Trong đó, sự xâm nhập cua các TNC vào các nước đang phát triển DPT, thông qua các hoạt động chính là đầu tư, thương mại và chuyển giao công nghệ, đặc biệt là đầu tư trực tiep nươc ngoài
Trang 1PHẠM HỔNG TIÊN
ĐẶC ĐIỂM MỞI TRONG HOẠT ĐỘNG DẤU Tư QUỐC TÊ CỦA CÁC CỔNG TY XUYÊN QUỐC GIA
VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT N A M
Chu,'én ngành : Kinh tê Chính trị XHCN
Trang 2Chưoìig 1: T ổ N G QUAN CHƯNG VỀ CÁC CÔNG TY XUYÊN 8
1.2.1 Động cơ thúc đẩy hoạt động đẩu tư quốc tế của các TNC 22
Trang 32.4.2 Các hình thức và lĩnh vực đầu tư 89
Chương III HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯCỦA CÁC TNC Ở VIỆT 95
N A M VÀ M ỘT SỐ GỢI Ý ĐỊNH HƯỚNG CHÍNH SÁCH
3.1 Hoạt động đầu tư của các TNC tại Việt Nam 95
3.1.2 Tác động từ hoạt động đầu tư của các TNC đối với nền kinh tế 101
3.2 Một sỏ gợi V nhằm náng cao hiệu quả thu hút và sử dụng 114 vốn đầu tư của các TNC ở Việt Nam thời gian tới
3.2.3 Một số hướng giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả thu hút và 128
sử dụng vốn đầu tư của các TNC
3.2.3.1 Một số hướng giải pháp liên quan đến các xu thế phát triển 128của mỏi trường kinh doanh quốc tế
3.2.3.2 Một số hướng giải pháp liên quan đến môi trườns kinh 133doanh trong nước
3.2.3.3 Một số hướng giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt độns đầu tư của 138các TNC
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC C H Ữ VIẾT TẮT
Tiêng Anh
ASEAN Free Trade AreaAPEC Hợp lác kinh tê châu Á - Thái Binh Duơng
Asia - Pacific Economic Gxjperadon
A SE AN Hiệp hội các quốc gia Đỏng Nam Á
Association of Southeast Asian Nations
Industrialization
Developing Countries
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Foreign Direct InvestmentFPI Đầu tư gián tiếp nước ngoài
Foreign Poforlio Investment
Gross Domestic Product
Modernization
International Monetary Fund
United Nations
M & A Thôn tính và sáp nhập
Merger and Acquisition
Most Favored Nation StatusNICs Các nước cong nghiệp hoá mới
Newly Industrialized CountriesOECD Tô chức Hợp tác và Phát triển kinh tê
United Nations Conference on
World BankWTO Tổ chức thương mai thế giới
World Trade Organization
Trang 5Việt Nam so với các nước trong khu vưc 121
Phụ lục 1 Thời gian mở cửa các ngành và dành đối xử tối huê
quốc cho các nhà đầu tư ASEAN
146
Phụ lục 2 Báo cáo đánh giá về môi trường kinh doanh 2005
Phụ lục 3 10 địa chỉ đầu tư ưa thích của các TNC trong
Phụ lục 4 Các chỉ số về khả năng đổi mới tiếp nhận chuyển
Phụ lục 5 10 TNC lớn nhât thê giới trons 6 ngành dich vu
Trang 6A Sự CẨN THIẾT CỦA ĐỂ TÀI
Những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ cùng với
sự chấm dứt chiến tranh lạnh vào đầu những năm 1990 đã làm bộc lộ mạnh
mẽ xu thê toàn cầu hoá mà trước hết là toàn cầu hoá vể kinh tế Đây là hệ quả tất yếu của tiên trình hội nhập quốc tế liên tục của các chủ thể kinh tế lớn nhỏ VỚI vật dân là quá trình chuyên môn hoá và phân cổng lao động sâu rộng tronơ từng khâu nhỏ nhất của hoạt động tái sản xuất Quá trình này dẫn đến sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu sắc giữa các nước trong quan hệ kinh tế quốc tế dưới tác động đổng thời các tác nhân: quốc gia khu vực, các tổ chức kinh tế quốc tế và các tập đoàn xuyên quốc gia (TNC)
Cũng trong quá trình này, các TNC đã không ngừng biến đổi để thích ứng với trật tự kinh tế quốc tế mới Với tư cách là chủ thể, là kết cấu tổ chức của nén sản xuất th ế giới hiện đại, các TNC đã trở thành lực lượng đóng vai trò chủ đạo trong việc hình thành kết cấu mạng kinh tế toàn cầu, là kênh chủ yêu để thực hiện trao đổi ihương mại và đầu tư quốc tế, là lực lượng nòng cốt trong việc phân phối các nguồn lực, trong chuyển giao khoa học và cống nghệ giữa các nước Ngày nay, sự phát triển của bất kỳ quốc gia nào cũng đều chịu
sự chi phối ở những mức độ khác nhau bởi các TNC Trong đó, sự xâm nhập cua các TNC vào các nước đang phát triển (DPT), thông qua các hoạt động chính là đầu tư, thương mại và chuyển giao công nghệ, đặc biệt là đầu tư trực tiep nươc ngoài (FDI), không chỉ góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hương tích cực, mà còn là chât xúc tác đê đẩy nhanh tiến trình hội nhập quốc tế của các nước nói trên
Trang 7khắng định thêm mối gắn kết giữa các nền kinh tế trong trào lưu nhất thể hoánền kinh tế thế giới Trong đó, các TNC vừa là tác nhân, vừa là hệ quả trực tiếp của quá trình này.
Tại Việt Nam sau gần 20 năm đổi mới, với việc thực thi chính sách mởcửa, khuyến khích đầu tư nước ngoài, thừa nhận vai trò của mọi thành phầnkinh tê trong phát triển, chúng ta đã tạo lập được môi trườns kinh tế vĩ móthuận lợi để thu hút hoạt động của các TNC Với hơn 80 TNC thuộc nhóm 500cong t> hang đâu thê giới đang hoạt động trên cả 3 miền của đất nước c h ú n ơ
ta đã thu hút được một lượng FDI lớn tạo đà cho quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế theo hướng công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH), đây cũng làkênh quan trọng để hàng hoá Việt Nam tiếp cận VỚI thị trường thế giới Tuynhiên, trong quá trình tiếp nhận và triển khai các dự án đầu tư trực tiếp nướcngoài, do hạn chê về hiểu biết và kinh nghiệm nên chính sách của chúng tabên cạnh những ưu điểm đáng kể, cũng đã bộc lộ nhiều bất cập, gây lãng phívôn làm cho hiệu quả đầu tư không cao, thậm chí một số trường hợp còn oáy
ánh hưởng xâu tới môi trường đầu tư Do vậy, việc lựa chọn để tài: “Đ ặc điểm
mới trong hoạt động đầu tư quốc té của các công tv xuyên quốc gia và gợi
V chính sách cho Việt N am ” là hết sức cần thiết Việc nghiên cứu để tài
không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn, vì nó giúp chúns
ta hiểu rõ hơn xu hướng vận động, cũng như vai trò quan trọng đặc biệt tronơhoạt động đầu tư của các TNC đối với sự phát triển kinh tế thế giới nói chung
và Việt Nam nói riêng, giúp đề xuất được những gợi ý định hướng chính sáchphù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn quan trọng này trong công cuộc CNH, HĐH đất nước
Trang 8B„ TỈNH HỈNH NGHIÊN cứ u
Từ trước đẻn nay đã có rất nhiểu học giả nước ngoài và Việt Nam nghiên cứu công ty xuyên quốc gia dưới các giác độ khác nhau Về đại thể, có thể chia các nghiên cứu đó thành 3 loại chính: 1) Các công trình lấy TNC là đối tượna nghiên cứu chính; 2) Các công trình nghiên cứu gắn TNC với một hay một số lĩnh vực hoạt động kinh tế hay một quốc gia và khu vực nhất định; 3) Các côn* trình nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản (CNTB), trong đó TNC được xem là côn"
cụ đê CNTB điểu chỉnh chiên lược hoạt động sản xuất và kinh doanh
Trong các công trình thuộc nhóm thứ nhất, trước hết phải kể đến tác
phấm của Lê Vãn Sang - Trần Quang Lâm (1996): Các công ty xuyên quốc gia
trước ngưỡng cửa của th ể kỷ XXI; Mikhaili Simai (2000): Vai trò và ảnh hưởng
của các công ty xuyên quốc gia trong các bước chuyển dịch toàn cấu ở cuối
th ế kỷ AX Nguyễn Thiết San (2004): Các công ty xuyên quốc gia.
Nhìn chung, các nghiên cứu trên đã góp phần làm sáng tỏ được nguồngóc hình thành, các hình thức tồn tại phổ biến, các mô hình tổ chức và chiếnlược thị trường của các TNC và vai trò của chúng đối với tiến trình phát triểnchung của nền kinh tế thế giới Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứuthuộc nhóm này chưa lưu ý thoả đáng tới những ảnh hưởng của TNC đối với môi trường xã hội
Nhom công trình thứ hai phải kể đèn là nghiên cứu của Robert E Lipsey
(2001): Đầu tư trực tiếp nước ngoài và hoạt động của các hãng đa quốc gia -
khái niệm, lịch sử và d ữ liệu; Axèle Giroud (2002): Các công ty xuyên quốc
gia, công nghệ và p h á t triển kinh t ế - các mối liên kết ngược và chuyển giao
công nghệ ở Đỏng N am Á; các báo cáo hàng năm về' tình hình đầu tư th ế giới
của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) nhất là trong các năm từ 2000 - 2003 Các nghiên cứu này mang khuynh hướng kinh
Trang 9tẽ học, chủ yêu tập trung vào khía cạnh lợi nhuận, hiệu quả kinh tế và nhữno thay đỏi trong cơ cáu tổ chức của các TNC, nhưng chưa làm rõ được vai trò của TNC đối vói quá trình toàn cầu hoá tư bản và những tác động của chúng đen nhưng thay đôi vê kinh tê - xã hội đang diễn ra trên th ế giới Một sô nghien cưu do dựa trên cách tiép cận khác nhau về nguồn gốc sở hữu về lĩnh vạrc sản xuât, kinh doanh và quy mồ hoạt động nên đã sử dụng các thuật nơữ khác nhau như: công ty quốc tế, công ty đa quốc gia, công ty đa nội địa, công
ty toàn cầu, công ty xuyên quốc gia hoặc doanh nghiệp quốc tế, doanh nghiệp toan cau (corporation/enterprise/íĩrm) để chỉ về loại hình cồng ty có hoạt độnơ
kinh doanh ở quy mồ thế giới.
Nhóm thứ ba, gồm các công trình nghiên cứu của Lê Văn Sang - Đào Lẻ
M inh - Trần Quang Lâm (1995): Chủ nghĩa tư bản hiện đại: Lê Văn Sans (2000): Vê những mâu thuẫn và thống nhất giữa các nước rư bàn lớìì trên th ế
gỉơỉ hiện nay xà xu hướng p h á t triển quan hệ đó, chính sách của chúng ta' Đỗ
Lộc Diệp (2003): Chủ nghĩa tư bản ngày nay - M áu thuẫn nội tại, xu thế, triển
vọng Các công trình này trong khi thừa nhận vị trí trung tâm của các TNC
trong viẹc phan tích hệ thông tư bản toàn cầu, coi TNC như là con đẻ của nển sản xuất tư bản chủ nghĩa và là công cụ để các nước tư bản phát triển kiểm soat nen kinh tê thê giới và thúc đẩy toàn cầu hoá tư bản độc quyền thì lại bỏ qua sự xuất hiện của các TNC đến từ các nước DPT, do đó không lột tả được đay đu ban chát cua TNC, cùng mối quan hộ tuỳ thuộc giữa các quốc gia tronơ boi canh toan câu hoá kinh tê và sự bùng nổ của cuôc cách m ạ n2 khoa hoc - công nghệ
Trong khi kê thừa một cách có hệ thống và lôgíc các kết quả nghiên cứu
đã có từ trước, luận văn về đề tài: "'Đặc điểm m ới trong hoạt động đầu tư quốc
t ế của các công ty xuyên quốc gia và gợi ý chính sách cho V iệt N a m ” , sẽ phân
tích hoạt động đẩu tư của các TNC trong “bức tranh” tổng thể của nền kinh tế
Trang 10gọi làm rõ đặc trưng và động cơ dẫn đến hoạt động đầu tư chung của TNC ápdụng két hợp nhiều phương pháp nghiên cứu trong nhận định về TNC và cung cấp thông tin mới.
c MỤC ĐÍCH NGHIÊN cứ u
Luạn văn se tập trung làm sáng tỏ 2 ván đề chính sau:
Thứ nhất, phân tích và làm rõ những đặc điểm mới trons hoạt độno đầu
tư quốc tê của TNC từ 1990 đên hết 2003: hướng chuyển dịch, lĩnh vực đầu tư quan tâm, các hình thức đẩu tư chủ yếu'
7 h ú hen, thông qua việc đánh giá tác động trong hoạt đ ộ n2 đẩu tư quốc tế của các TNC đối với nển kinh tế th ế giới nói chung và Việt N am nói riêng để
nêu ra một số gợi ý định hướng chính sách cho việc tiếp nhận và sử đụnơ
hiệu quá nguồn vốn quan trọng này cho công cuộc xây dựng đất nước ;
D ĐỒI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN cứ u
Hoạt đọng đâu tư quôc tê của các TNC thường được thể hiện dưới hai hình thức chính là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) Nhưng do hạn chế về thời gian nghiên cứu và xuất phát từ thực tế tiếp nhận vốn nước ngoài của các nước DPT trong đó có Việt Nam, phần lớn
là dưới hình thức FDI Nên đối tượng nghiên cứu chính trong hoạt động đầu tư quốc tế của các TNC mà luận văn đề cập chủ yếu là FDI
Do chi tập trung nghiên cứu và phân tích nhữns đặc điểm mới trong hoạt động đầu tư quốc tế của các TNC, nên phạm vi nshiên cứu của luận vãn sẽ
được giới hạn trong thời gian từ 1990 đến hết 2003.
Trang 11công ty hàngđầu thẻ giới đểu thuộc ba trung tâm kinh tế chính: M ỹ, N hật Bản
vờ EU, nén việc nghiên cứu cũng sẽ chủ yếu tập trung tìm hiểu hoạt động đầu
tư trực tiêp nước ngoài của các TNC tại 3 trung tâm trên; cộng với yêu cầu nảy
sinh từ thực tiễn của Việt Nam, nên các T N C đến từ các nước và vùng lãnh
th ổ công nghiệp hoá mới châu Á (NICs) cũng sẽ được xem xét.
Đ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứ u
Trong luận văn ngoài các phương pháp cơ bản được sử dụng trong việcnghiên cứu các đề tài khoa học xã hội nói chung, cũng như kinh tế học nóiriêng như: các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, trừu tượnghoá khoa học, tác giả còn sử dụng các phương pháp thống ké, phân tích tổnghợp nhăm tìm ra những cứ liệu minh họa cho các luận điểm và dự đoán triển vọng cho bước phát triển tiếp theo
Luận văn cũng sẽ áp dụng phương pháp nghiên cứu so sánh để tìm ra ca những điểm chung và những nét đặc thù cho từng lĩnh vực hoạt động, cũng như mối liên hệ giữa chúng
Hệ thông bảng, biểu, đổ thị, hình vẽ sẽ là công cụ để minh hoạ thèm vấn
đề nghiên cứu mà luận văn sẽ trình bày
E Dự KIÊN NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VẨN
Trong khuôn khổ của một luận vãn cao học chuyên neành Kinh t ế Chính
trị Xã hội chủ nghĩa, tác giả mong sẽ có những đóng góp chủ yếu sau:
M ột là, làm rõ những đặc điểm mới trong hoại đ ộ n ẹ đầu tư, nhất là FDI
của các TNC, dưới tác động của quá trình tri thức hoá và toàn cầu hoá nền kinh
tẽ thê giới mà trong đó TNC vừa là tác nhán gây ảnh hưởng, \ìra là đối tượnơ chịu ảnh hưởng;
Trang 12Hai la, đê xuât một sỏ gc/i V đinh hướng chính sách nhầm náng cao hiệu
quả sử dụng vốn đầu tư của các TNC tại Việt Nam
G BỐ CỤC NỘI DUNG CỦA LUẬN VĂN
Ngoai các phân mở đầu, két luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn 2ồm 3 chương
Chương 1: Tong quan chung vê các công ĩx xuxẻn quốc gia
C h ư ơ n g 2: Đ ặc điểm mới trong hoạt động đầu tư quốc t ế của các T N C
C h ư ơ n g 3: H oạt động đáu tư của các T N C ở \ lệt N am và m ột sô qợị V
định hướng chính sách
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN CHUNG VỀ CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA
1.1 CỒNG TY X UYÊN Q U Ố C GIA LÀ GÌ?
1.1.1 Nguồn gốc
Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và cô n s nghệ và làn sóng toàn cẩu hoá kinh tế các TNC - hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh quốc tế chủ yếu trên thế giới ngày nay - đã và đans thể hiện vai trò dẫn dắt nển kinh tế toàn cầu trong nhiều lĩnh vực sản xuất T rons tiến trình nhất thể hoá nền kinh
tế thê giới, khi sự phụ thuộc vé kinh tế giữa các quốc gia và khu vực ngàv càng tăng, thì vai trò của các TNC lại càng được thể hiện rõ nét hơn v ề lịch
sử, TNC là hình thức phát triển cao của ch ế độ xí nghiệp tư bản, nó thể hiện quá trình vận động và phát triển khách quan của hình thức tổ chức sản xuất TBCN và của nển kinh tế thị trường trên phạm vi quốc tế
Khi chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền thì đồng thời với nó là quá trinh tích tụ và tập trung tư bản Trone lĩnh vực sản xuất, sự cạnh tranh giữa các xí nahiệp có quy mô \nừa và nhỏ đã dẫn tới sự phá sản của một số lượna không nhỏ xí nshiệp, số còn lại hoặc bị thôn tính, hoặc buộc phải lựa chọn giải pháp liên kết hay sáp nhập với nhau để trở thành xí nghiệp lớn hơn Còn sự tích tụ vốn gắn liền với sự xuất hiện của các hình thức tín dụng, kéo theo nó là sự ra đời của các cô n s ty cổ phần, đã thúc đẩy thêm quá trình tập trung tư bản Theo c Mác, đây là cơ sở cho việc chuyển hoá dần những xí nghiệp tư bản tư nhân thành nhữne công ty cổ phần
tư bản là phương tiện để mở rộng quy mô hợp tác giữa các xí nghiệp, là nhán
tố quan trọng đẩy nhanh tốc độ phát triển của các lực lượns sản xuất vật chất
và sự hình thành một thị trường thế giới Như vậy có thê nói, chính công ty cổ
Trang 14phần và sự liên kết giữa các xí nghiệp đã tạo cơ sở để tự do cạnh tranh chuyên thành độc quyền Tiến trình này không chỉ phản ánh sự chuvển hoá nhữns thuộc tính cơ bản trong quan hệ sản xuất TBCN sang mặt đối lập của nó, mà còn khẳng định nền sản xuất TBCN chắc chắn sẽ vận động sang nấc thang mới cao hơn với các hình thức tổ chức sản xuất tiêri tiến hơn Độc quvển TBCN sống chung cùng cạnh tranh, dựa vào cạnh tranh và tự tách mình thành những nhân tố của cạnh tranh để tồn tại, hoàn thiện và phát triển, đó là lỏgích vận động hiện thực của nền sản xuất TBCN.
Các nghiên cứu thực nghiệm cũnẹ đã cho thấy, xí nghiệp độc quyền được hình thành là nhờ sự kết hợp giữa quá trình sản xuất quy mỏ lớn và quá trình phân phối quy mô quốc tế vào một công ty đơn nhất, nshĩa là trong xí nghiệp bao gồm cả các hoạt động sản xuất cổng nghiệp, lẫn thươns mại, dịch vụ, tài chính để hình thành nên cái gọi là xí nghiệp công - thươns hiện đại qua các mối liên kết dọc và ngang X í nghiệp liên kết theo chiều dọc thường là những xí nghiệp theo ngành dọc của mình X í nghiệp liên kết theo chiểu ngang phần lởn thuộc các ngành khác nhau Sự liên kết theo chiều dọc là con đường cơ bản hình thành nén xí nghiệp hiện đại Sự liên kết này là một hình thức sáng tạo mới về ch ế độ hoạt động của xí nghiệp Khi phạm vi địa lý của phân công nội bộ xí nghiệp cỏ n s - thương hiện đại vượt qua biên giới quốc gia thì TNC hình thành
Như vậy, có thể nói, sự ra đời của TNC gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền sản xuất lớn TBCN, chúns là sự phát triển cao của chế độ xí nshiệp TBCN là sự vận động m ở rộng và sâu sắc hơn của các quan hệ sản xuất TBCN, khi các mối quan hệ kinh tế dần dần \uợt ra khỏi phạm vi quốc gia để gia nhập
và thúc đẩy guồng máy sản xuất kinh doanh quốc tế nsày càns phát triển Sự ra đời của TNC đã đem lại cho CNTB một hình thức tổ chức sản xuất mới nhưng
về thực chất, các TNC chính là sự thích ứng giữa trình độ phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất TBCN ở tầm vi mồ trong điều kiện
Trang 15tính chát xã hội hoá của sản xuất đã mở rộng trên quv mỏ quốc tế Các TNC cũng đồng thời là kêt quả của quá trình cạnh tranh và tập truns tư bản khôns ngừng trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của CNTB.
Từ thập niên 80 của thê kỷ XX trở lại đây, dưới tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ lần thứ tư [lần thứ nhất: cuối thế kỷ XVIII chuyển từ công trường thủ công sang cơ khí hoá; lần thứ hai: cuối thế
kỷ XIX đén đầu thê kỷ XX, chuyển từ cơ khí hoá sang điện khí hoá: lần thứ ba: từ giữa thê kỷ XX đẻn cuối những năm 1970, chuyển sang tự động hoá] và làn sóng toàn cầu hoá kinh tê, các TNC đã nhanh chóng chiếm lĩnh hầu hết những lĩnh \ỊTC kinh tê mới, khẳng định thêm vai trò naày càns quan trọng của chúng đối với nền kinh tế thế giới nói chung, cũng như với từng khu vực và quốc gia nói riêng Đổng thời, sự cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu giữa các TNC cũng khốc liệt hơn Với tư cách là “con đ ẻ ” của phươna thức sản xuất TBCN, các TNC đã tích cực điểu chỉnh lại hoạt động kinh doanh, xây dựng lại
hệ thông phân công quốc tê, kêt hợp liên kêt doc - ngans trong nội bộ công ty
Cơ cấu tổ chức toàn cầu của các TNC tương ứng cũng ra đời TNC trở thành hình thức điên hình của chế độ xí nghiệp thích ứng với sự phân công và trao đổi quốc tế hiện đại
1.1.2 Khái niệm
Kể từ sau thê chiên thứ II đên nay, sự phát triển liên tục của các TNC về quy mô, cơ cấu tổ chức, hình thức sở hữu và phương thức kinh doanh đã dản tới những cách hiêu khác nhau về chúng, nhưns tựu chung nội hàm các khái
niệm đưa ra đêu thống nhất với nhau ở điểm: T N C trước hết là nhữỉìg công ty
lớn phái triển theo xu hướng độc quyền và có phạm vi hoạt động vượt ra ngoài
khuôn khỏ biên giới quốc gia của một nước và tùy theo nhận thức chuns về sự
phat tnên cua loại hình công ty này, đên nay phổ biên có ba dang tên gọi để
chỉ TNC T hứ n h ấ t, cóng ty xuyên quốc gia (Transnational Corporation) là
Trang 16công ty tư bản độc quyền mà tư bản nắm quyển kiểm soát vốn của một nước thực hiện kinh doanh ở nhiều nước khác thôns qua việc thiết lập các công tv
xí nghiệp phụ thuộc T hứ hai, công ty đa quốc gia (Multinational Corporation )
là công ty tư bản độc quyền thực hiện việc thiết lập các chi nhánh ở nước ngoài để tiên hành các hoạt động kinh doanh quốc tế, nhưns khác với cônơ ty xuyên quốc gia ở chỗ tư bản thuộc sở hữu của công ty mẹ là của từ hai nước
trở lẽn Thứ ba, công ty quốc tê (International Corporation) là tên 2ỌÌ dùns chung cho các công ty toàn cầu, công ty xuyên quốc gia, công ty đa quốc gia, công ty siêu quốc gia Những người sử dụng tên gọi nàv không quan tâm đến nguồn gốc, xuất xứ, hay bản chất trong quan hệ sở hữu của cô n s tv mà chỉ quan tâm đên mặt hoạt động sản xuất kinh doanh quốc tế của công ty Như vậy nêu dựa vào tiêu chí là nguồn gốc sở hữu thì sự phân định lén 2ỌÌ thuộc
về trường hợp một và hai Vì TNC có đặc điểm là tập đoàn lãnh đạo và quản lý công ty thuộc về các nhà tư bản của một nước Còn nếu là công ty đa quốc gia thì hội đồng quản trị bao gồm các nhà tư bản có cổ phần thuộc nhiều nước khác nhau Sự phân định này đến nay chủ yếu vẫn căn cứ vào công ty mẹ chứ không căn cứ vào công ty chi nhánh, dẫu rằng làn sóng sáp nhập và thôn tính (M & A) trong những năm 1990 đã biên nhiều TNC theo quan niệm cũ trở thành những thực thể đa sở hữu với sự góp vốn của các nhà tư bản tại nhiều nước khác nhau Theo Báo cáo của UNCTAD, trong 100 công ty thuộc lĩnh vực phi tài chính, thì chỉ có 6 cốns ty thuộc sở hữu của hai quốc gia hoặc vùng lãnh thổ, không có công ty nào thuộc sở hữu chung của 3 nước [73 187 - 188], Như vậy có th ế thấy tính đa quốc gia là rất thấp, hơn nữa thuật ngữ xuyên quốc gia còn thể hiện tính lịch sử trong quá trình phát triển của các TNC khi mở rộng phạm vi hoạt động ra ngoài biên giới quốc gia để trở thành các công ty quốc tế Hơn nữa trono các báo cáo về đẩu tư thế giới của ƯNCTAD kể từ 1998 trở lại đây, cụm từ xuyên quốc gia được sử dụng rộng rãi hơn vì nó chuyển tải được đầy đủ nội d u n s về loại hình công ty có hệ
Trang 17thống hoạt động sản xuất kinh doanh xuyên biên giới, được thành lập và kết noi \ Ư1 nhau dươi sự bao trợ cua môt chính phủ duv nhât đối với công ty me Tuy nhiên, có lẽ vấn đề không phải là ở thuật ngữ “xuyên quốc gia” hay “đa quốc gia", mà điểu quan trọng là nội dung của thuật ngữ đó Theo đó, thuật ngữ công ty xuyên quốc gia dùng để chỉ các công ty hoạt động trên phạm vi quốc tê là phù hợp, vì nó không những nêu được đặc trưng kinh tế nổi bật của
I N C trong bối cảnh toàn cầu hoá đời sống kinh tế đans diễn ra mạnh mẽ hiện nay va phan ánh đúng tính chât hoạt động của loại hình cống tv này tronơ thực
tế, mà còn thể hiện được cái cốt lõi của nén sản xuất TBCN Đó là xác định rõ quyển sở hữu và người ra quyết định - người có quyển chi phối toàn bộ giá trị
tư bản được sở hữu và được tích tụ tại công ty xuyên quốc gia Như vậy chỉ có công ty mẹ, có nguồn gốc rõ ràng, nắm quyền sở hữu phần lớn tư bản tập trung trong công ty mới có tiếng nói quyết định trong việc hình thành phương hương hoạt đọng chiên lược cua cóng ty, còn các cô đông trong các công ty con hay các chi nhánh ờ khăp nơi trên thê giới chỉ là người góp vốn kinh doanh kiêm lời, không có tiếng nói quyết định Chính tính xuyên suốt của việc chi phoi quyên sơ hữu công ty này, đã thể hiên tính hợp lý trong nôi d u n ơ xuyen quôc gia cua các TNC Tất nhiên, đẻ nêu đươc một khái niệm bao quát
ca nguôn gôc và ban chất của TNC, chúng ta phải xuất phát từ sự vận đ ộ n2 lịch sử của quan hệ sản xuất TBCN trong giai đoạn hiện nay được thể hiện ở TNC Theo đó, TNC là mô hình tổ chức kinh doanh quốc tế, dựa trên sự kết hợp giữa quá trình sản xuất quy mỏ lớn của nhiều thực thể kinh doanh quốc tế VƠI qua trình phân phối và khai thác thị trường quốc tê để đạt hiệu quả tối ưu, nhằm thu được lợi nhuận độc quyền cao
Theo Nguyên Khăc Thân (1995): Công tx xuyên quốc gia hiện đại là
cong Ạ tư ban độc quyên của một CỊUÔC gia thực hiện việc bành trướng quốc té
bằng hình thức thiết lập hệ thống chi nhánh ở nước ngoài dưới sự kiểm soát
Trang 18cửa công ty mẹ nhăm phán chia thị trường th ế giới và tìm kiếm lợi nhuận độc quyển [34, 20].
Còn theo ƯNCTAD (2003): Công ty xuyên quốc giũ là các cô/ 1% tx liên doanh lioặc độc lập bao gôm các công ty mẹ và các chi nhánh nước ngoài của
chúng Cúc công ty mẹ là các cóng ty thực hiện việc kiểm soát tài sán của các
thực thê kinh té khác ở nước ngoài thuộc quyên quản /ý cùa chúnq ĨỈ1ÔHÍỊ qua
liinlì ỉìiưc sơ hiùi vón tư bon cô phán Tx lê íỊÓp vốn cô phán 10% củú công tx
mẹ so VỚI cô phầ n góc hoặc cao liơ/ì, hoặc m ức có p h ầ n k h ô n g ché ĩronq
trường hợp các cóng ty liên doanh, thườtìg được xem là ngưỡnẹ đ ể giành
quyên kiểm soát tài sản của các cônẹ ty khác [73 231 ].
Như vậy tuy khác nhau ở một vài điểm nhỏ, nhuriiz nhìn chung các khái mẹni được dân ra ơ trên đêu thống nhất với nhau ở chỗ: TNC là loại hình c ô n ơ
ty có xu hướng phát triển cơ cấu tổ chức và hoạt động kinh doanh trên toàn
cầu Và vì vậy, khi một cóng ty có quá trình sản xuất - kinh doanh vượt ra khỏi phạm vi biên giới của nước đứng tên chủ sở hữu và có quan hệ kinh
té chật chẽ với nhiều nước thông qua việc mở nhánh ở nước ngoài, thì
cóng ty đó được gọi là cóng ty xuyên quốc gia [32, 17],
bản so với các TNC của Nhật Bản hay của một số nước châu Á khác (dẫu nhưng nươc này đã tiêp thu những nhân tỏ tích cực trong cơ c h ế quản lý kinh
Trang 19doanh của các TNC châu Âu và Mỹ), thường thuộc quyển sở hữu của một oia đình, phong cách quản lý mang nặng yếu tố tình cảm, coi trọng tình thân hữu
trong \ìẹ c thiet lạp quan hệ kinh doanh, (xem bởiìíỊ 1.1) Song không vì thế
mà chúng khống có điểm chung, đó là khuynh hướng gia tăng liên tục khả nãnơ cạnh tranh, quy mô sản xuất, phạm vi kinh doanh và tối đa hoá lợi nhuận Nhưng net chung nay, ngay càng được định hình và bổ sung thêm những đặc trưng mơi, trơ thanh đặc điêm riêng của các TNC hiên đai trons bối cảnh mà xu thê toàn cầu hoá đang dẫn tới việc quốc tế hoá một số tiêu chí về quản lý chất lượng, mẫu mã, luật chơi, v.v
Bảng 1.1: M ột sô khác biệt giữa TNC cháu  u - M ỹ với TNC cháu Á
Phát triển công ty ưu tiên viéc chiếm lĩnh và khai thác thị trường thế giói, phát triển sản phẩm mới, kỹ thuật mới tăng cường \ị trí cạnh tranh trên thị trường tron 2 và ngoài nước.
- Cóng ty liên kết có quan hệ mật thiêt với công tv m ẹ, nắm quyền sở hữu cổ phiếu của nhau và có tư cách pháp nhân đặc biệt.
- Còng ty m ẹ trực tiếp nắm quyền điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trong m ạng lưới;
- Các công ty con hoạt độne như những vệ tinh, không được độc lập hoàn toàn và chỉ có quyền tư do ờ mức tương đối;
- Các hình thức liên kết chủ yếu được tiên hành trực tiếp với công ty me.
3 Q u a n hệ
cóng ty
- Q uyển sở hữu và quyền kinh doanh tách rời nhau Các cổ đón 2 là người sờ hữu nhưng k h ỏ n s trực tiếp tham gia điều hành m à thưcma thông qua hội đồng quản trị để tác động vào quyết định của công ty G iám dốc cóng ty là người do hội đổna quản trị thuê:
- Q uan hệ giữa công nhãn với giới chù công ty là quan hệ thị trường.
- Quyền sở hữu và quyền kinh doanh được gắn két một cách chặt chẽ Giám đốc công ty có thể là do người của hội đổng quản trị cử ra để điểu hành hoat động kinh doanh của cóng tv;
- Q uan hệ giữa nsười lao động với !
có n g tv được áp dụng theo ché đó ị
‘làm việc suốt đ ờ i’, việc trả lươna I chủ yếu căn cứ vào bằng cấp và thâm 1 niên cõng tác;
Trang 20việc trả lương căn cứ chù yếu vào nâng lực và yéu cầu cõng viẽc của cóng tv;
- N hấn m ạnh vai trò và trách nhiệm cá nhân, cá nhân ra quyết định là chủ yếu.
- Để cao vai trò và trách nhiệm tập thể, n hư ns tiếng nói cuối cùng quvết định các chiến lược quản lý và kinh doanh lại thuộc về chủ tịch hội đ ồ n 2
quản trị, thường là người có tỷ lệ vốn
sở hữu lớn nhất.
4 Q u a n hệ
thị trư ờ n g
Vận hành theo nguyên tắc tự do cạnh tranh trẽn thị trường, luỏn có ý thức đối đầu với khó khăn Coi trọng và sẵn sàng áp dụns những V tưởng mới.
Bị chi phối bởi các quan hệ thân hữu, mục tiêu của chính phủ, hav chiên lược phát triển dài hạn cùa công tv Coi tro n 2 kinh nghiêm - * -*- - : — _ c - £ : _J
G hi ch ú : (*) TNC châu Á chỉ bao gồm các côna ty có xuất xứ từ Nhật
Bản và NICs
1.1.3.1 Vé sở hữu: Có thẻ coi các TNC là cái vỏ vật chất trong đó quan
hệ sản xuất TBCN vận động và tồn tại dưới dạng sở hữu độc quyển Nhưng khi chu nghĩa tư bán (CNTB) phái triến từ nền kinh tê côna nghiệp sang nền kinh
tê tn thức, nó đòi hỏi những nguồn lực khổng lồ, khả năng tài chính của một công ty không đáp ứng nổi, buộc phải gia tăng quá trinh huy động vốn thông qua thị trường tài chính, từ đó làm cho sô lượng các đồng chủ sở hữu tronơ TNC lớn lên Việc các công ty buộc phải gia tăng khả năng tài chính trong
cạnh tranh CỊUÔC tê đã khiên một bộ phân khốns nhỏ người lao đông nắm giữ
dược một số lượng đáng kể cổ phiếu, trở thành người chủ sở hữu (với tư cách
là cổ đông) và chủ thể sở hữu kinh tế (do đã là chủ sở hữu về tri thức kỹ n ănơ chuyen môn nêng cua họ) Mật khác việc mở rộng cổ đông và các hình thức huy động vốn khác, đã làm xuất hiện xu hướng “phi cá thể hoá sở hữu tư nhân lớn \ Khi đó, trong TNC sẽ diễn ra 2 thay đổi quan trọns về quan hệ sở hữu
M ột là, sở hữu độc quyền xuyên quốc gia - đây là hình thức sở hữu hỗn
hợp và đã được quốc tế hoá Hình thức sở hữu này m a n s tính khách quan tạo nen bơi quá trình tích tụ, tập ĩrung và xã hội hoá sản xuất trên quy mô quốc tế của CNTB Nó phản ánh tính đa dạng, phức tạp và hỗn hợp của loại hình sở hữu xuyên quốc gia
Trang 21Hai lủ, sớ hữu hôn hợp được tạo ra do sự thay đổi vai trò những người
làm việc trực tiẽp trong các TNC Loại hình nàv diễn ra theo hướng tăng đáng
kể số người có cổ phần trong công ty
Năm 1989, ở Mỹ chỉ có 28% dân sô có cổ phiếu đến năm 1999, con sỏ này đã tăng lên 48,2%; năm 1995 số người nắm giữ cổ phiếu giá trị thấp (5000 USD) ở Mỹ đang giảm dần, trong khi những người có trong tay loại cổ phiếu trị giá 50.000 USD trở lên đã tàng gấp đôi so với năm 1989, lên đến 18,4 triệu người Còn tại Nhật Bản, tỷ lệ cổ phiếu liên công ty đã lên tới 72% vượt xa tỷ lộ tương quan giữa vốn cổ phần của các cá nhân và pháp nhân trons những năm 1980 là 3 : 7 [3, 139] Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, sở hữu của nhà tư bán vân giữ tỷ trọng lớn, còn sở hữu của người lao động chỉ chiếm một tv phân nhỏ không đáng kể Ví dụ sô cổ phiếu mà 80% công nhân Mỹ sở hữu
chỉ chiêm 1% tổng giá trị cổ phiếu; còn với đa số công ty trons bảng xếp hạng
500 tập đoàn hàng đầu của Fortune, sở hữu của người lao động thường dao động trong khoảng từ 4,5 - 15% giá trị cổ phiếu [4, 127]
1.1.3.2 Vé quản lý: Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ với các mũi
đột phá trong các lĩnh vực công nghệ cao, nhất là công nghẹ thông tin, chẳng những dân dăt loài người bước sang một giai đoạn phát triển mới cao hơn hẳn
vê chát, mà còn loại bỏ những rào cản về không gian và thời gian, cho phép các công ty hình thành mô hình tổ chức quản lý năng động hơn để đối phó với những sức ép ngày càng tãng về công nghệ, thị trường và các nhu cầu tiêu dùng
đa dạng khác Trước những thách thức và cơ hội này, các TNC đã tiến hành điều chỉnh và cải cách theo các hướng sau:
Thứ nhất, thay thế hệ thống quản lý cồng ty theo mó hình kim tự tháp
theo chiểu dọc truyền thống bằng hệ thống mạng lưới phân quyển theo chiều ngang nham giam bơt khâu trung gian, đơn siản thủ tuc, thông tin nhanh
Trang 22nhạy đê nâng cao tinh thần trách nhiệm của người lao đ ộ n s và hiệu quả hoạt động của công ty.
[Hệ thống quản lý mạng lưới có đặc điểm là khône có trung tâm, vì mỗi tầng quản lý trong mạng lưới, thậm chí mỗi một người quản lý đều có thể là một trung tâm Mối liên hệ giữa chúng là mối liên hệ phức hợp giao chéo kiểu
rẻ quạt Mục tiêu quản lý của nó không chỉ là quản lý việc kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, quản lý nhân viên, mà còn cả việc thiết kế hình tượng và xâv dựng nét văn hoá đặc thù của cổng ty Tôn chỉ cùa phươns thức quản lý này là huy động có hiệu quả nhất tài năng và ưu điểm của mỗi lao động trong mạng lưới cóng ty Hệ thống quản lý này thường được kết cấu theo hai dạng: 1) Kết cấu tổ chức quản lý theo liên kêt ngang, có khả n ã n s tập hợp nhữns người lao động có kỹ năng khác nhau vào một đơn vị sản xuất hay “đội cơ sở” để họ thấy được cái đích phải hướng đến của quy trinh sản xuất, từ đó tự quản lý và phát huy cao tinh thần hợp tác, và un thế của tập thể trong sản xuất 2) Mô hình tỏ chức quản lý sản xuất theo kiểu “tê bào” , trong mỏ hình này, công nhân được chia thành từng kíp từ 2 - 50 người cùng chung thiết bị sản xuất mà
họ sẽ sử dụng Mỗi công nhân trong kíp thường làm nhiều việc và mỗi kíp tự chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm Đây là một quá trình hẹp, thuần tuý tập trung trên sàn máy.]
T hứ hai, áp dụng công nghệ cao vào việc cải tiến hoạt động quản lý
thông qua mạng máy tính và hệ thống truyền tin dải tần rộng, đồng thời chuyên đồi phương thức sản xuất từ sản xuất quy mô lớn sang sản xuất theo đơn đặt hàng gắn sát với nhu cầu thị trường, từ đó giảm thiếu tối đa tình t r ạ n ơ
dư cung và rập khuôn
Thứ ba, thực hiện đổi mới phương thức quản lý lao động, lấy con người
làm nhân tổ trung tâm, coi trọng trí tuệ và khả năne sáng tạo của người lao động hơn sức lao động cơ bắp [Mô hình quản lý lấy con người làm trung tám
\ I H ( - Í~.J u r j Q y I / \ r 1 A N C J ị ,
V - L ữ / f o x
Trang 23có đặc điểm: 1) Xây dựng đội ngũ lao động có khả năng chuyên môn cao, năns động trong cống việc và trung thành với lợi ích của cồng ty; 2) Linh hoạt hoá quá trình xây dựng kê hoạch sản xuất và kinh doanh; 3) Tạo dựng quan hệ đối tác với những người tham gia trực tiép vào quá trình sản xuất và có sự phân công trách nhiệm rõ ràng từ trên xuống dưới; 4) Gắn đổi mới công nghệ với việc đổi mới về cơ chê quản lý sao cho quá trình vi tính hoá và nhân bản hoá sản xuất có mối quan hệ qua lại khăns khít].
T hứ tư, với triêt lý: hiệu quả kinh doanh quan trọns hơn quy mô, nên bên
cạnh việc duy trì và liên tục phát triển khả năng tài chính, khả năng cống nghệ của các cồng ty mẹ để tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế thì các TNC cũng đang tích cực đẩy mạnh hình thức cắm nhánh nhằm hình thành hệ thống kinh doanh khép kín chi phối thị trường quốc tế
Kêt quả, nhờ áp dụng hệ thống quản lý mới, sự phối hợp giữa các dây chuyền sản xuất trở nên linh hoạt hơn các chức năng của công nhân được mở rộng hơn việc phân công lao động cũng trở nên gọn nhẹ hơn, giúp làm tăng khả năng sử dụng cồng nhân trong guồng máy sản xuất Kết quả nghiên cứu của R Gondon J K neger năm 1992 ở các ngành máy công cụ, bán tự động và
tự động của Mỹ cho thấy, các công nhân vận hành máy trong 1/2 số công ty
áp dụng kỹ thuật tự động hoá, đểu tham gia vào việc thử và điều chỉnh chương trình [66, 38 - 39] Một ví dụ khác, tập đoàn kinh doanh máy tính và thiết bị văn phòng Xerox, nhờ việc hoàn thiện cống tác quản lý con nsười theo cơ chế mới, mà công ty này đã có được động lực phát triển mạnh mẽ hơn nhiều so với việc mua săm các thiêt bị kỹ thuật tiên tiên mà công ty liên doanh với Xerox là Fuji đã làm nhưng không tiên hành đổi mới cơ cấu tổ chức sản xuất và phươnơ cách quản ]ý nhân sự [33, 91 - 92], Điều đó cho thấy tính ưu việt của hệ thống
tổ chức sản xuất lấy con người làm trung tâm so với hệ thống quản lý theo cấp bậc kiểu cũ Hệ thống quản lý này cho năng suất cao ngay cả khi không có điều kiện đổi mới công nghệ
Trang 241 1.3.3 Vê p h ư ơ n g th ứ c ho ạ t động: Cùng với sự phát triển của nền kinh
té thi trường, hoạt động và cơ chê quản lý của các cóns ty nói chuns và các TNC nói riêng cũng đang ngày càng trở nên phù hợp hơn với điểu kiện khách quan của môi trường kinh doanh bên ngoài Sự thích ứns này được biểu hiện
rõ nét qua cạnh tranh và độc quyển Trong đó, độc quyển tuy vừa là đặc tính vừa là khuynh hướng phát triển chung của các TNC, nhưng độc quyền khỏns xoá được cạnh tranh mà càng làm cho cạnh tranh trở nên gav gắt hơn Còn cạnh tranh tất yếu sẽ dẫn tới tích tụ và tập truns tư bản và từ đó làm nảy sinh các tổ chức độc quyển (Trust)
Thập niên cuối thế kỷ XIX và những thập niên đầu thế kỷ XX, sự xuất hiện của các tô chức độc quyền ở Mỹ và các nước tư bản phương Táy đã gâv lũng đoạn trên thị trường của nhiều ngành Với sức mạnh của mình, các Trust
đã tiến hành trong phạm vi ngành một chính sách thị trườn £ có lợi cho minh và buộc những nhà sản xuất khác phải chiu sư lê thuộc Ví du, sư thao túng của các tổ chức độc quyền trong các ngành: luyện kim đen hoá dầu, công nghiệp nhôm và thuốc lá ở Mỹ thời kỳ này Sự xuất hiện của các tổ chức độc quyền
cùng với bản tính thống trị của chúng đã dẫn đến nhận đinh: cơ chê cạnh tranh cua thị trường sẽ sớm bị xoá bỏ để thay vào đó là cơ chế -tập trung của các công
ty lớn Nhưng thực tế cho thấy cạnh tranh và độc quyền là hai mặt của một chinh thê, sự ra đời của mặt này là tiền đề cho sự phát triển của măt kia và ngược lại Hơn nữa, bản thân lịch sử ra đời của Cartel Cyndicat và Trust, cho thấy chúng được sinh ra là do cạnh tranh, vả lại bản thân sự phát triển độc quyền ở những ngành mà chúng thống trị chính là do lác động qua lại của những lực lượng cạnh tranh độc quyền “Độc quyền sinh ra cạnh tranh, cạnh tranh sinh ra độc quyền Những người độc quyền cạnh tranh với nhau, nhữnơ người cạnh tranh trở thành những người độc quyền” [14, 232], Thậm chí trons trường hợp đã thâu tóm được tất cả quá ĩrình sản xuất của một ngành, thì các Trust vân không thể hoàn toàn loại bỏ cạnh tranh ra khỏi thị trường của ngành
Trang 25đó Ví dụ, công ty United States Steel, dù đã chiếm đến 65% sản lượns ngành thép của Mỹ vào nãm 1901 nhưng vẫn phải đi đến thoả thuận với các nhà sản xuất nhỏ hon về giá cả [33, 72].
Tuy nhiên, nguyên nhân quan trọng làm yếu đi ảnh hưởng của các tổ chức độc quyền trong ngành sản xuất mà chúng thống trị lại là sự thay đổi xu hướng tập trung sản xuất và tích tụ tư bản Sự hình thành các tổ chức độc quyên dưới dạng các Cartel và Trust thời kỳ đầu là dựa trén cơ sở của các liên kết dọc, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn tồn tại, mỏ hình liên kết này đã cho thấy khả năng kém thích ứng của nó trước những thay đổi của thị trường Tiép đó là quá trình liên kết theo chiều ngang, và kế’ từ sau 1945 đến nay là quá trình đa dạng hoá các hình thức liên kết sản xuất và tập trung tư bản Các hình thức độc quyền của thời kỳ đầu: Cartel, Cyndicat và Trust đã phải nhường bước cho sự xuất hiện của một hình thức liên kết mới - TNC
Thập kỷ 70, 80 của thê kỷ XX, trước bước tiến vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, khủng hoảng dầu mỏ và sự sụp đổ của hệ thống tiên tệ Breston Wood, khiên cho tỷ suất lợi nhuận bình quân của hàng loạt các công ty giảm sút, nên các còng ty đã buộc phải kết hợp với đối thủ của mình
đê cùng tôn tại Bên cạnh đó là các biện pháp kích thích mạnh mẽ vào quá trình tích luỹ tư bản do chính phủ ở hầu hết các nước phương Tây tiến hành đã biến các tổ chức độc quyển trong nước trở thành những tập đoàn sản xuất và kinh doanh xuyên biên giới Nhờ vậy, công ty xuyên quốc gia đã trở thành hình thức tô chức sản xuát kinh doanh quốc tế phổ biến Tiếp đó, dưới tác động của làn sóng toàn cầu hoá, các TNC đã trở thành những mắt xích liên kết các nên kinh tê riêng lẻ lại với nhau thành từng khối trong guồng máy phân cống lao động quốc tê, góp phần truyền bá những nguvên tắc của nền kinh tế thị trường ra toàn thê giới và thúc đẩy khuynh hướng toàn cầu hoá tư bản độc quyên Theo đó, các TNC tiên hành điều chỉnh lại hoạt động kinh doanh, xây dựng hệ thông phân công quốc tê, kêt hợp liên kêt dọc - ngang tro n s cả nội bộ
Trang 26công ty lân các ngành liên quan, thay thê thị trường tổ chức và điểu tiết một phần phân công và trao đổi quốc tế Như vậy xét về bản chất, với hai dạns
thức tôn tại cơ bản là Concern [do nhiều công ty thuộc các ngành khác nhau cùng liên hợp tổ chức thành] và C onglom erate [là loại hình phát triển liên kết
cao giữa các công ty thuộc các ngành khác nhau, thường được hình thành thông qua thôn tính và sáp nhập], TNC ngày nay không khác về bản chất so với các hình thức tổ chức kinh doanh độc quyền đã có từ trước Sự khác biệt thê hiện ở chò: TNC được sinh ra do quá trình tác động lẫn nhau của phân công lao động xã hội và trao đổi sản xuất trên binh diện quốc tế Sự ra đời và phát triển của các công ty xuyên quốc gia hình thành nên một hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh của CNTB hiện đại, nhưns thực chất đây vẫn là sự thích ứng giữa trinh độ phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
1 BCN trong bối cánh toàn cầu hoá kinh tê Chúng cũng đồng thời là kết quả của quá trình tích tụ và tập trung tư bản không nsừng qua nhiểu giai đoạn tồn tại và phát triển khác nhau của CNTB
Chính vì đặc trưng không ngừng tích tụ này của nền sản xuất TBCN nên khi quá trình tập trung vón đạt tới trình độ mà không gian kinh doanh truyền thông của các nhà tư bản trở nên chật hẹp đến mức ngăn cản khả năng phát huy hiệu quả của các khoản đầu tư mới, nói cách khác lợi nhuận thu được từ các khoản đầu tư mới tại “mảnh đất” cũ không như ý muôn, trong khi nếu mang tư bản ra bên ngoài, hiệu quả thu được sẽ cao hơn Đáv là yếu tố kinh tế
cơ bản nhất thúc đẩy các nhà tư bản xuất khẩu vốn ra nước ngoài Điều này không mâu thuân với quá trình tích tụ, bởi bản chất của hành vi xuất khẩu tư ban cũng chính là nhăm mở rộng quy mô sản xuất, từ đó làm cho quá trình tích tụ diễn ra nhanh hơn giúp cho mục tiêu xuyên suốt của nhà tư bản là bảo toàn độc quyền, giành lợi thế cạnh tranh và thu lợi nhuận cao được thực hiện
Các TNC với tính cách là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh tiêu biểu cho phương thức sản xuất TBCN, thông qua người chủ sở hữu của mình là nhà
Trang 27tư bản, đã hiện thực hoá quá trình tích tụ và toàn cầu hoá tư bản độc quvển thông qua các hoạt động đầu tư xuyên quốc gia.
1.2 H O ẠT Đ Ộ N G Đ ẨU TƯ Q U Ố C TÊ CỦA CÁC TNC
1.2.1 Động cơ thúc đẩy hoạt động đầu tư quỏc tê của các TNC
Phan tích ơ trên đã cho thây, động cơ chính thúc đẩy hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các TNC chính là lợi nhuận Nhưng do chủ thể chính của các dòng đầu tư quốc tế là các công ty xuyên quốc gia nên câu hỏi ở đây là: Tại sao TNC không dùng các biện pháp khác như tăng cường xuất khẩu hay đẩy mạnh bán bản quyền công nghệ để mở rộng hoạt động của minh mà phải thỏns qua đầu tư? Câu trả lời chung mà các lý thuyết đưa ra là trước sự tổn tại của các hàn° rào thuế quan và đầu tư dưới các hình thức khác nhau, cũng như tính không hoàn hao của thị trường các sản phẩm trung gian, hay các chính sách phát triển theo một số mô hình kinh tế riêng biệt mà một vài nước áp dụng, đã làm tăng chi phí xuất khẩu của TNC, làm hạn chế lượng hàng hoá xuất khẩu và hoạt độns chuyển giao công nghệ sang thị trường của các nước tiếp nhận Vì thế các biện pháp chuyển vốn ra nước ngoài nói chung, nhất là thông qua FDI tỏ ra có nhiều
ưu điểm hơn so với các biện pháp khác Việc các TNC đầu tư trực tiếp ra nước ngoai đe lập chi nhánh mới, chỉ xuât hiện khi xuất khẩu của chúng gặp trở ngại Các TNC muốn thông qua các chi nhánh để bảo hộ và thực hiện ưu thế độc quyền, tức dùng ưu thế độc quyển về kỹ thuật để chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ nước ngoài và loại bỏ sự cạnh tranh của các xí nghiệp ở nước sở tại [28, 116]
Mặt khác, hoạt động đầu tư quốc tế của các TNC, nhất là FDI không đơn thuan chi la việc chuyên tư bản ra nước ngoài hay thực hiện quá trình độc cjuyen hoa tư ban, mà còn là đê khâu hao nốt những 2Ìá trị còn lại của dây chuyên sản xuất thông qua việc chuyển giao công nshệ nhờ iru thế gần như tuyệt đối trong lĩnh vực này Trong những nãm 1960, các TNC Mỹ thườno tập trung đầu tư vào các ngành đơn lẻ, tức các ngành khổng có đối thủ cạnh tranh
Trang 28mạnh, chỉ có một sỏ ít công ty trong các neành truyền thống được đẩu tư kỹ thuật cao để cạnh tranh với các công ty địa phương nhờ độc quyền kỹ thuật tiên tiên Ngày nay, dù thành quả của cuộc cách mạne khoa học và cóng nghệ
đã được áp dụng ngày càng nhiều trong sản xuất kinh doanh, nhưng không vì thê mà xu hương độc quyển công nghệ giảm đi, mà ngược lại Theo UNCTAD, hiện các TNC - những trụ cột của nền kinh tế hiện đại - chiếm tới 95% tiềm lực khoa học công nghệ của thế giới và nắm 80% các hạng mục R
& D Chính ưu thê về kỹ thuật này đã là chỗ dựa quan trọng để các TNC mở rộng đầu tư ra bên ngoài, thực hiện quá trình phân côns lao độnơ quốc tế và xã hội hoá sức sản xuất trên quy mô quốc tế
Ngoài ra khi tiến hành hoạt độns đầu tư, các TNC thường dựa trên những toan tính về lợi thê so sánh của các nước tiếp nhận, hiệu quả sinh lời của từng dự án, cũng như các yêu tô liên quan đến môi trườns đầu tư của nước tiếp nhận và chiến lược đầu tư của chính các TNC Ví dụ, trước đây vốn FDI của các TNC thường được hút vào các ngành khai khoáns, dệt mav, chế biến, xây dựng, những ngành có khả năng tận dụng được lợi thế lao động và tài nguyên của các nước tiếp nhận Nhưng tốc độ phát triển vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, đã khiến cho các lợi th ế truyền thống như lao động rẻ, tài nguyên phong phú trở nên kém hấp dẫn một cách tương đối so với chất ỉượng lao động, hạ tầng cơ sở thuận tiện, môi trường thể chế pháp lý minh bạch, công bằng và ổn định, trong việc thu hút vốn đầu tư của các TNC Hơn nữa, trong bôi cảnh khan hiêm vốn nói chung trên thê giới, cùng sự cạnh tranh thương mại quốc tế diễn ra ngày một gay gắt, thì việc tránh tập trung vào một vài thị trường nhất định còn là biện pháp phân tán rủi ro tron2 hoạt động kinh doanh của các TNC
Tuy nhiên, để nhận biêt sâu hơn bản chất ưons việc lựa chọn các quyết đinh đầu tư của TNC, chúng ta cần phải xem xét các hình thức hoạt động đầu tư quốc tế chính mà chúng thường tiến hành
Trang 291.2.2 Các hình thức hoạt động đầu tư quốc tế của các TNC
Hoạt động đâu tư quốc tê của các TNC được tiên hành thông qua hai hình thức là đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) Tronơ đó:
1.2.2.1 Đầu tư gián tiếp nước ngoài
FPI là luồng vốn tư nhản nước ngoài đầu tư vào các chíùĩg khoán c ổ
phán (Equity Securities) hoặc các chứng khoán nợ (Dept Securities) của các
nước tiếp nhận [31,16], Khi thực hiện FPI, các nhà đẩu tư nước ngoài khônơ
quan tâm đên quá trình sản xuát và kinh doanh thực tê mà chỉ quan tâm đến lợi íưc (vơi một mức rui ro nhát định) hoặc sự an toàn của những chứng khoán
mà họ đầu tư vào (với một mức lợi tức nhất định)
Các nhà đầu iư nước ngoài thực hiện FPI bằng cách: 1) mua cổ phiếu (Stocks) hoặc các công cụ cổ phần khác (Equity Instruments) do các công tv hoặc các thể chế tài chính của các nước phát hành trên thị trường nội địa bans đổng nội tệ, hoặc trên thị trường quốc tế bằng các đồng ngoại tệ (USD Mỹ Euro, hay Yên Nhật Bản); 2) mua trái phiêu (Bonds) hoặc các công cụ nợ khác (Bonds Instruments) do chính phủ hoặc công ty các nước phát hành trên thị trương nọi đìa bang đông ban tộ, hoặc trên thị trường quốc tê bằng đồnơ n°oai
tệ Nhà đầu tư vốn gián tiếp có thể là các nhà đầu tư cá thể (Individual Investors) hoặc các nhà đầu tư thể chẽ (Institutional Investors) như các công ty bảo hiểm rui ro (Hedge Funds), các quỹ tương hỗ (Mutual Funds)
Đầu tư FPI có tính thanh khoản cao (High Liquidity) và mang tính ngắn
hạn (Short Term), do chi quan tâm đên ỈỢì nhuân và sự an toàn của chứĩĩg
khoan đáu tư, chứ không quan tâm đên việc quản lý quá trình sản xuất và kinh
doanh thực tế, dù đầu tư vào cổ phiếu được coi là hình thức đầu tư dài hạn Noi cach khac, các nhà đâu tư FPI có thể dễ d àn s bán lại những chứng khoán
cổ phần và chứng khoán nợ mà họ đang nắm giữ để đầu tư vào nơi khác với mưc ty suat lợi tức cao hơn và với mức rủi ro nhất đinh, hay với môt mức rủi
Trang 30làm cho thị trường tài chính nói chung trở nên sôi động hơn, nhưng trong trường hợp môi trường kinh doanh xấu đi thì những đặc tính trên của FPI sẽ dẫn tới hiện tượng rút vốn ồ ạt ra khỏi thị trường, tác động tiêu cực tới hệ thống tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chuns Cuộc khủng hoảng tài
chinh Mehicô năm 1994 cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á năm
1997 - 1998, là những minh chứng điển hình cho đặc tính ihanh khoản cao bât ổn định và dễ bị đảo ngược của FPI
Tuy nhiên do giới hạn của phạm vi nghiên cứu, nên luận văn không đisâu tìm hiểu hoạt động FPI nói chung, cũng như của các TNG nói riêng (dùtương lai khi thị trường chứng khoán ở Việt Nam phát triển, đây sẽ là kênhhuy đọng vôn hét sức quan trọng), mà chỉ giới thiệu nhằm hoàn thiện thêm vấn để nghiên cứu
1.2.2.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FD1 là phạm trù cửa đầu tư quốc t ế được thực hiện bởi một thực th ể cư trú
trong một nền kinh t ế (nhà đáu tư trực tiếp), phản ánh sự kiểm soát và lợi ích láu
dài của nhà đầu tư đối với một công ty hoặc tổ chức kinh doanh, dịch vụ ở nước
ngoài [72, 291], Đầu tư trực tiếp cho phép nhà đầu tư có quyển kiểm soát hoạt
động quản lý và kinh doanh của cống ty FDI ngay tại nước tiếp nhận, theo đó họ
tự chịu trách nhiệm về kết quả (lỗ lãi) trong hoạt động sản xuất và kinh doanh của mình Có ba hình thức đầu tư FDI chính là cổ phẩn (Equity Joint Venture) liên doanh (Cooporation Joint Venture) và 100% vốn nước ngoài (Whole Foreign Only) và được thể hiện dưới dạng: đầu tư mới (Greenfields), thông qua thôn tính
và sáp nhập (Merger and Acquisition), tái đầu tư mở rộng sản xuất, xây dựng trụ
sở đầu mối (Headquarters), nghiên cứu và triển khai (R & D), trao bản quyền
Trang 31Trong đo, íỉơu tìf Hĩơỉ 1 ti hình thưc nhà đâu tư bỏ vốn (có thể là công n°hc bản
quyền, máy móc thiêt bị v.v.) thiết lập một dự án sản xuất hay kinh doanh dich \ ụ mơi tại nươc ngoai, tổ chức kinh doanh mới được thành lập này có thể
là công ty phụ thuộc (Subsidiary), công ty chi nhánh (Affiliate) hay công ty
đầu mối (Hub-company) của công ty mẹ tại nước ngoài Sáp nhập (Merger) là
hiện tượng hai ba hoặc nhiều tổ chức kinh doanh thoả thuận kết hợp cùng nhau trong mọt to chức nhăm làm gia tăng sức mạnh tài chính, tiềm lực cônơ nghẹ, hiẹu qua kinh doanh và khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Thôn tính (Acquisition) là việc một tổ chức kinh doanh dùng sức mạnh tài
chính (có thoả thuận hoặc ép buộc) đê thu nạp một hay nhiều tổ chức kinh doanh khác nhằm chiêm lĩnh thị trường, ngăn ngừa cạnh tranh và nâns cao hiệu quả kinh doanh
Khác so với tính ngắn hạn, bất ổn định và dễ đảo ngược của FPI, FD1 mang tính dài hạn và ón định hơn do nhà đầu tư có quyển trực tiếp tham °ia vào quá trình quản lý hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp, rhêm nữa trong khi FPI chỉ chủ yếu tập trung vào việc thúc đẩy sự phát triển cua thi trương tai chinh va không phai hình thức nào cũng mang lai các nguồn vốn bổ sung mới hay các khoản đầu tư mới, thì FDI, lại có khả năno tác đọng trực tiêp vao quá trình sản xuất, thúc đẩy sự phát triển, tao ra các khoản vốn bổ sung và vốn đầu tư mới cho nền kinh tế của nước tiếp nhận
Về bản chất, FDI là sự gặp nhau về lợi ích giữa nhà đầu tư và phía đối tác nước ngoài, nó thể hiện phần nào quá trình phân công lao động và xã hội hoá sức sản xuất trên quy mô quốc tế Với nhà đầu tư nước ngoài, FDI là hình thức
mà nhờ đó chu kỳ của sản phẩm được kéo dài, giữ được độc quyển kỹ thuật
dê dàng xám nhập vào thị trường nước ngoài mà khôns bị sự cản trở của các hàng rào bảo hộ, tận dụng được lợi thế so sánh của nước tiếp nhận để đạt hiệu qua kinh doanh tôi đa Đây cũng là lối thoát giúp cho dòng chảy của tư bản được lưu thông và liên tục phát triển Với nước tiếp nhận, nhất là các nước
Trang 32DPT F-DI thực sự là cơ hội, là một trong những điều kiện cần thiết đê thoát khỏi tình trạng nghèo nàn và lạc hậu, là độnơ lực quan trọng để thực hiện côn« nghiệp hoá hiện đại hoá đât nước Vì trong khi góp phần bổ sung một lượnơ vỏn quan trọng cho nên kinh tê, việc tiêp nhận vỏn FDI thường gắn liền với chuyên giao công nghệ, các bí quyêt trong quản lý và kinh doanh, giải quyết công ăn việc làm, và là kênh quan trọng để tiếp cận với thị trường thương mại quốc tế, ngay cả trong trường hợp các dự án đầu tư nước nsoài được thành
lập chỉ để phục vụ nhu cầu trong nước (Xem thêm bảng 1.2).
Tuy nhiên trong thực tế việc phân tách giữa FDI và FPI là khône rõ ràng Ví dụ các hợp đông M & A giữa các TNC thường gồm cả hai quá trình mua cổ phiếu bổ
sung vốn mới và trao đổi trái phiếu qua thị trườns chứns khoán Việc xác định tỷ lệ c/c
gia tri cua vôn FDI hay FPI trong các hợp đồn 2 này gâv khó khăn cho ngay cả các cơ quan nghiên cứu của Liên hợp quốc, khi các công ty thường xem đây là bí quyết mật trong hoạt động kinh doanh của họ Trong trường hợp khác, các nhà đẩu tư FPI có thể hoạt động tích cực trên thị trường cổ phiêu dù bản chất của việc nắm giữ cổ phiếu là FDI, hoặc trái phiêu tuy có bản chất của FPI, nhưng tron2 một số trườns hợp nhất đinh như công ty gặp rủi ro kinh doanh, các nhà đẩu tư FPI sẽ tham gia quản lý công
ty dù không nắm quyền kiểm soát Việc Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Tổ chức Hợp tác
và Phát triên kinh té (OECD), ƯNCTAD, Mỹ và nhiều nước khác đưa ra tỷ lệ sở hữu 10% làm ngưỡng để xác định loại hình đầu tư trong các báo cáo hàng năm về
hoạt động đẩu tư quốc tê, nhưng thực tế tồn tại những trường hợp với 5% quvển sở
hữu đã có thê có quyên ra quyêt định kiểm soát hoạt động của công ty và như vậy đây là hình thức đẩu tư trực tiêp Hơn nữa không phải lúc nào cũng có thể xác định được chính xác tỷ lệ quyền sở hữu như trong các hợp đồng hợp tác kinh doanh, các liên minh chiên lược Chính bới ranh giới khôns rõ giữa FDI và FPI mà các nghiên cứu lý thuyêt và thực nghiệm đi trước đều cho rằng, giữa hai hình thức đẩu tư nàv
có sự bổ sung cho nhau Một chính sách ưu tiên tự do hoá hình thức đầu tư này mà
cản trở hình thức đầu tư kia sẽ dẫn đến hạn chế cả hai [31, 17],
Trang 33B ang 1.2: A h ữ n g tác động có th é có của h o ạ t độn g đáu tư nước ngoài
- Là nguồn vốn bổ sung quan trọng
cho đầu tư hiệu quả;
- Tạo sức ép từ bên ngoài đối với tính
ôn định, minh bạch của chính sách
kinh té vĩ mỏ và mỏi trường kinh
doanh cùa nước tiếp nhận:
- Chia sẻ rủi ro với các nước khác trẽn
thế giới.
- Sự lãng giá cùa đổng nội tẽ;
- Làm giảm sự độc lập của các chính sách kinh tế vĩ mó;
- Tàng cường sự bất ổn định trẽn thị trường tài chính và ngoại hối;
- Chi phí can thiệp võ hiệu cao;
- Rủi ro lớn hơn với các cú sốc ở bén j ngoài.
FD I
- Thúc đấy việc chuyển siao côna
nghệ và kỹ nãno quản lý:
- Mờ rộng thị trường xuất khẩu thóna
qua đối tác nước ngoài;
- Đ ào tạo nguồn nhãn lực.
- Đ òi hỏi bảo hộ trẽn thị trường nội j địa:
- M ất quyền kiểm soát đối với một số ngành kinh t ế
FPI
- Tăng cường tính thanh khoản của thi
trường nội địa;
- ITiúc đẩy sự phát triển sâu hơn và
rộng hcm của thị trường vốn nội địa;
- Cải thiện kỹ năng kinh doanh của
khu vưc tài chính.
- Lam gián đoạn hoạt đ ộ n s của thi trường vốn nội địa lạm phát tài sản.
— - -— - j
N g u ồ n : World Bank (1996): M anaging C apital Flow s in East Asia
Washington, D c Trích lại từ Nguyễn Hổng Sơn (2004): Sự di chuyển và điểu
tiet sự di chuyên cua dòng vón dâu tư tư nhàn nước ngoài gián tiếp ở m ột sô
nước dang phát triển, Báo cáo tổng quan đề tài cấp Bộ, tr 18.
Tuy nhiên, đôi với thực tại phát triển ở Việt N am hiện nay, khi thị trườnơ tai chinh chưa phát tnên thị trường chứng khoán mới đang ở giai đoạn hình thanh ban đâu, thì FDI là kênh chính đẻ nước ta có đươc nguồn vốn quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Vậy hoạt động này đến nay đã được soi sáng bởi các lý thuyết nào'?
Trang 34J.2.2.3 Các lý thuyết vé h oạt động đấu tư quốc té của các TNC
Trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận vãn, các lý thuyết về hoạt động đầu tư quốc tế của TNC sẽ để cập sau đâv, chủ yếu là FDI
Các nghiên cứu lý thuyết về FDI nhìn chung đểu tập trung giải quyết hai
vấn đề cơ bản: M ột là, tại sao lại có các dòng FDI và những yếu tố nào quyết định FDI? Hai là, FDI có tác động qua lại như thế nào đến nền kinh tế của
nước tiẻp nhận? Các nghiên cứu thực nghiệm thường nghiêne về lượng hoá các yêu tố quyẻt định dòng FDI mà mỗi quốc gia và khu vực tiếp nhận được
đánh giá các tác động của FDI đèn kinh tế của nước tiếp nhận trên các khía cạnh khác nhau và nghiên cứu tổng kết các kinh nghiệm thu hút FDI của các quốc gia khác Còn các nghiên cứu lý thuyết về FDI chủ yếu xem xét vấn để
dưới ba góc độ: lý thuyết F D I vị mô, lý thuyết FD I v ĩ mò và lý thuyết độc
quyên nhỏm không cán bằng của nền kinh t ế th ế giới.
1 Các lý thuyết về độc quyển nhóm không cân bằng của nền kinh tế thế giới chủ yêu dựa vào các yếu tố và hiện rượng mới của kinh tế thế giới thời
gian cuôi thê kỷ 20 như xu hướng tự do hoá thương mại - đầu tư và tài chính
trên toàn thê giới, xu hướng tăng giảm của nền kinh tế toàn cầu, sự thành lập các thị trường thống nhất rộng lớn và đặc biệt là việc hình thành bùno nổ các
kêt câu đa độc quyền trong những năm 1990, thông qua các biện pháp M & A
công ty; các đồng minh chiến lược (Alliances) trong R & D và marketinơ
Trong đó, độc quyên nhóm bán (Oligopoly) là hiện tượns một số nhỏ các
công ty bán thoả thuận liên kết với nhau, nhằm kiểm soát mức cung ứng thị
trường về một hoặc một số loại sản phẩm (hàng hoá và dịch vụ) nhất định để
độc quyển giá bán Độc quyền nhóm bán có thể là hoàn toàn (Perfect) hoặc
không hoàn toàn (Imperfect) Mỗi một cồng ty trong nhóm đểu biết tỷ phần
của mình trên thị trường hàng hoá và dịch vụ do nhóm sản xuất ra, nên mọi sự
thay đổi về giá cả hay thị phần do một công ty gây ra đểu tác động đến doanh
Trang 35sô của các hãng khác Do đó, các công ty trong nhóm có xu hướng tuv thuộc
\a o nhau ơ mưc độ cao - môi cóng ty phái quyét đinh giá cả và sản lượng của mình trên cơ sở có tính đến phản ứng của các công ty khác trong nhóm Điều
đo khuyên khích việc cạnh tranh không phải bằng giá cả mà bằng quảng cáo
va cac dich vụ trước và sau bán hàng Còn đôc quyêìì má mua ( Oligopsony)
là hiện tượng một nhóm nhỏ các cổng ty mua lớn thoả thuận với nhau khốns che được sưc mua va do đó san lượng và giá thi trường của môt măt hàng hay dịch vụ nào đó Ngược với xu hướng giá cao của độc quyển nhóm bán, giá cả
do độc quyền nhóm mua ân định có xu hướng thấp hom aiá cả trẽn thị trườns
tự do cạnh tranh [42, 749],
2 Các lý thuyêt FDI vĩ mồ giải thích và dự đoán hiện tượng đầu tư nước ngoài dựa trên nguyên tắc lợi thế so sánh của các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất (vốn, lao động, công nghệ, ) giữa các nước, nhất là giữa các nước phát triển và DPT Theo Heckcher - Ohiin - Samuelson, mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận
ở phạm vi toàn cầu nhờ vào sử dụng có hiệu quả vốn đầu rư là nguyên nhân chủ yêu làm dòng đầu tư quốc tê chuyển động Mô hình lý thuyết của Macdougall - Kemp cũng chứng minh sự chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước là nguyên nhân hình thành đầu tư nước ngoài Nhưng việc lý giải của các lý thuyêt trên chỉ hợp lý trong điều kiện không xét đến các yếu tô khác của môi
trương đau tư giữa các nước, cũng như chiên lươc đầu tư ra nước ngoài của các
TNC Theo một cách lý giải khác, K Kojima đã lý giải nguyên nhân xuất hiện
đau tư nươc ngoai là do có sự khác nhau về tỷ suât lợi nhuận giữa các nước Bởi
đe so sanh được ty suât lợi nhuận giữa các nước thì phải xét đến các yếu tỏ của
môi trường đâu tư Đây là cơ sở quan trong để giải thích hiên tương tăng cườns
mở rộng đầu tư ra nước ngoài theo con đường M & A của các TNC t r o n ơ nhữns
năm gần đây Tuy nhiên K Kojima chưa giải thích được hiện tượng đầu tư đan
xen giữa các nước phát triển với nhau, giữa các nước phát triển với DPT và nsược
lại, và giữa các nước DPT với nhau [22, 17 - 20J
Trang 36Như \ạy , cac ly thuyêt này mới giải thích được điều kiên cần đê xuất hiện đầu tư nước ngoài, trong khi lại bỏ qua nhữns thav đổi trong các yếu tỏ' của môi trường đầu tư như: sự thay đổi trong chính sách phát triển kinh tế của cac nươc, xu hướng tự do hoá đầu tư trên thê giới, chiến lược phát triển của các TNC - những điêu kiện đủ để quyết định sự lưu chuyển cùa dòng vốn đầu
tư quốc tế Hơn nữa các lý thuyết vĩ mô cũng chưa đủ để giải thích được nguyên nhán hình thành FDI trong điểu kiện có nhiều sự thay đổi của môi trường đầu tư quốc tế trong hơn một thập kỷ qua
3 Cac ly thuyet FDI VI mô cũng xoay quanh viêc giải thích n ơuồn °ốc của FDI nhưng thống qua các hành vi đầu tư của các TNC và sự bành trướncr
hoạt động của chúng trên thị trường thế giới Các lý thuyết này chủ yếu được
phát triển từ việc xoá bỏ các giả thiết của các lv thuyết chính t h ố n ơ về sản
xuất của các công ty và bổ sung các yếu tố mới liên quan đến tổ chức công
nghiệp Đối với các lý thuyết chính thống, hai giả thiết cơ bản nhất là lợi
nhuận toi đa va cạnh tranh hoàn hảo [Cạnh tranh hoàn hảo ở đây có nghĩa là
moi mọt hang hoa được trao đôi giữa các nhà mua bán nhỏ trên thị trường nơi
khong co độc quyên, và thông tin và kiên thức về giá cả và sản phẩm trên thị
trương la chính xác, đây đủ một cách hoàn hảo] Khi bỏ giả thuyết lợi nhuận
tối đa thì có thể xây dựng các lý thuyết về mục tiêu quản lý của TNC khi bỏ
gia thuyêt cạnh tranh hoàn hảo thì sẽ xuất hiện các yếu tô của độc quyển hay
các độc quyền nhóm chi phối thị trường Chính vì thế khi xây dựng các lý
thuyết về TNC, các lý thuyết chính thống đã đã trở nên lạc hậu Các lý thuyết
về TNC đã mang lại nhiều khía cạnh mới mà các lý thuyết chính thống khônơ
xet tơi như: marketing, liên kêt sản xuất theo chiều dọc và chiều n ơang trong
nọi bọ cong ty hay nhóm công ty, R & D, đào tạo lao động, xây dựng các
nhóm quản lý, khai thác và quản lý các nguồn tài chính, Y Y
Tiêu biểu cho trường phái lý thuyết trên phải kể đến Hvmer, người đầu
tiên giải thích một cách hệ thống tiến trình quốc tế hoá của các TNC
Trang 37Kindleberger nghiến cứu về các yếu tố được coi là lợi thế riêns của các TNC ở nước ngoài Johnson đưa ra khái niệm “hàng hoá cỏns" trons nội bộ TNC Hirsch, lại nhấn mạnh đến tầm quan trọng của hiểu biết (knowledge) có được từ quá trình R & D trong quá khứ Buckley và Casson đề cao vai trò của R & D và hoạt động đầu tư vào R & D của TNC Aliber nêu bật vai trò quan trọng của tỷ giá trong quyết định đầu tư của TNC Caves coi đa dạne hoá là một biện pháp
đê khai thác khả năng của TNC trong việc phân đoạn sản xuất Rugman
Williamson và Hennart là các đại diện tiêu biểu cho học thuyết về "nội vi lĩoá
của cóng ĩy" Dunning là đại diện cho lý thuyết chiết trung (eletric theory) hay
ba yêu tố dẫn đên quy định và phương thức mở rộns của TNC như: lợi thế sở hữu lợi thẻ địa phương và độna cơ nội vi hoá của công ty [46 15 - 16]
Các lý thuyết FDI vi mỏ về mở rộng họat động sản xuất ra bên ngoài của
các TNC đã đưa ra lời giải thích khá đầy đủ vì sao dòns FDI liên tục tăng từ
sau thê chiên thứ II đến năm 2000 Trong quá trình đưa ra lời giải thích về sự
vận động của dòng FDI, các lý thuyêt này, xét cho cùng, đã đặt cho minh
nhiệm vụ giải bài toán chi phí và lợi nhuận cho TNC với giả định rằng động cơ
lợi nhuận (không nhất thiết là phải tối đa) đóng vai trò quan trọng bằng cách
thâm nhập thị trường mới và mở rộng ảnh hưởng của mình ra nước ngoài Coi
xuát khẩu, chuyển giao công nghệ và FDI là những biện pháp thay thế nhau để
mở rộng ảnh hưởng và thị trường của TNC, trong điều kiện có sự tồn tại của
các rào cản thương mại và đầu tư, cũng như sự tổn tại của các thị trường
không hoàn hao, có tính đên các ưu thê riêng của công ty, ngành công nghiệp
địa điểm và quốc gia
4 Tóm lại, về cơ bản các lý thuyết về đầu tư quốc tế ở trên đã giải thích
được nguyên nhân hình thành, sự tồn tại và phát triển của FDI, nhưnơ cũna
chưa giải thích được các hiện tượng mới đang diễn ra như làn sóng kết hợp
cồng ty và sự hình thành các liên minh chiến lược trons của nhữns năm 1990
việc câu trúc lại thị trường do tác động của làn sóna toàn cầu hoá và cách
Trang 38mạng khoa học và công nghệ, rồi hiện tượng kinh doanh ngừng trệ đã làm cho hoạt động đáu tư trực tiêp ra nước ngoài của các TNC suy siảm tronơ hai năm liên tiếp 2001/02, .
Bởi các lý thuyêt về độc quyền nhóm mới chỉ giải thích được hiện tượng bên ngoài của quá trình tích tụ TBCN, nhưng chưa lột tả được cái thuộc về bản
chât cua phương thức sản xuất TBCN, mà TNC là đại diện tiêu biểu Hơn nữa
việc m ở rộng quy mô sản xuất kinh doanh ra bên ngoài còn là sự thể hiện lợi ích của đông đảo cổ đông, trong đó có cả những người lao độne (sở hữu sức lao động) và những người tri thức (sở hữu tri thức), chứ không đơn thuần chỉ là
vì quyển lợi của một nhóm nhỏ giới chủ tư bản - dù họ là nhữne nsười nắm giữ phần lớn sỏ lượn2 và giá trị cổ phiếu
Các lý thuyêt vĩ mỏ do được xây dựng dựa trên những giả định về hiệu qua sư dụng các yêu tô đầu vào truyền thông (gồm vốn, đất đai, nguvên nhiên liệu, lao động) của quá trình sản xuất giữa các nước - những điều kiện cần để xuất hiện đầu tư nước ngoài, nhưng lại bỏ qua các yếu tố khác thuộc về môi
ĩ rường kinh doanh, các chính sách phát triển kinh tế, xã hội và pháp luật của nước tiếp nhận, cũng như chiến lược phát triển của các TNC qua từng ơiai đoạn Các lý thuyêt này cũng chưa phân định được rõ hai hình thức đầu tư phổ biên của các TNC là FPI và FDI Vì như đã đề cập, đặc trưng cơ bản của dòns FDI không chi là sự luân chuyển vốn giữa các nước hav bổ sung vốn mới cho nước tiêp nhận, mà kèm theo nó là quá trình chuyển giao c ỏ n2 nehệ, kiến thức quán lý, mở rộng thị trường, những ưu thế nổi bật của FDI so với các hình thức đầu tư khác
Các lý thuyết vi mô trong khi tập trung lý giải nguyên nhân hình thành FDI từ góc độ chiến lược phát triển và đặc trưne của TNC như: độc quyền cổng nghệ, kỹ thuật marketing, chu kỳ sản phẩm, nội vi hoá hoạt độns sản xuất và phân phối, nhưng cũng lại bỏ qua các yếu tố thuộc về chính sách
Trang 39phat trien \ a moi trương kinh doanh tông thế (kinh tẽ, chính tri, pháp lý vãn hoá, xã hội ) của nước tiếp nhận, cũng như của nước chủ đầu tư Các lv thuyêt vi mỏ cũng chưa lường hét được sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và cống nghệ, của làn sóng toàn cầu hoá, các hình thức đa sở hưu cac hình thưc hợp tac cạnh tranh, các hình thức đôc quvền mới trong bôi canh xuât hiện nên kinh té tri thức không chỉ có V nghĩa như một hiện tượnơ nhất thời, mà còn là tương lai của nhân loại.
Viẹc cac trường phái lý thuyêt tập trung nshiên cứu hoạt động đầu tư
quốc tế dưới nhiều góc độ nhất là FDI, trong đó TNC là chủ thể chính cho
thay tam quan trọng đặc biệt của chúng đối với sư phát triển nói chunơ Vâv những tác động có thể có từ hoạt động này của TNC đối với nền kinh tế thế giới nói chung và từng nước tiếp nhận vốn đầu tư nói riêng là sì?
1.2.3 Tác động từ hoạt động đáu tư quốc tẻ của các TN C đỏi với nền kinh té thế giới
Như đã phân tích ở trên, TNC là hình thức tổ chức kinh tế độc quyền
quốc tê chủ yếu kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, đồng thời là hình thức
tổ chức sản xuất tiên tiến của nền kinh tế thế giới trong điều kiện bùng nổ cách mạng khoa học và công nghệ ngày nay Với khả năng tài chính to lớn, chế độ quản lý lao động và kinh doanh có khả năng tự biến đổi và thích ứns cao để đạt tới trạng thái ưu việt, cộng với tiềm lực khoa học và công nghệ mạnh, thông qua các hình thức mở rộng nãng lực sản xuất và kinh doanh xuyên biên giới, các TNC đã từng bước thâm nhập sâu vào mọi lĩnh vực kinh
tế - xã hội của thế giới, nhất là đối với khu vực các nước DPT Ảnh hưởno của chúng được thể hiện nổi bật ở những điểm sau:
Thư nhát, đâu tư của TNC là động lực thúc đẩy tăns trưởng kinh tế thế
giới, quốc tế h o á hoạt động sản xuất và chuyên môn hoá lao động xã hội
Trang 40Từ 1960 - 1980, đầu tư của các TNC đến từ các nước tư bản phát triển
tăng gáp hơn 8 lần, bình quân hàng năm tăng 1 ỉ% vượt qua hầu hết các chỉ số
tăng trưởng kinh tế chủ yếu của các nước này, tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP), nhanh hơn mức tăng trưởng của mậu dịch quốc tế và càng tãng nhanh hơn so với đầu tư trong nước Trong giai đoạn
từ 1982 - 1994, dòng vốn đầu tư của các TNC đã tăng lên tới hơn 4 lần, bình quân hàng năm tãng 9%, gấp hơn hai lần mức tăng bình quân GDP của toàn thế giới Đến nám 1996, riêng lượng FDI do các TNC đầu tư trên toàn cầu đã
đạt giá trị 1.400 tỷ USD (xem biểu đó 1.1).
Biểu đồ 1.1: Động thái của dòng F D I do các TNC thực hiện
giai đoạn 1970 -1 9 9 6
(Đctn vị tính: tỷ USD)
N guồn UNCTAD, World Investment Report 1997, tr 27.
Sự gia tăng nhanh chóng dòng FDI của các TNC từ giữa những nãrn 1980, chu yêu la nhờ các hoạt động của làn sóng M & A lần thứ tư khởi nsuồn tai Mỹ hổi đầu thập niên 80 trong các ngành cóng nshiệp chế tạo và khai khoáng, sau
đó lan rộng sang hầu hêt các ngành kinh tẻ khác [Làn sóng hợp nhất cồng ty lần thư nhat diên ra vào CUÔ1 thẻ kỷ XIX đẻ hình thành các công ty đổc quyền; làn