Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 1 BÀI GIẢNG MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ MÔ TẢ MÔN HỌC Trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản: chức năng tài chính tiền tệ và cấu
Trang 1Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 1
BÀI GIẢNG MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
MÔ TẢ MÔN HỌC
Trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản: chức năng tài chính tiền tệ và cấu trúc hệ thống tài chính trong nền kinh tế; hoạt động của thị trường tài chính, các tổ chức tài chính trung gian, hoạt động khu vực tài chính nhà nước: ngân sách
và chính sách tài khóa, hoạt động khu vực tài chính doanh nghiệp; vốn, nguồn vốn, quản lý vốn, hoạt động của hệ thống ngân hàng (ngân hàng thương mại, ngân hàng trung ương) nhằm ổn định tiền tệ, cung ứng vốn, dịch vụ thanh toán…cho nền kinh tế
Mục tiêu:
Môn học này cung cấp cho sinh viên những kiến thức, những khái niệm và những nội dung chủ yếu về Tài chính, Tiền tệ, Tín dụng và Ngân hàng Nó có tác dụng làm cơ sở bổ trợ cho việc nghiên cứu các môn kinh tế ngành
Trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về phạm trù tài chính và tiền
tệ trong nền kinh tế thị trường giúp cho sinh viên hiểu, nhận thức và có khả năng ứng dụng những vấn đề cơ bản về tài chính và tiền tệ ở gốc độ vĩ mô và vi
mô
Yêu cầu:
Sinh viên dự lớp phải đọc trước bài giảng, giáo trình, phát hiện vấn đề, nghe giảng, nêu các vấn đề và tham gia thảo luận về các vấn đề mà giáo viên và sinh viên khác đặt ra trong từng chương và liên kết các chương
- Bài tập : chuẩn bị và làm các bài tập, phát hiện vấn đề, tham gia giải và sửa bài tập trên lớp
- Đọc tài liệu tham khảo, tham gia thảo luận và các vấn đề lý thuyết trên lớp
Trang 2Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 2
Giảng bài Thảo
VIII Các định chế tài chính trung gian 5 5
IX Hệ thống ngân hàng thương mại
Trang 3Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 3
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÀI CHÍNH
MỤC TIÊU CỦA CHƯƠNG
Sinh viên nắm được các nội dung cơ bản sau:
- Tiền đề ra đời, tồn tại và phát triển của Tài chính
- Biểu hiện bên ngoài và bản chất bên trong của Tài chính
- Chức năng của Tài chính ( Hiểu và nắm được mối quan hệ giữa các chức năng)
- Các khâu trong hệ thống tài chính nước ta hiện nay
- Khái niệm và nội dung của chính sách tài chính quốc gia
I Tiền đề ra đời, tồn tại và phát triển của Tài chính
Tiền đề ra đời của tài chính
Tài chính là một phạm trù kinh tế - lịch sử Sự ra đời, tồn tại và phát triển của nó gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người Từ toàn bộ lịch sử phát sinh, phát triển của tài chính chúng ta thấy: Tài chính chỉ ra đời và tồn tại trong những điều kiện lịch sử nhất định, khi mà ở đó có những hiện tượng kinh tế - xã hội khách quan nhất định xuất hiện và tồn tại Có thể xem những hiện tượng kinh tế - xã hội khách quan đó là những tiền đề khách quan quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của tài chính
Khi đề cập đến phạm trù tài chính, hiện có nhiều quan điểm khác nhau về
Trang 4Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 4
vấn đề này
Định nghĩa 1: Dựa vào quan điểm của Drake, theo nghĩa hẹp, tài chính đơn
thuần phản ánh hoạt động thu, chi tiền tệ của chính phủ; còn theo nghĩa rộng hơn, tài chính phản ánh các khoản vay và cho vay ảnh hưởng đến mức cung tiền
Định nghĩa 2: Theo từ điển kinh tế học hiện đại, tài chính biểu thị vốn dưới các
dạng tiền tệ, nghĩa là ở dạng các khoản có thể vay mượn hay đóng góp vốn thông qua thị trường tài chính hay các định chế tài chính
a Tiền đề thứ nhất: Sự ra đời và tồn tại của Nhà nước
Trong các hình thái xã hội có Nhà nước, tài chính đã từng tồn tại với tư cách là một công cụ trong tay Nhà nước để phân phối sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, đảm bảo cho sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước Nhà nước đầu tiên trong xã hội loài người là Nhà nước chủ nô, cùng với sự xuất hiện và tồn tại của nó, những hình thức sớm của tài chính như thuế cũng bắt đầu xuất hiện
Khi một hình thái xã hội mới thay thế một hình thái xã hội cũ, thì một nền tài chính mới ra đời phù hợp với hình thái Nhà nước mới F Ănghen viết :
“Để duy trì quyền lực công cộng đó, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước, đó là thuế má Với những bước tiến của văn minh thì bản thân thuế má cũng không đủ nữa; Nhà nước còn phát hành hối
Trang 5Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 5
phiếu vay nợ, tức là phát hành công trái”
Trong các chế độ xã hội phát triển, các Nhà nước với chức năng quản
lý xã hội trong mọi lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo dục, quốc phòng… đều tăng cường tài chính của mình
Như vậy, có thể nói rằng trong điều kiện lịch sử nhất định khi có sự xuất hiện, tồn tại và hoạt động của Nhà nước thì có sự xuất hiện, tồn tại và hoạt động của tài chính
b Tiền đề thứ hai: Sự tồn tại và phát triển của kinh tế hàng hoá - tiền
tệ
Lịch sử phát triển của tài chính cho thấy rằng, khi những hình thức tài chính đầu tiên xuất hiện theo sự xuất hiện của Nhà nước (thuế) thì đã có sự xuất hiện và tồn tại của sản xuất hàng hoá - tiền tệ, và hình thức tiền tệ đã được sử dụng trong lĩnh vực của các quan hệ tài chính như một tất yếu
Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, thuế bằng tiền đã được áp dụng (như thuế quan, thuế gián thu, thuế chợ, thuế tài sản…) Trong chế độ phong kiến, theo với sự mở rộng các quan hệ thị trường, sản xuất hàng hoá và tiền tệ, lĩnh vực của các quan hệ thuế bằng tiền đã mở rộng và tiến hành thường xuyên hơn (như thuế đất, thuế gián thu với vật phẩm tiêu dùng, thuế hộ gia đình…), tín dụng Nhà nước cũng bắt đầu phát triển
Với sự phát triển vượt bậc của kinh tế hàng hoá - tiền tệ thu nhập bằng tiền qua thuế và công trái đã trở thành nguồn thu chủ yếu của Nhà nước Theo với thu nhập bằng tiền, chi tiêu bằng tiền đã làm phong phú các hình thức chi tiêu và linh hoạt trong khi sử dụng vốn Chính trong thời kỳ phát triển kinh tế tư bản, ngân sách Nhà nước - một loại quỹ tiền tệ tập trung đã được hình thành và ngày càng có tính hệ thống chặt chẽ, ngày càng đóng vai trò quan trọng phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị
Kinh tế hàng hoá tiền tệ càng phát triển, thì hình thức giá trị tiền tệ càng
Trang 6Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 6
trở thành hình thức chủ yếu của thu nhập và chi tiêu của Nhà nước Kinh tế hàng hoá - tiền tệ đã mở rộng lĩnh vực của các quan hệ tài chính Nền kinh tế
tư bản ra đời và phát triển, thì hình thức giá trị tiền tệ của các quan hệ tài chính
đã là một yếu tố bản chất của tài chính Như vậy, sự tồn tại và phát triển của kinh tế hàng hoá - tiền tệ là một tiền đề khách quan quyết định sự ra đời và phát triển của tài chính
Khi nói đến tiền đề của tài chính, một số nhà lý luận kinh tế nhấn mạnh đến tiền đề thứ nhất - tức là nhấn mạnh đến sự tồn tại của Nhà nước; nhưng một số nhà kinh tế khác không tán thành quan điểm đó; các nhà kinh tế này đưa
ra ví dụ về một Nhà nước Khơ-me không thừa nhận nền kinh tế hàng hoá tiền
tệ, do đó không có nền tài chính Nhiều nhà lý luận kinh tế nhất trí nhấn mạnh đến tiền đề thứ hai Theo các nhà kinh tế học này, đặc biệt nhấn mạnh đến sự ra đời và tồn tại của tiền tệ và cho rằng đây là tiền đề có tính chất quyết định sự ra đời và tồn tại của tài chính Các nhà lý luận này dẫn chứng bằng thời kỳ kinh tế xã hội chủ nghĩa, khi đó Nhà nước XHCN không thừa nhận nền kinh tế hàng hoá, nhưng tồn tại tiền tệ nên vẫn tồn tại một nền tài chính
II Bản chất của Tài chính
1 Biểu hiện bên ngoài của tài chính
Biểu hiện bên ngoài của tài chính thể hiện ra dưới dạng các hiện tượng thu vào bằng tiền và các hiện tượng chi ra bằng tiền ở các chủ thể kinh tế - xã hội, chẳng hạn:
+Doanh nghiệp, dân cư nộp thuế bằng tiền cho nhà nước
+ Ngân hàng cho các doanh nghiệp vay vốn
+ Các cơ quan bảo hiểm trả tiền ( bồi thường thiệt hại) cho dân cư khi họ
bị mất sức lao động tạm thời hay vĩnh viễn ( từ quỹ Bảo hiểm xã hội) hay khi họ
bị tai nạn rủi ro ( từ quỹ Bảo hiểm kinh doanh)
Trang 7Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 7
+ Nhà nước cấp phát tiền từ Ngân sách nhà nước tài trợ cho việc xây dựng đường giao thông, trường học, bệnh viện công
Từ các hiện tượng tài chính đó cho thấy, trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá tiền tệ, sự vận động của vốn tiền tệ là tất yếu và diễn ra liên tục Sự vận động đó của vốn tiền tệ, xét theo ý nghĩa là sự thay đổi chủ sở hữu vốn tiền
tệ đó, có thể thấy các hiện tượng tài chính biểu hiện các quan hệ giữa những người chi trả với những người thu nhận vốn tiền tệ Sự vận động của vốn tiền
tệ đã làm thay đổi lợi ích kinh tế của họ
Khái niệm nguồn tài chính: Tài chính phản ánh hoạt động chuyển giao
tiền tệ giữa các chủ thề với nhau Sự chuyển giao dựa theo quan hệ cung cầu Khối lượng để thực hiện một giao dịch được gọi là nguồn TC, hay còn gọi là VKD, quỹ tiền tệ,
Theo nghĩa hẹp: Nguồn TC là khối lượng tiền tệ có tính lỏng cao mà các
Ngoài ra nguồn tài chính còn bao gồm các dạng tài sản như bất động
sản, sờ hữu trí tuệ và các loại tài sản vô hình khác có khả năng tiền tệ hóa
2 Nội dung bên trong của tài chính
Nguồn tài chính trong xã hội luôn vận động một cách liên tục và trong mối quan hệ chằng chịt, đa dạng giữa các chủ thể trong xã hội dẫn tới việc làm thay đổi lợi ích kinh tế của các chủ thể đó
Thể hiện và phản ánh các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể trong quá
trình phân phối các nguồn tài chính
Tài chính được hiểu như sau:
Tài chính thể hiện ra là sự vận động của vốn tiền tệ diễn ra ở mọi chủ thể
Trang 8Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 8
trong xã hội Nó phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội
III Chức năng của Tài chính
Chức năng của tài chính là sự cụ thể hoá bản chất của tài chính, nó mở
ra nội dung của tài chính và vạch rõ tác dụng xã hội của tài chính Chức năng của tài chính là khả năng bên trong, biểu lộ tác dụng xã hội của nó và tác dụng
đó chỉ có thể có được với sự tham gia nhất thiết của con người
Tài chính vốn có ba chức năng cơ bản, chức năng huy động nguồn tài chính, chức năng phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới dạng hình thái tiền
tệ và chức năng giám đốc bằng tiền đối với toàn bộ hoạt động kinh tế xã hội (gọi tắt là chức năng giám đốc)
1 Chức năng huy động nguồn TC
Khái niệm: Chức năng huy động nguồn TC hay còn gọi là chức năng huy
động vốn, thể hiện khả năng tổ chức khai thác các nguồn TC nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế
Chức năng này được thực hiện trên cơ sở tương tác các yếu tố:
Chủ thể cần vốn
Các nhà đầu tư
Hệ thống tài chính gồm thị trường tài chính và các định chế tài chính
Môi trường tài chính và kinh tế
Để thực hiện được phải thỏa mãn các yêu cầu đặt ra là:
Về thời gian: kịp thời
Về kinh tế: chi phí thấp và có tính cạnh tranh
Về mặt pháp lý: tuân thủ quy định pháp luật
2 Chức năng phân phối
Khái niệm: Chức năng phân phối của tài chính là chức năng mà nhờ vào
Trang 9Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 9
đó, các nguồn tài lực đại diện cho những bộ phận của cải xã hội được đưa vào các quỹ tiền tệ khác nhau để sử dụng cho những mục đích khác nhau và những lợi ích khác nhau của đời sống xã hôi
- Đối tượng phân phối: là của cải xã hội dưới hình thức giá trị, là tổng thể
các nguồn tài chính có trong xã hội
Trong các tổ chức kinh tế, sản phẩm làm ra sau khi tiêu thụ và thu được tiền,
được tiến hành phân phối Một phần được sử dụng để bù đắp vốn cố định và vốn lưu động đã tiêu hao Một phần trả lương cho người lao động Một phần nộp cho Nhà nước dưới hình thức các loại thuế Một phần nộp quỹ bảo hiểm
xã hội Phần còn lại để hình thành nên các quỹ của doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và phân chia lợi tức cho người góp vốn
Trang 10Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 10
Phân phối lần đầu, mới chỉ tạo ra những khoản thu nhập cơ bản, chưa thể đáp
ứng nhu cầu của xã hội Do đó phải trải qua quá trình phân phối
lại
Phân phối lại thu nhập là tiếp tục phân phối những phần thu nhập cơ bản được hình thành qua phân phối lần đầu, để đáp ứng nhu cầu tích luỹ và tiêu dùng của toàn xã hội (các ngành không sản xuất: Quân đội, Giáo dục, Y tế…)
Mục đích của phân phối lại là:
Bổ sung thêm vào Ngân sách Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho toàn xã hội
Tạo ra nguồn thu nhập cho các lĩnh vực không sản xuất vật chất và những người làm việc trong các lĩnh vực đó
Điều hoà thu nhập giữa các ngành, giữa các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế, các tầng lớp dân cư
Điều tiết các hoạt động kinh tế trên phạm vi vĩ mô
Phân phối lại được tiến hành thông qua ba biện pháp: Biện pháp tài chính – tín dụng, biện pháp giá cả và hoạt động phục vụ Trong đó, biện pháp tài chính – tín dụng giữa vai trò trung tâm
3 Chức năng giám đốc
Khái niệm: Chức năng giám đốc của tài chính là chức năng mà nhờ vào
đó việc kiểm tra bằng đồng tiền được thực hiện đối với quá trình vận động của các nguồn tài chính để tạo lập các quỹ tiền tệ hay sử dụng chúng theo các mục đích đã định
Thứ nhất: Giám đốc của tài chính là sự giám đốc bằng tiền thông qua sử
dụng chức năng thước đo giá trị và chức năng phương tiện thanh toán của tiền
Trang 11Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 11
tệ trong vận động của tiền vốn để tiến hành giám đốc
Thứ hai: Giám đốc bằng tiền của tài chính là sự giám đốc bằng tiền thông
qua phân tích các chỉ tiêu tài chính – các chỉ tiêu phản ánh tổng hợp toàn bộ các hoạt động của xã hội và của các doanh nghiệp
Thứ ba: Giám đốc bằng tiền của tài chính còn được thực hiện đối với sự
vận động của tài nguyên trong xã hội
Thực hiện chức năng giám đốc, tài chính nhằm mục đích sau:
- Đảm bảo việc sử dụng các nguồn lực khan hiếm môt cách có hiệu quả, tiết kiệm tới mức tối đa các yếu tố sản xuất trong xã hội
- Bảo đảm sử dụng vốn đạt hiệu quả cao
- Bảo đảm việc chấp hành pháp luật trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh
Nội dung Giám đốc tài chính, gồm có những nội dung chính sau:
- Giám đốc tài chính trong quá trình thành lập và thực hiện kế hoạch Ngân sách Nhà nước
- Giám đốc tài chính trong các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế dựa trên
cơ
sở chế độ hạch toán kinh tế và hợp đồng kinh tế
- Giám đốc tài chính trong quá trình cấp phát, cho vay và thanh toán vốn đầu tư XDCB
Ngoài ra, Giám đốc tài chính còn được thực hiện trong các hộ kinh tế dân
cư
Giám đốc tài chính dù thực hiện ở đâu, cũng đều là sự giám đốc toàn diện mặt giá trị đối với quá trình hình thành phân phối và sử dụng các nguồn vốn trong quá trình hoạt động của từng khâu và trong toàn xã hội
Hai chức năng của tài chính có mối quan hệ hữu cơ, bổ sung cho nhau, trong đó việc thực hiện chức năng phân phối là tiền đề để thực hiện chức năng giám đốc, và ngược lại việc thực hiện tốt chức năng giám đốc sẽ tạo điều kiện
Trang 12Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 12
để thực hiện chức năng phân phối tốt hơn
Trên cơ sở nhận thức được bản chất, chức năng của tài chính, hoạt động của tài chính mới phát huy được vai trò của nó trong nền kinh tế
IV Hệ thống tài chính nước ta trong giai đoạn xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN
1.Quan niệm hệ thống tài chính và khâu tài chính
Hoạt động của con người về sử dụng phạm trù tài chính tồn tại khách quan là hoạt động tài chính Trong đời sống thực tiễn, hoạt động tài chính luôn gắn liền với các hoạt động kinh tế - xã hội
Hệ thống tài chính là tổng thể các luồng vận động của các nguồn tài chính trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân, nhưng có quan hệ hữu cơ với nhau về việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ ở các chủ thể kinh tế - xã hội hoạt động trong các lĩnh vực đó
Hệ thống tài chính nước ta hiện nay bao gồm các khâu:
Trang 13Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 13
a)Ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia
Đây là một “ tụ điểm “ của các nguồn tài chính gắn với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước với mục đích phục vụ cho sự hoạt động của bộ máy Nhà nước các cấp và thực hiện các chức năng của Nhà nước trong quản lý kinh tế - xã hội
b) Tài chính Doanh nghiệp
Tài chính Doanh nghiệp là khâu cơ sở trong hệ thống tài chính quốc gia
Đây là một “ tụ điểm “ của các nguồn tài chính gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá hay dịch vụ Hoạt động Tài chính Doanh nghiệp luôn gắn liền với các chủ thể của nó là các doanh nghiệp (pháp nhân hay thể nhân)
c) Bảo hiểm
Bảo hiểm là một khâu trong hệ thống tài chính nước ta Bảo hiểm có
Trang 14Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 14
nhiều hình thức và nhiều quỹ tiền tệ khác nhau, nhưng tính chất chung và đặc biệt của các quỹ bảo hiểm là được tạo lập và sử dụng để bồi thường tổn thất nhiều dạng cho những chủ thể tham gia bảo hiểm tuỳ theo mục đích của quỹ
Theo tính chất của hoạt động bảo hiểm, bảo hiểm được chia thành hai nhóm:
Bảo hiểm kinh doanh: ( bao gồm bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con người
và các nghiệp vụ bảo hiểm khác) được hình thành từ sự đóng góp của những người ( thể nhân
d) Tín dụng
Tín dụng là một khâu quan trọng của hệ thống tài chính Đặc trưng cơ bản của tín dụng là gắn liền với các quỹ tiền tệ được tạo lập bằng việc thu hút các nguồn tài chính tạm thời nhàn rỗi và sử dụng để cho vay theo nguyên tắc hoàn trả có thời hạn và có lợi tức
e) Tài chính các tổ chức xã hội và Tài chính hộ gia đình (dân cư)
Các tổ chức xã hội là khái niệm chung để chỉ các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể xã hội, các hội nghề nghiệp Các tổ chức này còn được gọi là các tổ chức phi chính phủ
Các tổ chức xã hội có quỹ tiền tệ riêng để đảm bảo hoạt động của mình,
và được hình thành từ nhiều nguồn rất đa dạng: hội phí đóng góp từ các thành viên tham gia tổ chức; quyên góp, ủng hộ, biếu tặng của các tập thể, cá nhân; tài trợ từ nước ngoài; tài trợ của Chính phủ và nguồn từ những hoạt động có thu của các tổ chức này Các quỹ tiền tệ của các tổ chức xã hội chủ yếu được sử dụng cho mục đích tiêu dùng trong hoạt động của các tổ chức đó Khi quỹ chưa được sử dụng, số dư ổn định của chúng có thể tham gia thị trường tài chính thông qua các quỹ tín dụng hoặc các hình thức khác ( mua tín phiếu, trái phiếu )
V Chính sách tài chính quốc gia
Trang 15Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 15
1 Khái niệm
Chính sách tài chính quốc gia là chính sách của nhà nước về sử dụng các công cụ tài chính bao gồm hệ thống các quan điểm, mục tiêu, chủ trương và giải pháp về tài chính - tiền tệ của nhà nước phù hợp với đặc điểm của đất nước trong từng thời kỳ nhằm bồi dưỡng, khai thác, huy động và sử dụng các nguồn tài chính đa dạng phục vụ có hiệu quả cho việc thực hiện các kế hoạch và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia trong thời kỳ tương ứng
2 Nội dung
Chính sách tài chính quốc gia bao gồm nhiều nội dung phong phú và phức tạp bao quát mọi khâu của hệ thống tài chính và mọi lĩnh vực hoạt động khác nhau của tài chính Ví dụ:
- Chính sách đối với hoạt động của một khâu tài chính, như chính sách ngân sách
- Chính sách đối với một lĩnh vực hoạt động nào đó của tài chính, như chính sách tài chính đối ngoại
- Chính sách về sử dụng các công cụ tài chính, như chính sách thuế, chính sách lãi suất, chính sách tỷ giá
- Chính sách đối xử của Nhà nước ( về mặt tài chính ) đối với một chủ thể hay một lĩnh vực hoạt động nào đó, như: chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách tài trợ, chính sách bảo hộ
Có thể khái quát các nội dung của chính sách tài chính quốc gia thành các
bộ phận chính sách sau đây:
a Chính sách phát triển nguồn lực tài chính
Bộ phận chính sách này bao gồm các giải pháp sử dụng các công cụ tài chính - tiền tệ nhằm thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định, phát triển bền vững, từ đó gia tăng nguồn lực tài chính cho xã hội
b Chính sách khai thác, động viên nguồn lực tài chính
Trang 16Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 16
Bộ phận chính sách này bao gồm các giải pháp sử dụng các công cụ tài chính để khơi dậy, giải phóng các nguồn lực tài chính trong các thành phần kinh
tế, các lĩnh vực hoạt động khác nhau, đưa chúng vào quá trình vận động của chu trình tuần hoàn kinh tế đáp ứng yêu cầu của các hoạt động kinh tê - xã hội, đồng thời để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia vào tay Nhà nước phục vụ các nhu cầu chung có tính chất toàn xã hội
c Chính sách phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính
Bộ phận chính sách này bao gồm các giải pháp sử dụng công cụ tài chính
để phân bổ nguồn lực tài chính một cách hợp lý, đảm bảo các quan hệ cân đối lớn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời chi dùng nguồn lực tài chính một cách tiết kiệm và hiệu quả
Trang 17Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 17
CHƯƠNG 2: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIỀN TỆ
MỤC TIÊU CỦA CHƯƠNG
Sinh viên nắm được các nội dung cơ bản sau:
- Giới thiệu những kiến thức tổng quát về phạm trù tiền tệ nhằm hiểu rõ hơn mqh giữa TC và tiền tệ
- Đây cũng là chương lý luận cơ bản để đi vào những chương sau có liên quan mật thiết với lĩnh vực tiền tệ như: tín dụng, cung cầu tiền tệ, lạm phát
và ngân hàng trung ương
I SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN TIỀN TỆ
1 Khái quát quá trình phát triển của tiền tệ
Từ rất sớm trong lịch sử loài người đã xuất hiện nhu cầu phải có một hình thức tiền tệ làm trung gian trao đổi Tuy nhiên quá trình phát triển các hình thái của tiền tệ cho thấy khó có thể đưa ra một định nghĩa về tiền tệ được các nhà kinh tế học thống nhất và chấp nhận Trong tác phẩm góp phần phê phán khoa
kinh tế chính trị, K Marx viết “ Một khi người ta hiểu rằng nguồn gốc của tiền
tệ ở ngay trong hàng hoá, thì người ta đã khắc phục được các khó khăn chính trong sự phân tích tiền tệ” Nhưng Marx cũng chỉ ra rằng người chỉ nghiên cứu
tiền tệ và các hình thái tiền tệ trực tiếp sinh ra từ trao đổi hàng hoá chứ không nghiên cứu các hình thái tiền tệ thuộc về một giai đoạn cao hơn của quá trình sản xuất như tiền tín dụng chẳng hạn
Khi nói đến tiền tệ, hầu hết các nhà kinh tế học trước đây cũng cho rằng
đó là phương tiện trung gian trao đổi Điều này chỉ phù hợp và đúng với giai đoạn ban đầu khi con người bắt đầu sử dụng công cụ tiền tệ Quá trình phát triển của tiền tệ cho thấy tiền tệ không chỉ có vai trò trung gian trao đổi mà nó còn giúp cho chúng ta thực hiện các hoạt động đầu tư tín dụng… Ngoài ra, còn có những vật thể khác giữ vai trò trung gian trao đổi như chi phiếu, thương phiếu,
Trang 18Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 18
kỳ phiếu,… mà các nhà kinh tế học vẫn không thống nhất với nhau có phải là tiền tệ hay không Irving Fisher cho rằng chỉ có giấy bạc ngân hàng là tiền tệ, trong khi Conant Paul Warburg cho rằng chi phiếu cũng là tiền tệ Samuelson lại cho rằng tiền là bất cứ cái gì mà nhờ nó người ta có thể mua được hầu hết mọi thứ Theo Charles Rist thì cái thật quan trọng đối với nhà kinh tế không phải là
sự thống nhất về một định nghĩa thế nào là tiền tệ mà phải biết và hiểu hiện tượng tiền tệ
Các giai đoạn phát triển nền sản xuất hàng hóa:
Sản xuất tự cung – tự cấp
Sản xuất hàng hóa: H-H
Sản xuất hàng hóa - tiền tệ: H-T-H
Tiền ra đời do nhu cầu trao đổi của con người, sự ra đời của tiền được đánh dấu bởi sự phát triển của một loạt các hình thái giá trị
Khi mới ra đời, thực chất đồng tiền là một loại hàng hoá được quy ước làm vật ngang giá chung một cách rộng rãi
Định nghĩa: Tiền tệ là bất cứ thứ gì được chấp nhận chung để đổi lấy hàng hoá, dịch vụ hoặc để thanh toán các khoản nợ
2 Đặc trưng tiền tệ
- Tiền tệ phụ thuộc vào nhu cầu trao đổi
- Sức mạnh của tiền phụ thuộc vào sức mua của nó
- Sức mua của tiền được đo lường thông qua khả năng mua được nhiều hay ít hàng hoá
Trang 19Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 19
– Hoá tệ không kim loại
Sản xuất và trao đổi hàng hoá ngày càng phát triển Sự trao đổi không còn ngẫu nhiên, không còn trên cơ sở của định giá giản đơn Trao đổi đã vượt khỏi cái khung nhỏ hẹp một vài hàng hoá, giới hạn trong một vài địa phương Sự trao đổi ngày càng nhiều hơn đó giữa các hàng hoá đòi hỏi phải
có một hàng hoá có tính đồng nhất, tiện dụng trong vai trò của vật ngang giá,
có thể tạo điều kiện thuận lợi trong trao đổi, và bảo tồn giá trị Những hình thái tiền tệ đầu tiên có vẻ lạ lùng, nhưng nói chung là những vật trang sức hay những vật có thể ăn Thổ dân ở các bờ biển Châu Á, Châu Phi, trước đây
đã dùng vỏ sò, vỏ ốc làm tiền Lúa mì và đại mạch được sử dụng ở vùng Lưỡng Hà, gạo được dùng ở quần đảo Philippines Trước Công nguyên, ở Trung Quốc kê và lụa được sử dụng làm tiền…
Tiền tệ bằng hàng hoá có những bất tiện nhất định của nó trong quá trình phục vụ trao đổi như không được mọi người mọi nơi chấp nhận, dễ hư hỏng, không đồng nhất … do đó dẫn đến việc sử dụng hoá tệ bằng kim loại
– Hoá tệ bằng kim loại
Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển kèm theo sự mở rộng phân công lao động xã hội đồng thời với sự xuất thiện của Nhà nước và giao dịch quốc tế thường xuyên Kim loại ngày càng có những ưu điểm nổi bật trong vai trò của vật ngang giá bởi những thuộc tính bền, gọn, có giá trị phổ biến,… Những đồng tiền bằng kim loại: đồng, chì, kẽm, thiếc, bạc, vàng xuất hiện thay thế cho các hoá tệ không kim loại Tiền bằng chì chỉ xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc dưới dạng một thỏi dài có lỗ ở một đầu để có thể xâu thành chuỗi Tiền bằng hợp kim vàng và bạc xuất hiện đầu tiên vào những năm 685 –
652 trước Công nguyên ở vùng Tiểu Á và Hy Lạp có đóng dấu in hình nổi để đảm bảo giá trị Các đồng tiền bằng kim loại đã sớm xuất hiện ở vùng Địa Trung Hải Tiền kim loại đầu tiên ở Anh làm bằng thiếc, ở Thuỵ Sĩ và Nga
Trang 20Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 20
bằng đồng Khi bạch kim mới được phát hiện, trong thời kỳ 1828 – 1844, người Nga cho đó là kim loại không sử dụng được nên đem đúc tiền Nếu so với các loại tiền tệ trước đó, tiền bằng kim loại, bên cạnh những ưu điểm nhất định cũng đưa đến những bất tiện trong quá trình phát triển trao đổi như: cồng kềnh, khó cất giữ, khó chuyên chở… Cuối cùng, trong các kim loại quý ( quí kim) như vàng, bạc, những thứ tiền thật sự chúng có giá trị nội tại trở nên thông dụng trong một thời gian khá lâu cho đến cuối thế kỷ thứ XIX và đầu thế kỷ thứ XX
Khoảng thế kỷ thứ XVI ở Châu Âu nhiều nước sử dụng vàng làm tiền,
có nước vừa sử dụng vàng vừa sử dụng bạc Các nước Châu Á sử dụng bạc
là phổ biến Việc đúc quý kim thành tiền ngay từ đầu được coi là vương quyền, đánh dấu kỷ nguyên ngự trị của lãnh chúa vua chúa
Lịch sử phát triển của tiền kim loại quý đã trải qua ba biến cố chủ yếu, quyết
định đến việc sử dụng phổ biến tiền bằng kim loại
cả Hoa Kỳ quyết định và sử dụng vàng, các nước Chấu Á như Nhật Bản, Ấn
Độ, Trung Hoa do lệ thuộc sự nhập cảng nguyên liệu máy móc… từ Phương Tây nên cũng bãi bỏ bạc sử dụng vàng Ở Đông Dương, bạc được sử dụng làm tiền từ 1885 đến 1931 Đến năm 1931 đồng bạc Đông Dương từ bản vị bạc sang bản vị vàng, có thể cho rằng, khoảng từ
Trang 21Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 21
1935 chỉ còn một kim loại quý được tất cả các nước chấp nhận làm tiền trên thế giới là vàng
3.2 Tín tệ:
Tín tệ được hiểu là thứ tiền tự nó không có giá trị nhưng do sự tín nhiệm của mọi người mà nó được lưu dụng Tín tệ có thể bao gồm tiền bằng kim loại và tiền giấy – Tiền bằng kim loại thuộc hình thái tín tệ khác với kim loại tiền tệ thuộc hình thái hoá tệ Ở hình thái này giá trị nội tại của kim loại thường không phù hợp với giá trị danh nghĩa
– Tiền giấy bao gồm tiền giấy khả hoán và tiền giấy bất khả hoán
– Tiền giấy khả hoán là thứ tiền được lưu hành thay cho tiền vàng hay tiền bạc ký thác ở ngân hàng Bất cứ lúc nào mọi người cũng có thể đem tiền giấy khả hoán đó đổi lấy vàng hay bạc có giá trị tương đương với giá trị được ghi trên tiền giấy khả hoán đó
Ở Trung Hoa từ đời Tống đã xuất hiện tiền giấy Vì những nhu cầu mua bán, các thương gia hình thành từng thương hội có nhiều chi nhánh ở khắp các thị trấn lớn Các thương gia ký thác vàng hay bạc vào hội sở của thương hội rồi nhận giấy chứng nhận của hội sở thương hội, với giấy chứng nhận này các thương gia có thể mua hàng ở các thị trấn khác nhau có chi nhánh của thương hội, ngoài loại giấy chứng nhận trên triều đình nhà Tống còn phát hành tiền giấy và được dân chúng chấp nhận
Ở Việt Nam vào cuối đời Trần, Hồ Quý Ly đã thí nghiệm cho phát hành tiền giấy Nhân dân ai cũng phải nộp tiền đồng vào cho Nhà nước, cứ 1 quan tiền đồng đổi được 2 quan tiền giấy, việc sử dụng tiền giấy của Hồ Quý Ly thất bại vì nhà Hồ sớm bị lật đổ, dân chưa quen sử dụng tiền giấy và sai lầm khi xác định quan hệ giữa tiền đồng và tiền giấy (bao hàm ý nghĩa tiền giấy có giá trị thấp hơn)
Trang 22Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 22
Nguồn gốc của tiền giấy chỉ có thể được hiểu rõ khi xem xét lịch sử tiền tệ các nước Châu Âu Từ đầu thế kỷ thứ XVII, ở Hà Lan ngân hàng Amsterdam đã cung cấp cho những thân chủ gởi vàng vào ngân hàng những giấy chứng nhận bao gồm nhiều tờ nhỏ Khi cần, có thể đem những tờ nhỏ này đổi lấy vàng hay bạc tại ngân hàng Trong thanh toán cho người khác các giấy nhỏ này cũng được chấp nhận Sau đó một ngân hàng Thụy Điển tên Palmstruch đã mạnh dạn phát hành tiền giấy để cho vay Từ đó ngân hàng Palmstruch có khả năng cho vay nhiều hơn vốn tự có Với nhiều loại tiền giấy được phát hành, lưu thông tiền tệ bị rối loại vì nhiều nhà ngân hàng lạm dụng gây nhiều thiệt hại cho dân chúng Do đó, vua chúa các nước phải can thiệp vì cho rằng việc đúc tiền từ xưa là vương quyền và mặt khác việc phát hành tiền giấy là một nguồn lợi to lớn Vương quyền các nước Châu Âu thừa nhận một ngân hàng tự có quyền phát hành tiền giấy với những điều kiện nhất định:
+ Điều kiện khả hoán: có thể đổi lấy bất cứ lúc nào tại ngân hàng phát hành + Điều kiện cất trữ vàng làm đảm bảo: ban đầu là 100% sau còn 40%
+ Điều kiện phải cho Nhà nước vay không tính lãi khi cần thiết
– Tiền giấy bất khả hoán là thứ tiền giấy bắt buộc lưu hành, mọi người không thể đem tiền giấy này đến ngân hàng để đổi lấy vàng hay bạc
Nguồn gốc của tiền bất khả hoán là bởi những nguyên nhân sau:
+ Thế chiến thứ nhất đã làm cho các quốc gia tham chiến không còn đủ vàng để đổi cho dân chúng Nước Anh từ năm 1931 đã cưỡng bức lưu hành tiền giấy bất khả hoán, nước Pháp năm 1936
+ Khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929 dẫn đến ở nước Đức mọi người đua nhau rút tiền, do đó Ngân hàng Trung ương Đức đã phải dùng vàng trả
nợ nước ngoài và do đó số trữ kim gần như không còn Tiến sĩ Schacht (1933 – 1936) đã áp dụng chính sách tiền tài trợ bằng cách phát hành trái phiếu, để
Trang 23Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 23
tài trợ sản xuất và những chương trình kinh tế, xã hội lớn Biện pháp này làm giảm 50% thất nghiệp, sản xuất tăng 41% (1934) Từ đó, nhiều nhà kinh tế cho rằng giá trị tiền tệ không phải dựa vào cất trữ vàng như các quan điểm trước đây
3.3 Bút tệ:
Bút tệ là một hình thái tiền tệ được sử dụng bằng cách ghi chép trong sổ sách kế toán của Ngân hàng Bút tệ xuất hiện lần đầu tại nước Anh, vào giữa thế kỷ XIX Để tránh những quy định chặt chẽ trong việc phát hành giấy bạc, các nhà ngân hàng Anh đã sáng chế ra hệ thống thanh toán qua sổ sách ngân hàng
Bút tệ ngày càng có vai trò quan trọng, ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển và hệ thống ngân hàng phát triển, người dân có thói quen sử dụng bút
tệ
3.4 Tiền điện tử:
Có nhiều tên gọi cho thứ tiền này: tiền nhựa, tiền thông minh,… Đây có phải là một hình thái tiền tệ không là vấn đề chưa thống nhất Một số quan điểm cho rằng đây chỉ là “phương tiện chi trả mới”, sự “chuyển dịch vốn bằng điện tử”
II BẢN CHẤT VÀ CHỨC NĂNG CỦA TIỀN TỆ
K.Marx cho rằng tiền tệ có nguồn gốc từ hàng hóa
2 Chức năng của tiền tệ
Trong học thuyết của K.Marx ông cho rằng vàng trong vai trò ngang giá
Trang 24Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 24
chung là hàng hóa tiền tệ và ông nêu ra 5 chức năng mà vàng – tiền tệ thực hiện trong điều kiện kinh tế hàng hóa phát triển là
- Thước đo giá trị
- chức năng phương tiện lưu thông
- Chức năng cất trữ
- Chức năng thanh toán
- Chức năng tiền tệ thế giới
Ngày nay chế độ lưu thông tiền kim loại đã nhường chỗ cho chế độ lưu thông tiền giấy không chuyển đổi ra vàng đang được các nước áp dụng Với sự
đa dạng về các hình thức tiền tệ hiện nay các nhà kinh tế đã xem xét các chức năng của tiền tệ ở một giác độ tổng quát hơn với 3 chức năng chủ yếu như sau
2.1 Phương tiện trao đổi
Tiền được sử dụng như là một trung gian trong trao đổi mua bán hàng hoá
Nhờ có tiền nên xã hội sẽ giảm được các chi phí giao dịch vì cần phải tìm được sự trùng hợp kép về nhu cầu
Là một phương tiện trao đổi, tiền tệ được sử dụng như một vật môi giới trung gian trong việc trao đổi các hàng hoá, dịch vụ Đây là chức năng đầu tiên của tiền tệ, nó phản ánh lý do tại sao tiền tệ lại xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế hàng hoá
Trong nền kinh tế trao đổi trực tiếp, người ta phải tiến hành đồng thời hai dịch vụ bán và mua với một người khác Điều đó là đơn giản trong trường hợp chỉ có ít người tham gia trao đổi, nhưng trong điều kiện nền kinh tế phát triển, các chi phí để tìm kiếm như vậy quá cao Vì vậy người ta cần sử dụng tiền làm môi giới trong quá trình này, tức là người ta trước hết sẽ đổi hàng hoá của mình lấy tiền sau đó dùng tiền mua thứ hàng hoá mình cần Rõ ràng việc thực hiện lần lượt các giao dịch bán và mua với hai người sẽ dễ dàng hơn nhiều so với việc thưc hiện đồng thời hai giao dịch đối với cùng một người
Trang 25Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 25
Để thực hiện chức năng phương tiện trao đổi tiền phải có những tiêu chuẩn nhất định:
- Được chấp nhận rộng rãi: nó phải được con người chấp nhận rộng rãi trong lưu thông, bởi vì chỉ khi mọi người cùng chấp nhận nó thì người có hàng hoá mới đồng ý đổi hàng hóa của mình lấy tiền;
- Dễ nhận biết: con người phải nhận biết nó dễ dàng;
- Có thể chia nhỏ được: để tạo thuận lợi cho việc đổi chác giữa các hàng hoá có giá trị khác nhau;
- Dễ vận chuyển: tiền tệ phải đủ gọn nhẹ để dễ dàng trong việc trao đổi hàng hoá ở khoảng cách xa;
2.2 Thước đo giá trị hay đơn vị thanh toán
Tiền thực hiện việc biểu thị cho một lượng giá trị mà hàng hoá chứa trong
nó thông qua việc quy đổi giá trị đó ra lượng tiền
Nhờ có tiền nên việc so sánh giá trị giữa các hàng hoá trở nên đơn giản hơn
Tiền thực hiện việc biểu thị cho một lượng giá trị mà hàng hoá chứa trong
nó thông qua việc quy đổi giá trị đó ra lượng tiền
Nhờ có tiền nên việc so sánh giá trị giữa các hàng hoá trở nên đơn giản hơn
2.3 Phương tiện cất trữ
Tiền được sử dụng như công cụ để cất trữ của cải
Tiền là phương tiện cất trữ được ưa chuộng hơn so với các phương tiện khác vì tính lỏng của tiền là cao nhất
Trang 26Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 26
Tiền chỉ có thể thực hiện được chức năng cất trữ khi nó còn được xã hội thừa nhận
Là một phương tiện cất trữ giá trị, tiền tệ là nơi cất giữ sức mua qua thời gian Khi người ta nhận được thu nhập mà chưa muốn tiêu nó hoặc chưa
có điều kiện để chi tiêu ngay, tiền là một phương tiện để cho việc cất giữ sức mua trong những trường hợp này hoặc có thể người ta giữ tiền chỉ đơn thuần là việc để lại của
cải
Việc cất giữ như vậy có thể thực hiện bằng nhiều phương tiện ngoài tiền như: Cổ phiếu, trái phiếu, đất đai, nhà cửa…, một số loại tài sản như vậy đem lại một mức lãi cao hơn cho người giữ hoặc có thể chống đỡ lại sự tăng cao về giá so với việc giữ tiền mặt Tuy nhiên người ta vẫn giữ tiền với mục đích cất trữ giá trị bởi vì tiền có thể chuyển đổi một cách nhanh chóng ra các tài sản khác, còn các tài sản khác nhiều khi đòi hỏi một chi phí giao dịch cao khi người ta muốn chuyển đổi nó sang tiền Những điều đó cho thấy, tiền là một phương tiện cất trữ giá trị bên cạnh các loại tài sản khác
Việc thực hiện chức năng phương tiện cất trữ giá trị của tiền tốt đến đâu tuỳ thuộc vào sự ổn định của mức giá chung, do giá trị của tiền được xác định theo khối lượng hàng hoá mà nó có thể đổi được Khi mức giá tăng lên, giá trị của tiền sẽ giảm đi và ngược lại Sự mất giá nhanh chóng của tiền sẽ làm cho người ta ít muốn giữ nó, điều này thường xảy ra khi lạm phát cao Vì vậy
để tiền thực hiện tốt chức năng này, đòi hỏi sức mua của tiền phải ổn định
3.Vai trò của tiền tệ
Tiền tệ là phương tiện không thể thiếu để mở rộng và phát triển kinh tế hàng hóa Thực tế không thể tiến hành sản xuất hàng hóa nếu như không có tiền
và sự hoạt động của nó
Tiền tệ là phương tiện để thực hiện và mở rộng các quan hệ quốc tế
Tiền tệ là công cụ phục vụ cho mục đích của người sở hữu chúng
Trang 27Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 27
III CÁC CHẾ ĐỘ TIỀN TỆ
1 Khái niệm và các yếu tố cấu thành chế độ tiền tệ
1.1 Chế độ lưu thông tiền tệ là gì?
Chế độ lưu thông tiền tệ là hình thức tổ chức lưu thông tiền tệ của một quốc gia đã được quy định theo luật pháp, trong đó các nhân tố hợp thành của lưu thông tiền tệ được kết hợp thành một khối thống nhất
Qua khái niệm trên ta thấy nếu tiền tệ xuất hiện bắt nguồn từ khách quan của SX và trao đổi hàng hóa thì chế độ tiền tệ là 1 Sp cùa pháp quyền
1.2 Các yếu tố cấu thành của chế độ lưu thông tiền tệ
Kim loại tiền tệ: đây là nhân tố cơ bản của chế độ lưu tiền tệ một nước,
việc chọn kim loại đóng vai trò làm vật ngang giá chung không phải ý muốn chủ quan của nhà nước mà tùy thuộc vào điều kiện khách quan của nền kinh tế
và địa vị của nước đó trên thế giới Để thuận tiện cho mậu dịch việc lựa chọn kim loại tiền tệ thường thống nhất giữa các nước
Đơn vị tiền tệ: Nếu nhân tố kim loại tiền tệ được quy định tương đối
thống nhất giữa các nước thì nhân tố ĐVTT lại tùy thuộc vào mỗi quốc gia ĐVTT bao gồm:
Tên gọi của đồng tiền và quy định, tiêu chuẩn, giá cả của đồng tiền
2 Các chế độ tiền tệ
2.1 Chế độ lưu thông tiền kim loại
Chế độ đơn bản vị: đây là chế độ chỉ sử dụng một thứ kim loại làm vật
ngang giá chung Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa các kim loại đươc chọn làm bản vị cũng thay từ kim loại kém đến kim loại quý
Chế độ đơn bản vị: đây là chế độ chỉ sử dụng một thứ kim loại làm vật
ngang giá chung Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa các kim loại đươc chọn làm bản vị cũng thay từ kim loại kém đến kim loại quý
Chế độ bản vị vàng:
Trong chế độ bản vị vàng, chỉ còn vàng là kim loại duy nhất được sử
Trang 28Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 28
dụng để trở thành tiền tệ
Chế độ bản vị tiền vàng :
- Vàng được tự do đúc thành tiền và đưa vào lưu thông
- Vàng được tự do xuất nhập khẩu
- Các loại tiền khác được tự do đổi ra vàng
Chế độ bản vị vàng thỏi và bản vị hối đoái vàng:
- Được áp dụng vào cùng một thời điểm
- Vàng không còn được đưa vào lưu thông nữa mà được đúc thành thỏi và cất trữ
- Các loại tiền phải quy định hàm lượng vàng và không được tự do đổi ra vàng
2.2 Chế độ lưu thông tiền giấy
Nguyên nhân ra đời:
Về lý thuyết: Khi thực hiện chức năng trao đổi , nó chỉ là gian thanh toán chứ không phải là mục đích của người bán hàng, vì vậy người ta không quan tâm đến hình thức Tiền giấy thay thế cho vàng làm phương tiện lưu thông
Sở dĩ tiền giấy được thừa nhận là vì nó được Nhà nước công nhận, đảm bảo và bắt buộc phải tuân thủ
Nói cách khác, tiền giấy ra đời và lưu hành được là nhờ có lòng tin của người sử dụng
Trang 29Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 29
CHƯƠNG 3: CUNG - CẦU TIỀN TỆ
MỤC TIÊU CỦA CHƯƠNG
Sinh viên nắm được các nội dung cơ bản sau:
Cung - cầu tiền tệ là một trong những quan hệ cân đối lớn của chính sách quản lý vĩ mô Nếu cầu tiền bị chi phối bới quy luật kinh tế khách quan thì cung tiền tệ lại phụ thuộc vào ý thức chủ quan của các cơ quan quản lý vĩ mô Mục tiêu của chương giúp trả lời các câu hỏi chính yếu liên quan đến các vấn đề: những quan điểm về lý thuyết về số lượng tiền tệ, các yếu tố ảnh hưởng đến cầu tiền tệ, các chủ thể nào cung ứng tiền vào lưu thông, kết cấu các khối tiền trong lưu thông…
I LÝ THUYẾT CẦU TIỀN TỆ
1 Tại sao các chủ thể cần tiền ?
Qua phân tích về nguồn gốc ra đời của tiền tệ ta thấy tiền tệ ra đời là kết quả của quá trình phát triển sản xuất và trao đổi hàng hóa Lịch sử phát triển của nhân loại cũng đã minh chứng rằng quá trình chuyển từ nền kinh tế đổi chác ở thời kỳ sơ khai sang nền kinh tế tiền tệ không chỉ đánh dấu bước phát triển của đời sống xã hội mà còn mở đầu cho kỷ nguyên tăng trưởng vượt bậc của nền kinh tế Và trong thời đại ngày nay, với nền kinh tế tiền tệ đang phát triển mạnh
mẽ một thực tế khách quan là hầu hết các giao dịch giữa các cá nhân hoặc các tổ chức đều được giải quyết bằng tiền Do vậy, nhu cầu về tiền tệ và việc sử dụng tiền có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống kinh tế - xã hội
2 Thành phần cầu tiền tệ gồm:
a Cầu đầu tư (mua sắm tài sản…)
Đó là các doanh nghiệp muốn mở trộng quy mô sản xuất, muốn sử dụng hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi Đó là các cá nhân muốn kiếm lợi nhuận từ đồng tiền tiết kiệm của mình Và tiêu dùng vào những mục đích nào? Các doanh nghiệp, các cá nhân cần tiền để phục vụ cho việc giao dịch của mình
Trang 30Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 30
Chính phủ muốn thực hiện các chương trình cải cách kinh tế hay chính sách
- Cơ cấu dân số, Văn hóa
Hãy đưa ra nhận xét và đánh giá sự tác động của các nhân tố trên đến cầu tiền tệ?
3.1 Thu nhập : Thu nhập của người dân được chia ra làm hai phần :tiêu
dùng và tích luỹ Nếu dân cư có thu nhập cao khoản tiền mà họ dành cho tiêu dùng và tích luỹ nhiều hơn và ngược lại
3.2 Lãi suất tín dụng gửi ngân hàng : trong khoản tiền tích luỹ, người
dân có hai cách sử dụng khoản tiền đó, thứ nhất là đem đầu tư, thứ hai là đem gửi ngân hàng Lúc này họ sẽ xem xét tới lãi suất, nếu lãi suất gửi ngân hàng
mà lớn hơn lợi nhuận thu được từ các dự án đầu tư thì người dân sẽ chọn phương án gửi tiền vào ngân hàng Và ngược lại,nếu mức lợi nhuận thu được từ đầu tư cao hơn mức lợi nhuận mà khoản tiền đó đem lại từ việc gửi ngân hàng thì họ sẽ chọn phương án đem số tiền đó đi đầu tư
4 Quy luật lưu thông tiền tệ của K.Marx
Sự ra đời của tiền tệ bắt nguồn từ yêu cầu của sản xuất và lưu thông hang hóa Trên quan điểm lưu thông hang hóa quyết dịnh lưu thông tiền tệ, Mác đã cho rằng số tiền cần thiết trong lưu thông nhiều hay ít là do số lượng hang hóa
Trang 31Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 31
đang lưu thông, mức giá cả hang hóa cao hay thấp và tốc độ lưu thông tiền tệ nhanh hay chậm Hai nhân tố số lượng hang hóa và mức giá cả gộp lại thành khái niệm tổng giá cả hang hóa, nhân tố này tỉ lệ thuận với lượng tiền cần thiết Trên thực tế số lượng tiền trong lưu thông ít hơn nhiều so với tổng số giá cả hang hóa bán ra, bởi lẽ mỗi đơn vị tiền tệ trong một thời gian nhất định được luân chuyển nhiều lần từ tay người này sang tay người khác để phục vụ cho lưu thông hàng hóa Như vậy, số vòng lưu thông của một lượng tiền tệ nhất định trong một thời gian nhất định gọi là tốc độ lưu thông tiền tệ, nhân tố này có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với lượng tiền cần thiết
Từ phân tích trên Mác đã dưa ra quy luật về lượng tiền cần thiết trong lưu thông như sau:
hiện hiện chức năng hoá trong hàng hoá đến hạn bằng thanh
phương tiện lưu lưu thông bán chịu thanh toán toán bù
trừ thông và phương
Tốc độ lưu thông bình quân của tiền tệ
Nếu gọi KT, là lượng tiền thực có trong lưu thông, lượng tiền mà ta chủ động cung ứng vào lưu thông thì yêu cầu của quy luật là phải đảm bảo quan hệ cân đối giữa Kt và Kc Nhưng trong trường hợp vi phạm yêu cầu của quy luật như:
Trang 32Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 32
KT > Kc: Thừa tiền
KT < Kc: Thiếu tiền Đều có ảnh hưởng không tốt đến đời sống kinh tế - xã hỗi
5 Thuyết số lượng tiền tệ của I.Fisher
Fisher đã đưa ra phương trình với vế phải là tổng giá cả các loại hàng hóa
và dịch vụ tham gia giao dịch và vế trái là tổng khối lượng chi trả
PY là thu nhập danh nghĩa, được quyết định bởi M
- Nghĩa là giá cả hàng hóa biến động tùy thuộc vào lượng cung tiền M Fisher cho rằng V trong ngắn là cố định
- Từ đó có thể chuyển đổi phương trình trao đổi thành lý thuyết số lượng tiền tệ PY được quyết bởi số lượng tiền
- Ví dụ: V = 5; PY là 5 tỷ đồng thì M = 1 tỷ đồng
6 Các khối tiền trong lưu thông
6.1 Các loại tiền trong nền kinh tế hiện hại
Trong nền kinh tế hiện đại cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường tài chính, việc phân định các loại tiền trong lưu thông trở nên rất đa dạng Nó không hạn hẹp khi quan niệm tiền tệ chỉ là tiền pháp định do NHTW phát hành
Trang 33Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 33
mà sự thừa nhận các tài khoản ký thác tại ngân hàng, các chứng từ có giá có khả năng hoán chuyển trên thị trường tài chính cũng được xem là tiền theo nghĩa rộng hơn
6.1.1 Tiền có quyền lực cao
Loại tiền này thuận tiện nhất khi thực hiện các quan hệ trao đổi và đây cũng là tính chất nỗi bật so với các loại tiền tài sản khác Vì thế tiền có quyền lực cao được xếp vào khối tiền giao dịch trong các phép đo tổng lượng tiền của ngân hàng Trung ương các nước Tiền có quyền lực cao bao gồm:
- Tiền pháp định: Báo gồm các loại tiền giấy tiền kim khí do nhà nước
phát hành Tên tiền pháp định cho thấy loại tiền này được nhà nước thống nhất phát hành và cho phép lưu thông với mệnh giá được in trên đồng tiền theo luật định Tiền pháp định thể hiện quyền lực của nhà nước trong quá trình điều tiết lưu thông tiền tệ Mặt khác tiền pháp định còn khẳng định chủ quyền quốc gia,
sự độc lập của hệ thống tiền tệ của một nước biểu hiện chủ quyền kinh tế, chính trị của quốc gia đó trên trường quốc tế
- Tiền gửi không kỳ hạn: Là loại tiền có quyền lực cao nhưng tính
lỏng thấp hơn so với tiền pháp định vì phải thông qua một số thủ tục thanh toán
theo qui định khi thực hiện giao dịch Tuy nhiên trong điều kiện những dịch vụ thanh toán qua ngân hàng ngày trở nên tiện ích thì vấn đề thanh toán từ tiền gửi không kỳ hạn sẽ góp phần giảm những chi phí không cần thiết trong thanh toán bằng tiền mặt
6.1.2 Các loại tiền tài sản
Thực chất tiền tài sản không phải là tiền giao dịch vì người ta không thể
sử dụng nó như một phương tiện trao đổi không hạn chế về thời gian như tiền mặt cũng như không thể đáp ứng nhu cầu giao dịch ngay lập tức như các loại tiền có quyền lực cao Nhưng chúng được xem là tiền vì người ta có thể chuyển chúng thành tiền mặt thông qua thị trường tài chính Mặt khác tiền tài sản được xem như một hình thức đầu tư sinh lợi Các loại tiền tài sản bao gồm:
Trang 34Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 34
- Các loại tiền gửi có kỳ hạn:
Loại tiền này có mức sinh lời khá ổn định cho người sở hữu, bao gồm
tiền gửi tiết kiệm của cá nhân, các doanh nghiệp tại các ngân hàng, quỹ tiết kiệm
- Tài khoản tiền gửi ở thị trường tiền tệ
Các quốc gia có thị trường tiền tệ phát triển có xu hướng huy động rất đa dạng huy động các nguồn tiền gửi với quy mô từ nhỏ đến lớn, cũng như thời hạn từ ngắn hạn đến dài hạn
- Các chứng từ nợ ngắn hạn, trung hạn được mua bán trên thị trường tiền tệ
Tín phiếu kho bạc, trái phiếu tiết kiệm do các ngân hàng, chính quyền địa phương, công ty tài chính… huy động, các hợp đồng mua lại qua đêm, tiền gửi qua đêm
- Các loại tiền tài sản khác
Tùy theo khả năng thanh toán nhanh hay chậm mà một số nước xếp các chứng thư như: trái phiếu kho bạc, thương phiếu, hối phiếu vào loại tài sản có
độ lỏng kém hơn so với các tài sản trên
7 Phép đo tổng lượng tiền trong nền kinh tế hiện đại
Việc định nghĩa tiền tệ là một phương tiện trao đổi mới chỉ đưa ra một cách hiểu khái quát về tiền, nó không cho chúng ta biết rõ trong nền kinh tế hiện tại những phương tiện cụ thể nào được coi là tiền, số lượng của nó là nhiều hay ít Vì vậy người ta phải định nghĩa tiền một cách cụ thể hơn bằng việc đưa
ra các phép đo về các khối tiền tệ trong lưu thông
Các khối tiền tệ trong lưu thông tập hợp các phương tiện được sử dụng chung làm phương tiện trao đổi, được phân chia tuỳ theo “độ lỏng” hay tính thanh khoản của các phương tiện đó trong những khoảng thời gian nhất định của một quốc gia Độ “lỏng” hay tính thanh khoản của một phương tiện trao đổi được hiểu là khả năng chuyển đổi từ phương tiện đó ra hàng hoá, dịch vụ -
Trang 35Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 35
tức là phạm vi và mức độ có thể sử dụng những phương tiện đó trong việc thanh toán chi trả
Các phép đo khối tiền tệ được đưa ra tuỳ thuộc vào các phương tiện được
hệ thống tài chính cung cấp và thường xuyên có sự thay đổi cho phù hợp, nhưng nhìn chung các khối tiền tệ trong lưu thông bao gồm:
- Khối tiền giao dịch (M1) gồm những phương tiện được sử dụng
rộng rãi trong thanh toán chi trả về hàng hoá dịch vụ, bộ phận này có tính lỏng cao nhất:
+ Tiền mặt trong lưu hành: Bộ phận tiền mặt (giấy bạc ngân hàng và tiền
Mặc dù số liệu về các khối tiền tệ được công bố và sử dụng vào những mục đích nhất định, nhưng việc đưa ra các phép đo lượng tiền chỉ có ý nghĩa khi nó vừa tập hợp được các phương tiện trao đổi trong nền kinh tế, vừa tạo
cơ sở dự báo lạm phát và chu kỳ kinh doanh Vì vậy, hiện nay một số nước đang nghiên cứu để đưa ra phép đo “tổng lượng tiền có tỷ trọng” trong đó mỗi
Trang 36Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 36
loại tài sản có một tỷ trọng khác nhau tuỳ theo độ “lỏng” của nó khi cộng lại với nhau Việc lựa chọn phép đo nào phụ thuộc vào nhận thức và khả năng của NHTƯ trong điều hành chính sách thực tế Tuy nhiên, sử dụng trực tiếp trong các giao dịch làm phương tiện trao đổi chủ yếu là khối tiền M1, vì vậy định nghĩa M1 được sử dụng thường xuyên khi nói tới cung-cầu tiền tệ
II CÁC CHỦ THỂ CUNG ỨNG TIỀN CHO NỀN KINH TẾ
1.Khái niệm mức cung tiền tệ
Mức cung tiền tệ là số lượng tiền tệ thực tế đang lưu thông trong nền kinh tế Cơ quan có thẫm quyền cao nhất quyết định khối cung tiền trong nền kinh tế là ngân hàng trung ương
2.Quá trình cung ứng tiền
Số tiền giấy mà NHTW phát hành ra sẽ được NHTM cấp tín dụng cho các chủ thể trong nền kinh tế, các chủ thể trong nền kinh tế sử dụng những khoản tín dụng đó để trang trải các chi phí của mình
Những chủ thể khác nhận được thu nhập của mình từ các chủ thể mua sản phẩm, hàng hóa do mình cung cấp, hoặc trả thù lao cho người lao động, và sau khi sử dụng họ gửi phần tiết kiệm vào NHTM, hoặc mua các công cụ tài chính, hoặc đầu tư vào các khoản đầu tư khác mang tính sinh lợi Ngoài ra NHTW cũng cho chính phủ vay tiền để phục vụ ngân sách
Việc cung ứng tiền như vậy, ngoài việc chịu sự chi phối bởi quá trình phát hành tiền giấy của NHTW, thì quá trình cho vay và gửi tiền vào ngân hàng
và quá trình cung cấp các dịch vụ ngân hàng như dịch vụ thanh toán cũng sẽ ảnh hưởng lớn đến khối cung tiền
Tóm lại: có 4 tác nhân chính ảnh hưởng đến quá trình cung ứng tiền
trong nền kinh tế :
- NHTW : là cơ quan của Nhà nước có trách nhiệm cung ứng tiền giấy cho nền kinh tế và điều hành chính sách tiền tệ
Trang 37Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 37
- Các NHTM : nhận tiền gửi của cá nhân và tổ chức, sử dụng tiền gửi đó
để cho vay và thực hiện dịch vụ thanh toán , NHTM, những người vay tiền, những người gửi tiền
- Những người vay tiền : là những cá nhân và tổ chức có nhu cầu vay tiền để phục vụ các mục đích chi tiêu của mình
- Những người gửi tiền : là những cá nhân,tổ chức có nhu cầu sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng, họ ký gửi những khoản tiền đó vào các tài khoản ở ngân hàng để họ có thể sử dụng các phương tiện thanh toán như séc,
uỷ nhiệm chi, thẻ, … các ngân hàng có thể sử dụng một tỷ lệ tiền gửi này để cho vay
- Những người có thặng dư tài chính, tức là có những khoản tiết kiệm chưa chi tiêu, họ cũng có thể gửi vào ngân hàng để hưởng lãi Người gửi tiền để hưởng lãi đa số là gửi tiề n có kỳ hạn, họ chỉ được hoàn trả khi khoản tiền gửi đáo hạn nên các ngân hàng có thể sử dụng để cho vay
Việc các NHTM sử dụng một tỷ lệ trên tiền gửi thanh toán của người gửi tiền sẽ tạo thêm tiền cho nền kinh tế Quá trình tạo tiền gửi như vậy sẽ làm cho khối tiền trong nền kinh tế có thể rất khác so với số tiền giấy mà NHTW cung ứng ra cho nền kinh tế
Các ngân hang trung gian cung ứng cho nền kinh tế loại bút tệ thông qua
cơ chế tín dụng tạo tiền nhờ vào việc nhận tiền gửi mà các NHTG có khả năng
mở rộng quy mô cho vay Nhưng khi cho vay và thực hiện chức năng trung gian thanh toán, các NHTG lại tạo ra một lượng tiền gửi không kỳ hạn lớn gấp nhiều lần so với tiền gửi ban đầu Trong điều kiện lý tưởng, công thức tính số tiền gửi
mở rộng mà cả hệ thống ngân hang tạo ra:
Số tiền gửi mở rộng = Số tiền gửi ban đầu x hệ số tạo tiền
Trong đó:
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tỷ lệ phần trăm tính trên tổng lượng tiền gửi mà một NHTG huy động được phải để dưới dạng dự trữ bắt buộc theo luật định
Trang 38Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 38
Ví dụ:
Giả sử tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo luật định là 10% Ông A cầm 1000 đồng gửi vào NHTM X Như vậy, NHTM X nhận được số tiền gửi ban đầu là 1000 đồng, NH này phải để dự trữ bắt buộc là 100 đồng và cho vay tối đa 900 đồng
Giả sử NHTM X cho bà B vay 900 đồng, bà B chuyển khoản thanh toán tiền mua hàng hóa dịch vụ cho khách hàng của mình là ông C có tài khoản tại
NH Y lúc này NH Y nhận được số tiền gửi (thông qua chuyển khoản) là 900 đồng Giả sử ông C chưa có nhu cầu rút tiền ra khỏi ngân hàng, do vậy ngân hàng Y có quyền cho vay ra tối đa 810 đồng( sau khi trừ đi dự trữ bắt buộc 90 đồng)
Ông D là người vay được 810 đồng từ ngân hàng Y và chuyển khoản số tiền này vào tài khoản của ông E ở ngân hàng Z để thanh toán tiền mua nguyên vật liệu Lúc này ngân hàng Z nhận được số tiền gửi từ ông E (qua chuyển khoản) là 810 đồng Nếu không gặp bất kỳ “chướng ngại vật” nào xảy ra thì quá trình tạo tiền này cứ tiếp diễn, cho đến khi tổng số dự trữ bắt buộc của các NHTM đúng bằng số tiền gửi ban đầu là 1000 đồng thì sẽ bị triệt tiêu
Theo công thức chúng ta có thể tính ra được số tiền gửi mở rộng mà cả
hệ thống ngân hàng tạo ra thông qua việc nhận tiền gửi, cho vay và thanh toán là:
Số tiền dự trữ bắt buộc
Số tiền có thể cho vay ra tối đa
Trang 39Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 39
b) Tỷ lệ tiền mặt trên tiền gửi thanh toán:
Việc sử dụng tiền mặt nhiều trong một nền kinh tế sẽ làm cho tỷ lệ tiền mặt trên tiền gửi thanh toán cũng tăng lên và tất yếu dẫn đến khả năng tạo tiền gửi của hệ thống NHTM giảm xuống
Ở đây ta thấy tỷ lệ C/D bao gồm hai nhân tố C và D đều là thành phần của khối cung tiền Nếu C ( cash = tiền mặt ) tăng lên thì D (deposit = tiền gởi ) giảm xuống và ngược lại
Về nguyên lý tự nhiên mà nói, nếu nhu cầu tiền của một cá nhân không thay đổi thì việc lựa chọn nắm giữ tiền mặt hay tiền gửi phụ thuộc vào các nhân
tố sau đây :
- Thói quen chi tiêu
- Sự hấp dẫn của lãi suất tiền gửi thanh toán : nếu lãi suất tiền gửi thanh toán của ngân hàng cao thì việc gửi tiền vào ngân hàng sẽ có lợi hơn là nắm giữ tiền mặt
- Sự tiện ích của việc thanh toán qua ngân hàng có tốt hơn là chi trả bằng tiền mặt ? Nếu thanh toán qua ngân hàng tiện lợi và tốt thì người ta không cần nắm giữ tiền mặt làm gì, vừa mất an toàn vừa vất vả trong việc quản lý, di chuyển
- Thu nhập: thu nhập cao hay thấp có tính chất quyết định đối với tỷ lệ C/D Trong một nền kinh tế có thu nhập cá nhân cao thì nhu cầu sử dụng tài khoản thanh toán qua ngân hàng là lớn hơn Trong một nền kinh tế có thu nhập
Trang 40Khoa Kế Toán – Kiểm Toán – Đại học Lạc Hồng 40
thấp tỷ lệ sử dụng tiền mặt là phổ biến Nói khác đi tỷ lệ C/D tỷ lệ nghịch với thu nhập cá nhân
- Sự tin tưởng vào hệ thống ngân hàng
- Sự giao dịch bất hợp pháp : Trong một nền kinh tế có nhiều giao dịch bất hợp pháp thì tỷ lệ tiền mặt trên tiền gửi thanh toán cũng tăng lên (ví dụ như khi thanh toán bằng tiền mặt thì dễ dàng trốn thuế thu nhập cá nhân mà không bị phát hiện)
c) Tỷ lệ dự trữ thừa
Dự trữ thừa là phần vốn khả dụng mà các ngân hàng có thể cho vay nhưng ngân hàng không cho vay hoặc cho vay không hết
Tác động của dự trữ thừa đối với khối cung tiền cũng tương tự như tỷ lệ
dự trữ bắt buộc Hay nói khác đi khối cung tiền tỷ lệ nghịch với tỷ lệ dự trữ thừa
Khi một ngân hàng có tỷ lệ dự trữ thừa cao họ sẽ bị thiệt hại do họ phải trả lãi cho khoản dự trữ thừa này, mà khoản dự trữ thừa lại không mang lại một lơi tức nào cho ngân hàng cả
III QUAN HỆ CUNG CẦU TIỀN TỆ
Quan hệ cung cầu tiền tệ là mối quan hệ có tính biện chứng hữu cơ trong nền kinh tế thị trường Trong đó việc cung ứng tiền cho nền kinh tế nhằm đảm bảo cho quá trình lưu thông hàng hóa – dịch vụ được thông suốt và hiệu quả, đảm bảo sự ổn định của giá trị đơn vị tiền tệ, thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Có hai quan điểm chính về vấn đề quan hệ cung cầu tiền tệ : Quan điểm
cổ điển và quan điểm hiện đại Quan điểm cổ điển cho rằng lưu thông hàng hóa dịch vụ quyết định lưu thông tiền tệ Quan điểm hiện đại cho rằng việc cung ứng tiền tệ có thể tác động đến sự phát triển kinh tế hay nói khác đi là có thể sử dụng tiền tệ như là một công cụ để điều tiết các hoạt động của nền kinh tế
1 Quan điểm cổ điển : lưu thông hàng hóa quyết định lưu thông tiền tệ