Chủ nghĩa yêu nước cùng với tình đoàn kết, tính cộng đồng được sản sinh ra từ yêu cầu sống còn của dân tộc trong cuộc đấu tranh chống thiên tai thường xuyên đe doạ cuộc sống của con ngườ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chưa từng được công bố Các tư liệu, số liệu, kết quả trong luận văn này là trung thực và có xuất xứ rõ ràng
Tác giả Trần Thị Hạnh
Trang 3Jlííi cả m Ú41
&ội xin ehân thành eàm ờn, Cịián m' - rĩiêú ũ Mỉ (ĩ)ãn Quán đã lận tình, hiiónụ dẩn, ekL hủo, tfiúp á ? tỏ i hoìm thành Luận năn tế t m/lỉiêp này,.
'rĩài xút eâm ơn eúe íịiáo ui, rpitó í^iảo ui, 'diên »ĩ, xĩhụtr
ũ ừànụ tác ớ' ỉtottíỊ tùi nụeài <Tì)ại họe qiiôe gia '3ÔÒ ■Hội đã tận tình giảng, dụiị , hưóitụ dẫn tòi irontị muốt quá trình, họe Cítíị
học nà iùêt luận IU.ỉn.
tĩỗi aein eám tín lãnh đạo rĐ ạì họe Qíiôỉ' ạia '3ÔÒ (.Mội,
^ĩníổiựị <Dại hạc 3Cfafíii họe xã hội ƠÌL (ỈỈPứLn oĩtn, rỊ)liìm ụ fĐào tạo, 3ơtoa \Jviit họe rĩviitìnụ <Đại hạc 3CỈIBU hạc x ã hội từi fỉlhún năn, ông, ‘TCuìịmPl (ĩỉăn íphutốe - SẦ £ịỉủt) dục oà <Dà& tọa rĩhùnh pltô ^ĩ)à nẴnụ cừu tị eáe đềng infltit>p (Tã ạiúp, đă tòi hoàn thành ehưtíttíỊ trình hạc tậfí đạt kết (Ịỉm tế t.
'JỗỌ4i ni in r ĩ rần &IÙ 'ĩf>ạnh
Trang 4MỤC LỤC
ẳ
MỞ ĐẦU 1
1- Lý do chọn đề tài: 1
2- Tình hình nghiên cứu về đề tà i 2
3- Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứ u 3
4- Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4
5- Đóng góp của luận văn 4
6- Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận v ă n 5
7- Kết cấu của luận v ă n 5
Chương 1 6
NHŨNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG C Ủ A 6
HUỲNH THÚC KHÁNG 6
1.1 Tiền đề kinh tế - Chính trị - xã hội tạo nen sự hình thành tư tưởng Huỳnh Thúc K háng, 6
1.2 Tiền đề Tư tưởng tạo nên sự Hình thành tư tưởng Huỳnh Thúc K háng 16
1.3 Cuộc đời và sự nghiệp của nhà yêu nước Huỳnh Thúc Kháng 22
Kết luận chương 1 29
Chương 2 31
TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC CỦA HUỲNH THÚC K H Á N G 31
2.1 Tư tưởng yêu nước theo khuynh hướng duy tân của Huỳnh Thúc K h á n g 31
2.2 Tư tưởng yêu nước của Huỳnh Thúc Kháng trong thời kỳ làm viện trưởng viện nhân dân đại biểu trung kỳ (1921- 1928) 40
2.3 Tư tưởng yêu nước của Huỳnh Thúc Kháng trong thời kỳ làm chủ bút tờ báoTiếng dân (1928-1945) 48
2.3.1 Tư tưởng chính trị 50
Trang 52.3.2 Tư tưởng về nhân dân 60
2.4 Tư tưởng yêu nước của Huỳnh Thúc Kháng trong thời kỳ tham gia chính quyền cách mạng (1945-1947) 69
2.4.1 Tư tưởng giữ gìn độc lập dân tộc, chống ngoại xâm 72
2.4.2 Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc, giữ vững ổn định tình hình trong nước, chôhg kẻ thù chung. 76
Kết luận chương 2 82
KẾT LUẬN 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
I
Trang 6MỞ ĐẦU
1- LÝ DO CHỌN ĐỂ TÀI:
Yêu nước là tình cảm tự nhiên của mỗi con người Chủ nghĩa yêu nước
là sản phẩm của bản thân lịch sử Việt Nam bắt đầu từ tình cảm tự nhiên của mỗi con người đối với quê hương mình, phát triển lên thành tư tưởng và hệ thống tư tưởng, làm chủ sự nhận thức đúng sai, tốt xấu, đã và đang là tư tưởng chỉ đạo rất nhiều đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Người Việt Nam trong bất cứ thời đại nào cũng đều phát huy tinh thần yêu nước, tính tự cường dân tộc của mình Chủ nghĩa yêu nước cùng với tình đoàn kết, tính cộng đồng được sản sinh ra từ yêu cầu sống còn của dân tộc trong cuộc đấu tranh chống thiên tai thường xuyên đe doạ cuộc sống của con người và trước những cuộc chiến tranh xâm lược và ách đô hộ của các thế lực bên ngoài, đã tạo nên một cái tinh tuý của bản sắc văn hoá Việt Nam, trở thành truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta
Trong suốt chiều dài lịch sử dựnế nước và giữ nước của dân tộc ta đã xuất hiện biết bao tấm gương yêu nước, anh dũng hy sinh Ngày nay, khi nước
ta đang bước sang thời kỳ công nghiệp hoá- hiện đại hoá, Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân ta đều ý thức được rằng chúng ta muốn thành công trong nhiệm vụ cách mạng mới thì cần phải giáo dục, bồi đắp, phát huy không ngừng những tinh tuý của dân tộc mà chủ nghĩa yêu nước là một
Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) là một trong những chí sĩ yêu nước tiêu biểu cho cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân ta hồi đầu thế kỷ XX, cùng với các nhà yêu nước nổi tiếng như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh v.v
“Cụ Huỳnh là một người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao Vì lòng yêu nước, mà trước đây cụ bị bọn thực dân làm tội, đày ra Côn Đảo Mười mấy năm trường, gian nan cực khổ Nhưng lòng son dạ sắt, yêu nước thương nòi của cụ Huỳnh chẳng những không sờn lại thêm kiên quyết
Trang 7Cụ Huỳnh là người mà giàu sang không làm siêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan.
Cả đời cụ không cầu danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm giàu, không thèm làm quan Cả đời cụ chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập.”[35,121]
Những lời trong thư gửi đồng bào cả nước sau ngày Huỳnh Thúc Kháng
tạ thế đã thể hiện sự đánh giá trân trọng và chuẩn xấc của Hồ Chủ Tịch, sự tôn vinh của đồng bào cả nước đối với nhà yêu nước Huỳnh Thúc Kháng
Để góp phần vào công việc nghiên cứu, giáo dục chủ nghĩa yêu nước Việt Nam nói chung và nghiên cứu về các nhà yêu nước, các nhà tư tưởng Việt Nam nói riêng, trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ triết học, tôi mạnh dạn chọn
đề tài “Tư tưởng yêu nước của Huỳnh Thúc Kháng ” làm đề tài tốt nghiệp
2- TÌNH HÌNH NGHIÊN cứu VỀ ĐỂ TÀI
Từ trước tới nay đã có khá nhiều học giả, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước nghiên cứu về chủ nghĩa yêù nước Việt Nam, về các nhà yêu nước tiêu biểu trong lịch sử Trong số các nhà yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ 20 có thể nói sau Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng đã để lại cho chúng ta một khối lượng sáng tác đồ sộ bao gồm thơ văn bằng chữ Hán và chữ Quốc ngữ dưới nhiều thể loại, số lượng lớn các bài báo trên báo Tiếng dân Tuy nhiên các công trinh nghiên cứu về chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng lại không nhiều nếu không nói là ít so với tầm vóc, vai trò lịch sử của ông
Trước năm 1954, các công trình nghiên cứu, tuyển chọn thơ văn của Huỳnh Thúc Kháng chủ yếu được xuất bản ở Huế và Sài Gòn, nội dung đã làm sáng tỏ cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của ồng
Từ năm 1954 trở đi nhất là sau năm 1975- đất nước ta hoàn toàn thống nhất, các công trình sưu tầm, tuyển chọn thơ văn và các công trình nghiên cứu
về cuộc đời, sự nghiệp đặc biệt là các công trình đề cập đến tư tưởng của Huỳnh Thúc Kháng tuy không nhiều nhưng đã có hệ thống chứng tỏ việc tìm
Trang 8hiểu, đánh giá vị trí con người và tư tưởng của Huỳnh Thúc Kháng đã được ổn định song chưa thật đúng tầm, đúng mức Có thể kể tên một vài công trình tiêu biểu:
Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng - Vương Đình Quang
Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng (chọn lọc) - Chương Thâu
Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng - Tổng tập văn học Việt Nam
Huỳnh Thúc Kháng - Con người và thơ văn- Nguyễn Q Thắng
Chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng - Hội khoa học lịch sử
Huỳnh Thúc Kháng niên phổ và Thư trả lời Kỳ ngoại hầu Cường Để.Ngoài ra chỉ có một số lượng rất hạn chế các khoá luận tốt nghiệp, luận văn của ngành lịch sử, các bài viết trong các báo hoặc tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Các công trình nghiên cứu trên đây đã đề cập đến cuộc đời, sự nghiệp, các trước tác của Huỳnh Thúc Kháng, rất có giá trị Tuy nhiên, tập trung vào
Inghiên cứu sự hình thành, nội dung cơ bản của tư tưởng Huỳnh Thúc Kháng nói chung và tư tưởng yêu nước nói riêng như cách đặt vấn đề của luận văn thì chưa có công trình nào thực hiện
3- MỤC TIÊU VÀ NHIỆM vụ NGHIÊN cứu
Thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi xác định mục tiêu là:
Tìm những đặc trưng, đặc điểm của tư tưởng yêu nước của Huỳnh Thúc Kháng
Để thực hiện được mục tiêu trên luận văn có nhiệm vụ:
-Tìm hiểu những tư tưởng, quan điểm, hành động vì dân vì nước của Huỳnh Thúc Kháng qua phân tích những trước tác của ông và của các học giả viết về ông Từ đó tìm hiểu quá trình tiếp biến của tư tưởng Huỳnh Thúc Kháng
Trang 9- Nhân xét, đánh giá về những tiến bộ và hạn chế trong tư tưởng của Huỳnh Thúc Kháng, đánh giá vai trò, vị trí của nhà yêu nước Huỳnh Thúc Kháng, của tư tưởng Huỳnh Thúc Kháng trong lịch sử và lịch sử tư tưởng Việt Nam.
4- Cơ Sỏ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
Tư tưởng của Huỳnh Thúc Kháng luôn gắn với cuộc đời hoạt động vì dân vì nước của ông và được thể hiện qua những bức thư, những bài viết, những lời phát biểu, những bài thơ gắn với từng thời điểm lịch sử cụ thể, từng đối tượng cụ thể, phục vụ cho những mục tiêu, công việc cụ thể của thực tiễn
Để hiểu đúng và đánh giá chính xác giá trị tư tưởng, hành động, việc làm của Huỳnh Thúc Kháng, luận văn được thực hiện dựa trên các quan điểm
lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam Chúng tôi cũng sử dụng những kết quả củầ các công trình nghiên cứu của các học giả về Huỳnh Thúc Khápg
Chúng tôi sử dụng tổng hợp các nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, và các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích- tổng hợp, lịch sử-lôgic, hệ thống- cấu trúc, lối chiếu so sánh
Trang 10CHƯƠNG 1
NHŨNG TIỀN ĐỂ HÌNH THÀNH T ư TƯỞNG CỦA
HUỲNH THÚC KHÁNG.
1.1 TIỀN ĐỂ KINH T Ế - CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI TẠO NÊN s ự HÌNH THÀNH
Tư TƯỞNG HUỲNH THÚC KHÁNG.
Quá trình hình thành, phát triển tư tưởng của Huỳnh Thúc Kháng gắn liền với sự biến đổi của điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội trong xã hội Việt Nam ở cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Những điều kiện lịch sử ấy có ảnh hưởng rất lớn đối với tư tưởng ông
Trong những thập kỷ 80-90 của thế kỷ XIX Việt Nam là quốc gia phong kiến đang bước sang giai đoạn suy vong, tan rã Cuối thế kỷ XIX, kinh tế của Việt Nam chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, trì trệ do chính sách “bế quan toả cảng” của triều Nguyễn
Hiệp ước Hácmăng (1883) và Patơnốt (1884) ký giữa triều đình Huế và chính phủ Pháp dưới áp lực quân sự của tư bản Pháp đã đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của nhà nước phong kiến độc lập Việt Nam và sự đầu hàng của triều Nguyễn trước chủ nghĩa tư bản Pháp, công nhận bảo hộ lâu dài của người Pháp
ở Việt Nam Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam thiết lập hệ thống cai trị, duy trì bộ máy phong kiến Việt Nam đã lỗi thời dưới quyền điều hành của chúng, chia Việt Nam thành ba kỳ với ba chế độ cai trị khác nhau dưới quyền Pháp Nam kỳ dưới chế độ trực trị, Trung kỳ dưới chế độ bảo hộ, Bắc kỳ dưới chế độ
ở giữa hai thứ chế độ đó, mỗi kỳ là một bộ phận của Đông Dương thuộc Pháp bao gồm cả Campuchia và Lào “Chia để trị” là chính sách lớn của thực dân Đầu thế kỷ XX, chính sách khai thác thuộc địa thu lợi nhuận của thực dân Pháp đã làm nảy sinh một loạt các hình thức hoạt động kinh tế mới ở Việt Nam, làm thay đổi cơ cấu kinh tế Việt Nam
Trang 11Thực dân Pháp thực hiện thống nhất tài chính toàn Đông dương, nguồn
thu chủ yếu là các loại thuế đè nặng lên nhân dân Đông Dương Tư bản nước
ngoài đầu tư vào Việt Nam từ đầu thế kỷ XX chủ yếu là của Pháp, đầu tư chủ
yếu hai ngành nông nghiệp và công nghiệp Các khu công nghiệp như Hồng
gai, Thái nguyên, Cao bằng, Lao cai được lập ra Diện tích các đồn điền cao
su, cà phê ở Trung kỳ và Nam kỳ tăng lên gấp bội đồng nghĩa với việc thực
dân Pháp chiếm hàng loạt ruộng đất của nhân dân Việt Nam
Hệ thống giao thông được mở ra để phục vụ cho việc vận chuyển các
sản phẩm và hàng hoá mà Pháp khai thác được: đường thuỷ, đường sắt, đường
bộ đồng thời là phương tiện để đưa quân đội tới những nơi cần thiết để đàn
áp các cuộc nổi dậy của nhân dân
Các thành phố được nâng cấp, phát triển, như Hà Nội, Sài Gòn, Hải
phòng, Thái nguyên, Nam định Đà nẵng V V chủ yếu là để mở mang thị
trường phục vụ cho quyền lợi kinh tế của Pháp
Dưới tác động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa do Pháp du
nhập vào, nền kinh tế Việt Nam dần dần chuyển biến từ nền kinh tế nông
nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế thuộc địa- tư bản chủ nghĩa, có bước phát triển
nhanh chóng nhưng cũng tạo ra một cơ cấu kinh tế què quặt mất cân đối dẫn
đến sự phân hoá thiếu triệt để của cơ cấu giai cấp xã hội
Về chính t r ị , bộ máy cai trị thực dân đã được xây dựng và củng cô' dưới
sự “hợp tác’ chặt chẽ của triều đình Huế và của một phần không nhỏ tầng lớp
phú hào
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp là một nước thắng trận cho nên
chúng lại càng ra sức khai thác thuộc địa chủ yếu ở Đông Dương và châu Phi
Chính quyền thực dân- phong kiến thi hành hàng loạt các chính sách cải cách
nhằm đối phó lại những biến động đang diễn ra trong xã hội Việt Nam Mục
tiêu của Pháp là mở rộng cơ sở xã hội nhưng không ảnh hưởng đến nền tảng
thống trị ở thuộc địa Nhằm mục đích can thiệp trực tiếp vào làng xã, từ năm
1904, thực dân Pháp bắt đầu thi hành chính sách “cải lương hương chính”, đưa 1
Trang 12tầng lớp tân học lên cầm quyền thay tầng lớp cựu học ở Bắc kỳ và Nam kỳ Chủ trương chung của Pháp là tiếp tục sử dụng giai cấp địa chủ và tay sai người Việt vào việc cai trị v ề căn bản, chính sách cải lương hương chính chấp nhận những cơ chế cổ truyền của làng xã nhưng nó ra sức nắm lấy bộ phận cầm đầu các hương thôn Sau khi đã xây dựng và củng cố được quyền lực của mình trên thực tế, thực dân Pháp tìm cách gạt bỏ vai trò của triều đinh phong kiến trong công việc quốc gia Công cuộc cải cách về chính trị- hành chính với những biểu hiện: tăng cường số lượng công chức người Việt trong bộ máy hành chính thuộc địa Chính sách này nhằm tranh thủ lôi kéo một bộ phận nhỏ trong “giới thượng lưu” người Việt Nam gồm một sô' nhà tư sản và địa chủ lớn
vì quyền lợi cá nhân đứng về phía Pháp để chống lại nhân dân ta làm cho tình hình chính trị và sự phân hoá trong xã hội ở Việt Nam ihêm gay gắt
Thực dân Pháp đẩy mạnh khai thác trên quy mô lớn từ đầu thế kỷ XX
đã làm cho nhân dân lao động bị bần cùng hoá, xã hội phân hoá ngày càng sâu sắc, nông thôn và thành thị đều có những biến chuyểrì rõ rệt Những biến đổi
về cơ cấu xã hội tất yếu có ảnh hưởng đến tư tưởng Việt Nam, đến tính chất
Icủa cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta diễn ra trong giai đoạn đó và sau-này Xã hội Việt Nam có sự phân hoá của các tầng lớp cũ và mới:
- Địa chủ phong kiến: vốn là giai cấp cũ tồn tại lâu đời trong xã hội phong kiến Việt Nam Được thực dân Pháp nâng đỡ, ưu thế kinh tế và chính trị của địa chủ Việt Nam tăng lên Ngoài địa chủ Pháp, địa chủ Nhà thờ, địa chủ quan lại, địa chủ thường, còn có các địa chủ kiêm công thương Địa chủ phong kiến Việt Nam phát triển hơn trước và trở thành chỗ dựa vững chắc cho thực dàn Pháp trong công cuộc khai thác thuộc địa và duy trì trật tự xã hội có lợi cho chúng Xét trên bình diện tư tưởng, giai cấp này cũng bị phân hoá thành 2
bộ phận:
Một bộ phận trở thành tay sai cho Pháp, là chỗ dựa cho bọn thực dân ngoại bang, trở thành đầy tớ tin cậy cho chính phủ bảo hộ, ra sức đàn áp, bóc lột nông dân
Trang 13Một bộ phận những gia đình phong kiến tuy bị ràng buộc với điền địa nhưng có tinh thần dân tộc, căm thù giặc, tham gia các cuộc nổi dậy chống Pháp.
- Giai cấp nông dân: bắt đầu bị quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa chi phối Tư bản Pháp và bè lũ phong kiến tay sai trắng trợn cướp đoạt ruộng đất của nông dân trên quy mô lớn để lập các đồn điền nông nghiệp Lúa gạo trở thành hàng xuất khẩu, ruộng đất bị tập trung, nạn phu phen tạp dịch, sưu thuế càng trở nên nặng nề làm cho cuộc sống của nông dân vốn đã khốn khổ càng trở nên xơ xác Nông dân bị phân tán, một số bị bần cùng hoá, thoát li khỏi ruộng đất, li tán ra thành thị , khu công nghiệp kiếm sống, không thoát khỏi ách áp bức bóc lột Trong các phong trào yêu nước, phong trào cách mạng, nông dân là lực lượng đông đảo tham gia, góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc
- Giai cấp công nhân mới xuất hiện với lực lượng rất mỏng, chủ yếu xuất thân từ nông dân họ trở thành công nhân từ nhiều con đường khác nhau Một số bị tước đoạt hết tư liệu sản xuâ'í phải tự đến hầm mỏ, xí nghiệp kiếm công việc Một số khác chỉ tranh thủ “tháng ba ngày tám” ra xí nghiệp, hầm
m ỏìàm thuê bổ sung cho thu hoạch nông nghiệp Một số khác nữa là “phu”- công nhân bị cưỡng bức, bị thực dân phong kiến bắt các làng xã phải giao nộp
để làm các công trình phục vụ chế độ thực dân: đường sắt, đường bộ, công sở Công nhân chịu sự bóc lột trực tiếp của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa
- Giai cấp tư sản: Đầu thế kỷ XX, tầng lớp tư sản và tiểu tư sản tuy chưa hội đủ các điều kiện là giai cấp nhưng đã có hình hài theo 2 kiểu:
Một bộ phận lợi dụng cuộc khai thác thuộc địa của Pháp, cấu kết với Pháp nhanh chóng trở thành tư sản thực sự Xuất hiện sớm nhất là một só tư sản mại bản đứng ra bao thầu các bộ phận kinh doanh của Pháp, nhận cung cấp tiếp tế lương thực, nguyên liệu cho Pháp hay đúng ra làm đại lý phân phối hàng hoá của chúng Quyền lợi của họ gắn liền với quyền lợi của thực dân
Trang 14Một bộ phận nữa có quan hệ với tư bản nước ngoài nhưng mặt nào đó
có ít nhiều tinh thần dân tộc, tinh thần yêu nước, đã có những đóng góp cho phong trào yêu nước chống thực dân, có khả năng tiếp thu những tư tưởng dân chủ tư sản tiến bộ Trong số này có những người làm kinh doanh thương nghiệp để hỗ trợ cho công tác chính trị, hỗ trợ cho các phong trào yêu nước.Lúc này, tư sản Việt Nam hình thành một giai cấp trong xã hội, bắt đầu bước lên vũ đài chính trị Tuy vậy vì cơ sở kinh tế của giai cấp tư sản Việt Nam hết sức nhỏ yếu nên thái độ chính trị của họ rất bạc nhược Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc sau chiến tranh, vai trò chủ yếu thuộc về tầng lớp tiểu tư sản chứ không phải tư sản; sau khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái (1930) bị thất bại thì vai trò chính trị của gai cấp tư sản hầu như chấm dứt
- Cùng ra đời với tầng lớp tư sản là tầng lớp tiểu tư sản, đông hơn các nhà tư sản Họ là các nhà tiểu công nghệ, tiểu thương, những người làm việc ở các sở cổng hay tư, những người làm nghề tự do, học sinh các trường Tuy đời sống vật chất của những người này so với các tầng lớp khác có phần khá hơn nhưng họ cũng bị chèn ép rát nhiều,về mặt chuyên môn nghề nghiệp cũng như chính trị
- Tầng lớp trí thức: bắt đầu có sự phân hoá về tư tưởng và hành động giữa bộ phận trí thức cũ theo Nho học và trí thức mới theo xu hướng duy tân Ngay trong bản thân các bộ phận trí thức cũng có sự phân hoá theo các khuynh hướng tư tưởng khác nhau Tầng lớp trí thức trực tiếp, gián tiếp tiếp thu các hệ tư tưởng mới từ bên ngoài vào, trở thành lãnh tụ tinh thần cho các khuynh hướng, trào lưu tư tưởng ở Việt Nam
Cùng với sự biến đổi trong kinh tế và cơ cấu giai cấp xã hội, giáo duc, đời sống văn hoá và tâm lý ở Việt Nam cũng có nhiều biến chuyển
Chính sách xã hội của thực dân Pháp đối với các giai tầng xã hội rất khác nhau Đối với các tầng lớp trên chúng dành cho những đặc quyền đặc lợi
cả về kinh tế, chính trị và văn hoá Đối với tầng lớp dưới, thực dân chủ trương tăng cường bóc lột, áp bức và đẩy họ vào chế độ ngu dân Thực dân Pháp chủ
Trang 15trương nhanh chóng xoá bỏ hoàn toàn nền giáo dục Nho học (kỳ thi cuối cùng vào năm 1919) đồng thời tiếp tục mở rộng hệ thống giáo dục Pháp - Việt Giáo dục Việt Nam có nhiều thay đổi về hệ thống tổ chức, cơ cấu ngành nghề
và nội dung đào tạo nhưng có sự phân biệt lớn giữa người Pháp và người bản
xứ Phần lớn học sinh nhất là học sinh các lớp cao, sinh viên là con em các gia đình giàu có hoặc có địa vị trong xã hội, còn con em các gia đình nghèo may lắm cũng chỉ có khả năng cho con em theo học lớp chữ Hán hoặc chữ Quốc ngữ ở trường địa phương, trường làng, do vậy tình trạng thất học vẫn là phổ biến
Các trào lưu tư tưởng mới, các thành tựu khoa học và kĩ thuật, văn hoá
và nghệ thuật phương Tây thông qua sách báo trong và ngoài nước tràn vào nước ta, thúc đẩy và tăng cường mối quan hệ tiếp xúc giữa hai nền văn hoá Á -
Âu, Đông- Tây; có sự giao thoa, đan xen và tồn tại đồng thời giữa những yếu
tố văn hoá truyền thống và văn hoá ngoại lai, giữa nền văn hoá nô dịch của các nhà tư bản thực dân và nền văn hoá mới đang nảy sirìh và dần dần phát triển trong lòng xã hội thuộc địa Việt Nam Cùng với sự mở mang, phát triển của các đô thị, cùng với cao trào đòi tự do dân chủ, nhiều trí thức tiến bộ đã dùng báo chí làm công cụ đấu tranh, để bộc lộ những quan điểm chính trị của mình Hoạt động báo chí, văn hoá đã diễn ra sôi nổi trên cả nước Có nhũng tờ báo in bằng tiếng Pháp: “Diễn đàn bản xứ “ của Bùi Quang Chiêu mang tư tưởng quốc gia cải lương, tờ “Chuông rạn” của Nguyễn An Ninh và “An Nam” của Phan Văn Trường công khai đả phá chế độ thực dân, chống lại chủ nghĩa Pháp
- Việt đề huề Bên cạnh đó, xuất hiện nhiều tờ báo tiếng Việt phản ánh các nguyện vọng về tự do dân chủ của quần chúng, tuyên truyền tư tưởng văn hoá tiến bộ, kịch liệt chống lại chủ nghĩa Pháp - Việt đề huề: “Hữu thanh” của Tản
Đà Nguyễn Khắc Hiếu ở Hà nội, “Tiếng dân” của Huỳnh Thúc Kháng ở Huế,
“Pháp - Việt nhất gia” của Trần Huy Liệu, Lê Thanh Lực ở Sài gòn Cùng với các hoạt động báo chí, một số trí thức còn thành lập các đại lý hoặc cơ sở sản xuất, mua bán các tài liệu, sách báo có tư tưởng yêu nước Các ấn phẩm văn hoá tiến bộ đã phần nào phản ánh được nguyện vọng tự do, dân chủ, nhân đạo,
Trang 16yêu nước của nhân dân ta, được đông đảo thanh niên hưởng ứng, trở thành động lực quan trọng của cao trào đấu tranh đòi tự do dân chủ những năm 20
Nhật Bản cho đến giữa thế kỷ XIX cũng là nước phong kiến, thực hiện
bế quan toả cảng Từ giữa thế kỷ XIX, Nhật Bản bị các cường quốc phương Tây tiến công đòi mở cửa Nhật Bản bắt đầu duy tân từ 1868, đã nhanh chóng phát triển thành quốc gia có nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, thành quốc gia cường thịnh trong khu vực, bắt đầu tiến hành xâm lược các nước trong vùng Năm 1879, Nhật chiếm quần đảo Lưu Cầu; năm 1882-1884 Nhật gây sự ở Triều Tiên; năm 1894-1895 họ gây chiến tranh với Trung Quốc, chiếm Đài Loan Trong thời gian này người Việt Nam mới chỉ biết rằng Nhật Bản nhờ khai thương mà trở nên giàu mạnh Năm 1904-1905, xảy ra chiến tranh Nga- Nhât, Nhật đánh bại“cường quốc da trắng” Điều này có tác động lớn đến sự nhận thức của một sô' người Việt Nam yêu nước Họ cho rằng chúng ta muốn đánh đuổi thực dân Pháp phải cầu ngoại viện, thì không gì bằng cầu viện “anh
cả Á châu”- Nhật Bản Phong trào Đông du từ sự nhận thức đó mà được khởi xướng và phát triển (1904-1908)
Trung Quốc ở gần Việt Nam “đồng văn, đồng chủng” và cùng cảnh ngộ, từ nước độc lập thành nửa thuộc địa Những năm cuối cùng của thế kỷXIX, các nước tư bản phương Tây cùng với Nhật đua nhau xâu xé Trung Quốc Sau chiến tranh Trung- Nhật, uy tín của triều Mãn Thanh càng sút kém, tinh thần cách mạng của nhân dân Trung Quốc lên cao Khuynh hướng cải lương phát triển mạnh mẽ, nhất là trong giới trí thức xuất thân sĩ phu phong kiến hay giai cấp tư sản mới hình thành Xuất hiện khuynh hướng cải lương,
Trang 17biến pháp ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây với các lãnh tụ: Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Dương Thâm Tú, Đàm Tự Đồng Họ sáng lập ra học hội, học dường, hiệu sách, ra báo khắp nơi, thực hiện biến pháp Phong trào Duy tân thất bại, biến pháp không được thi hành do ở địa phương phe thủ cựu còn nắm nhiều quyền binh, hơn nữa họ chỉ chú trọng tranh thủ sự ủng hộ của một bộ phận trong các tầng lớp trên của xã hội mà thiếu sự tham gia của quấn chúng nhân dân nhất là nông dân Tuy nhiên phong trào cũng đã thức tỉnh được tinh thần yêu nước của nhân dân , đề cao ý thức độc lập dân tộc chống ngoại xâm, ý thức dân chủ chống chuyên chế, mặc dù mới chỉ hạn chế trong phạm vi quân chủ lập hiến.
Đối với Việt Nam , cuộc vận động biến pháp ở Trung Quốc và sau đó là thành công của Cách mạng Tân Hợi 1911 tạo điều kiện khách quan cho sự hình thành phát triển của phong trào Duy tân ở nước ta đầu thế kỷ XX Các sĩ phu Việt Nam được làm quen với tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây của Rútxô, Môngtetxkiơ qua các tác phẩm của Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi Trên cơ sở những biến đổi kinh tế- xã hội Việt Nam, cùng với ảnh hưởng của
tư tưởng bên ngoài vào, tư tưởng tư sản bắt đầu xuất hiện trên vũ đài chính trị ở nướ.c ta: Duy tân hội, Đông kinh nghĩa thục, Việt Nam quang phục hội ra đời
và hoạt động, tuy chưa dẫn đến thành công nhưng đã phát động phong trào yêu nước rầm rộ trong toàn quốc, tập hợp được một lực lượng kháng Pháp khá hùng hậu, chuẩn bị về mặt tinh thần cho các cuộc đấu tranh sau này
Thời kỳ những năm 20-30 của thế kỷ XX lại là thời kỳ xuất hiện nhiều hoạt động yêu nước của người Việt Nam ở nước ngoài.Trong 3 thập kỷ đầu thế
kỷ XX, Trung Quốc và Pháp là hai nước có quan hệ chặt chẽ nhất và có tác động mạnh mẽ đối với quá trình vận động và biến chuyển của phong trào dân tộc ở Việt Nam Trung Quốc trở thành nơi tụ họp và địa bàn hoạt động của nhiều thế hệ người Việt Nam yêu nước Các hoạt động yêu nước của người Việt Nam ở Pháp: Phan Chu Trinh, Nguyễn Ái Quốc .diễn ra sôi nổi tác động đến tình hình chính trị trong nước
Trang 18Trong nước, phong trào dân tộc Việt Nam do chịu tác động của trào lưu
tư tưởng mới thông qua các hoạt động của Nguyễn Ái Quốc và đông đảo Việt kiều ở Pháp và Trung Quốc, bắt đầu phát triển sôi nổi và nhanh chóng chuyển sang giai đoạn mới Phong trào yêu nước bắt đầu từ trong Nam rồi lan ra ngoài Bắc và phát triển thành phong trào có tính toàn quốc, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia Mở đầu cho phong trào đòi tự do dân chủ là các hoạt động tuyên truyền cách mạng của một sô' tờ báo tiến bộ in bằng tiếng Pháp cũng như tiếng Việt Từ trong phong trào yêu nước đã bắt đầu xuất hiện các tổ chức chính trị của thanh niên trí thức, tiêu biểu là Hội Phục Việt, Đảng Thanh niên và từ sự tuyên truyền của các đảng này mà phong trào đấu tranh yêu nước của quần chúng nhân dân càng trở nên mạnh mẽ: phong trào đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu, đám tang Phan Chu Trinh, đấu tranh đòi thả Nguyễn An Ninh, phong trào văn hoá tiến bộ
Từ năm 1925 ở Việt Nam xuất hiện những tổ chức tiến bộ và cách mạng: Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội), Tân Việt cách mạng đản^, Việt Nam quốc dân đảng Hội Việt Nam cách mạng thanh niên góp phần truyền bá tư tưởng Mác-Lênin, tích cực thúe đẩy phong trào cách mạng Việt Nam chuyển nhanh theo hướng cách mạng vô sản Việt Nam quốc dân đảng là tổ chức tiêu biểu nhất của khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản ở Việt Nam trong những năm 20 của thế kỷ
XX Vì nó thiếu một cơ sở kinh tế và giai cấp đủ mạnh, công tác tổ chức lỏng lẻo nên nó không đủ khả năng đảm nhiệm vai trò lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam
Sự phát triển ngày càng đa dạng và ỏ trình độ ngày càng cao của các phong trào yêu nước ở Việt Nam từ 1925 trở đi đã đặt ra một nhu cầu thành lập một chính đảng cách mạng có đủ khả năng tập hợp lực lượng dân tộc, gánh vác vai trò lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 trên cơ sổ thống nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam: An Nam Cộng sản đảng, Đông dương Cộng sản đảng, Đông dương Cộng sản liên đoàn Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là kết quả của sự kết hợp giữa
Trang 19Chủ nghĩa Mác- Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam , chứng tỏ sự trưởng thành của giai cấp công nhân Việt Nam đủ khả năng đảm nhiệm vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 dẫn nước Pháp đến tình trạng không những bị khủng hoảng về kinh tế mà còn bị khủng hoảng về chính trị, các đảng cánh hữu liên tiếp lên nắm quyền, những tổ chức phát xít ở Pháp cũng xuất hiện và tăng cường hoạt động Giới cầm quyền một số nước tư bản
đã đưa đất nước vào con đường phát xít hoá: Italia, Đức, Nhật Các thế lực phát xít có mặt ở hầu khắp các quốc gia châu Âu, liên kết với nhau thành một khối, gây nguy cơ chiến tranh đe doạ loài người
Năm 1940, phát xít Nhật xâm chiếm Đông Dương, Pháp đẩu hàng Từ
đó nhân dân Việt Nam chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật Sau khi đã đưa quân vào Bắc Đông Dương, Nhật tiếp tục ép Pháp nhượng bộ, kí kết các hiệp ước Về chính trị-tư tưởng bọn quân phiệt Nhật không lật đổ bộ máy chính quyền thực dân Pháp mà sử dụng nó như một công cụ để đàn áp phong trào cách mạng Đông Dương, để vơ vét, bóc lột sức người sức của của Đông Dương phục vụ chiến tranh Các tổ chức phản động thân Nhật được khôi phục hoặc tổ chức mới ở Việt Nam, các nhóm thân Pháp cũng hoạt động làm cho tình hình chính trị ở Việt Nam lúc đó rất rối ren
Cuối năm 1944, đầu năm 1945 bọn phát xít liên tiếp thất bại trên nhiều mặt trận Tháng 3-1945, Nhật đảo chính Pháp ở đông Dương, độc chiếm Đông Dương tạo nên một sự khủng hoảng chính trị sâu sắc Nhật lập chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim, lập ra hàng loạt các tổ chức đảng phái chính trị phản động như Đại Việt quốc xã, Việt Nam quốc gia độc lập Chính sách vơ vét về kinh tế, phản động về chính trị của Pháp- Nhật đã dẫn đến tình trạng đời sống nhân dân Việt Nam bị kiệt quệ Đầu năm 1945 đã xảy ra nạn đói làm chết gần
2 triệu người
Những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, tình hình chính trị-
xã hội ở Việt Nam diễn ra khá phức tạp, có nhiều biến động lớn Sự biến động
Trang 20đó có nguyên nhân từ những mâu thuẫn trong nội bộ nước ta đồng thời cũng chịu tác động mạnh mẽ của những diễn biến chính trị trong khu vực và trên thế giới Những biến động phức tạp của chính trị- xã hội thể hiện sự biến đổi cũng khá phức tạp của lĩnh vực tư tưởng, của ý thức hệ; sự biến đổi, đấu tranh của ý thức hệ cũng chi phối khá lớn đến tình hình chính trị nước ta thức tỉnh các nhà Nho yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng Những điều này cũng xuất phát từ nhận thức của Huỳnh Thúc Kháng - một nhà Nho đã từng viết lời tựa cho quyển “Quốc văn Chu dịch diễn giải” của Phan Bội Châu Vậy nên Huỳnh Thúc Kháng hiểu lẽ “biến dịch” của trời đất sao cho thích hợp với thời nước chưa độc lập, dân chưa tự do, ông không thể khoanh tay đứng nhìn Thời cuộc như thúc giục các nhà Nho yêu nước tham gia đấu tranh đòi quyền lợi dân tộc, đánh đuổi quân xâm lược, giành độc lập, đem lại hạnh phúc cho nhân dân Huỳnh Thúc Kháng cũng như bao nhà Nho yêu nước khác hoà mình với nhân dân, đất nước làm cách mạng đấnh đổ thực
1.2 TIỀN ĐỂ TƯ TƯỎNG TẠO NÊN sự HÌNH THÀNH Tư TƯỞNG HUỲNH THÚC KHÁNG.
Những biến đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế - chính trị xã hội nửa cuối thế kỷ XIX, nửa đầu thế kỷ XX là điều kiện, nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi lớn trong tư tưởng Việt Nam, xuất hiện các màu sắc mới của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
Trước khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, Nho giáo là hệ ý thức chính thống độc tôn của nhà nước phong kiến Phật giáo, Đạo giáo, Thiên chúa giáo tuỳ theo mức độ ảnh hưởng cũng có mặt trong hệ tư tưởng Việt Nam Ngoài ra, nhân dân và đặc biệt là tầng lớp trí thức Việt Nam khống biết đến một hệ thống tư tưởng nào khác , không biết phương Tây, Âu, Mỹ phát triển kinh tế, kỹ thuật như thế nào Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, triều đình Huế không thể tìm ra trong kinh điển Nho giáo, Phật giáo hay Đạo giáo một kế sách nào có thể cứu quốc một cách hiệu nghiệm Có thể nói hệ ý thức
Trang 21phong kiến ở Việt Nam đã hoàn toàn bất lực khi giải quyết các vấn đề mà lịch
sử dân tộc đặt ra lúc bấy giờ Vua bỏ dân bán nước, số đông bề tôi vẫn “ngu trung” theo truyền thống phục cổ, thủ cựu, cản trở mọi kế hoạch đổi mới, canh tân
Bên cạnh đó vẫn có một số sĩ phu yêu nước chủ chiến, ly khai triều đình kiên quyết đánh Pháp, canh tân đất nước Tư tưởng đó thể hiện chủ nghĩa yêu nước bền vững, nồng nhiệt của nhân dân ta Trên khắp đất nước ta đã dấy lên phong trào đấu tranh yêu nước do các sĩ phu tổ chức và lãnh đạo: cuộc chiến đấu do Trương Định lãnh đạo ở Nam Bộ, phong trào “ Văn thân Cần vương” được đông đảo các sĩ phu trong cả nước hưởng ứng, cuộc khởi nghĩa Hương Sơn của Phan Đình Phùng, cuộc đấu tranh vũ trang Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo nhưng tất cả đều kết thúc thất bại Sự thất bại này thể hiện sự thất bại của một thế giới quan lạc hậu với thời đại Thất bại này các sĩ phu yêu nước hiểu rằng để chiến thắng kẻ thù mới này cần phải có sức mạnh vật chất
và sức mạnh tinh thần hơn hẳn sức mạnh của các CUỘG chống quân xâm lược
phong kiến phương Bắc trong lịch sử Ta yếu địch mạnh, các kinh sách thánh
hiển không giúp các sĩ phu vạch được lối thoát, sức mạnh của chủ nghía yêu nước truyền thống phải có đường lối đúng dắn mới phát huy được Logic của lịch sử thôi thúc các sĩ phu yêu nước đi tìm con đường khác giải thoát cho mình và cứu nguy cho dân tộc
Một cuộc đi tìm hệ tư tưởng mới, tìm thế giới quan mới, tìm con đường cứu nước giải phóng dân tộc của các trí thức yêu nước dấy lên sôi nổi ở Việt Nam đầu thế kỷ XX
Có thể nói đại diện cho chủ nghĩa yêu nước thời kỳ này chủ yếu là lớp nhà nho yêu nước, luôn trăn trở tìm con đường cứu nước cứu dân, tiếp thu cái mới tiến bộ của nhân loại, chủ trương duy tân đất nước theo tư tưởng dân chủ của phương Tây Tuy cùng mục tiêu cứu nước cứu dân nhưng tư tưởng và hành động của các nhà yêu nước thời kỳ này tách ra theo các khuynh hướng khác nhau:
Trang 22- Chủ trương dùng bạo động đánh đuổi thực dân Pháp giành độc lập sau mới canh tân đất nước Đại biểu cho xu hướng này là Phan Bội Châu Ông cùng các nhà khoa bảng như Nguyễn Hàm, Đặng Thái Thân thành lập nhóm yêu nước gọi là Tân đảng, tổ chức Duy tân hội; ông cùng Tăng Bạt Hổ sang Nhật cầu viện trợ tạo ra cuộc Đông du với ý tạo ra nhân tài, dân trí, dân khí Thực dân Pháp -Nhật và triều Mãn Thanh cấu kết với nhau, Duy tân hội, phong trào Đông du và sau này cả Việt Nam Quang phục hội khuôn theo cách mạng Tân Hợi Trung Quốc cũng tan vỡ và đó cũng là sự tan vỡ của một chủ trương, đường lối yêu nước chưa phù hợp với lịch sử.
- Chủ trương dùng đấu tranh công khai ôn hoà yêu cầu nhà cầm quyền phải thực hiện chính sách dân chủ, lật nhà nước phong kiến lạc hậu; tự lực tự cường và dần dần đem lại độc lập cho dân tộc Đại biểu cho xu hướng này là Phan Chu Trinh Ông không nhận thấy đối lập chính là đối lập giữa dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp, không rõ bản chất của chế độ thực dân, không hề đặt vấn đề đánh đổ Pháp, ông chĩa mũi nhọn của sự'Công kích vào quan lại Việt Nam bất tài, tham nhũng, công kích quân quyền độc đoán, ô ng phản đối bạo động cách mạng, phản đối đi cầu viện nước ngoài để khôi phục độc lập Nét đặc sắc trong tư tưởng Phan Chu Trinh là dựa vào nhà nước Pháp dân chủ cộng hoà để chống với quân chủ chuyên chế Việt Nam và thực hiện cải cách tiến bộ trong nước ta Trong tư tưởng Phan Chu Trinh có một mâu thuẫn khá lớn đó là ông công kích nhà nước phong kiến nhưng lại không phủ định hoàn toàn hệ tư tưởng đã tạo ra hệ thống chính trị lạc hậu đó, ông ở Pháp nhiều năm, tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản những vẫn là một nhà Nho Hơn nữa, tư tưởng dân chủ tư sản mà Phan Chu Trinh theo là tư tưởng dân chủ tư sản kiểu
cũ, trên thế giới nó đã trở nên lỗi thời nhất là khi đã có cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga thành công Tư tưởng, đường lối, chủ trương của Phan Chu Trinh cũng đã thất bại trước nhiệm vụ lịch sử của dân tộc
- Chủ trương không “cầu ngoại viện”, không “ bất vọng ngoại” và
“bất bạo động” mà phát động phong trào dân chủ tự cường khai trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, tổ chức thành lập các phường hội để dân làm giàu đồng thời
Trang 23giáo dục ý thức yêu nước, dân chủ cho nhân dân, tập hợp lực lượng đòi quyền độc lập dân tộc Đại biểu cho xu hướng này là Huỳnh Thúc Kháng Huỳnh Thúc Kháng muốn theo một đường lối “cách mạng công khai” gồm 3 yếu tố: phát triển trường học, mở mang báo chí, hoạt động ở nghị trường Ông hy vọng sẽ đòi được quyền lợi thiết thực cho dân để khai dân trí Nhưng rồi tự thân Huỳnh Thúc Kháng kinh nghiệm thấy không có con đường “ cách mạng hoà bình” ở xứ thuộc địa, ở nơi có sự bảo hộ của đế quốc thực dân Sự thất bại của chủ trương này cũng là sự tan vỡ của “chủ nghĩa yêu nước ôn hoà”của các trí thức Việt Nam đầu thế kỷ XX khi dùng nó để giải quyết mâu thuần dân tộc.Tuy chủ trương và hoạt động của các khuynh hướng có khác nhau nhưng giữa các khuynh hướng có sự bổ sung hỗ trợ cho nhau trên tinh thần yêu nước, tôn trọng lý tưởng của nhau, tất cả chung mục đích cứu nước cứu dân, đem lại độc lập dân tộc và dân chủ xã hội.
Những năm 20, 30 của thế kỷ XX trong lĩnh vực tư tưởng chính trị ở
•Việt Nam đã xuất hiện chủ nghĩa dân tộc cải lương Đố'là tư tưởng chính trị xã hội của giai cấp tư sản bản xứ Giai cấp tư sản Việt Nam chủ yếu là giai cấp tư sản thương mại chứ không phải là tư sản công nghiệp nên không mâu thuẫn nhiều về quyền lợi kinh doanh với đế quốc thực dân nên họ chỉ yêu cầu với Pháp những điều sửa đổi trong khuôn khổ chế độ thuộc địa, xin cải cách từng phần, không đả động đến sự cai trị của Pháp ở nước ta, chống lại mọi hình thức đấu tranh cách mạng của quần chúng Trong lúc hô hào cải lương thì họ cũng nói đến lợi ích dân tộc, đến tương lai dân tộc được Pháp bảo hộ chắc chắn sẽ có ngày được bình đẳng với Pháp nhưng đó cũng chỉ là ảo tưởng bởi chính sự bạc nhược, theo đuôi của giai cấp tư sản Việt Nam Đại diện của khuynh hướng tư tưởng này có thể kể đến: nhóm Đông Dương tạp chí ở Bắc kỳ
và Nguyễn Văn Vĩnh, nhóm Nam Phong và Phạm Quỳnh, nhóm Diễn đàn Đông Dương và Bùi Quang Chiêu
Giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, tư tưởng chính trị của tầng lớp tiểu tư sản ở Việt Nam chủ trương đi đến giành độc lập cho nước nhà bằng bạo động cách mạng đánh đổ đế quốc thực dân biểu hiện bằng việc thành lập các đảng
Trang 24chính trị, hội văn hoá, cơ quan ngôn luận và cả các đoàn thể đậm màu sắc tôn giáo Có thể nói đó là đường lối theo chủ nghĩa dân tộc cách mạng hay còn gọi
là chủ nghĩa quốc gia cách mạng, v ề thành phần xã hội thì đảng dân tộc cách mạng như Việt Nam quốc dân đảng là một đoàn thể tiểu tư sản có tư tưởng phản đế nhưng thực chất ý thức tư sản và ý thức tiểu tư sản về cơ bản là cùng một hệ ý thức Đảng dân tộc cách mạng yếu ớt về tổ chức, không quan tâm đến lý luận tư tưởng, không phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân nên cuối cùng cũng bị thực dân Pháp tiêu diệt Sau năm 1930, phong trào quần chúng lên cao dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản thì chủ nghĩa dân tộc cách mạng bị phân hoá mạnh, một là quay đầu lại thoả hiệp với thực dân, hai là những người yêu nước chân thành sẽ chuyển tư tưởng và hành động của mình
về phía phong trào quần chúng dưới sự lãnh đạo chính nghĩa của Đảng Cộng sản Sự chuyển biến của những người yêu nước này là sự chuyển biến vượt bậc
có thể so sánh với sự chuyển biến của các nhà Nho sang tư tưởng duy tân đầu thế kỷ XX và động cơ của sự chuyển biến đó là tư tưởng yêu nước truyền thống Việt Nam Sự bất lực hoàn toàn của hệ ý thức tư sản trước các nhiệm vụ lịch sử của dân tộc Việt Nam thể hiện sứ lạc hậu, không phù hợp với điều kiện khách quan cũng như chủ quan của Việt Nam Lịch sử tư tưởng Việt Nam đòi hỏi có một hệ ý thức mới, tiến bộ mang tầm thời đại để giải quyết các vấn đề của dân tộc lúc bấy giờ
Thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga đã mở đường cho nhân dân Việt Nam đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, đem đến cho nhân dân Việt Nam thế giới quan tiên tiến của thời đại- thế giới quan làm cơ
sở cho việc vạch cương lĩnh, định đường lối đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi Chủ tịch Hồ Chí Minh- lúc đó là đồng chí Nguyễn Ái Quốc là người Cộng sản đầu tiên của Việt Nam đã tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam Người đã dày công rèn luyện và đào tạo lớp Ihanh niên trí thức và công nông về lý luận cách mạng, đưa họ vượt qua sự hạn chế của chủ nghĩa yêu nước truyền thống mà hầu hết các sĩ phu phong kiến đương thời không vượt qua được Người đã giáo dục họ khắc phục những
Trang 25bế tắc của các nhà cách mạng có xu hướng dân chủ tư sản Chủ tịch Hồ Chí Minh truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam trong khi phong trào đấu tranh yêu nước , giải phóng dân tộc của nhân dân ta đang khao khát tìm con đường giải phóng đất nước khỏi ách thống trị của đế quốc Pháp, khỏi sự đô hộ của chế độ phong kiến lỗi thời Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân đang cần có lý luận cách mạng soi đường để giai cấp công nhân giải phóng mình và giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam rất chútrọng đại đoàn kết dân tộc đặc biệt vận động trí thức yêu nước, không ngừngcảm hoá, rèn luyện họ trở thành những chiến sĩ cách mạng giải phóng dàn tộc
và xây dựng chủ nghĩa xã hội sau này Tâm trạng của cả lớp người có họcthức, cầu tiến bộ mà bị đế quốc phong kiến áp bức, kìm hãm; lớp người cảmthấy thấm thìa cái nhục mất nước, cái khổ thiếu tự do, dẫn họ đến đấu tranhyêu nước, chống đế quốc, chống phong kiến Vì vậy bất cứ sự kiện nào liênquan đến đấu tranh yêu nước là họ hào hứng tham gia, hành động nào chống
đế quốc phong kiến là họ ủng hộ Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đem
1đến cho nhân dân ta và những trí thức yêu nước nói riêng thế giới quan tiên tiến của thời đại, làm cơ sở cho mọi suy nghĩ và hành động Sau cách mạng Tháng Tám, nhiều nhân sĩ, trí thức yêu nước đã tham gia nhiệt tình vào Chính phủ, vào các tổ chức quần chúng cách mạng để cùng với Đảng, với nhân dân xây dựng chế độ mới Chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng là một ví dụ điển hình
Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
ra đời không những có ý nghĩa lịch sử đối với dân tộc nói chung mà có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển của lịch sử tư tưởng Việt Nam nói riêng Đó là thành tựu vĩ đại, là kết quả minh chứng cho sự tiếp biến một cách hợp quy luật khách quan của một ý thức hệ ở Việt Nam Sự du nhập, truyền bá, sáng tạo tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam đã chấm dứt cuộc khủng hoảng tư tưởng Việt Nam diến ra từ cuối thế kỷ XIX
Trang 26Hoàn cảnh chính trị-kinh tế-xã hội-tư tưởng ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX là điều kiện khách quan cho sự chuyển biến, phát triển của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam Trong giai đoạn khá đặc biệt của lịch
sử dân tộc này đã xuất hiện các trào lưu tư tưởng, các phong trào yêu nước, phong trào cách mạng do những người con ưu tú của dân tộc ta khởi xướng Huỳnh Thúc Kháng - chí sĩ yêu nước đã ra đời, cống hiến trọn đời mình cho
sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng áp bức cho nhân dân Việt Nam ở giai đoạn này Do vậy, đương nhiên tư tưởng và hành động của Huỳnh Thúc Kháng chịu sự chi phối khách quan của hoàn cảnh Nói một cách cụ thể hơn, hoàn cảnh lịch sử, chính tri, kinh tế, xã hội, tư tưởng Việt Nam là điều kiện khách quan cho việc hình thành và phát triển tư tưởng, nhân cách Huỳnh Thúc Kháng nói chung và tư tưởng yêu nước của ông nói riêng
1.3 CUỘC ĐỜI VÀ Sự NGHIỆP CỦA NHÀ YÊU NƯỚC HUỲNH THÚC KHÁNG.
Huỳnh Thúc Kháng sinh năm 1876 (Tự Đức 26- Bính Tý) trong một gia đình nông dân tại làng Thạch Bình, tong Tiên Giang thượng, huyện Tiên Phựớc, phủ Tam kỳ, tỉnh Quảng Nam Thân phụ tên là Huỳnh Tấn Hữu, mẹ là Nguyễn Thị Tình
Lên tám tuổi Huỳnh Thúc Kháng bắt đầu đi học Tuy không xuất thân trong gia đình khoa bảng nhưng ông phải nhận trọng trách của một người con trai trong gia đình, gánh nặng “khoa cử”, “nối dõi” đã được đặt trên vai ông.Năm 12 tuổi (1887) Huỳnh Thúc Kháng phải thôi học, theo cha anh hưởng ứng phong trào Cần vương do Nguyễn Duy Hiệu lãnh đạo Sau phong trào bị Pháp đàn áp, lãnh tụ bị tử hình, phong trào tan rã, quê hương ông phải chịu cảnh tan hoang, nạn đói, bệnh dịch, người chết rất nhiều Gia đình ông cũng không thoát khỏi cảnh đau lòng đó: mẹ, anh cả, anh rể đều chết Mặc
dù vậy, Huỳnh Thúc Kháng vẫn quay trở lại con đường đèn sách
Trang 27Năm 15 tuổi ông đã có thể làm văn trường đủ 3 thể Ông cũng đã gặp người bạn đồng huyện Tây hồ Phan Chu Trinh tại trường làng Đại Đồng Huỳnh Thúc Kháng vượt đèo Hải Vân ra Huế dự kỳ thi hương Tân Mão 1891,
là một trong 2 thí sinh trẻ nhất trong hơn 3000 thí sinh (Huỳnh Thúc Kháng và Phạm Liệu) Năm 21 tuổi ông trúng tuyển “học sinh”, được vào học trường đốc trong tỉnh, là một trong 4 học sinh ưu tú, gọi là “Quảng nam tứ hổ”: Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Đình Hiến, Phạm Liệu, trong đó Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp xuất sắc hơn về cả văn chương, nhân cách, đạo đức và lòng yêu nước
Khoa thi Hương năm Canh tý 1900, Huỳnh Thúc Kháng thi đỗ cử nhân, trong số đồng niên 42 người ông đỗ đầu.Theo chính sách mới của thực dân Pháp, lớp cử nhân trẻ tuổi phải ra kinh học tiếng Pháp nhưng cha của Huỳnh Thúc Kháng không muốn cho ông đi học , muốn ông ở nhà đọc sách chờ kỳ thi hội Sau đó vì Huỳnh Thúc Kháng có tang thân sinh nên không đi thi hội năm đó, ông về nhà chịu tang cha và dạy học
Khoa thi Giáp Thìn 1904 Huỳnh Thúc Kháng dự thi hội, đỗ đầu (Hội nguyên), thi đình đỗ Tam Giáp, đồng tiên sĩ Theo tục lệ truyền thống, đỗ tiến
sĩ, sau lễ vinh quy 3 tháng các tân khoa phải ra kinh đô “học tập việc làm quan” Huỳnh Thúc Kháng cho rằng quốc gia mất chủ quyền, triều đình không còn uy tín, con đường làm quan không còn là con đường chính đại quang minh, chỉ là cam phận, ái quốc không nhất thiết đi liền với trung quân Ông không ra làm quan
1905-1908 Huỳnh Thúc Khậng cùng Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp lãnh đạo phong trào Duy tân ở Quảng Nam, tổ chức nhiều hoạt động có tính cải cách theo kiểu dân chủ tư sản, đạt kết quả
Tháng giêng năm 1908 phong trào chống thuế bùng nổ ò huyện Đại Lộc(Quảng Nam-Đà nẵng) quê hương của Phan Chu Trinh Từ Quảng nam, phong trào chống thuế dần dần lan xuống Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, ngược ra Quảng Bình, Nghệ tĩnh, Thanh hoá Mặc dầu nguyên nhân chính là
do áp bức bóc lột của thực dân phong kiến và cuộc đấu tranh nổ ra ngoài ý
Trang 28thức của những sĩ phu yêu nước đương thời, phong trào “xin xâu” ở Trung kỳ năm 1908 cũng chịu ảnh hưởng tác động của phong trào Duy tân và trong một chừng mực nhất định, có thể nói một bên là lý thuyết một bên là hành động Thực dân Pháp và phong kiến tay sai khủng bố đàn áp và trút sự trả thù lên tất
cả những nhà lãnh đạo của phong trào Duy tân cũng như những người tham gia phong trào ấy Một số bị xử tử, một số bị lưu đày Côn Đảo Phần lớn dân chúng tham gia cũng bị tàn sát, trả thù hèn hạ Phan Chu Trinh bị giải từ Hà Nội vào Huế và bị kết án tù chung thân đày Côn đảo Trần Quý Cáp tuy đã đổi vào Khánh hoà 2 tháng trước khi xảy ra sự việc vẫn bị coi như cầm đầu cuộc
“phiến loạn”, bị tử hình, ở Quảng nam, người bị bắt đầu tiên là Huỳnh Thúc Kháng Ông bị giam ở nhà lao Hội an , sau 2 tháng không tìm ra chứng cớ gì, công sứ Pháp giao ông sang toà Nam án, một cơ quan tư pháp có thể kết án rất nặng bất cứ ai mà không cần bằng chứng cụ thể Ông và Phan Chu Trinh đều
bị ghép vào tội
“Theo đảng bội quốc, ngầm thông nước ngoài, đề xướng dân quyền, kết
án đày Côn lôn, ngộ xá bất nguyên (gặp ân xá cũng không tha)”[32;42-43]
■ IHuỳnh Thúc Kháng bị đày ra Côn đảo, lúc đầu bị án vô kỳ hạn, đến năm 1913 được giảm án xuống còn 13 năm, phải chịu đựng đủ mọi hình thức tra khảo, gông xiềng, nhục hình của nhà tù thực dân Nhưng mọi sự trả thù hèn hạ, cực hình khổ sai của kẻ thù cũng không làm lay chuyển được ý chí của nhà yêu nước Huỳnh Thúc Kháng Ông cũng tranh thủ thời gian làm công dịch
ở phòng giấy quan Tham Biện để học hỏi ở sách vở, tìm hiểu trực tiếp nền văn hoá Pháp bằng cách học tiếng Pháp
Năm 1921 Huỳnh Thúc Kháng ra tù, danh nghĩa là ân xá nhung vẫn luôn bị theo dõi
“Ba chữ Huỳnh Thúc Kháng thành ra vật đáng sợ của xã hội, kẻ thấy bóng sinh nghi, nghe tiếng lánh xa; kẻ gần cũng đều qua như vậy Tức như thân bằng ngày trước thường qua lại, cũng sinh kỵ.”[32;55-56]
Trang 29Huỳnh Thúc Kháng được khôi phục hàm Tiến sĩ Hàn Lâm Viện Biên
Tu năm 1923 Khâm sứ Pasquier viết thư gọi ông đến Huế để biên soạn bộ Hán Việt từ điển, mời ông ra làm quan Huỳnh Thúc Kháng đến Kinh, yết kiến khâm sứ Pasquier, nói chuyện tình hình trong và ngoài nước ở Đông Dương, chỉ trích nhiều điều về chính sách bảo hộ đang được thi hành, đồng thời từ chối việc làm quan
“Tôi là một quốc dân Việt Nam, đã thăm dò rõ việc dân, nên phải nói
rõ, còn việc làm quan chẳng phải là điều sở nguyện.”[32,57]
Huỳnh Thúc Kháng về quê ở Tiên phước nghiên cứu sách thuốc chữa bệnh cho dân Khi nhận được Chỉ bổ ông vào c ổ học viện, lương mỗi tháng 60 đồng, ông lại viết đơn từ chức Ông vẫn giữ thái độ kiên quyết không làm quan cho chế độ phong kiến bù nhìn bán nước mặc dù lúc này đời sống của ông và gia đình khá khó khăn
Sau khi vua Khải Định chết, chính phủ Bảo hộ cùng triều đình phong
\kiến Việt Nam lập Đông cung Thái tử, cải niên hiệu Bảo Đại Trong lúc Bảo Đại còn du học ở Pháp, Pháp ký với triều đình hiệp ước tước hết các quyền còn lại của triều đình, bù lại cho khoản “cho nhân dân được quyền tham gia chính trị”, tuyên bô' đổi Tư phỏng viện - một tổ chức bù nhìn đặt bên cạnh triều đình Huế thành Nhân Dân Đại Biểu Viện
Huỳnh Thúc Kháng lấy địa vị người đứng giữa hai giới tân cựu, đưa đơn ứng cử ba hạt Tam Kỳ, Thăng Bình, Tiên Phước, trúng cử với số phiếu 620/640 Sau lần khai mạc của Viện, Huỳnh Thúc Kháng được bầu làm Viện trưởng Viện Nhân dân đại biểu gọi tắt là Viện Dân biểu Trung kỳ
Ngay khi mới nhậm chức ông đã đọc một bài diễn văn tại Tam kỳ trinh bày đầy đủ lý do khiến ông ra tranh cử, những dự kiến công việc ông sẽ làm trong tương lai
Đến khoá Đại hội thường niên lần thứ ba của Viện, ngày 1-10-1928 trước mặt quan Khâm sứ Jabouille cùng các quan Pháp, quan người Việt, Huỳnh Thúc Kháng đã đọc một bài diễn văn quan trọng trong đó ông vạch
Trang 30trần những luận điệu lừa dối của thực dân, đưa ra một số yêu sách cần thực hiên Trong bài đáp từ, Khâm sứ Jabouille đã bác bỏ tất cả những đòi hỏi thiết yếu đó bằng thái độ hỗn xược nhằm hạ danh nhà yêu nước, một chí sĩ hết lòng
vì dân vì nước như Huỳnh Thúc Kháng
Huỳnh Thúc Kháng đã nhiều lần muốn thoái lui khỏi Viện dân biểu vì ông càng ngày càng thấy bộ mặt chính trị giả tạo của thực dân nhưng chính bài đáp từ lần này của Jabouille là cái cớ để cho ông từ chức Viện trưởng ngày 210-1928 để khỏi bị nhục Ông từ bỏ vai trò “bình hoa”, “dựa cột”, từ bỏ “con đường làm quan” với người Pháp vì bản thân trong nhận thức của ông đã có biến đổi Ông đã thấy được “thiện chí” của bọn thực dân, thấy được hậu quả cay đắng của “khả năng hợp tác” với chính phủ bảo hộ để rồi “đấu tranh ở nghị trường”, tất cả đều là ảo tưởng Thuyết “cộng tác”, “đề huề” của thực dân chỉ là món lừa bịp nhân dân thuộc địa
Từ đây ông chuyên nghề làm báo
\
“Huỳnh Thúc Kháng công ty” được thành lập đầu năm 1927 do Huỳnh Thúc Kháng, Trần Đình Phiên, Đào Duy Anh tổ chức, kêu gọi cổ đông Huỳnh Thúc Kháng là người hiểu về quy luật báo giới đổi với Pháp, thạo việc quan hệ giao thiệp, thủ tục, in và phát hành báo nên được cử làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ báo Ngày 10-8-1927 báo TlẾNG d â n, cơ quan ngôn luận đầu tiên ở Trung kỳ ra đời ở Huế
Báo TIÊNG DÂN là tờ báo duy nhất ở Trung kỳ không phục tùng các mệnh lệnh của Chính phủ bảo hộ để trở thành cái loa tuyên Iruyền cho các chủ trương phản động, các phong trào văn hoá nô dịch hơn nữa lại còn vạch trần những thủ đoạn lừa bịp ấy, cảnh giác nhân dân Những phản ứng như vậy của
“ông già Tiếng dân” đã làm cho kẻ thù rất khó chịu và đó cũng chính là lý do
để tờ báo bị đinh chỉ xuất bản vào ngày 28-4-1943 Điều này cũng đồng nghĩa với sự thất bại của đường lối “làm cách mạng công khai” của Huỳnh Thúc Kháng
Trang 31Cách mạng Tháng Tám thành công tháng 8 năm 1945 Huỳnh Thúc Kháng đang trong tâm trạng chờ đợi những biến cố của lịch sử dân tộc, ngỡ ngàng ngạc nhiên với thắng lợi của Cách mạng, cùng hưởng niềm vui chung với cả dân tộc Ông lại được chứng kiến lực lượng vĩ đại của quần chúng nhân dân nhưng lần này mạnh gấp bội lần so với phong trào chống thuế ở Trung kỳ
1908 vì nhân dân đã được tổ chức, đấu tranh có đường lối đúng đắn dẫn đến thắng lợi hoàn toàn Huỳnh Thúc Kháng nhận thức được ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn của thắng lợi này
Cuối năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh điện cho Uỷ ban Nhân dân lâm thời Trung bộ mời Huỳnh Thúc Kháng ra Hà Nội, Huỳnh Thúc Kháng phân vân nhưng sau đó ông nhận thấy chính quyền Cách mạng không những không
“bắt tội” mà còn trọng thị, coi ông là nhà chí sĩ yêu nước lão thành đầy tâm huyết với nước, với dân nên ông hoà mình vào không khí phấn khởi chung của đất nuớc Tháng 1-1946 Huỳnh Thúc Kháng nhận được liên tiếp hai bức điện
ký tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, phó Chủ tịch Nguyễn Hải Thần và Bộ trưởng Bộ Nội vụ lâm thời Võ Nguyên Giáp mời ông ra làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ Ngày 24-2-1946 Huỳnh Thúc Kháng ra Hà nội với sự động viên của các thân sĩ ở Huế Trước khi ra Hà Nội, Huỳnh Thúc Kháng tuyên bố
“Tôi chỉ muốn ra gặp Cụ Hồ để bày tỏ một vài ý kiến Còn việc gì khác thì tôi không thể nhận” [75,31]
Huỳnh Thúc Kháng đã hoàn toàn bị thuyết phục bởi chính sách đại đoàn kết, chiêu hiền đãi sĩ của Mặt trận Việt Minh, Chính phủ liên hiệp, tài nãng chinh phục lòng người và nhân cách của nhà ái quốc Hồ Chí Minh Huỳnh Thúc Kháng đã cộng tác với chính phủ mới, đi theo Hồ Chí Minh
Từ đó Huỳnh Thúc Kháng đã dùng trí lực, sức lực , uy tín và nhân cách đạo đức của một nhà Nho, nhà duy tân yêu nước đã giác ngộ cách mạng tham gia tích cực vào việc giải quyết các vấn đề trọng đại của đất nước ta trong thời điểm cực kỳ khó khăn, đứng trước những thử thách hết sức lớn lao, chống thù
Trang 32ong giặc ngoài, xây dựng lực lượng mọi mặt để chuẩn bị cho cuộc kháng hiến trường kỳ chống Pháp quay lại xâm lược.
Những quyết sách, những việc làm của Huỳnh Thúc Kháng trong khi ham gia Chính phủ với tư cách Bộ trưởng Bộ Nội vụ, phó chủ tịch Chính phủ iên hiệp kháng chiến, chủ tịch Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam, quyền Chủ rich nước khi Hồ Chủ Tịch sang thăm nước Pháp đã thể hiện sự biến đổi sâu
;ắc, sự biến đổi về chất trong tư tưởng của ông
Tháng 6 năm 1946 Hồ Chủ Tịch đi thăm nước Pháp theo lời mời của
;hính phủ Pháp Trước khi ra nước ngoài, Người đã uỷ quyền cho Huỳnh Thúc Kháng làm Quyền Chủ tịch nước, giải quyết mọi vấn đề đối nội và đối ngoại
"ủa quốc gia Trong cương vị quyền Chủ tịch nước, Huỳnh Thúc Kháng luôn tâm niệm lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh “ DĨ BẤT BIẾN, ÚNG VẠN BIẾM” Là một nhà Nho, Huỳnh Thúc Kháng hiểu toàn bộ ý tứ Hồ Chủ Tịch gửi gắm Lấy cái bất biến ứng với cái vạn biến trong tình thế nước sôi lửa bỏng
Thángl2-1946 Hồ Chủ Tịch đọc “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, Huịnh Thúc Kháng với tư cách là Hội trưởng Hội Liên Việt phát đi “ Thư kêu gọi đồng bào phụ lão kháng chiến” Thư kêu gọi đồng bào phụ lão kháng chién được viết bằng Hán văn được dịch ra quốc ngữ bao hàm nội dung yêu nước nồng nàn mà trước nay chưa có một tác phẩm nào của ông đạt tới Huỳnh Thú; Kháng đã nhắc lại những truyền thống anh hùng của dân tộc ta, nêu gưcng các vị anh hùng dân tộc trong lịch sử, tội ác của phong kiến, thực dân, phá: xít bóc lột đàn áp nhân dân ta, vận động và giải thích cho đồng bào hiểu
rõ \ề chính quyền cách mạng, nền độc lập tự chủ của đất nước, ca ngợi Hồ Chu Tịch từ đó kêu gọi đồng bào đoàn kết trong khối, đại đoàn.-kết dân tộc cháig quân xâm lược, quyết không để nước ta bị đô hộ lần nữa
Kháng chiến bùng nổ, cơ quan lãnh đạo kháng chiến phải rời khỏi Hà Nội, dựa vào núi rừng Việt bắc để lãnh đạo kháng chiến Huỳnh Thúc Kháng tuổi già sức yếu, nếu cùng Chính phủ chuyển lên vúng rừng núi khí hậu khắc
Trang 33Ìghiệt lại trong hoàn cảnh bom đạn sẽ không lợi nên Chính phủ bàn cử Huỳnh rhúc Kháng làm đại diện cho Chính phủ ờ miền Trung, có vùng tự do rộng [ớn Khi có dịp tiếp xúc với nhân dân, Huỳnh Thúc Kháng đều nhiệt tình, tận :uỵ truyền đạt đường lối cứu nước của Hồ Chủ Tịch và chính phủ mặt trận cháng chiến, luôn hướng về Cụ Hồ và Chính phủ ở miền bắc Ông cảnh cáo ìhững kẻ còn mơ tưởng Pháp trở lại, muốn làm tay sai cho đế quốc, chống kháng chiến.
Ngày 21- 4 -1947 Huỳnh Thúc Kháng mất tại Quảng Ngãi, thọ 71 tuổi
Cả nước đã cử hành lễ truy điệu tỏ lòng thương tiếc và biết ơn nhà chí sĩ suốt đời tận tuỵ vì Tổ quốc
Cuộc đời và sự nghiệp của Huỳnh Thúc Kháng thể hiện tư tưởng yêu nước sâu sắc, ý chí quyết tâm giành độc lập cho dân tộc Cuộc đời hành động của ông cũng đã thể hiện tư tưởng vì dân, vì nước của thế hệ các nhà yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX Thời gian Huỳnh Thúc Kháng tham gia Chính phủ cách mạng có lẽ là thời gian đẹp nhất trong sự nghiệp của ông Huỳnh Thúc Kháng được thực sự cống hiến trí tuệ, tài năng, phẩm hạnh của mình cho sự nghiệp của dân tộc, sự nghiệp đó sẽ đưa dân tộc đến với độc lập vinh quang
Kết luận chương 1
Thực dân Pháp xâm lược và thống trị Việt Nam, cùng với quá trình đầu tư khai thác kinh tế và thực thi hàng loạt các chính sách về chính trị, xã hội, văn hoá và giáo dục, đã du nhập vào Việt Nam một hình thái kinh tế xã hội đặc thù của các nước thuộc địa tư bản chủ nghĩa được nảy sinh do sự tác động qua lại giữa hai phương thức sản xuất cũ và mới: phương thức sản xuất phong kiến kiểu phương Đông và phương thức sản xuất có tính chất tư bảrtchủ nghĩa Sự vận động của hình thái kinh tế đặc thù trên đã để lại nhiều hạn chế và hậu quả nặng nề về chính trị, kinh tế, xã hội Tuy nhiên, cùng với sự biến động rất nhanh của tình hình chính trị, kinh tế, tư tưởng trên thế giới và trong khu vực Châu Á, tình hình mọi mặt ở trong nước Việt Nam cũng đã tác động rất mạnh đến phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân
Trang 343 ■ ' 1 1nói chung và sự chuyến biến trong hệ tư tướng Việt Nam nói riêng, tạo ra liều nhân tố mới.
Huỳnh Thúc Kháng sinh trưởng và tạo lập sự nghiệp trong giai đoạn :h sử đặc biệt này nên trong suy nghĩ và hành động của ông đã chịu tác ộng khá mạnh mẽ của điều kiện khách quan Vốn thông minh, học rộng, iết nhiều, Huỳnh Thúc Kháng đã tiếp thu truyền thống yêu nước của dân )c, của cha ông, nhận thức, đánh giá tình hình trong và ngoài nước để từ đó
ó những chuyển biến quan trọng trong tư tưởng và hành động hợp thời đại,
óp phần hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang của dân tộc ở nửa đầu thế kỷ XX
Trang 35CHƯƠNG 2
Tư TƯỞNG YÊU NƯỚC CỦA HUỲNH THÚC KHÁNG
I Tư TƯỞNG YÊU NƯỚC THEO KHUYNH HƯỚNG DUY TÂN CỦA
HUỲNH THÚC KHÁNG
* Những năm đầu của thế kỷ XX, ở Trung Quốc sau cuộc Mậu tuất ính biến và Canh tý liên binh, sĩ phu nước ta bắt đầu tỉnh ngộ, có phong trào tan nghênh Tây học, phong trào Duy Tân phát triển Sách báo của Lương tiải Siêu, Khang Hữu Vi bắt đầu du nhập vào nước ta, tin về chiến tranh Nga- hật cũng lan truyền tới Việt Nam, giới sĩ phu không còn bị hoàn toàn biệt lập
'ú tình hình thế giới như trước nữa
Xuất thân khoa bảng, đỗ đạt cao, có khả năng nhận thức bao quát, trí
lớ phi thường nhưng Huỳnh Thúc Kháng lại có cái nhìn mới mẻ khác với gười cùng thời về nền giáo dục Nho giáo, về những quan niệm mà Nho giáo ang cấp cho Nho sinh Đối với ông Khổng học là cái học đáng quý giúp ích
ít nhiều cho nhân sinh xã hội nhưng ôủg chỉ đề cao, kính trọng những giá trị hân sinh trong học thuyết Khổng-Mạnh Huỳnh Thúc Kháng tiếp thu cả hững giá trị của Nho giáo đã được Việt Nam hoá, tiếp thu tư tưởng yêu nước
ủa lớp lớp các nhà Nho Việt Nam trong lịch sử Với tấm lòng yêu nước cao
lộ, sự đau dớn vì dân tộc đang phải chịu cảnh xiềng xích của bọn thực dân ihong kiến, Huỳnh Thúc Kháng thẳng thắn chỉ trích những khuyết điểm của Chổng giáo về một sô' quan niệm đạo đức, chủ trương chính trị:
“Đạo đức chỉ nói sô' ít mà bỏ phần số nhiều thông thường Cái học quá
;ao ấy dẫu ở thời đại nào cũng chỉ ở riêng một mình trong rừng sâu núi rậm,3ứng ra ngoài vòng nhân quần giao tế kia, chớ ở trong xã hội thông thường thì thật là không thích, huống gì là ở thời đại giao thông ngày nay, thì đạo đức tối cao ấy ai làm theo được.”[84; 288-289]
“Chánh trị chỉ nói với người cai trị mà không nói đến hạng bị trị Toàn những thuyết của Khổng tử nói về chính trị thì chú trọng về vua quan mà
Trang 36jng nói đến dân, dân chỉ ngồi không mà chờ người trên sắp đặt lo liệu cho
ih mà thôi Không những dân không cần phải lo việc cho mình mà lại cho
1 là hư hỏng không tự lo được nữa.( ).Huống ở thế giới ngày nay mà
n cái chánh trị của cụ Khổng ra mà ứng phó, thật không khác gì chèo lyền nan mà đua với tàu thuỷ, cỡi ngựa trạm mà chạy theo xe hơi, chỉ mệt
ọc mà không công hiệu gì [84; 289-290]
“Tư tưởng trọng về đường tồn cổ mà không có sáng tác.( )Thậm chí
ộc đời xoay chuyển như chong chóng mà lắm kẻ cứ nằm trong giấc chiêm
0 toan muốn đem máo cũ đời Đường đời Ngu, áo rách, sông Thù, sông Tứ
1 chảy ra giữa thế kỷ 20 tàu lặn máy bay này.”[84;290-291]
Đặc biệt Huỳnh Thúc Kháng chỉ trích mạnh mẽ lối học khoa cử và lối 'C Tống nho từ khi quân Minh xâm lược nước ta áp đặt trải qua các triều Lê, guyễn, khi tiếp xúc với Tây học lại càng trở nên hủ lậu Từ đó ông đề xuất:
“Chúng ta sinh gặp thời đại triết học khoa học thịnh hành này, cần nhất phải có cái trí não tự do phán đoán, bất kỳ là xưa nay Đông Tây, điều gì mà
íp với chân lý và sự thực thì cho là chân chính mà gắng sức học theo; điều gì
ấy chỗ mặc vọng trái với chân lý và sự thực, thì nhất thiết cào bỏ cho sạch,
hư vậy thì cõi tư tưởng ta may khỏi bị cái gì đó ngăn đón che lấp mà được róc lên con đường tự do để làm mẹ đẻ cho sự thực chăng.”[83;291-292].Như vậy đối với cả cổ học và tân học Huỳnh Thúc Kháng đều có những lái độ kính trọng nhưng cũng có hoài nghi Ông cho rằng nếu người tiếp thu,
i dụng thiếu khả năng phán đoán thì hậu quả sẽ không phải là điều mong ìuốn Ông đã có đủ sáng suốt và can đảm để nhìn thấy sai lầm ngự trị ở nước
I hàng chục thế kỷ Ông đi tìm cái mới, cái tiến bộ trong các học giả yêu ước của Trung Quốc, trong lịch sử duy tân tự cường của Nhật bản, trong văn
oá tư sản phương Tây
Thế nhưng “Huỳnh Thúc Kháng trước hết và bao giờ cũng là một nhà
^ho , một nhà Nho ngay thẳng và trong trắng với những cái hay và cái dở của ninh, ở ông người ta thấy nổi bật lên phong thái một người quân tử dày công
Trang 37dưỡng Tâm hồn ông, tính tình ông, cách tu thân xử thế của ông, nhất nhất ù hợp với những nguyên tắc giáo huấn của thánh hiền.”[75;38].
* Trong tình trạng Tổ quốc lâm nguy, Huỳnh Thúc Kháng cho rằng nếu
I hành động gì thì cũng chẳng phải vì vua mà vì lợi ích chung của dân tộc
ng cùng cậc bạn thường bàn việc nước với Phan Chu Trinh Họ bắt đầu đọc lững quyển Tân thư từ phô' Hoa kiều Hội An mang về; đưa đến cho họ nhận
ức mới về tình hình trong nước và thế giới Trong lúc đó thì điều trần của guyễn Trường Tộ, “Thời vụ sách” và “Thiên hạ đại thế luận” của Nguyễn Lộ rạch, “Lưu cầu huyết lệ tân thư” của Phan Bội Châu cùng với những cuốn ích “ Mậu Tuất chính biến”, “ Trung Quốc hồn”, “ Nhật Bản duy tân khảng lái sử” , “Nhật Bản tam thập niên duy tân sử”, “ Thái Tây tân sử”, “ Tân Dân ing báo” đã tác động vào tư tưởng Huỳnh Thúc Kháng và các bậc khoa bảng
5 chí khí, tâm huyết đương thời làm xuất hiện tư tưởng vận động dân chủ ong bộ phận nho sĩ này Ngoài cái vốn nho học thánh hiền cũ , lần đầu tiên
ng biết đến những giá trị dân chủ văn minh phương Tây cho dù nó đã bị khúc
ạ qua lăng kính của các nhà tư tưởng Trung hoa nhưng nó cũng đem lại
Ihững giá trị mới cho tư tưởng của ông, đánh đố cả một ý thức hệ đã từ lâu 1
gự trị trong tâm hồn ông Kết hợp chủ nghiã yêu nước truyền thống với ý lức hệ dân quyền tư sản phương tây, ông hy vọng và quyết tìm ra con đường
ứu nước, tìm ra hướng đi mới cho dân tộc
1905-1908 Huỳnh Thúc Kháng cùng Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp ãnh đạo phong trào Duy tân ở Quảng Nam, tổ chức nhiều hoạt động có tính :ải cách theo kiểu dân chủ tư sản, đạt kết quả Từ đây tư tưởng của Huỳnh rhúc Kháng đã thoát ra khỏi tư tưởng yêu nước quân chủ truyền thống chuyển
;ang tư tưởng yêu nước dân chủ theo khuynh hướng duy tân, suy nghĩ và hành íộng đứng về phía nhân dân, Ihức tỉnh nhân dân chống lại chế độ phong kiến /à bọn đô hộ
Trong thời điểm ấy, ở miền trung có 2 khuynh hướng tư tưởng chính trị :ăn bản khác nhau tồn tại:
Trang 38Khuynh hướng thứ nhất: Xuất dương học tập và tranh thủ ngoại viên để
li phóng đất nước bằng vũ lực do Phan Bội Châu làm đại biểu
Khuynh hướng thứ hai: cải cách dân chủ ôn hoà, “ bất bạo động” và
ất vọng ngoại” do Phan Chu Trinh làm đại biểu
Những hoạt động yêu nước của Huỳnh Thúc Kháng vừa công khai vừa mật Huỳnh Thúc Kháng không phản đối đường lối “bạo động”, “xuất rơng cầu ngoại viện” của Phan Bội Châu cũng không hoàn toàn tin theo rờng lối của Phan Chu Trinh Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp có nhiều
y nghĩ riêng: muốn mở đường phục hưng dân tộc bằng khai thông dân trí, cổ
>ng tân học, đả phá khoa cử, kêu gọi thương gia, thân hào thành lập hội ương, hội nông Chương trình và sách lược của họ được đề ra trên cơ sở họ
i có quan sát thực tế ở địa phương
Năm 1905 Huỳnh Thúc Kháng , Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp đi vào
íc tỉnh miền Nam để quan sát tình hình trong nước, điều tra, nhận xét những
r kiện xảy ra ở mỗi địa phương để có thể áp dụng chương trình hành động, 'ến Bình Định gặp kỳ thi, họ mượn tên là Đào Mộng Giác vào ứng thí Phan
hu Trinh làm bài thơ luật “ Chí thành thông thánh”; Huỳnh Thúc Kháng và rần Quý Cáp làm bài phú “ Lương Ngọc danh sơn” với nội dung cổ động tinh lần yêu nước quật cường chống ngoại xâm của dân tộc ta từ trước, nói lên Jih trạng khổ nhục của người dân mất nước, chống đối thái độ “ vào luồn ra úi” của quan lại, bài xích lối học cử nghiệp, lối kén chọn nhân tài hủ lậu, nêu
ý do dẫn tới mất nước, phê phán sự bạc nhựoc của vua quan, làm tay sai cho liực dân Pháp Các ông kêu gọi các sĩ tử vứt bỏ nền học cũ từ chương, đi theo :on đường mới cứu dân, cứu nước Các bài thơ phú được truyền tụng, tác động iến tư tưởng các nho sĩ, khởi xướng phong trào duy tân ở Quảng Nam
“Nói đến việc dùng sức văn tự để mạt sát khoa cử, cổ xuý tân học thì bài
;hi và bài phú ấy là tiếng nói đầu tiên vậy”[75;36]
Trang 39Đây là một phương pháp tiếp cận và giải quyết vấn đề mới mẻ trong
i kỳ đó: tiếp cận và giải quyết trực tiếp Đối tượng không chỉ là sĩ tử mà
1 hướng rộng hơn: là quần chúng nhân dân
“Bởi một thời làm sai chính sách,
Để muôn đời cam chịu tai ương,
Tục chuộng văn chương, sĩ đua khoa mục
Đại cổ, tiểu cổ, trọn ngày miệt mài,
Ngũ ngôn, thất ngôn, cùng năm gạn đục
Văn sách lóng hơi chủ khảo, Thuấn, chích tuỳ ý khen chê;
Từ phú học mót bài Tàu, đối đáp câu thơ tứ lục
Tụi công danh láo nháo, chợ Tề trừng trộ cướp vàng;
Phường lợi lộc lau nhau, sân sở lom khom dâng ngọc
Quân đội lấy gì hùng cường? Tài chính lấy gì sung túc?
Dân trí lấy gì mở mang? Nhân tài lấy gì giáo dục?
Than ôi đau xót thay! Dần dà cho đến ngày nay chịu điều khổ ihục.”[75;82-83]
Huỳnh Thúc Kháng và những người khởi xướng, phát động phong trào Duy tân bài xích khoa cử, chống đối Hán học sai lầm nhưng không phải bài xích tất cả, chống đối tất cả, không quá cuồng nhiệt vứt bỏ tất cả cái cũ mà chủ trương tiếp thụ cái mới, cái hay, chấn hưng, phát huy những tinh tuý của truyền thống Chủ trương khuyến học của Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp đã biết được đối tượng chính là lớp người thiếu học ở nông thôn, là số
Trang 40g nhân dân lao động Họ cần học để tiếp thu những kiến thức mới, để thoát
lị cái tối tăm của cường quyền, để tham gia hội nông, hội thương
Huỳnh Thúc Kháng cùng các bạn đề xướng chung vốn lập thương cuộc Phố (Hội An-Faifoo) cùng lập trường học, hội nông, trồng quế, phát động )ng trào ăn mặc Âu phục, lập thư xã, mua nhiều sách báo mới, diễn thuyết,
I nhà học tại các làng, mời thầy vể dạy chữ Tây, chữ quốc ngữ Những
nh công bước đầu của phong trào Duy tân càng làm ông và các đồng chí :m tinh thần, tin tưởng vào con đường cứu nước của mình Đầu năm 1908,
1 khi Phan Chu Trinh đã ra Hà Nội, Trần Quý Cáp cũng bị đổi vào Khánh
à, Huỳnh Thúc Kháng phải cáng đáng tất cả công việc lãnh đạo phong trào
ìy tân ở Quảng nam Những hoạt động yêu nước của Huỳnh Thúc Kháng ing giai đoạn lịch sử này không thể không nói đến vai trò chính trị của ông ,i ông đứng ra dàn xếp những mâu thuẫn giữa xu hướng ôn hoà và bạo động,
r bất đồng ý kiến giữa Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh gây chia rẽ trong ing ngũ sĩ phu Họ chống đối nhau, công kích lẫn nhau Trước tình hình bất
i đó Huỳnh Thúc Kháng thuyết phục anh em giữ vững khối đoàn kết ông
I
10 rằng xuất phất từ những tấm lòng nhiệt thành yêu nước, những hoạt động ích mạng và cải cách kỳ thực bổ sung cho nhau, tác thành lẫn nhau, tuy khác hướng nhưng cùng chung mục đích Trong giai đoạn này cố nhiên Huỳnh húc Kháng chưa thể thấy rõ những sai lầm trong chủ trương đường lối của
ai cụ Phan, ông không thấy sự bất đồng mà chỉ thấy có sự phân công giữa hai ường lối: bèn cạnh việc chuẩn bị lực lượng vũ trang bí mật để đánh đuổi quân
lù khi thời cơ cho phép cũng cần có những hoạt động cải cách công khai
•hằm cho nước mạnh, khai trí cho dân
Đối với thực dân Pháp và chế độ phong kiến tay sai thì phong trào cải ách xã hội dù chỉ với tính chất ôn hoà nhưng khi nó đã thâm nhập và lan rộng rong quần chúng kết hợp với những yêu cầu về kinh tế của họ thì nó sẽ biến hành một phong trào có tính chất bạo lực Quả thật, các sự kiện hội thương, lội nông, các cuộc diễn Ihuyết, mở trường dạy chữ quốc ngữ, cắt tóc agắn chỉ là những phần nhỏ của phong trào chung để đến năm 1908 có cuộc