1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên phục vụ phát triển du lịch cuối tuần của Hà Nội

178 1,3K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 84,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu, đánh giá tổng hợp tài nguyên trong khu vực, phục vụ cho việc phát triển du lịch cuối tuần của Hà Nội.. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ T

Trang 1

Ì 2.4 Một số van đe quan trọng trong đánh giá tài nguyên du lịch 24

1.3 Cư sở lý luận đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên phục vụ phát triển du lịch cuối tuần 28

1.3.1 Phương pháp luận đánh aiứ 28

Ì 3.2 Phương pháp đánh giá 30

CHƯƠNG 2 NHƯ C Ầ U VÀ TIỀM NÀNG PHÁT TRIỂN DƯ L Ị C H c u ố i TUẦN ơ

HÀ NỘI VÀ PHỤ CẬN 42

2.1 Khái quát đặc diêm tự nhiên và kinh té - xã hội cùa khu vực nghiên cứu 42

2 Ì Ì Đặc điếm tư nhiên 42

2 Ì 2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 47

2.2 Nhu cầu du lịch cuối tuân của Hà Nội 49

2.2 Ì Nguồn khách và đặc điếm 50

2.2.2 Số lượng khách và cơ cấu 54

2.2.3 Nhu cáu đối vói dịch vu đặc tame 56

2.2.4 Nhu cáu đối vói các dịch vụ chính 58

2.2.5 Nhu cầu về dịch vụ bổ sung 60

2.3 Tài nguyên du lịch tự nhiên 60

2.3.1 Các loại tài nguyên du lịch tự nhiên và khả năng khai thác phục vụ du lịch cuối tuân ÓI

2.3.2 Tống quan các điếm du lịch chính trong khu vực 63

CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN DU LỊCH TƯNHIẼN PHỤC v u PHÁT

TRIỂN Dư LỊCH c u ố i TUẦN TẠI MỘT s ố ĐIẾM NGHIÊN c ứ u 68

3.1 Mục tiêu và đôi tượng đánh giá 68

3.1.1 Mục tiêu 68

Trang 2

3.1.2 Đối tượng đánh giá 68

3.2 Lựa chọn và khái quát các điếm nghiên cún 69

3.2 Ì Lựa chọn các điếm nghiên cứu 69

3.2.2 Khái quát các điếm nghiên cứu 70

3.3 Các yếu tố, chi tiêu và thang đánh giá 98

3.3 Ì Đô hấp dẫn của điếm tài nguyên 98

3.3.2 Sơ thích của du khách 104

3.3.3 Khoảng cách 105

3.3.4 Bans liệt kê toàn bộ các vếu tố và chí tiêu đánh giá 106

3.4 Kết quả đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên cùa các điếm nghiên cứu 107

3.4 Ì Đánh giá riêng các vếu tố 107

3.4.2 Kết quả đánh d à tons hợp 112

3.4.3 Phân hạng các điếm du lịch 112

CHƯƠNG 4 HIỆN T R A N G VÀ ĐỊNH HƯỚNG KHAI THÁC TÀI NGUYÊN

PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DƯ LỊCH c u ố i TUẦN C Ủ A HÀ NỘI 114

4.1 Hiện trạng khai thác tài nguyên và hoạt động du lịch cuối tuân trong khu vực 114

4 Ì Ì Tinh hình phát triển hoạt đôns du lịch cuối mán 114

4 Ì 2 Các hình thức du lịch cuối tuần hiện nay của người dân Hà Nội 114

4 Ì 3 Tinh hình khai thác tài nguyên du lịch Ì ì 5

4.1.4 Phát triển du lịch và vấn đe tài nguyên, môi trường 117

4.2 Định hướng khai thác và bảo vệ tài nguyên phục vụ phát triến du lịch cuối tuần 118

4.2 ì Mục tiêu định hướng ] Ì s

4.2.3 Định hướng khai thác tài nguyên cho việc phát triển du lịch cuối mán 122

4.2.4 Định hướng phát mến và tố chức không gian lãnh thổ du lịch 127

4.2.5 Định hướng quán lý, báo vệ và cái tao tài nguyên 130

4.3 Kiến nghị một sò giai pháp cho việc khai thác tài nguyên phát triển du lịch cuối tuân 136

4.3 Ì Giải pháp về qui hoạch 136

4.3.2 Giải pháp vé tổ chức, quản lý 137

4.3.3 Giải pháp ve cơ chế, chính sách 137

4.3.4 Giải pháp nhầm báo vệ tài nguyên và mòi trường 138

K Ế T LUẬN 140 NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG B ố CỨA TÁC GIÀ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN

L U Ậ N ÁN 142 TÀI LIỆU T H A M KH Ả O 143

PHU LÚC 150

Trang 3

D A N H M Ụ C CÁC BẢNG

Tên bảng Trang

Ì Bảng LI Các giai đoạn trong hoạt động đánh giá 30

2 Bảng 2.1 Vài đặc trưng của chế độ nhiệt ở khu vực nghiên cứu 43

3 Bảng 22 Vài đặc trưng của chế độ mưa ở khu vực nghiên cứu 45

4 Bảng 23 Dân số Hà Nội chia theo khu vực 51

5 Bảng 2.4 Số trường và học sinh các trường dạy nghề, trung học chuyên

nghiệp và cao đẳng, đại học ở Hà Nội ( năm 2000) c ọ

6 Bảng 25 Số lượt người tham gia du lịch cuối tuần năm 1996 và năm 2000 55

7 Bảng 2.6 Sở thích đối với các loại hình du lịch cuối tuần khác nhau 56

8 Bảng 2.7 Mục đích của chuyến đi 57

9 Bảng 2.8 Sở thích đối với các điểm tài nguyên du lịch khác nhau 58

Ỉ0 Bảng 2.9 Sở thích về khoảng cách tới các điếm du lịch 58

11 Bảng 2.10, Các loại phương tiện giao thông hiện sử dụng 59

12 Bảng 3.1 Đặc điểm các bãi tắm ở Đồ Sơn 71

13 Bảng 3.2 Lượng khách du lịch đến Đồ Sơn từ năm 1995 đến năm 2000 72

14 Bảng 33 Đặc điểm khí hậu khu vực Đồ Sơn 73

15 Bảng 3.4 Đặc điểm khí hậu khu vực Thịnh Long 77

16 Bảng 3.5 Đặc điểm khí hậu khu vực Sầm Sơn 80

17 Bảng 3.6 Lượng khách du lịch Quan Sơn năm 1998 - 2000 82

18 Bảng 3.7 Đặc điểm khí hậu khu vực hồ Quan Sem 84

19 Bảng 3.8 Hệ thống các hổ tại khu vực Đồng Quan-Sóc Sơn 85

20 Bảng 3.9 Đặc điểm khí hậu khu vực hồ Đồng Quan 87

21 Bảng 3.10 Đặc điểm khí hậu khu vực Đảo Cò 91

22 Bảng 3.11 Đặc điểm khí hậu khu vực Tam Đảo 93

23 Bảng 3.12 Đặc điểm khí hậu khu vực Khoang Xanh 97

24 Bảng 3.13 Số lượng khách đến Khoang Xanh từ 1996-2000 98

25 Bảng 3.14 Các chỉ tiêu và thang đánh giá bãi biến cho tắm biển 99

26 Bảng 3.15 Các chỉ tiêu và thang đánh giá hồ nước 99

27 Bắng 3.16 Các chì tiêu và thang đánh giá địa hình đồi núi 102

Trang 4

29 Bảng 3 J8 Các chỉ tiêu và thang đánh giá cơ sờ hạ tầng 104

30 Bảng 3.19 Toàn bộ các yếu tố và chi tiêu đánh giá 106

31 Bảng 3.20 Kết quả đánh giá sự phù hợp của các hồ nước cho hoạt động

du lịch 1Q7

107

32 Bảng 3.21 Kết quả đánh giá sự phù hợp của Khoang Xanh và Tam

Đảo cho hoạt động du lịch

33 Bảng 3.22 Kết quả đánh giá sự phù họp của các bãi biến cho hoạt

động tắm biển 1 Qg

34 Bảng 3.23 Kết quả đánh giá sự đa dạng, tương phản và độc đáo 108

35 Bảng 3.24 Kết quả đánh giá cơ sở hạ tầng của điểm du lịch 110

36 Bảng 3.25 Kết quả đánh giá độ hấp dẫn của tài nguyên 111

37 Bảng 3.26 Kết quả đánh giá khoảng cách 111

38 Bảng 3.27 Kết quả đánh giá sức hút du lịch 112

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ Tên hình vẽ Trang

Ì Hình 1.1 Du lịch cuối tuần theo phân loại của Lozato Giotard 12

2 Hình 1.2 Sơ đồ hệ thống du lịch của Leiper (1990) 32

3 Hình 13 Vòng đòi của một điểm du lịch 36

4 Hình 3.1 Biểu đồ lượng khách du lịch Thịnh Long từ 1996-2000 76

5 Hình 3.2 Biểu đồ lượng khách du lịch Sầm Sơn từ 1996-2000 79

ó Hỉnh 3.3 Biểu đồ lượng khách du lịch Đảo Cò từ 1996-2000 90

7 Hỉnh 3.4 Biểu đồ lượng khách du lịch Tam Đảo từ 1996-2000 94

DANH MỤC BAN ĐÔ

8 Điểm du lịch Tam Đảo

9 Điểm du lịch Khoang Xanh

10 Độ hấp dẫn và sức hút du lịch

Trang 6

Tài nguyên thiên nhiên là một trong những yếu tố quan trọng đối với việc phát triển kinh tế xã hội Dù là tài nguyên tái tạo được hay không tái tạo được, nếu không có chiến lược khai thác hợp lý sẽ dẫn đến suy thoái và cạn kiệt Nghiên cứu

và đánh giá tài nguyên là cơ sở cần thiết cho việc hoạch định chiến lược và đề ra các giải pháp tối ưu cho việc khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên, đảm bảo phát triển một cách bền vững

Cùng với quá trình công nghiệp hoa và đô thị hoa, hoạt động du lịch cuối tuần không ngừng gia tăng Đây là xu thế chung trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay, nhất là từ sau ngày 1/10/1999, Nhà nước ban hành chế độ làm việc 40giờ/tuần Đối với các thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, nhu cầu về cơ sở nghỉ cuối tuần ở khu vực phụ cận đã trở nên cấp thiết, nhiều điểm du lịch đã quá tải, có nguy cơ ảnh hưởng tới tài nguyên và môi trường địa phương

Để sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên du lịch ở Hà Nội và phụ cận, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu du lịch cuối tuần của người dân, cần nhanh chóng xây dựng một chiến lược khai thác tài nguyên theo hướng phát triển bền vững Tuy nhiên,

cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu, đánh giá tổng hợp tài nguyên trong khu vực, phục vụ cho việc phát triển du lịch cuối tuần của Hà Nội

Xuất phát từ thực tế đó, tác giả đã chọn để tài "Đánh giá tài nguyên du

lịch tự nhiên, phục vụ phát triển du lịch cuối tuần của Hà Nội" với mong muốn

góp phần vào việc thực hiện Nghị quyết 45 CP của Chính phủ là: "đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân, góp phần nâng cao dân trí, phục hồi sức khoe, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân"

Trang 7

2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM v ụ NGHIÊN cứu

Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá tổng hợp tài nguyên du lịch tự nhiên (TNDLTN), mục tiêu của đề tài là xây dựng cơ sở khoa học cho việc qui hoạch phát triển du lịch cuối tuần (DLCT) của Hà Nội

Để thực hiện được mục tiêu trẽn, để tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ chính sau đây:

- Nghiên cứu nhu cầu, sở thích của người dân Hà Nội đối với hoạt động du lịch cuối tuần

- Kiểm kê tài nguyên của khu vực Hà Nội và phụ cận cho việc đáp ứng nhu cầu du lịch cuối tuần

- Xây dựng cơ sở lý luận cho việc đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên trong khu vực, phục vụ phát triển du lịch cuối tuần Trên cơ sở đó tiến hành nghiên cứu, đánh giá một số điểm tài nguyên du lịch trong khu vực

- Đề xuất định hướng sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên du lịch tự nhiên cho việc phát triển du lịch cuối tuần trong khu vực nghiên cứu

3 GIỚI HẠN NỘI DUNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN cứu

Phạm vị nghiên cứu của đề tài được giới hạn ở khu vực Hà Nội và phụ cận Song, khái niệm "phụ cận" ở đây là một khái niệm mang tính chất tương đối Giới hạn của nó phụ thuộc vào nhu cầu và vào khả năng khai thác tài nguyên du lịch

Do thời gian và khả nâng có hạn, luận án chỉ giới hạn ở khoảng 150km kể từ trung tâm Hà N ộ i theo các trục giao thông chính Do đó khu vực phụ cận chủ yếu bao gồm toàn bộ hoặc một phần lãnh thổ thuộc các tỉnh như: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Hà Tây, Hoa Bình và tới Thanh Hoa Như vậy, ngoài các tỉnh thuộc đổng bằng sông Hồng, khu vực nghiên cứu còn bao gồm cả bộ phận rìa đổng bằng ở phía bắc, phía tây và phía nam

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là TNDLTN và mối quan hệ giữa

T N D L T N với các hoạt động DLCT của người dân Hà Nội Song, hoạt động DLCT bao gồm nhiều loại hình như: nghỉ dưỡng, thể thao, tham quan, lễ hội, vui chơi giải

Trang 8

trí Các loại hoạt động này có đặc điểm khác nhau và có những đòi hỏi khác nhau đối với tài nguyên du lịch Vì vậy, chỉ có thể chọn một dạng hoạt động phổ biến, được nhiều người ưa thích nhất trong thời gian nghỉ cuối tuần để đánh giá Đó chính là loại hình nghỉ ngơi và vui chơi giải trí Đề tài chỉ nghiên cứu, đánh giá TNDLTN cho loại hình này

Để minh hoa cho cơ sở lý luận đánh giá TNDLTN phục vụ phát triển DLCT

đã được xây dựng, đề tài chỉ chọn một số điểm trong khu vực để đánh giá vì địa bàn quá rộng, bao gồm nhiều tỉnh xung quanh Hà Nội Hơn nữa, nguồn tài nguyên trong khu vực có thể sử dụng cho du lịch lại rất đa dạng và phong phú Việc đánh giá đòi hỏi phải tiến hành nghiên cứu chi tiết và toàn diện Vì vậy không thể tiến hành đánh giá toàn bộ tài nguyên có trong khu vực được

4 NHŨNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

- Đề tài đã xác định được nhu cầu và sở thích của người dân Hà Nội đối với hoạt động du lịch cuối tuần và khả năng đáp ứng về mặt tài nguyên cho các hoạt động đó ở khu vực Hà Nội và phụ cận

- Xây dựng cơ sở lý luận đánh giá TNDLT N phục vụ phát triển DLCT cho khu vực nghiên cứu, từ đó tiến hành đánh giá tổng hợp tám điểm tài nguyên trong khu vực

- Lần đầu tiên, đề tài đã tiến hành xây dựng một hộ thống bản đồ du lịch cho từng điểm nghiên cứu và bản đổ đánh giá chung tài nguyên du lịch

- Luận án đã đề xuất định hướng sử dụng và bảo vệ T N D L T N phục vụ phát

triển du lịch cuối tuần trong khu vực một cách hiệu quả và bền vững

5 CÁC LUẬN ĐIỂM BẢO VỆ

- Du lịch cuối tuần là nhu cầu tất yếu của người dân Hà Nội Nhu cầu này đang ngày càng tăng, nó gắn với hoạt động nghỉ ngơi và vui chơi giải trí ngoài trời Nhu cầu này hoàn toàn có thể đáp ứng được bời nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên phong phú và đa dạng ờ khu vực Hà N ộ i và phụ cận

Trang 9

- Đánh giá tài nguyên du lịch phục vụ phát triển du lịch cuối tuần của Hà Nội chính là xác định sức hút du lịch giữa điểm đi (nội thành Hà Nội) và các điểm đến Kết quả đánh giá tám điểm tài nguyên ở phụ cận Hà Nội cho thấy các điểm

du lịch có hổ nước, nằm ở khoảng cách phù hợp, rất thuận lợi đối với việc phát triển du lịch cuối tuần của Hà Nội; các điểm du lịch đổi núi, thuận lợi; còn các điểm du lịch biển, ít thuận lợi Vì vậy, cần ưu tiên khai thác các hổ nước và đổi núi, nằm ở những khoảng cách phù hợp kể từ trung tâm Hà N ộ i phục vụ phát triển DLCT trong thời điểm hiện tại

6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIEN

- Luận án đã xác định được nhu cầu và sở thích của người dân Hà Nội đối với

hoạt động du lịch cuối tuần, làm cơ sở cho việc đánh giá tài nguyên du lịch phục vụ phát triển du lịch cuối tuần của Hà Nội, đồng thời góp phần hoàn thiện phương pháp

luận chung về đánh giá tài nguyên du lịch

- Cơ sở lý luận đánh giá TNDLTN được xây dựng cho khu vực nghiên cứu có thể vận dụng để đánh giá cho khu vực phụ cận các thành phố khác phục vụ phát triển DLCT

- Kết quả nghiên cứu của luận án là nguồn tài liệu tin cậy và cần thiết cho việc xây dựng qui hoạch phát triển du lịch cuối tuần của Hà Nội và phụ cận

7 C ơ SỞ TÀI LIỆU

Luận án đã sử dụng các nguồn tài liệu sau:

- Tài liệu khảo sát thực địa mà tác giả đã thu thập được trong suốt quá trình nghiên cứu từ năm 1996 đến 2001 tại các điểm du lịch

- Tài liệu điều tra xã hội học theo các bảng hỏi

- Tài liệu từ các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường Đại học Khoa học Tự

nhiên, cấp Đại học Quốc gia và cấp Thành phố, trên địa bàn Hà Nội và phụ cận do NCS chủ trì hoặc tham gia như: "Đánh giá giá trị du lịch của Vườn quốc gia Cúc Phương" (1997); "Nghiên cứu tính bền vững của hệ thống lãnh thố du lịch Hà Nội-phụ cận (2000-2001); "Xác định giá trị du lịch của Hạ Long" (2000) và "Bổ sung,

Trang 10

điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Hà Nội giai đoạn 2002-2010" (2001)

- Các tài liệu, số liệu thống kê, các báo cáo của các Sở Du lịch, Công ty Du lịch thuộc các tỉnh trên địa bàn nghiên cứu

- Các bản đồ địa hình, bản đồ hiện trạng sử dụng đất tỷ lệ 1:10.000, các sơ

đồ du lịch của các điểm nghiên cứu

8 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là mối quan hệ đa dạng và phức tạp giữa tài nguyên thiên nhiên và con người Vì vậy, để thực hiện được nhiệm vụ nghiên cứu luận án đã sử dụng kết hợp các phương pháp như: khảo sát thực địa, thu thập và xử lý các số liệu thống kê, phương pháp đánh giá kỹ thuật, phương pháp bản đồ là những phương pháp đã được sử dụng rộng rãi trong địa lý Bằng các phương pháp này, tác giả đã tiến hành nghiên cứu chi tiết các điểm du lịch trong khu vực và tiến hành đánh giá để xác định được mức độ thuận lợi của chúng cho việc khai thác, phát triển du lịch cuối tuần

Để nghiên cứu nhu cầu, sở thích của người dân đối với hoạt động du lịch cuối tuần, luận án sử dụng phương pháp điều tra xã hội học bằng các bảng hỏi Sau đó, dùng phần mém chuyên dụng SPSS để xử lý, phân tích

9 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN

Nội dung của luận án được trình bày trong 150 trang với 38 bảng biểu, 7 hình vẽ và 10 bản đồ, sơ đồ

Ngoài phần mở đấu và kết luận, nội dung chính của luận án được kết cấu thành bốn chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận đánh giá tài nguyên du lịch phục vụ phát triển du lịch cuối tuần

Chương 2: Nhu cầu và tiềm năng phát triển du lịch cuối tuần ờ khu vực Hà Nội và phụ cận

Trang 11

Chương 3: Đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên phục vụ phát triển du lịch cuối tuần tại một số điểm nghiên cứu

Chương 4: Phân tích hiện trạng và định hướng khai thác tài nguyên du lịch phục vụ phát triển du lích cuối tuần ở Hà Nội và phụ cận

Trang 12

CHƯƠNG 1 C ơ SỎ LÝ L U Ậ N ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN DU L Ị C H

Tài nguyên du lịch là một dạng trong toàn bộ tài nguyên được con người

sử dụng Đã có nhiều tác giả đưa ra định nghĩa về tài nguyên du lịch Theo I.I.Pirojnik (1985) "Tài nguyên du lịch là các thành phần và các tổng thể cảnh quan tự nhiên và nhân sinh có thể dùng để tạo ra sản phẩm du lịch, thoa mãn nhu cầu về chữa bệnh, thể thao, nghỉ ngơi hay tham quan, du lịch"[103]

Theo Boniface, B và Cooper, c, 1993, "khái niệm tài nguyên du lịch dùng để chỉ những đối tượng cụ thể, có giá trị kinh tế đối với ngành còng nghiệp

du lịch" [65,tr.8]

Trong Pháp lệnh du lịch Việt Nam (1999), tài nguyên du lịch được hiểu là

"cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân vãn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thoa mãn nhu cẩu

du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch, nhằm tạo ra

sự hấp dẫn du lịch"[35]

Theo các định nghĩa đã xem xét, tài nguyên du lịch vô cùng phong phú và

đa dạng, song về mặt cấu trúc, tài nguyên du lịch có thể phân chia thành hai nhóm:

tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân vãn [103], [59], [29], [65] Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm các thành phần của tự nhiên, các thể

tổng hợp tự nhiên và các hiện tượng đặc sắc của tự nhiên Tài nguvèn du lịch

Trang 13

nhân văn bao gồm các di tích lịch sử vãn hoa, lễ hội, làng nghề, phong tục tập quán, ẩm thực, các công trình đương đại, các sự kiện

Cũng như các dạng tài nguyên khác, tài nguyên du lịch là một phạm trù lịch

sử Những tổng thể tự nhiên hay văn hóa-lịch sử cùng các thành phần của chúng có thể tổn tại trước cả khi ngành kinh tế du lịch ra đời Nhưng, chúng chỉ có thể trở thành tài nguyên du lịch khi nhu cầu du lịch của con người xuất hiện [65, tr.17] Thí dụ như ánh nắng mặt ười không được xem là tài nguyên du lịch vào trước những năm 1920, khi nhu cầu tắm nắng chưa phát triển Và sau này, khi nỗi lo sợ của con người về bệnh ung thư da ngày càng gia tăng, nó cũng có thể sẽ không được coi là tài nguyên du lịch nữa Như vây, sự phát triển và biến đổi của nhu cầu xã hội, đặc biệt là sự xuất hiện nhu cầu

du lịch dẫn tói việc thu hút những thành phần mới của tự nhiên cũng như văn hóa-lịch

sử vào hoạt động du lịch và chuyển chúng sang phạm trù tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch đang khai thác và tài nguyên du lịch chưa khai thác [35] Mức độ khai thác tiềm năng tài nguyên du lịch phụ thuộc vào nhu cầu du lịch của con người, nhu cầu này ngày càng tăng và càng đa dạng phụ thuộc vào mức sống và trình độ dân trí; khả năng nghiên cứu, phát hiện và đánh giá các tài nguyên còn tiềm ẩn; trình độ phát triển khoa học, công nghệ tạo ra phương tiện khai thác các tài nguyên đó

2.2.2,2 Đặc điểm

Không giống như các loại tài nguyên khác, tài nguyên du lịch vừa có thể là một thành phần hoặc một tổng thể tự nhiên như một thác nước, một khu rừng, một nguồn nước khoáng lại vừa có thể là một sản phẩm văn hoa do con người tạo ra như một ngôi chùa cổ, một làng nghề hay một lễ hội Chính vì vậy mà tài nguyên

du lịch có thể tạo nên những sản phẩm du lịch phong phú và đa dạng, thoa mãn được nhu cầu của con người

Tài nguyên du lịch không chỉ có giá tri hữu hình mà còn có giá tri vô hình Giá trị hữu hình là do những phương tiện vật chất, trực tiếp tham gia vào việc hình thành các sản phẩm du lịch, thí dụ như một nguồn nước khoáng để chữa bệnh một

hồ nước để bơi thuyền Giá trị vô hình thể hiện ở những cảm nhận về tâm lý, thẩm

Trang 14

không làm giảm giá trị của nó Thậm chí, càng khai thác giá trị của tài nguyên càng tăng lên theo hiểu biết và nhận thức của con người Do đó, nếu có chế độ khai thác hợp lý, bảo vệ và tôn tạo tài nguyên thì sẽ sử dụng được lâu dài, bền vững

Tài nguyên du lịch vốn có sẵn trong thiên nhiên hoác trong đời sống xã hội

mà nhiều khi con người có muốn cũng không tạo ra được Sau đó, do nhu cầu du lịch, con người mói đưa vào khai khác, vì vậy tài nguyên du lịch thường dễ khai thác Hay nói một cách khác là con người thường lựa chọn những tổng thể tự nhiên, những sản phẩm văn hoa có giá trị hơn cả cho du lịch, do đó đầu tư tương đối thấp và đem lại hiệu quả kinh tế cao

Các nguồn tài nguyên du lịch có thời gian khai thác khác nhau trong nám

do đặc điểm của tự nhiên, khí hậu, hoặc phong tục tập quán, nghi lễ tôn giáo riêng Chính đặc điểm này đã tạo nên tính mùa vụ trong hoạt động du lịch

Tài nguyên du lịch thường không thể mang vác, di chuyển được, vì vậy chúng được khai thác tại chỗ để tạo ra các sản phẩm du lịch Du khách muốn thưởng thức các sản phẩm du lịch phải đi đến tận nơi tổn tại các tài nguyên du lịch đó

Do đó vị trí, đường sá và phương tiện giao thông thuận lợi sẽ làm tăng giá trị của nguồn tài nguyên

Nắm được những đặc điểm cơ bản này của tài nguyên du lịch mới có những phương hướng, biện pháp khai thác hợp lý và hiệu quả, đồng thời nâng cao giá trị của chúng

1.1.13 Vai trò

Đối với việc phát triển du lịch, tài nguyên du lịch luôn đóng vai trò quan trọng

Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành các sản phẩm du

lịch Tài nguyên du lịch càng đặc sắc, độc đáo thì giá trị của sản phẩm du lịch

càng cao

Trang 15

Tài nguyên du lịch là cơ sở quan trọng để hình thành các loại hình du lịch,

vì vậy nó sẽ ảnh hưởng đến cấu trúc và chuyên môn hoa của vùng du lịch, nó xác định qui mô của các hoạt động du lịch và khả năng phát triển du lịch tại địa phương đó

Tài nguyên du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức lãnh thổ du lịch Tuy hệ thống lãnh thổ du lịch được hình thành từ nhiều yếu tố tác động tương

hỗ với nhau, nhưng tài nguyên du lịch là yếu tố quyết định sự phân bố không gian của hệ thống, qui mô lãnh thổ của hệ thống

Nắm được vai trò quan trọng của tài nguyên mới có những định'.hướng đúng đắn trong việc tổ chức, phát triển du lịch

1.1.2 Nhu cẩu và cầu du lịch

1.1.2.1 Nhu cầu du lịch

Trong cuộc sống, con người luôn luôn có những mong muốn và nguyện vọng, hay còn gọi là nhu cầu Bên cạnh những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống như nhu cầu về ăn, mặc, ở con người còn có nhiều nhu cầu khác nữa, trong đó có nhu cầu về du lịch

Nhu cầu du lịch là một loại nhu cầu xã hội đặc biệt, biểu hiện sự mong muốn tạm thời rời nơi ở thường xuyên để đến với thiên nhiên và văn hoa ở một nơi khác; là nguyện vọng cần thiết của con người muốn được giải phóng khỏi sự câng thẳng, tiếng ồn, sự ô nhiễm môi trường ngày càng tăng tại các trung tâm công nghiệp, đô thị để nghỉ ngơi, giải trí, tảng cường sự hiểu biết, phục hồi sức khoẻ [30]

Nhu cầu trong du lịch rất đa dạng và phong phú, phụ thuộc rất nhiều vào

đặc điểm lãnh tế xã hội như: trình độ nhận thức, tuổi tác, nghề nghiệp, thu nhập và

sở thích cá nhân Nhu cầu du lịch còn phụ thuộc vào tình trạng của từng gia đình, từng nhóm người, phong tục tập quán của một cộng đổng dân cư, vào thời gian,

tâm trạng của họ [30] Chính vì vậy, nhiều khi nhu cầu du lịch của con người rất trái ngược nhau

Trang 16

1,1.2.2 Cẩu du lịch

Trong thực tế, không phải tất cả mọi mong muốn, nguyện vọng của con người đều có thể thực hiện được Có thể có nhu cầu du lịch nhưng không có sự đảm bảo bằng tiền, tức là không có khả năng thanh toán để biến chúng thành của cải vật chất và tinh thần theo giá cả nhất định của hàng hoa du lịch Như vậy là ở đây xuất hiện một khái niệm nữa, đó là cầu du lịch

Cầu trong du lịch là một bộ phận nhu cầu của xã hội có khả nâng thanh toán về hàng hoa vật chất và dịch vụ du lịch, đảm bảo sự đi lại, lưu trú tạm thời của con người ngoài nơi ở thường xuyêacủa họ, nhằm mục đích nghỉ ngơi, giải trí, tìm hiểu vãn hoa, chữa bệnh, tham gia vào các chương trình đặc biệt và các mục đích khác [30]

Cầu du lịch bao gồm hai nhóm, đó là cầu về dịch vụ du lịch và cầu về hàng

hoa vật chất

Cầu về dịch vụ lại bao gồm: cầu về các dịch vụ đặc trưng; dịch vụ chính và dịch vụ bổ sung

Dịch vụ đặc trưng là những dịch vụ và nhu cầu cảm thụ, thưởng thức mà vì

nó con người tiếp nhận chuyến du lịch Chúng thường là nguyên nhân và mục đích của chuyến đi

Dịch vụ chính là những dịch vụ bảo đảm sự lưu trú, ăn uống Chúng không phải là mục đích của chuyến đi nhưng do tính chất tự nhiên, các dịch vụ này chiếm một phần đáng kể ương việc chi tiêu của khách du lịch

Dịch vụ bổ sung là những dịch vụ phục vụ các yêu cầu, đòi hỏi rất đa dạng

phát sinh trong chuyến du lịch như thông tin, liên lạc, giặt là, chăm sóc sức khoe, vui chơi giải trí, thể thao, sửa chữa đồ đạc

Cầu về hàng hoa bao gồm hai nhóm hàng cơ bản: hàng lưu niệm và hàng có giá trị kinh tế Hàng lưu niệm có tác dụng làm khách du lịch nhớ đến điểm du lịch

Hàng có giá trị kinh tế đáp ứng nhu cầu mua sắm của khách du lịch

Trang 17

Muốn phát triển du lịch, thoa mãn nhu cầu của người dân, cần thường xuyên nghiên cứu nhu cầu du lịch

1.1.3 Du lịch cuối tuần

1.1.3.1 Khái niệm

Hoạt động du lịch hiện đại là một hoạt động rất phong phú và đa dạng, gồm nhiều loại hình khác nhau Để phân loại các thể loại du lịch có thể dựa vào các tiêu thức như: mục đích du lịch, phương tiện đi du lịch, vị trí địa lý của nơi du lịch, thời gian đi du lịch, hình thức tổ chức chuyến đi, tài nguyên được sử dụng [59], [41] Khi dựa vào thời gian kéo dài của chuyến đi có thể phân chia thành: du lịch dài ngày và du lịch ngắn ngày Loại hình du lịch ngắn ngày thường tổ chức vào cuối tuần, được gọi là du lịch cuối tuần [59], [27] Như vậy, du lịch cuối tuần thực chất chỉ là một dạng hoạt động của du lịch ngắn ngày, thường chỉ một, hai ngày

Theo phân loại của Lozato Giotard, 1987, du lịch cuối tuần là một khái niệm chuyển tiếp giữa du lịch và giải trí (xem hình 1.1), như vậy nó không nhất thiết phải kéo dài trên 24 giờ mà có thể chỉ diễn ra trong ngày [41]

- Thương lượng làm ăn và

khuyến mại

- Chữa bệnh bằng nước khoáng

hoặc khí biển

Hành hương

Đi lại (ra bờ biển, vé nông thốn,

lên núi tuyết )

Nghỉ phép Picnic ngắn ngày (kể cả cuối tuần)

Du lịch

Tiêu chí chính : Di chuyển trẽn 24 giờ

- Các hoạt động thể hao

- Các hoạt động văn hoa

- Các hoạt động vui chơi giải trí và vé với thiên nhiên

Giải trí

Tiêu chí chính: Động cơ vui vẻ

Hình 1.1 Du lịch cuối tuần theo phân loại của Lozato Giotardy 1987 [41]

Du lịch cuối tuần xuất hiện và dần dần trở nên phổ biến ở các nước có nền công nghiệp phát triển như Châu Âu và Bắc M ỹ : Anh, Pháp, Đức, Hoa Kỳ, Liên

Xô cũ là những nước có chế độ làm việc nám ngày trong tuần Hiện nay, du lịch

Trang 18

nghỉ ngơi cuối tuần đã trở thành một nhu cầu bức thiết, một hiện tượng xã hội khá phổ biến đối với các thành phố lớn, các khu công nghiệp và tập trung dân cư [27] Quá trình công nghiệp hoa, đô thị hoa dẫn đến môi trường bị ô nhiễm, gày ra tình trạng căng thẳng thần kinh, xuất hiện nhu cầu du lịch Việc nghỉ ngơi tích cực sẽ đem lại sức khoe cho con người, giải thoát họ khỏi những bế tắc, căng thẳng Cũng

vì vậy mà Boniface và Cooper gọi loại hình du lịch này là "đi trốn những điểm tập trung dân cư và những trung tâm công nghiệp" [65] Theo kết quả nghiên cứu của Baud Bovy thì những thành phố có trên Ì triệu dân thường có tới 41% số hộ có

"ngôi nhà thứ hai" dùng để nghỉ cuối tuần [64]

Việc lựa chọn nơi nghỉ ngơi thích hợp cũng là vấn đề cần quan tâm Một trong những đặc điểm quan trọng của du lịch hiện đại là tính chất giải trí du lịch đối lập nhau [59] Tức là người du lịch thường tìm đến môi trường đổi lập với nơi

họ vẫn thường sinh sống Đối với du lịch cuối tuần, điều này càng biểu hiện rõ rệt

Do người dân thành phố bị tách khỏi mỏi trường tự nhiên nên họ thường chọn những nơi có điều kiện dễ hoa nhập với thiên nhiên để du lịch, nghỉ ngơi Thiên nhiên thực sự đem lại nhiều điều thú vị đối với người dân thành phố vốn phải sống trong những điều kiện chưa thật thoải mái về chỗ ở, đường phố tắc nghẽn, ồn ào, môi trường xung quanh đã có dấu hiệu hoặc đã bị ô nhiễm thực sự [26] Thường thường, đối với những thành phố lớn ở Châu Au, các hoạt động này được tổ chức ờ các vùng ngoại ô, trong những khu rừng trổng hoặc các công viên nhàn tạo, các công viên chuyên đề Còn ở nước ta, do diện tích các thành phố chưa lớn nên địa bàn hoạt động có thể phát triển ra các tỉnh phụ cận, nơi có những điều kiện tài nguyên phù hợp

Tuy nhiên, cũng cần chú ý đến một khía cạnh nữa của hoạt động này là do

hạn chế về mặt thời gian mà địa bàn hoạt động bị giới hạn Đa số các tác giả đều cho rằng cần giới hạn bán kính các điểm nghỉ cuối tuần trong khoảng hai đến ba giờ di chuyển hoặc không quá 100-200km phụ thuộc vào các loại phương tiện

khác nhau [99], theo Boniface thì khoảng 2 hoặc dưới 2 giờ bay [65, tr 23]; Theo Đặng Duy Lợi là khoảng 20km đối với người đi xe đạp, còn ô tô xe máy khoảng

Trang 19

45-60km [27] Vì vậy, Boniface còn gọi loại hình này là "du lịch ở vùng phụ cận" (periferial tourism) [65]

Trong khi đi nghỉ, khách cũng cần sử dụng những tài nguyên du lịch, những dịch vụ và hàng hoa các loại như những hoạt động du lịch khác

Dựa vào tất cả những yếu tố đã xem xét trên đây, có thể nói rằng: du lịch cuối tuần là một dạng hoạt động của dân cư các đô thị, thành phố, khu công nghiệp hoặc nơi tập trung dân cư, vào những ngày nghỉ cuối tuần, ở vùng ngoại ỏ hoặc phụ cận, có điều kiện dễ hoa nhập nhất với thiên nhiên, nhằm nghỉ ngơi, giải trí, phục hổi sức khoe, kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và vãn hoa

Du lịch tạo điều kiện cho những nhóm người khác nhau được tiếp xúc, gần gũi, hiểu biết lẫn nhau, hình thành nên những phẩm chất đạo đức tốt đẹp, tạo nên

sự phát triển hài hoa của con người [59]

Du lịch còn kết hợp với việc giáo dục tư tưởng chính trị cho thanh thiếu niên, thu hút họ vào những hình thức hoạt động vàn hoa - xã hội bổ ích Những hoạt động này giúp họ sử dụng thời gian nhàn rỗi một cách hợp lý hơn Từ đó giảm

đi những tệ nạn xấu, giảm đi những thanh thiếu niên hư

Trang 20

Việc tâng cường sức khoe cho nhân dân, làm tăng hiệu suất lao động của họ cũng chính là ý nghĩa về mặt kinh tế của du lịch Việc nghỉ ngơi tích cực và du lịch hợp lý tạo điều kiện phục hổi và phát triển sức khoe, phát triển khả năng lao động, tái sản xuất mở rộng sức lao động và cũng làm tăng hiệu quả kinh tế cho đất nước Hiệu quả này là do giảm tiêu hao thời gian lao động vì ốm đau, giảm thời gian chữa bệnh trong bệnh viện và giảm thời gian đi khám bệnh

Mặt khác, phát triển du lịch sẽ tạo ra nhiều việc làm cho người lao động do ngành du lịch chủ yếu là đáp ứng dịch vụ và thức ân, đòi hỏi nhiều lao động sống

và trong nhiều trường hợp không thể cơ giới hoa được Du lịch phát triển là tạo ra nhiều việc làm và tạo điều kiện tăng thu nhập cho nhân dân địa phương Điều đó thực sự có ý nghĩa quan trọng, nhất là ở những nước đông dân, thiếu việc làm như nước ta hiện nay Du lịch cuối tuần có khả năng phân phối lại thu nhập giữa người dân nông thôn và thành thị

Du lịch cuối tuần còn có một chức năng quan trọng, đó là chức nâng sinh thái Du lịch cuối tuần của người dân thành phố thường đòi hỏi môi trường gần gũi với thiên nhiên Vì vậy, muốn phát triển các điểm du lịch cuối tuần cần bảo vệ, khôi phục và tối ưu hoa môi trường tự nhiên Để thoa mãn nhu cầu du lịch, nghỉ ngoi, cần dành lại những lãnh thổ có thiên nhiên còn ít bị biến đổi ở những vùng ngoại vi thành phố và tiến hành các biện pháp cải tạo Chẳng hạn như cải tạo và trổng rừng, bảo vệ các nguồn nước và các lưu vực nước, xây dựng các công viên Tất cả những việc đó đểu góp phần bảo vệ môi trường, tạo nên một môi trường sinh thái lâu bền cho sự sống

Do những nhu cầu về du lịch cuối tuần mà ở nhiều thành phố đã hình thành

những dải rừng hành lang bao quanh, những mạng lưới các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên ở các vùng phụ cận Như vậy là tuy trong điều kiện công nghiệp hoa, đô thị hoa mãnh liệt nhưng vẫn tạo được điều kiện để tối ưu hoa mối tác động tương hỗ luôn biến động giữa con người và môi trường tự nhiên [109]

Trang 21

1.1 J J Nhu cầu phát triển

Nhu cầu du lịch cuối tuần là một loại nhu cầu xã hội đặc biệt, biểu hiện ý muốn được tạm rời nơi ở thường xuyên để nghỉ ngơi, giải trí, tâng cường sự hiểu biết, phục hồi sức khoe Nhu cầu này phụ thuộc nhiều vào sức ép đô thị, sự căng thảng trong lao động, ô nhiễm tại nơi ở thường xuyên và số ngày nghỉ cuối tuần [41] Thực tế, đây là xu hướng phát triển chung trên thế giới cũng như ở Việt Nam trong những năm gần đây [76]

Du lịch cuối tuần tuy chỉ là một dạng hoạt động của du lịch ngắn ngày, nhưng trong cấu trúc của toàn ngành du lịch ở nhiều nước, du lịch cuối tuần thường chiếm một tỷ trọng khá lớn Chính vì vậy mà ý nghĩa của nó càng lớn trong đời sống xã hội và kinh tế của đất nước, và việc nghiên cứu phát triển loại hình này

là tất yếu [99]

Du lịch cuối tuần hiện nay là một xu thế của thời đại, là lối sống hiện đại [83], hầu hết người dân của các nước phát triển thích những chuyến du lịch cuối tuần hơn là chỉ một chuyến du lịch dài ngày trong năm Người M ỹ , 72% thích đi nghỉ ngắn ngày, trung bình 5 lần trong một năm [84] Người Pháp, đi nghỉ cuối tuần ở ngoại vi thành phố thường nhiều gấp mười lần so với số người đi nghỉ dài ngày ở các điểm du lịch nổi tiếng cách xa thành phố [99] Người dân Liên xô vào thời kỳ hưng thịnh có tói gần 50% thường xuyên đi nghỉ cuối tuần [103], Theo kết quả nghiên cứu của Baud-Bovy, ở các thành phố có trên một triệu dân, vào những ngày nghỉ cuối tuần hoặc ngày lễ, số người rời khỏi thành phố để đến với các điểm

du lịch cuối tuần ở ngoại vi thành phố hoặc các nơi xa han, cao điểm có thể lên tới 1/3 số dân của thành phố đó [64]

Như vậy du lịch cuối tuần là một hoạt động du lịch đại chúng, nó tập trung một lượng khách lớn vào những thời điểm nhất định

Du lịch cuối tuần mang tính nhịp điệu rõ rệt vì nó chỉ thu hút khách đông vào các ngày nghỉ cuối tuần Nhưng, những ngày nghỉ cuối tuần này lại chiếm phần lớn thời gian trong quỹ ngày nghỉ cả năm của người lao động Theo tính toán,

thời gian nghỉ cuối tuần ở những nước làm việc năm ngày một tuần chiếm tới 80%

Trang 22

SỐ ngày được nghỉ trong cả năm Còn thời gian nghỉ phép năm (nghỉ dài hạn) chỉ chiếm có 15 - 20% mà thôi [99] Do đó, để thoa mãn nhu cầu nghỉ ngơi cuối tuần của nhân dân lao động, nhằm phục hổi sức khoe và phát triển thể lực của họ thì vấn đề nghỉ cuối tuần là hết sức quan trọng

Nếu xét về nhu cầu nghỉ cuối tuần của nhân dân trong toàn bộ cấu trúc nhu cầu du lịch nghỉ dưỡng, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy nó chiếm một tỷ trọng rất lớn Thí dụ như, trong toàn bộ nhu cầu du lịch nghỉ ngơi của nhân dân nước Cộng hoa Adecbaizan, nhu cầu đối với các cơ sở nghỉ cuối tuần của người dân nước này chiếm tới 60% Trong khi đó nhu cầu đối vói tất cả các loại hình còn lại chỉ chiếm 40% [99] Vì vậy, nếu thực sự quan tâm đến việc nghỉ ngơi cho người lao động thì du lịch cuối tuần là loại hình cẩn quan tâm phát triển hơn cả

Thực tế, theo thống kê của nhiều nước trên thế giới, chi phí cho các chuyến

du lịch cuối tuần của nhân dân trong một năm thường lớn gấp hàng chục lần so với chi phí cho một chuyến du lịch dài ngày [109]

Nhiều công trình nghiên cứu đều cho thấy rằng quá trình đô thị hoa tăng thì nhu cầu du lịch cuối tuần cũng tăng theo Tỷ lệ dân thành phố càng lớn và qui mô các thành phố càng lớn thì nhu cầu du lịch cũng càng lớn [64],[65], [83], [84], [89], [99], [103] Trên thế giới hiện nay cũng như ở Việt Nam, quá trình đô thị hoa đang phát triển manh, vì vậy nhu cầu du lịch cuối tuần theo đó ngày càng phát triển; nhu cầu về tài nguyên cho việc phát triển du lịch ngày càng tăng lên Vì vậy,

ý nghĩa của việc nghiên cứu phát triển các cơ sờ du lịch nghỉ ngơi cuối tuần ở ngoại vi các thành phố và trung tâm cồng nghiệp cũng ngày càng quan trọng

Nghỉ dưỡng: đây là một trong những mục đích quan trọng của du lịch cuối

tuần Do công việc thường ngày căng thẳng, môi trường ồ nhiễm, các mối quan hệ

Trang 23

xã hội phức tạp những người đi nghỉ muốn tìm một nơi có không khí trong lành, yên tĩnh, phong cảnh hữu tình để nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng hoặc có thể kết hợp chữa bệnh Hoạt động này thích hợp với các nơi như bãi biển, nguồn nước khoáng, các vùng ven sông, hổ, có rừng cây, vùng núi hoặc nông thôn để nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng Các hoạt động chủ yếu có thể là dạo choi- ngắm cảnh, bơi thuyền-ngắm cảnh, xem các loại động thực vật, bơi lội, tắm, câu cá

Vui chơi giải trí: mục đích của chuyên đi là thư giãn, bứt ra khỏi công việc thường nhật căng thảng để phục hổi sức khoe Trong chuyến đi có thể có kết hợp tham quan nhưng không phải là cơ bản Các hoạt động chủ yếu là vui chơi giải trí như ở các công viên chuyên đề, các khu vui chơi giải trí, trên bãi biển, ven sông,

hổ, các khu rừng thưa, rừng trồng

Tham quan: mục đích của chuyến đi là tham quan, khám phá, nhằm nâng cao hiểu biết thế giới xung quanh Đối tượng tham quan có thể là một nơi có phong cảnh ngoạn mục, với những ngọn núi cao, những con thác lớn, những khu rừng nguyên sinh và hang động kỳ bí Hoặc cũng có thể là một di tích lịch sử, lễ hội, làng nghề, một công trình đương đại tầm cỡ Tuy nhiên, do thời gian hạn chế nên số lượng đối tượng sẽ không nhiều và phụ thuộc vào những nguồn tài nguyên trong khu vực Hoạt động này đòi hỏi phải vận động nhiều, di chuyển nhiều do đó

có thể không phù hợp với tất cả các lứa tuổi, các đối tượng khách (thí dụ những người hay say tàu xe, những người cao tuổi hoặc những gia đình có trẻ nhỏ)

Thể thao: mục đích của chuyến đi là tham gia chơi các môn thể thao, để

nâng cao thể chất, phục hồi sức khoe và thể hiện mình Đây là hoạt động làm đáp ứng lòng ham mê thể thao của mọi người, nhưng chỉ đơn thuần là để giải trí chứ

không phải là tham gia thi đấu chính thức Các hoạt động thể thao như chơi gòn, bơi thuyền, lướt ván, bơi lặn, leo núi, đua xe trượt tuyết là những thể loại ưa thích hiện nay Để phù hợp với loại hình này yêu cầu có các điều kiện tự nhiên thích hợp

và có cơ sờ trang thiết bị cần thiết Mặt khác, nhân viên cũng cần được huấn luyện

để có thể hướng dẫn và giúp du khách chơi đúng quy cách

Trang 24

Tâm linh, tôn giáo: loại hình này thoa mãn nhu cầu về tâm linh, tín ngưỡng,

đặc biệt là đối với người cao tuổi Vào những ngày nghỉ, người dân thường hay đến

các đền, chùa để đi lễ, vãn cảnh Các đền chùa ở nước ta thường được xây dựng ở

những nơi có phong cảnh thiên nhiên đẹp nên còn có thể kết hợp với tham quan,

ngắm cảnh Đền chùa cũng thường là những nơi diễn ra các lễ hội, đặc biệt là vào

mùa xuân, vì vậy còn kết hợp vái tham gia lễ hội Thí dụ như hội Chùa Hương, hội

Đền Hùng, hội Phủ Giày

Ngoài ra, còn có nhiều loại hình khác nữa, tuy nhiên, việc phân chia các

loại hình như vậy chỉ mang tính tương đối, bởi lẽ, những hoạt động này thường đan

xen, kết hợp với nhau trong một chuyến đi

1.2 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN cứu ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN

DU LỊCH

Các công trình đánh giá tài nguyên du lịch theo cả hai phương pháp (đánh

giá theo từng thành phần và đánh giá tổng hợp) đã được tiến hành ở nhiều quốc gia

trên thế giới Tuy nhiên, ở mỗi nước, mỗi khu vực khác nhau, các công trình này

được tiến hành theo những hướng khác nhau

1.2.1 Trên thế giới

1.2.1.1 Nga và các nước Đông Ầu

Từ những năm 60-70, các tác giả thuộc khu vực này đã tiến hành nhiều

cồng trình nghiên cứu, đánh giá tài nguyên du lịch V.Xtauxkat,ỉ969 nghiên cứu

các chỉ tiêu đánh giá cảnh quan, phục vụ mục đích qui hoạch du lịch Ong đã đe

cập đến cả những yếu tố tự nhiên cũng như kinh tế (rừng, sông, địa hình, đường

sá ) khi đánh giá cho mục đích du lịch [100] Công trình của Iu.A.Veđenhin và

N.N.Mừôsnhitrencô đã đánh gia toàn bộ các yếu tố tự nhiên làm tiền đề cho việc

tổ chức các vùng du lịch nghỉ dưỡng [97] Công trình của L.I.Mukhina, 1973 về

lĩnh vực này có vai trò hết sức quan trọng Ong đã xảy dựng phương pháp luận

đánh giá tổng thể tự nhiên cho một loại hình nghỉ ngơi giải trí cụ thể, đó là nghỉ

ngơi tĩnh tại cho những người cao tuổi [100] E.A.Kôtliarốp, 1978 tiến hành đánh

giá lãnh thổ phục vụ hình thành và phát triển các tổng thể lãnh thổ du lịch [99]

Trang 25

P.G.Tsarơphis, 1979 đánh giá riêng cho việc phát triển hoạt động nghỉ dường [109] Còn Pirôjnik, 1985 tiến hành phân vùng du lịch toàn bộ lãnh thổ Liên xô trên cơ sở đánh giá tổng hợp các thành phần của hệ thống lãnh thổ du lịch như tài nguyên du lịch, cấu trúc của các luồng khách và cơ sở vật chất phục vụ du lịch theo các vùng và các đới du lịch nghỉ dưỡng [103] Tuy nhiên, phần lớn các công trình đều được tiến hành trên một lãnh thổ lớn, tỷ lệ nhỏ, vì vậy, những đánh giá chỉ mang tính khái quát, định tính Các công trình nghiên cứu ở tỷ lệ lớn thường là đánh giá các yếu tố của cảnh quan, tức là theo phương pháp đánh giá từng thành phần chứ chưa đánh giá tổng hợp các phân hệ thuộc hệ thống lãnh thổ du lịch

Các nhà địa lý thuộc các quốc gia khác trong khu vực cũng có những công trình nghiên cứu khá đa dạng về lĩnh vực này Thí dụ như Fines K.D.,1968 (Đức) đánh giá các điều kiện tự nhiên (địa hình, khí hậu, thực vật) cho việc qui hoạch các trung tâm nghỉ dưỡng J.Vatrinxkaia (Balan) xây dựng mô hình đánh giá tài nguyên thiên nhiên cho mục đích du lịch và nghỉ dưỡng Sử dụng mô hình này ông

đã đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên cho loại hình du lịch núi [99]

12.12 Các nước phương Tây

Các nhà nghiên cứu địa lý và du lịch thuộc các nước phương Tây từ lâu đã tiến hành nghiên cứu, đánh giá tài nguyên du lịch trong các cống trình qui hoạch phát triển du lịch của từng địa phương cũng như trong cả nước Baud Bôvy & Fred Lauson, 1982; Clare A Gunn, 1994; Edward Inskeep, 1991; Boniface & Cooper, 1993 đều cho rằng nghiên cứu và đánh giá tài nguyên du lịch là một bước cơ bản trong quá trình qui hoạch phát triển du lịch [64], [65], [76], [77] Chính vì vậy, trong các tài liệu của mình, họ đều đề cập đến việc nghiên cứu tài nguyên du lịch một cách khá chi tiết Tuy các đánh giá này không tiến hành cho điểm như đánh giá kỹ thuật của Mukhina, nhưng để áp dụng các quan điểm hệ thống và mục đích, nhiều tác giả cũng áp dụng phương pháp đánh giá ma trận [77, tr.95] Đạc biệt là mảng nghiên cứu về sức chứa du lịch, các chỉ tiêu về sức chứa cho từng loại tài nguyên du lịch, cho từng loại hình hoạt động du lịch được nhiều tác giả quan tâm, tuy họ cho rằng đây là vấn đề phức tạp và cần xác định cụ thể cho từng khu vực,

Trang 26

từng địa phương trên thế giới [64], [67], [68], [89], [90], [91], [95] Đây là một vấn

đề khá phức tạp mà các tác giả thuộc các khu vực khác còn ít đề cập tới

Gần đây, tác giả thuộc các nước này mở rộng các hoạt động nghiên cứu, đánh giá Họ không chỉ đánh giá cho qui hoạch du lịch mà còn cho nhiều mục đích khác nữa Thí dụ như đánh giá các khu rừng và các điểm tài nguyên thiên nhiên cho du lịch bền vững của Vries và Goosen [94]; đánh giá cho việc lựa chọn các điểm du lịch phát triển bền vững [91]; đánh giá kinh tế các tài nguyên du lịch

tự nhiên [71]; đánh giá giá trị giải trí của các khu rừng cấm, các Vườn Quốc gia bằng các phương pháp kinh tế [73] Các giá trị này có thể tính ra được bằng tiền nên dễ so sánh hơn Tuy nhiên, kỹ thuật tính toán đòi hỏi khá nhiều thời gian và công sức do đó không phải trong trường hợp nào cũng có thể tiến hành được

1.2.2 Ở Việt Nam

Trong thời gian gần đây, do nhu cầu du lịch bắt đầu phát triển ở nước ta, những công trình nghiên cứu, quy hoạch lãnh thổ cho mục đích du lịch cũng được phát triển mạnh Từ những năm 80 đã có một số đề tài khoa học, dự án về vấn để này như: "Khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường du lịch Việt Nam", 1986;

"Sơ đổ phát triển và phân bố ngành du lịch Việt Nam", 1986; "Dự án qui hoạch tổng thể chỉ đạo phát triển du lịch hổ Đại L ả i huyện Mê Linh, Hà Nội"; " K ế hoạch chỉ đạo phát triển du lịch Việt Nam", 1991; "Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam" [8], [9]; "Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam" (Tổng cục du lịch, 1995); "Tổ chức lãnh thổ du lịch và phân vùng du lịch" (trong "Địa lý du lịch" của Nguyễn Minh Tuệ và nnk, 1997) [59]; hoặc "Đặc trưng các hệ sinh thái, cơ sở của phát triển du lịch sinh thái Việt Nam" [21] Để quy hoạch, tổ chức lãnh thổ

và phân vùng du lịch, các đề tài này đều đã tiến hành đánh giá tiềm nâng hoặc tài nguyên du lịch theo từng thành phần, hoặc đánh giá tổng hợp trên phạm vi cả nước Do hầu hết các công trình được tiến hành đánh giá ở tỷ lệ nhỏ, trên phạm vi lãnh thổ lớn nên mới chỉ dừng lại ở mức khái quát, định tính

Trong cuốn 'Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam" 2000, các tác giả

đã hệ thống về các phương pháp đánh giá tài nguyên du lịch [29] Trong đó có đề

Trang 27

cập đến các kiểu đánh giá, các phương pháp đánh giá theo từng dạng tài nguvên du lịch và đánh giá tổng hợp các dạng tài nguyên du lịch Đây là công trình đầu tiên tiến hành tổng quan phần lý luận về đánh giá tài nguyên du lịch theo phương pháp đánh giá kỹ thuật

Gần đây, việc đánh giá kinh tế tài nguyên du lịch của một số khu du lịch nổi tiếng như Hạ Long, Cúc Phương bằng các phương pháp kinh tế đã được tiến hành ở Việt Nam, nhằm mục đích tăng cường bảo vệ tài nguyên và môi trường cho

du lịch [85], [93]

Tuy nhiên, cho đến nay, các công trình đánh giá tài nguyên du lịch theo kiểu đánh giá kỹ thuật mới chỉ được tiến hành trong các luận án tiến sỹ Nơi mà các luận án tiến sỹ về hướng địa lý du lịch được thực hiện nhiều nhất là Khoa Địa lý thuộc Đại học Sư phạm Hà Nội Trong 66 luận án tiến sỹ đã bảo vệ thành công ở đây có 12 luận án làm về hướng Địa lý du lịch, trong đó có 4 luận án tiến hành nghiên cứu, đánh giá tổng hợp tài nguyên du lịch [6], Đẩu tiên là đề tài "Đánh giá

và khai thác các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên huyện Ba Vì (Hà Tây) phục vụ mục đích du lịch", 1993 [27] Trong công trình của mình, tác giả Đặng Duy Lợi đã đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của khu vực cho mục đích phát triển du lịch nói chung Căn cứ vào số điểm đánh giá của khu vực so với điểm tối đa để kết luận xem khu vực thuận lợi tới mức nào cho việc phát triển du lịch Đây chính là hướng đánh giá mức độ thuận lợi các tổng thể tự nhiên cho mục đích du lịch Tiếp theo là các công trình của Nguyễn Thế Chinh, (1995)

"Cơ sở khoa học của việc xác định các điểm, tuyến du lịch Nghệ A n " [13]; của Hồ Công Dũng, 1996 "Cơ sở khoa học cho việc xây dựng các tuyến, điểm du lịch vùng Bắc Trung bộ", cũng theo hướng đánh giá mức độ thuận lợi Các tác giả đã xem việc đánh giá các điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch là cơ sở của việc xác định các điểm, tuyến du lịch [13] Vì vậy, họ đã tiến hành đánh giá tổng hợp các điều kiện và tài nguyên trong khu vực cho việc phát triển du lịch Gần đây, luận án của Lê Văn Tin, 1999 "Đánh giá tài nguyên thiên nhiên tỉnh Thừa Thiên Huế phục vụ du lịch" cũng theo hướng này[51]

Trang 28

1.2.3 ơ khu vực Hà Nội và phụ cận

Tài nguyên du lịch của Hà Nội và phụ cận đã được một số tác giả nghiên cứu trong các công trình như: "Dự án phát triển trung tâm du lịch và vãn hoa quốc gia, khu giải trí, khu di tích vãn hoa trên địa bàn thủ đô Hà N ộ i " (1993) của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, do Vũ Tuấn Cảnh chủ trì; "Đánh giá và khai thác các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên phục vụ mục đích du lịch huyện

Ba Vì Hà Tây (1992) của Đặng Duy Lợi; "Nghiên cứu đặc điểm tài nguyên du lịch thủ đô Hà Nội phục vụ cho việc khai thác có hiệu quả hoạt động kinh doanh du lịch" của Phạm Vàn Du (1996) và gần đây nhất là "Quy hoạch tổng thể phát triển

du lịch Trung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận" của Tổng cục Du lịch (2001) Tuy nhiên, các còng trình này hoặc là chỉ mới đánh giá tài nguyên tại một điểm cho mục đích du lịch nói chung (Ba Vì, Đại Lải), hoặc là mới chỉ đánh giá khái quát tình hình về tài nguyên trong khu vực do địa bàn nghiên cứu rộng Hơn nữa, các công trình này đểu chỉ đề cập tới việc thu hút khách từ mọi nơi đến Hà Nội là chính, chứ chưa quan tâm tới khách du lịch từ Hà Nội, tức là người Hà Nội đi du lịch các nơi khác Mà trên thực tế thì xu hướng người Hà Nội rời thành phố để đi

du lịch ở các vùng phụ cận vào những ngày nghỉ cuối tuần đang ngày càng tăng nhanh [17]

Du lịch cuối tuần là một dạng hoạt động khá mới mẻ ở nước ta hiện nay Vấn đề này còn ít được nghiên cứu và đề cập trong các công trình hiện tại, kể cả lý luận và thực tiễn Chưa có một công trình nào tiến hành nghiên cứu tổng hợp hoạt động du lịch cuối tuần của Hà Nội và phụ cận Việc quản lý, tổ chức các hoạt động này cũng chưa có sự quan tâm thống nhất mà phụ thuộc vào từng địa phương Các

số liệu về nhu cầu, lượng khách, hình thức tổ chức của hoạt động này chưa được tiến hành điều tra, thu thập Vì vậy, việc nghiên cứu một cách tổng hợp hoạt động

du lịch cuối tuần trong khu vực, trong đó có đánh giá tài nguyên, làm tiền đề cho việc qui hoạch phát triển loại hoạt động này là hết sức quan trọng và cấp thiết Đặc biệt là trong bối cảnh hiện tại, khi mà hoạt động du lịch cuối tuần đang có xu hướng phát triển mạnh ở khu vực phụ cận các thành phố lớn, trong đó có Hà Nội

Trang 29

1.2.4 Một số vấn đề quan trọng trong đánh giá tài nguyên du lịch

Trong các công trình đánh giá tài nguyên du lịch hiện nay của các giả trong

và ngoài nước (theo hướng đánh giá kỹ thuật) nổi lên một số vấn đề quan trọng nhưng chưa có những giải pháp chung, thống nhất như: xác định các yếu tố và chỉ tiêu đánh giá; xây dựng các thang đánh giá; kết hợp các đánh giá thành phần vào đánh giá tổng hợp về các vấn đề này, các tác giả giải quyết theo nhiều cách khác nhau

12.4.1 Xác định các yếu tố và chỉ tiêu đánh giá

Việc xác định các yếu tố và chỉ tiêu đánh giá thường phụ thuộc vào mục đích và nhiệm vụ đánh giá, vào mối quan hệ tương tác giữa chủ thể và khách thể đánh giá Vì vậy, trong các công trình khác nhau, hệ thống các yếu tố và chỉ tiêu đánh giá rất khác nhau

Đối với việc đánh giá theo từng thành phần, là phương pháp đánh giá đã được tiến hành ở nhiều quốc gia trong một thời gian khá dài, nhiều công trình đã

có một sự thống nhất tương đối về các yếu tố, chỉ tiêu đánh giá hoặc các thang, bậc đánh giá Thí dụ như các chỉ tiêu đánh giá bãi tắm của Viện Địa lý, Viện Hàn

lâm Khoa học Liên Xô [29], chỉ tiêu đánh giá bãi biển cho hoạt động tắm biển của Horikava Sasaki và Igarashi, 1978 (xem phụ lụcl)[78], của In skeep E.,1991, của

Rosmary Burton, 1998 [66], [77]; các chỉ tiêu khí hậu sinh học đối vối con người của các nhà khoa học An độ (xem phụ lục 1); các chí tiêu đánh giá mức độ đa dạng của phong cảnh cho dạo chơi ngắm cảnh cùa Mukhina (xem phụ lục 1)[100]; các

chỉ tiêu đánh giá mức độ tương phản của địa hình của Iu.A.Veđenhin, 1975 (xem phụ lục 1); chỉ tiêu đánh giá mức độ tương phản giữa các thể tổng hợp tự nhiên của Đặng Duy Lợi, 1993 (xem phụ lục 1)

Khi đánh giá tổng hợp tài nguyên du lịch, các yếu tố này thường rất đa

dạng

Các tác giả thuộc các nước Đông Âu, nước Nga, chưa có các công trình đánh giá thuộc loại này ở tỷ lệ lớn, họ thường chỉ đánh giá cảnh quan hoặc từng

Trang 30

hợp phần của cảnh quan cho mục đích du lịch mà chưa quan tâm thoa đáng tới các yếu tố khác

Các công trình đánh giá tài nguyên du lịch của các tác giả phương Tây thuộc loại này nhiều hơn Mục tiêu đánh giá của các cồng trình này đa dạng nên các yếu tố và chỉ tiêu lựa chọn cũng khác nhau Edward Inskeep, 1991 khi đánh giá cho qui hoạch phát triển du lịch đã chọn các chỉ tiêu như: khả nâng tiếp cận, tính khả thi về mặt kinh tế, ảnh hưởng môi trường của hoạt động phát triển, ảnh hưởng kinh tế xã hội của hoạt động phát triển, tầm quan trọng của tài nguyên [77] s.de Vries và M.Goossen khi đánh giá tài nguyên rừng và các điểm tài nguyên du lịch tự nhiên cho du lịch quan tâm đến các yếu tố như: độ yên tĩnh, loại đất sử dụng, khả nâng tiếp cận, hộ thống đường mòn, nguồn nước, địa hình, khoảng cách [94] Tuy nhiên, nhiều chỉ tiêu đánh giá còn nặng về định tính

Các tác giả Việt Nam thường chọn các yếu tố như: độ hấp dẫn, sức chứa du lịch, thời gian khai thác, vị trí và khả nâng tiếp cận, độ bền vững, cơ sở hạ tầng và

cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, hiệu quả kinh tế [13], [27], [29], [51] M ỗ i yếu tố này lại bao gồm vài chỉ tiêu tương ứng Các chỉ tiêu đánh giá có thể định lượng hoặc định tính

12.42 Xây dựng thang đánh giá

Các thang đánh giá riêng cũng như chung thường được xây dựng từ 3-5 cấp, song cũng có tác giả chọn tới 10 cấp [94] Nhìn chung, các thang đánh giá có ít cấp thì sự phàn hoa sẽ rõ ràng hơn Tuy nhiên, nếu tiến hành theo phương pháp điều ưa xã hội học, rồi lấy trị số trung bình của những người được phỏng vấn cho điểm thì có thể chia thành nhiều cấp mà vẫn thấy được sự phân hoa rõ rệt như trong các còng trình của Vries và Goosen [94]

1.2 A3 Kết hợp các đánh giá riêng vào đánh giá chung

L.LMukhina cho rằng có thể dùng phương pháp nhàn hoặc cộng các điểm đánh giá riêng, nhưng theo ông, phương pháp cộng được sử dụng nhiều hơn, nhàn các giá trị chỉ nên tiến hành khi có một yếu tố hoặc chỉ tiêu nào đó được đánh giá bằng không, tức là hoàn toàn không thuận lợi cho mục đích đánh giá [100] Do các

Trang 31

yếu tố có mức độ quan trọng không như nhau nên cần chọn hệ số cho các chỉ tiêu hoác yếu tố khác nhau Tuy nhiên, việc chọn hệ số là một việc hết sức phức tạp và hiện nay chưa có một phương pháp hay chỉ dẫn cụ thể nào Có một số tác giả đã dùng phương pháp phân tích nhân tố để xác định hệ số [98], [102], [107] Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng có thể áp dụng được, nhất là đối với các trường hợp đánh giá tổng hợp, bởi các yếu tố thuộc các lĩnh vực khác nhau khó có thể đưa về cùng một hệ để tính toán được

Các tác giả phương Tây lại giải quyết vấn đề này chủ yếu bằng phương pháp điều tra xã hội học Đây là phương pháp hiện nay được các nhà khoa học trong khu vực này sử dụng rộng rãi hơn cả, thí dụ như trong các công trình của Vries và Goossen [86] [94] Thực ra, đánh giá cho du lịch là một lĩnh vực đánh giá trực tiếp cho hoạt động của con người, cho con người, vì vậy việc lấy ý kiến đánh giá của những người đi du lịch sẽ cho kết quả sát thực hem cả Tuy nhiên, những người tham gia phỏng vấn phải là những người có ý thức trách nhiệm đối với việc nghiên cứu

Ngoài ra, một số tác giả còn vận dụng phương pháp mới như GIS, hoặc áp dụng các còng thức, định luật trong vật lý để tính toán các yếu tố mang tính chất tổng hợp [65], [94]

Các tác giả Việt Nam dùng cách gán hệ số cho các yếu tố khác nhau, thí dụ như độ hấp dẫn, thời gian hoạt động du lịch, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật được tính hệ số 3, sức chứa và vị trí được nhân hệ số 2, còn độ bền vững hệ

số Ì[13], [27], [51] Tuy nhiên, các tác giả chủ yếu dựa vào kinh nghiệm bản thân trong quá trình nghiên cứu

Để kết hợp các đánh giá riêng, một số tác giả dùng bài toán trung bình cộng [29], [51], còn một số khác lấy tích của các đánh giá riêng [13],

Để tiến hành phân hạng, sau khi có kết quả đánh giá, các tác giả đã so sánh

tỷ lệ của tổng hoặc tích của điểm đánh giá với số điểm tối đa có thể có để phân hạng các điểm nghiên cứu, đánh giá Cách phân chia các bậc cũng chưa có lý giải

Trang 32

thoa đáng, có tác giả lấy số điểm của các khoảng bằng nhau [27], [51] có tác giả lại lấy khoảng rất không đều nhau mà chưa có lý giải[13]

Tóm lại, trong phương pháp đánh giá tài nguyên du lịch theo hướng tổng hợp còn nhiều vấn đề tổn tại, chưa có những giải pháp chung, đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện

du lịch đã được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới

- Tuy vậy, do nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, hướng nghiên cứu này luôn mới mẻ và cần thiết Các đối tượng đánh giá ngày càng đa dạng, phong phú

và phức tạp Các công trình đánh giá cũng phải tiếp tục tiến hành, mở rộng địa bàn nghiên cứu và đa dạng hoa các loại hình để phục vụ nhu cầu thực tế đó

- Ở Việt Nam, đánh giá là một hướng còn khá mới mẻ, nhất là đánh giá cho mục đích du lịch-nghỉ dưỡng Những công trình nghiên cứu theo hướng này mới

xuất hiện từ những năm 80 đến nay và chủ yếu ở dạng đánh giá khái quát Các công trình đánh giá mức độ thuận lợi của tài nguyên du lịch mới chỉ được tiến hành trong các luận án tiến sĩ

- Du lịch cuối tuần là một hoạt động còn rất mới, do đất nước đang trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoa và đô thị hoa Các công trình nghiên

cứu theo hướng này còn ít và tản mạn, nguồn số liệu hạn chế Trước nhu cầu của thực tế, việc tiến hành nghiên cứu, đánh giá tài nguyên để phát triển du lịch cuối tuần là ván đề quan trọng và cấp thiết hiện nay

Trang 33

1.3 Cơ SỞ LÝ LUẬN ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN DU LỊCH Tự NHIÊN PHỤC

VỤ PHÁT TRIEN DU LỊCH cuối TUẦN

1.3.1 Phương pháp luận đánh giá

Phương pháp đánh giá tài nguyên du lịch sử dụng trong luận án được gọi bằng thuật ngữ "đánh giá kỹ thuật", hay "đánh giá mức độ thuận lợi" Những thuật ngữ và khái niệm này đã được sử dụng rộng rãi trong các công trình nghiên cứu của các nhà địa lý thuộc Liên Xô cũ từ những nám 60 như Guxeva, Nikôlaiep, 1967; Gerentruc, 1968; Mukhina, 1969, 1973 [96], [97], [100]

Đánh giá kỹ thuật tức là phân loại các tổng thể tự nhiên theo mức độ thuận lợi của chúng cho một mục đích khai thác kinh tế nào đó Loại đánh giá này thường được sử dụng trong quá trình nghiên cứu, quy hoạch lãnh thổ Kết quả đánh giá sẽ là cơ sở ban đầu cho việc xây dựng quy hoạch phát triển của khu vực

Đánh giá tài nguyên du lịch là một loại đánh giá kỹ thuật mà nhiệm vụ của

nó là phân loại tài nguyên du lịch theo mức độ thuận lợi của chúng cho các hoạt động du lịch-nghỉ dưỡng của con người, liên quan tói tất cả các loại hình du lịch, đổng thời cũng có thể chỉ cho một loại hình du lịch cụ thể Đánh giá tài nguyên du lịch cũng chính là đánh giá các tổng thể tự nhiên và nhân vãn có khả năng khai thác cho du lịch

Đánh giá tài nguyên du lịch cho du lịch cuối tuần là một hướng trong đánh giá tài nguyên du lịch Vì vậy, nó cũng sử dụng những phương pháp đánh giá tài nguyên du lịch nói chung

Đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên phục vụ du lịch cuối tuần chính là đánh giá mối tương quan giữa các tổng thể tự nhiên (được coi là khách thể) với hoạt động du lịch cuối tuần của con người hay chính là những nhu cầu, sở thích

của bản thân con người khi đi du lịch cuối tuần (được coi là chủ thể) Do đó, kết quả đánh giá của cùng một đối tượng (khách thể) sẽ thay đổi phụ thuộc vào mục đích mà ta tiến hành đánh giá (chủ thể) Như vậy, đánh giá không chỉ đem thuần các tổng thể tự nhiên hay tài nguyên thiên nhiên mà là đánh giá những mối tác động tương hỗ giữa chúng với hoạt động du lịch cuối tuần của con người

Trang 34

Khi đánh giá cho mục đích du lịch cuối tuần cần sử dụng ba hình thức đánh giá chính Đánh giá tâm lý - thẩm mỹ nhằm đánh giá mức độ cảm xúc và phản ứng

về tâm lý, thẩm mỹ của khách du lịch đối với các dạng tài nguyên du lịch Đánh giá sinh - khí hậu nhằm đánh giá các dạng tài nguyên khí hậu và xác định thời gian thích hợp nhất với sức khoe con người hoặc với một loại hoạt động du lịch nào đó Đánh giá kỹ thuật nhằm xác định giá trị của tài nguyên du lịch đối với một loại hình du lịch hoặc một loại công trình phục vụ du lịch Tính tổng hợp của các tài nguyên du lịch đòi hỏi phải kết hợp cả ba kiểu đánh giá để xác định giá trị của tài nguyên và có hình thức sử dụng chúng một cách hợp lý [29] [103]

Tài nguyên du lịch có thể đánh giá theo hai phương pháp chính, đó là đánh giá theo từng thành phần và đánh giá tổng hợp [29] M ỗ i một dạng tài nguyên du lịch như địa hình, khí hậu, nguồn nước, sinh vật đều được đánh giá theo một số tiêu chí nhất định để phục vụ du lịch nên có thể xác định được những định mức cụ thể cho từng loại Việc đánh giá tài nguyên du lịch theo từng dạng riêng biệt như vậy là cắn thiết Tuy nhiên, do tính chất tổng hợp của tài nguyên, của các tổng thể

tự nhiên, đòi hỏi phải tiến hành đánh giá tổng hợp các dạng tài nguyên trên một lãnh thổ Chỉ có đánh giá tổng hợp mới cho biết giá trị đích thực và khả nàng khai thác thực tế các nguồn tài nguyên Một nguồn nước có thể được đánh giá rất cao

về mật chất lượng, đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh môi trường, các tiêu chuẩn cho hoạt động nước, nhưng lại nằm trong khu vực có điều kiện khí hậu lạnh giá thì cũng không thể khai thác cho hoạt động tắm hay bơi lội được Do đó, muốn xác đinh mức độ thuận lợi của tài nguyên cho việc khai thác du lịch, phục vụ các loại hình du lịch cụ thể, cần phải tiến hành đánh giá tổng hợp tài nguyên Tất nhiên, việc đánh giá tổng hợp là vô cùng khó khăn và phức tạp Trong trường hợp này, không thể có những tiêu chuẩn hay định mức có sẩn mà cần phải nghiên cứu trong từng khu vực cụ thể, đối với từng loại hoạt động du lịch cụ thể

Việc đánh giá tổng hợp tài nguyên du lịch tại một điểm du lịch, khu du lịch hay một vùng du lịch không chỉ đơn thuần là đánh giá tài nguyên mà còn là đánh giá cả các điều kiện để khai thác các tài nguyên đó nữa, do đó đòi hỏi phải kết hợp nhiều yếu tố, nhiều lĩnh vực khác nhau [29]

Trang 35

Hoạt động đánh giá tài nguyên du lịch cần tiến hành theo hai giai đoạn với nội dung cụ thể được trình bày ở bảng 1.1 (xem bảng LI.) Như vậy, một hoạt động đánh giá thường chia làm hai giai đoạn (trừ trường hợp đối tượng đánh giá quá đem giản, mối quan hệ giữa chủ và khách thể đã được nghiên cứu kỹ và thử nghiệm nhiều lần trong thực tế) Giai đoạn đầu: xây dựng cơ sở lý luận cho việc đánh giá, đó chính là những chỉ dẫn về mật nguyên tắc và phương pháp cho đánh giá Giai đoạn hai là đánh giá các tài nguyên trên một lãnh thổ cụ thể

Bảng LI Các giai đoạn trong hoạt động đánh giá (theo Ỉ.I.Mukhina, Ỉ973)[ 103]

Các thành

phần

Nhiêm vu Xảy dưng các chỉ dẫn cho vièc đánh giá Đánh giá tài nguyên du lích

Đối tượng Tìm hiểu mối tác động tương hỗ giữa tài

nguyên du lịch với các hoai đông cụ thể

Nghiên cứu đác điểm của tài nguyên du lích

Biện pháp

Xây dựng các chỉ dẫn cho việc đánh giá Chuyển các đặc điểm của tài nguyên sang

các cấp đánh giá (theo thang đánh giá)

Sản phẩm Các chỉ dẫn phương pháp đánh giá Bản đồ đánh giá, chú giải vá bảng kết quả

đánh giá

1.3.2 Phương pháp đánh giá

Vận dụng những nguyên tắc và phương pháp chung về đánh giá tài nguyên

du lịch đã xem xét, qui trình nghiên cứu, đánh giá TNDLTN phục vụ phát triển DLCT được tiến hành theo hai giai đoạn

Việc xây dựng cơ sở lý luận đánh giá chính là nhiệm vụ của giai đoạn Ì trong quá trình đánh giá Nội dung của giai đoạn này bao gồm: 1 Xác định đối tượng và mục tiêu đánh giá; 2 Xác định các yếu tố, đặc điểm, chỉ tiêu đánh giá và xây dựng thang đánh giá; 3 Dự kiến sản phẩm đánh giá

Nhiệm vụ của giai đoạn 2 là tiến hành đánh giá tổng hợp một số điểm tài

nguyên trong khu vực Nội dung của giai đoạn này là: 1 Khảo sát đạc điểm của các thành phần, yếu tố và chỉ tiêu cần đánh giá; 2 Đánh giá các điểm tài nguyên theo các thang điểm đã xây dựng; 3 Xây dựng các biểu bảng và bản đồ đánh giá

Trang 36

132,1 Xác định đối tượng và mục tiêu đánh giá

Mục tiêu đánh giá

Khi đánh giá tài nguyên du lịch cần chú ý xem việc đánh giá được tiến hành trên quan điểm của ai, của người đi du lịch đơn thuần hay của những người tổ chức kinh doanh du lịch Nếu chỉ trên quan điểm của người đi du lịch thì mức độ đánh giá đơn giản hơn nhiều Người ta chỉ cần xem đặc điểm của tài nguyên có phù hợp với bản thân khi tiến hành một hoạt động du lịch nào đó hay không Nhưng nếu theo quan điểm của người tổ chức, khai thác thì còn cần phải quan tâm tới nhiều yếu tố khác nữa như đặc điểm phân bố về thời gian và không gian của chúng Thí dụ như: thời gian hoạt động du lịch; sức chứa của điểm tài nguyên; độ bền vững của điểm tài nguyên trước các loại hình hoạt động du lịch cụ thể Như vậy, đánh giá trên quan điểm của các nhà tổ chức đòi hỏi phải nghiên cứu tài nguyên sâu sắc hơn và toàn diện hơn, thậm chí còn phải đánh giá cả hiệu quả kinh

tế, cả bối cảnh kinh tế xã hội của khu vực Vì vậy, các yếu tố đánh giá cần bao quát được toàn bộ các vấn đề này

Đối tượng đánh giá

Muốn xác định được đối tượng đánh giá cho du lịch cuối tuần trong khu vực, tức là xác định mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể đánh giá, cần nghiên cứu đặc điểm của chủ thể và khách thể

Chủ thể đánh giá là những hoạt động du lịch cuối tuần của người dân, hay chính là nhu cầu, sở thích của người dân khi tham gia du lịch cuối tuần Khách thể đánh giá là nguồn tài nguyên thoa mãn nhu cầu du lịch cuối tuần của khách du lịch Đối tượng đánh giá chính là mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể được phân tích trong một hệ thống du lịch xác định [65], [100], [103]

Xét mối quan hệ giữa ba thành phán cơ bản của một hệ thống du lịch (xem

hình 1.2.), đó là nơi xuất phát của khách du lịch (điểm cấp khách); nơi đến của khách du lịch (điểm du lịch hay điểm tài nguyên) và các tuyến du lịch nối giữa nơi

đi với nơi đến, ta thấy chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau

Trang 37

M ồ i [rường: con n g ư ờ i , vãn hoa - xã hời, kinh tế, kỹ thuật, tự n h i ê n , c h í n h trị

( ) K h u p h â n b ố k h á c h du lịch và n g à n h du lịch

N G U Ồ N : LEIPER, 1990

Hình 1.2 Sơ đồ hệ thông du lịch của Leiper (1990)[8Zị

Điểm đến bao gồm những yếu tố có giá trị của tài nguyên cho một loại hoạt động du lịch hoặc cho toàn bộ các hoạt động du lịch nói chung Gọi những yếu tố này là độ hấp dẫn của bản thân điểm tài nguyên và ký hiệu là M ị

Tuy nhiên, độ hấp dẫn của tài nguyên sẽ có giá trị khác nhau đối với những nguồn khách khác nhau bởi vì nhu cầu, sở thích của con người không như nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: vị trí, môi trường, kinh tế, xã hội Thí dụ như khách ờ các thành phố, bị sống tách biệt với thiên nhiên thì thích đi du lịch tới những nơi có điều kiện gần gũi với thiên nhiên Những người ở nông thôn, ở miền núi lại thích đến các thành phố, đô thị để nghỉ ngơi, du lịch Do đó, cùng một loại tài nguyên như nhau có thể tạo nén sự hấp dẫn khác nhau đối với những người ở các điểm cấp khách khác nhau Như vậy, hệ số ưa thích của du khách ờ một điểm cấp khách đối với một điểm đến có thể ký hiệu là M2

Nếu một điểm du lịch càng hấp dẫn thì càng thu hút được nhiều khách du lịch Mặt khác, nếu nhu cầu của nguồn khách đối với một điểm du lịch càng lớn thì càng có nhiều người đi du lịch Song, mối quan hệ này còn phụ thuộc vào

khoảng cách, vào điều kiện thuận lợi của các tuyến du lịch liên kết giữa hai điểm

đó (ký hiệu là R) Như vậy, nếu gọi F là sức hút du lịch giữa điểm đi và điểm đến

Trang 38

thì F sẽ phụ thuộc vào cả 3 thành phần đó (M Ị , M2 và R) Giá trị của F có thể xác định bằng cách kết hợp 3 thành phần trên

Như vậy, đối tượng đánh giá chính là sức hút du lịch được phân tích trong một hệ thống du lịch cụ thể

1322 Xác định các yếu tố J chỉ tiêu đánh giá và xây dựng thang đánh giá

Phụ thuộc vào mục tiêu đánh giá, vào đối tượng đánh giá, đồng thời thừa kế kết quả nghiên cứu về tiêu chuẩn chung đối với điểm du lịch cuối tuần của tác giả Đặng Duy Lợi, 1993 (xem phụ lục 4) và Baud Bovy, 1985, các thành phần chủ yếu cần đánh giá gồm: độ hấp dẫn của bản thân điểm tài nguyên (MỊ); SỞ thích của

du khách tại điểm cấp khách (M2) và khoảng cách giữa chúng (R)

Mỗi thành phần này lại được đánh giá theo các yếu tố và chỉ tiêu cụ thể

ã Độ hấp dẫn của tài nguyên

Độ hấp dẩn của tài nguyên được đánh giá thông qua các yếu tố sau: sự phù hợp của tài nguyên; tính đa dạng, độc đáo và khả năng mở rộng hoạt động tham quan; cơ sở hạ tầng; sức chứa; thời gian hoạt động và khả nâng phát triển

1) Sự phù hợp

Sự phù hợp đối với hoạt động du lịch là yếu tố đầu tiên thu hút khách du lịch Yếu tố này được đánh giá qua các giá trị của tài nguyên cho một loại hoạt động du lịch cụ thể M ỗ i điểm đến có một hoặc vài dạng tài nguyên điển hình, phù hợp với một hoặc vài loại hình hoạt động du lịch đặc thù của khu vực đó Thí dụ như bãi biển cho hoạt động tắm biển; hổ cho bơi thuyền, câu cá Vì vậy, trước hết cần đánh giá riêng từng dạng tài nguyên tại mồi điểm đến

2) Tính đa dạng, tương phản, độc đáo và khả năng mở rộng hoạt động tham

Trang 39

tuổi, nghề nghiệp nên nhu cầu cũng đa dạng Do đó tài nguyên càng đa dạng thì càng hấp dẫn Đặng Duy Lợi đánh giá tính đa dạng bằng số lượng phong cảnh, di tích và số lượng các loại hình có thể đáp ứng được[27]

- Sự tương phản được đánh giá bằng sự có mặt của các tổng thể tự nhiên

khác biệt nhau ở Việt Nam, có thể dùng chỉ tiêu của Đặng Duy Lợi Theo ông, rừng với hồ nước được đánh giá cao hơn cả, sau đó là rừng và cánh đổng hoặc cánh đổng và hổ Cây bụi vói cánh đổng hoặc rừng với cây bụi được đánh giá thấp hem,

và cuối cùng là cánh đổng với đổng cỏ [27](xem phụ lụcl)

- Khả năng mở rộng hoạt động tham quan tại một điểm du lịch phụ thuộc vào số lượng và chất lượng các đối tượng tham quan tại khu vực đó Nếu có nhiều

và chất lượng cao thì thuận lợi

3) Thời gian hoạt động du lịch

Do tính nhíp điệu của các quá trình tự nhiên, tài nguyên du lịch có thể có những hạn chế đối với các hoạt động du lịch Một số loại hình chỉ có thể tiến hành được vào những thời kỳ nhất định trong năm, điều này đẫn đến tính mùa vụ của hoạt động du lịch và của cơ sở du lịch Thời gian hoạt động quyết định tính chất thường xuyên hay mùa vụ của hoạt động du lịch Tính thời vụ lại ảnh hưởng tới việc tổ chức, kinh doanh du lịch Vì vậy đây là yếu tố mà người tổ chức đặc biệt quan tâm

Khí hậu được đánh giá theo mức độ thích hợp với sức khoe con người và

thích hợp cho các hoạt động du lịch Song, đối với du lịch cuối tuần, là loại hình

du lịch thường chọn những khu vực lân cận với nơi cư trú, vì vậy khí hậu của nơi nghỉ với nơi cư trú thường không có mấy khác biệt Việc đánh giá khí hậu cho thời

gian hoạt động du lịch là quan trọng và có ý nghĩa hơn Việc đánh giá này thường được thực hiện theo phương pháp khí hậu tổng hợp của E.E.Phêrỏrốp [27] Dựa trên cơ sờ thống kê thời tiết hàng tháng hoặc trung bình năm theo các kiểu chính

và thông qua sự diễn biến của chúng để xác định được khoảng thời gian thích hợp cho hoạt động du lịch

Trang 40

Ngoài ra, đối với các hoạt động du lịch dựa vào nguồn nước như tắm biển, tắm hồ hoặc bơi thuyền còn phụ thuộc vào nhiệt độ của nước hoặc độ sâu mực nước thì cần phải kết hợp cả với các yếu tố này để đánh giá Kỏrnhilôva, 1979 đã

đề cập các chỉ tiêu về nhiệt độ nước để xác định thời hạn mùa tắm [29]

Mùa hè là mùa du lịch quan trọng nhất vì có thể tổ chức nhiều loại hình du lịch ngoài trời Khách du lịch cuối tuần cũng có nhu cầu chủ yếu đối với các loại hình du lịch ngoài trời Hơn nữa, mùa hè là thời gian nghỉ của học sinh nên các gia đình thường chọn thời kỳ này Vì vậy cần phải xác định được các yếu tố khí hậu ảnh hường đến thời gian hoạt động du lịch như những ngày mưa lớn trong tháng, những ngày có dông, bão

4) Sức chứa du lịch

Yếu tố này phản ánh qui mỏ triển khai hoạt động du lịch, vì vậy được các nhà tổ chức rất quan tâm khi đánh giá tài nguyên du lịch Sức chứa phụ thuộc vào

đặc điểm của tài nguyên, phụ thuộc vào các hoạt động du lịch cụ thể

Sức chứa của một điểm du lịch (carrying capacity) là số lượng người cực đại

mà điểm du lịch có thể chấp nhận, mà không gây suy thoái hệ sinh thái tự nhiên, không gây xung đột xã hội giữa cộng đổng địa phương và du khách và không gây suy thoái nền kinh tế truyền thống của cộng đổng bản địa [64], [71], [90] Tuy theo ý nghĩa, có thể xác định 3 loại sức chứa như: sức chứa sinh thái, sức chứa xã hội và sức chứa kinh tế

Tuy nhiên, mục đích của đề tài là đánh giá tài nguyên tự nhiên nên ờ đây chỉ quan tâm tới sức chứa sinh thái mà thôi Sức chứa sinh thái được hiểu là áp lực

sử dụng lãnh thổ du lịch cực đại mà không xảy ra suy thoai Điều đó có nghĩa là bất cứ dấu hiệu suy thoái mỏi trường nào cũng đều chứng tò sự vượt quá giới hạn

chịu tải

Muốn so sánh, đánh giá được sức chứa của các điểm khác nhau cần tính toán một số chỉ tiêu cụ thể: sức chứa cực đại tại một thời điểm; sức chứa cực đại trong một ngày; sức chứa cực đại trong một năm

Ngày đăng: 27/03/2015, 12:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Huy Anh, Phạm Khang (1990), "Đặc điểm hình thái địa hình phục vụ quy hoạch du lịch", Phụ lục đề tài Tố chức lãnh thổ du lịch Việt Nam tr.1-11, Viện NCPTDL, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm hình thái địa hình phục vụ quy hoạch du lịch
Tác giả: Lại Huy Anh, Phạm Khang
Nhà XB: Viện NCPTDL
Năm: 1990
2. Phạm Quang Anh (1996), Phân tích cấu trúc sinh thái cảnh quan ứng dụng định hướng tổ chức du lịch xanh ở Việt Nơm, Luận án PTS khoa học Địa lý, Đại học KHTN, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích cấu trúc sinh thái cảnh quan ứng dụng định hướng tổ chức du lịch xanh ở Việt Nơm
Tác giả: Phạm Quang Anh
Nhà XB: Đại học KHTN
Năm: 1996
3. Phạm Quang Anh (1998), "Bước đẩu đề xuất phương pháp đánh giá hiện trạng môi trường các khu danh thắng trong du lịch sinh thái", Tuyển tập các công trình khoa học ngành Địa lý, Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đẩu đề xuất phương pháp đánh giá hiện trạng môi trường các khu danh thắng trong du lịch sinh thái
Tác giả: Phạm Quang Anh
Năm: 1998
4. Vũ Thế Bình chủ biên (2000), Non nước Việt Nam, Tổng cục Du lịch, Trung tâm công nghệ thông tin du lịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2000), Non nước Việt Nam
Tác giả: Vũ Thế Bình chủ biên
Năm: 2000
5. Đoàn Vãn Bộ chủ trì (2000), Các kết quả triển khai mô hình 3D kết hợp thúy nhiệt động lực và sinh thái vịnh Bắc bộ, Báo cáo đề tài N C K H thuộc chương trình biên, để tài KHCN-06-02 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các kết quả triển khai mô hình 3D kết hợp thúy nhiệt động lực và sinh thái vịnh Bắc bộ
Tác giả: Đoàn Vãn Bộ chủ trì
Năm: 2000
7. Lê Thạc Cán (1995), Cơ sở khoa học môi trường, Tủ sách Đại học - Đào tạo từ xa - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học môi trường
Tác giả: Lê Thạc Cán
Năm: 1995
8. Vũ Tuấn Cảnh, Đặng Duy Lợi, Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ và nnk (1991), Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam, Viện NCPTDL, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam
Tác giả: Vũ Tuấn Cảnh, Đặng Duy Lợi, Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ và nnk
Năm: 1991
9. Vũ Tuấn Cảnh, Lê Thông (1995), "Một số v á i đề về phương pháp luận và phương pháp quy hoạch du lịch", Du lịch và phát triển, số Ì, tr.34-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số v á i đề về phương pháp luận và phương pháp quy hoạch du lịch
Tác giả: Vũ Tuấn Cảnh, Lê Thông
Năm: 1995
10. Ngô Ngọc Cát, Nguyễn Xuân Tặng, Tô Đình Huyên (1990), "Đánh giá tài nguyên nước khoáng và nước dưới đất Việt Nam phục vụ quy hoạch phát triển du lịch", Phụ lục đề tài Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam ti*. 27-53, Viện NCPTDL, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tài nguyên nước khoáng và nước dưới đất Việt Nam phục vụ quy hoạch phát triển du lịch
Tác giả: Ngô Ngọc Cát, Nguyễn Xuân Tặng, Tô Đình Huyên
Nhà XB: Viện NCPTDL
Năm: 1990
11. Cazes G. Lanquar R. Raynouard Y , Quy hoạch du lịch, Đào Đình Bắc dịch, N X B Đại học Quốc gia Hà Nội (2000) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch du lịch
12. Nguyễn Trần Cầu (chủ nhiêm) (1993), Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch biển Việt Nam, Chương trình biển KT.03, đề tài 03-18, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch biển Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Trần Cầu
Nhà XB: Chương trình biển KT.03
Năm: 1993
13. Nguyễn Thế Chinh (1995), Cơ sỏ khoa học của việc xác định các điểm tuyến du lịch Nghệ An, Luận án PTS khoa học Địa lý, ĐHSPHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sỏ khoa học của việc xác định các điểm tuyến du lịch Nghệ An
Tác giả: Nguyễn Thế Chinh
Năm: 1995
15. Đổ Thị Minh Đức, Nguyễn Viết Thịnh (1998), "Định lượng và định tính trong nghiên cứu địa lý kinh tế xã hội", Kỷ yếu hội nghị khoa học ngành Địa lý, tĩ\50-59, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định lượng và định tính trong nghiên cứu địa lý kinh tế xã hội
Tác giả: Đổ Thị Minh Đức, Nguyễn Viết Thịnh
Nhà XB: Kỷ yếu hội nghị khoa học ngành Địa lý
Năm: 1998
16. Phạm Hoàng Hải (2000), "Phân vùng cảnh quan Việt Nam - nguyên tắc và hệ thống các đơn vị" Tuyển tập các công trình khoa học, Hội nghị Khoa học Địa lý - Địa Chính tr.234-239, Tạp chí khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân vùng cảnh quan Việt Nam - nguyên tắc và hệ thống các đơn vị
Tác giả: Phạm Hoàng Hải
Nhà XB: Tạp chí khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
17. Nguyễn Thị Hải, Trần Đức Thanh (2001), "Ảnh hưởng môi trường của hoạt động lễ hội Chùa Hương", Kỷ yếu Hội nghị khoa học kỷ niệm 5 nám thành lập khoa Du lịch học (1995-2000) tr.71-82 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng môi trường của hoạt động lễ hội Chùa Hương
Tác giả: Nguyễn Thị Hải, Trần Đức Thanh
Năm: 2001
18. Nguyễn Hoàn chủ trì (1996), Nghiên cứu biến đổi địa hình và quá trình hình thành các cồn bãi ở khu vực cửa sông Hồng của Ba Lạt, Báo cáo để tài N C K H cấp bộ, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu biến đổi địa hình và quá trình hình thành các cồn bãi ở khu vực cửa sông Hồng của Ba Lạt
Tác giả: Nguyễn Hoàn
Nhà XB: Báo cáo để tài N C K H cấp bộ
Năm: 1996
19. Nguyễn Thượng Hùng (1998), "Phát triển du lịch sinh thái trên quan điểm phát triển bền vững", Tuyển tập báo cáo Hội thảo Du lịch sinh thái với phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam, tr.70-75, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch sinh thái trên quan điểm phát triển bền vững
Tác giả: Nguyễn Thượng Hùng
Nhà XB: Tuyển tập báo cáo Hội thảo Du lịch sinh thái với phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam
Năm: 1998
20. Đặng Huy Huỳnh, Phạm Trọng Anh (1990), "Tài nguyên thực động vật những khu vực điển hình có thể khai thác kinh doanh du lịch ở Việt Nam", Phụ lục đề tài Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam, Tạp chí khoa học Viện NCPTDL, Hà Nội. tr.54-74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên thực động vật những khu vực điển hình có thể khai thác kinh doanh du lịch ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Huy Huỳnh, Phạm Trọng Anh
Nhà XB: Tạp chí khoa học Viện NCPTDL
Năm: 1990
21. Nguyễn Ngọc Khánh (1999), "Đặc trưng các hệ sinh thái, cơ sở của phát triển du lịch sinh thái Việt Nam", Tuyển tập báo cáo hội thảo "Xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển du lịch sinh thái ở Việt nam"\x. ì 15-120. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng các hệ sinh thái, cơ sở của phát triển du lịch sinh thái Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Khánh
Nhà XB: Tuyển tập báo cáo hội thảo "Xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển du lịch sinh thái ở Việt nam"
Năm: 1999
22. Vũ Bội Kiếm (1990). "Phân loại khí hậu Copen và một số ứng dụng trong công tác du lịch". Phụ lục đề tài Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam. Viện NCPTDL, Hà N ộ i , tr. 12-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại khí hậu Copen và một số ứng dụng trong công tác du lịch
Tác giả: Vũ Bội Kiếm
Nhà XB: Viện NCPTDL
Năm: 1990

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w