1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trách nhiệm pháp lý và đạo đức trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ

135 743 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 61,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

phải báo tin ngay cho cơ quan Công an hoặc ủ y ban nhân dân nơi gần nhất Đối với những chủ thể khi tham gia giao thông được quyền bảo đảm cho việc tham gia giao thông của mình được thuận

Trang 1

PHAN TH Ị LAN PHƯƠNG

TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng T h ị K i m Q u ế

ĐẠI HO C QUỐC GIA HA NỌ' TRUNG TÂM THÒNG TIN ĨHƯ VIỆN

v - l ồ lA S ầ ù

H À NỘI - 2007

Trang 2

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN.

Trang 3

4 Phương pháp nghiên cứu.

5 Kết cấu của Luận văn

PHẨN, NỘI DUNG

Chương 1: NHŨNG VAN ĐẾ LÝ LUẬN c ơ BẢN VỂ TRÁCH NHIỆM

PHÁP LÝ VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG LĨNH v ự c TRẬT T ự AN

TOÀN GIAO THÔNG ĐUỒNG BỘ

1.1 Trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông

đường bộ

1.1.1 Khái niệm trật tự an toàn giao thông đường bộ

1.1.2 Khái niệm trách nhiệm pháp lý

1.1.3 Khái niệm trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực trật tự an toàn

giao thông đường bộ

1.1.4 Các dấu hiệu đặc trưng của trách nhiệm pháp lý trong lĩnh

vực trật tự an toàn giao thông đường bộ

1.1.5 Cơ sở trách nhiệm pháp lý, các hình thức trách nhiệm pháp lý

trong trật tự an toàn giao thông đường bộ

1.1.6 Các dạng trách nhiệm pháp lý cụ thể trong lĩnh vực trật tự an

toàn giao thông đường bộ

Trang 4

1.1.6.1 Trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông

1.1.7 Mối quan hệ giữa các hình htức trách nhiệm pháp lý trong

lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ 45

1.2 Trách nhiệm đạo đức trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông

1.2.1.4 Mối quan hệ giữa đạo đức với pháp luật 52

1.2.3 Khái niệm trách nhiệm đạo đức trong lĩnh vực trật tự an toàn

Chương 2: ! THỤb TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG LĨNH

NAY QUA THỰC TIEN t ạ i t ỉ n h t h a n h h ó a 67

2.1 Thực trạng pháp luật và chấp hành pháp luật trong lĩnh vực

trật tự an toàn giao thông đường bộ 67

Trang 5

2.1.1.1 Một số đặc điểm về pháp luật trong lĩnh vực trật tự an toàn

2.1.1.2 Thực trạng chấp hành pháp luật vé trật tự an toàn giao thông

2.1.2 Một số nguyên nhân cơ bản dẫn tới tình trạng vi phạm trật tự

an toàn giao thông và tai nạn giao thông đường bộ 802.1.3 Thực trạng về áp dụng biện pháp trách nhiệm pháp lý trong

lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ ở nước ta hiện

Chương 3: M ộ f SÔ GIẢI PHÁP c ơ BẢN NHẰM GÓP PHAN h o à n

THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT, NÂNG CAO ĐẠO ĐÚC TRONG LĨNH v ự c TRẬT T ự AN TOÀN GIAO THÔNG

3.1 Tính đồng bộ của các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật

nâng cao dạo đức trong nính vực trật tự an toàn giao thông

3.2 Các giảỉ pháp cụ thể nhầm hoàn thiện hệ thống pháp luật và

nâng cao đạo đức trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông

3.2.1 Đổi mới hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về trật tự an

3.2.2 Đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về

Trang 6

PH Ầ N M Ở Đ Ầ U

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Hệ thống giao thông vận tải nước ta bao gồm đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường không, trong đó giao thông đường bộ là loại hình giao thông giữ vai trò quan trọng nhất trong sự phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng

và an ninh quốc gia, đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân, đẩy mạnh giao lưu, hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới ; An toàn giao thông là một phần quan trọng không thể thiếu ừong đời sống hiện nay vì bên cạnh những nhu cầu như: ăn, mặc, ở con người còn có nhu cầu đi lại; việc đi lại

đó cần đảm bảo về sự thuận tiện và an toàn cho các chủ thể khi tham gia giao thông; người dân Việt Nam hiện nay nhu cầu đi lại không còn là sự bó hẹp như trước đây mà bây giờ mở ra rộng ra; Đáp ứng yêu cầu đó Hiến pháp của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định về việc tự do đi lại của công dân Việt Nam cụ thể tại điều 68: "Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ỏ trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật

Việt Nam nói riêng, các nước đang phát triển, thậm chí ở cả những nước phát triển (nói chung), tai nạn giao thông (TNGT), ùn tắc giao thông gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trọng vẻ tính mạng, tài sản của nhà nước, của nhân dân, đây chính là vấn đề mang tính xã hội, tính toàn cầu

Theo thống kê của Hiệp hội an toàn đường bộ toàn cầu - GRSP (Global road safety partnership) hàng năm thế giới có khoảng hơn 1,2 triệu người chết, khoảng trên 50 triệu người bị thương, thiệt hại vể tài sản lên tới hơn 500 tỷ USD do TNGT đường bộ gây ra, Khoảng 75% vụ TNGT đường bộ xảy ra

các nước đang phát triển mặc dù các nước này chỉ chiếm từ 32% phương tiện

cơ giới đường bộ của thế giới, trong số TNGT đường bộ thì tai nạn do người đi

xe máy gây ra chiếm tới 85%

Trang 7

Việt Nam là một trong những nước có số vụ TNGT cao nhất thế giới, TNGT không chỉ là sự thiệt thòi cho chính những người bị thiệt mạng mà CÒĨ 1

để lại gánh nặng cho cả xã hội Thế kỷ XXI là thế kỷ của công nghệ thông tin và kinh tế tri thức, chúng ta đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh, từng bước hội nhập khu vực và quốc tế; Hiện nay chúng ta đã chính thức là thành viên của tổ chức thương mại thế giới - WTO Vì vậy giao thông vận tải nói chung, giao thông đường bộ nói riêng ngày càng giữ vai trò to lớn trong sự phát triển kinh tế- xã hội, hơn thế nữa xã hội phát triển, đời sống ngày càng được nâng cao, nhu cầu đi lại và số lượng phương tiện tham gia giao thông ngày càng nhiều, khả năng vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ (TTATGTĐB), TNGT đường bộ ngày càng gia tăng; Việc tham gia giao thông an toàn và được bảo đảm an toàn chính là mục đích mà mỗi cá nhân, tổ chức, xã hội hướng tới

Để giải quyết được một cách hài hoà mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, nhu cầu sinh sống, làm việc cùng vói nhu cầu tham gia giao thông của xã hội, bên cạnh đó là sự cần thiết phải kiềm chế được tình hình vi phạm quy định pháp luật về TTATGTĐB, TNGT và những thiệt hại mà nó gây ra Trên thế giới do nhu cầu đi lại của công dân các nước lẫn nhau nhằm giao lưu văn hóa, kinh doanh thương mại hiện nay ngày càng được rộng mở vì vậy vấn đề an toàn giao thông không còn là của riêng quốc gia nào mà trở thành vấn đề chung của toàn thế giới Liên Hiệp Quốc đã đứng ra kêu gọi cả thế giới cần

có những biện pháp để kiềm chế tình trạng vi phạm TTAGTĐB, TNGT; cụ thể

là hành động hưởng ứng “Tuần lễ an toàn giao thông toàn cầu” do Liên Hiệp quốc đứng ra khởi xướng từ ngày 23 đến 29 tháng 4 năm 2007 Còn đối với Việt Nam không chỉ nhiệt liệt hưởng ứng ‘Tuần lễ an toàn giao thông toàn cầu” chúng ta đã có nhiều hành động rất thiết thực của riêng mình như:

‘'Tháng an toàn giao thông quốc gia ; quan trọng nhất là ngày 29 tháng 06

Trang 8

năm 2001 Quốc hội nước ta đã thông qua Luật giao thông đường bộ Luật này quy định quy tắc giao thông đường bộ, các điều kiện bảo đảm an toàn giao thông đường bộ của kết cấu hạ tầng, phương tiện và người tham gia giao thông đường bộ, hoạt động vận tải đường bộ, trước đây chúng ta mới chỉ sử dụng những văn bản dưới luật để điều chỉnh lĩnh vực này cho nên hiệu lực không cao Cùng với Luật giao thông đường bộ nhà nước cũng ban hành một loạt các văn bản pháp luật quy định trách nhiệm hình sự (TNHS), trách nhiệm dân sự (TNDS), trách nhiệm hành chính (TNHC) trong lĩnh vực bảo đảm TTATGTĐB như: Căn cứ vào yêu cầu thực tế, căn cứ vào quy định của Hiến pháp Việt Nam năm 1992 quy định tại Điều 78: “Công dân có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản của nhà nước và lợi ích công cộng Tại Điều 79 quy định: “Công dân cố nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật, tham gia bảo

vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng”. Vì vậy mà chương XIX của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định vể các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng; Nghị định số 15/2003/NĐ- CP ngày 19-02- 2003 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính về giao thông đường bộ; Nghị định số 92/2003/ NĐ-CP ngày 13/8 năm 2003 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 41 Nghị định 15/2003; và hiện nay thì Nghị định 152/ 2005/ NĐ- CP ngày 15 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ thay thế Nghị định 15/2003 và Nghị định 92/2003 đáp ứng tình hình vô cùng phức tạp của diễn biến về trật tự an toàn giao thông ở nước ta Mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực trong việc bảo đảm TTATGTĐB nhưng hiện nay tình hình TTATGTĐB nước ta nói chung, trên địa bàn tỉnh Thanh hoá nói riêng vẫn còn nhiều tồn tại bất cập: Hệ thống đường bộ tuy đã được xây dựng nhiều tuyến đường mới nhưng chất lượng không đảm bảo, thiếu đồng bộ; còn nhiều tuyến đường cũ nhỏ hẹp, xuống cấp vẫn chưa được đầu tư sửa chữa nâng cấp, phương tiện tham gia giao thông tăng nhanh làm mật độ

Trang 9

giao thông cao, Luật và các văn bản dưới luật còn chậm ban hành, thiếu đồng

bộ, một bộ phận người thực thi pháp luật không nghiêm vì vậy hiệu lực pháp luật chưa hiệu quả, thậm chí còn xuất hiện hiện tượng “nhờn luật”; ý thức của người tham gia giao thông kém, vấn đề đạo đức trong lĩnh vực TTATGTĐB chưa được quan tâm đúng mức, nhiều vi phạm xảy ra; cần phải có các biện pháp tích cực hơn nữa để khắc phục tình trạng này

Từ thực trạng nêu trên cho thấy việc hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật về TTATGTĐB cũng như việc hoàn thiện cơ chế nhằm nâng cao trách nhiệm pháp lý (TNPL) trong lĩnh vực TTATGTĐB; nâng cao đạo đức trong lĩnh vực TTATGTĐB đang là một trong những vấn đề cấp thiết (bên cạnh cuộc chiến chống vi phạm pháp luật môi trường và vệ sinh an toàn thức phẩm) cần phải quan tâm ở nước ta hiện nay Đó cũng chính là lý do vì sao tôi chọn

đề tài “Trách nhiệm pháp lý và đạo đức trong tĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ (qua thực tiễn tại tỉnh Thanh Hoá)

2 Tình hình nghiên cứu.

Ở nước ta hiện nay vấn đê này vẫn còn là mới mẻ đặc biệt là về mặt lý luận, hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể về vấn đề này mà chỉ mới tiếp cận ở góc độ mang tính thực tiễn, một vài công trình nghiên cứu ở khía cạnh khác như:

Năm 2001 Đề tài luận án tiến sỹ luật học về trách nhiệm bổi thường thiệt hại do các vụ tai nạn giao thông đường bộ của NguyễnThanh Hồng

Năm 2003 Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản cuốn Trật tự an toàn giao thông đường bộ thực trạng và giải pháp do Tiến sỹ Trần Văn Luyện chủ biên

Tìm hiểu các tội xâm phạm lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ trong Bô Luật hình sự năm 1999 của Nhà xuất bản giao thông vận tải xuất bản năm 2003; Ngoài ra trên một số báo và tạp chí có đề cập đến nhưng mới chỉ

Trang 10

tiếp cận ở mức độ phản ánh hiện tượng mang tính chất tiêu cực về TTATGTĐB như: Báo Pháp luật, Báo Lao động

3 Mục đích của đề tài.

Từ kết quả nghiên cứu được nêu trong bản luận văn sẽ góp phần hoàn thiện

cơ chế trách nhiệm pháp lý (TNPL) trong việc giữ gìn và bảo đảm TTATGTĐB, từng bước nâng cao ý thức pháp luật, nâng cao phẩm chất đạo đức TTATGTĐB trong nhân dân cũng như cán bộ công chức có thẩm quyền trong lĩnh vực TTATGTĐB, thông qua đó nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước

về lĩnh vực bảo đảm TTATGTĐB ở nước ta

4 Phương pháp nghiên cứu:

Trong luận văn đã sử dụng các phương pháp: Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp điều tra xã hội học cụ thể, phương pháp thống kê, phương pháp quy nạp và diễn dịch, phương pháp phân tích thuần tuý quy phạm, phương pháp so sánh pháp luật

5 Kết cấu của luận văn.

Ngoài phần mở đầu và kết luận thì luận văn được chia làm ba chương:

Chương 1 : Những vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiộm pháp lý và đạo đức trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ

Chương 2: Thực trạng pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực giữ gìn trật tự an toàn giao thông đường bộ hiện nay (qua thực tiễn của tỉnh Thanh Hóa)

Chương 3: Một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý và đạo đức trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ

Trang 11

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN c ơ BẢN VỂ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG LĨNH v ự c TRẬT Tự AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

1.1 Trách nhiệm pháp lỷ trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ.

1.1.1 Khái niệm trật tự an toàn giao thông đường bộ.

Giao thông đường bộ ỉà thành phần vô cùng quan trọng đối với việc đi lại của chúng ta dù bất kỳ địa hình nào, mọi đối tượng; không ai có thể sống mà không cần đến loại hình giao thông đường bộ vì nó gắn liền với đời sống của mỗi con người ngay từ khi sinh ra, đến khi nhắm mắt xuôi tay; Bên cạnh đó giao thông đường bộ còn có nhiệm vụ rất quan trọng là đảm nhiệm chức năng

xã hội hóa, giúp đẩy nhanh việc nâng cao dân trí, giảm đi sự chênh lộch giữa các vùng, miên về kinh tế, văn hóa xã h ộ i Ngược lại giao thông đường bộ chiếm tỷ lệ vể số vụ tai nạn cao nhất trong các loại hình giao thông, việc giữ gìn TTATGTĐB là làm giảm đi các ùn tắc giao thông, TNGT Khi nói tới giao thông đường bộ có rất nhiều các quan niệm khác nhau về việc hiểu như thế nào là TTATGTĐB

Quan điểmỉ : cho rằng TTATGTĐB là việc chấp hành triệt để những yêu cầu kỹ thuật quản lý đối với các công trinh giao thông và phương tiện giao thông, quy định đối vói người tham gia giao thông khi hoạt động trên đường

bộ, làm cho giao thông được trật tự, an toàn, thông suốt, thuận tiện

Trật tự, an toàn giao thông đô thị là việc chấp hành triệt để các quy định đối với người, phương tiện tham gia giao thông trên đường đô thị; các quy định đối với việc sử dụng đường phố, vỉa hè, lòng đường; các quy định đối với việc bảo vệ những công trình giao thông trong đô thị nhằm đảm bảo cuộc sống yên tĩnh cho dân cư đô thị, bảo đảm vệ sinh môi trường và mỹ quan thành phố; Phục vụ cho việc quản lý đô thị” [46, tr.384]

Trang 12

Ở đây đã tách rời an toàn giao thông đường bộ ra khỏi an toàn giao thông

đô thị nhưng trên thực tế thì việc nói tới TTATGTĐ đã bao gồm cả giao thông

đô thị cho nên đây không phải là quan niệm chuẩn xác và khoa học, không những thế khi nói tới TTATGTĐB nói chung vẫn là quan niệm chưa thực sự đầy đủ vì làm cho người ta hiểu chỉ nói tới yếu tố quản lý của nhà nước mà cụ thể là do các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền thực thi nhiệm vụ của mình để thực hiện hoạt động quản lý trong khi Luật giao thông đường bộ quy định quản lý nhà nước về giao thông đường bộ mới chỉ là một bộ phận trong TTATGTĐB

Quan điểm 2.TTATGTĐB được hiểu là là sự đảm bảo cho mọi hoạt động giao thông được trật tự, an toàn, nhanh chóng, tiện lợi, thông suốt và mỹ quan môi trường; hạn chế thấp nhất các vi phạm luật giao thông và các quy phạm pháp luật về trật tự an toàn giao thông, hạn chế ùn tắc giao thông, kiềm chế tai nạn giao thông, ngăn ngừa thiệt hại do tai nạn giao thông gây ra [52, tr.15].Với quan niệm này đã chỉ ra được tính khái quát khi nói tới TTATGTĐ, nhưng cách dùng thuật ngữ mang tính chất pháp lý ở đây còn còn chưa thực sự chuẩn xác, chủ yếu mang tính chất liệt kê

Quan điểm 3 : TTATGTĐB là hộ thống các mối quan hệ xã hội được hình thành và điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông vận tải công cộng mà mọi người tham gia giao thông phải tuân thủ để đảm bảo hoạt động giao thông thông suốt, trật tự an toàn, hạn chế thấp nhất tai nạn giao thông, gây thiệt hại về người và tài sản [52, tr.17]

Trong các cách hiểu đã được nêu trên thi quan điểm của luận văn theo cách hiểu thứ ba vì đây là cách hiểu mang tính chất khái quát, đầy đủ và rõ ràng nhất (ngay cả từ cách sử dụng thuật ngữ pháp lý) từ quan niệm này đã cho ta thấy được khi đề cập đến vấn đề TTATGTĐB bao gồm một số vấn đề như sau:

Trang 13

+ Là hoạt động giao thông được điều chỉnh bằng một hệ thống các quy phạm pháp luật, bắt buộc mọi chủ thể tham gia giao thông phải tuân theo một cách tuyệt đối.

+ TTATGTĐB là việc hạn chế thấp nhất TNGT xảy ra, đảm bảo an toàn cho người và tài sản khi tham gia giao thông

+ Hạn chế ùn tắc giao thông, đảm bảo giao thông được tiện lợi, có hiộu quả, tiết kiệm được cước phí vận chuyển, thời gian trên đường

+ Đảm bảo được yêu cầu mỹ quan giao thông, chống ô nhiễm môi trường.

+ Không những thế TTATGTĐB còn phải được hiểu là bao gổm cả việc quản lý TTATGTĐB tức là: tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về TTATGTĐB, quản lý cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, đăng ký quản lý phương tiện giao thông vận tải đường bộ, quản lý trường lớp đào tạo lái xe, cấp giấy phép lái xe, tuần tra kiểm soát giao thông đường bộ, chỉ huy điều khiển giao thông đường bộ, xử lý vi phạmpháp luật (VPPL) và điều tra xử lý TNGT đường bộ Mặc dù nội dung của TTATGTĐB quy định về những vấn

đề đã nêu ở trên, nhưng trong khuôn khổ của luận văn tác giả chỉ xin được đi sâu vào một khía cạnh đó là “Trách nhiệm pháp lý và đạo đức trong tĩnh vực trật tự an toàn giao thông

1.1.2 Khái niệm trách nhiệm pháp lý.

Trong đời sống xã hội tùy từng lĩnh vực cụ thể “trách nhiệm” được hiểu theo những nghĩa khác nhau phù hợp vói các lĩnh vực đó;

“Trách nhiệm” khi được sử dụng với tư cách là thuật ngữ pháp lý được hiểu theo hai nghĩa đó là nghĩa tích cực và nghĩa tiêu cực;

Hiểu theo nghĩa tích cực TNPL là trách nhiệm phải xử sự hợp pháp của một người trong việc ý thức được nghĩa vụ của mình là không được thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị cấm bởi từng ngành luật tương ứng (Đây là cách hiểu không truyền thống, không có tính chất phổ biến vì vậy không được thừa nhận rộng rãi trong các nhà luật hoc nói chung [42, tr.550]

Trang 14

Theo nghĩa tiêu cực trách nhiệm là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà nhà làm luật coi là VPPL và hậu quả pháp lý

ấy được thể hiện trong việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý bằng chế tài Pháp lý tương ứng đối với người đã bị coi là có lỗi trong việc thực hiện VPPL đó, còn người bị xử lý phải chịu sự tác động về mặt pháp lý theo một trình tự riêng do luật định (Đây được coi là cách hiểu theo quan điểm truyền thống, có tính chất phổ biến nên được thừa nhận rộng rãi trong các nhà luật học nói chung [42, tr.550] Trong đề tài khái niệm trách nhiệm Pháp lý được hiểu theo nghĩa này; Trách nhiệm pháp lý có các đặc điểm như sau:

Đặc điểm thứ nhất: Trách nhiệm pháp lý là hậu quả Pháp lý của hành vi VPPL, TNPL chỉ phát sinh khi có sự việc VPPL; trong thực tế khách quan nếu không có việc thực hiộn hành vi VPPL - hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật cấm thì không xuất hiện vấn đề TNPL vì vậy mà TNPL là dạng trách nhiệm nghiêm khắc hơn cả so với các dạng trách nhiệm khác vì các dạng trách nhiệm phi pháp lý này không đưa đến hậu quả bất lợi và nghiêm trọng đối với chủ thể của hành vi VPPL

Vi phạm pháp luật là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến các lợi ích được bảo vệ bằng ngành luật tương ứng hoặc trái với các quy định được quy định trong ngành luật ấy, do người cố nãng lực trách nhiệm pháp lý và đủ tuổi chịu trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách có lỗi. [42, tr.537]

Các yếu tố cấu thành nên VPPL gồm có: Mặt khách quan, Khách thể, Mặt chủ quan, chủ thể:

- Khách thể của VPPL là quan hệ xã hội được Pháp luật bảo vệ tránh khỏi

sự xâm hại của sự VPPL, nhưng bị hành vi VPPL xâm hại đến và gây nên (hoặc đe dọa thực tế gây nên) thiệt hại đáng kể nhất định

- Chủ thể của VPPL là thể nhân (con người cụ thể có năng lực TNPL và đủ tuổi chịu TNPL) hoặc Pháp nhân đã có lỗi trong việc thực hiện hành vi VPPL

bị cấm

Trang 15

- Mặt khách quan của VPPL là mặt bên ngoài của sự xâm hại nguy hiểm đáng kể cho xã hội đến khách thể được bảo vệ bằng Pháp luật, tức là sự thể hiện cách xử sự có tính chất VPPL trong thực tế khách quan [42, tr.545].

+ Mặt khách quan của VPPL là hành vi do con người thực hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động làm xâm hại đến các lợi ích nhất định và gây ra (có khả năng thực tế gây ra) hậu quả nguy hại cụ thể cho lợi ích của Công dân, xã hội, Nhà nước

+ Mặt khách quan VPPL phải là hành vi trái pháp luật có nghĩa là bằng hành động hoặc không hành động nó đã xâm phạm đến các quy định tương ứng (các lợi ích được pháp luật bảo vệ) mà nhà làm luật điều chỉnh trong các văn bản của từng ngành luật cụ thể, tức là vi phạm điều cấm được quy định trong luật

+ VPPL phải là hành vi được thực hiện bởi người có nãng lực TNPL, tức là người mà tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật cấm ở trong trạng thái bình thường và hoàn toàn có khả năng nhận thức được đầy đủ tính chất thực tế và tính chất pháp lý của hành vi do mình thực hiện, cũng như khả năng điều khiển được đầy đủ hành vi đó

+ VPPL phải ỉà hành vi do người đủ tuổi chịu TNPL thực hiện tức là người

mà tại thời điểm phạm tội đã đạt đến độ tuổi do ngành luật tương ứng quy định để có thể có khả năng nhận thức được đầy đủ tính chất thực tế và tính chất pháp lý của hành vi do mình thực hiện, cũng như có khả năng điểu khiển được đầy đủ hành vi đó

- Mặt chủ quan của VPPL là những biểu hiện tâm lý bên trong của chủ thể VPPL gồm có các yếu tố:

+ Lỗi của chủ thể VPPL; Lỗi là trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành

vi vi phạm (HVVP) của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra, thể hiện thái

độ tiêu cực của chủ thể đối với xã hội; Lỗi được thể hiện dưới dạng lỗi cố ý

Trang 16

(lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp) hoặc lỗi vô ý (vô ý vì quá tự tin, vô ý vì quá cẩu thả);

Lỗi cố ỷ trực tiếp: chủ thể vi phạm nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra

và mong muốn điều đó xảy ra.[53, tr.501]

Lỗi cố ý gián tiếp : chủ thể vi phạm nhận thức rõ hành vi của mình là nguy

hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra, nhưng để mặc cho nó xảy ra

Lỗi vô ý do quá tự tin : chủ thể vi phạm nhận thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra, nhưng hy vọng, tin tưởng hậu quả đó không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được

Lồi vô ý do cẩu thả: chủ thể vi phạm đã không nhận trước được hậu quả nguy hiểm cho xã hội đo hành vi của mình gây ra, mặc dù có thể hoặc phải cần nhận thấy trước hậu quả đó [53, tr.502]

- Động cơ vi phạm, động cơ vi phạm được hiểu là cái( động lực) thúc đẩy chủ thể thực hiộn hành vi VPPL (có thể là vụ lợi, trả thù, đê hèn);

- Mục đích vi phạm, mục đích vi phạm là kết quả cuối cùng mà trong suy nghĩ của mình chủ thể mong muốn đạt được khi thực hiện hành vi VPPL, thể hiện tính chất nguy hiểm của hành vi [53, tr.502]

Có thể nói rằng mặt khách quan, mặt khách thể, mặt chủ quan, mặt chủ thể

là bốn yếu tố cấu thành nên nên VPPL chính là căn cứ để truy cứu TNPL; Như vậy có nghĩa là chỉ áp dụng đối với các chủ thể có năng lực hành vi thực hiện tức là áp đụng với các chủ thể có lý trí và tự do ý chí, nhận thức được hành vi của mình, có khả năng và điểu kiện tự lựa chọn cho mình cách xử sự phù hợp với những cách cư xử mà pháp luật quy định nhưng họ lại vẫn làm sai với điều

đó Hay chủ thể chịu TNPL chỉ có thể là những cá nhân hoặc tổ chức, có lỗi trong việc vi phạm các yêu cầu của luật pháp

Trang 17

Đặc điểm thứ hai: TNPL luôn được thực hiện trong phạm vi của quan hệ pháp luật giữa hai bên với tính chất là hai chủ thể có các quyền và nghĩa vụ nhất định -một bên là nhà nước, còn bên kia là người đã thực hiện hành vi VPPL, tức là Nhà nước (đại diện cơ quan có thẩm quyền) có quyền xử lý người đã thực hiện hành vi VPPL nhưng phải có nghĩa vụ chỉ được xử lý dựa trên các cản cứ và trong các giới hạn do Pháp luật quy định, còn người đã thực hiện hành vi VPPL thì có nghĩa vụ phải chịu sự tước bỏ hoặc hạn chế quyền,

tự do nhất định, nhưng đồng thời cũng có quyển yêu cầu sự tuân thủ từ phía Nhà nước tất cả các quyền và lợi ích của con người và của công dân theo luật định

Đặc điểm thứ ba của VPPL là TNPL được xác định bằng một trình tự đặc biột bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà trình tự đó phải phải do Pháp luật quy định có nghĩa là không phải bất kỳ cơ quan Nhà nước nào cũng được phép quy TNPL cho một Công dân, mà chỉ có cơ quan nào được trao thẩm quyền theo luật định, nhưng thẩm quyền này không phải là sự tùy tiện mà theo trình tự đặc biệt do Pháp luật tố tụng quy định - giai đoạn tố tụng cụ thể tương ứng với cơ quan nào thì cơ quan ấy mới có thể có thẩm quyền khẳng định vấn

đề TNPL của Công dân bị coi là là có lỗi trong việc thực hiện hành vi VPPL

Đặc điểm thứ /m'TNPL chỉ được thể hiện trong các văn bản pháp luật đã có hiệu lực pháp luật bằng viộc áp dụng đối với người đã thực hiện hành vi VPPL một hoặc nhiều chế tài cưỡng chế, hay TNPL được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước trong một vãn bản của cơ quan (người có chức vụ) tương ứng có thẩm quyền nhân danh Nhà nước [42, tr.554]

Đặc điểm thứ năm TNPL trong pháp luật hình sự chỉ mang tính chất cá

nhân, trong một số lĩnh vực tương ứng phi hình sự (Luật hành chính, Dân sự ) Pháp nhân (cơ quan, tổ chức hoặc đom vị nào đó đã có lỗi để cho người đại diện của mình VPPL vì lợi ích của tập thể) cũng có thể phải bị truy cứu TNPL [42, tr.552]

Trang 18

Các dạng TNPL đều được quy định trong từng ngành luật tương ứng của hệ thống Pháp luật cụ thể gồm các chế tài cơ bản như:

+ Trách nhiệm hình sự là dạng TNPL nghiêm khắc nhất và là hậu quả của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện trong việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Tòa án) áp dụng đối với những người đã có lỗi trong việc thực hiện tội phạm một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Pháp luật Hình

sự quy định

+ Trách nhiệm Hành chính là hậu quả của hành vi VPPL hành chính và được thể hiện trong việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng đối với người đã có lỗi trong việc VPPL hành chính một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế (chế tài) của Nhà nước do pháp luật hành chính quy định [42, tr.553]; TNPL hành chính chủ yếu được cơ quan quản lý nhà nước áp dụng đối với các

cá nhân hoặc tổ chức thực hiên VPPL hành chính Chế tài gồm có phạt tiền, cảnh cáo và so với Chế tài hình sự thì ít nghiêm khắc hơn

+ Trách nhiệm Dân sự là hậu quả của hành vi VPPL dân sự và được thể ĩ < • 1 • *hiện trong việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng đối với người đã có lỗi trong việc VPPL dân sự một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Pháp luật dân sự quy định (chủ yếu mang tính chất là BTTH) [42, tr.553]

+ Trách nhiệm kỷ luật (TNKL) do thủ trưởng cơ quan, giám đốc xí nghiệp

áp dụng đối với cán bộ, nhân viên, người lao động nói chung khi họ vi phạm

kỷ luật lao động, kỷ luật nhà nước [51,tr.514]; Chế tài TNKL thường là khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, cách chức, buộc thôi việc, chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn)

+ Trách nhiệm vật chất (TNVC) là loại TNPL do các cơ quan, xí

nghiệp áp dụng đối với cán bộ, công chức, công nhân của cơ quan, xí nghiệp trong trường hợp họ gây thiệt hại về tài sản cho cơ quan xí nghiộp [53, tr.514]

Trang 19

- Trách nhiệm pháp lý luôn gắn liền với những biện pháp cưỡng chế được quy định trong chế tài các quy phạm luật (mang tính chất trừng phạt hoặc khôi phục pháp luật), hay TNPL là sự áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với chủ thể VPPL [42,tr.504], tức là khi VPPL xảy ra thì lúc đó giữa chủ thể vi phạm

và cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ xuất hiện một loạt các quan hệ trong

đó cơ quan nhà nước xác định biện pháp cưỡng chế và áp dụng các biộn pháp đó; nhưng không phải biện pháp tác động nào có tính chất cưỡng chế trong trường hợp này đều là biện pháp TNPL; những biện pháp có tính chất trừng phạt tước đọat, làm thiệt hại một phạm vi nào đó các quyền, tự do, lợi ích hợp pháp mà chủ thể VPPL đáng được hưởng (phạt tiền, phạt tù), các biện pháp khôi phục pháp luật thường được áp dụng kèm theo với biện pháp trừng phạt như: (biện pháp BTTH về vật chất hoặc tinh thần, buộc dỡ bỏ công trình xây dựng trái phép nhằm khôi phục lại các quyền, lợi ích hợp pháp đã bị hành

vi VPPL xâm hại);

Cơ sả truy cứu TNPL là quyết định có hiộu lực pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: TNPL và Nhà nước có mối quan hệ gắn bó không tách rời có nghĩa là nhà nước mới có thẩm quyền xác định một cách chính thức hành vi nào là VPPL và áp dụng biện pháp TNPL đối với chủ thể gây ra vi phạm đó TNPL chấm dứt khi xẩy ra sự kiện pháp lý thích ứng như: Thực hiện xong quyết định xử phạt hoặc có quyết định ân xá[53,tr.513]

Tóm lại, trách nhiệm pháp lý là hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật và được thể hiện trong việc cơ quan Nhà nước (người có chức vụ) có thẩm quyền

áp dụng đối với người đã có lỗi trong việc Vỉ phạm pháp luật một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế ị chế tài xử lý) của Nhà nước do ngành luật tương ứng quy định.

Trang 20

1.1.3 Khái niệm trách nhiệm pháp lý trong tĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ.

Trong lĩnh vực TTATGTĐB, trách nhiệm pháp lý cũng được hiểu theo hai khía cạnh đó là khía cạnh tích cực và khía cạnh tiêu cực,

Hiểu theo khía cạnh tích cực TNPL trong lĩnh vực TTATGTĐB vừa được hiểu là quyền, lại vừa được hiểu là nghĩa vụ và trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức trong lĩnh vực TTATGTĐB; Có nghĩa là các chủ thể phải có quyền nhưng đồng thời cũng phải có nghĩa vụ bảo đảm TTATGTĐB, thi hành nghiêm chỉnh pháp luật về TTATGTĐB, phát hiện tố cáo những hành vi VPPL

về TTATGTĐB

Ví dụ như: Tại khoản 2 Điều 4 Luật Giao thông đường bộ quy định:

“Người tham gia giao thông phải nghiêm chỉnh chấp hành quy tắc giao thông, giữ gìn an toàn cho mình và cho người khác, chủ phương tiện và người điều khiển phương tiện phải chịu trách nhiệm trước Pháp luật về việc bảo đảm các điều kiện an toàn của phương tiện tham gia giao thông ”

Tại điểm c, k2, Điều 36 quy định những người có mặt tại hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông

phải báo tin ngay cho cơ quan Công an hoặc ủ y ban nhân dân nơi gần nhất

Đối với những chủ thể khi tham gia giao thông được quyền bảo đảm cho việc tham gia giao thông của mình được thuận lợi và an toàn, không bị xâm hại lợi ích hợp pháp bằng các quy định pháp luật trong lĩnh vực TTATGTĐB;

Sự đảm bảo an toàn về tính mạng và tài sản khi tham gia giao thông, các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước được nhà nước khuyến khích tạo điều kiện

để có thể ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào lĩnh vực TTATGTĐB; Ngoài ra chủ thể khi tham gia giao thông phải tuân thủ tuyệt đối các quy định pháp luật trong lĩnh vực TTATGTĐB như: Tuân thủ tuyệt đối các quy tắc giao thông đường bộ, tuyên truyền, giáo dục pháp luật giao thông đường bộ cho

Trang 21

người thân của mình, nếu gây TNGT thì phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.

Đối với nhà nước, trách nhiệm trong lĩnh vực TTATGTĐB là trách nhiệm thực hiện đúng việc quản lý nhà nước về giao thông đường bộ, tức là phải ban hành các quy phạm pháp luật về TTATGTĐB; tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật vẻ TTATGTĐB, quản lý quy tắc giao thống đường bộ, quản lý kết cấu hạ tầng giao thông, phương tiện tham gia giao thông

Theo quy định của Pháp luật hiện hành vé bảo đảm TTATGTĐB, trách nhiệm trong lĩnh vực TTATGTĐB được chia thành các nhóm quyền và nghĩa

vụ cụ thể:

Thứ nhất: quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức trong việc đầu tư nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghộ vào lĩnh vực giao thông đường bộ quy định tại Điều 5 của Luật giao thông đường bộ năm 2001 “Nhà nước khuyến khích

và tạo điều kiện đ ể cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nướctổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư ứng dụng khoa học công nghệ tiền tiến vào lĩnh vực giao thông đường bộ"

Thứ hai: quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức trong việc tuân thù nguyên tắc bảo đảm an toàn giao thông đường bộ quy định tại Điều 4 của Luật giao thông đường bộ

Thứ ba: quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật giao thông đường bộ quy định tại Điều 6 của Luật giao thông đường bộ: “Cấc cơ quan thông tin, tuyên truyền

có trách nhiệm tổ chức tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật giao thông đường bộ thường xuyên rộng rãi đến toàn dân;

Các cơ quan, tổ chức và gia đình có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục pháp luật giao thông đường bộ thường xuyên rộng rãi đến toàn dân; Các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo cố trách nhiệm đưa pháp luật

Trang 22

giao thông dường bộ vào chương trình giảng dạy trong nhà trường và các cơ

sở giáo dục khác phù hợp với từng ngành học, cấp học

Tại Điều 7 Luật giao thông đường bộ quy định trách nhiệm của Mặt trận tổ quốc Việt Nam và tổ chức thành viên; “ Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình có trách nhiệm

tổ chức và phối hợp với cơ quan chức năng tuyên truyền, vận động nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật giao thông đường bộ, giám sát việc thực hiện pháp luật đường bộ của cơ quan tổ chức cá nhân ”

Theo khía cạnh tiêu cực TNPL trong lĩnh vực TTATGTĐB được hiểu là hậu quả bất lợi, sự phản ứng mang tính trừng phạt của nhà nước mà cá nhân,

tổ chức phải gánh chịu khi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quyền

và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật TTATGTĐB; Trong giới hạn của đề tài chỉ xem xét TNPL trong lĩnh vực TTATGTĐB theo khía cạnh tiêu cực

Khái niệm trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ được hiểu là hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật về trật tự an toàn giao thông đường bộ và được thể hiện trong việc cơ quan Nhà nước (người có chức vụ) có thẩm quyền áp dụng đối với người đã có lỗi trong việc

vi phạm pháp luật về trật tự an toàn giao thông đường bộ một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do pháp luật về trật tự an toàn giao thông đường bộ quy định.

1.1.4 Các dấu hiệu đặc trưng của trách nhiệm pháp lý trong tĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ.

Trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực TTATGTĐB là một loại TNPL nói chung vì vậy nó mang những đặc trưng chung của TNPL, ngoài ra nó còn mang những đặc trưng cụ thể:

Đặc trưng thứ nhất: Đặc trưng về khách thể của sự VPPL về TTATGTĐB

là các quan hệ cụ thể, mang tính chất chuyên n g à p b ạỊụ K p co u o c G!A HA nọ Ĩ~

Trang 23

+ Các quan hộ phát sinh liên quan đến Đường bộ bao gồm: đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ, công trình đường bộ (nơi dừng

xe, nơi đỗ xe, hệ thống thoát nước, đèn tín hiệu, cọc tiêu, biển báo hiệu, dải phân cách và công trình thiết bị phụ trợ),

+ Các quan hệ phát sinh liên quan đến hành lang an toàn đường bộ ; Tương ứng với mỗi yếu tố cấu thành nên TTATGTĐB đều có những quy định pháp lý riêng về quyền và nghĩa vụ mà chủ thể phải thực hiện khi tham gia giao thông đường bộ, nhưng chúng lại không thể tách rời được một cách riêng

lẻ để bảo vệ và không chỉ phải tuân thủ một quy định về trật tự an toàn giao thông như đường hoặc là cầu đường mà phải tuân thủ đồng thời tất cả các quy định về TTATGTĐB, vì vậy phải tuân thủ một cách đồng thời tất cả các quy định đó

Đặc trưng thứ hai: Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi VPPL về TTATGTĐB và hậu quả mà nó gây ra chủ yếu là đã được tính toán theo công thức chung về mức độ thiệt hại của hành vi VPPL vẻ TTATGTĐB, Ví dụ: hành vi đào rãnh qua đường

Bên cạnh đó cũng có những trường hợp mà việc xác định mối quan hệ nhân quả của HVVP và hậu quả là khó khăn vì hậu quả của hành vi VPPL gây ra không phải xảy ra ngay lập tức mà phải trải qua một quá trình lâu dài cho nên mức phạt mặc dù có quy định nhưng chỉ mang tính chất tượng trưng mà không sát với thiệt hại thực tế: Ví dụ: hành vi tát nước qua đường nhựa (ở vùng nông thôn)

Trách nhiệm pháp lý còn đặt ra với những HVVP ngay cả khi thiệt hại thực

tế không xảy ra; Ví dụ: hành vi vượt đèn đỏ, đi vào đường ngược chiều nhưng không gây ra tai nạn

Đặc trưng thứ ba: Đối với tình hình của Việt Nam hiện nay TNPL về TTATGTĐB khó áp dụng triệt để vì có nhiều trường hợp VPPL không gây ra

Trang 24

thiệt hại thực tế, không bắt được quả tang; Ví dụ: Trường hợp vượt đèn đỏ (khi không có không có mặt Cảnh sát giao thông).

Đặc triùĩg thứ tư: Cơ sở để xác định TNPL trong lĩnh vực TTATGTĐB là VPPL về TTATGTĐB, vi phạm pháp luật về TTATGTĐB thường thể hiện dưới các dạng:

- Không tuân thủ các quy tắc tham gia giao thông đường bộ

- Vi phạm các quy định về phương tiện tham gia giao thông đường bộ

- Vi phạm các quy định về người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ

- Vi phạm các quy định về vận tải đường bộ

- Vi phạm các quy định về quản lý nhà nước về giao thông đường bộ

1.1.5 Cơ sở Trách nhiệm pháp lý trong tĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ.

Cũng giống như TNPL nói chung, cơ sở của TNPL trong lĩnh vực TTATGTĐB đối với cá nhân tổ chức là hành vi VPPL về TTATGTĐB (có nghĩa là phải xác định cho được các yếu tố cấu thành VPPL về TTATGTĐB, bao gồm: Mặt khách quan, chủ quan, khách thể, chủ thể)

+ Mặt kháclỉ quan: Là hành vi xâm phạm vào các quy định của pháp luật trong việc giữ gìn TTATGTĐB, xâm phạm vào các quy định về quy tắc tham gia giao thông, vi phạm những tiêu chuẩn đối với việc sử dụng các phương tiện tham gia giao thông làm tổn hại đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác

+ Mặt chủ quan: Xác định lỗi mà chủ thể gây ra tức là phải xác định được hình thức, tính chất lỗi hay xác định được biểu hiện nhận thức, ý chí, trạng thái tâm lý của chủ thể có hành vi vi phạm

+ Mặt chủ thể: Là các cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lý.+ Mặt khách thể: Là các quan hệ xã hội được hình thành trong việc giữ gìn TTATGTĐB

Trang 25

Đối tượng của khách thể chính là : đường, cầu đường bộ, bến phà

- Các cá nhân, tổ chức được coi là VPPL về TTATGTĐB khi các cá nhân,

tổ chức không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quyền và nghĩa vụ được quy định theo pháp luật về TTATGTĐB

Quyền và nghĩa vụ của cá nhân tổ chức theo quy định của pháp luật hiện hành được chia thành các nhóm như sau:

Nhómỉ: Không tuân thủ các quy tắc tham gia giao thông đường bộ quy định từ Điều 9 đến Điều 36 của Luật giao thông đường bộ năm 2001

Nhóm 2: Vi phạm các quy định về kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ quy định từ Điều 37 đến Điều 47 của Luật giao thông đường bộ năm 2001

Nhóm3: Vi phạm về các quy định về phương tiện tham gia giao thông đường bộ từ Điều 48 đến Điều 52 của Luật giao thông đường bộ năm 2001

Nhóm 4: Vi phạm các quy định về người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ từ Điều 53 đến Điều 58 của Luật giao thông đường bộ nãm 2001

Nhóm 5: Vi phạm các quy định về vận tải đường bộ từ Điều 59 đến Điều

67 của Luật giao thông đường bộ năm 2001

Nhóm 6: Vi phạm các quy định vé quản lý nhà nước về giao thông đường

bộ từ Điều 68 đến Điều73 của Luật giao thông đường bộ năm 2001

Như vậy các cá nhân, tổ chức bị truy cứu TNPL trong lĩnh vực TTATGTĐB khi có sự vi phạm các nhóm quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm đã nêu ở trên

1.1.6 Các dạng Trách nhiệm pháp lý trong tĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ.

Các cá nhân, tổ chức có hành vi VPPL trong lĩnh vực TTATGTĐB phải chịu TNPL trước nhà nước, cộng đồng hoặc trước chính cá nhân bị thiệt hại và tùy theo mức độ và tính chất của mức độ VPPL về TTATGTĐB cụ thể mà cá

Trang 26

nhân, tổ chức phải chịu áp dụng TNPL là: Trách nhiệm dân sự, Trách nhiệm

kỷ luật, Trách nhiệm hình sự hay Trách nhiệm hành chính

1.1.6.1 Trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực an toàn giao thông đường bộ.

Đường bộ là loại giao thông chủ yếu, chiếm vị trí quan trọng nhất đối với mỗi cá nhân, tổ chức sinh sống trên đất nước Việt Nam nói riêng, thế giới nói chung Con người không thể tổn tại mà thiếu đi việc sử dụng loại giao thông đường bộ, nhưng ở Việt Nam hiện nay ách tắc giao thông, TNGT đang trở thành vấn đề vô cùng bức bối, gây thiệt hại không nhỏ về người và tài sản của

cá nhân, tổ chức, xã hội đơn thuần không chỉ do hạ tầng cơ sở của chúng ta chất lượng còn kém, thiếu đồng bộ mà còn do cả ý thức của người dân khi tham gia giao thông, để giảm thiểu và ngăn chặn nó cần phải áp dụng một số những chế tài xử phạt, trong các loại chế tài của pháp luật chế tài Hình sự là loại chế tài nghiêm khắc nhất

Trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ được hiểu là trách nhiệm đặt ra đối với những hành vi vi phạm pháp luật được coi là nguy hiểm cho xã hội của các cá nhân, tổ chức khi tham gia giao thông đường bộ và được quy định trong Bộ luật hình sự năm ỉ 999 (được coi là tội phạm).

Được quy định trong bộ luật hình sự năm 1999 có 6 tội quy định tại các Điều: 202 (tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ), 203 (tội cản trở giao thông đường bộ), 204 (Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ không đảm bảo an toàn), 205 (Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ), 206 (Tội tổ chức đua xe trái phép), 207 (tội đua xe trái phép)

Tội phạm về TTATGTĐB là một phần trong các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng quy định trong bộ luật hình sự năm 1999 dựa

Trang 27

trên mức độ nguy hiểm tới sự an toàn của xã hội nói chung, về tài sản, tính mạng của công dân trong lĩnh vực TTATGTĐB nói riêng Thực tế hiện nay cho thấy còn có quá nhiều người chưa ý thức được đầy đủ sự nguy hiểm mà mình gây ra khi vi phạm trật tự an toàn giao thông nói chung, đường bộ nói riêng làm xâm hại đến tính mạng, tài sản của bản thân, người khác và của xã hội; đem lại gánh nặng cho xã hội vì vậy việc quy định TNHS đối với các tội phạm về TTATGTĐB là vô cùng cần thiết, nó bảo đảm cho trật tự xã hội và an toàn cuộc sống của con người, đồng thời còn góp phần quan trọng trong việc xây dựng xã hội văn minh.

Khái niệm tội phạm trong lĩnh vực TTATGTĐB được hiểu là: những hành

vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi do chủ thể có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm vào những quy định của nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người hoặc thiệt hại tài sản của nhà nước, của các tổ chức xã hội và công dân, xâm phạm vào hoạt động bình thường trên lĩnh vực giao thông vận tải đường bộ [44,tr,9]

Cơ sở để truy cứu TNHS đối với các tội phạm trong lĩnh vực TTATGTĐB dựa trên các yếu tố sau:

Chủ thể của các tội xâm phạm TTATGTĐB; Các dấu hiệu chủ thể chung

là người có năng lực TNHS, đạt độ tuổi theo luật hình sự quy định (cá nhân đủ

16 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực hành vi), trừ các tội quy định chủ thể đặc biệt phải là người có chức vụ, quyền hạn đó chính là những người theo quy định của pháp luật có trách nhiệm tổ chức, kiểm tra xác định điều kiện an toàn của phương tiện kỹ thuật giao thông đường bộ để cho phép được đưa vào sử dụng hay không được sử dụng như: Điều 204 KI-Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ không đảm bảo an toàn quy định:

“Người nào chịu trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc tình trạng

kỹ thuật mà cho phép đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường bộ rổ

Trang 28

ràng không đảm bảo an toàn kỹ thuật gây thiệt hại cho tính mạng hoặc thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ mười triệu đổng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sấu tháng đến ba năm

Điều 205 Khoản 1 quy định tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ: "Người nào điều động hoặc giao cho người không cố giấy phép hoặc bằng lái xe hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác, thì bị phạt tiên từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến ba năm

+ Khách thể chung của các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ:

Là các quan hệ xã hội được hình thành trong lĩnh vực bảo đảm TTATGTĐB, nhưng các quan hộ đó lại xâm phạm vào những quy định của nhà nước vé TTATGTĐB, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe con người gây thiệt hại tài sản của nhà nước, tổ chức xã hội và công dân

Những quy định về an toàn giao thông gồm có: Quy tắc giao thông đường

bộ (quy định trong luật giao thông đường bộ); Các thể lệ hành chính về giao thông đường bộ; Các thể lệ vận tải đường bộ; Các quy định về kỹ thuật an toàn phương tiện đường bộ

+ Mặt khách quan của các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ.

Hành vi khách quan của các tội xâm phạm TTATGTĐB là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện bằng hành động hoặc không hành động;

Đa số các tội phạm được thực hiện bằng các hành động cụ thể như các tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, tội tổ chức

Trang 29

đua xe trái phép, tội đua xe trái phép; Phần ỉớn các tội xâm phạm TTATGTĐB đòi hỏi phải có dấu hiệu hậu quả nghiêm trọng tức là: những thiệt hại về tính mạng sức khỏe con người hoặc tài sản, nếu chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng thì phải có dấu hiệu đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án

về tội đó nhưng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm Trong một số tội danh

để đảm bảo yếu tố phòng ngừa ngăn chặn thiệt hại lớn cho xã hội đã có quy định trường hợp thiếu các tình tiết trên vẫn truy cứu TNHS khi hành vi thực tế

có khả năng dẫn đến thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng, nếu không kịp thời ngăn chặn cũng dẫn tới thiệt hại nghiêm trọng ví dụ như: tội tổ chức đua xe trái phép (Điều 206 khoản 1)

Vì vậy trong các tội xâm phạm TTATGTĐB có những tội có cấu thành vi phạm vật chất, cũng có những tội cấu thành hình thức (Điều 205 Tội đua xe trái phép), thậm chí trong cùng một tội danh tồn tại cả hai loại cấu thành tội phạm vật chất và cấu thành tội phạm hình thức, (Điều 206 khoản 1 là cấu thành hình thức còn khoản 2 và 3 là cấu thành vật chất)

Trong các tội phạm về TTATGTĐB cho thấy dấu hiệu bắt buộc là gây hậu quả nghiêm trọng Hậu quả nghiêm trọng do các tội phạm về TTATGTĐB gây

ra đó có thể là hậu quả về con người như (sức khỏe, tính mạng), nhưng cũng

có thể là về tài sản (gồm thiệt hại thực tế cũng như các chi phí sử dụng trong quá trình xử lý hậu quả); cụ thể việc gây hậu quả nghiêm trọng thì được quy định tại 'Tiêu chuẩn phân loại tai nạn giao thông đường bộ. 'VTheo Nghị Quyết số: 02/2003/NQ- HĐTP, ngày 17- 4-2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ Luật Hình sự năm 1999 thì hiện nay tai nạn giao thông được phân thành 4 loại sau:

l.Tai nạn giao thông ít nghiêm trọng (là những vụ tai nạn giao thông có thiệt hại thấp hơn so với tai nạn giao thồng nghiêm trọng quy định ở dưới đây)

Trang 30

2.Tai nạn giao thông nghiêm trọng: là tai nạn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Làm chết một người; b) Gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31 % trở lên; c) Gây tổn hại sức khỏe của nhiều người với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lộ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%; d) Gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 30 Triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng; đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người, với tỷ lộ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lộ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng; e) Gây thiệt hại vẻ tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng.

3 Tai nạn rất nghiêm trọng: là tai nạn gây hậu quả thuộc một trong những trường hợp sau đây: a) Làm chết hai người; b) Làm chết một người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp được hướng đẫn tại các điểm b, c, d, đ

và e mục 2 nêu trên; c) Gây tổn hại cho sức khỏe của ba đến bốn người với tỷ

lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên; d) Gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 101% đến 200%; đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ iộ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm c, d, đ và e mục 2 nêu trên; e) Gây thiột hại

về tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới một tỷ năm trăm triộu đồng

4 Gây tai nạn đặc biệt nghiêm trọng: là tai nạn gây hậu quả thuộc một trong những trường hợp sau đây: a) Làm chết ba người trở lên; b) Làm chết hai người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm b,c, d, đ và e mục 2 nêu trên; c) Làm chết một người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm c, d, đ

Trang 31

và e mục 3 nêu trên; d) Gây tổn hại cho sức khỏe của năm người trở lên với tỷ

lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên; đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật của những người này trên 200%; e) Gây tổn hại cho sức khỏe cùa ba hoặc bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người

từ 31% trở lên và còn gây thiệt hại về tài sản được hướng dẫn tại điểm e mục 3 nêu trên; g) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ một tỷ năm trăm triộu đồng trở lên

Bên cạnh đó thì tại Điều 207 có quy định việc cấu thành tội phạm đó là cả những hành vi đã bị xử phạt hành chính mà còn tái phạm có nghĩa là:

Trước khi thực hiện hành vi bị coi là tái phạm thì chủ thể đã thực hiện • • • & • • • hành vi trước đó là hành vi cùng loại

Dấu hiệu đã xử phạt VPHC ở đây là được áp dụng một cách độc lập, tức là người đã bị xử phạt hành chính về xâm phạm các quy định bảo đảm TTATGTĐB, chưa hết thời hạn một năm mà lại tái phạm cũng giống như hành

vi đã bị xử phạt hành chính lần đầu mặc dù chưa gây hậu quả nghiêm trọng nhưng vẫn phải chịu TNHS; Thực chất việc truy cứu TNHS nhằm mục đích phòng ngừa là chủ yếu nên đây chính là biện pháp sử dụng cuối cùng vì vậy

mà hầu hết các điều luật quy định trong chương này đều chỉ coi những hành

vi là tội phạm trong lĩnh vực TTATGTĐB nếu như nó gây hậu quả nghiêm trọng

Thời điểm hoàn thành của tội phạm được quy định như sau:

Tội đồng thời có hai dấu hiệu đã bị xử phạt hành chính và gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại Điều 207, các dấu hiệu này được áp dụng độc lập với nhau thl tội phạm hoàn thành từ thời điểm hành vi phạm tội được thực hiện (đó là đối với trường hợp đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn tiếp tục vi phạm), hoặc tính từ thời điểm xảy ra hậu quả nghiệm trọng (đối với những trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng)

Trang 32

Đối với các tội có dấu hiệu gây hậu quả nghiêm trọng (quy định tại Điều

202, 203, 203, 204, 205, 206 điểm e khoản 2, khoản 3,4) được coi là hoàn thành từ thời điểm xảy ra hậu quả nghiêm trọng

Mặt chủ quan của các tội xâm phạm TTATGĨĐB:

Hầu hết các tội xâm phạm TTATGTĐB có hình thức là lỗi vô ý (do tự tin hoặc do cẩu thả) Người phạm tội tuy có thể thấy trước hành vi của mình có thể gây ra những thiệt hại cho xã hội, mặc dù họ phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó Ngoài ra có một số tội phạm được thực hiện với hình thức lỗi cố ý (tội tổ chức đua xe trái phép, đua xe trái phép) hoặc hình thức lỗi hỗn hợp (cố ý về hành vi, vô ý về hậu quả) như tội điều động hoặc giao cho người khác không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ( Điểu 205)

- Động cơ, mục đích phạm tội của các tội phạm xâm phạm lĩnh vực TTATGTĐB được quy định rất đa dạng nhưng không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm vể TTATGTĐB

Phân loại tội phạm vềTTATGTĐB gồm có: Loại tội vi phạm về thể lệ hành chính trong lĩnh vực TTATGTĐB (Điều 204); Vi phạm vé quy định vận tải đường bộ (Điều 205); Vi phạm về quy định kết cấu hạ tầng giao thông đường

bộ (Điểu 203); Vi phạm về quy tắc tham gia giao thông (Điều 202, 206, 207)

Hình phạt đối với tội phạm về TTATGTĐB quy định thành các hình phạt chính như: Hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn

Về hình phạt tiền : Các tội quy định trong Bộ luật hình sự đều sử dụng hình phạt tiền là hình phạt chính

Mức phạt tiền quy định ở các điều này tùy từng trường hợp mà có mức phạt khác nhau nhưng nhìn chung được chia thành các mức như: từ nãm đến 50 triệu đồng gồm có các tội quy định tại Điều 202, 207; cao nhất là 30 triệu đó

là các tội quy định tại Điểu 203 (từ 5 đến 30 triệu đồng), Điều 205 (từ quả khác nhau có 3 đến 30 triệu đồng); Riêng các tội quy định tại Điều 204 và 206

Trang 33

có khung hình phạt giữa mức tối thiểu và mức tối đa ngắn hơn đó là: từ 10 đến 50 triệu đồng Quy định về mức tiền có khoảng cách tạo ra sự vận dụng linh hoạt trong quá trình xét xử tùy vào tình hình cụ thể của từng vụ án và việc quy định mức phạt khác nhau đó là do tính chất vi phạm của từng tội mang lại,

có tội chỉ mang lại hậu quả nghiêm trọng nhưng cũng có tội mang lại hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

H ình phạt cải tạo không giam giữ :

Được quy định là hình phạt chính ở trong tất cả các tội quy định trong luật hình sự năm 1999 cụ thể hầu hết các tội đểu có mức phạt tối đa là 3 năm, chỉ riêng có tội quy định tại Điều 203 là quy định tối đa là 2 năm: Khoản 1 quy định: “ Người nào có một trong các hành vi sau đây:

Cản trỏ giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm

Hình phạt tù: Các tội quy định mức hình phạt từ 3 tháng đến 10 năm ở các tội quy định tại Điều 203, 204; Mức phạt 1 năm đến 3 năm ở tội quy định tại Điều 205; còn Điéu 202 quy định từ 6 tháng đến 15 năm; Điều 207 từ 3 tháng đến 20 năm; riêng tội quy định tại điều 206 quy định mức phạt từ 1 năm đến 20 năm hoặc chung thân; Ngoài ra còn quy định hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề, công việc nhất định từ 1 đến 5 năm tại các Điều 202, 203, 204, 205 Sở dĩ có quy định này là vì nếu như họ vẫn hành nghề hoặc làm công việc có liên quan thì khả năng họ sẽ tiếp tục vi phạm những quy định về TTATGTĐB và gây hại cho người khác sẽ xảy ra cho nên đây là quy định mang tính chất dự liệu, phòng ngừa đối với những hành vi vi phạm

Trang 34

1.1.6.2 Trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực an toàn gmo thông

đường bộ.

Trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ được hiểu là hậu quảcủa hành vi vi phạm pháp luật hành chính vê trật tự an toàn giao thông đường bộ và được thể hiện trong việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng đối với người đã có lỗi trong việc vi phạm pháp luật hành chính về trật tự an toàn giao thông đường bộ một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của nhà nước do pháp luật hành chính về trật tự an toàn giao thông đường bộ quy định.

Cơ sở để áp dụng TNHC trong lĩnh vực TTATGTĐB là hành vi vi phạm quy định pháp luật Hành chính trong lĩnh vực TTATGTĐB

Theo quy định tại khoản 2 Điểu 1 của Nghị Định số 152/ CP ngày 15 tháng

12 năm 2005 của chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực TTATGTĐB thì vi phạm hành chính (VPHC) được hiểu là:

“Vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ được hiểu là những hành vi của các cá nhân, tổ chức vi phạm quỵ định của pháp luật trong lĩnh vực giao thông đường bộ một cách c ố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính

Vi phạm hành chính trong lĩnh vực TTATGTĐB được cấu thành bởi các yếu tố: Mặt khách quan, mặt chủ quan, mặt chủ thể, mặt khách thể

+ Mặt khách quan: Là HVVP các quy định quản lý hành chính trong lĩnh vực TTATGTĐB được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 1 của nghị định 152/2005/NĐ- CP ngày 15 tháng 12 năm 2005 của chính phủ quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực TTATGTĐB:

Vi phạm hành chính trong lĩnh vực TTATGTĐB bao gồm: Các HVVP quy tắc giao thông đường bộ; Các HVVP quy định về kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ; Các HVVP quy định vẻ người điều khiển phương tiện tham gia giao

Trang 35

thông đường bộ; Các HVVP quy định về vận tải đường bộ; Các HVVP khác

có liên quan đến giao thông đường bộ

Các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực TTATGTĐB được thể hiện dưới dạng các vi phạm như sau:

- Vi phạm các quy tắc giao thông đường bộ như: Vi phạm việc chấp hành báo hiệu đường bộ, vi phạm viộc sử dụng làn đường, vi phạm tốc độ xe và khoảng cách xe

- Vi phạm các quy định về kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ như: Vi phạm đất dành cho đường bộ, vi phạm việc bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

- Vi phạm các quy định về phương tiện tham gia giao thông đường bộ như:

Vi phạm các điều kiện tham gia giao thông của xe cơ giới, vi phạm việc cấp

và thu hồi đăng ký và biển xe cơ giới, vi phạm việc bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ

- Vi phạm các quy định về người điều khiển phương tiộn tham gia giao thông đường bộ: Điều kiện của người lái xe cơ giới tham gia giao thông

- Vi phạm các quy định về các thể lệ hành chính trong lĩnh vực vận tải giao thông đường bộ là việc vi phạm về các quản lý các đối tượng tham gia giao thông đường bộ của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cụ thể như: không

có giấy phép lái xe hoặc lái xe không phù hợp với loại phương tiện đang điều khiển

- Vi phạm các quy định về thể lệ vận tải đường bộ như việc chuyên chở hàng hóa, hành khách không đúng quy định, vượt quá số ghế

Có thể thấy các hành vi thể hiện dưới các dạng nêu trên so với các quy định

về tội phạm trong lĩnh vực TTATGTĐB quy định trong Bộ luật hình sự thì thường là những hành vi ít nguy hiểm hơn cho xã hội và công dân Vì vậy các hành vi này chỉ bị truy cứu TNHS nếu hành vi đó đã bị xử lý hành chính hoặc

Trang 36

nếu chưa bị xử lý hành chính thì hậu quả cùa hành vi đó gây ra là nghiêm trọng.

Mặt khách quan của cấu thành hành vi VPHC vé TTATGTĐB không bắt buộc hậu quả phải có dấu hiệu thiệt hại như: HVVP về tốc độ, giấy phép lái xe

Bên cạnh đó một số những hành vi quy định trong luật này cấu thành pháp

lý của nó dấu hiệu bắt buộc phải là thiệt hại xảy ra ví dụ như: hành vi cá nhân hay tổ chức có HVVP vẻ sử dụng, khai thác trong phạm vi đất dành cho đường

bộ hậu quả của nó là làm ảnh hưởng đến an toàn công trình và an toàn giao thông hoặc làm che khuất tầm nhìn của người điêu khiển phương tiện tham gia giao th ô n g

Mặt chủ quan: Là những HVVP quy định pháp luật vẻ TTATGTĐB của

cá nhân, tổ chức dưới hình thức lỗi cố ý hoặc vô ý

M ặt khách thể: Là các quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực TTATGTĐB bảo vệ

Chủ thể: áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có năng lực TNHC, có HVVP hành chính trong lĩnh vực TTATGTĐB; Đối với các cá nhân, tổ chức nước ngoài sinh sống trên lãnh thổ Viột Nam có HVVP hành chính về TTATGTĐB thì chịu trách nhiệm như công dân, tổ chức, cơ quan của Việt Nam trừ trường hợp trong các Điều ước Quốc tế mà nhà nước CHXHCN Việt Nam tham gia hoặc ký kết có quy định khác

Hệ thống văn bản pháp luật quy định về xử phạt hành chính trong tĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ hiện hành.

Trang 37

thủ tục, thẩm quyền về xử phạt VPHC trong lĩnh vực TTATGTĐB Ngoài ra

nó còn được quy định thêm trong các vãn bản của Bộ giao thông vận tải như :

- Quyết Định 4480/2002/QĐ-BGTVT, ngày 31/12/2002 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải về việc ban hành quy định trách nhiệm và xử lý khi vi phạm trong công tác quản lý đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đ- ường bộ

- Quyết Định 294/2003/QĐ-BGTVT, ngày 28/1/2003 Của Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải về việc ban hành quy định trách nhiệm và hình thức xử lý đối với tổ chức, cá nhân khi vi phạm về quản lý, điều hành hoạt động của Trạm kiểm tra tải trọng xe cơ giới đường bộ

- Quyết định số: 318/2003/QĐ-BGTVT ngày 30/1/2003 của Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải về việc ban hành quy định trách nhiệm và hình thức xử lý đối với tổ chức, cá nhân khi vi phạm về quản lý

- Quyết định số: 3633/2003/QĐ-BGTVT, ngày 2/12/2003 của Bộ Trưởng

Bộ Giao thông Vận tải về việc quy định trách nhiệm và hình thức xử lý đối với

tổ chức cá nhân khi vi phạm trong quản lý, điều hành và hoạt động kinh doanh vận tải hành khách bằng ô tô

- Quyết định số: 38/2004/QĐ-BGTVT, ngày 24/12/2004 của Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải về việc ban hành quy định trách nhiệm và hình thức xử lý đối với tổ chức, cá nhân khi vi phạm trong quản lý, bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

- Quyết định số: 4391/2002/QĐ-BGTVT ngày 27/12/2002 Của Bộ trưởng

Bộ Giao thông Vận tải về việc ban hành quy định trách nhiệm và hình thức xử

lý đối với tổ chức, cá nhân khi vi phạm về quản lý, bảo đảm chất lượng các dự

án xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông

- Quyết định số: 4455/2002/QĐ-BGTVT, ngày 31/12/2002 của Bộ trưởng

Bộ Giao thông Vận tải về việc ban hành quy định trách nhiệm và xử lý khi vi

Trang 38

phạm về quản lý, kiểm tra chất lượng và an toàn kỹ thuật phương tiện giao thông vận tải.

Nguyên tắc áp dụng trách nhiệm hành chính trong tĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ.

• Nguyên tắc x ử lý kịp thời: Mọi hành vi VPHC trong lĩnh vực TTATGTĐB phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay

Viộc xử phạt phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để Mọi hậu quả do HVVP gây ra phải được khắc phục theo quy định của pháp luật, (khoản 1 Điều 4 của Nghị định 152/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 quy định

về việc xử phạt VPHC trong lĩnh vực TTATGTĐB)

- Nguyên tắc x ử lý công minh: Các cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt hành chính trong lĩnh vực TTATGTĐB khi thực hiện các HVVP hành chính về TTATGTĐB

Một HVVP hành chính trong lĩnh vực TTATGTĐB chỉ bị xử phạt VPHC (khoản 4 Điều 4 Nghị định 152/2005/NĐ-CP ngày 15/12 /2005 về xử phạt VPHC trong lĩnh vực TTATGTĐB)

- Nguyên tắc x ử lý hợp lý: Khi quyết định xử phạt VPHC trong lĩnh vực TTATGTĐB, người có thẩm quyền xử phạt phải căn cứ vào tính chất, mức độ

vi phạm, nhân thân của người vi phạm và những tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng quy định tại Pháp lệnh xử lý VPHC, căn cứ HVVP, hình thức và mức phạt đối với HVVP được quy định tại Nghị định số: 152/2005/NĐ-CP để quyết định hình thức, biện pháp xử lý thích hợp (khoản 7 Điều 4 Nghi định 152/2005/ NĐ-CP)

Không xử phạt VPHC trong lĩnh vực TTATGTĐB trong các trường hợp thuộc tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ hoặc VPHC trong khi đang mắc bệnh tâm thần, các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình (khoản 8 Điều 4 Nghị định 152/2005/NĐ-CP)

Trang 39

Các biện pháp trách nhiệm xử phạt vi phạm hành chính trong tĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ:

Trong lĩnh vực TTATGTĐB có hai nhóm biện pháp xử phạt đó ỉà: nhóm biện pháp xử phạt hành chính và nhóm biện pháp khắc phục hậu quả

- Các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính gồm có các hình thức như sau:

Đối với mỗi HVVP hành chính trong lĩnh vực TTATGTĐB; cá nhân, tổ chức phải chịu một trong các hình thức xử phạt như:

+ Phạt cảnh cáo: áp dụng với các cá nhân, tổ chức VPHC nhỏ lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ đối với mọi HVVP hành chính do người chưa thành niên từ

đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện (Điều 13 Pháp lệnh xử phạt VPHC năm

Các biện pháp khác được quy định tại Nghị định 152/NĐ-CP ngày 15/12/2005 như:

+ Buộc xếp dỡ hàng theo đúng quy định (Khoản 5 Điều 17 NĐ 152);

+ Thu dọn đinh, vật sắc nhọn và làm sạch mặt đường giao thông (điểm b khoản 6 Điều 18 NĐ 152);

Trang 40

+ Buộc phải khôi phục lại hình dáng, kích thước hoặc tình trạng an toàn kỹ thuật ban đầu của xe (điểm c khoản 7 Điều 38 NĐ152);

Thẩm quyển xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ:

Theo Nghị định 152/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực TTATGTĐB, thẩm quyền xử phạt VPHC về TTATGTĐB gồm:

- Thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch ủy ban nhân dán các cấp:

Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã, phường có quyên:

Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành p h ố trực thuộc trung ương có quyền:

+ Phạt cảnh cáo;

+ Phạt tiển đến 30.000.000 đồng;

+ Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;+ Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền;

Ngày đăng: 27/03/2015, 12:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban bí thư trung ương Đảng (2003), Chỉ thị s ố 22- CT/TW về tâng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị s ố 22- CT/TW về tâng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông
Tác giả: Ban bí thư trung ương Đảng
Năm: 2003
2. c . Mác và Ph.Ảng ghen (1993), Toàn tập- tập 13, NXB, chính trị Quốc gia, Hà Nội.Văn bản pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập- tập 13
Tác giả: c . Mác và Ph.Ảng ghen
Năm: 1993
3. Bộ trưởng Bộ Giao thồng vận tải (2005), Quyết định số: 42/2005ỈQĐ- BGTVT về việc ban hành quy định về tốc độ và khoảng cách của xe cơ giới,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số: 42/2005ỈQĐ- BGTVT về việc ban hành quy định về tốc độ và khoảng cách của xe cơ giới
Tác giả: Bộ trưởng Bộ Giao thồng vận tải
Năm: 2005
4. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải (2005), Quyết định số 05/2005IQĐ- BGTVT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Thanh tra Cục đường bộ Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 05/2005IQĐ- BGTVT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Thanh tra Cục đường bộ Việt Nam
Tác giả: Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải
Năm: 2005
5. Bộ Công an (2005), Quy định về tiêu chuẩn đạo đức tác phong của cán bộ chiến sỹ cảnh sát giao thông, những việc cần phải “xâ y” và “chống” (Ban hành kèm theo Quyết định s ố 607/2005/QĐ-BCA (CIỉ ) của Bộ trưởng Bộ công An), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về tiêu chuẩn đạo đức tác phong của cán bộ chiến sỹ cảnh sát giao thông, những việc cần phải “xâ y”" và "“chống” (Ban hành kèm theo Quyết định s ố 607/2005/QĐ-BCA (CIỉ ) của Bộ trưởng Bộ công An)
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2005
6. Bộ Công an - Bộ Giao thông vận tải (2003), Thông Tư Liên tịch sổ 0312003ITTLT-BCA-BGTVT hướng dẫn việc đánh dấu số lần vi phạm pháp luật giao thông đường bộ trên giấy phép lái xe, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông Tư Liên tịch sổ0312003ITTLT-BCA-BGTVT hướng dẫn việc đánh dấu số lần vi phạm pháp luật giao thông đường bộ trên giấy phép lái xe
Tác giả: Bộ Công an - Bộ Giao thông vận tải
Năm: 2003
7. Bộ công an (2001), Quyết định 259/200Ỉ/QĐ- B C A ịlỉ) ban hành quy trình chỉ huy điều khiển giao thông tại các đô thị , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 259/200Ỉ/QĐ- B C A ịlỉ) ban hành quy trình chỉ huy điều khiển giao thông tại các đô thị
Tác giả: Bộ công an
Năm: 2001
9. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải (2005), Quyết định số: 08/2005/QĐ- BGĨVT về việc ban hành Quy định về bến xe ôtô khách , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số: 08/2005/QĐ- BGĨVT về việc ban hành Quy định về bến xe ôtô khách
Tác giả: Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải
Năm: 2005
10. Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải (2002), Quyết định số: 4455I2002IQĐ- BGTVT về việc ban hành quy định trách nhiệm và xử lý khi vi phạm về quản ỉý, kiểm tra chất lượng và an toàn kỹ thuật phương tiện giao thông vận tải, • 7 Hà Nội. ■ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số: 4455I2002IQĐ- BGTVT về việc ban hành quy định trách nhiệm và xử lý khi vi phạm về quản ỉý, kiểm tra chất lượng và an toàn kỹ thuật phương tiện giao thông vận tải
Tác giả: Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải
Năm: 2002
11. Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải (2002), Quyết định số: 4391/2002/QĐ- BGTVT vê việc ban hành quy định trách nhiệm và hình thức xử lý đối với tổ chức, cá nhân khi vi phạm vé quản lý, bảo đảm chất lượng các dự án xây dipig kết cấu hạ tầng giao thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số: 4391/2002/QĐ- BGTVT vê việc ban hành quy định trách nhiệm và hình thức xử lý đối với tổ chức, cá nhân khi vi phạm vé quản lý, bảo đảm chất lượng các dự án xây dipig kết cấu hạ tầng giao thông
Tác giả: Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải
Năm: 2002
12. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải (2003), Quyết định số: 3633I2003IQĐ- BTVT quy định trách nhiệm và hình thức xử lý đối với tổ chức và cá nhân khi vi phạm trong quản ỉý, điều hành và hoạt động kinh doanh vận tải hành khách bằng ô tô, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số: 3633I2003IQĐ- BTVT quy định trách nhiệm và hình thức xử lý đối với tổ chức" và "cá nhân khi vi phạm trong quản ỉý, điều hành và hoạt động kinh doanh vận tải hành khách bằng ô tô
Tác giả: Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải
Năm: 2003
13. Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải (2004), Quyết định số: 3812004/QĐ- BGĨVT về việc ban hành quy định trách nhiệm và hình thức xử lý đối với tổ chức, cá nhân khi vi phạm trong quản lý, bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số: 3812004/QĐ- BGĨVT về việc ban hành quy định trách nhiệm và hình thức xử lý đối với tổ chức, cá nhân khi vi phạm trong quản lý, bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ
Tác giả: Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải
Năm: 2004
14. Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải (2003), Quyết định số: 1467/2003ÍQĐ- BGTVT về việc quy định tạm thời trách nhiệm của tổ chức, cá nhân và hình thức xử lý vi phạm đối với cá nhân trong hoạt động thanh tra chuyên ngành giao thông vận tải đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số: 1467/2003ÍQĐ- BGTVT về việc quy định tạm thời trách nhiệm của tổ chức, cá nhân và hình thức xử lý vi phạm đối với cá nhân trong hoạt động thanh tra chuyên ngành giao thông vận tải đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa
Tác giả: Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải
Năm: 2003
15. Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải (2003), Quyết định số: 294/2003/QĐ- BGTVT vê việc ban hành quy định trách nhiệm và hình thức xử lý đối với tổ chức, cá nhân khi vi phạm về quản lý, điều hành hoạt động của Trạm kiểm tra tải trọng xe cơ giới đường bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số: 294/2003/QĐ- BGTVT vê việc ban hành quy định trách nhiệm và hình thức xử lý đối với tổ chức, cá nhân khi vi phạm về quản lý, điều hành hoạt động của Trạm kiểm tra tải trọng xe cơ giới đường bộ
Tác giả: Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải
Năm: 2003
16. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải (2002), Quyết định số: 4480/2002/QĐ~BGTVT về việc ban hành quy định trách nhiệm và xử lý khi vi phạm trong công tác quản lý đào tạo, sát hạch , cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số: 4480/2002/QĐ~"BGTVT về việc ban hành quy định trách nhiệm và xử lý khi vi phạm trong công tác quản lý đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ
Tác giả: Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải
Năm: 2002
17. Bộ Tài Chính (2003), Thông Tư số: 25Ỉ2003/TT-ETC về hưởng dẫn việc thu, nộp, quản ỉỷ, sử dụng tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông Tư số: 25Ỉ2003/TT-ETC về hưởng dẫn việc thu, nộp, quản ỉỷ, sử dụng tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông
Tác giả: Bộ Tài Chính
Năm: 2003
18. Bộ Tài Chính (2003), Thông tư số: 47Ỉ2003/TT-BTC hướng dẫn sửa đổi Thông Tư s ố 25/2003ÍTT-ETC về việc thu, nộp, quản lý, sử dụng tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông, HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số: 47Ỉ2003/TT-BTC hướng dẫn sửa đổi Thông Tư s ố 25/2003ÍTT-ETC về việc thu, nộp, quản lý, sử dụng tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông
Tác giả: Bộ Tài Chính
Năm: 2003
19. Chính phủ (2002), Nghị quyết số: Ỉ3/2002/NQ-CP của về các giải pháp kiềm chế gia tăng và tiêh tới giảm dần tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số: Ỉ3/2002/NQ-CP của về các giải pháp kiềm chế gia tăng và tiêh tới giảm dần tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2002
20. Chính phủ (2003), Nghị định sổ: Ỉ34/2003/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định sổ: Ỉ34/2003/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
21. Chính phủ (2005), Nghị định số: Ỉ52/2005ỈNĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số: Ỉ52/2005ỈNĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2:  Chiểu dài đường bộ từ năm 2002 đến 2006. - Trách nhiệm pháp lý và đạo đức trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ
Bảng 2 Chiểu dài đường bộ từ năm 2002 đến 2006 (Trang 130)
Hình thức xử lý - Trách nhiệm pháp lý và đạo đức trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ
Hình th ức xử lý (Trang 131)
Bảng 4:  Bảng sô liệu tình hình tai nạn giao thông toàn quốc từ năm  2002- 2006. - Trách nhiệm pháp lý và đạo đức trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ
Bảng 4 Bảng sô liệu tình hình tai nạn giao thông toàn quốc từ năm 2002- 2006 (Trang 132)
Bảng 5:  Số lượng phương tiện giao thông cơ  giới đường bộ tại tỉnh Thanh  hóa từ năm 2002  - 2006. - Trách nhiệm pháp lý và đạo đức trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ
Bảng 5 Số lượng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ tại tỉnh Thanh hóa từ năm 2002 - 2006 (Trang 133)
Bảng 6:  Tình hình  vi phạm TTATGTĐB  từ năm 2000 đến 2006 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. - Trách nhiệm pháp lý và đạo đức trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ
Bảng 6 Tình hình vi phạm TTATGTĐB từ năm 2000 đến 2006 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa (Trang 134)
Hình thức xử lý - Trách nhiệm pháp lý và đạo đức trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ
Hình th ức xử lý (Trang 134)
Bảng 7: Tình hình tai nạn giao  thông xảy ra  trên địa  bàn  tỉnh Thanh  Hóa. - Trách nhiệm pháp lý và đạo đức trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ
Bảng 7 Tình hình tai nạn giao thông xảy ra trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa (Trang 135)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w