú, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Tố Hữu, đều là học sinh của một trường duy nhất, trường cao đẳng tiểu học Huế."

Mặt khác, chính phủ thuộc điạ cần báo chí để tuyên truyền cho chính sách văn hoá là văn hoá Pháp, nên số lượng báo từ khoảng 10 tờ báo trong cả nước đã tăng lên hàng trăm tờ b áo.14 Đó là chỉ tính riêng trong giai đoạn từ đầu thế kỉ XX

14 Lịch sử báo chi V iệl nam từ trang 222 đến 223, khảo sát sự phát triển báo chí Việt nam trong hơn 80 năm thống trị

cùa thực dân Pháp, đã chia ra làm 4 giai đoạn : 1 từ 1965 đến 1907 trong cả nước chi có khoáng 10 tờ báo 2 Từ

1907 đến 1918 sô' lượng tăng lén khoảng 30 lờ trong đó có Đ ông Dương Tạp c /ỉi(1 9 1 3 ) và Trung Bác Tán Ván( (1915), được coi là" mớ ra một kì nguyên mới cho báo chí xứ này" Loại T ạp chí kháo cứu trướng thành vượt bậc với

Tọp chi Nam Phong( 1917).

3 Từ 1919 đến l930: Thời kì sôi động cùa báo chí Việt nam trên cà lĩnh vực văn hoá xã hội và chính trị Với khoáng

100 tờ báo( cả tiếng Việt và tiếng Pháp), báo chí không chỉ phát triển và phân hoá theo th ể loại như nhặt báo, báo định kì, báo chuyên biệl cho các g iớ i mà còn phàn hoá Iheo khuynh hướng chính trị: C ác lờ báo khuynh iã( đối lập) ghi dấu son trong lịch sử báo chí: La C ìochc fcte'e VAnnam, Người nhà qué, D óng Pháp Thời b á o

23

Trang 27

đến 1930 Tiêu biểu cho loại báo chí tuyên truyền văn hoá Pháp, do người Việt thực

hiện dưới sự sở hữu và chỉ đạo của nhà cầm quyền Pháp, là tờ Nam Phong tạp clìí (

1917-1934) của Phạm Quỳnh Tờ này chủ trương hợp tác triệt để với Pháp, đồng thời "bảo vệ" văn hoặc và văn hoá Việt Nam Cùng với các báo do chính thực dân Pháp tài trợ, xuất hiện những tờ báo ít nhiều thuộc tư nhân, thuộc về những nhóm,

hội đoàn, hoặc cá nhân người Việt làm chủ và thực hiện: như Hữu Thanli tạp chí,

Thực nghiệp dân báo, Khai lỉoá nliật báo, Đông Pháp thời báo, là diễn đàn của giai

cấp tư bản bản xứ, Đông Dương tạp cìú( Nguyễn Văn Vĩnh chủ xướng); An nam tạp

chí do Tản Đà chủ bút; Tiếng Dân do nhóm cựu chính trị phạm của Huỳnh Thúc

Kháng xây dựng

Trong giai đoạn 1920-1930, văn học công khai ở miền Bắc chịu ảnh hưởng

từ Nam Phong tạp chí và Đông Dương tạp chí, đi kèm với tâm trạng buồn bã sau

những cuộc vận động yêu nước thất bại Xu hướng chống đế quốc biểu lộ trong báo chí bí mật chịu ảnh hưởng Nguyễn Ái Quốc, và ở Miền Nam xuất hiện công khai

trong La cloche fêỉée ( Cái chuông rè) của Nguyễn An Ninh, /' Annum của Phan

Văn Trường và trong các tác phẩm của Trần Hữu Độ Điều rất đáng chú ý là phong trào chống đối này đã mang tính chất xã hội chủ nghĩa tuy chưa phải là cộng sản Đó là những kết luận đáng lưu ý của Phan Ngọc về giai đoạn từ đầu thế kí XX đến 1930 này

Báo chí bí mật, bắt hợp pháp-dòng báo chí cách mạng cùa Đáng ta- xuất hiện với tờ báo Thanh niên của Nguyẻn

Ái Quốc ở Quảng Châu( Trung Q uốc), s ố l ra ngày 21-6-1925.

4.Giai doạnl930-1945: Đây là giai đoạn cuối cùng của nền báo chí thuộc địa, giai đoạn mà báo chí Việt Nam đạt COI1

số cao nhất, trên 400 lờ vào những năm 1938-1939 Con số này có giảm khi quân Nhật tràn vào Đống Dương, nhưng khi đến Cách mạng Tháng Tám [hành công, con sô' là trên 200 tờ.

Dòng báo công khai, hợp pháp càng có sự phân hoá sâu săc theo những màu sãc chính trị-xã hội khác nhau và

nờ rộ các loại báo chuyên biệt cho lừng giới, nghể nghiệp, tôn giáo, giải trí v v

Đặc biệt, sự trường thành cùa báo giới được thể hiện ở con số người làm báo, cơ cấu xã hội, nghé nghiệp của họ

và tinh cách hiện đại hoá càng tăng thêm Báo được in ra với đú loại ngôn ngữ, đủ loại báo và clii, đặc biệt phát triển loại báo chí chuyên ngành, đã c ó biío nói ( trong tay quân đội Pháp), báo dã in màu nhiều ảnh và khá mĩ thuật

Điểu này có vẻ như "mâu thuản" với thực tế cuộc chiến tranh thế giới cứ đến dán và không khí cách mạng thực sôi sục.

Nếu như khi ra tờ Dông T úy cuối thập kì 20 Hoàng Tích Chu còn lo lắng : "Làm báo ớ nước nhà cliưa thể gọi là một

nghề dược C lio đến hổi người làm báo cũng nlur một người lao động khác, ãn lương tháng hay tính tién cóng, ta vẫn coi như một món phụ irong đời kiếm sống: bần cùng mới đi làm báo " thì đến dầu tháp ki 40 N guyẻn Vỹ đã có thế say sưa m ồ tả" kĩ nghệ làm báo" khá hiện đại theo lối Âu-Mỹ và cho rầng " nó đã gáy được ảnh hường lớn trong quấn

chúng Việt Nam về m ọi phương di ệ n ( N guyễn Vỹ Văn sỹ liền chic'll, sdd, tr 309)

24

Trang 28

Giai đoạn 3( 1930-1945) là giai đoạn ảnh hưởng văn học Pháp sâu sắc nhất

và rõ rệt nhất Theo Phan Ngọc, vì thiếu một hệ thống khái niệm thích hợp, nên sự đánh giá giai đoạn đặc biệt này đã gặp nhiều mâu thuẫn, mặc dù xét về dẫn liệu cụ thể, có nhiều công trình rất tốt.

Trên cách nhìn đó, Phan Mgọc nhận xét:

" Đặc điểm quyết định toàn bộ văn học giai đoạn này là sự đối lập giữa một bên là Đảng Cộng sản Đông Dương và một bên là chính sách của thực dân Pháp để ngăn chặn ảnh hưởng của Đảng

Với sự ra đời của Đảng Cộng sản Đông Dương, nhất là sau Xô-viết Nghệ- Tĩnh, thực dân thấy rõ kẻ lật đổ mình chỉ có thể là Đảng Cộng sản Nếu như cuộc nổi dậy của Việt Nam Quốc Dân Đảng chỉ ba ngày là dẹp xong, thì phong trào Xô- viết Nghệ-Tĩnh lôi cuốn cả toàn dân mấy huyện, phải sáu tháng mới tạm yên và Đảng Cộng sản tuy có bị tổn thất, đã chinh phục được trái tim nhân dân Chỉ cần một sơ xuất là Đảng sẽ lãnh đạo nhân dân nổi dậy và chế độ thực dân sẽ sụp đổ".Phân tích luận điểm thứ năm qua một bối cảnh vãn hoá đặc biệt như trên, Phan Ngọc cốt để đưa ra nhận xét trong luận điểm thứ sáu của chương viết về cuộc tiếp xúc văn hoá Việt-Pháp, rằng: Trong hoàn cảnh ấy, không thể nào áp dụng chính sách đàn áp như trước đây, mà chính các cáo già thực dân đã thấy cần phải

áp dụng những chính sách uyển chuyển hơn cho phù hợp với thực tế lịch sử Đó là

sự chấp nhận ở một mức độ nào đó sự tự do phê phán của báo chí đương thời với những hành vi bất công, tham nhũng trong xã hội lúc bấy giờ, miễn là không đụng đến chính chế độ thuộc địa."

Bằng vào những phân tích qua ba giai đoạn trên, chúng tôi thấy rằng, có thể đưa ra được một bối cảnh vãn hoá Đông Tây đặc thù, như là những điều kiện vãn hoá tất yếu cho sự hình thành và phát triển của nền báo chí Việt Nam, được viết bằng chữ Quốc ngữ Qua sự phát triển mạnh mẽ của báo chí Việt Nam đối với đời

sống văn hoá- xã hội của người Việt, có thể thấy báo chí gắn chặt nhất và phát triển

nhanh chóng nhất nhờ vào môi trường đô thị kiểu phương Tây và lối sống Âu hoá của người Việt Nam đã bắt đầu vận hành nhanh chóng trong đô thị kiểu này Không

25

Trang 29

thể phủ nhận rằng, các đô thị Việt Nam đầu thế kỉ XX đã là những không gian văn hoá tiếp thu nhanh nhất và đậm đặc nhất các luồng gió mới của văn hoá phương

Tây Vả lại, báo chí đặc biệt thích hợp với môi trường đô thị, giống như cá được bơi

trong nước Theo hai tác giả Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh, Hoài Chân miêu tả

thì, những kẻ ở đô thị Việt Nam đầu thế kỉ XX, chính là chúng ta, những kẻ " ở nhà

tây, đội mũ tây, đi giày tây, mặc áo tây Chúng ta dùng đèn điện, đồng hồ, ôtô, xe lửa, xe đạp còn gì nữalNói làm sao cho hết những điều thay đổi về vật chất, phương Tây đã đưa tới giữa chúng ta! Cho đến những nơi hang cùng ngõ hẻm, cuộc sống cũng không còn giữ nguyên hình ngày trước Nào dầu tây, diêm tây, nào vải tây, chỉ tây, kim tây, đinh tây Đừng tưởng tôi nguỵ biện Một cái đinh cũng mang theo nó một chút quan niệm của phương Tây về nhân sinh, về vũ trụ và có ngày ta

sẽ thấy thay đổi cả phương Đ ông.15

Đúng là báo chí Việt Nam phải được và đã được phát triển trong môi trường thuận nhất là môi trường đô thị Chính môi trường này đã cung cấp cho báo chí những nhà giàu người Việt có đủ khả năng tài chính cho việc tài trợ và chính họ cũng lại là những người có đủ tài nãng để tự mình viết báo Các tờ báo có uy tín nhất, đặc biệt là trong giai đoạn 1930-1945, đều do người Việt thực hiện, in bằng tiếng Việt và phục vụ độc giả người Việt, dù có mấy tờ báo vẫn nhận tài trợ, theo

cách này hay cách khác của nhà nước bảo hộ, ví dụ như tờ Nam Phong Tạp chí

Theo một góc nhìn khác, chính đô thị cũng là một "chỗ trũng”về văn hoá theo "Âu hoá", để từ mọi nơi có thể xuôi chảy về đây các cư dân đô thị muốn thích nghi, hoặc buộc phải sinh hoạt theo lối sống mới, bao gồm : tư sản dân tộc, tiểu tư sản, viên chức nhà nước, học sinh sinh viên theo "Tây học" Chính những nhu cầu cập nhật đời sống về văn hoá, tinh thần của những cư dân này sẽ là động lực chủ yếu để gia tăng sự phát triẻn của báo chí Việt Nam cả về số lượng lẫn chất lượng

Nổi bật lên trong vai trò chủ thể làm báo, là hình ảnh những trí thức Việt Nam đương thời trong việc sử dụng báo chí như một công cụ hữu hiệu cho công cuộc truyền bá vãn hoá mới, tư tưởng cách mạng mới, có ý nghĩa thay đổi xã hội

'' Hoài Thanh- Hoài Chân Tlìi nhãn V iệt /Vum.Nxb Vân học Hà N ội, 2000,tr 18

26

Trang 30

Với ý thức đó, những trí thức báo chí Việt Nam đã đặt vai trò phổ biến kiến thức, tuyên truyền, nghiên cứu văn hoá tư tưởng hiện đại, thậm chí lên trên cả mục đích thông tin thông thường của báo chí Điều này thể hiện rõ trong hầu hết những tờ

báo lớn đương thời, từ Đông Dương tạp chí đến An Nam tạp chí Trí thức thời đó

làm báo theo một lí tưởng văn hoá, nhằm thâu thái học thuật tư tưởng Đông Tây để làm giàu cho dân trí nước nhà Vì thế, người đọc đã được tiếp cận với đủ mọi loại hình báo chí, từ báo hàng ngày đến báo tuần, đến bán nguyệt san, nguyệt san

Trong cấu trúc một tờ báo như một thứ bếp núc, các nhà báo đương thời đã dọn nhiều món ăn báo chí đa dạng cho khẩu vị khác nhau của người đọc Các mục thời sự nói chung, chỉ chiếm một số trang khiêm tốn Chủ yếu và nổi bật nhất trong nội dung báo chí đương thời là những chuyên mục bình luận, tranh luận, kiểu như

"triết học,bình luận","luận thuyết","văn chương khoa","sư phạm, học khoa” Những chuyên trang chuyên mục này trở thành linh hồn của tờ báo và độc giả thời bấy giờ cũng đủ khôn ngoan và thông minh để tiếp nhận báo chí như một của kho tri thức, hay như một trường học dạy kiến thức cho mình, hoặc ít nhất, như "sách

học", nói như Vũ Ngọc Phan, trong Nhà văn hiện đại,'6 để " thâu thái được tạm đủ

học thuật tư tưởng Đông Tây", " bồi bổ cho cái học còn khuyết của mình" Những bằng chứng báo chí này cho thấy rõ những lí do đủ để khẳng định rằng, báo chí Việt Nam quả có một vị thế đặc biệt đối với sự nghiệp xây dựng văn hoá, mà người đương thời thường dùng những từ : "quốc văn", "quốc học" để chỉ toàn bộ văn hoá học thuật thời bấy giờ

Trong bối cảnh văn hoá đặc thù đó, có nhiều người xuất thân từ Nho học, (cựu học), bị hấp dẫn bởi "từ trường" mới mẻ của báo chí đương thời, mà trở thành nhà báo hiện đại, cũng là điều dễ hiểu Tất nhiên, cũng có nhiều kiểu nhà "cựu học"

Có kiểu nhà Nho chí sĩ, lãnh tụ của phong trào yêu nước đầu thế kỉ, như Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức K ế đã viết báo trong mọi hoàn cảnh: trong

cả hoạt động cách mạng, lẫn trong thời kì bị nhà cầm quyền kiềm to ả

16 Dản theo Phạm Xuân Thạch, bài" Báo chí và quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam", trong sách Quá liinli hiện

đại hoá Văn học V iệt N am 1 9 0 0 -1 9 4 5 Mã Giang Lân chủ biên, Nxb Vãn hoá thông tin, Hà Nội 2000.Tr 145

27

Trang 31

Có kiểu những nhà Nho" cuối mùa", như Nguyễn Đỗ Mục, Phan Kế Bính, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Hữu Tiến đã lấy báo chí làm sự nghiệp cả đời Họ chính là những nhà báo sẽ kiểm kê tài sản văn học truyền thống trên báo chí và là những nhà dịch thuật, biên khảo có uy tín trên báo chí Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu

là điển hình cho kiểu nhà báo này và ông còn là đại diện xuất sắc của vãn học

truyền thống Không những thế, các nhà Nho học đương thời còn học từ văn học Pháp cách thức mới mẻ để thể nghiệm viết văn theo lối mới, với hai loại " đoản thiên tiểu thuyết" ( truyện ngắn) và tiểu thuyết.17

Bên cạnh đó, các trí thức theo Tân họcl8(như thế,đầu tiên là những người Công giáo ở Nam kì buổi sơ khai), sau đó là:Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Hoàng Ngọc Phách, Nguyễn Công H oan , được đào tạo bài bản trong các trường học của Pháp tại Việt Nam, lại là những nhà báo" Tây học "xuất sắc, mặc dù họ vẫn ít nhiều quan hệ với nền cựu học nước nhà Đây là những người hãng hái nhất trong việc giới thiệu, dịch thuật văn học phương Tây, đem đến cho người đọc bấy giờ "cái thú đọc nhật trinh" và có thể gọi họ là những kiến trúc sư cho công trình văn học hiện đại Việt Nam thế kỉ XX Có thể nói, môi trường báo chí đã có khả năng liên kết, tập hợp những trí thức tiêu biểu nhất của đương thời, không những thế, các th ế hệ trí thức đã không ngừng nối tiếp nhau, không đứt đoạn, trong sự phát triển liên tục của báo chí Việt Nam từ khi ra đời, cho đến những thập niên mười và hai mươi của thế kỉ XX

17 Lịch sừ báo clií V iệt nam tr239, 2 40, tìm đựoc một nhận xét rất quan trọng cùa Quán Chi, vẻ những nhà cựu học

làm báo, trong bài Thử lìm long mạch cùa lờ báo ta, đăng trong T ntng BắcChít N hật, như sau:" Kể cũng là hiện tượng

trái lạ, vì tờ báo là sản phẩm cùa đời mới, thê' mà nhà Nho, phái người cũ, lại là tay gãy dựng và đứng lén phắt cờ đánh trống trẽn diễn đàn xứ này buổi đầu, nhà tân học lúc ấy chỉ đóng một vai tuồng phụ".Tr240, sách này kể tên một

loạt các cây bút Nho học như sau: Hoàng Tăng Bí, Dương Bá Trạc( Trung B ắc Tán Vãn), N guyễn Bá Trác, Đông Châu, Sở Cuồng Lê Dư, N guyễn Đôn Phục ( N am Pliong), Tản Đà ( Annam T ạp C h í và Hữu Thanh), N gô Đức Kế(

Hữu Thanh), Huỳnh Thúc Kháng( Tiếng Dân), các nhà Nho- Tây học: như Phạm Quỳnh, Phan Khỏi, N guyẽn Bá Học,

và ở Nam kì là những cây bút tiền bối: N guyễn Liên Phong, N guyễn Chánh sắt, N guyễn Từ Thức, Lé S u m

11 Vể những ngưòi "Tân học" này, Lịch sứ báo clií Việt N am cũng tìm ra được những tư liệu đặc sắc và so sánh với

Trung Quốc cũng có tình trạng này Vì thế, đã kết luận: phần lớn những tờ báo chữ Quốc ngữ những tập kiđầu tiên

ở Saig gòn cuối thế kỉ XIX đầu thế kì X X các chù bút đèu là người Công giáo Tr.239.Tr 2 40, đã nêu rõ tên các nhà báo Tây học: N guyễn Vãn Vĩnh, Phạm Quỳnh Phan Khôi, N guyễn Vãn Tố Phan Vãn Trường N guyễn An Ninh Bùi Quang Chiêu, Hoàng Tích Chu, Sương Nguyệt Ánh Nhất Linh Khái Hưng Đ ào Trinh Nhất, Vũ Bàng Thế Lữ Phùng Tất Đắc, Vũ Đình Hoè N guyễn Tuân, N guyễn V ỹ

28

Trang 32

Song, theo Lịch sử báo chí nhận định, thì vai trò lớn nhất sâu sắc nhất về đấu tranh xã hội phải thuộc về những trí thức cách mạng, trong dòng báo clú cách

mạng, với những bằng chứng sau:

" Kể từ khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khai nsinh tờ báo Thanh Niên ( 21-6-

1925) ở Quảng Châu đến cách mạng Tháng Tám thành công, chỉ hai thập kỉ, dòng báo chí bí mật, cách mạng của khuynh hướng dân tộc xã hội chủ nghĩa đã hình thành và phát triển mạnh mẽ Từ những tờ báo đơn sơ ở nước ngoài, ở trong các nhà

tù đế quốc, ở các chiến khu cách mạng, dòng báo này dần dần có những tờ báo lớn,

có lúc được in typô rất hiện đại với tirage hàng vạn số, phát hành công khai ở Hà Nội, Sài Gòn và nhiều thành phố khác, có tờ còn vượt ra biên giới nước ngoài đến tay những nhà cách mạng Việt nam chưa có điều kiện về nước

Báo chí cách mạng Việt Nam với sự nỗ lực của nhiều thế hệ người cầm bút- chiến sĩ, dần dần đã xây dựng được cả một hệ thống báo chí từ Trung ương xuống các địa phương, báo các cấp bộ Đảng là chủ yếu, bên cạnh là hệ thống báo của Mặt

trận Việt Minh, xuất hiện từ sau 1941, gồm cả báo và chí với những tờ tiêu biểu như báo Tlianh Niên ( 1925-1932), Lao Động ( 1929), Tranh Đấu{ 1930), Tạp chí Đỏ,

Tạp chí Cộng sản{ 1930), Tạp chí Bônsêvíc{ 1934), Tin Tức (1838), Dân cluĩiuỊ

(1938-1939), Việt Nam độc /ộ/?(1941-1945), Cờ Giải phóng {19 42-1945), Cứu

Quốc ( 1942), Sự thật (1945-1950)

Báo chí cách mạng của Đảng ta chẳng những là phương tiện, là vũ khí quan trọng trong công tác tuyên truyền, phổ biến tri thức cách mạng, chỉ đạo thực hiện những nhiệm vụ cách mạng mà còn là một hình thức tổ chức nối kết cơ quan của Đảng với quần chúng

Bài xã luận Sự nghiệp báo Đảng, nhân ngày kỉ niệm 40 năm báo Nhân Dân,

số 11-3-1994, viết: " Lịch sử báo Đảng là một phận lịch sử của Đảng của cách

mạng và của dân tộc ta Báo Thanh niên do Bác Hồ sáng lập và làm chủ bút góp

phần quan trọng truyền bá chủ nghiac Mác-Lênin vào nước ta, chuẩn bị về chính trị,

tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng cs Việt Nam Các báo Tranh Đấu,

29

Trang 33

Dân Chúng cùng một số báo khác của Đảng xuất bản trong thập kỉ đầu sau khi

Đảng thành lập, đã đấu tranh việc tập hợp và củng cố các lực lượng cách mạng và dân chủ xông vào những trận chiến đấu đầu tiên chống chủ nghĩa chủ nghĩa thực

dân đế quốc và phong kiến Báo Cờ Giải Phóng góp phần trực tiếp phát động cao trào cứu quốc, chuẩn bị Cách mạng Tháng Tám Báo Nhân Dân, kế tục báo Sự Thật

ra đời vào lúc cuộc kháng chiến cứu nước lần thứ nhất của nhân dân ta ở vào giai đoạn kết thúc Lịch sử 40 năm hoạt động của báo gắn liền với lịch sử đấu tranh

oanh liệt của Đảng, của nhân dân ta 1,19

Về phương diện văn hoá, như thế, báo chí Việt Nam, nhất là báo chí cách mạng, trong bối cảnh 80 năm tồn tại và phát triển, đã có những giá trị văn hoá

không thể phủ nhận Điều này đã được Trường Chinh, tác giả của Chủ nghĩa Mác

và văn hoá Việt Nam đánh giá cao, khi nêu lên vai trò, ảnh hưởng của ĐCSĐD và

báo chí Việt Nam đến sự chuyển biến về tư tưởng và văn hoá của các nhà báo, các nhóm Tri Tân, Khoa Học, Thanh N gh ị

Trong sự hình thành nền văn hoá mới-vãn hoá cách mạng, sự tồn tại của dòng báo chí cách mạng mang ý nghĩa tiêu biểu nhất cho cái mới Trong những di sản

quí báu, cái vốn đầu tiên của nền văn hoá mới ấy, báo chí cách mạng là bộ pliận có

giá trị hàng đầu, bên cạnh là nhũng thành tựu đầu tiên khác là văn học cách mạng,

lí luận về văn hoá của Đảng ta

Những người làm báo cách mạng phần lớn từ "nghiệp dư" do sự phân công của công tác cách mạng, đến chỗ đã tương đối có "tính chuyên nghiệp" dù luôn phải đối đầu với sự đàn áp của thực dân, đối đầu với cái chết và tù tội v ề mặt nghề nghiệp, kể từ khi lãnh tụ Nguyễn ái Quốc khai sinh những tờ báo cách mạng đầu

tiên, th ế hệ thứ nhất đã ra đời với những tên tuổi như Nguyễn Văn Tạo, Hà Huy

Tập, Lê Hồng Phong, Bùi Công Trừng, Nguyễn Khánh T o àn

Thập kỉ 30, đặc biệt trong thời kì Mặt trận Dân chủ, là những Trường Chinh,

Trần Đình Long, Trần Huy Liệu, Khuất Duy Tiến, Hải T riều T h ế hệ thứ ba,

30

Trang 34

những người cách mạng trẻ tuổi đin vào nghề làm báo cách mạng khi cuộc vân động cách mạng đang sôi sục: Xuân Thuỷ, Hồng Chương, Hoàng Tùng, Thép Mới,

Tô Hoài, Quang Đ ạm

Nhà báo-nhà cách mạng cũng là một "sản phẩm" nữa của sự vận động văn hoá mới của một nước Việt Nam mới.20

Nhìn chung, báo chí Việt Nam đã song hành với lịch sử Việt Nam từ khi nó

ra đời Đặc biệt, sau chiến tranh Thế giới thứ nhất, từ 1918 đến 1930, đã xuất hiện một đội ngũ báo chí chuyên nghiệp, khiến cho báo chí phát triển mạnh mẽ, góp công lớn thúc đẩy sự lớn mạnh của chữ Quốc ngữ và văn hoá dân tộc Hơn nữa, trong giai đoạn 1930-1945, báo chí Việt Nam còn phát triển và trưởng thành vượt bậc vể văn hoá, với kĩ thuật làm báo đã đạt đến một trình độ văn minh đáng kể, mặc

dù so với trình độ thế giới lúc bấy giờ, thì còn quá thô sơ.( Lí do rất giản dị : Như

Huỳnh Thúc Kháng khi tổng kết về tờ Tiếng Dân, do mình chủ nhiệm, đã cắt nghĩa

: " ở xứ ta mà bấy lâu nay chưa có tờ báo nào, người ta vẫn còn nhiều khó khăn và ngay khi thành lập, tờ báo phải đối phó với nhiều vấn đề rắc rối".Ông kể ra 5 rắc rối, khó khăn như sau: 1 Tư liệu thiếu 2 Phương tiện giao thông kém.3 Vốn quá

ít 4 Thương mại kĩ nghệ chưa phát triển 5 Nạn mù chữ, hầu như 80% dân số không biết đọc biết viết21)

Vì thế, sẽ vô cùng quý giá, khi xác định : một trong những giá trị văn hoá lớn lao của báo chí là vai trò của báo chí Việt Nam trong cuộc hình thành và sử dụng chữ Quốc ngữ, mà biểu hiện sáng rõ nhất là việc báo chí đã trở thành bà đỡ cho nền văn học Quốc ngữ ra đ ờ i , phát triển mạnh mẽ trên báo chí 30 năm đầu thế

kỉ XX.CÓ thể nói , báo chí, với sự xuất bản định kì, đã là yếu tố mạnh mẽ nhất tác động đến sự định hình của văn học hiện đại Việt Nam, trong giai đoạn đầu tiên quan trọng nhất của tiến trình hiện đại hoá tất yếu của nó; Giai đoạn 1930-1945, vốn được coi là giai đoạn khởi động quá trình này

20 Sdd tr237.

31 Dẫn lại trong Sdd, tr428.429.

31

Trang 35

Và tất nhiên, chữ Quốc ngữ trở thành một vấn đề lớn, trước hết là vấn đề ngôn ngữ trong buổi đầu tiếp xúc với nền Pháp học.

Nhìn lại lịch sử hơn 300 năm hình thành và đi vào đời sống xã hội của chữ

Quốc ngữ, các nhà nghiên cứu văn hoá và báo chí đều khẳng định rằng, báo chí có

vai trò lớn trong cả giai đoạn hình thành và bước đầu sử dụng chữ Quốc ngữ Trong

phần tám, nhan đề " Sự biến đổi và phát triển của ngôn ngữ văn học Việt Nam th ế kỉ

XX" của công trình nghiên cứu, là bộ sách Vãn học Việt Nam th ế kỉ XX22, các tác giả

đã đưa ra những quan sát và nhận xét quan trọng về lịch sử chữ Quốc ngữ ở Việt

Nam, bắt đầu bằng nhận xét về hai loại ảnh hưởng: xa ( gián tiếp), và gần (trực

tiếp), đối với sự hình thành chữ Quốc ngữ ở Việt Nam :

Xa, đó là do ảnh hưởng từ Tân thư, khuynh hướng mới, với những biến đổi và

diễn tiến mới, do ảnh hưởng từ phương Tây, trong nền tư tưởng và vãn học Trung Quốc buổi cận kề thế kỉ XX Giã biệt truyền thống khoa cử và văn học cũ, giới trí thức Trung Hoa đã mở đầu phong trào Tân thư bằng cách soạn sách vở, dịch thuạt, viết báo đẻ truyền bá những tư tưởng cấp tiến Riêng trong lĩnh vực ngôn ngữ, việc cải cách vãn tự, từ chối cổ vãn đã dẫn đến sự ra đời của một văn phong theo lối mới,

đó là Bạch thoại, giản dị và sáng sủa Hai "nhân vật của Tân thư Trung Hoa có ảnh hưởng lớn nhất đến trí thức Nho học Việt Nam, là Lương Khải Siêu và Khang Hữu

Vi Họ đã giúp trí thức Nho học Việt Nam ra khỏi sự lúng túng trước làn gió mới phương Tây đang thổi đến Việt Nam cùng với sự xâm lược của thực dân Pháp Nhờ Tân Thư, lối văn Bạch thoại đi vào Việt Nam, nhiều tiếng Hán Việt mới xuất hiện,

và một số chữ Hán đã đi vào tiếng Việt như những thuật ngữ đầu tiên của khoa học

xã hội và nhâ văn, thoạt tiên là triết học Kết quả, Tân thư, tuy gián tiếp, nhưng lại

là kênh quan trọng, tạo cơ hội cho ngôn ngữ và văn chương Việt Nam tiếp xúc với

Âu Tây

Gần, đó là việc nỗ lực tiếp cận Việ Nam, ngay từ thế kỉ XVII của Âu Tây qua

giao thương và truyền giáo Trong ngôn ngữ, việc ra đời chữ Quốc ngữ (1651) là

“ Phan Cự Đệ (chù biên) Văn học V iệt N am tliế k ỉ AXNxb Giáo Dục Hà N ội nãm 2004 Chương này do Đinh Vân

Đức chủ biên, từ trang 7 9 9 đến 927.

32

Trang 36

một cột mốc quan trọng Từ chữ quốc ngữ, trong tiếng Việt đã hình thành một lối

viết mới mang tính chất " tiền văn xuôi", thông qua lối viết văn bản của giáo hội

Thiên Chúa còn giữ lại được, bởi thoạt đầu, lối văn quốc ngữ này chỉ dùng để ghi chép và dùng vào giao dịch trong nhà đạo.

Vì thế, các tác giả của chương viết quan trọng về ngôn ngữ này đã khẳng

văn hoá, văn minh châu Âu vào Việt Nam kèm theo một áp lực tiếp xúc, dù có bảo thủ mấy cũng không cưỡng lại được Đó là sự đổ bộ của ba cánh quân:

1 Dạy và học tiếng Pháp

2 Báo chí và truyền thông Pháp

3 Dịch thuật và văn hoạc Pháp

Cuộc tiếp xúc trực tiếp này đã có ảnh hưởng sâu xa và có tác động trực tiếp đến diện mạo ngôn ngữ và văn chương Việt Nam Vì thế, đây cũng có thể coi là thời

kì dự bị cho việc thành lập một nền Quốc văn mới trong thế kỉ XX ở Việt Nam.Chẳng thế mà, sau khi thiết lập ách thống trị trên toàn cõi Việt Nam, việc phổ biến tiếng Pháp và đẩy lùi ảnh hưởng Hán học đã trở thành một quốc sách của thực dân Pháp Các trường dạy tiếng Pháp được mở đầu tiên ở Nam kì, và ở cả ba kì đều

mở trường thông ngôn và tiểu học, khiến cho chỉ sau vài ba thập kỉ, số người học, biết đọc biết viết tiếng Pháp tăng lên Báo chí tiếng Pháp được tung vào thuộc địa,

và lớp người Việt đầu tiên biết tiếng Pháp đã thành công chúng đầu tiên của nó.Cho nên, có thể hoàn toàn tán đồng với nhận xét chung về mối quan hệ giữa báo chí và văn học Việt Nam, thông qua chữ quốc ngữ đầu thế kỉ XX rằng :

" Đồng thời với báo chí tiếng Pháp là sự khai trương của nền báo chí quốc

ngữ ở Nam kì với Gia định báo ( 1865) Đầu thế kỉ XX, báo chí quốc ngữ đã được

mở rộng ra Bắc kì và toàn cõi nước ta, trở thành một công việc truyền thông có ý nghĩa Từ ngôn ngữ báo chí, một kênh mới đã mở ra cho văn học nước ta theo logic: không có ngôn ngữ báo chí thì không thể có văn xuôi mới Không có văn xuôi mới

thì cũng không thể có ngôn ngữ văn học cho các thể loại mới ơ nước ta, ngôn ngữ

vân học hiện đại đ ã ra đời trước hết bằng con đường của ngôn ngữ báo chí Ngón

33

Trang 37

ngữ thông tấn và ngôn ngữ bình luận là bước đi thứ nhất của ngôn ngữ văn xuôi tự

sự sau này."23

Cũng không phải ngẫu nhiên, trong phần kết luận của sách Báo chí Việt nam

từ khỏi thuỷ đến 1945 24, tác giả Huỳnh Văn Tòng đã đưa ra kết luận đầu tiên quan

trọng là về mối quan hệ giữa báo chí và văn học Việt Nam, với nhận xét rất đáng

lưu ý sau: "Trong lĩnh vực này, ta thấy văn học Việt Nam hiện đại thoát thai từ báo chí khác với trường hợp ở các nước phương Tày là văn học đẻ ra báo chí Ta nên nhìn nhận người Pháp khởi xướng việc làm báo, bấy giờ, báo chí là phương tiện duy nhất mà nhà văn Việt Nam có thể trau dồi chữ quốc ngữ Các tạp chí, tuần báo viết bằng Việt ngữ do các nhà văn Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Hoàng Tích Chu chủ trương đã góp phần xây dựng và trau dồi cho nền văn học hiện đại.Thoạt tiên văn học phát triển ở miền Nam ( nhờ phương tiện ấn loát dồi dào) vang dội đến miền Bắc, khác hơn trường hợp trước kia, chữ Nho và việc khoa cử phát triển ở miền Bắc trước tiên rồi lần hồi vào Nam

Nhờ báo chí mà tiếng Việt được thuần nhất khắp ba miền Bắc, Trung, Nam Người miền này làm quen với cách hành vãn, với những ngôn từ của miền kia, báo chí ba miền trở thành những viên gạch xây đắp cho toà nhà văn học duy nhất của Việt Nam"

Từ năm 1933, trong bài diễn thuyết Báo giới và Văn học Quốc ngữ tại Hội

Nam kì khuyên học, Thiếu Sơn đã nhận định: " Như vậy là chữ Quốc ngữ đã thắng được chữ Tây, cũng như chữ Nôm đã được ông cha ta dùng thay chữ Tàu vậy Chữ Quốc ngữ của ta bây giờ, chỉ trong vòng hai mươi năm nay đã có được cái địa vị vô cùng Thế là chữ Quốc ngữ đắc thắng Mà sự đắc thắng này không những ta đã thấy ở báo giới Nam kì mà thôi Cả báo giới Bắc kì cũng thấy bày ra cái hiện tượng khả quan đó"25

Trong buổi đầu chữ Quốc ngữ báo chí, khởi đi từ Nam kì ra Bắc kì như thế,

có thể có sự khác biệt nào đó Nhưng rồi dần dà, sự giao lưu hoà nhập đã nhanh

Chương đã dần, trang 807.

'* Huỳnh Văn Tòng Báo ch í v i ệ t N am lừ khởi rlutý đến 1945 N xb TP HCM, 2000, tr.416

25 Dẫn theo Lịch sử b á o ch í V iệt N am Tr 233.

34

Trang 38

chóng xoá bỏ sự khác biệt này, đến mức, trong những ngày tháng đó, Phan Khôi

phải lên tiếng khen: " Không có văn Nam kì và cũng không có văn Bắc kì, chỉ có văn Việt Nam thôi"26 Bằng Giang, trong một cuốn sách khác27, đã nhận xét:" Trong những năm 10, 20 của thế kỉ này( thế kỉ XX), các nhà báo ở Bắc, Trung vào Nam sinh sống bằng cây viết Có vài người ở vài năm rồi về, có người đi đi lại lại, cũng

có người ở luôn: Tản Đà, Phan Khôi, Đào Trinh Nhất, Trần Huy Liệu, Bùi Thế Mỹ,

Phan Kế Bính, Ngô Tất T ố

Từ khi đường xuyên Việt được hoàn thành (1936), việc phát hành sách báo

thêm thuận lợi, sự đi lại giữa các địa phương trong nước phần nào thuận lợi hơn

trước Tờ báo Thanh Niên của kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát ( 7-4-1943 đến 30-4-

1944) hăng hái cổ vũ cho sự thống nhất dân tộc, đi dần đến sự thống nhất tiếng Việt Những sự kiện đó đã thâu ngắn khoảng cách văn xuôi của hai miền đất nước"

Vậy nên, các nhà nghiên cứu báo chí và văn học Việt Nam hiện đại thế kỉ

XX đều rất lưu ý đến mối quan hệ độc đáo giữa văn học và báo chí Huỳnh Văn Tòng còn đưa ra lời khuyên, hay đúng hơn, là sự phân tích cụ thể, để cho rằng, đó là việc tất nhiên phải làm, như sau:

"Khi nghiên cứu vãn học hiện đại, chúng ta hẳn chú ý rằng đa số các tác phẩm vãn học đểu đăng trước nhất trên mặt báo, sau đó mới in thành sách Bởi vậy theo thiển ý của chúng tôi, muốn nghiên cứu văn học hiện đại, ta nên xem qua lịch

sử báo chí Các nhà văn nổi tiếng lúc bấy giờ thường dùng báo chí để đãng tải các tác phẩm văn học do họ sáng tác

Tuy nhiên, điều ấy có thể gây bất lợi, báo chí làm cản trở sự sáng tạo đúng mức của các nhà vãn( vì đăng báo là phải viết theo thị hiếu, cho ăn khách), nếu làm theo ý riêng của mình thì khó đăng được và khó có tiền nhuận bút( nhà thơ Tản Đà

đã trả lời , khi người của nhà báo đến lấy bài:" Làm thơ đâu giống như bửa củi, lúc

nào cũng bửa đư ợc!"M ột số nhà văn đã học quốc ngữ, viết văn đãng báo được độc

“ Dẫn theo Lịch sử báo chí Việt Nam Tr 234.

27 Dản theo Lịch sử b á o c lú V iệt N am Tr 234 Bằng Giang Văn học quốc ngữ ờ Nam kì 1863-1930 N xb Trẻ, TP

HCM, 1992 ti'385, 386.

35

Trang 39

giả tán thưởng rồi trở thành nhà báo chuyên nghiệp Nhưng làm báo đòi hỏi nhiều thì giờ: như coi sóc, sửa chữa bài vở, đi điều tra, đi phỏng vấn Khi đã vào nghề rồi, làm sao còn thì giờ rảnh rang và đầu óc thảnh thơi để nghĩ đến chuyện sáng tác văn chương thơ phú.

Nhưng mặt khác, ta nên nhìn nhận rằng văn chương hiện đại phát triển nhờ sự

trợ giúp tích cực của báo chí, nơi đăng tải các tác phẩm và những bài phê bình, khảo

lu ậ n " 28

Lịch sử báo chí Việt nam 29 còn cho rằng, việc văn học Việt Nam thoát thai

từi báo chí là một đặc điểm độc đáo đến mức, khiến nhiều nhà nghiên cứu nước

ngoài cũng chú ý: " Thậm chí, trong cuốn Nhập môn văn học Việt Nam, Durand và

Nguyễn Trần Huân đã nhìn nhận, báo chí như một bộ phận của tiến trình văn học,

và được coi là một chương" của bộ sách này với ý nghĩa như một thể loại, một động lực của văn học"

Tuy nhiên, chính cuốn sách này cũng bổ sung thêm một khía cạnh quan trọng: " Vấn đề cũng không chỉ là phương tiện Một thời gian dài, gần như tất cả các sáng tác văn học, kể cả dịch thuật đều đăng tải trên báo chí, từ những tờ đầu

tiên ở Sài Gòn, đến những tờ nổi tiếng như Phong Hoá, Ngày Nay, Tao Đàn, Tiểu

thuyết thứ Bảy, Phụ N ữ Tân Văn, Hữu Thanh, V án đề còn là, khi Văn chưa tách

khỏi Báo ( Giữa thập kỉ 30 trở về trước) thì phần lớn các nhà văn đều phải đi từ nghề

Vả lại, cũng thật khác biệt với báo chí nhiều nước, báo chí nước ta, dù là báo

kinh tế hay báo chí tôn giáo, cũng luôn luôn giữ mục Văn uyển ( Vườn vãn), thậm

chí trang văn học, trang tiểu thuyết( dịch, sáng tác) thường kì trở nên một chuyên mục, câu khách ", v ề những chủ thể viết này, Phan Ngọc có lí khi tổng kết ở luận

điểm sáu, trong chương Tiếp xúc văn hoá Việt-Pháp ( Sách Bản sắc văn ìioá Việt

Nam), rằng : " Tầng lớp sĩ phu yêu nuớc từ 30 trở đi, không lãnh đạo văn học, bởi

vì họ có chống Tống Nho đến đâu, con đường sẽ đi vẫn không phải là chuvển hoá

21 Sdd, tr 416,417

M Sdd tr235

36

Trang 40

Nho giáo, mà là chấp nhận hệ tư tưởng phương Tây, nhằm điều chỉnh nó cho hợp

vói yêu cầu dân tộc Trong số những người Tây học, bộ phận học cao hơn, tốt

nghiệp các trường đại học trong nước hay ngoài nước về cơ bản không tham gia

cuộc đổi mới nếu họ tham gia vào bộ máy cai trị Muốn là nhà văn của giai đoạn

mới phải là người ngoài lề, tức là sống đơn thuần bằng ngòi bút, hay dạy tư, không

ăn lương của Pháp, hay nửa ngoài lề, tức là nếu có sống bằng đồng lương thì phải làm những công việc đơn thuần văn hoá, xã hội, không phải nghề cai trị Đó là trường hợp các nhà giáo, các bác sĩ , kĩ sư."30

Riêng về tiểu thuyết, dựa trên ý kiến của Vương Hồng sển, trong sách Sài

Gòn năm xưa ( Nxb Tự Do, Sài Gòn 1959, tr 173), Huỳnh Văn Tòng nhận định:

"Trong làng báo Việt Nam, ngay từ những bước đầu, loại tiểu thuyết nhiều kì vẫn chưa chiếm địa vị quan trọng bên cạnh những bài vở khác Thoạt tiên, trên

Đông Dương Tạp Chí ta gặp những truyện Tàu, dịch từng kì báo, được độc giả lưu ý

và tán thưởng Hai dịch giả tài danh này là Phan K ế Bính và Nguyễn Đỗ Mục Bộ

Tam Quốc Chí do Phan K ế Bính dịch ra Việt văn là công trình có giá trị lớn cũng

như bộ Đông Chu Liệt Quốc do Nguyễn Đỗ Mục dịch, cũng đăng trên Đông Dương

Tạp Chí, được giới trí thức và luôn cả giới bình dân ưa chuộng Báo chí ở Nam kì

thời ấy cũng dành cho truyện Tàu một vị trí quan trọng: truyện Tiền Hán Hậu Hán, Tiền Đường do Nguyễn Chánh sắt, Nguyễn An Khương dịch

Điều đáng chú ý là mãi đến lúc sau này, tiểu thuyết nhiều kì vẫn còn nắm ưu thế, trong tờ báo 4 trang, tiểu thuyết có khi chiếm hết hai trang bên trong."31

Khi tổng kết về tiếp xúc văn hoá của giai đoạn 1930-1945 về phương diện văn học, Phan Ngọc nhìn nhận rằng, ở Việt Nam, đây chính là " giai đoạn phản ánh đầy đủ các xu hướng của văn học Pháp Điều này một phần được chuẩn bị bởi những thay đổi xã hội : sự ra đời những thành phố, cùng với những thay đổi của nó trong giai đoạn mới : điện, nước máy, điện thoại, tầng lớp thương nhân và tầng lớp

*’ Sdd.Phan Ngọc.tr456.

51 Sdd, Huỳnh Văn Tòng, tr417.418.

37

Ngày đăng: 27/03/2015, 12:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh, Việt Nam văn hoá sử cương, NXB Văn hoá thông tin, H, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá sử cương
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
2. Đào Tuấn Ảnh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Hoài Thanh, V ăn học hậu hiện đại th ế giới - những vấn đ ề lý thuyết, NXB Hội nhà văn - Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, H, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: V ăn học hậu hiện đại th ế giới - những vấn đ ề lý thuyết
Nhà XB: NXB Hội nhà văn - Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây
3. Huỳnh Phan Anh, Không gian và khoảnh khắc văn chương, NXB Hội nhà vãn, H, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không gian và khoảnh khắc văn chương
Nhà XB: NXB Hội nhà vãn
4. Lại Nguyên Ân, Sống với văn học cùng thời, NXB Văn học, H, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống với văn học cùng thời
Nhà XB: NXB Văn học
5. Lại Nguyên Ân (biên soạn), 150 thuật ngữ văn học, NXB ĐHQGHN, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB ĐHQGHN
Năm: 1999
6. Yên Ba, Những mảnh kí ức, NXB Lao Động, H, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những mảnh kí ức
Nhà XB: NXB Lao Động
7. Nguyễn Phan Cảnh, Ngôn ngữ thơ, NXB. Vãn hoá thông tin, H, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Nhà XB: NXB. Vãn hoá thông tin
8. Nguyễn Văn Dân, Nghiên cứu văn học - Lí luận và ứng dụng, NXB Giáo dục, H, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn học - Lí luận và ứng dụng
Nhà XB: NXB Giáo dục
9. Nguyễn Văn Dân, Phương pháp luận nghiên cihi văn học, NXB Khoa học xã hội, H, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cihi văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2004
10. Trần Trí Dõi, Tliực trạng giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc miền núi ba tỉnh plúa bắc Việt Nam - Những kiến nghị và giải pháp, NXB ĐHQGHN, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tliực trạng giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc miền núi ba tỉnh plúa bắc Việt Nam - Những kiến nghị và giải pháp
Tác giả: Trần Trí Dõi
Nhà XB: NXB ĐHQGHN
Năm: 2004
11. Vũ Dung, Vũ Thuý Anh, Vũ Quang Hào, T ừ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, NXB Văn hoá thông tin, H, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T ừ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
12. Đức Dũng, Sáng tạo tác phẩm báo chí, NXB Văn hoá thông tin, H, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tạo tác phẩm báo chí
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
13. Đức Dũng, Viết báo lìlìiỉ thê nào, NXB Văn hoá thông tin, H, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viết báo lìlìiỉ thê nào
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
14. Đức Dũng, Các th ể ký báo chí, NXB Văn hoá thông tin, H, 2003 (tái bản lần thứ 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các th ể ký báo chí
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
15. Đặng Anh Đào, Tài năng và người thưởng thức, NXB Hội nhà văn, H, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài năng và người thưởng thức
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
16. Phan Cự Đệ, Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, NXB Giáo dục, H, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Nhà XB: NXB Giáo dục
17. Phan Cự Đệ (Chủ biên), Văn học Việt Nam thê XX, NXB Giáo dục, H, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thê XX
Nhà XB: NXB Giáo dục
18. Hà M inh Đức (Chủ biên ), L í luận văn học, NXB Giáo dục, H, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: L í luận văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục
19. Hà M inh Đức, Khảo luận văn chương, NXB Khoa học xã hội, H, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo luận văn chương
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1998
20. Hà Minh Đức, Sự nghiệp báo chí và văn học của H ồ C hí M inh, NXB Giáo dục, H, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự nghiệp báo chí và văn học của H ồ C hí M inh
Nhà XB: NXB Giáo dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w