1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thời gian trong Đi tìm thời gian đã mất của Marcel Proust Luận án TS. Văn học các nước Tâu Âu, Bắc Mỹ và châu Úc

245 3,1K 28

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 245
Dung lượng 101,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đôi vối riêng các tài liệu bằng tiến g Anh cùa W illy Hachaz và G .H .S teel chúng tôi dành nhiều trang luận án để th u yết m inh cho công trình cùa hai ông vối mấv lý do như sau: a, tu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỞNG OẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN• • • m

THỜI GỊAN

CỦA MARCEL PROUST

LUẬN ÁN TIẾN S ỉ N G Í VĂN

Trang 2

2.2.1 Khảo sát về lối qu ay ngược bén trong qua chi tiết 100

Trang 3

2.2.2 Quay ngược g(fi nhớ bên trung qua không gian 106

CHƯƠNG 3

- Tổng kết phân tích câu vần-đồ vật

(Về cấu trúc, Đi vào chi tiết, Những suv nghĩ liên hệ) 181

Trang 4

TÀI LIỆU THAM KHẢO 202

Bảng S ơ ĐỒ S ự KIỆN CỦA TRUYỆN

(không đánh số trang, dán ngay cạnh)

Trang 5

h ai đợt Đi tìm thời g ia n đ ã m ấ t đều được tuyển chọn, đợt I giành vị trí

đứng đầu bảng theo thứ hạng, còn đợt II theo chữ cái tên tác giả [109, 8]

Tạp chí L ire số tháng 9 năm 1997 công bô một cuộc thám dò 9320 độc giả Tây Ban Nha về mười đầu sách được đọc suốt từ đầu th ế kỉ, trong đó Đi tìm

thời g ia n đ ã m ất được xếp thứ tư sau các tác phẩm của M arquez, Carnilo

José Cela và Ramon del V alle-Inclán Thứ tự trên không phải được xếp t.heo alphabet.

1.2 Việc xử lí thời gian trong tiểu th u yết của th ế kỉ XX được các nhà văn , các nhà nghiên cứu lớn như J.p S artre, G G enette, J.Y Tadie,

G Poulet, P.Ricoeur đặt th àn h một vấn đề quan trọng.

Proust là người đã mở đầu cho th ế kỉ XX và ông là nhà văn có ý thức triệt

để nhất vê vấn đê thời gian trong tiểu thuvết Tính nhiều lóp thời gian trong tiểu thuyết của Proust đặc biệt thú vị, nhưng cũng hết sức phức tạp khó khán khi nghiên cứu Thú vị vì nó đã mở ra một cái nhìn mới vào thê giói, con người; phức tạp và khó khăn bởi sự chằng chịt, đa tầng không chỉ trên cơ sở nội dung ván bản mà còn nằm ở chiều sâu của ngôn ngữ mà ngav chính người Pháp không phải ai cùng cảm nhận được h ết sự sâu xa của nó.

Trang 6

1.3 Luận án hi vọng sẽ (ỉóng góp thêm một tiên g nói vào việc nghiên cứu thê giới nghệ thuật Proust, cụ thê là vấn đề thời gian Bước đầu, luận

án mong giới thiệu một vài nét nghệ th u ật về thời gian của Proust vối bạn đọc V iệt Nam Từ việc giới thiệu một vấn đề phức tạp như vậy, luận án cùng giúp cho việc giảng dạv, nghiên cứu văn học Pháp nói chung và Proust nói riêng Từ đó, có thê suy nghĩ sâu hơn vào việc ngh iên cứu văn học V iệt Nam trên cơ sở những vấn đề thi pháp.

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỂ:

Tài liệu n gh iên cứu bằng tiến g V iệt v ề Proust chưa n h iều Việc nghiên cứu Proust ở V iệt N am còn hạn chê cũng có lẽ do Proust còn nh iều vấn đê

xa lạ với độc giả ch ú n g ta.

Các bài v iết có tín h chất ngh iên cứu, giới th iệu trực tiếp v ề Proust sóm

n h ất ỏ miền Bắc, theo chỗ chúng tôi được biết, thì đó là bài v iết trên báo

N g à y nay ở mục Theo dòng của Thạch Lam từ bài v iết “Tìm hiểu Thạch

Lam thêm một v à i kh ía cạnh” của Đ inh H ùng trên Tạp chí Văn, số 36,

ngàv lõ thán g 6 năm 1965 Bài báo cho biết: Thạch Lam có giới thiệu tác

phẩm Đi tìm thời g ia n đã m ấ t và đã nhầm “La P etite M ad elein e” là “Cô bé

M ad elein e”, sau h a i, ba tuần , có độc giả mách cho Thạch Lam biết và nhà văn đã chính thức xin lỗi độc giả của báo và thú nhận m ình chưa đọc trọn tác phẩm của P rou st, đồng thời xin cảm ơn độc giả nọ đã chỉ giùm và mong

được tiếp tục chỉ g iáo Trên tạp chí Thanh N g h ị năm 1943, Lê Huy Vân có bài B a cuốn tiể u -th u y ế t P háp hiện đ ạ i đăng ở các sô 35 (16/4/1943), 38 (1/6/1943), 40 (1 /7 /1 9 4 3 ) và lần lượt kể về ba tác phẩm: Le G r a n d Meaulne, của A lain Fournier, tác giả dịch là Anh Maaulne cao; Les Caves du Vatican, của André Gide, tác giả dịch là N h à h ầ m dưới điện Vatican; và cuôn A la

recherche du te m p s p erd u , của M arcel Proust, tác giả dịch là Đi tim th i giờ

đ ã m ấ t, nhung n gay ỏ' trang sau lại dịch là Đi tìm thời g ia n đ ã m ất N hìn

chung, ỏ cả ba cuôn tiểu th u yết trên Lê Huy Vân chủ yêu mới chỉ giới thiệu

và kể vê côt truyện của chúng Riêng ở Đi tim thời gian đ ã m â t, Lê Huy

Trang 7

Ván chi tập trung vào tập đáu tiên v é p h ía nhà ông S w ann mà theo ông đó

“là tập đầu cùa bộ chuyện dài, gồm mười lám q u y ê n , trên dưới năm nghìn trang” Trong bài v iêt tác già vừa kể vừa trích đoạn “Ba ngọn gác chuông

n hà thờ”, “Chiếc bánh ngọt và chén nưóc trà” và cuối cùng là “Một lối yêu”

(tức M ột mối tinh của S w ann ) Theo V Nabokov, “bảy phần của tác phẩm

này, được xuất bản từ 1913 đến 1927, bao trùm trên nửa thê kỉ, từ 1840 đến 1915 ( ) và đưa vào hơn 200 nhân v ậ t” [47, 47], Còn theo G D eleuze

[14, 3], bảy tập như hiện nay lúc đó được tách th àn h lõ tập như sau: v ề

p h ía nhà S w a n n 1 và 2; Dưiri bóng những cô g á i tuỏi hoa 1, 2, và 3; Phía

G u erm a n tes 1, 2 và 3; Sodom e và Gomorrhe 1 và 2; Cô g á i bị cầm tù 1 và 2;

A lb e r tin e chạy trố n ; Thời g ia n tìm th ấ y lại 1 và 2 của Ed N.R.F

B ibliothèque de la Pléiade Không thấy Nabokov và D eleuze nói đến số

trang Tuy n h iên , căn cứ theo sự phân chia tập bên trên, thì Lê Huy Vân

đã sử dụng bản “gốc” nh ất, hay đúng hơn là những bản đã được in ngay khi

P roust qua đời N hư vậy, Proust đă được tiếp nhận ở Việt Nam khá sớm

Sau này, giáo sư Đỗ Đức H iểu, có v iết mục từ “Pruxt” trong Từ điển văn

học năm 1984 Giáo sư đâ giới thiệu toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp và nhấn

m ạnh đến tài năng cũng như th àn h công của bộ Đi tìm thời g ia n đ ã mất

T iếp đó, trong giáo trìn h Lịch sử Văn học P háp t h ế k ỉ XX, giáo sư Đặng Thị

H ạnh có bài v iết v ề Proust, trong đó bà nhấn m ạnh về yếu tố thời gian

trong bộ Đi tìm thời g ia n đã mất Cũng trong năm này vào th án g 11-12, trên Tạp ch í Văn học số 6 năm 1992, T s Lê Phong Tuyết có bài: Macxel

P ru x (1871-1920) và vấn đ ề thời g ia n nghệ thuật B ài v iết của bà đã bước

đầu giới thiệu vê tiểu sử của Proust và sau đó đi vào phân tích đặc trưng cơ bản của Người kê chuyện củng như vấn đê thời gian ở Proust trong khi có

so sán h vối các tác giả khác Trên báo Văn nghệ, tháng 5/1998, giáo sù

Đ ặng Thị H ạnh có bài: Marcel Proust nhìn từ cuối t h ế kỉ nói đến những đánh giá mối vê Proust Cũng trong năm 1998 trên Tạp chí Văn học, giáo

SƯ Đ ặng Thị H ạnh lại có bài: Tự th u ậ t và tiêu thu yết ở thê ki XX ở đó, với

“ít lời” về Đi tìm thời giun đủ m ấ t bà đã đi tìm mối liên hệ giữa tự thu ật và

Trang 8

tiếu th u yêt trong sáng tạo của Proust để cuôi cùng, “nó mới đơn giản được gọi là tiểu th u yết” và là một tiểu thuvết tầm cỡ bấc cầu sang cả thê kỉ sau

nữ a T háng 10/1998 trên Tạp ch í Văn học chúng tôi có bài: N h ữ ng yếu tô

thời g ia n qua Rousseau - F laubert - Proust nói đên đặc trưng thời gian cùa

từ n g tác giả qua ba thê kỉ, những kê thừa và cách tân Tháng 6/1999 trên

Tạp c h í văn học chúng tôi tiếp tục có bài: N hững quy tụ thời g ia n trong

Dưới bóng những cô gái tuổi hoa của Marcel Proust trực tiếp nghiên cứu về một tác phẩm của tác giả này T háng 12/1998, trên Diễn đàn Văn nghệ Việt

N a m , chúng tôi có bài: Thời g ia n và Tiểu thuyết bàn vê bản chất của tiểu

th u y ết và hành trình thời gian, tiếp đó là vấn đề nghiên cứu thời gian trong tiểu th u yết có đề cập đến các tác giả phương Tây, trong đó có

M P rou st Trong tạp chí Văn học nước ngoài sô 3/2002, số chuyên san kỉ

n iệm 80 năm ngày m ất của M Proust, chúng tôi có bài “Proust và Đi tìm

thời g ia n đã m ấ t” giới thiệu đầy đủ cuộc đời và những cách tân nghệ thu ật

của P roust Trong sô tạp chí này chúng tôi có tập hợp những bài v iết về sán g tác của Proust cùa giáo sư Đ ặng Thị Hạnh cùng những trích dịch

P rou st và của những tác giả v iế t vể Proust (Gide, C éleste Albaret) của bà

và của Lộc Phương Thủy, Trần H inh, Đào Bích Hạnh.

Có thê coi trên đây là những bài v iết đã trực tiếp nói đến Proust và nghệ th u ậ t thời gian của ông ở V iệt Nam Ngoài ra, những bài v iết hoặc công trìn h của các nhà ngh iên cứu dưới đây có đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề thời gian ở các tác giả khác có liên quan đến đề tài mà luận

án đ an g thực hiện Dẫn theo thời gian x u ất bản:

1 Trần Đ ình sử , Thời gian nghệ th u ậ t trong Truyện Kiêu và cảm quan

hiện thực của Nguyễn Du, Tạp chí Văn học, 5/1982 Nhà nghièn cứu nhìn

nhận th ờ i gian từ phía kh át vọng, hành động của nhân vật; tính chất phũ

p hàng đen tôi của các thê lực, ở những ngẫu nhiên

2 P han Ngọc, Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiêu, Nxb

KHXH 1985 Toàn bộ công trình không bàn nhiểu và trực tiếp đến vấn đế

Trang 9

thời gian, nhưng đáng chú ý ờ chương IV có tiêu đế: Cách bô cục Truyện

Kiều theo yêu cầu của kịch Tác giả công trình đã phân tích “tính độc đáo

của bô cục Truyện K iểu” để tìm ra bô' cục của kịch ở “những lời đoán trước”,

“giấc m ộng”, “thần lin h ” những vêu tô có liên quan đên thời gian.

3 Đ ặng Thị H ạnh, Tiểu thu yết Huygô, Nxb Đ ại học và Trung học

ch u yên ngh iệp , 1987 Ngoài ra, bà còn v iết n h iều bài ngh iên cứu rất sâu

trên Tạp chí Văn học về Thâm Tâm Xuân D iệu, Tô H oài trong đó có đề

cập n h iều đến vấn đế thời gian ẩn.

4 Trần Đ ình s ử , Thi p h á p thơ T ố Hữu, Nxb Tác phẩm mối, 1987 Trong cuốn chuyên luận này có chương về: Thời gian nghệ th u ậ t trình bày

từ lý luận đến thực tiễn sáng tác của các nhà văn lớn trên thê giói và trong nước, chủ yêu là về thơ Tô" Hữu.

5 Phùng Văn Tửu, Tiểu thuyết Pháp hiện đại, N h ữ ng tim tòi đổi mới,

Nxb KHXH và Mũi Cà Mau, 1990 Cuốn sách được chia làm bốn chương đề cập đến nhiều vấn đê đổi mới của tiếu thuyết như chính tên sách đã cho biết: những tìm tòi mới trong sáng tạo tiểu thuyết; những tuyên ngôn hay những quan niệm mới về tiểu thuyết của các nhà văn lớn th ế kỷ XX, đặc biệt tác giả phân tích và nhấn mạnh đến những ý kiến củng như thực tiễn sáng tác của

Aragon Chương 4 có tiêu đề: Người k ể chuyện uà các điểm nhìn, trong đó có

phần “Di chuyển điểm nhìn trên trục thời gian” nói về sự xáo trộn thời gian

vê cùng một sự kiện mà có nhiều điểm nhìn, cách kể lại ở nhíỉng thời điểm khác n h a u Hoặc giáo sư phân tích những cách tân v ề thời gian trong sáng tác của M.Butor rất thú vị và gợi ý nhiều cho người viết luận án.

6 N gu yễn Xuân Kính, Thi p h á p ca dao, Nxb KHXH, 1992, trong đó có

n gh iên cứu về thời gian trong ca dao Nhà ngh iên cứu chỉ ra thời gian

trong ca dao là thời g ia n hiện tại, thời gian cliễn xướng và ông đi tìm công

thức m iêu tả thời gian trung ca dao.

7 Đỗ Đức Hiểu, Đổi mới phê binh văn học, Nxb KHXH và Mũi Cà Mau,

Trang 10

1993 Tác phẩm chia làm ba phần lớn: Lý luận phê bình ở phương Tây; Phê bình '

Thơ và Phê bình Truyện Tác giả đã áp dung Thi pháp hiện đại vào nghiên cứu

văn chương trong và ngoài nước, trong đó rải rác có vấn đề thời gian.

8 Đặng Anh Đào, Tài núng vù người thưcỉng thức, Nxb Hội nhà ván, 1994

Tất cả các bài viết trong cuốn sách đêu theo hướng thi pháp hiện đại Không có riêng bài nào nghiên cứu về thời gian nhưng thòi gian vẫn có m ặt trong những nhận định, nhận xét ở nhiêu bài bình văn, nghiên cứu của tác giả.

9 Đ ặng Anh Đào, Đôi mới nghệ th u ậ t tiểu th u y ế t ph ư ơ n g Tây hiện đại,

Nxb Giáo dục, 1995 Như tên gọi, cuốn sách đi sâu vào giới thiệu, ngh iên cứu nh ữ n g vấn đê lớn của tiểu th u yết như nhân v ậ t, độc thoại nội tâm và

dòng tâm tư Chương VIII nghiên cứu riêng về: Thời g ia n trong tiếu thu yết

hiện đ ạ i nói đến những những đặc trưng cơ bản n h ất của các tác giả tầm cỡ

phương Tâv của th ế kỉ XX: Proust, J.Joyce, Kafka, H em ingw ay, C am us

10 Lộc Phương Thuỷ, chủ biên, Phê binh văn học P h á p t h ế kỷ XX, Nxb

Văn học, 1995 Cuốn sách được chia làm ba phần ch ính ngoài Lời giới th iệu

và Thư mục là những trích dịch các ý kiên sắc sảo của các nhà vãn , nhà ngh iên cứu trong đó có những bài của Proust, G en ette

11 P h ù n g Văn Tửu, Lui Aragông, Nxb Giáo dục, 1997 Công trình này đầu tiên có tên là Aragông, đã được in từ 1987, ở Nxb Đ ại học và Trung

học ch uyên nghiệp Mười năm sau , giáo sư sửa chữa, bổ su n g và cho tái bản với tên sách đầy đủ như trên Tác giả n gh iên cứu tấ t cả các lĩn h vực sán g tác của Aragon, những đặc điểm cách tân nổi bật của nhà văn này,

trong đó ông dành riêng nghiên cứu về: “Thòi gian ” trong T h ế giới thực tại

của Aragon.

12 Bùi Ván T iêng, Thời g ia n nghệ th u ậ t trong tiêu th u yế t Vũ Trọng

Phụng, Nxb Văn hoá, 1997 Tác giả nghiên cứu thời gian trong những tác

phẩm quan trọng của Vũ Trọng Phụng và rút ra ở phần hai những đặc diêm chủ yêu v ề vấn đề này của nhà văn.

Trang 11

13 Nguyền Khấc Phi và Trần Đình sử , v ề thi p h á p thơ Đường, Nxb Đà

N ang, 1998 Trong đó, Trần Đình sử có bài: Thời g ia n và không g ia n trong

th ơ Đường bên cạnh các bài v iết của N guvễn Khắc Phi và các tác giả Pháp,

16 H oàng Trinh, Phương Tây văn học và con người, Nxb Hội nhà ván,

1999 Trong phần 2 tác giả đã đề cập đến những vấn đề: “Thời gian trong

T iểu th u y ết Mói”; “Tìm hiểu trở lại Proust, Joyce, F aulkner” và “Kĩ th u ật thời gian khó mà đưa Tiểu th u yết hiện đại ra khỏi khủng hoảng hiện n ay”.

17 Đ ặng Thị H ạnh, Một vài gương m ặ t văn xuôi P h áp t h ế K ỷ XX, Nxb

Đà N ang, 2000 Cuốn sách chia làm hai phần chính: Giới th iệu , phê bình

và tuyển dịch tác phẩm , c ả hai phần đều có các bài n gh iên cứu và trích

dịch Proust Bài “80 năm sau khi tác phẩm v ề p h ía nhà ông S w a n n của

M arcel Proust ra đòi” bà đã v iết trong Tạp chí Văn học số chuyên đê v ề văn

học Pháp từ 1993 Có thê coi những bài v iết của bà v ề P roust cho đến lúc

n ày vẫn là hay và sâu nhất Phần cuối cùng có tên N goại đ ề là những bài

như ch ín h tác giả coi là những “thử bút” của một người ngh iên cửu văn học nước ngoài đôì với văn học trong nước N hưng người đọc đã không “th ất vọng" như lời đón trước của bà bởi ngọn nguồn lý luận và một sô’ điểm quy chiêu của văn học Pháp đã giúp tác giả có nhiều kiến giải sắc sảo v ề văn học trong nước.

18 N guyễn Thái Hòa, N h ữ ng vấn đề thi p h á p của truyện, Nxb Giáo

rlục, 2000 Tác phàm gồm bảy chương nghiên cứu vê hầu hết những vấn để

Trang 12

quan trọng của thi pháp Truyện như: truyện và chuyện khác nhau như thê nào; lời k ể và l(fi thoại trung Truyện-, không g ia n và đặc biệt, ở chương V

tác giả nghiên cứu, đúng hơn là giới thiệu về “Thòi gian như một nhân tí) cấu trúc nghệ thuật của Truvện” dựa trên lý th u y êt của G G enette trong

công trình nôi tiếng Figure III của nhà nghiên cứu này Đây là một công

trình “chỉ nhằm một mục đích h ết sức khiêm tôn: m iêu tả những k h ái niệm

cơ sỏ của Thi pháp học thể loại Truyện ỏ góc nh ìn ngôn ngữ học”, như lời tựa đầu sách của tác giả Tuy n h iên , có một sô th u ậ t ngữ dịch san g tiếng

V iệt có lẽ chưa ổn.

19 Phùng Văn Tửu, Tiểu th u yế t P háp bên thềm t h ế kỷ XXI, Nxb Tp

HCM, 2001 Tác phẩm rất phong phú v ề tư liệu các nhà văn và tác phẩm cùa Pháp hai thập niên cuối cùng của th ế kỉ XX Tuy không trực tiếp bàn

vê thời gian, nhưng tác giả có th u y ết minh rải rác đây đó v ề vấn đề này.

20 Phùng Văn Tửu, C ảm thụ và g iả n g d ạ y uăn học nước ngoài, Nxb

Giáo dục, 2002 Cuốn sách đề cập đến hầu h ết các tác phẩm được giảng dạy trong nh à trường phổ thông Trong phần “Khuôn viên tiểu th u yết và truyện

n g ắ n ” cũng như ở một vài chỗ khác tác giả có bàn v ề vấn đề thời gian.

Trên đây là tình h ìn h chung của các tác giả V iệt N am ngh iên cứu v ề vấn

đề thời gian và áp dụng nó để ngh iên cứu các nhà văn trong và ngoài nưâc

R iêng đôi với Proust, ở V iệt N am có thể do nh iều ngu yên nhân kh ách quan

và cả chủ quan (trong đó có lẽ có cả thói quen thưởng thức) mà tác giả này chưa được giới thiệu nhiều và rộng rãi v ề tác phẩm của Proust, ở ta mới có

tập Dưới bóng những cô g á i tuổi hoa được dịch giả N guyễn Trọng Định chuyên ngử sang tiên g V iệt th àn h hai tập do Nxb Văn học ấn hàn h năm

1992 Năm 1995, trong cuôn sách song ngữ Lịch sử văn học P háp t h ế kỷ XX, tập I, giáo sư Đặng Thị H ạnh đă giới thiệu và trích dịch một số đoạn trong

Về p h ía nhà ông S w an n và Dưới bủng các thiếu nữ đ a n g hoa Năm 2000,

trong Một vài gương m ặ t văn xuôi P háp thê kỷ X X bà lại tiếp tục giới thiệu

và dịch một sô đoạn đặc sắc của Đi tim thời gian đã m ấ t với các tiêu đề do

Trang 13

ngưòi dịch tự dật như: Mâu bánh mucleleine, N h ữ n g chuyên dạo chơi ở

Cornbray, Chản clung Albertine, c ỏ bún sữa trong chuyên đ i Balbec.

Trong phần Lịch sử vấn đè nàv luận án sẽ giới thiệu việc nghiên cứu

thời g ia n nói chung của các nhà ngh iên cứu về tác phẩm của Proust Trong

sô những công trình của nước ngoài đáng chú ý n h ấ t là các công trình của

G G en ette, J-Yves Tadié, G Poulet, J.K risteva, P.Ricoeur, G H Steel, W illy

H achez (Đôi vối riêng các tài liệu bằng tiến g Anh cùa W illy Hachaz và

G H S teel chúng tôi dành nhiều trang luận án để th u yết m inh cho công trình cùa hai ông vối mấv lý do như sau: a, tuv xoáy vào thời gian niên

biểu nhưng lại đặt liên hệ vói vấn đề Time nói chun g nên nó đề cập trực

tiếp tới vấn đề của luận án; b, cả hai ông đã điểm những công trình v iết v ề

thời gian trong Đi tìm thời g ia n đ ã m ấ t một cách tỉ mỉ, công phu Luận án

cần dựa vào vì thiêu tư liệu Còn các công trình khác luận án chỉ thu vết

m inh nhữ ng tác giả tiêu biểu có liên quan m ật th iết đến đề tài).

Dẫn theo thời gian xu ất bản để sau tên tác giả:

1 Trong “Niên biểu và tuổi của nhân v ật trong Đ i tìm thời g ia n đ ã m ấ t”

[3], H achez (1956) đã xuất ph át từ một vài sự kiện lịch sử quen thuộc n h ất

là Vụ D reyfus, cuộc chiến tranh 1914-1918, cuộc v iến g thăm của Sa hoàng

II vào th án g 10 năm 1896 đê tìm ra thời gian n iên biểu trong tác phẩm

của P roust Việc đọc một cách cẩn thận toàn bộ Đi tìm thời g ia n sẽ cho

phép ta lập ra được niên biểu của các biến cố đã được kê ra bởi Nkc, niên biểu đúng như nó có ở trong văn bản Nhờ vào niên biểu của văn bản mà tuổi của các nhân vật chính có thê được xác định Lợi ích của công việc này

là ở chỗ nó sẽ đem lại sự sáng sủa cho một vài trang sách của Proust nhất

là đôi vối nh ữ ng độc giả mói đọc Proust.

Vụ D reyfus hấp dẫn Proust và nó đã được ám chỉ nh iều lần trong Đi tìm thời g ia n , H achez đã x u ất phát từ “Vụ” này vào việc nghiên cứu của ông

Vụ việc đã bắt đầu chia rẽ V kiên của công chúng vào tháng G iêng 1898, tiêp sau bài báo của Zola, và thực sự kết thúc bàng việc kh uấy ctộng tâm trí

Trang 14

mọi người vào cuôi 1899.

Vụ Dreyfus đã được đê cập đên vào những ngày nghỉ đầu tiên của Nkc ở

B albec trong tập II của Dưới bỏng những cô g á i tuôi hoa N hững sự kiện đó

trôi qua trong năm 1898 Nkc đã đến bờ biển “trước ngày 15 thán g Tám” và

A im é “cô bảo tôi ràng D reyfus có tội đên nghìn lầ n ” Lúc này M arcel 17 tuổi A nh ta đeo mỏ neo trên áo và hấp dẫn C harlus Nkc ở Balbec “ba

th á n g ”, có lẽ là thán g Tám, th án g Chín và th án g Mười Trong P kía

G u erm a n tes, Nkc đã trở vê Paris và phải lòng nữ công tước de G uerm antes

“m ậc dù cha anh ta thấy con trai vẫn còn quá trẻ để bước vào đời” (anh ta mới chỉ có 17 tuổi) Vào năm 1899, Nkc cho biết Morel là “một anh bạn đẹp trai mười tám tu ổi”, Morel bằng tuổi Nkc Mùa hè nám 1899, người bà của

M arcel qua đời M ùa thu nám ấy M arcel gặp lại A lbertine và quan tâm đến

bà de Sterm aria trong suốt mùa đông 1899-1900 N ăm 1900, Nkc 19 tuổi đến dự cơm nhà nữ công tưốc de G uerm antes N h ìn chung, theo lời Nkc,

g iai đoạn này an h vẫn “bị cư xử như trẻ con” Sau bữa ăn, Nkc đã nói với ông de Charlus: “Thưa ông, tôi xin đầu h à n g bởi vì ông đã hơn tôi n h iều lần

tu ổi” (thực tế là hơn ba lần: 19 và 60) “K hoảng h ai thán g sau bữa cơm ở nhà nữ công tước de G uerm antes đó và trong kh i bà ta đang ở C annes”,

M arcel n h ận được lời mời đến nhà công chúa de G uerm antes Đ úng hôm

đó, M arcel gặp Sw ann ở nhà nữ công tưóc ô n g ta đang bị ốm và kh ẳng định rằng, theo lời bác sỹ, ông chỉ còn sôn g “ba hay bốn th án g nữa thôi” Sau kì ngh ỉ thứ hai ở Balbec bắt đầu là lễ Phục sin h 1901 và trong dịp này Nkc đã n h iều lần đến nhà Verdurin ở R aspelière Người kể chuyện qua mùa đông 1901-1902 ở Paris với A lbertine bị cầm tù ở chỗ anh ta Bắt đầu

vào Cô g á i bị cầm tù Nkc vẫn còn ám chỉ v ề Vụ Dreyfus: “Vụ đó đã kết thúc

từ lâ u , song h ai mươi năm sau người ta sẽ còn nói tới thê mà từ bấy mới chỉ

có hai năm ” Hai nám sau 1899 tức là 1901 Vào năm 1901 0 de C harlus quen de Morel, lúc này 20 tuổi, đang thực h iện nghĩa vụ quân sự ở Doncière

Có một câu ờ đầu của cuôn Cô g á i bị cầm từ chỉ ra rằng anh chàng đẹp trai

Trang 15

chới violon "không biêt rằng mình mới chì bàng một phần ba tuối của ngài nam tước” Nam tước đã gần 61 vào năm 1901 Xa hơn một chút, Nkc bóng gió vê chiếc nhẫn mà A lbertine nhận nhân dịp nàng 20 tuổi (1901).

“T háng G iêng” 1902, Nkc đến dự bữa tiệc tại nhà bà Verdurin do bà chuẩn bị vói mục đích quảng cáo More], không có A lbertine đi theo Anh

b iết được tin B ergotte chết và lại nói về cái chết của Sw ann (vào khoảng trước sau cuôi năm 1900).

Trong mùa xuân 1902, Albertine “biến mất”; năm này nàng đã trưởng

th àn h Nkc qua một mùa hè buồn bã Đến ngày lễ Các Thánh (1/11) Nkc gặp G ilberte mà không nhận ra nàng Bài viết cùa anh x u ất hiện trên tờ Le

Figaro vào thán g Mười Một.

Sang mùa xuân 1903, Nkc ở một vài tuần tại V enise, ở đó anh thấy bà

de V illep arisis, đã già đi “dưới sức nặng của năm th án g” (bà khoảng 79 tuổi), còn Ô de Norpois đã gần tám mươi “đang thổ lộ vối sự hăng h ái

m ang tín h lão suy thường có ở một vài cụ tuổi bát tu ần ” Trong k h i ở

V en ise trở v ề Nkc h ay tin việc đính hôn của G ilberte vối de Saint-Loup Trước kh i đi T an son ville, cuối mùa hè 1903, anh nghỉ lại Balbec (có vẻ không lâu), ỏ đó anh thấy Saint-Loup ngồi cạnh G ilberte “đã có m ang” Xa hơn một chút nữa, Nkc nói về Odette đang ở ngưỡng của tuổi năm mươi (điểu này hoàn toàn chính xác), nhưng lại thêm một cách mỉa mai rằng

ch ẳng một ai lại đảm bảo đó là ngưỡng của tuổi sáu mươi.

Nkc xu ất hiện trở lại Paris vào 1914 và 1916 như văn bản đã chỉ rõ Saint-L oup chết năm 1916.

Tác phẩm được k ết thúc một cách tinh tê vào cuộc vui buổi chiều của quận chúa de G uerm antes Ta có thể coi ngàv đó vào th án g Sáu 1920 Trong cái buổi chiều đó (theo giả thu yết của chúng tôi thì Nkc 39 tuổi) có một ai đó (chắc chắn còn trẻ) trong khi nói về Marcel đã thốt lên “Người cha kia k ìa” sau đó là tên của anh Nừ công tước de Guermantes đã quan sát Marcel thấy

■‘chàng lẽ ra đã ở cái tuối có các con trai ra trận được rồi” Tiện thể củng chỉ

Trang 16

ra răng bà của Nkc vào năm 1920 nêu còn đã trên 95 tuổi, Franọoise đã quá già chảng còn nhìn thấy gì, công tước de G uerm antes 83 tuổi Cuỏi cùng, vào cái buổi chiều đáng nhá đó, Nkc đã bị ngạc nhiên k h i nhìn thấy bên cạnh

G ilberte một thiêu nữ trẻ “khoảng độ 16 tuổi” là con gái của nàng (cô bé sinh

ra vào năm 1904 và 1920 cô đúng 16 tuổi).

Các nhà niên biểu học vê những sự kiện trong M ột mối tìn h của S w a n n

rất lúng túng khi th iết lập vì sư quy chiêu lịch sử đã quá rõ ràng Proust

đã tính đến sự cần thiết phải lùi giai đoạn Swann tìm kiếm O dette lạ i một chút Ông đã nói đến đám tang của Hugo (1885), và thay th ế nó bằng việc chôn cất Gambetta (1882) Lôgic của truyện kể và sự liên kết của nó đã dẫn đến việc cấp cho “môi tình” của Swann một thời hạn xa hơn (cuối 1880 đầu 1881) Ô.de Norpois cho biết, nâm sinh chính xác của G ilberte vào 1881.

N hùng kí ức tuổi thơ của Nkc không hề móc nối một sự kiện lịch sử nào Đám cưới của Swann có thể vào 1890 (bôn năm trưốc cái chết của Bá tước

de Paris vào 1894) và cuộc dạo chơi ở Vườn Thuần hoá của Nkc cùng với

Sw ann , O dette và Gilberte, chàng gặp công chúa M athilde, đã xảy ra trưốc

cuộc viến g thăm của Sa Hoàng N icolas II ở Viện P h ế binh (chỉ duy có một

thời hạn chắc chắn: tháng Mười năm 1896) H achez cho rằng k h ông nên nhầm lẫn N icolas vái vua Théodose (mà cuộc viếng th ăm là vào cuối 1895)

Cả hai vị quốc vương đều được dẫn ở đầu tập Dưới bóng những cô g á i tuôi

hoa, tập sách mà Proust đã có cơ hội để xem lại và điều ch ỉn h văn bản

N hững sự kiện tóm lược bên trên trong quá trình truyện kể nằm trong khoảng thời gian từ 1880 đến 1920 Xung quanh nh ữ ng năm 1900 (giữa

1895 và 1903) có rất nhiều sự kiện được Marcel gợi lại Nói tóm lạ i, Nkc ít hơn Proust mười tuổi Mặt khác, mỗi lần tác giả cấp tuổi cho một n h ân vật (ngay cả khi không trực tiếp), thì việc kiểm tra cẩn thận cũng chứng tỏ rằng sự chỉ dẫn đó hoàn toàn chính xác, và không bao giờ có sự m âu thuẫn với đoạn khác của tác phâm.

Đi tim thời gian đã m ất chứa dưng một sô chỗ “sai trật n gàv th án g”

Trang 17

không có gi là quan trọng Một vài sự “sai trật” đó hoặc là vê một vài nhân vật lịch sử (như Vua Edouard của nước Anh lên ngôi vào thán g G iêng nám

1901 chứ không phải vào năm 1900, Hoàng tử nước Bỉ lấy cháu của Hoàng hậu N ap les vào 1900 chứ không phải 1902 ); hoặc một sô vở kịch (như lần

biếu diễn đầu tiên vở Pélléas và M élisan de ở Nhà h á t kịch vào 30 tháng Tư

năm 1902 chứ không phải 1901).

H achez đã khảo sát rất tỉ mỉ năm sin h , năm m ất của các nhân vật Nhà

ván Proust hơn Nkc của ông mười tuổi H achez đã lấy Vụ D reyfus làm xu ất

phát điểm cho việc nghiên cứu của ông Tuổi của các n h ân v ậ t đã được phát hiện do những đường vòng: qua phát ngôn của một n h ân vật v ề một nhân vật, những sự kiện có th ật rải rác được nhắc đến, việc m iêu tả nhân vật (già, trẻ, có m an g ) rồi cái chết của các nh ân vật ứng vối những giai đoạn nào của M arcel-Nkc đã cho phép nhà n gh iên cứu tìm ra được hai bảng niên biểu về những sự kiện chính và tuổi của các nhân v ậ t trong bốn mươi năm (1880-1920) (Xem hai bảng A và B ỏ phần Phụ lục).

2 T adié (1971) chỉ ra ý thức rất m ạnh v ề thời gian thông qua nhân vật Người kể chuyện (Nkc) trong quá trình sán g tạo tiểu th u y ết ở Proust “Sự

sán g tạo tiểu th u yết của P roust dựa trên h ai h ìn h th á i cơ bản, cái tôi và

thòi gian ” [68, 293] Tadié đi tìm trong tác phẩm của P roust việc tổ chức

Thời g ia n (Temps) và Phi thời g ia n (Intem porel) và nh ững mối quan hệ

g iữ a k in h nghiệm sống và kin h nghiệm được kể, giữa thời g ia n của nhân uật và thời gian của người k ể chuyện Nhà n gh iên cứu đã tìm ra những cấp

độ thời gian khác nhau mà nhà văn thêm vào trên dòng chảy theo mạch thẳn g của thời gian biên niên: cấu trúc của thời gian, các h ìn h th ái thời gian, ngh ĩa là những quan hệ giữa quá khứ, hiện tại và tương la i và cách

mà Proust xử lí ở đây đế cuối cùng chỉ ra tín h thời gian trong sán g tạo của Proust Trong các chương X, XI, XII, Jean-Y ves T adié nói đến thời gian

(Thời gian; Thời gian vù n h ân vật; Thời g ia n và các s ự kiện) N hà nghiên

cứu dã chi ra môi quan hệ giửa nhân vật vói Thời gian: chúng không chỉ

Trang 18

chịu tác động của Thời gian mà còn “tượng trưng cho thời gian”: “Albertine

là nữ nhân vật có những mối liên hệ vối thời gian chặt chẽ nhất Thể chất nàng luôn biến đổi từ khoảnh khắc này san g khoảnh khắc khác; nàng được gấn liền với quá khứ, là “thuật sĩ đã giới th iệu cho tôi tấm gương của Thời

g ian ”, cũng như với tương lai “toàn bộ tương lai của một tồn tại đã mang lại cho tôi cái hình thái của phúng dụ và bất hạnh từ một người thiêu nữ” [68, 339], A lbertine còn gắn liền với cái “thoáng chốc”, giống như sự vụt qua của các thiêu nữ thoáng được nhìn thấy từ trong ôtô hoặc tàu hỏa.

3 G G enette (1972) tập trung nghiên cứu Proust chủ yếu trong công

trình H ìn h th á i III (“Figure III”) Hai tập H ìn h thúi trước cũng có nhưng

mỗi tập chỉ có một bài nghiên cứu v ề các vấn đề khác n h au ỏ' Proust Chỉ đến tập III G enette mới nghiên cứu kĩ lưỡng mọi vấn đề thời gian trong

sán g tác của nhà văn này G enette cho rằng ngh iên cứu diễn từ tự sự (discours narratií) cơ bản nhất là phải ngh iên cứu môi quan hệ giữa truyện

k ể (récit) và sự kiện (histoire), giữa truyện k ể v à việc k ể chuyện (narration),

giữa sự kiện và việc kể chuyện Trong tác phẩm này G en ette đề cập đến

những vấn đề lớn sau: Trật tự (ordre), Thời lư u (ị) (durée); Tần xu ất (frequence); Thức (mode) và T h ể (voix) Trong mỗi vấn đề trên lại được chia

thàn h những đề mục nhỏ.

4 Trong Nghiên cứu thời gian của con người (“Études sur le temps hu m ain ”)

ở tập I và tập IV, G eorges Poulet (1976) v iế t v ề nh iều tác giả (M ontaigne, Racine, R ousseau, Flaubert ) trong đó có Proust H ưống ngh iên cứu của Poulet chủ yếu đi vào k h ai thác về quan niệm , tư tưởng của các tác giả về

1 Durée: xuất phát từ khái niệm tn /c giác về độ lảu - hạt nhân trong học t.huyêt triết học của Bergson

Nhà triết học cho rằng: để vận động từ điểm A đến điểm B, để làm tan đường trong một cốc nước đểu

phải mất một khoảng thời gian nào đó và khoảng t.hời gian đó được hiên thị t.rên đồng hồ; nhưng thời lưu

cụ thê của các sự kiện đó lại rất khác nhau (rong ý thức của mỗi ngưòi “Mỗi vật, mỗi sự kiện đểu có nhịp

(liệu vế đỏ dài của nỏ, sự chậm rãi của nó như choc tức chúng ta Chắc chản chúng ta không thế tiêt kiêm

sự chù đợi, điểu đó du cho thấv độ lảu thực tế là “không thể giảm bót” Đôi với ai muôn hiếu thấu thê giới

í lon g hiện thực sâu xa của nó, thì không thể nào phù nhạn được thực tê ấy Độ lâu là cái nền của thực

thí* [99, ‘22-25], Trong lình vực ván học Cìenette nghiên l ứu các cấp độ của durée với các thủ pháp bât

d á n g thời, (amsochronie), văn tăt (sommaire), q u ả n g ngưng (pause), tin h lĩ/Ợc (ellipse), cảnh (scène) Môi

thu pháp trên là cá một vàn tie nghiên cứu về thòi gian trong nghệ thuật truyện kê Có nhieu cách dịch

thuật n^ử d u ré e : dọ là u trường dọ, thời lưu Luận án thông nhất cách dùng thời lưu.

Trang 19

thời gian Mở đầu bài viết về Proust, tác giả đã trích dẫn lời một nhân vật của nhà ván này: “H iện tại không bao giờ làm tôi thích thú, tương lai khiên tôi dửng dưng, đôi với tỏi chi có quá khứ là đẹp” và Poulet coi đó như chân dung con người của Proust khi mới hai mươi nhám tuổi Bò qua hai chiều thòi gian kia, Proust chỉ còn một chiều để lựa chọn, và “cái chiều ấy có tên gọi là quá khứ” Ông muôn chứng m inh qua tác phẩm của Proust rằng cái quá khứ của Proust (le passé proustien) “bắt đầu từ một sự vận động tâm lin h đến tận cùng cực điểm đôi nghịch” [51, 301],

5 Công trình của Steel (1979): “N iên biểu và thời gian trong Đi tìm thời

g ia n đ ã m ấ t” gợi mở rất nhiều vấn đề lý thú trong sán g tác của Proust

Cuốn sách cùa S teel bao gồm bảy chương: 1 N iên biểu và thời g ia n - Mở

đ ầ u ; 2 N iên biếu tức th ì bên tro n g ; 3 N iên biểu p h ổ biến bên n g o à i; 4 Niên biếu bẽn ngoài đặc biệt; 5 N iên biếu của Người k ể chuyện', 6 Hợp n h ấ t Niên biếu; 7 Thời g ia n p ro u stien Luận án không trình bày đầy đủ mà chỉ

giới hạn ở h ai chương 1 và 7 vì chúng vừa có tín h chất bao quát vừa có tính

cụ th ế với đề tài của lu ận án.

Tác giả đã đặt vấn đề về “Người đọc lý tưởng” đối vói bộ Đi tìm thời

g ia n của Proust kh i bản th ân tác phẩm đã gảy ra rất nhiều cách tiếp cận

trái ngược nhau Bardèche thiên về ngh iên cứu trực tiếp văn bản và bỏ qua

n h íỉn g dữ kiện xu n g quanh nó (đời tác giả, bối cảnh ra đời tác phẩm )-

S teel tỏ ra ngh i ngờ kh ả n ăn g khám phá chính bản thân tác phẩm của lối đọc này bởi lần đọc sau không thể như lần đọc đầu Một sô" tác giả khác như Percv Lubbock cho rằng “hìn h thức của một cuốn sách là đối tượng xác thưc duy nh ất của việc nghiên cứu”.

Trong phần “Các tác giả vê thời gian của Proust”, Steel đã điểm qua những

đóng góp chính của các tác giả như G.Poulet trong tác phẩm Nghiên cứu về thời

gian của con ngiẩĩi Tác giả cho rằng “Poulet đã tuân theo xung động đê củng

cò một ngữ cảnh bên ngoài, trong trường hợp đó một hệ thông các ý tưởng đã được gán cho Proust và chúng được mang lại nhờ ở việc sử dụng các vật liệu

Trang 20

thư từ trao đổi, một vài phần của tác phẩm, những lời phát biểu của Proust liên quan đến tiêu thuvết và Poulet đã hiểu là của tiểu thuyêt”.

Steel tiếp tục dẫn Curtius coi như một cái nhìn tương đồng với Poulet

về thời gian của Proust: “Khái niệm cứng nhắc vê thời gian mà chúng ta đặt cơ sở cho những tính toán của mình, trong nghệ th u ậ t của Proust, nó đã

bị ch ỉn h lí lại vê m ặt tâm lí cũng giông như trong học th u yết Bergson đã bị chỉnh lí vê mặt lôgic” [66, 6],

Steel dẫn Deleuze: “Thời gian chính nó đã thuộc về chuỗi” Đối vái Moss,

“cấu trúc của cuốn sách không thê cố tình theo trật tự niên biêu Đúng hơn, nó

là li tâm từ khi Proust tiếp cận thực tại từ quá khứ, hiện tại và tương lai”.

S teel nhắc tới M ein khi bà nói về những cô gắng của Proust mong muôn hoà giải thời gian bên trong và thời gian bên ngoài, còn Zeraffa đã nghĩ tới

nhân v ậ t chính - vai chính (protagonist) cùa Đi tim thời g ia n là “biêu hiện

một nhu cầu tự vệ chông lại cuộc sông tức thì và thời gian lịch biểu” Và một

ý kiến khác có tín h ch ất biếm họa về Proust trong cuốn M arcel P rou st kẻ đào

tâu h a y ghê tởm thời g ia n của E de R ochefoucault cũng được S teel dẫn ra:

“Tóm lạ i, M Proust bị tâm thần phân lập chỉ kiếm tìm lại thời gian - cái quá khứ đã bị phá huỷ - đê đào thoát khỏi thời gian hiện tạ i” S teel tiếp tục nhắc (tên Tadié, người cho rằng “Proust có một chủ định v ề giờ giấc hơn là mối bận tâm chính xác v ề sự vận h àn h của nó” và rằng “có những kí hiệu v ề thời gian còn đáng kể hơn ngày th án g” D entan nhấn m ạnh rằng thời gian lịch biểu là một cấu trúc có ý nghĩa thứ yếu: “Cấu trúc của truyện kể trước hết không phải được th iết lập trên sự k ế tiếp của các sự kiện, được tổ chức theo một lịch biểu làm thàn h bộ khung cho nó, cũng không phải một chuỗi những ứng xử và hành động liên kết vói nhau theo kiểu nhân quả” [66,7],

Theo Steel: “Cả hai nhà phê bình đều nhấn mạnh sự liên tục m ang tính chù quan của những đơn vị thời gian đáng chú ý trong truvện kể, còn Tadié lại cho thấy sự nô tu n g dữ dội của quá khứ là quan trọng như thê nào trong cảm giác vê thời gian được truyền tới ”.

Trang 21

“Rôt cuộc, thời gian là hiện tượng đã được xem xét chút ít và hiểu chút

ít trong cuộc sông hằng ngàv; nêu người ta tiên hành bàn luận về thời gian trong ván học mà không ít nhiều cô gấng xác định để hiểu thời gian của văn học là gì, thì sẽ có rất ít tiến bộ”.

Trong phần “N hững công việc chuẩn bị m ang tín h chất lí thu yêt đôi VỚI cuộc thảo luận về thòi gian trong tiểu th u v ết” S teel đã n gh iên cứu tỉ mỉ về

cuốn Figure III của G enette Các khái niệm cơ bản của G en ette được

th u v ết m inh như sau: (lời trong ngoặc đơn là cách dịch của người viết)

- N arration : “narration”, hành động sàn sinh ra truyện kể (Việc kể chuyện);

- Récit: “narrative”, bản thân văn bàn, cái biểu đạt (Truyện kể);

- H isto ire, h ay diagèse: “story”, hay “d ia g esis”, đối tượng của truyện

kế, cái hư cấu, cái được biểu đạt (Sự kiện h ay cốt truvện; chuyện).

S teel không tán thành lắm “thòi gian của việc đọc” (tem ps de lecture)

mà G en ette đề ngh ị N hà n gh iên cứu lấy một văn bản rất ngắn v ề “Con mèo hôm qua thứ h ai ngồi trên th ả m ” có lời kể của người kể chuyện mòi gọi độc giả cù n g tham gia điền sự kiện vào văn bản cùng anh ta ở các ngày

tiếp theo để phân biệt th ật rõ các vấn đề: văn bản, sự kiện, truyện kể, việc

k ế chuyện và s ự tiếp nhận, thời g ia n của người k ể chuyện, thời g ia n của người đọc, cúc lớp cảnh của người k ể chuyện, các lớp cảnh của người đọc, môi qu an hệ g iữ a người kê chuyện và người đọc.

Sang đến phần về “thời gian niên biểu” Steel đã khảo sát những tác giả đã bàn

về vấn đề này của Proust “Không cần phải góp thêm vào việc phân tích này nữa, các tác giả nghiên cứu vê cách dùng thời gian niên biểu của Proust đã không thế tránh được việc phải chấp nhận quan điểm này hoặc khác trong vấn đề có tính

chất quy ước về tình trạng của Đi tìm thời gian” [66, 24] Steel dẫn Hachez trong

một công trình đầu tiên của tác giả này vào năm 1956 “Sự tiếp tục hoàn hảo giữa nấc thang thời gian lịch sử và thời gian của sự kiện của tiểu thuyết dường như do luận điểm của ông về tính liên kết thời gian niên biểu đòi hỏi”.

Trang 22

Steel cho ràng trong một công trình khác sau đó của m ình, H achez đã

tự mâu thuẫn với cách chia nấc thòi gian của chính ông là chỉ mờ rộng đên thời điểm năm 1919 cho cái buổi chiêu cuôi cùng với Bà Verdurin nơi công chúa de G uerm antes “Bởi đương đầu với n h iều nám th án g lịch sử đã gợi ra việc chia nấc thời gian dẫn tới năm 1927 hoặc xung quanh đó, H achez đã

đê xu ất cách lí giải rằng có những điều không n h ất quán ấy là do: tính năng động của tác phẩm Proust, nghĩa là thông qua những chuyển hoá mà

nó phải chịu, n h ất là trong thòi gian chiến tranh 1914-1918”.

ổau này H achez đã từ bỏ kiểu thời gian theo quy ước lịch sử đó Steel tiếp tục điểm qua các công trình của J a u ss và Linn cùng với những quan điểm chính của họ vê thời gian niên biểu Cuối cùng S teel nhận định:

“Trong sô những nhà phê bình, những người đã nêu ra vấn đề thời gian niên biểu, Tadié và G enette đã rất tin cậy ở những ph át kiến của Hachez; song giá trị những công trình của họ lại nằm ở chỗ khác Năm 1958 Pam ela

H unsfort-Johnson chỉ còn ngh i hoặc trong phạm vi xác định tuổi th ật của nhân v ậ t của Proust nữa thôi Bà tỏ ra chấp nhận “sự th ậ t rằng thòi gian

niên biểu của Đi tìm thời g ia n đ ã m ấ t là “có mặt khắp nơi” cứ như thể tưóc

bỏ hết tầm quan trọng của chủ thể” Trong phần cốt yếu, kết luận này suốt

từ đó đã trở nên không th ể bác bỏ được” [66, 26].

S teel lập ra một sơ đồ trật tự sự xu ất h iện của các nhân vật, sự kiện

trong tác phẩm theo số thứ tự và bên cạnh đó tương ứng vối sô" tập và số

trang tác phẩm Đ i tìm thời g ia n theo N hà xu ất bàn và năm x u ấ t bản mà

Steel dùng đề n gh iên cứu c ả một số sự kiện không xu ất hiện trong tác phẩm cũng được S teel lập ra theo thứ tự A, B, c từ việc đôi chiếu với các sự kiện xa gần có liên quan để đi tìm một thời gian n iên biểu xác thực nh ất cho tác phẩm và từ đó ông đã lập ra một bản sơ đồ được vẽ ra trên cơ sở những khảo sá t (xem phần Phụ lục của luận án).

6 Paul Ricoeur (1984) khi bàn vê Đi tim thời gian đ ã m ấ t cho rằng phê

bình đương đại đã làm tiêu tán cái phần tư thuật ngụv trang của chính

Trang 23

Proust, nhà văn , và phần tự th u ật hư cấu của nhân vật, người xưng tôi

Theo Ricoeur, thời gian trong tiểu thuyết chỉ là hư cấu, không phải là thời gian lấy trong cuộc đời thực của nhà ván dẫu có những nét tương đồng giữa Marcel, n h ân vật-N k c với Proust-nhà ván “Cần phải hình dung hệ thống

tác phẩm của Đ i tìm thời g ia n theo cách một tỉnh lược mà một trong những tiêu điểm là đ i tỉm còn cái thứ h ai là th ă m viếng Lúc đó sự h ư cấu về thời

g ian là cái sá n g tạo nên mối quan hệ giữa h a i tiêu điểm của Đi tìm " [61,

248] (N h ữ n g chỗ in ngh iên g là do P.Ricoeur nhấn mạnh).

Ricoeur n gh iên cứu các trường đoạn, các giọng kể theo các th ì (tem ps),

thức (mode) để tìm ra thời g ia n đ ã m ấ t và thời g ia n tìm th ấ y lại.

7 Trong “N iên biểu của Đi tìm thời g ia n đ ã m ấ t và những sự kiện lịch

sử chắc ch ắn ” [9], H achez (1985) cho rằng buộc phải trở lại vấn đê thời gian

niên biểu trong Đ i tim thời g ia n bởi vì chúng ta thường xuyên khẳng định

sự tồn tại của nó, song hoặc theo hướng phủ định, hoặc theo hướng coi nó

là đôi tượng của những sự hiểu lầm gav gắt, Hai cuốn sách mới đây (vào

thời điểm H ach ez viết): Proust n h à tiểu th u y ế t của M ichel Raim ond (1984)

và Dưới bóng n h ữ n g cô g á i tuổi hoa - N gh iên cứu ph ê bình của Pierre-Louis

Rey (1984) chứng tỏ rằng vấn đề này thường xuyên được đặt ra đối với một vài nhà n g h iên cứu Sự khó kh ăn lớn đã gặp phải do n gu yên nhân là các tác giả khác n h au không nắm được cách tín h thời gian của Proust Cái bẫy lớn được g iă n g ra qua thời gian niên biểu Proust lại chính là sự dễ h iểu của câu nói v ề việc chuyển tiếp giữa cuộc sông ở Paris của Người kê chuyện và

kì nghỉ ở B albec Câu đó nguyên văn như sau: “Khi hai năm sau tôi đã đi với bà tôi đến B albec” Sự nhầm lẫn là ở chỗ tính hai lần 365 ngày Proust quan niệm rằng một phần của một năm này được thêm vào cho một phần của năm sau có lẽ đã được tính bằng hai năm

Vả chăng, rất thường khi các nhà ngh iên cứu Proust chỉ kiểm tra tuổi của Nkc mà lại bỏ qua tuổi của các nhân vật khác và nh ất là sự tồn tại của những sự k iện lịch sử chắc chắn Củng như vậv, không nên bô qua việc

Trang 24

Proust đã tuyên bô ràng cái tên của tiểu th u y êt của ông hay nh ât lại là 'Hai mươi năm sau” Chúng tôi cần phải lưu ý rằng niên biểu được lập nên

từ những biến cô liên tiếp nhau và một vài năm th án g của chúng đôi khi gần đúng hoặc được giả định.

Cuôi cùng, cũng không nên quên rằng Proust đã nhiều lần phát biểu quan niệm của ông về thời gian niên biểu Để dẫn ra đây hai bằng chứng bất kì:

Proust cho rằng Odette là một người bất chấp luât lê của niên biểu (III, 947)

và ông nói v ề “sự sai trật ngày tháng kinh khủng” (III, 1008) mà nữ công tước

de G uerm antes đã làm vào cuộc vui buổi chiều của công chúa de Guermantes trong lúc bắt đầu tình bạn vói Nkc một vài năm rất sốm trước kia.

Hachez cho rằng việc làm đó là cần thiết để tránh phải trình bày những lí

do bào chữa cho những năm sinh của các nhân vật sau đây: Người bà, bà

V illeparisis, de Norpois (vào khoảng năm 1820); bà quả phụ của de Cambremer, Franẹoise (vào khoảng 1830); công tước de Guerm antes (1836);

de Charlus (1839); nữ công tước de G uerm antes, Sw ann (1842); cha mẹ của Nkc (khoảng 1850); Legrandin (1850), Odette (1852); Saint-Loup (khoảng 1872); Bloch (1849); Người kể chuyện, Morel, Gilberte, MUe Vinteuil, Albertine, những cô gái ở Balbec (1880), Mu'd e Saint-Loup (1903).

N hững xem xét quan trọng dưới đây được H achez thực h iện chính xác theo niên biểu đã tóm tắ t để đưa ra những năm th án g của các sự kiện

ch ín h trong Đ i tìm thời g ia n (Xem bảng c của Phụ lục).

củng có nhữ ng vấn đề mà luận án sẽ tham khảo như: Đ iểm nhìn của Nkc,

trong đó có “Một ví dụ v ề tự th u ật hư cấu: Đi tìm thời g ia n đ ã mất" [59, 39]

và Thời g ia n bao gồm n h iều vấn đề mà G en ette đã nói đến, nhưng Rey đi

theo một hướng khác [59, 109], N hư tiêu đề của công trình, Rey đi sâu vào

nghiên cứu tiểu thu yết, trong đó có vấn đề thời gian: thời g ia n của truyện

kẻ, thời gian của tiêu thuyết, các vấn đê tỉnh lược, đón trước, q u a y ngược, vắn tãt tương tư của G enette R iêng vê vấn đê thời gian của Proust, Rev

Trang 25

có phần viết: Thời g ia n đ ã m ấ t ưà thời g ia n tim th ấ y lại của Proust [59,

112] Phần viết này của Rey có hơn hai trang, không thế nói được gì nhiều: ông đi tìm nguvên lí sán g tác của Proust hơn là chỉ ra thao tác của các loại thời gian trên “Cái “thời gian đã m ất” là cái quá khứ đã bị bóp vụn nơi mà

nh ân cách của chúng ta đã bị tan rã trong những kin h nghiệm khác nhau; cái “thời gian tìm thấy lại” là quá khứ đã được th iết lập lại, trong khi mang trả lại tín h đơn n h ất cho cá n h ân, nó sẽ đôi chiếu phong cách với cái tác phẩm mà nó m ang trong m ình” [59, 116].

9 Julia Kristeva (1994) đã đi tìm các cấp độ thời gian theo một hướng khác: cấu trúc của các hiện tượng, vật thể, cấu trúc ngữ nghĩa của câu, những dấu

hiệu tâm linh trong cuôn Thời gian cảm xúc (“Le temps sensible”) [33].

Luận án sẽ tiếp thu những lu ậ n điểm của các công trình trên, đồng thời

sẽ triển kh ai một sô" vấn đề trong môi liên quan vói phạm vi cùa đề tài Trong quá trình v iết lu ận án chúng tôi sẽ liên hệ tới những quan điểm, cách nhìn nhận về vấn đê nào đó, có đôi thoại để làm sán g tỏ những vấn đề

lu ậ n án nêu ra.

Những tác phẩm nghiên cứu của nước ngoài v ề Proust và những tác phẩm

có liên quan đến vấn đề thời gian và thi pháp tiểu thuyết nói chung trong phần Sách tham khảo của chúng tôi có tổng số là 138 đầu sách, tạp chí, từ

điển, trong đó 71 là của Pháp và một vài công trình quan trọng v ề thời gian

niên biểu bằng tiếng Anh Tuy chưa có trong tay th ật đầy đủ những công

trình của nước ngoài v ề Proust, song qua thư mục chọn lọc của Quid chúng

tôi nhận thấy còn khá nhiều các công trình khác nghiên cứu về kiến trúc, âm nhạc, hội họa hav nghiên cứu theo hướng phân tâm học hơi xa với đề tài Các công trình vê toàn bộ sáng tác của Proust hay chỉ riêng một hai tác phẩm

theo thông kê của Q uid có sô lượng là 108; các công trình xuất bản định kì

như Tạp chí, Bản tin hoặc các công trình tập thê vê Proust là 16 Trong tất cả các công trình trên không có công trình nào trùng lặp vối đề tài của luận án, tuy một sô công trình có đê cập đên vấn đê thời gian bên cạnh nhiêu vấn đe

Trang 26

khác như Ngư<h kẽ chuyện, khùng gian, tinh yêu, giứi tính, kiến trúc, từ vựng,

những hóa thản, cái vô thức, địa lí, kí hiệu, âm nhạc, hư(fn.g thơm ở Combray, học thuyết về hiện thực, cái hài, huyền thoại, nhại, bút pháp Chúng tôi kết

luận: vê mặt đê tài, chưa có một công trình nào ở Pháp, Anh cũng như ở Việt Nam trùng VỐI đề tài luận án đang tiến hành.

3 PHẠM VI ĐỂ TÀI:

Luận án tập trung khai thác ba kh ía cạnh vể thơi gian trong Đi tìm

then g ia n đả m ấ t của Proust:

- Thời g ia n niên biêu\

- Một sô thủ p h á p thời gian;

■ Thời g ia n qua cấp độ câu chữ.

Tác phẩm khảo sát: Proust, À la recherche d u tem ps p e r d u , Ed Robert

Laffont/Q uid, năm 1987, bao gồm ba tập lớn Tập I, 851 trang gồm hai

quyển D u côté de chez S w a n n (“V ề phía nhà Sw ann”) và À Vombre des

je u n e s fille s en fleurs (“Dưới bóng những cô gái tuổi hoa”), tập II, 981

trang, gồm hai quyển Le Côté de G u erm an tes (“Phía G uerm an tes”) và

S odom e và Gomorrhe (“Sodome và Gomorrhe”); tập III, 991 trang, gồm La

P rison nière (“Cô gái bị cầm tù”), La F ugitive (“Cô gái chạy trốn”) và Le Tem ps retrouvé (“Thòi gian tìm thấy lạ i”) Tất cả 7 quyển được kí hiệu theo

thứ tự từ tập 1 đến tập 7: c s , JF, CG, SG, LP, LF và TR Trong luận án, các trích dẫn tác phẩm xin được v iết trong ngoặc đơn kí h iệu trên của mỗi tập và sô trang của tập đó.

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Khảo sát văn bản, so sánh, đôi chiếu các tác phẩm của Proust v ề vấn đề thời gian, qua dó tìm hiểu: tiến độ thời gian, thao tác thời gian, các loại thời gian.

Luận văn sẽ áp dung đồng thời phương pháp xã hội học, nghiên cứu

Trang 27

tiểu sử và tiếp cận thi pháp học.

5 GIẢ THIẾT KHOA HỌC VÀ ĐÓNG GÓP:

5.1 Trình bày kĩ càng những công trình ngh iên cứu của các chuyên gia nước ngoài vê những cách tân đặc biệt của P roust qua vấn đề thời gian;

5.2 Tìm cách ứng dụng và ph át hiện riêng vê một sô' thủ pháp thời gian

của Proust trong Đi tìm thời g ia n đ ã m ấ t chưa được phát triển n h iều qua

các công trình trên;

5.3 Góp một cái nhìn từ góc độ Việt Nam vào vấn đề thời gian trong sáng

tác của Proust; đặc biệt về câu, chữ (Phân tích cấu trúc; ý nghĩa của các thì,

thức; số lượng câu dài trong toàn bộ Đi tìm thời gian, tỉ lệ giữa chúng, ý nghĩa

của việc làm đó; phát hiện phía “bên kia” của câu văn dài của Proust );

5.4 Những thu hoạch v ề vấn đề này cho việc giảng dạy và áp dụng vào nghiền cứu văn học trong nước;

5.5 Phần Phụ lục giới th iệu sơ bộ nội dung của toàn bộ Đi tìm thời gian

đã m ấ t của Proust với bạn đọc thông thường; giới th iệu một số sơ đồ của

các chuyên gia nước ngoài v ề tác phẩm Proust.

6 CẤU TRÚC: Luận án ngoài hai phần Mở đầu và Kết lu ận , gồm có ba chương và phần Phụ lục (các bảng thông kê, tóm tắt tác phẩm của Proust

do người v iết thực h iện , các bản sơ đồ của H achez và S teel v ề tuổi của các nhân vật, trật tự các sự kiện x u ấ t h iện trong tác phẩm , sơ đồ phân tích của J.K risteva )-

MỞ ĐẨU

C h ư ơ n g 1

T h ờ i g ia n n iê n b iể u 1.1 Khái niệm “thời gian của truyện kể”, “trật tự thòi gian” trong truyện

kê qua các nhà nghiên cứu về tác phẩm của Proust và của chính Proust.

Trang 28

1.2 Tim hiếu ỏ mỗi tác phẩm về thời gian niên biểu, thời sự xả hội, những thời điếm chủ chốt của các sự kiện, sô trang cụ thê của những vấn

đề trên;

1.3 Cấu trúc trật tự thời gian toàn bộ chuỗi tác phẩm.

Sau khi diêm các cách sắp xếp của một s ố nhà n gh iên cứu, giới thiệu:

- Tìm một trật tự thời gian niên biểu theo chủ quan của người viêt;

- Ý nghĩa của sự sắp xếp đó.

C h ư ơ n g 2

M ột sô th ủ p h á p t h ờ i g ia n

2.1 S ự sai tr ậ t ngày th á n g (anachronie);

2.2 Lôi quay ngược (an alep ses) và lối đón trước (prolepses) trong các tác

phẩm của Proust Thông kê và phân tích h iệu quả n gh ệ th u ật của chúng.

2.3 Các vấn đề tỉnh lược (ellipses), vắn tắ t (sommaire), quãng ngưng

(pause).

- Ý nghĩa của nh ữ ng thủ pháp nghệ th u ậ t trên;

- Thủ pháp nghệ th u ậ t nào được Proust sử dụng n h iều nh ất, tại sao?

C h ư ơ n g 3

T h ờ i g ia n q u a c ấ p đ ộ c â u c h ữ 3.1 Trong chương này luận án sẽ đi sâu vào phân tích thời gian ở cấp

độ câu, chữ Luận án sẽ chọn ra một vài đoạn điển hìn h để đi tìm những

mốc thời gian (repères tem porels) quan trọng được sử dụng ở đó Thông kê

sô từ loại này so vối tương quan tỉ lệ số lượng từ trong cả đoạn ván.

3.2 Các thời (tem ps) và các thức (mode) được sử dụng đê kể chuyện trong đoạn văn trích dẫn Bao nhiêu động từ thuộc các thời, thức đó? Thông

kê ti lệ giữa chúng Y ngh ĩa và hiệu quả nghệ th u ật của chúng So sán h với

Trang 29

(lộng từ trong tiêng Việt.

3.3 Vai trò của một sô loại câu và loại từ trong ván của Proust Câu dài tiêu biêu, các câu mở đầu và kết thúc (kèm theo nguyên bản).

3.3.1 Thông kê và xem xét tỉ lệ Từ đó rút ra hiệu quả về thời gian từ các vấn đề: hình ảnh so sánh, các ẩn dụ, các cấu trúc cáu đơn, câu phức

3.3.2 Sự thể h iện thời gian qua câu, chữ;

3.3.3 Cách h iểu và dịch Proust qua các thì, thức của động từ;

3.3.4 H iệu quả nghệ th u ật của môt sô' loại câu tiêu biểu đã trích dẫn (dài, ngắn, đơn, phức).

KẾT LUẬN Nêu tầm quan trọng của vấn đề thòi gian trong sáng tác của Proust, từ

đó luận án tìm h iểu đặc trưng cơ bản của nghệ th u ật Proust N hững thủ pháp cơ bản mà nh à văn sử dụng cùng những ý nghĩa và hiệu quả của chúng Làm rõ tầm quan trọng của thòi gian trong văn xuôi h iện đại Gợi mở một vài ý kiến cho ngh iên cứu, giảng dạv và dịch Proust trong tương lai.

Trang 30

CHƯƠNG 1

THỜI GIAN NIÊN BIÊU

N h iệm vụ của chương này là:

1- Trước hết, luận án tìm h iểu nội hàm kh ái niệm thời g ia n của truyện

kê (tem ps du récit); sau đó, tìm hiểu vấn đề tr ậ t tự thời g ia n (ordre) đã

được các nhà nghiên cứu chỉ ra trong Đi tìm thời g ia n đ ã m ấ t ; bản thân

Pi oust quan niệm ra sao v ề vấn đề tr ậ t tự thời gia n trong truyện kể;

2- Tìm hiểu ở mỗi tác phẩm trật tự thời gian niên biêu (chronologie), thời

sự xã hội, những thời điểm chủ chốt, (số trang và bảng thông kê cụ thể); đây

là cơ sở để có thể tìm ra sự sai tr ậ t ngày th á n g (ở chương sau) thông qua trật

tự niên biếu của các sự kiện được tác giả bô" trí trong tác phẩm;

3- Cấu trúc thòi gian của toàn bộ chuỗi tác phẩm theo niên biêu.

Sau khi điểm các cách sắp xếp của một số nhà nghiên cứu, luận án giới thiệu:

- Một trật tự thời gian niên biểu mà theo người viết thấy hợp lý nhất;

- Ý nghĩa của việc sắp xếp đó.

1.1 T h ờ i g ia n : Thòi gian là một vấn đề quan trọng trong sáng tạo

ngh ệ th u ậ t như trong phần lời Mở đ ầ u luận án đã trình bày Thìỉi g ia n của

truyện k ể và các vấn đê liên quan đến nó đă được các nhà nghiên cứu đề

cập đẽn trong nhiều công trình của họ.

1.1.1 T h ờ i g ia n c ủ a t r u y ệ n kể:

Trước khi đi vào tìm hiểu tr ậ t tự thời gian trong truyện kể, luận án đi

tìm một k h ái niệm lớn hơn, đó là “thời gian của truyện kể”.

Trang 31

Trong từ điển La littératu re frangaise de A à z , mục từ tem p o ra lité cho biết: Từ nguvên bắt nguồn từ tiếng Latinh: tem p o ra lita s, -tatis, nghĩa là

thời lưu hạn đ ịn h (durée lim itée) Tem poralité được định nghĩa là: “các

phương thức ghi nhận vê thòi gian trong tất cả mọi truyện k ể(2> (tồn tại ở

đầu, ở giữa và ở kết thúc), c ầ n phải phân biệt thời g ia n h ư cấu (tem ps de

la fiction), thời gian diễn ra trên sự tôn trọng hoặc từ chối thời gian niên

biểu của các biến cố được kể, với thời g ia n của việc k ể chuyện (tem ps de la

narration), bao gổm sô các dòng, các trang, các chương được sử dụng cho việc kề lại các biến cố trên Sự phối hợp hai loại thời gian trên sản sin h ra

h iệu quả về nhịp” [34, 430],

Sở dĩ luận án phải nhắc đến định nghĩa này, vì, trước hết, cách h iểu về

thời g ia n của việc k ể chuyện ở đây có khác vối cách hiểu của các nhà nghiên

cứu, trong đó có Gérard G enette Thời g ia n của việc k ể chuyện theo định nghĩa của từ điển trên thực chất là thời gian ván bản (tem ps du texte)

N hĩìng luận giải bên dưói về các thể thức của tính thời, g ia n trong truyện

kê càng k h ẳng định điều trên: thời g ia n của việc k ể chuyện trùng với thời

g ian h ư cấu (khi câu chuyện bắt chước hiện thực); thĩìỉ g ia n của việc k ể chuyện ngắn hơn thời g ia n hư cấu (gọi là tỉnh lược - ellip ses) và cuối cùng, thời g ia n của việc k ể chuyện dài hơn thời g ia n h ư cấu (các thủ pháp ngoái lại, độc thoại nội tâm , những bình luận ngoại đề kh iến cho dòng chảy cùa

* Do luận 'in nghiên cứu vể tiểu thuyết nên thuật, ngữ “truyện kể” cũng xin được vắn tắt minh định

Trong công trình mang tên Tiêu thuyếtí, Pierre-Louis Rey đả mượn lại cách định nghĩa của G enette trong

Figure III để phân biệt th u ật ngữ này:

“ truyện kê (récit) với nghĩa sát sao nhất., đó là “cái biểu đạt, cái được phát biểu, diễn từ hoặc chính bản

thán vãn bản tự s ự ’;

- chuyện, s ự kiện, côi truyện (histoire), đó là “cái được biểu đạt hoặc nội dung của tự sự”;

- việc kê chuyện (narration), đó là chính hành động kể chuvện;

Key đã lấv nghía đầu tiên trong ba định nghía ve truyện kê trên đàv của Genet.te đê áp dụng vào

nghiên cứu tiểu thuyết [59, 109).

Quan niộm ve récit của G enette và sau đó của Rev, một mặt nào đó, có lẽ cũng (lúng như cách nhìn nhận vê tru yện kê của R Barthes như một thể loại hết sức rộng lớn, bao trùm lên mọi hình thức kê

chuyện, nó được “bắt đầu vổi chính lịch sử nhân loại ” [4, 7].

Tuy nhiên, đó là những định nghĩa có tính chất, rộng nhất cho thuật ngữ này Key đà lưu ý rằng: ‘T ừ

ba nghĩa này của từ truyện kể, vẫn cần phải phân biệt truyện kê như một thể loại tự sự, thường khó phần biệt theo nghĩa sát sao nhất với tiêu thuyết” [59, 109] B(°fi vậv, Rev mới dành một chương riêng đổ tìm

h i ế u XCMT1 ‘C á c t i ế u t h u y ê t k ê c á i £ Ì ” [ O p c i t 1 3 1 )

Từ (ỉn chúng tôi coi thời g ia n của truyện kè không phài là chính thời g ia n của tiêu thuyết, mà chỉ là

cách hiên một cách tông quan nhất về vấn để thill gian trong nghệ thuật, ké chuyện.

Trang 32

tru yện kê chậm lại).

Như vậy, mặc dù cách gọi khác, nhưng từ điển văn học này cũng cho

th ấy một khái niệm hết sức cơ bản vê thin gian của truyện kỏ là bao gồm

h a i loại: loại thời gian do sự “hư cấu” của tác giả (trùng, ngấn hơn hoặc dài hơn so với độ dài thời gian “có thực” của các biên cố) và loại thời gian văn bản (sô trang tác phẩm).

Theo một cách gọi khác, trong công trình Figure III, G enette đả dẫn lạx

lời của C hristian M etz v ề h ai loại thời gian cơ bản trên: “Truyện kể là một lớp h a i lần thời gian : có thời gian của cái điều-được kể và thời gian cùa tru yện kê (thời gian của cái được biểu đạt và thời gian của cái biểu đạt)

T ính nhị nguyên này không phải chỉ là cái mang lạ i toàn bộ những độ lệch

có thể có thuộc v ề thời gian, mà th ật vô vị khi chỉ ra những điều đó trong các tru vện kể (ba năm của cuộc đời nhân vật được tóm gọn trong hai câu

trong một cuốn tiểu th u yết, hoặc một vài sơ đồ lắp ráp “xảy lặp” ở điện

ảnh, vân vân); sâu sắc hơn, nó cho chúng ta nhận ra rằng một trong những chức n ăn g của truyện kê là đúc một thời gian trong một thời gian khác”

[23, 77].

G en ette lưu ý rằng các nhà ngh iên cứu Đức đã nh ấn m ạnh v ề tín h nhị

ngu vên của thời gian và họ đã đôi lập thời g ia n của s ự kiện (tem ps de

rh istoire) với thời g ia n của truyện k ể (tem ps du récit) Tính chất nhị

n gu yên này theo G enette, là n ét đặc thù không chỉ của riêng truyện kể phim ảnh, mà củng còn là của truyện kể m iệng (sự ngâm tụng anh hùng

ca, việc kể chuyện trên sân khấu); song tín h nhị n gu yên này ít thích hđp vói các dạng khác như “tiểu th u y ết-ả n h ” hoặc truvện tran h (hoặc các hình

vẽ trên kính màu, trên thảm vê hoàng h ậu M athilde, chẳng hạn) Đó chỉ là những lớp hìn h ảnh bắt buộc phải đọc liên tục hoặc theo lịch đại hoặc theo dồng đại hoặc chỉ cần lướt qua một vài h ìn h ảnh mà không đòi hỏi phải đi lần lượt Truyện kể có tính chất văn học cũng giông như phim truvện hoặc

truyện kê m iệng, nó chi được “tiêu th ụ ” trong một thời gian đó chính là thời

Trang 33

gian của việc đọc (tem ps de la lecture) lần lượt từ đầu đên cuôi văn bản.

G en ette nhấn m ạnh đến thiìi gian của việc đọc bởi đặc trưng của văn

bản truyện kê là: “như mọi văn bản khác, nó không có tính thời gian nào khác ngoài tính thời gian mà nó vav mượn, một cách hoán dụ, cho chính việc đọc nó” [23, 78],

Theo G enette, thời g ia n của truyện k ể giống như kiểu giả-th ời gian (pseudc-tem p s) G en ette đi sâu vào nghiên cúu những môi liên hệ giữa thời

g ia n của sự kiện với (giả-) thời g ia n của truyện kể.

N hư vậy, thời g ia n của truyện k ể ờ các nhà ngh iên cứu Đức mà G enette dẫn ra = với giả -th ờ i g ia n của G enette = thời g ia n h ư cấu của từ điển [34,

430]: loại thời gian quan trọng n h ất trong việc ngh iên cứu nghệ th u ật về

thời gian Còn loại thứ hai: thời g ia n của việc k ể chuyện (từ điển [34, 430])

= thời g ia n sự kiện (G enette và các nhà nghiên cứu Đức).

Xung quanh nội hàm của vấn đê thời g ia n của truyện kể, chúng tôi đã

tham k h ảo nhxìng công trình của một số tác giả lốn và nhận thấy:

- T ất cả các tác già ngh iên cứu đều thông nhất ở chỗ đối lập thời g ia n

của tru yện kê với thời g ia n của cốt truyện (sự kiện);

- Cơ sở để k h ản g định điều trên đây là ở chỗ: cùng là hai nội dung tương

tự về thời gian, nh ư ng mỗi người đều có cách gọi riêng và hướng nghiên cứu riêng Đê cho ngắn gọn, dưới đây chúng tôi dẫn ra các cách gọi đó:

+ C hristian Metz: erzahlte Z e it và Erzahltezeit, G en ette dịch là tem ps

de la chose-racontée và tem ps du récit (thời gian của cái điều-được kể và

thời gian của truvện kể) hoặc tem p s de Ưhistoire và p se u d o -te m p s du récit (thời gian của cốt truyện (sự kiện) và giả-th ời g ia n của truyện kể [23,77];

+Jean Rousset: Temps và Intem porel (Thời gian và Phi thòi gian)

[68, 295];

+ J.Y-Tadié thấy rằng: “trong phạm vi sụp đổ của tiểu th u yêt-n iên

Trang 34

biểu (Chiến tra n h vù Hoủ binh) đã bị tan rã vẫn còn thấy những vạt,

nh ữ ng trường đoạn được ghi ngàv tháng được đánh dấu rõ rệt: thời gian

m ộng mơ được xếp chồng lên thời gian m ang tính lịch sử”; nhà nghiên cứu

kh ông gọi th ẳn g ra thời gian của truyện kê là gi, nhưng ông nghiên cứu rất

kĩ v ề các biến th ái thời gian; những biểu hiện thời g ia n niên biêu bên trong

và thời g ia n niên biểu bên ngoài; cấu trúc thời gian, các h ìn h th ái thuộc về

thời gian (tức là nh ữ ng môi quan hệ giữa quá khứ, h iện tại, tương la i vối việc m iêu tả chún g trong tác phẩm); những ứng xử thời gian và bản chất

cùa tín h thời g ia n trong sáng tác của Proust [68, 293].

N hư vậy, dù không định ngh ĩa cụ thê v ề thời g ia n của truyện kể, nhưng

cách tiến h àn h của Tadié vẫn cho thấy, thậm chí còn rõ rệt hơn ở các nhà

n gh iên cứu khác, v ề hai loại: thời g ia n của việc k ể chuyện và thời g ia n của

cúc s ự kiện-đưực kể.

+ Paul Ricoeur trong Thời gian và truyện k ể cũng dẫn lạ i Gunther

Miiller (có lẽ cùng với C hristian M etz), người đã đưa ra th u ậ t ngữ erzahlte

Z eit và E rzah ltezeit, nhưng ông không “đi tìm trong bản thân phát ngôn

một n gu yên lí bên trong về sự khác biệt vô'n đã được ghi nhận trong việc phân chia thời gian của động từ, mà đi tìm trong sự sắp xếp một nguyên

tắc mới cho sự diễn giải về thòi gian trong truyện kể hư cấu giữa cái trình

bà y và cái được trìn h bày" Ông đã phân ra ba cấp độ: cái p h á t ngôn - cái đưực p h á t ngôn - t h ế giới của văn bản ứng với thời g ia n của việc kể, thời

g ia n đưực k ể v à th ử nghiệm h ư cấu của thời g ia n (tem ps d u raconter, tem ps raconté và experience fictive du tem ps) tức là nói về sự k ết hợp / tách rời

giữa thời gian được sắp đặt cho việc kê và thời gian được kể P.Ricoeur cho ràng cả G G enette cả Gunther Muller đều không ứng dụng chính xác ba cấp

độ này: người thứ n h ấ t phân biệt không rõ ràng giữa cấp độ thứ hai và thứ

ba, còn người thứ h ai đã thải loại cấp độ ba nhân danh cấp độ hai [61, 143],

N hư vậy, Ricoeur vẫn không ra khỏi hai dạng cơ bản của thời gian truyện

k ê và còn thêm cái thứ ba.

Trang 35

+ Còng trinh Tiểu thuyết của Pierre-Louis Rey còn dẫn thêm quan niệm

vê thời gian của truyện kê và thời g ia n của tiếu thu yết Trong chương Th(fi

g ia n , sau khi phân biệt thuật ngữ truyện kể, P-L.Rey cho rằng: “Đa phần

những chỉ dẫn được trình bày trong chương này [chương v ề thời gian] có giá trị đối với toàn bộ các thê loại tự sự, nhưng đặc biệt là cho tiểu thuyết, VỚI lí do độ dài của nó thường được phân biệt vói độ dài của truyện ngắn hoặc của truyện dân gian, và vi lí do thể loại của nó mà tín h thời gian phức tạp hdn so vối tính thời gian của các loại hồi kí hoặc tự th u ật N hà tiểu

th u v ết, thực ra, đã tổ chức nên một cầu chuyện hư cấu, th ay vì anh ta chỉ

kê lại các biến cổ' [59, 109] Rey đi vào n gh iên cứu đ ẳ n g thời (isochronie),

tỉn h lược (ellipse), Ưắn tắ t (som m aire), q u a y ngược (an alep ses), đón trước

(prolepses), mồi nhử (amorces) - tức là nhà vân cho một nhân vật xu ất hiện

rất thoáng qua ở phần đầu, rồi biến m ất để m ãi sau này mối quay trở lại hoạt động, nói năng thực sự với tư cách là một n h ân vật.

Tóm lại, vấn đê thời g ia n truyện k ể được tất cả các nhà n gh iên cứu trên,

các cách gọi có thê khác nhau, có thê vấn đê tìm h iểu không hoàn toàn như nhau, song đều thông nhất v ề h ai loại thời gian cơ bản, có th ể gọi cho gọn

là: thời g ia n k ể chuyện và thời g ia n của sự kiện-đưực kể.

T rậ t tự thời gian (xin được thông n h ất cách gọi như vậy của tr ậ t tự thời

g ian trong truyện kê, vì chính các nhà nghiên cứu phương Tâv cũng chỉ gọi

gọn là: tr ậ t tự - ordre) được hiểu như là trật tự sắp xếp các sự kiện trong

truyện theo niên biếu Trật tự nàv nằm trong môi liên quan giữa hai cấp

độ lớn về nghệ thuật xử lí thời gian, đó là: thời gian của việc kê chuyên và

Trang 36

thời gian của sự kiện đưực kể.

- Trong Figure III, G enette đã nghiên cứu Trật tự thời g ia n trên cơ sở:

“nh ữ n g môi quan hệ giữa trật tự thời gian tiếp diễn của các biên cô trong câu chuvện (d iég èse(3>) và trật tự giả-thời gian của sự sắp xêp của chúng trong truyện kể” [23,78], H iểu một cách giản dị hơn, mối liên hệ giữa trật

tự x u ấ t hiện các sự kiện trong văn bản với trật tự thời gian mà tác giả bô trí: vào truvện, có thể là cái chết của nhân vật, sau đó mới là “sự sống” của anh ta trong quá khứ được kể lại Nhà n gh iên cứu phải đi tìm đặc trưng

tr ậ t tự thời gian của một nhà văn cụ thể để tìm ra nghệ th u ậ t của anh ta.

G en ette đã rất chú trọng đến thời g ia n của việc đọc theo trật tự lần lượt văn bản truyện kể, tức là tr ậ t tự thời g ia n v ề mặt vật chất, bên ngoài Còn

tr ậ t tự thời g ia n có tính chất nghệ thu ật, bên trong, là môi quan h ệ giữa sự

xu ấ t hiện lần lượt của các biến cô và việc sắp xếp chúng trong truyện kể

G en ette quan n iệm tr ậ t tự thời g ia n chủ yếu là ở thòi gian m ang tính nghệ

th u ậ t bên trong của truyện: có h a i loại trật tự thời gian lớn là tr ậ t tự thòi

g ia n của của các s ự kiện (biến cố) và tr ậ t tự thời g ia n của việc sắ p xếp chúng Từ nội hàm của những k h ái niệm trên chúng tôi thấy rằng G enette

cực kì chú trọng đến sự sai tr ậ t ngày thúng (anachronie) và có thể coi nó là

một chiếc tủ lón có nh iều ngăn chứa những vấn đề còn lại; nó bao trùm lên

tất thảy Bỏi vì mỗi vấn để trong năm vấn đề (thực chất là sáu vì tầ m và

biên đ ộ G en ette đưa vào một mục) đều chỉ là một kiểu của sự sai tr ậ t ngày thúng: sau, trưóc, trong, ngoài, xa, gần xoay quanh trục phân tích trên cơ

sở cấp độ cú pháp (syntaxe) về một sự kiện nào đó trên trục thòi gian của truyện G en ette gọi đó là phân tích “vi-cấu trúc” (m icro-structure); còn

3 Thuật, ngử diégèae được G enette hiểu như sau: ‘T rong cách dùng phổ biến, diégèse là thê giói không-t-hời

gian được chi ra qua truyện kể; trong hệ thông thuật ngữ của chúng ta, với nghĩa chung nhất, nỏ là cái có

liòn quan hoặc thuộc vể câu chuyện” [23, 280] G enette cũng coi dỉégèse = h isto ire đủng theo cách hiếu của Steel như luận án vừa trình bày bên trên trong phần L ịch s ử vấn đề Trong cuốn La littéra tu re

ra một truvện kể, hoặc còn cho phần của một phát ngôn mà phát ngôn đó làm sáng tỏ những sự chuyển bièn liên tục của tình th ế đà được trình bàv Trong một tác phẩm văn học diégèse là “câu chuyện” (1’histoiro) được kể, nghĩa là truyện kể về những biến cố đả được xem xét kì càng trong sự vận dộng của chúng, và nỏ đôi lập với m im esis (“bat chưỏc” trong tiếng Hilạp), kiêu truyện kê tìm cách đưa đên ảo mộng về hiện thực ’ [34,138].

Trang 37

phân tích theo thời gian của những đoạn, chưđng lón bám sá t vào cuộc đời Nkc từ lúc mới sinh ra cho đến sau này và cả sự ngoái lại thời gian trước

lúc ra đời của anh ta theo trật tự niên biểu với s ự sai tr ậ t trong việc sắp xếp các biến cô đó trong toàn bộ Đi tim thời g ia n được G enette gọi là “vĩ- cấu trúc” (m acro-structure) Nhà ngh iên cứu đưa ra một sơ đồ vĩ-cảu trúc gồm 10 đoạn (segm ent) của tập đầu v ề p h ía nhà S w a n n như sau:

A5 [B2] C5 [D5’ (E2’)l F5 [G l] H5 [14] [J3

Các con sô chỉ tr ậ t tự thời g ia n lịch biêu và các chữ cái chỉ trật tự xuất

h iện các sự kiện trong văn bản Mở đầu tác phẩm là một quá khứ gần n h ất đôi với thời điểm Nkc th u ật lạ i đời m ình và những người, những sự kiện xung quanh.

- Trong các công trình trực tiếp ngh iên cứu v ề Proust, có lẽ cuốn Thời

g ia n cảm xúc (“Le tem ps sen sib le”) của Ju lia K risteva có một kiểu phức tạp

và thú vị riêng Bà đi tìm các cấp độ trật tự thòi gian theo một hướng khác: cấu trúc của các hiện tượng, v ậ t thể, những dấu h iệu tâm lin h Trong “Đi tìm chiếc bánh m ad elein e” K risteva cho rằng dẫu chưa h ề bao giờ đọc Proust th ì “m ẩu bánh nhỏ” m ad elein e vẫn m ang lạ i cho độc giả như nó đã

từ n g m ang lạ i cho Proust cái cảm giác “ngon làn h , loạn lu ân , nh ạt nhẽo,

•được tan loãng trong tách trà, song đã tổng hợp được tấ t cả những nơi chốn

c ủ a Combray” [33, 13] Và “đứa trẻ thơ trong P roust đã là người trưởng Ithành đang nhớ về việc nó đã yêu bằng đôi môi của m ình đối với những con mgười và nh ữ n g nơi chôn mà những ham muôn người lốn của nó giả vò như

k h ôn g có gì quan trọng Câu chuvện trôi qua trong tám nhịp (temps)” [33, 14]

T á m nh ịp đó được điểm lần lượt là: 1, chẳng có g ỉ ngoài m ột “vạt sáng”; 2,

ngư ời chết hoá thân; 3, ngẫu nhiên cho tôi được thưởng thức chiếc bánh rnadeleine; 4, loạn luân và im lặng, sự biến m ấ t cúi tên của hai người đàn

b ù ; 5, m ột niềm khoái lạc không rõ nguyên nhân; 6, h am muôn và thấy đưực; 7, m ột sự thay t h ế là m ổn đ ịn h niềm sôi động Cô Léonie hơn cả mẹ

T h ê quăn binh lời báng bô; 8, kỉ niệm là m ột trà n g ân d ụ về không gian.

Trang 38

K n steva nghiên cứu theo chiều dọc toàn bộ tác phẩm của Proust vê một

hiện tượng, chẳng hạn vệt sá n g trong phòng ngủ “Đôi với thực tê, ta sẽ ghi nhận rằng v ạ t sá n g nàv có từ A u teuil (ở gia đình của ông cậu) mà không

phải từ Illiers (gia đình Proust-Amiot) Bị auên đi n h anh chóng, bị tan ra

trong tách trà với mẩu m adeleine, v ạ t sú ng sẽ hồi sin h dưới hình thái xúc động trong Cô g á i bị cầm tù " [33, 14].

K risteva đi tìm tr â t tự thời g ia n trong sán g tác cùa Proust thông qua

các sự kiện cơ bản, chủ chốt mà không hoàn toàn theo kiểu niên biểu của

H achez hoặc S teel.

K risteva cũng tiến h àn h phân tích k iểu “vĩ-cấu trúc” của G enette, tức

là nhìn tổng quan theo chiều dọc toàn bộ Đi tìm thời g ia n những trường đoạn lớn Tuy nh iên , nội dung vấn đề trậ t tự thời g ia n ở J.K risteva lại khác

hẳn: bà đi tìm cấu trúc các v ậ t thể, hiện tượng, những dấu hiệu tâm linh.

- T rậ t tự thời g ia n của H achez đã được luận án trình bày lại rất kĩ ở

trong phần Lịch s ử vấn đ ề bên trên qua h ai công trìn h [8] và [9], Xin được

lưu ý thêm một chút xung quanh cách tiên h àn h của H achez.

Hachez đã cho thấy: nhà van Proust hơn Nkc M arcel của ông mười tuổi

H achez đã lấy Vụ D reyfus làm x u ất phát điểm cho việc n gh iên cứu của ông

Tuổi của các n h ân v ậ t đã được ph át hiện do những đường vòng: qua phát ngôn của một nhân v ậ t v ề một nhân vật, nh ữ n g sự kiện có th ật rải rác được nhắc đến, việc m iêu tả nhân v ậ t (già, trẻ, có m an g rồi cái chết) ứng vối những giai đoạn nào của M arcel-Nkc đã cho phép nhà ngh iên cứu tìm ra được hai bảng niên biểu về những sự kiện chính và tuổi của các nhân vật trong bốn mươi năm (1880-1920) (Xem h ai bảng A và B ở phần Phụ lục)

H achez thực hiện chính xác theo niên biểu đã tóm tắt để đưa ra những

nám tháng của các sự kiện ch ín h trong Đi tìm thời g ia n (Xem bảng c của

Phụ lục).

Như vậy, H achez đã đi tìm trật tự thời gian trong tác phẩm của Proust

Trang 39

thông qua niên biểu về tuổi của các nhân v ậ t và các sự kiện lịch sử có thật, Hướng ngh iên cứu này cho thấy, một mặt, tuổi của các thê hệ nhân vật; mặt khác, trình tự diễn biến trước sau của các sự kiện diễn ra trong tác

phẩm N hững sự k iện có th ật (xung quanh Vụ Dreyfus ) là những mốc thòi

gian cốt truyện không thể chối cãi được H achez triển kh ai ngh iên cứu trật

tự thời gian trên cơ sở những chỉ dẫn cụ th ể v ề năm thán g (“H ai năm sa u ”), những đối thoại của các nhân v ậ t vối nhau v ề sự kiện lịch sử nào đó (Vua Theodore viến g thăm , D reyfus, v ề tuổi tác )- Và như vậy, vô h ìn h chung,

chính H achez cũng vẫn phải đi lại con đường thời g ia n của truyện kê của

các nhà n gh iên cứu trưốc ông, nhà nghiên cứu vẫn phải tháo dỡ văn bản để

sắp xếp lại những sa i tr ậ t ngày th á n g mà Proust đã cố tìn h tạo ra.

So sán h giữa G en ette và H achez, chúng tôi thấy có một sô sự khác nhau ở h ai nhà n gh iên cứu này là:

1 trong khi G en ette đi sâu vào ngh iên cứu sự sai trật trên cơ sở củ

p h á p so vối trật tự các n h ân vật, sự kiện theo trục thẳn g của truyện k ể để

tìm ra n iên biểu, thì H achez dựa chủ yếu vào sự th ậ t lịch s ử để từ đó tìm

ra sự tương ứng vối tuổi của các nhân vật và đi từ năm th án g cụ thể để chỉ

ra chúng ứng vói nh ữ ng tập, trang nào;

2 ch ín h vì lẽ đó, sự khác b iệt thứ hai giữa họ là ở chỗ: cả h ai cùng đưa

ra những h ìn h thức tr ậ t tự thời g ia n trong tác phẩm của Proust, nhưng

G en ette cho ta b iết sự sa i trật trước khi biết đến niên biểu, còn H achez làm ngược lạ i Tuy n h iên , cách làm tỉ mỉ của H achez tạo cho người đọc theo dõi truyện kể của Proust dễ dàng hơn.

- Trong công trình: “N iên biểu và thời gian trong Đi tìm thời g ia n đ ã

m ủ t", S teel cũng đi tìm niên biểu sau khi đã làm “lịch sử vấn đ ể ’ của

những người đi trước, ông đi tìm trật tự theo hướng sự x u ấ t hiện các sự kiện trong tác phẩm: năm sin h, năm mất, có mang, cưối, tang theo trình

tư Gõ sự kiện Khác với H achez, S teel không đi tìm tuổi và các sự kiện có thật trong tác phẩm của Proust đê từ đó đã tìm ra trật tự niên biểu của

Trang 40

truyện kể, mà ông sắp xếp trình tự sự kiện.

Trong T rậ t tự thỉti g ia n của mình, S teel cũng vẫn phải chỉ ra sự sai trậ t

ngày thúng và sắp xếp lại chúng như các nhà ngh iên cứu khác, chỉ có mục

đích tìm kiếm của ông là khác: ông tìm ra thời gian lịch biểu trên cơ sở của

sự kiện gắn với các mốc thrti gian của lời Nkc.

S teel đã chia làm h ai cột (Phụ lục I): t r ậ t tự x u ấ t hiện các nhân v ậ t và

sự kiện chính tr o n s cốt tru yện, bên cạnh đó là phần tham khảo sỏ tập và số

trang tác phẩm Tất cà là 65 tiêu đề các ch i tiết và nhân v ậ t lần lượt xuất hiện từ tập đầu đến tập cuối cùng B ảng thốn g kê này chỉ th u ần tuý cho biết các sự kiện và nh ân v ậ t x u ấ t h iện để dễ tra cứu và dễ nắm được tác phẩm của P roust mà không chỉ ra trật tự thời gian m ang tín h n gh ệ thu ật

N hưng đây là nh ữ ng sự k iện và những hoạt động thực sự nổi trội, quan trọng của nhân vật.

Sau bảng này là một bảng (Phụ lục II) v ề N h ữ n g sự kiện không x u ấ t

hiện trong tru yện được đánh theo sô" thứ tự từ A đến I (9 nhân vật) cũng đi

tìí tập đầu tiên cho đến tập cuối cùng.

S teel đả vẽ nên một S ơ đ ồ của tru yện k ể h ế t sức phức tạp, n h ằn g n h ịt

giống như kiến trúc của một toà lâu đài dựa trên sự ra đời, k ết hôn, ch ế t của 9 nhân v ậ t theo thứ tự từ A đến I ở trên.

Nếu như P hụ lục I là thứ tự x u ấ t h iện các n h ân v ậ t và sự kiện là từ trang đầu cho đến cuối tác phẩm , thì ở Phụ lục (bản vẽ) lạ i là sự xu ất h iện

theo th ứ tự niên biểu: bắt đầu trên nóc đỉnh của “toà lâu đài tác phẩm ” này

là chân dung “O dette năm 1882” và k ết thúc (mục 65) là “Nkc vén những tàm màn của tiểu th u y ết lên ”, tức là vào khoảng trước sau 1920 là lúc Proust đã đặt dấu chấm h ết cho tác phẩm của m ình.

Do tiến h àn h khảo sá t trật tự theo thời gian niên biểu nên S teel đã

phải đảo lộn toàn bộ Đi tim thời g ia n x u ấ t phát từ năm sinh, năm mất,

cưới, có m ang, chết của các nhân v ậ t để dựng lại một trật tự thời gian từ

Ngày đăng: 27/03/2015, 11:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. ALBARET Celeste (1973), M onsieur Proust, Robert Laffont Sách, tạp chí
Tiêu đề: M onsieur Proust
Tác giả: ALBARET Celeste
Năm: 1973
2. AUERBACH Erich (1968), Mimesis, La representation de la réalité dans la littẻra tu re Occidentale, Gallimard Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mimesis, La representation de la réalité dans la littẻra tu re Occidentale
Tác giả: AUERBACH Erich
Năm: 1968
3. BACHELARD Gaston (1949), La psychanalyse du feu, Gallimard Sách, tạp chí
Tiêu đề: La psychanalyse du feu
Tác giả: BACHELARD Gaston
Năm: 1949
4. BARTHES R, Kayser w , Booth w .c , Hamon Ph. (1977), Poétique du récit, Ed. du Seuil Sách, tạp chí
Tiêu đề: Poétique du récit
Tác giả: BARTHES R, Kayser w , Booth w .c , Hamon Ph
Năm: 1977
5. BLANCHOT Maurice (1955), L'Espace littéraire, Gallimard Sách, tạp chí
Tiêu đề: L'Espace littéraire
Tác giả: BLANCHOT Maurice
Năm: 1955
6. BOISDEFFRE Pierre de (1974), Metamorphose de la littérature, Marabout université Sách, tạp chí
Tiêu đề: Metamorphose de la littérature
Tác giả: BOISDEFFRE Pierre de
Năm: 1974
7. BONHOMME Beatrice (1996), Le roman au XXe siècle, de Proust au N ouveau rom an, Ed. Ellipses/M akerting s.A Sách, tạp chí
Tiêu đề: Le roman au XXe siècle, de Proust au N ouveau rom an
Tác giả: BONHOMME Beatrice
Năm: 1996
8. BULLETIN (1956), La chronologie et 1’âge des personnages de À la recherche du temps perdu, de Willy Hachez, No 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: La chronologie et 1’âge des personnages de
Tác giả: BULLETIN
Năm: 1956
10. CHARTIER Pierre (1990), Introduction auxgrandes theories du Roman , Bordas Sách, tạp chí
Tiêu đề: Introduction auxgrandes theories du Roman
Tác giả: CHARTIER Pierre
Năm: 1990
11. CITATI Pietro (1997), La culombe poignardée, Gallimard Sách, tạp chí
Tiêu đề: La culombe poignardée
Tác giả: CITATI Pietro
Năm: 1997
12. CURTIS Jean-Louis (1975), Question a la littérature, Ed. J’ai lu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Question a la littérature
Tác giả: CURTIS Jean-Louis
Năm: 1975
13. DUCROT Oswald / TODOROV Tzvetan (1972), Dwtionnaire encyclopédique des sciences du langage, Ed. Du Seuil Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dwtionnaire encyclopédique des sciences du langage
Tác giả: DUCROT Oswald / TODOROV Tzvetan
Năm: 1972
14. DELEUZE Giles (1964), Proust at les Signes, PUF / Perspectives, Critiques Sách, tạp chí
Tiêu đề: Proust at les Signes
Tác giả: DELEUZE Giles
Năm: 1964
15. DICTIONNAIRE L A R O U S S E M U L T Ỉ M É D I A ENCYCLOPÉDIQUE (1996), CD Sách, tạp chí
Tiêu đề: L A R O U S S E M U L T Ỉ M É D I A
Tác giả: DICTIONNAIRE L A R O U S S E M U L T Ỉ M É D I A ENCYCLOPÉDIQUE
Năm: 1996
16. DICTIONNAIRE DE LA LITTÉRATURE FRANQA1SE DU XX*ME SIÈCLE (2000), Encyclopedia Universalis, Albin Michel, Preface dfe Bertrand Poừot-Delpech Sách, tạp chí
Tiêu đề: DICTIONNAIRE DE LA LITTÉRATURE FRANQA1SE DU XX*ME SIÈCLE
Tác giả: DICTIONNAIRE DE LA LITTÉRATURE FRANQA1SE DU XX*ME SIÈCLE
Năm: 2000
17. ECO Umberto (1988), La structure absente, Mercure de France Sách, tạp chí
Tiêu đề: La structure absente
Tác giả: ECO Umberto
Năm: 1988
18. EUROPE (1970), Centenaire de Marcel Proust, Aót-Septembre Sách, tạp chí
Tiêu đề: Centenaire de Marcel Proust
Tác giả: EUROPE
Năm: 1970
20. GENETTE Gérard (1991), Fiction et diction, Seuil Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fiction et diction
Tác giả: GENETTE Gérard
Năm: 1991
21. GENETTE Gérard (1966), Figures I, Seuil Sách, tạp chí
Tiêu đề: Figures I
Tác giả: GENETTE Gérard
Năm: 1966
22. GENETTE Gérard (1969), Figures II, Seuil Sách, tạp chí
Tiêu đề: Figures II
Tác giả: GENETTE Gérard
Nhà XB: Seuil
Năm: 1969

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm