Sơ lược về lịch sử tộc người và tên gọi 15... Ô ng cũng khảng định: cùng với một số tộc người anh em , người La Ha trước dày được gọi chung cùng một tộc danh “ X á ” và người “X á ” vốn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA IỈÀ NỘI TRUỒNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XẢ HỘI VÀ NHÂN VÃN
-
0O0 -Vũ Tú Quyên
L Ễ H Ộ I P A N G A N Ụ N B A N
CỦA NGƯỜI LA HA Ở BẢN LÓT, XÃ ÍT ONG,
HUYỆN M Ư ỜNG LA, TỈNH SƠN LA
Chuyên ngành: Dân tộc học
Mã số: 5.03.10
LUẬN VÀN THẠC s ĩ KHOA HỌC LỊCH s ử
NGƯỜI H Ư Ớ N G D Ẫ N K H O A H Ọ C : PG S.TS LÂ M BÁ N A M
Trang 2m ụ c: l ụ c:
TrangTrang phụ bìa
Lơi cam đoan
Chương 1 - KHÁI Ọ U Á T VỀ NGƯỜI LA MA B Ả N LÓT, X Ã ÍT 12
O N G , H U Y Ệ N MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
1.2 Sơ lược lịch sử tộc người và sự phân bố dân cư ở bán Lót, xã 15
ít Ong
1.2.1 Sơ lược về lịch sử tộc người và tên gọi 15
Trang 31.3.2 V ề vãn lioá - xã hội 22
Chương 2 - LỄ HỘI PANG A N Ụ N B A N C Ủ A NGƯỜI LA HA ở 32
B Ả N L Ó T , X Ả Í T O N G , H U Y Ệ N M U Ờ N G LA, T Í N H S Ơ N L A
2.1 Không gian và thời gian tổ chức lẻ hội 32
2.2 Quy trình tổ chức lẻ hội Pang a nụn ban 35
Chương 3 - LỄ HỘI PANG A NỤN BAN TRONG ĐỜI SONG 66
TỘC NGUỜI VÀ QUAN HỆ TỘC NGƯỜỈ
3.3 Giá trị lịch sử vãn hoá của lễ hội Pang a nun ban 86 3.4 K ế thừa và phát huy lễ hội truyền thống 88
Trang 4M Ớ Đ Ẩ U
1 T ín h c ấ p th iế t c ủ a đ ê t ả i:
1.1 N ô n g nghiệ " 1 ' ' ' ' ' tố chú đạo cửa c á c c ư dàn V iệt N a m
từ đ ổ n g bằnu c h o tới c á c tỉnh trung till, m iề n núi C ác loại hình kinh tố n ố n g
n g h iệ p của m ỗ i tộ c người thường gán liền với những sinh hoạt văn hoá, những
p h o n g tục tập quán c ũ n g như những tôn g iá o tín n gư ỡ n g l iê n g của từng tộc
n g ư ờ i đó C ác hình thức tôn g iá o , tín n gư ỡn g gắn liền với n ô n g n g h iệ p được
th ể h iệ n qua từng giai đoạn, từng ch u kỳ trồng trọt, từng loại hình irồng trọt từ khi g i e o trồng đ ến khi thu hoạch N g h ic n cứu m ột hình thức tôn g iá o , tín
n g ư ỡ n g n ô n g n g h iệ p của m ột tộc người ta c ó thể hiểu được phần nào nhân sin h quan và th ế giới quan của họ C ác lễ hội đều c ó tính chất cầu m ù a rõ nét với c á c hình tliírc tín ngưỡng c ó tính m a thuật c ũ n g như tính phồn thực nhằm
m ụ c đ íc h cầu m o n g ch o m ù a m à n g được tươi tốt, bội thu Ta c ó thể thấy từ khi
g i e o trổng đ ến khi thu h oạ ch họ, những c ư dân n ò n g n g h iệ p đã thực hiện
n h iề u nghi thức, tín ngưỡng k h ô n g nằm n g o à i m ụ c đ ích đ ó như: lễ hội x u ố n g
đ ổ n g của người N ù n g , m ột s ố lẻ hội của người V iệt, lỗ hội của người T hái,
c ũ n g n h ư của người Khư m ú, người La Ha, Kháng
V iệ t N a m nói riêng, Đ ô n g N a m Á nói ch u n g , vốn là cái nôi trổng trọt, nơi phát sinh ra n g h ề trồng lúa C hính vì vậy, trong dời s ố n g tinh thần của cá c đàn tộ c nơi đây, c á c tín ngưỡng, lỗ nghi n ô n g n g h iệ p c h iế m m ột vị trí quan trọng, g ó p phần hình thành ncn bản sắc vãn hoá dân tộc Là cư dân ca n h tác lúa truyền th ố n g , người La Ha ở V iệ t N a m vẫn c ò n lưu g iữ dược nhiều till
n g ư ỡ n g , n h iều lễ nghi n ô n g n g h iệ p p h ong phú và đặc sắc, trong d ó c ó “ Lỗ
c ú n g m ã n g h o a ” (P an g a nụn ban) N g h iê n cứu lỗ thức này sẽ d ó n g g ó p vào
v iệ c báo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc như Đ a n g và N hà nước đã dề
24913768
Trang 51.2 N h ữ n g n ăm gần đ ây, d o sự phát triển kinh tố, quá trình c ộ n g c ư và
g ia o lưu văn lioá m ạ n h m ẽ , văn h oá của người La Ha ở Sơn La đang biến đổi nhanh c h ó n g N h ữ n g y ế u tố văn liơá truyền thống có n g u y c ơ mai m ột trong dời số n g cộn g đổng.
1.3 Đ ịa bàn đ ư ợc c h ọ n để n g h iên cứu là m ột trong 8 bản th u ộc d iệ n di (lân v ù n g lò n g h ổ thuỷ đ iệ n Sơn La nên v iệ c n g h iên cứu m ột trong những thành tố văn hoá tiêu biểu của tộc người sẽ không chỉ c ó ý nghĩa về mặt khoa
học, V n g h ĩ a về m ặ t thực t i ễ n n h ằ m g ó p p hầ n và o việc biio lưu n h ữ n g di sán
văn hoá truyền thống đ ộc đáo của Iigưừi La Ha nói riêng, di sán văn hoá quốc gia nói chun g mà nó còn c ó tác dụng làm phong phú hơn nguồn tài liệu vé văn lioá tộc người trong k h o tàn g văn hoá V iệt N am
Không như một s ố tộc người có s ố dân cư đông như Thái, Tày,
H m ô n g vấn đề ngh iên cứu văn hoá tộc người La Ha cho đến hiện nay vẫn
CÒ11 ít được cá c nhà khoa h ọc quan tâm Trong m ột s ố tài liệu chuyên ngành, người La Ha được biết đ ế n với tên g ọ i “ X á ” , nhưng c ũ n g thật khó khăn c h o những người làm cô n g tác ngh iên cứu sau này vì những tài liệu này được viết vào những năm 6 0 trở về trước thường quy một s ố tộc người sống bên cạnh người Thái là “ X á ” T ro n g s ố n h ữ ng tài liệu này c ó thế kê đ ến c u ố n Các (lân
N g u y ễ n Hữu T uấn, M ai V ă n Trí, N g ọ c A nh và M ạ c N h ư Đ ư ờ n g xuất bail năm
1959, bài viết của S.A A ruchiunỏp, A.I M ukhơlinôp do N g u y ễn V iệt Nga
d ịc h Về dặc trưng (lân tộc học các dân tộc nhóm Xá lưu tại V i ệ n D ân tộc học nam 1972 Chính vì vậy, việc phân biệt tộc người La Ha với một s ố tộc người láng giền g là rất khó khăn.
C uốn Các (lân tộc IIÍỊUỒH lỊốc Nam Á à miên Bắc Việt Nam của V ư ơ n g
H o à n g T uyòn xuất hán năm 1963 ch i đé cập đến c á c dân tộc thuộc n hóm ngôn
Trang 6n g ữ M ô n - K h ơ m e ( ô n g k h ô n g xế p người La H a vào n h ó m n g ô n n g ữ này)
N a m 1972, n h ó m tác g ia Đ ặ n g N g h iê m V ạn, N g u y ễ n Trúc Bình, N g u y ễ n V ãn
H u y, Thanh T h iê n viết c u ố n Nhữ/lị! nhóm dân tộc thuộc niịữ hệ Nam Á à Tùy
C u ố n Cúc (lán tộc ở miền Bắc Việt Nam của N g u y ễ n Đ Ì 11I1 K h oa xuất hán năm 1976 lại là tài liệu về nhân chủng học Trong cuốn sách của mình,
ó n g x ế p n g ườ i La H a vào n h ó m n g ô n n g ữ M ò n - K h ơ m e và đ ư a ra m ộ t sô c ứ
liệu vé nhân chủn g học của tộc người Ô ng cũng khảng định: cùng với một số tộc người anh em , người La Ha trước dày được gọi chung cùng một tộc danh
“ X á ” và người “X á ” vốn được xem là những người bán địa lâu đời ớ vùng này.
Từ cuối thập kỷ 7 0 của th ế kỷ X X , một s ố công trình nghiên cứu đã để
c ậ p đến dân t ộ c La Ha Đ á n g chú ý là c u ố n Các dân tộc ít người ở Việt Nam
quát về ngư ời L a Ha và x ế p ngôn n g ữ La Ha vào n h ó m n g ô n n g ữ Tày - Thái.
N goài ra, còn c ó một s ố côn g trình nghiên cứu khác như Nịiitổn ÍỊỐC
C h í H u y ên , H o à n g H oa T oàn, Lương V ăn Bảo xuất bản n ăm 2 0 0 0 , Nghiên
cứ u n g ô n n g ữ c á c d â n tộ c th iể u s ổ V iệ t N a m c ủ a Trần Trí D õ i xuất bản năm
2 0 0 0 Những nghiên cứu này dề cập đến tộc người La Ha trên cư sớ để làm
cứ liệu về nguồn g ố c tộc người và ngôn ngữ tộc người.
C ho đ ế n g ầ n đ ây c ó m ột s ố n g h iê n cứu về tộc người này như: đ ề tài về
c ủ a S ở V H T T Lào Cai về Một số phong tục truyên ihốiiiỊ của niỊiíừi La Hư ớ
Trang 7n h ư n g đổ tài này c ũ n g chí m ới dừng lại ở hước nghiên cứu sư lược ve lỗ hội
n ày m à thôi D o đ ó, d ây c ò n là m ột k h o a n g trống đòi hỏi sự đáu tư n g h iê n cứu xứng đáng với những giá trị cứa nó.
Trên cơ sở k ế thừa người đi trước, tiếp tục đào sâu thêm và tập trung
1 hoi g ia n hưn, c h ú n g tỏi ch ọ n đề tài L ẽ hội Panỉị a mill ban cùa người La Ha ứ bản Lót, xã ít Ong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La với m on g muốn tìm ra những giá trị văn hoá cổ truyền còn được lưu giữ thông qua việc kháo sát các hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian tiêu biểu diễn ra irong lỗ hội, qua đó Iièii
ý n gh ĩa thực liễn của những giá trị văn lioá đó trong dời sống hiện tại.
3.2 V ới đề tài “ L ễ hội Pang a nun ban c ủ a người La H a ở bail Lót, x ã ít
O n g , h u y ện Mirừng La, tỉnh Sơn L a” lu ận vãn tập trung n g h iên cứu tại địa bàn bail Lót, xã ít Ong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La Ngoài ra, luận văn còn tìm liiéu vổ lỗ hội X ên lẩu nó của người T h á i đ e n trên địa bàn Sơn La đê c ó những
c ứ l iệu so sánh về lễ thức của hai tộc người
Trang 84 M ụ c ( líc h n g h iê n c ứ u :
4.1 T ậ p h ợ p cá c t h ô n g tin, tư liệu về c ác t h à n h t ố vãn hoá c ủ a người La
H a, đ ặ c biệt là cá c tư liệu về L ễ c ú n g m ă n g hoa, g ó p phần làm p h o n g phú hơn
n g u ồ n tư liệu về văn hoá tộc người
4.2 G iới thiệu về k h ô n g gian, thời g i a n và c á c h ì nh thức tín n g ư ỡ n g ,
p h o n g tục tiêu biểu d iễn ra trong lễ hội dân g ia n truyền thống Q u a đ ỏ thấy
đ ượ c vai trò, tác đ ộ n g c ửa văn iioá d àn g i a n t r o n g sinh h oạt van h oa c ộ n g
đ ồ n g , đ ổ n g thời ta c ó thể thấy những ánh hưởng nhất định c ủ a đ iều k iện địa lý
đối với đời s ố n g và lnrớng hoạt đ ộ n g c ủ a c on người q u a q u á trì nh n g hi lỗ lioá
lịch c a n h tác và phép thuật n ô n g n g h iệp cùa c ư dân n ô n g n gh iệp
4 3 So sán h “ L ễ c ú n g m ă n g h o a ” củ a người La Ha với lẻ “ X ê n lẩu n ó ”
c ủ a người T h á i đen Sơn La để thấy sự ảnh hưởng văn hoá c ủ a tộ c người c ó s ố dân đ ô n g hơn, văn hoá bao trùm hơn, g iú p c h ú n g ta thấy đư ợc cái riên g trong
c á i c h u n g , c á i c h u n g trong cái riêng, tính (h ố n g nhất trong đa d ạ n g c ủ a văn hoá V iệ t N a m Hơn hết, đ â y sẽ là c ơ s ở đ ể clìiing ta c ó n hữ ng g iả i pháp k ế
thừa và b ả o t ổ n n h ữ n g th à nh t ố vãn hoá tộc người, di s ản văn h o á q u ố c gia
5 P h ư ơ n g p h á p n g h iê n c ứ u :
5.1 L u ậ n văn vận d ụ n g quan đ iể m của chủ n g h ĩa M á c - L ê n in về k ế thừa vốn văn h o á truyền thống, vận d ụng đ ư ờng lối củ a Đ ả n g C ộ n g sán và N hà nước V iệ t N a m trong v iệ c b à o tổn và phát huy vố n di sán văn hoá dân tộ c đế
x â y d ự n g n ền vãn hoá m ới tiên liến , dậm đà bản sắc dán tộc.
5.2 L u ậ n văn s ử d ụ n g p h ư ơ n g p h á p đ iề n d ã dâ n tộc họ c n h ư q u a n sát,
t h a m dự, p h ỏ n g vấn sâu, p h ỏ n g vấn n h ó m , m ô tả, sưu t ầ m tư liệu, c h ụ p ả nh,
q u a y p h im
5.3 L u ậ n văn sử d ụ n g p h ư ơ ng p h áp p h à n tích, p h ư ơ n g p h á p l ổ n g h ợp
n h ằ m tìm h iểu ý n g h ĩa trong c á c hoạt đ ộ n g cùa đối tượng được n g h iên cứu.
Trang 9L uận văn CÒI1 sử d ụng phương pháp so sánh, dối ch iế u với c á c tài liệu n g h iê n
c ứ u d ã c ó về lẻ hội P ang a mill ban c ủ a người La H a và X ê n láu I1Ó của người
T h ái đ en nói c h u n g và tài liệu 111 ực tê về hai lẻ thức này nói l i ê n g đê thây dược
n h ữ n g ánh lnrởng vãn hoá giữa c á c c ộ n g đ ồ n g người c ư trú trong c ù n g m ột
kim vực, đ ổ n g thời sẽ g i ú p ích c h o việc n hậ n d i ệ n nét đ ặ c thù cửa văn ho á d â n
g ia n La Ha.
Những khó khăn và thuận lọi:
K hi thực hiện luận văn c h ú n g tôi đã g ặ p m ộ t s ố k h ó khăn như: bán ihân
là nữ lại n g h iê n cứu tại địa bàn xa (m ộ t tỉnh m iề n núi phía B ác), đi lại klìó
kh ăn, n g o à i đ oạn đường bộ đ an g thi c ô n g từ Hoà Bình đ ến M ộ c C hâu, c h ú n g tòi c ò n phải đi thuyền ngược s ô n g Đ à 13km m ới đến được địa đ iế m n g h iê n cứu K h ô n g ch ỉ n g h iê n cứu ở m ột tộc người (La Ha) tại bản Lót xã ít O n g ,
c lu in g tôi c ò n k h ảo sát về người Thái ở bản N à T ò n g xã ít O n g và bản C hiến
xã C h iề n g San V ớ i địa bàn thực tập như vậy, c h ú n g tôi thực hiện khao sát thành 2 đợt: đợt 1 trong 12 n g à y (từ n g à y 3 / 5 / 2 0 0 0 đ ến n g à y 1 4 / 5 / 2 0 0 0 ) , đợt 2 trong 15 n g à y (từ n g à y 1 5 /4 /2 0 0 3 đ ến n g à y 2 9 / 4 / 2 0 0 3 ) N g o à i ra, c h ú n g tôi
c ò n g ặ p rất nhiều trở ngại trong v iệ c g ia o tiếp với người ban đ ịa là người Thái
h o ặ c n gư ời La Ha thuộc d iện đối tượng cần p h ỏ n g vấn d o đ ó , c h ú n g tỏi ch i c ó
ih ê h oàn thành phần nào trong khôi lư ợng lớn c ô n g v iệ c cua luận văn.
B ên cạnh những khó khăn vừa nêu, clu in g tôi c ũ n g c ó m ột s ổ những
thnẠn lợi khi thực hiện luận văn như: k ế thừa n g u ồ n t ư liệu về đối tượng đ ượ c
n g h iê n cứu củ a V iệ n cũ n g như củ a S ở V H T T Sơn La, S ở V H T T L ào Cai, H ội
V an n g h ệ dân gian Sơn La N g o à i ra, c h ú n g lôi c ũ n g nhận đư ợc sự g iú p dữ tận tình củ a B á o là n g lỉnh Sơn La, U ý han nhân dân h u yện M ư ờ n g La, c á c cán bộ
đ ồ n g n g h iệ p c ũ n g như của cán bộ địa phương
Trang 10Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham kháo và phụ lục, luận vãn được trình bày gồm 79 trang và được chia thành 3 chương:
Chương 1: Khái quát về người La Ha ở bản Lót, xã ít Ong, huyện Mường La, tinh Sơn La.
Chương 2: Lễ hội Pang a nun ban của npười La Ha ở bail Lót, xã ít Ong, huyện Mường La, tính Sơn La.
Chương 3: Lễ hội Pang a nụn bail trong đời sống tộc người vù quan hệ tộc người.
6 Bỏ cục của luận văn.
Trang 11KHÁI QUÁ T VỂ NGƯỜI LA HA Ở BẢN LÓT, XÃ ÍT ONG,
HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- huyện Thuận Châu; phía tây giáp xã Mường Trai - huyện Mường La; phía bắc giáp xã Pi Toong - huyện Mường La.
Xã có độ cao trung hình từ 600 đến 700m so với mực nước biển, địa hình phức tạp Các dãy núi ở xã thường cao, dứng Phía bác Sông Đà địa hình nghiêng từ đông b ắc xuống đông nam Địa hình như vậy gây ánh hưởng nh iề u
c h o việc p há t tri ển k i nh t ế xã hội, đ ặ c biệt là về g i a o t h ô n g đi lại rất k h ó k h ă n
1341.
Xã gồm có 21 bản: bản Pá Mu, Chà Lào, bản Lót, bản Pểnh, Hua Lon,
Nà Lo, Con Cu, Nà Kè, Nà Nong, Hua ít, ban Tráng, Dạng trên, Hua Nà, bản
Mé, Nà Chà, ban Till, Pííng Q u à i , ít Bon, Nà Tòng, Co Liu, Dạng dưới và 4 tiểu khu: tiểu khu I, tiểu khu II, tiểu khu III và tiểu khu IV.
Bán Lót, còn được gọi là bản Van Lót, một ban nhỏ thuộc xã ít Ong Iniyện Mường La, tính Sơn La Bản được gọi theo tên COI 1 suối Van và cây Lót
ớ đáu nụuổn COI1 suối Theo tiếng La Ha thì “ V a n ” có nghĩa là khe, suối (?).
Trang 12Còn “ L ó t ” nghĩa là cày nhót (một loại cây thuộc họ cây leo có hoa trắng, quá chín đỏ tlurờng kết trái vào mùa xuân) Người dân nơi dây thường gọi bán Van Lót là han Lót hoặc bản Huổi Lót Trên bán đồ hành chính bán có tên là bíin Lót thuộc xã ít Ong.
Bản Lól nằm ở lưng chừng núi bên dòng sông Đà, cách trung tâm huyện Mường La khoảng 13km về phía tây Đường giao (hông duy nhất là đường sông (họ đi lại, vận chuyên hàng hoá bằng thuyền trên sông Đà), không có đường ỏ tô tới bản Phía Dông giáp bản Mon - xã ít Ong;' phía Táy giáp han ( ’ha - xã Ít Ong; phía Bác giáp xã Pi Toong; phía nam giáp sông Đà (bên kia sông Đà là xã Liệp Tè, huyện Thuận Châu).
1.1.2 Đ ã c đ i ể m tư nhiên:
Diện tích tự nhiên của xã ít Ong là 47 3 9 ha, trong đó:
+ Đất sán xuất nông nghiệp là 92 5 ,2 9 ha, chiếm 19,53% lổng diện tích
tự nhiên; đất trổng cây hàng năm chiếm diện tích khá lớn so với diện tích đất nông nghiệp 866,46 ha.
+ Đ ấ t l â m n g h i ệ p là 1 2 49 ,8 4 h a, c h i ế m 2 6 , 3 7 % t ổ n g d i ệ n tích tự nhi ên,
chủ yếu là rừng khoanh nuôi tái sinh và rừng trổng bảo vệ đầu nguồn.
+ Đất chuyên dùng là 174,86 ha, chiếm 3,69% tổng diện lích tự n hi ê n
trong đó đất xây dựng là 17,25 ha gồm: trụ sở các cơ quan hành chính, trường học, bệnh viện, trạm y tế Đất giao thông 17,92 ha có 0,6 ha đường cấp phôi còn lại chủ yếu là dường mòn Đất thuỷ lợi là 103,64 ha, mặt nước chuyên ilùng là 100 ha, còn lại là kênh mương thuý lợi.
+ Đất đô thị là 39,77 ha, chiếm 0,84% tổng diện tích tự nhiên, chủ yếu tập trung xung quanh huyện lỵ còn một số phân tán rải rác ở lưng chừng đổi.
Trang 13+ Đất clura sử dựng là 2 3 4 9 , 2 4 ha, c h iế m 4 9 ,5 7 % tổ n g d iện tích tự nhiên, trong đ ó c ó kha năng khai thác đưa vào sản xuất n ô n g , làm n g h iệ p c ò n khá lớn.
C o n s ô n g Đ à ch ả y qua địa phận của xã với ch iề u dài gán 13km , n goài
la c ò n c ó c á c suối nhỏ c h ả y vào s ô n g Đ à C ác s ồ n g , su ối củ a xã về m ùa mưa thường c h ả y rất m ạnh, ảnh hưởng rất nhiều đ ến đời s ố n g vù kinh t ế củ a nhân đùn trong xã N g o à i nước trời, c á c s ổ n g , su ối và một sô I11Ó nước lit nguồn,
c u n g c ấ p nước chủ y ế u c h o sản xuất và đời s ố n g sinh hoạt củ a nhân dân ứ đây 134].
N g u ồ n nước sinh hoạt cíia người dân bản Lót là nước k he, su ố i từ trong núi c h ả y ra.
- Đ ấ t phù sa s ô n g su ố i phân b ố chủ y ế u v en c á c su ố i N ậ m M e thích hợp c h o v iệ c trổng lúa, hoa m à u và c â y ăn quả.
- Đ ấ t d ố c tụ phần lớn phân b ố ở c á c thung lũng, trong quá trình canh tác
dà biến đ ổ i dần, thích hợp c h o v iệ c trổng lúa, hoa m àu , c â y ăn quả.
X ã nằm trong vùng khí hậu m a n g tính nhiệt đới g ió m ùa, ch ịu ảnh hưởng c ủ a g i ó m ùa đ ô n g bác, c ó hai m ù a rõ rệt.
Trang 14+ Mùa mưa từ tháng 3 đến th án g 10, m ùa này Ihường n ó n g và mưa
nh iều N hiệt đ ộ trung bình từ 2 1 - 2 5 ° Đ ộ ẩm k h ô n g khí trung bình là 75%
L ư ợn g mưa từ 1 4 0 0 - 1 5 0 0 m m /n ă m , tập trung vào cá c tháng 7, 8, 9.
+ M ùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 n ă m sau, m ù a này kh í hậu thường lạnh, c ó nơi cò n c ó sương m u ối.
D o ảnh hưởng của c á c dãy núi, s ô n g Đ à , hệ th ố n g c á c su ối của xã ít
O n g n ê n kh í hậu ở đáy c ó n hiều tiếu v ù n g nhò V ù n g d ọ c s ô n g Đ à c ó nhiệt độ bình q uân thường c a o hơn x u n g q uanh từ 1-2° [34].
D o nắng và mưa k h ô n g đ iều h o à c h o nên g â y rất n h iều kh ó khăn c h o
v iệ c phát triển kinh t ế xã hội và đời s ố n g c ủ a nhân dân v ề m ùa k h ỏ nhiều nơi thiếu nước, về m ù a mưa thường g â y 1Q lụt, x ó i lở m ạnh.
1.2 S ơ lư ợ c lịch s ứ tộ c n g ư ờ i và s ự p h ả n b ô d â n c ư ở b ả n L ó t, x ã í t O n g :
1.2.1 ■ Sơ lươc vé lị ch sừ tốc nmrời và t ê n Roi:
T h e o c á c tác g iả Đ ặ n g N g h i ê m V ạ n , C ẩ m T rọng, K hà V ă n T iế n , T ò n g Kim  n , trong c u ố n Tư liệ u về lịcli sử VCI xã h ộ i dân tộ c T h á i, vào n hữ ng năm
th u ộ c th iên niên kỷ thứ I trước C ô n g n g u y c ii người Thái đã c ư trú ở m ột phần nhỏ T â y Bấc V iệ t N a m T u y n hiên s ố lư ợ n g người Thái chư a n h iều vì đ ó chủ
y ế u lù đất đai của c á c c ư dân M ôn - K liư m e và c á c n h ó m N a m Á khác T ron g
c á c truyền thuyết củ a người Thái đều g h i nhận hồi đ ó c ó “ 5 5 5 g iô n g X á và
3 3 3 g i ố n g T h á i” [40: 29],
T h e o truyền thuyết trong “ Q u ắ m tố m ư ờ n g ” thì lớp người đáu tiên được
T hen c ử x u ố n g “ ăn” đất trần gian d ể d ự n g bản, lập m ư ờ n g “ g ồ m c ó mười
g ió n g X á c ó năm g iố n g T h á i” [40: 4 9 ] , sail đ ó là n h ữ n g lớp người khác (lược
c ử x u ố n g nhưng đều k h ô n g trụ lại đ ư ợc, c u ố i c ù n g T hen c ử m ột n h ó m người khác x u ố n g với “ ba trăm ba mươi họ X á , năm trăm năm m ươi h ọ T h á i” [40:
5 4 |.
Trang 15C ũng th e o “ Q u ắ m t ố m ư ờ n g ” L ò L ạ n g Chirợng trong quá trình di tìm (lát đã gặp sự k h á n g c ự c ủ a c á c tộc ngư ời X á bán địa Khi đèn M ư ờ n g La L ạn g
C hượng “ đã phải đ ánh nhau với người X á d o tướng Khun Q u à n g cầ m đ ấ u ”
Nlnr v ậ y , c á c tư liệu tlnr tịch c ổ và truyền thuyết của người Thái dã c ô n g nhận sự c ó m ặt của c á c tộc người X á (trong đ ó c ó người La H a) ứ v ù n g Tây Hắc V iệt N a m với tư c á c h là n hữ ng c ư dân ban địa.
Đ ặ n g N g h i ê m V ạ n , trong c ô n g trình n g h iê n cứu Sư liỉực về sự thiên dỉ
X á là dân tộ c chủ thê ở T â y Bắc hổi đ ó c ư trú ở khắp ba tỉnh Sơn La, Lai
C hâu, N g h ĩa L ộ H ọ là tổ tiên ngư ời X á K h a o và c á c n h ó m X á k h á c th u ộc n gữ
hệ M ô n - K h ơ m e ” [38: 4 0 1 ] ,
M ột tài liệu k h á c c ũ n g g h i nhận “T ổ tiên người La Ha đã sớ m c ó m ặt ớ
m iề n T ây Bắc nư ớc ta V à o t h ế k ý X I-X I I, khi ngành T h á i đ e n thiên di đ ến
m iề n này, tổ tiên ngư ời La H a đã c ư trú ở n h iề u nơi, với rất n h iề u tên g ọ i được ghi c h é p trong c á c s á c h c ổ c h ữ T h á i” C ũ n g th eo tài liệu này thì người La Ha thuộc n g ữ hệ N a m Á C ù n g với n g ô n n g ữ Pu Péo (H à G ia n g ), n g ô n n g ữ La Ha
c ó n hiều y ếu t ố M ô n - K h ơ m e , T à y - T h á i và M a la y ô - P ô lin êd ia Dàn t ộc La
Ha được ch ia thành hai n gà n h La H a ủ n g (L a Ha ở nư ớc) và Klilá Plilạo huy
La Ha Phlạo (người La H a ở c ạ n ) [42: 2 4 3 ] , H iện nay, c h ú n g tôi chưa x á c định được người La Ha ở b ả n L ót x ã ít O n g th u ộ c vào n h ó m La H a nào.
N g o à i ra, tuỳ th e o đ ặc đ iể m đ ịa lý h o ặ c đặc trưng tộ c ngư ời m à người
La Ha được c á c tộ c người lá n g g i ế n g g ọ i bằng những c á i tên k h á c nhau
N gười Thái g ọ i h ọ là: “ X á C h a ” , “ X á B u n g ” , “ Xá k h a o ” , “ X á táu n hạ” , “ X á
P o ọ n g ” , “ X á U ộ n g ” N g ư ờ i K h á n g g ọ i họ là “ BỈI H a” N gư ờ i K hơ mú g ọ i họ
là “ p ụ a ” [35: 2 1 1 ]
Trang 16T rong cá c tài liệu dân tộc học những năm 6 0 trư về trước, người La ỉ ỉa,
c ù n g với n hiều tộc người khác ở vùng núi phía Bác, thường dược biết đến với tộc danh là “ X á ” T h e o bán th ốn g kê của n h ó m tác g iá Lã V ă n L ô vào năm
1959 thì tộc người X á được x ế p vào n h ó m n g ô n n g ữ T ạ n g - M iế n th u ộ c n g ữ hệ
H án T ạng, g ồ m : X á Khao, X á Cảu, X á X íp, X á Phó, X á Kha và người Tinh (v ù n g Bá Thước, khu IV) với tống dân s ố là 1 8 8 7 2 người [31: 2 4 1 ] C ũ n g
th e o tài liệu này, tiến g nói của người X á Phó, X á K h ao M ư ờ n g T è th u ộ c ngữ
hệ T ạ n g -M iế n , c ò n tiến g nói củ a người X á Ciíu, X á K h ao M ưừng La thuộc
n g ữ hệ M ô n K h ơ me Ớ M ư ờ n g La, người X á c ó 1.182 người 133: 151-152]
Trước đây, c ù n g với người K h án g, C ố n g , người La Ha đư ợc g ọ i là XII Khao [4: 106] Trần Trí D õ i, trong n g h iê n cứu vể n g ô n n g ữ c á c dân tộc thiểu sô' V iệ t N a m , đã x ế p người L a Ha vào n h ó m n g ô n ngữ Ka đai th u ộ c họ T hái - Kactai c ù n g với người La Chí, C ơ Lao và Pu P é o [4: 145].
T h e o c á c tác g iả N g u y ễ n C hí H u y ên , H o à n g H o a T o à n , L ư ơn g V ã n Bao thì “c ó thể “ L ã o ” ở đ â y là tên p h iếm ch ỉ c h u n g cả c á c tộ c người n g ô n n g ữ
M ôn - K h ơ m e (K h á n g , La Ha, X inh M un m à trong thư tịch Thái xưa g ọ i
ch u n g là người X á ) bản địa x a xưa c ư trú ở T ây Bắc nữa” [8: 112].
Đ ặ n g N g h i ê m V ạn cũ n g c h o rằng “ L ão tức là Lạc Đ ó là bộ phận tiền ihân của ngành T à y - Thái Rất c ó thể trong đ ó c ò n c ó cá tiền thân c á c dân tộc
X á thuộc n g ữ hệ M ô n - K h ơ m e nữa” [37: 389J.
T rong m ộ t n g h iên cứu khác, Đ ặ n g N g h i ê m V ạn và N g u y ễ n Trúc Bình,
N g u y ễ n V ă n H u y , Thanh T h iên c h o rằng “ c ó lẽ người “ X á C h a ” và người “ X á
La N g a ” là tổ tiên cùa người La-ha h iện nay, vì c h o đến nay người La-ha ở
T h a n -Ư y ê n ( N g h ĩa Lộ - nay là tỉnh L à o Cai - V T Q ) vẫn đirợc người Thái g ọ i
là “ X á C ha” ; c ò n “ X á La N g a ” c ó thể là tên g ọ i c h ệ c h từ tên "L a-ha” ” Ị35:
2 1 2 - 2 1 3 ] ,
Trang 17T h e o hồi ức của người La Ha ban Lót, h u yện M ư ờ ng La, Sơn La thì tổ liên của họ (cá c h đây k h o ả n g 4 - 5 đời) di c h u y ể n từ Lai Châu x u ô i bò d ọ c s ò n g
Đ à x u ố n g , khi đến v ù n g đất này thì bè củ a họ bị m ắ c cạn C ho ràng dây là
v ù n g đất tốt, họ lên bờ làm nhà, lập bản và sin h s ố n g ở đó V ì thế, người La
Ha ở đ â y tự g ọi m ìn h là K ỉ á khạniỊ vạy C ò n người Thái g ọ i họ là Sạ kanii chạv
n g h ĩa là La Ha trôi mắc (?)'.
N g ư ờ i La Ha ở bản Lót hiện nay c ó ba (lòng họ: họ L ò, h ọ Q u à n g và họ
T ò n g N g o à i ra, c ư dân bản Lót c ò n c ó họ Cà nhưng ch i c p người Thái trong bản m a n g h ọ này.
1.2.2 Sư phân b ố dân cư:
T h e o tổng đ iều tra dân s ố năm 1999, dán s ố củ a ngư ời La H a là 1.8 0 0 người, phân b ố trên đ ịa bàn hai tỉnh Sơn La và Lai Châu, ở Sơn La, người La
Ha c ư trú rải rác tại c á c h u y ện M ư ờ n g La, T huận Châu và Q u ỳ n h N h a i H ọ thường s ố n g x e n kẽ với người Thái, qu y m ô củ a m ỗi ban từ vài c h ụ c đ ến vài tràm người.
Dân s ố toàn xã ít O n g, h u yện M ư ờ n g La là 7 9 9 8 người với 1445 h ộ (làn
cư, c h ủ y ế u c ó 4 dân tộ c, trong đó:
- D ân tộc Thái là 5 3 6 0 người, c h i ế m 6 6 , 3 4 % dân s ô toàn xã.
- D ân tộc H m ô n g là 3 1 6 người, c h i ế m 3,9 5 % dân s ò toàn xã.
- D â n tộc La Ha là 114 người, c h i ế m 1,42% dàn s ố toàn xã.
- D â n tộc Kinh là 2 2 6 2 người, c h iế m 2 8 ,2 9 % dân s ố toàn xã [3 4 ].
C ác thành phần dân c ư này phân b ố rái rác: người Thái c ư trú ở 16 bán như Hua ít, H ua N à, N à T ò n g , N à K è, N à Lo, Con Cu, Bán M é , C o Liu, N à
M o n g , ít Bon ; người La Ha ở 3 han đ ó là bán Pểnh, bủn Lót và Cha Lào;
1 Anh Lò Vãn ỉ lịa 35 tuổi, hán LÓI, xã ít Ong, huyện Mường La, Sơn La kè.
Trang 18người H m ổ n g sinh s ố n g ở 2 bán Nà Trà và Pứng Quài; người Kinh sinh s ố n g
c h ủ y ế u ở trung tâm xã.
N ă m 2 0 0 3 , bán Lót c ó 3 9 hộ g ia đình với 2 2 3 nliân kháu, trong đ ó nam
g iớ i c ó 111 người c h iế m 4 9 ,7 % dân số, nữ g iớ i c ó 112 người c h iế m 5 0,3% dân số D â n c ư trong bản là người Thái và người La Ha N g ư ờ i La Ha c ó 2 2 hộ
g ia đ ìn h với 114 nhân khẩu, trong đ ó nam giớ i c ó 5 4 người c h iế m 4 7 ,3 % , nữ
g iớ i c ó 6 0 người c h iế m 5 2,7% N a m giới trong độ tuổi lao d ộ n g là 25 người,
c h iế m 21,9% ; nữ g iớ i trong đ ộ tuổi lao đ ộ n g là 2 8 người, c h iế m 24,5% ; c ò n lại là tre e m và người g ià với 61 người c h iế m 5 3,6% 17 hộ g ia đình người
T hái c ó 109 nhân khẩu, trong đ ó nam g iớ i c ó 5 7 người c h iế m 5 2 ,2 % , nữ giới
c ó 5 2 ngư ờ i c h iế m 4 7 ,8 % Nlur vậy, g ần m ột nửa dân s ố trong bản là người Thái.
1.3 Đ ò i s ô n g k in h t ế - ván h o á - x ã hội.
1.3.1 V ề kinh tế:
N g ư ờ i La Ha sinh số n g chủ y ế u bằng phương thức canh tác lúa nương
th eo h ìn h thức luân canh M ỗ i g ia đình c ó k h o ả n g sáu, bảy m án h nương để trổng lúa nhưng m ỗ i nương chỉ trồng m ộ t vụ rồi bỏ hoá c h ừ n g n ă m sáu năm sau m ớ i q u a y lại canh tác ở nương cũ Trước đ ây, m ỗ i khi c h u y ể n n ư ơng là
m ộ t lần c ả bản phải c h u y ể n đến nơi ở m ớ i, đ ến nay tuy vẫn d u y trì v iệ c canh lác n ư ơn g rẫy th eo kiểu luân can h nhưng hình thức du c a n h này k h ô n g gắn liền với v iệ c du c ư nữa Đ ấ t rừng làm n ư ơng rẫy được c h ia đều th eo từng nhân khẩu V i ệ c làm ăn riêng rẽ, lấn c h iế m , phá rừng làm nương k h ô n g được phép
x á y ra Mọ c ù n g nhau canh tác tại m ộ t khu vực, cứ sau k h o ả n g năm năm họ lại quay trở v ề đ iể m canh tác đầu tiên.
C ô n g cụ làm nương rất đơn giản , chỉ c ó c o n dao đê phát nương, c á i g ậ y
c h ọ c lỏ d ế tra hạt, co n dao d ù n g để c à o cỏ
Trang 19N ư ơ n g (har) được chia thành ba loại: nương thoải (har qua), nương d ố c
d ứ n g Ợ ia r s ă n ), và n ươ ng d ố c b ằ n g ( h a r p in li) T u ỳ lừng loại nirơng m à họ
trổn g lúa, n g ỏ , khoai, sấn, b ôn g, dậu tương C ũ n g như n hiều dân lộ c canh tác
n ư ơ n g rầy khác, qu y trình làm n ư ơng củ a người La ha ở bán Lót vẫn là phát,
đ ố t, c h ọ c , chia N ư ơ n g thường được phát v à o tháng 3, đốt v à o tháng 4 và tra hạt v à o cu ố i tháng 4, đầu tháng 5 (c h u ẩ n bị vào m ù a m ưa) T u ỳ từng loại mrơng m à h ọ thu h o ạ ch vào n h ữ ng thời đ iế m kh ác nhau, v í dụ: nương n g ô
th ư ờn g thu h o ạ ch vào tháng 7, sắn thu h o ạ c h v à o tháng 12, và lúa thường được
gặt v à o k h o ả n g t h á n g 9 - 1 0 và t h u h o ạ c h và o t h á n g 11-12 (sail khi gặt họ
thư ờng chát thành từng đ ố n g ở n g o à i n ư ơ n g rồi inới c h u y ê n dần v ề nhà).
Sự ch ê n h lệ ch giàu n g h è o g iữ a c á c h ộ g ia đình trong bản là k h ô n g lớn
V ớ i tin h thần tương thân tương ái, h ọ g iú p đ ỡ lẫn nhau n hữ ng khi g iá p hạt,
n h ữ n g l úc kh ó khăn.
N g o à i những co n vật nlnr g à , lợn n u ôi ch ủ yếu là d ù n g đ ể c ú n g lễ và tiếp k h á c h , người La Ha cò n n u ô i trâu, bò, d ê để bán Trâu, bò thường được
nuôi ớ n g a y dưới g ầ m sàn, d ê đư ợ c n u ô i ở c ạ n h nhà N g ư ờ i L a H a đ ã biết l àm
vườn, và bắt đáu nuôi thả cá, vườn c ó h à n g rào bao quanh đ ế bao vệ.
D á n c ư ử bản Lót c ò n c ó n g h ề đ á n h bắt cá trên s ô n g nhằm đáp ứng nhu
c ầ u t hự c p h ẩ m tươi s ốn g Bắt cá, x ú c t ô m là c ô n g việc t h ư ờ n g n g à y c ủ a trẻ
e m , q u ă n g c h à i, thả lưới là c ô n g v iệ c c ủ a đàn ô n g Đ ô i khi phụ nữ c ũ n g tham
g ia v à o c ô n g v iệ c đánh bắt cá lấ y thứ c ăn hàng n gày M ỗ i g ia đình đ ều c ó
th u y ề n g ỗ nhẹ làm phương tiện đi lại, c h u y ê n c h ở h àn g hoá, n ô n g sản, đ ổ n g thời là p h ư ơ n g tiện đánh bắt cá N g o à i ra, người phụ nữ La Ha c ò n lên rừng hái c ú c lo ạ i rau, củ, qua về cải th iện bữa ăn Hoạt d ộ n g săn bán ván d iễ n ra
n h ư n g k h ô n g t h ư ờ n g x u yê n Đ â y là m ộ t n g u ồ n Cling c á p thịt c h o bữa an tr on g
g ia dì nil C u ộ c s ố n g ớ đ ây vẫn m a n g tính tự c u n g tự cấp
Trang 20Trẻ c m thường dược bô m ẹ iruyền lại những kinh n g h iệ m canh tác nương rẫy và đánh bắt cá N g o à i ra, tuỳ theo giớ i tính vù đ ộ tuổi, ch ú n g c ò n dược d ạ y những kỹ năng khác như dan lát, thêu dệt, m a y vá H ọ c h o ráng
COI1 trai thì phải biết đan lưới, đan ch à i, c o n gái thì phải biết trổng b ỏ n g dệt vái, làm khăn piêu.
V ề ăn uống, thức ăn c ơ bản củ a đ ổ n g bào là n g ô và g ạ o nếp s á n và khoai s ọ c ũ n g c h iế m m ột vị trí lớn trong lương thực củ a họ G ạ o nếp Ihường
đư ợc đ ồ lèn bằng cá i ninh x ô i Trong tnrờng hợp nhà c ó khách từ xa đến
k h ổ n g ăn đư ợc c ơ m nếp thì nâu c ơ m tó c h o khách và ô n g ch ủ nhà ăn (nụười thay m ặt gia đ ình tiếp k h ách ) c ò n c á c thành v iê n khác trong g ia đ ìn h vần d ù n g
c ơ m nếp.
T rong nhà củ a người La Ha n ào c ũ n g c ó k hung cửi, h ọ thường tự dệt vải
đ ể phục vụ c h o nhu cầu m ặ c của bản thân và g ia đình N g o à i ra, c á c thiếu nữ
La Ha c ò n phải tự trang bị đ ệ m , chăn, g ố i để làm củ a hổi m ô n khi xuất giá
N g à y n ay hoạt đ ộ n g này k h ô n g d iễn ra tlnrờng x u y ê n nữa Trang p h ục cù a phụ nfr người La Ha bản Lót c ó phần g ần gũi với trang phục I 1 Ữ g iớ i của người
T hái đen H ọ c ũ n g m ặ c á o cá n h ngắn c ó h àn g khuy bạc, v á y m à u đ en , c ó cạp
và c ó thắt lưng màu xanh Phụ nữ La Ha c ũ n g đội khăn piêu c ó thêu hoa vãn như phụ nữ Thái đen H ọ búi tóc ngư ợc lên đỉnh đầu khi đã lập g ia đình Trang phục c ủ a nam giới đơn g iả n hơn, g ồ m c ó á o ngán, q uần và khăn đội đầu, tất c ả đ ề u được nh uộm ch à m Á o g ồ m bốn thân g h é p lại, hai thân trước
và hai thân sa u , m a y x ẻ tà, cài k huy đ ằ n g trước, c ó hai túi ở hai bên thân áo, tay á o d ài, đ ư ợ c nối ở phần trên k huỷu tay c ổ á o được n ẹp b ằn g m ộ t m iế n g vải c ù n g m àu c a o 3 phân, quanh c ổ c ó khâu lót m ột m iế n g vái hình vành
k h u y c n c ó tác d ụng để c h o c ổ á o được bền c h ắ c và tiện c h o v iệ c m a n g vác
N ịià y nay nam giới m ặ c quần áo như người Kinh, trang phục truyền th ố n g chỉ
m ạ c khi cứ n g bái h oặc những dịp lẻ hội trong năm.
Trang 21C ũ n g Iilur người K háng, người La Ha hán Lót đựng hán ớ c h â n núi, ven
s ò n g Đ à N hà trong bán được x â y dựng theo lôi mật tập, ranh giới giữa các nhà hầu như k h ô n g có Nhà cửa dược làm th eo kiêu nhà cùa người Thái đen,
c á c h b ố trí trong nhà cũ n g tương tự như của người Thái N h à c ủ a người La Ha bản Lót c ũ n g c ó hai cửa ra vào m ở ở hai vách đầu hồi, trước cử a người ta làm
m ộ t cái sàn nhỏ M ỗ i cửa c ó m ộ t cầu thang, sàn inrớc để ớ đáu hổi cửa sau
N h à lợp bằng tranh, n g à y nay phần lớn đã được thay hằng n g ó i, c ó hai mái nhưng ở phía đầu hổi nhà c ũ n g thường làm những mái phụ k h ô n g lên c a o đến
n ó c nhà C ách b ố trí nơi thờ cùa m ỗ i d ò n g h ọ củ a Iìgười La Ha hán Lót là
k h á c n h a u n h ư n g đ ề u k h ô n g đặt ở g óc n hà nlur c ủ a người T há i Nưi t h ờ c ú n g ,
t h ườ n g đ ư ợ c đ ặ t ở g i a n th iê n g, là m ộ t c ái liếp đ a n b ằ n g tre đặt ở c ạ n h cột c hủ
d ựa vào v á c h n g ă n giữa g i a n n gủ c ủ a c h ủ n hà và gi a n để đ ổ ( n h à t h ầ y c ú n g Lò
k h ô n g t h u ậ n lợi vì đ iề u n à y p h ụ t h u ộ c vào m ự c nước c ủ a c o n s uối c h á y q u a
bản D o k h ô n g phải là m ùa mưa, lượng nước trong suối k h ô n g n h iều đê c ó thê làm thuỷ đ iệ n nhỏ nên phần lớn thời g ia n trong năm ban Lót vẫn C Ỉ 1 Í d ù n g đèn dầu để thắp sáng.
1.3.2 V ề văn hoa - xã h ô i :
Ranh g iớ i giữa cá c bản làng k h ô n g c ó sự phân ch ia rõ rệt, llurờng chí (tược căn c ứ v à o m ột m ố c địa lý c h u n g c h u n g nào đ ó đê phân định giữa hán
n à y với bán khác.
Trang 22Trước đày, cù n g với người K háng và m ột s ố tộc người khác ờ T â y Bác, người La Ha phái “ làm pụa, làm c u ô n g ” c h o bọn “ phía, tạ o ” Thái.
T iế n g nói g ia o dịch hàng ngày chủ yếu là tiến g Thái, m ột s ố lì biết nói tiến g phổ th ô n g (chủ y ế u là nam giớ i, những người tham g ia c ô n g tác xã hội
và nlũrng người dã từng di h ọ c ), tiếng La Ha ít dùng M oi p h o n g tục tập quán, nha ở, trang phục, sinh hoạt c ó ánh hưởng và g ia o thoa với văn hoá dân tộc Thái.
G iố n g như người Thái, người La H a bản Lót c ũ n g o ó c á c d ò n g họ như:
họ Lò, họ Q u à n g và họ T ò n g T rong d ó clnì yếu là họ Q u à n g và h ọ Lò, họ
T ò n g c h iế m s ô ít, c ò n họ Cà là h ọ củ a người Thái trong hán N h ữ n g tàn dư c ù a
tò te m g iá o c ò n tồn tại khá đậm nét trong văn hoá tộc người, thế hiện qua v iệ c
m ỗ i d ò n g họ thờ c ú n g m ộ t vật tổ riêng với những k iê n g k h e m n g h iê m ngặt V í dụ: họ Q u à n g thờ c o n hổ k iê n g k h ô n g ăn thịt hố, k h ô n g g iẫ m v à o vết ch ân hổ;
h ọ Lò thờ c o n c h im Tàng lò (loài c h im c ó m ỏ đỏ, chân đỏ, m ìn h xanh, đ ến
m ù a hoa ban nở c h im về hót “tàng lò, tàníỊ lò") k iê n g k h ô n g g iẫ m vào phân
c h im , k h ô n g ăn thịt ch im ; h ọ Cà thờ g ia n h (Cả th eo tiế n g V iệ t c ó n g h ĩa là
(tòi khi, người đ ó phái lấy v ợ lẽ đ ể c ó co n trai nối dõi nếu k h ô n g d ò n g họ đ ó
Trang 23sẽ k h ô n g c ó người đứng đầu Trong c ù n g m ột d ò n g tộc c ũ n g k h ô n g c ỏ sự phân biệt c o n anh, c o n e m , nếu ai ra đời tnrớc thì là anh.
Gia đình La Ha là gia đình nh ỏ phụ q u y ề n N g ư ờ i c h ổ n g và người cha
c ó q u y ể n c a o nhất trong nhà [35: 2 4 4 ị.
N g à y nay, nam nữ La Ha thường lập g ia đình sớm vào đ ộ tuổi 15-16
T ro n g hôn nhân, trai gái được tự do lựa c h ọ n , k h ô n g c ó sự é p b u ộ c củ a bô m ẹ,
n h ư ng vẫn phải được ch a m ẹ hai bên d ồ n g ý T iêu ch u ẩn đê c h ọ n được m ột người vợ, người c h ổ n g tốt chí đơn gián là k h o é m ạnh và c h ă m làm Sau khi tìm liiéii và ưng ý với người thương m à m ìn h đã c h ọ n , họ thường Irao c h o nhau c h iế c khăn piêu, c á i v ò n g tay thay lời ước hẹn V i ệ c ăn h ỏ i được d iễn ra sau khi ch à n g trai về nhà và thông b á o với c h a m ẹ , họ hàng Đ i đ ến Iìhà gái
g ồ m c ó ô n g m ố i (Páii sư), ô n g chú (h o ặ c ố n g b á c) và bà g ì củ a c h à n g trai Khi
đi, h ọ m a n g theo c h u ố i, m ía, rượu và m ộ t c o n gà Đ ế n nhà g á i, h ọ bầy đ ổ lễ ra giữ a nhà, hai bên ch à o hỏi, nói c h u y ệ n với nhau, sau đ ó b ố m ẹ c ô gái g ọ i c ỏ gái ra và hỏi x e m c ô c ó đ ồ n g ý lấy c h à n g trai k hông T ron g tnrờng hợp c ô gái
k h ô n g đ ồ n g ý thì s ố đ ồ lễ này c ũ n g k h ô n g được m a n g về m à hai bên g ia đình
d ù n g lu ô n tại ch ỗ.
K h ô n g như lễ hỏi, lễ cưới (cá khui) thường được tổ ch ứ c khi v iệ c thu
h o ạ c h đã x o n g x u ô i Sáng sớ m h ô m tổ ch ứ c lễ cưới, nhà trai g ồ m ô n g m ố i,
c h ú r ể v à k h o ả n g 12 n g ư ờ i đ ế n t i ế p n ư ớ c , t i ế p r ư ợ u m a n g đ ế n n h à g á i 1 COI1
lợn (k h o ả n g 8 0 k g ) , 8 co n gà, 5 0 k g g ạ o , 3 x á ch rượu, 7 c h u m rượu cấn , 4 g iỏ
cá k h ô (m ỗ i g iỏ 8 c o n ) Trước tiên, người ta phải làm lễ c ú n g m a nhà N g o à i lợn, g à , lễ vật đé c ú n g m a nhà c ò n phái c ó 4 g iỏ cá, 4 ố n g cá thịt Sau đ ó , là mời bà c o n dân bản c ù n g dự tiệc g ó p vui.
T rong toàn bộ tiến trình lễ hỏi và lễ cưới k h ô n g thế thiếu ỏ n g m ố i, đ ó là người c ó tài ăn nói và hiếu biết p h o n g tục, m ọ i c ô n g v iệ c giữa hai nhà là do
Trang 24ô n g m ối đ iều đình Khi le thức đã hoàn tất, hai họ trá c ô n g c h o ỏ n g m ố i một
câ n thịt, m ột cái g ố i, m ột cái khăn mặt và m ột c á i khăn piêu.
Sau khi cưới, c h à n g trai phải ở lại bên nhà gái và bát đáu thời gian ư rê
củ a mình T hời g ia n ở rể c ó thê từ 3 đến 5 năm , tuỳ th eo hoàn cảnh và thoa thuận của hai bên g ia đình N ếu quá kh ó khăn thì thời g ia n này c ó thế dược rút
n gán chỉ c ò n 6 tháng đến m ộ t năm m à thôi Sau khi cưới, thính th oản g đôi v ợ
c h ó n g c ó thể về hên nhà c h ồ n g 2 đến 3 n g à y rồi lai phái q u ay v ề nhà vợ
T ron g thời g ia n ứ rể, c h à n g trai phải tham g ia m ọ i c ô n g v iệ c bên nhà vợ.
Hết hạn ở rể, nhả trai phải làm lễ "T<hi m ơ i " thì m ới c h ín h thức được
đ ó n dâu về và bắt đầu c u ộ c s ố n g m ới bên nhà trai Lễ vật trong lỗ thức này
c ũ n g tương tự như lỗ vật trong lỗ cưới.
C ô dâu về nhà c h ổ n g được c h o m ộ t ít th óc, m ột c o n trâu ho ặ c bò, m ột đòi g à để làm g iố n g và ch ăn đ ệ m , bát, x o o n g nổi N g à y n ay, những người trong d ò n g h ọ và bà c o n dân bản đến dự cưới m ỗ i người c ò n c h o c ô dâu chú rể
m ộ t ít tiền m ừ n g c h o đôi v ợ c h ồ n g trẻ để làm vốn.
H ôn nhân trong c ù n g m ộ t d ò n g họ k h ô n g được p h ép x ả y ra nhưng h ôn nhân giữa c o n c ô c o n cậu lại được ch ấ p nhận T rong trường hợp c h ổ n g ch ết, người v ợ c ó the hạ “tằng c ẩ u ” và chỉ “ tằng c ẩ u ” trở lại khi tái hôn Lỗ vật và
d iễ n trình củ a lỗ cưới này c ũ n g tương tự như m ộ t lễ cưới bình thường.
N h ư v ậ y , gia đình đã m a n g tính chất m ộ t v ợ m ột c h ổ n g bền vững H ôn nhân đã m a n g tính chất m ua bán T ục ở rể, tàn dư của hình thức hôn nhân cư trú bên v ợ vào thời kỳ m ẫu hệ dã trở thành hình thức m ua ngư ời c o n gái bằng
c ò n g lao đ ộ n g của chú rể [35: 2 4 8 1.
V ề sinh đ ẻ, sán phụ thường đẻ ở nhà Khi sinh nở thường c ó m ột bà m ụ (tên đ ỡ đẻ, đôi khi sản phụ tự đ ỡ đẻ c h o m ình H ọ thường dừ ng m ột thanh nứa
VÓI s á c đ ổ c ắ t l ò n c h o đ ứ a b é Sau k h i sinh đ ư ợ c k h o ả n g I đ ế n 2 t h á n g th ì g i a
dinh giết gà, m ổ lợn và làm lễ đặt tên c h o đứa tre N g ư ờ i La Ha c ó những
Trang 25k iê n g kị (ta bu) nhất định khi trong nhà c ó trẻ m ới sinh G ia đình nào c ó trẻ sơ sin h thì thường c ó làm m ột tấm p h ên n h ỏ đan bằng tre, phía trên tấm phên c ó gài m ộ t ít lá Tâm phên c ó gài lá này đ ư ợc treo ở cầu thang, người La Ha c h o ràng làm như vậy đ ể ma xấu, m a d ữ k h ô n g làm hại được dứa tie và người m ẹ
N g o à i ra, khi nhìn thấy tấm phên này n gư ời trong bủn sẽ biết trong nhà đang
c ó g ạ o g ó p g ạ o , người c ó tiền c h o tiền, ai c ó nhiều c h o n h iều , người c ó ít c h o
K hi c ó người ch ết để báo c h o bà c o n dân bản c ù n g biết, người La Ha
th ư ờn g bắn ba phát súng N ế u là ỏ n g ch ủ nhà ch ết thì phải m ở cửa phía sau
g ia n thờ đ ể đưa x á c ra, nếu bà chủ nhà c h ế t thì x u ố n g đ ằ n g cưi b ếp Khi trong
n hà c ó đ á m thì c o n trai ngồi ở b u ồ n g m a , co n gái n g ồ i ở đầu kia củ a n g ô i nhà,
c o n dâu và c o n rể ngồi ở ch ín h g iữ a nhà N g ư ờ i k h iê n g quan tài đi c h ô n cất thư ờng là c o n cháu hoặc những n g ư ờ i trong d ò n g họ D o q uan n iệ m c h ết là
t i ế p t ụ c s ố n g ở b ê n k i a t h ế g i ớ i , n g ư ờ i t a t h ư ờ n g c h ô n t h e o n g ư ờ i c h ế t h a h ộ
q u à n áo, nếu người ch ết là nữ, n gư ời La H a tlurừng c h ô n theo ngư ời ch ết 3 bộ
v á y áo ( 2 bộ đ ể m ặ c, m ộ t bộ m a n g ra đ ể ở m ộ ) N g o à i ra, h ọ c ò n đ ể ở m ộ m ột
c á i g ù i, c á i g ố i và m ộ t sỏ đ ồ d ù n g m à khi c ò n s ố n g người ch ết vẫn dùng.
N g ư ờ i La Ha thường c h ô n n g ư ờ i ch ết th eo hướng dầu q u a y về bán, chân
q u a y về h ư ớn g mặt trời m ọ c H ọ c h o rằng c h ô n như v ậ y d ể khi người ch ết
đ ứ ng d ậ y I 1Ó k h ô n g nhìn thấy bản, k h ô n g về bán quấy nhiễu ngưừi s ố n g , nếu
k h ố n g n ó sẽ nhớ co n , nhớ cháu, c o n c h á u vì th ế sẽ hay ố m đau m à chết C hôn cất x o n g , người ta dựng trên m ộ m ộ t n g ô i nhà m ồ N hà m ổ c ó hai m ái, áp sát
Trang 26m á i là m ộ t cái sàn, trên sàn này để ch ăn đ ệ m , quần áo L ò n g m ộ dược đắp đất
c a o , x u n g quanh m ộ c ó dào rãnh M ộ c ó hàng rào đan bằng tre và chí c ó m ột
cứ a ra vào Trên m ộ c ó để những thứ được ch ia c h o người ch ết như gù i, gh ế,
g i ỏ dựng c ơ m ( X e m Phụ lục 7, ánh 6 5 ) Phía trước m ộ , người ta trổng m ột cái cột, đ o ạ n giữa cột làm m ộ t v ò n g tròn hình nón c ó c á m n hữ ng lá c ờ nhỏ
h ình c h ữ nhật m àu đ ỏ , trên đỉnh cột c á m m ột cái ô ( X e m Phụ lục 7, ảnh 6 4 ).
Sau khi c h ô n cất x o n g , người nhà k h ô n g đến thăm m ộ nữa và tổ ch ứ c
c ú n g tại nhà n g a y tối h ô m đó H àng năm h ọ ch í tổ ch ứ c c ú n g tổ tiên (m a nhà)
v à o dịp tết (âm lịch), những khi trong nhà c ó người ố m đau (m à thầy bói bói
là d o tổ tiên về lùm hại), vào dịp c ơ m m ớ i
K hi c h ổ n g ch ết, người v ợ c ó thể tiếp tục s ố n g ở nhà c h ồ n g c h o đ ến khi tái giá T ron g trường hợp người vợ k h ô n g tái g iá thì c ó thể s ố n g ở nhà c h ồ n g
đ ến hết đời V ề q u y ể n hưởng gia tài, khi b ố m ẹ m ất đi, người c o n nào ớ c ù n g
b ố m ẹ thì được hưởng toàn bộ gia tài trong nhà (thường là c o n trai cá) Con trai thứ khi lấy vợ m à ra ở riên g thì được là m c h o m ộ t n g ô i nhà C o n gái
k h ô n g đư ợc hưởng g ia tài, nhưng tuỳ th eo lò n g thương, c á c anh e m trai c ũ n g
c h ia c h o c á c chị e m gái của m ìn h ít nhiều.
Ớ người La Ha v iệ c thờ c ú n g nhà v ợ c ũ n g g iố n g như người T hái, khi bỏ
m ẹ v ợ c ủ a ch ủ h ộ m ất đi thì người c h ồ n g phải c ó trách n h iệ m d ự n g m ộ t ngôi nhà nhỏ ở phía ngoài ngôi nhà (k h ô n g dược dự ng ở irong nhà h oặc ở phía trước nhà ở) làm nơi thờ c ú n g bỏ' m ẹ vợ V iệ c thờ c ú n g này k h ô n g d iễ n ra Ihường x u y ê n m à chỉ được tiến hành những khi trong nhà c ó người ố m đau và (lược thầy c ú n g bói là do m a đ ằn g nhà v ợ làm hại Khi ch ù hộ m ất đi, c o n trai trơ thành ch ủ hộ mới thì ngôi nhà này c ũ n g dược d ỡ bỏ c h o đ ến khi b ố m ẹ vợ
c ủ a người chủ hộ mới mất thì m ới dựng m ột n g ô i nhà khác ( X e m Phụ lục 7, ánh 6.1).
Trang 27G iố n g nlnr n hiều tộc người khác, người La Ha c ũ n g llieo tín ngư ỡ n g
“ van vật hữu linh” nên trong c u ộ c s ố n g hàng n g à y họ c ó rất nhiều k iê n g kỵ và
th ờ c ú n g rất n hiều loại m a (người La Ha bản Lót g ọ i là cái dạ, tiế n g Thái là
su ố i
N g ư ờ i La Ha quan n iệ m trong c o n người c ó tám “kần xám” (c o n hổn):
m ộ t ớ trên đầu, bốn à hai chân, hai tay, m ột ở m ũ i, m ột ở m ồ m , m ộ t ớ c ằ m , và trong k h ô n g g ia n c ó rất nhiều “/;<7 dạ" (m a ) như m a s ô n g , m a su ố i, m a núi v.v Đ ồ n g hào c ò n CỈ10 rằng người ta ố m đau và chết là d o m a bát g iữ hổn [35: 2 4 8 ] V ì vậy, m ỗ i khi bị ố m đau, bệnh tật người ta lại n h ờ đ ến sự g iú p đỡ
củ a thầy c ú n g (páu a - đ ổ n g thời là thầy lan g củ a cả c ộ n g đ ồ n g ) N ế u thầy
c ú n g nhận lời chữa c h o người bệnh, lúc đ ó họ phải đến g ặ p thầy bói (pútt mọ)
n h ờ b ó i x e m đ ó là bệnh d o loại m a nào, ở đâu làm hại và lễ vật cầ n n h ữ ng gì Sau đ ó thầy c ú n g m ới trổ tài đ ể cứu chữa c h o c o n bệnh Khi được chữ a khỏi
b ệ n h , những người này trở thành co n n u ôi củ a thầy c ú n g và c ó m ộ t s ố n g h ĩa
vụ nhất định đối với bản thân thầy cúng.
N h ữ n g người hoạt đ ộ n g tín n gư ỡ n g trong bản g ồ m : thầy c ú n g ( đ ồ n g thời là thầy lan g), thầy hói, người thổi pí và m ộ t s ố người c h u y ê n phụ v iệ c c h o thầy c ú n g T ron g m ộ t bản c ó thể c ó n h iều thầy c ú n g , tuy n h iê n k h ô n g phải ai
c ũ n g c ó thể làm thầy c ú n g củ a cả bản, đ ể trở thành tháy c ú n g người đ ó phai đạt m ộ t s ố tiêu chuẩn như: g ia đình c ó truyền th ố n g làm n g h ề thầy c ú n g , là
c o n trai trong nhà và quan trọng là phải c ó “c ă n ” đ ể làm thầy c ú n g N gư ờ i được c h ọ n đ ể trở thành thầy c ú n g trước hết phải th eo vị thầy c ú n g đ ến c á c buổi lẻ đế phụ v iệ c c h o thầy c ú n g rồi dần dần m ới được h ọc c á c bài c ú n g theo plurưng thức truyền khẩu Đê’ c ó thể trở thành m ột thầy c ú n g c a o tay, người đ ó phái là người di nhiều, h ọ c nhiều, th u ộ c nhiều hài c ú n g N g o à i ra, đ ó c ò n là người c ó n hiều COI1 nuôi (những người được thầy c ú n g ch ữ a c h o khỏi bệnh),
Trang 28những co n nuôi này dược hướng m ột s ố q u y ề n lợi c ũ n g như phải c ó m ộ t sổ
n g h ĩa vụ đối với thấy c ú n g ( X e m thêm ch ư ơ n g 2, Phán lỗ).
R ừ ng th iê n g ( đ ồ n g thời là nghĩa địa, nơi ch ô n người ch ết của cá bán),
th e o p h o n g tục, m ọ i c ư dim k h ô n g được x a m phạm đến khu vực này H ọ
k h ỏ n g được khai thác, săn băn, k h ô n g được thả gia súc phá p h ách , c a y lo đ ố
x u ố n g c ũ n g k h ô n g đ ư ợc lấy N ế u m u ố n sử d ụ n g c â y trong khu rừng th iên g thì người đ ó phai làm lễ cú n g , được thần linh c h o phép thì mới được sứ d ụ n g ( đ â y là trường hợp hãn hữu) R ừng th iên g thường ở cu ố i bán th eo hướng đ ô n g (h ư ớ n g mặt trời m ọ c ) N gư ời La Ha quan n iệ m nếu rừng th iê n g ở lurứng mặt trời lặn thì c o n c h á u làm ăn k h ô n g phát đạt.
N g u ồ n nư ớc c ủ a bản c ũ n g được bảo vệ bàng c á c h k h ô n g c h o thả rông
sú c vật, k h ô n g đư ợc chặt phá c â y c ố i ở đầu n g u ồ n mrớc, c â y đ ổ c ũ n g k h ô n g dược lấy
N g ư ờ i La H a c ó rất nhiều k iê n g kỵ trong đời s ố n g h àn g n g à y N g à y nay, những k iê n g k ỵ đ ó ít n h iều được bớt đi nhưng vẫn tồn tại N g a y như trong k h ô n g g ia n c ủ a n g ô i nhà, m ọ i hoạt đ ộ n g c ó thể diễn ra tự n h iên trừ gian thừ, m ọ i ngư ời k h ô n g đ ư ợc tự d o đi lại, chơi đùa Đ â y c ũ n g là nơi c ó cột chủ (c ộ t được dự ng đấu tiên khi làm nhà) Đ ầ u kia củ a gian thờ c ó m ột cái cửa sổ, được co i là cử a s ổ m a , đ ó c ũ n g là nơi n g ồ i c ú n g củ a tháy c ú n g m ỗ i khi trong nhà c ó lễ.
N g a y cá n h ữ n g thủ tục đầu tiên khi c h ọ n đất để dự ng nhà (Sét túc kliạp
dựng nhà, sau khi dã c h ọ n được c h ỗ đất ưng ý h ọ đ ào ba cái hố, vị trí củ a các
h ố tạo thành h ình tam g iá c đều, bên trong m ỗ i h ố dể m ột hạt th ó c , bén trẽn c ó dậy lá c h u ố i đ ể k h ô n g c ó vật gì rơi vào Sáng h ô m sau, ra x e m nếu c ó m ộ t hạt
bị di c h u y ể n thì vẫn c ó thể dựng nhà ở đ ó được, tuy n h iên nêu ca ba hạt nằm
n g u y ê n vị trí cũ thì c à n g tốt Khi dựng nhà bao g iờ c ũ n g phái dựng cột chú
Trang 29trước Salt khi hoàn tất ngôi nhà, trước tiên h ọ phái nhờ tháy hói c h ọ n c h o
n g à y g iờ tốt để làm lễ lên nhà m ới Đ i đầu là ô n g chủ nhà, m ột tay c ẩ m sú n g ,
m ộ l tay c á m cái ninh đồng T iế p đến là bà chù nhà c ầ m nưa bao thóc, rồi m ới đốn anh e m h ọ hàng m a n g ch én , ch iế u và đ ồ d ù n g lên theo.
T ron g những năm gán đây, kinh t ế của người La Ha ở bản Lót đã c ó những phát triển nhất định Cả bản c ó sáu m á y x a y xát, bốn th u y ền gán m á y ,
m ộ t th u yền sắt, mười tám m á y khâu, ba đầu m á y V id e o , ba tivi, gần như nhà
n ào cũ n g c ó đài bán dẫn (3 5 c h iế c ) Là phương tiện đi lại du y nhất nên hầu như nhà n ào c ũ n g c ó thuyền d ộc m ộ c (3 5 c h iế c ) , v ề ch ăn n uôi, Cii bail c ổ 51
c o n lợn, 8 0 c o n bò, 7 0 c o n dê, 3 0 0 c o n g ia c ầ m (chú y ế u là gà) N g u ổ n thịt
n ày chủ y ế u được d ù n g trong v iệ c c ú n g bái, c á c dịp lễ h ộ i , những khi c ó
k hách chứ k h ô n g thường x u y ê n dược sử d ụ n g trong c á c bữa ăn h àn g n g à y của người dân nơi đây N g o à i ra, c h ú n g c ò n đư ợc đ e m bán c h o nơi khác.
Hoạt đ ộ n g săn bắn vẫn cò n tổn tại nhưng k h ô n g thường x u y ê n x ả y ra,
m ộ t trong n h ữ ng n g u ồ n thực phẩm tươi s ố n g của người La H a là thịt thú rừng săn bắn được N g u ồ n thức ăn chủ y ế u của h ọ là cá nên v iệ c đánh bát cá là
c ô n g v iệ c h à n g n g à y c ủ a phần lớn trẻ e m người La Ha Bữa ăn củ a họ là đ ồ nếp, họ tuyệt đ ố i k h ô n g ăn c ơ m tẻ G ạ o tẻ ch ỉ dược d ù n g n hữ ng khi c ó k h ách
là người ở nơi khác đ ến nhà (chủ y ế u là những người k h ô n g ăn dược đ ổ nếp) Bên cạnh những loại câ y trổng truyền Ihống họ c ò n trồng n hữ ng loại c à y trổng
m ớ i c h o năng suất c a o như: n g ô lai L V N 10
H ọ thường chuẩn bị thức ăn c h o bữa s á n g và bữa trưa v à o buổi sán g Sau khi ăn s á n g họ m a n g th eo bữa trưa rồi đi làm.
N h ìn ch u n g , kinh t ế của người La Ha ở han Lót đã c ó n hiều thay đ ổ i, h ọ (lã biết làm vườn, quanh vườn làm hàng rào đ ể bảo vệ và nuôi cá Chăn nuôi
ch ủ y ế u vẫn th eo phương thức thả rôn g tuy đã c ó c h u ồ n g nhốt ricn g c h o lợn,
dê, b ò
Trang 30v ể vãn hoá xã hội, cả ban c ó m ộ t y tá Hấu hết tré e m đến tuổi dược đi
h ọ c , g iá o viên là người ở h u yện về dậy Trường h ọc đư ợc (.lựng ớ n g a y đầu bail, m ỗ i năm c ó từ hai đến ba lớp, thường thì c ứ m ộ l năm là lớp 1, 3, 5 thì nam sau là lớp 2, 4 H ọc hết tiểu h ọ c phần lớn tre e m La Ha k h ổ n g th eo học liế p vì m u ố n học nữa thì phải lên h u y ệ n , c ú c hộ gia dinh trong bản k h ô n g c ó
đ iề u k iện c h o co n e m m ình th eo h ọ c N g o à i tre e m trong bán đến trường, trường c ò n tiếp nhận m ộ t sỏ h ọ c sin h từ h u y ệ n Tluiận Châu s a n g h ọ c vì đến trường ớ bán Lót gần hơn so với tnrờng h ọ c ở Thuận Cháu T ý lệ m ù c h ữ của
cá bản rất c a o 123 người c h iế m 5 5 ,3 % ; x o á m ù 2 3 người c h iế m 10,3%; h ọc
c ấ p I là 5 5 người c h iế m 24,6% ; tốt n g h iệ p p hổ th ôn g là 2 2 người c h iế m 9,8%
N h ìn c h u n g m ọ i p h o n g tục tập q u á n liên quan đ ến sinh hoạt h àn g n g à y
cù a người La Ha như n gôn n gữ g i a o tiếp, nhà cửa, trang phục đều c h ịu ánh
h ư ởn g m ạ n h m ẽ củ a văn hoá T hái T u y n h iê n , những giá trị vãn hoá truyền
th ố n g lâu bền củ a tộc người vẫn đ ư ợc b ộ c lộ đ ậm nét và c ó ảnh hưởng quan trọng đ ế n đời s ố n g văn hoá tinh thần c ủ a m ỗ i thành v iê n trong c ộ n g đ ồn g
Tiểu kết chương 1
T ron g sự phát triển k h ô n g n g ừ n g h iệ n nay, văn hoá - kinh t ế - xã hội tộc người La Ha đã c ó những c h u y ể n b iế n nhất định H ọ đã dần thích nghi với Iiln ìn g tiến bộ của khoa học k ỹ Ihuật, áp d ụ n g cô n g nghệ vào sản xuất kinh tê đạt được n ăn g suất nhất định trong g i e o trồng: như sử d ụ n g g iố n g n g ô lai tăng
n ăn g suất, áp dụ ng v iệ c nuôi thả c á , d ù n g thu ỷ đ iện nh ỏ phục vụ đời số n g
BC ‘ 11 cạn h đ ó, nhiều giá trị văn lioá tộ c người vẫn được lưu giữ, m ột s ố những nghi thức, nghi lẻ vẫn c ò n được tổ c h ứ c ( c ú n g tổ tiên, lỗ hội Pang a I 1 Ị1I1 ban, thờ c ú n g m a nhà vợ ) Tuy n h iên , c á c hình thức vãn hoá tộc người này đang
bị đe đoạ trước những n gu y c ơ về di dân, về sự g ia o thoa văn h o á giữa c á c tộc người c ù n g sin h s ố n g trong địa hùn
Trang 31CHƯƠNG 2
L Ễ H Ộ I P A N G A N Ụ N B A N C Ủ A N G Ư Ờ I L A I I A Ở B Ả N L O T ,
X Ã Í T O N G , H U Y Ệ N M Ư Ờ N G L A , T Ỉ N H S Ơ N L A
T rước hết, c h ú n g tôi xin làm sá n g tỏ tên g ọ i và m ụ c đ ích c ủ a lỗ llúrc m à
c h ú n g tôi c h ọ n làm đề tài củ a luận vãn.
T h e o tiến g La Ha thì “Pang” c ó nghĩa là 'LLể"\ “ 4 ” c ó n g h ĩa là “citny -,
n g h ĩa là “L ễ cúng măng hoa”
T h e o quan n iệ m của người La Ha, Pang a n ạ n ban là lễ hội để cầu c h o
m ộ t vụ m ù a m ớ i bội thu, c â y trổng vật nuôi đư ợc sinh sô i nảy nở Lễ thức này
đ o thầy c ú n g đ ứ n g ra tổ chức trong k h u ô n viên n g ô i nhà ô n g N h ư đã trình bầy
ờ d u r a n g 1, tháy c ú n g (Páii ít) đ ồ n g thời c ũ n g là thầy lang, ô n g vừa hành n g h ề
c ú n g bái vừa là ngư ời chữa bệnh c h o cả bản, ch ín h vì vậy trong dịp này thầy
c ú n g c ò n kết hợp với v iệ c chữa bệnh c h o những người bệnh T u y nh iên , trong Irường h ợ p bệnh n ặ n g k h ô n g thể đ ến được thì người nhà c ó n g h ĩa vụ đ ến thay
N h ữ n g ngư ời n ày khi đến dự lỗ thường m a n g th eo lẽ vật h oặc m a n g th eo á o
c ủ a người bệnh (trường hợp k h ô n g thể đến dự lỗ hội) N g o à i những người
b ện li c ò n c ó n hữ ng người đã được thầy c ú n g ch ữ a c h o khỏi bệnh và trớ thành
c o n nuôi c ủ a thầy c ú n g , những người này sẽ dược thầy c ú n g bao trợ, c h ở c h e
c h o tránh k h ỏi b ện h tật N g ư ợ c lại, h ọ c ũ n g phải c ó m ộ t s ố n g h ĩa vụ nhất định
d ô i với thầy c ú n g ( X e m thêm Phần lỗ).
2 1 K h ô n g g i a n v à th ò i g ia n tổ c h ứ c lẻ hội.
2 1 1 Đ ia đ iể m tổ chức lễ hôi:
Trang 32Là m ột sinh hoạt tín n g ư ỡ n g vừa m a n g tính c ộ n g đ ổ n g ( c ó sự g ó p mạt
củ a d ỏ n g đ a o bà c o n dân bản với m ụ c đ íc h cáu m o n g m ù a m à n g tươi tốt, người người đ ư ợc k h o ẻ m ạ n h ), vừa m a n g tính cá nhân (là dịp để thầy c ú n g chữa bệnh và p hô d iễ n n h ữ n g khả n ă n g s iê u n h iên củ a m ìn h ), Pang a mill ban dược d iễn ra trong k h ô n g g ia n nh ỏ h ẹ p tại nhà của thầy c ú n g M ọi hoạt đ ộ n g
m a thuật, vui ch ơ i c ũ n g như c á c hoạt đ ộ n g tín n g ư ỡn g trong lễ hội đều dược
d iễn ra ở đây.
D iễ n ra trong k h ô n g g ia n nh ỏ h ẹ p n h ư ng c á c lễ thức trong lễ h ộ i, tuỳ
th eo tính chất củ a nó, được tiến hành ở nơi thờ tổ tiêii, ứ giữ a g ia n thờ trong nhà và ở cửa s ổ m a T â m đ iể m củ a lễ hội là c â y hoa thần (xẳng van) được đựng ở giữa nh à thầy c ú n g Tất cả n h ữ ng khu vực d iễn ra lễ hội nói riêng,
k h ô n g gian n g ô i nhà c ủ a thầy c ú n g nói c h u n g được co i là k h ô n g gian th iên g trong suốt thời g ia n d iễ n ra lễ h ộ i ( X e m Phụ lục 4).
2 1 2 T h ờ i gian tổ ch ứ c lẻ hỏi:
N gư ời La H a c ó n h iề u c á c h x á c đ ịnh thời gian tổ ch ứ c lễ hội T h ư ờn g thì c ứ bốn năm h ọ tổ ch ứ c m ộ t lần lễ lớn, lỗ nh ỏ được tổ ch ứ c thường x u y ê n hơn v à o dịp lễ h ộ i h à n g n ă m T r o n g k h u ô n k h ổ của luận văn, c h ú n g tôi x in
m iê u thuật lễ h ộ i Pang a nụn ban trên c ơ s ở dữ liệu đã c ó và thu thập được trong đợt k h ả o sát Đ â y là lần tổ ch ứ c lỗ lớn củ a người La Ha ở bán Lót.
T u y ch ỉ d iễ n ra trong v ò n g 3 n g à y n h ư ng người La Ha lất cẩn trọng trong v iệ c x á c đ ịn h thời g ia n d iễ n ra lỗ h ộ i, n g à y này phái d o tháy c ú n g đ ích thân c h ọ n , că n c ứ v à o sự thay đ ổ i củ a th iê n n h iên , củ a thời tiết và x e m lịch.
Căn c ứ v à o th iên n h iê n thì thời g ia n d iễn ra lễ hội là khi những m ảnh nương cùa ngư ời La H a đã đư ợc phát, đ ố t, d ọ n và tra hạt x o n g đ a n g đợi n lũm g
c ơ n mưa dầu m ù a , khi n hữ ng c o n v e rừng cất tiến g kêu vang Đ ó c ũ n g là lúc
m ã n g rừng (//////) m ọ c K hi m ớ i đ ộ i đất lên, m ă n g ăn c ó vị đ ắn g , về sail khi
g ặ p m ưa đầu m ù a thì loại m ă n g n à y c h u y ể n dần sa n g ngọt Lâu nay, N u l l vẫn
Trang 33dư ợc người La Ha c o i là m ó n ăn ngon, n goài ra nó c ò n lù vị thuốc chữa ira
d ù n g cua c á c thầy c ú n g , nên khi tổ chứ c lễ hội phai c ó m ã n g đắng.
N g o à i ra, người La H a c ò n căn cứ vào c á c loại hoa trên rừng như hoa
c h ù m màu v à n g đỏ Loại h o a n ày c ó thể ăn được và c ó m ù i rất thơm Loại hoa này thường n ở c ù n g d ịp m ã n g đ ắ n g m ọ c , và c ũ n g được c o i là m ộ t trong những
vi thuốc chữa b ê n h c ủ a c á c th ầy c ú n g La Ha.
chứ a hương th ơ m dỗ c h ịu n ên thường dược phụ nữ La Ha sứ d ụ n g làm lurơng liệu g ộ i đầu Trước kia phụ nữ La H a c o i đây như m ột bí q u y ế t làm đ ẹp nhằm làm nổi bật h ọ s o với phụ nữ th u ộ c c á c tộc người khác.
Trong n g à y h ộ i củ a c ả bản, những loại hoa này dược trang trí m ột c á c h trang trọng trên c â y h o a thần, trung tâm của lễ hội.
N g o à i n hìn v à o thiên n h iê n , căn c ứ vào thời tiết, người La Ha thường
x e m lịch để biết đ ư ợc n g à y lành, n g à y tốt, n g à y g iờ đi săn đư ợc c o n thú to, hay tổ chức lỗ h ộ i, cưới x in
L ịch c ủ a ngư ời La Ha đ ư ợc làm “ với hình thù n hữ ng cái mai nhỏ cán ngắ n , mặt nhẵn m a n g đ ầy n h ữ ng k ý hiệu, c á c thẻ x ă m đ ó thường thấy d ù n g ở nhà thầy bói c ả ngư ời X á c ẩ u và người Thái (dẫn theo [1: 5]) T h ế nhưng thầy
b ói người Thái k h ô n g biết d ù n g c á c thẻ đ ó trong tất cả sự tinh vi của nó C ác tấm thẻ d ùng ở n gư ời X á c ẩ u g i ố n g c á c cái “ lịc h ” (C alendrier N D ) m à B u -sê
đã m iê u tả khi n ó i về người X á X n á c C h ú n g tôi đã thấy n hữ ng hình vẽ g iố n g với c á c hình vẽ trên c á c tấm thẻ đ ó trong c á c hình x ă m ở cá n h tay (kể vai
N D ) củ a những n gư ời vố n là th ầy bói và tù trưởng X á c ẩ u C ó licn quan với những cái đó, c ó thể n g h ĩ đ ế n n h ữ n g người thầy bói K h m er (“ K rep” ) N h ữ n g người này c ũ n g x ă m trên c á n h tay h oặc trên ngực những bán lịch d ù n g đế xá c định c á c n g à y “ tốt” n g à y “ x ấ u ” ” [ 1: 5 -6 ].
Trang 34Dựa v à o những cái lịch này m à thầy cú n g c h ọ n la n g à y tót đê tố chức lé hội Pang a T h e o quan n iệ m dân gian của người La Ha, căn cứ vào lịch này, Iiliững n g à y lót là những ngày được ký hiệu bàng "'hai mắt” và “bốn mắt” , những k h ô n g tốt và rất xấu là những n g à y c ò n lại ( X e m Phụ lục 5).
N g à y nay, bên cạnh v iệ c xác định thời đ iể m tố ch ứ c lề hội dựa vào những y ế u t ố thời tiết, thiên nhiên, m ù a vụ và lịch c ổ truyền, người La Ha c ò n
sử d ụ n g lịch d o nhà nước ban hành T u y n hiên c á c h tính lịch Iheo truyền thống vẫn đ ư ợc sử d ụ n g phổ biến cả trong lao đ ộ n g sán XIŨÚ lẫn trong c á c hoạt
đ ộ n g tín ngưỡng.
2.2 Quy trình tổ chức lẻ hội Pang a mill ban:
2 2 1 C ô n g v iẽ c chuẩn bi:
Sau khi c h ọ n được n g à y lành tháng tốt đ ể tổ ch ứ c lễ h ộ i, thầy c ú n g
th ôn g báo c h o dân bản trên, bản dưới, với c h ín h q u y ề n s ở tại, anh e m họ h àn g trong v ù n g đ ư ợc biết c h ín h thức n g à y g iờ đ ể m ọ i người đ ến g ó p vui Đ ể lễ hội
c ó thể d iễn ra m ột c á c h su ô n sẻ, thầy c ú n g và dân bản phải c h u ẩ n bị đầy đủ cá
về vật chất lẫn tinh thần trước đấy cá tháng trời, c ó khi là cả năm.
V iệ c c h u ẩ n bị lương thực, thực phẩm c ũ n g như nlũrng vật d ụ n g sứ d ụ n g irong su ốt thời gian diễn ra lỗ hội là c ô n g v iệ c củ a cả thầy c ú n g và toàn thể bà
c o n dân bản H ọ phải chuẩn bị những loại lương thực, thực phẩm sau:
Trang 35- Rau c á c loại: Rau m á, rau ban, rau cải, rau chát, rau thối (côní> hạc),
rau vả, rau húng, rau thơm
N g o à i ra, c ò n c ó m ột s ố thứ như: cu a (kìiạt), cá (va) C á c loại lương thực, thực phẩm này được c h ế biến thành c á c m ó n ăn truyền th ố n g củ a người
La Ha như lu ộc, nướng, nấu canh đ ể phục vụ c h o v iệ c c ú n g lỗ và thết đãi bà
c o n dân bản, những người đến dự lễ hội.
N g o à i v iệ c chuẩn bị đầy đủ lương thực, thực phẩm c h o buổi lỗ, họ c ò n phải chuẩn bị m ột s ố vật d ụ n g c ó tính chất tượng trưng làm đ ạ o cu trang trí
c h o c â y hoa thần và sử d ụ ng trong lễ hội M ặ c dù Pang a nụn ban là lẻ hội của toàn thể c ộ n g đ ổ n g nhưng th eo q u y định, thầy c ú n g phái c h ịu trách n h iệm
ch ín h trong v iệ c c h u ẩn bị c á c vật d ụ n g c h o buổi lễ N h ữ n g thứ này g ồ m có:
- 0 2 c h iế c “ /<?/” (vật biểu tượng c h o tính dương);
- 0 3 ch ù m hoa “chắc chăn" (tượng trưng c h o 3 6 c o n ve rừng);
- 01 cặp trông v u ô n g ngũ sắc;
Trang 36- 01 đôi trống tròn sơn xan h , đỏ;
- 0 2 quá "khòn” bằng vải n h iều màu;
- 01 đỏi c h im “Nộk coke” b ằ n g gỗ;
- 0 2 cặp vũ khí sú ng và k iế m , chắn;
- 01 cây "lăm mạ" ( c â y m ó c ) tượng trưng c h o co n trâu đen;
- Oi câ y "‘lãm lốc" ( c â y c h u ô i) lư ợ ng tiling c h o co n trâu irãng;
- 0 2 cái c à y và 0 2 cái bừa b ằn g gỗ.
V iệ c làm những đ ạ o cụ trên c ũ n g được phân c ô n g m ộ t c á c h rõ ràng
N h ữ n g c ô n g v iệ c cần sự tỉ m ẩ n như làm trống v u ô n g ngũ sắc, qu á kìiòn, sùi mòn được phân c ô n g c h o phụ nữ, những thứ c ò n lại như làm lật, đ ẽ o sú n g ,
k iế m , vào rừng tìm c â y lăm tốc, lăm mạ được g ia o c h o đàn ô n g
Lật (b iểu tượng c h o d ư ơ n g tính): dài k h o ả n g 4 0 - 5 0 c m , đ ư ờng kính
k h o a n g 5 - 6 c m Lật g ồ m hai phần rời nhau: phần đầu là m ột đ oạn tre dài
k h o a n g 1 0 -1 5 c m , m ộ t đầu đư ợc đ ụ c lỗ để luồn dây, m ộ t đầu đư ợc k h o ét thành
n g o à m (mộng cái), giữ a thân n g o à m c ũ n g được đục lỗ Phần thứ hai là m ột (loạn g ỗ dài k h o ả n g 4 0 c m , thân đư ợc vót tròn, một đầu được đ ẽ o vát, m ộ t dầu (lẽo thành mộnịỉ đực, đầu m ộ n g này c ũ n g được khoét m ột lỗ nhỏ Khi g h é p
m ộ n g phần đầu với phần thân thứ hai cứa lật, người ta d ù n g m ộ t m ẩu tre đe chốt hai phần củ a cái lật lại Sau khi đã gh ép hai phần củ a lật với nhau, người
ta d ù n g m àu xanh và đ ỏ vẽ c á c k h o a n h tròn trên thân lật để trang trí ( X e m Phụ lục 7, ảnh 8) Khi m úa, lật đư ợc đ iề u k h iển bàng d ây, phấn đầu củ a lật c ó buộc m ột sợi dây để b u ộ c v ò n g q uanh b ụ n g của người m ú a , phần thân thứ hai
c ũ n g buộc m ộ t sợi dây đ ể đ e o v à o n g ó n chân cái c ủ a người m úa (đầu kia của sợi tlây được buộc ở đầu m ộ n g , sát với c h ỗ g h ép nối giữ a hai phần) Lật c ó thể
Trang 37tạo thành m ộ t g ó c hay xu ôi th eo thân n gư ời là tuỳ thuộc vào sự k h éo lé o của người m ú a khi điều khiển hai sợi d ây này.
đố tết thành những c o n ve rừng (lo ạ i v e b á o h iệu đến m ù a làm lễ cú a c á c thầy lang) N h ữ n g c o n ve này được tô m à u v à n g , tím, xanh (m àu vẽ được làm từ
c á c loại thực vật và câ y rừng) Tất cả c ó 3 6 co n ve rừng, c á c co n ve này được kết lại thành ba c h ù m , th eo hình nan quạt, m ỗ i ch ù m c ó ba càn h , m ỗ i cà n h c ó bốn c o n ve, c á c c o n v e m àu này đư ợc x ế p x e n kẽ và c á c h cỊều nhau ( X e m Phụ lục 7, ảnh 9).
T rốn g v u ô n g ngũ sác (côốniỉ): g ồ m bôn mặt rời hình v u ô n g , m ỗ i cạnh
k h o á n g l ơ c m , g h é p lại với nhau m à thành M ỗ i m ặt trống dược lùm bằng hai
q u e tre vót n h ỏ b u ộ c c h é o nhau, m ỗ i q u e dài k h o ả n g 1 0 - 1 5 c m , rồi d ù n g năm loại ch ỉ m àu đan kín, ở giữa là m à u v à n g , tiếp đ ến là m àu đ ỏ , m àu x a n h lá
c â y , m àu da c a m , và ngoài c ù n g là m à u x an h dương C ác m ặt này được g h é p thành khối hình v u ô n g bằng c á c h b u ộ c c á c g ó c củ a c h ú n g lại với nhau, tại cá c
g ó c này người ta b u ộ c thêm m ột s ố tua vai nhiều m àu ( X e m Phụ lục 7, anh
I I )
T rốn g tròn (cò n g ọ i là c h iê n g ): ngư ời ta lấy hai đ oạn thân tre rỗng, m ỗi (loạn dài k h o ả n g 10cm , hai đầu đ ư ợc bịt kín bằng vải đỏ M ộ t cái tô m àu xan h , m ột cái m àu đỏ N g o à i ra, h ọ c ò n là m hai cái dùi nh ỏ gài bên cạ n h hai cái trống này.
(Jail c ó những tua vai nhiều m àu, s u ố t c h iề u dài d ây là n hữ ng m a n h vải v u ô n g nhỏ nhiều m à u sắc được đ ể c á c h đ ề u nhau T ư ơ n g tự như loại thứ nhất nhưng
Trang 38Hai quả khàn (cò n ): đư ợc làm bàng vái n hiều m àu N g ư ờ i ta làm một
c á i lúi nhó hình vu ô n g , nhôi vái vụn vào irong ròi khán kín lại, bôn g o c dính
c á c rua vái n hiều m àu, c h ín h giữ a hình v u ô n g dính một sợi dãy dài k h oáng 30-
4 0 c m , trên d ây người ta đ ín h n hữ ng tua vái nhỏ nhiều m àu đế c á c h đều nhau Khi tung khàn, người c h ơ i s ẽ c ầ m sợi dây này q u ay đê lây đà rồi tung c h o người chơi ứ đối diện N h ữ n g tua vái và sợi dây n hiều m àu này c ó tác d u n g tạo
c á m hứng c h o người c h ơ i và n g ư ờ i x em
C h im Nộk coke: n g ư ờ i ta làm hai c o n c h im bằng g ỗ , toàn thân c h im (lược tô m àu đen đ iể m n h ữ ng c h ấ m tròn m àu trắng Đ ổ n g thời làm m ộ t cái
k h u n g hình c h ữ nhật hàng tre, c ắ m hai c o n c h im vào sa o c h o hai c o n c h im này
q u a y đầu v à o nhau H ọ c h o rằng hai co n c h im này biểu h iện c h o tình y ê u đôi lứa, ước m u ố n được tự d o y ê u đ ư ơ n g , thành v ợ thành c h ổ n g
N g o à i ra, họ c ò n đ ẽ o m ộ t c o n c h im nữa bằng gỗ C on c h im này c ó k ích thước lớn hơn đ ô i c h im nộk coke và được tô m àu tím , toàn thân c h im c ó bọc
g iấ y m àu vàng Con c h im c u g á y (Tun uột) được c o i là thần g iữ nương, tuy
n h iên nó c ũ n g là m ột trong n h ữ ng c o n vật ăn lúa trên nương nên c ũ n g phái thờ
c ú n g và m ời nó về ăn đ ể n ó b ả o v ệ nương c h o người La Ha ( X e m Phụ lục 7, ảnh 10).
Lá ch ắ n gỗ: là tấm lá c h ắ n được đ ẽ o từ g ỗ , c ó cán c ầ m dài, c ó đ ộ c o n g thắt ở giữa, dài k h o ả n g 3 0 c m , r ộ n g k h o á n g 1 0 cm , dày k h o ả n g 2 - 4 c m Mặt lá
c hắn được tô m àu đen với những v ò n g tròn n hỏ m àu trắng ở trên bề mặt.
K iế m gỗ: dài k h o ả n g 6 0 - 7 0 c m , c ó lưỡi rộng k h o a n g 5 c m , mũi k iếm nhọn, tay c ầ m dược vót tròn dài k h o a n g 3 0 c m T ư ơn g truyền, d ãy là loại vũ khí từ lâu đừi củ a người La Ha đ ể bảo vệ bản làng.
S úng c ũ n g đưực đ ẽ o từ g ỗ với ch iề u dài k h o ả n g 8 0 c m , n ò n g sú n g được
vẽ những khoanh tròn m àu đen.
Trang 39N g o à i những vũ khí m a n g tính ch iế n đấu bao vệ ban làng và mưu sinh,
họ c ò n đ ẽ o hai cái rìu Cán rìu dài k h oảng 4 0 c m , lưỡi rìu hơi c o n g dài k h oảng 3()cm, rộ n g k h o ả n g 7 cm
C â y m ó c (Lăm lạ - hay cò n gọi là c â y dừa rừng) được tượng trưng ch o
c o n trâu đ en N gười La Ha quan n iệm khi c â y m ó c chốt di hoá thành c o n trâu
đ ế phục vụ n ô n g n gh iệp , cà y bừa nưưng rẫy (?) C ày m ó c là loại c â y thân rỗng
họ dừa và cau, c ó từng đốt nhưng trong ruột là những d ây tóc đen cứ n g như
lô n g trâu đ en , lá c ó tàu như lá dừa Loại c â y này c ó thể c a o tới 6 - 8 m , c â y m ó c
dư ợc c h ọ n dê d ù n g trong lễ hội c a o k h o ả n g 3 - 4 , 5 m , đ ư ờng kính k h o a n g 10-
2 0 c m , khi lấy về người ta phải lấy n g u y ê n cả c â y từ g ố c , rễ và lá.
C â y c h u ố i rừng (Lăm tốc) c ũ n g được lấy n g u y ê n cả cà y C â y c h u ố i rừng
g i ô n g c à y ch u ố i nhà nhưng quá của n ó c ó rất n h iều hạt đ en, khi ăn phải lựa bỏ
đi vì hạt c h u ố i rất chát N gư ời La ha thường lấy thân c h u ố i bỏ bẹ n goài lấy nõn trắng đ ể c h ế b iến thành m ộ t s ố m ó n ăn hàng n g à y như hoa c h u ố i hoặc nấu
c anh T ừ xưa, người La Ha quan n iệ m c â y c h u ố i là tượng trưng c h o c o n trâu tráng vì n ó lớn nhanh, chịu hạn tốt (?).
H ai cái c à y tượng trưng được làm bằng loại g ỗ c h ắ c , bổn, ít nứt và
k h ô n g n g ấ m nước Cái c à y này c ũ n g c ó đủ bắp c à y , náng, th e o và đôi ch ã o
h ằn g dây rừng, khi k é o c à y k h ô n g lắp lưỡi sắt Hai cái c à y này m ột dành c h o trau trắng, m ộ t dành c h o trâu đen.
N g ư ờ i ta cò n làm hai cá i bừa bằng g ỗ g ồ m c ó k hung bừa và thân bừa với c h iể u rộng khoảng 2 5 c m , c a o k h o ả n g 15cm Trên thân bừa c ó đục c á c lỗ nhỏ hình v u ô n g c á c h đều nhau để tra răng bừa R ă n g bừa đư ợc vót nhọn m ột (lau, dài k h o a n g 1 0cm , thường được làm bàng loại g ỗ bổn, (lai, cứng Hai cái bừa này c ũ n g để c h o trâu trắng và trâu đen.
Trang 40T iếp đó, người ta lấy tre, nứa h oặc g ia n g c h é thành lạt, uốn thành những
v ò n g tròn nối với nhau thành m ột c h u ỗ i, m ỗ i d â y g ổ m 18 v ò n g N h ữ n g d ây
x íc h này được bầy trên m â m lễ dưới c â y hoa thán.
N g o à i ra, người ta c ò n uốn ba d ây khác, m ỗ i dây sáu v ò n g treo ở nơi lliừ c ú n g lổ tiên N gư ời La Ha quan n iệ m đây là những d â y chí đ ư ờng c h o m a
đi ch ơi M a ở đ ây là thần rừng, thần s ô n g , thần su ố i, tổ tiên , họ thường đi tròn những d â y này.
Khăn bàng vải trắng được dệt th eo k h ổ vải m à người La Ha vẫn dệt, khăn rộng k h o ả n g 3 0 c m , dài k h o ả n g 2 ,5 m Hai đấu khăn đư ợc n ẹp vái m àu và
đ ính c á c sợi tua rua C ác loại khăn này được vắt lên k h un g cạ n h c â y c h u ô i và
c â y m ó c.
Tất cả những vật dự ng này được d ù n g để trang trí trên c â y hoa thần và
sử d ụ n g trong suốt lễ hội.
N g o à i c á c vật dụng k ể trên, thầy c ú n g c ò n phải c h u ẩ n bị m ộ t m â m c ơ m
c ú n g tổ tiên củ a g ia đình như bao g ia đ ình khác trong ban C á c m ó n ăn được
c h ế biến đơn giản g ồ m c ó rượu, x ô i, cá, gà và c á c loại r a u
C ác c o n n uôi, những người được thầy c ú n g chữa c h o khỏi bệnh, c ũ n g phải chuẩn bị m ột s ố thứ như khăn b ằn g vái trắng, sài môn, rượu cần , x ô i, gà