Một trong những nhiệm vụ, giải pháp đó là đổi mới việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, cụ thể: Đổi mới việc dạy và học ngoại ngữ trong hộ thống giáo dục quốc dân t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA S ư PHẠM
LÊ NGỌC HẠNH
NHỮNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIÊNG ANH TẠI TRƯỜNG • • •CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP I
LUẬN VÃN THẠC s ĩ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
M ã số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: TS Đặng Văn Cúc
Đ A ! H Ọ C Q U Ố C G IA H À N Ộ I TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN
V -L d / A U (.
HÀ NỘI - 2007
Trang 2NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VÃN
CĐKTKTCNI Trường Cao Đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công
nghiệp I
Trang 34.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của công tác quản lý hoạt động dạy 4
học ngoại ngữ.
4.2 Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý 4
và các hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại Trường Cao đảng
Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I.
4.3 Nghiên cứu, đề xuất một sô biện pháp quản lý hoạt động dạy
học môn tiếng Anh của Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật
Công nghiệp I
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 4
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận 4 7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 5
Trang 4Chương 1 C ơ SỞ LÝ LUẬN VỂ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY 6
HỌC NGOẠI NGỮ
1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 8
1.3 Quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ ở các trường Cao đẳng 19
và Đại học
13.1.1 Bản chất và mục đích của quá trình dạy học ngoại ngữ 19
25
1.3.1.5 T ổ chức quá trình dạy học ngoại ngữ
1.3.1.6 Làm th ế nào đ ể cố được một quá trình dạy-học ngoại ngữ tối ZX) ưu?
1.3.2 Quản lý quá trình dạy học môn tiếng A n h ở các trường Cao 27
đẳng và Đại học
Trang 5ỉ 3.2.2 Quản lý mục tiêu dạy học ngoại ngữ ở các trường Cao đẳng
1.3.2.6 Tổ chức quá trình dạy học ngoại ngữ
1.3.3 Quản lý cơ sở vật chất và thiết bị thiết yếu cho việc dạy học ngoại ngữ
1.3.4 Quản lý đội ngũ giáo viên
1.3.4.1 Quản lý các loại hồ sơ của giáo viên
1.3.4.2 Quản lý việc phân công giảng dạy
1.3.4.3 Quản lỷ việc thực hiện chương trình
1.3.4.4 Quản lý việc chuẩn bị lên lớp của giáo viên
1.3.4.5 Quản lý lên lớp của giáo viên
1.3.4.6 Quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên
Tiểu kết Chươngl
Chương 2 THựC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH TẠI TRƯỜNG CAO ĐANG k i n h t ế k ỹ
THUẬT CÔNG NGHIỆP I
2.1 Vài nét về trường Cao đẳng Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I
2.1.1 N hà trường nói chung
2.1.1.ỉ Vị trí, chức năng
2.1.1.2 Nhiệm vụ của trường
Trang 62.1.1.3 Loại hình đào tạo 41
2.1.1.7 Định hướng sơ bộ vê phát triển trường trong tương lai
2.2.1.3 Hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy học 48
2.2.1.4 Kiểm tra - đánh giá
53
2.2.1.5 Quản lý hoạt động dạy học của đội ngũ giáo viên
57
2.2.1.6 Quản lý hoạt động dạy học của đội ngũ HSSV
2.2.2 Thực trạng về cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ hoạt động dạy 60
học môn tiếng A nh
2.3 Nhận xét chung về thực trạng quản lý hoạt động dạy - học 62
môn tiếng Anh tại Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công
nghiệp I
2.3.1 N hững ưu điểm trong quản lý hoạt động dạy học môn tiếng 62
A n h tại Trường Cao đẳng Kinh tê Kỹ thuật Công nghiệp I
2.3.2 N hững hạn c h ế trong quản lý hoạt động dạy học môn tiếng 0 '
A n h tại Trường Cao đẳng Kinh tế K ỹ thuật Công nghiệp I
Chương 3 NHŨNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO 66
CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH TẠI TRƯỜNG CAO
ĐẲNG KINH TÊ KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP I
Trang 73.1 Những cơ sở, căn cứ chung để đề xuất các biện pháp quản lý 66 nhằm nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ
3.1.1 Đường lối chủ trương của Đảng, Nhà nước vê giáo dục - đào tạo 66
3.1.2 M ục tiêu giáo dục - đào tạo nói chung và mục tiêu dạy học 66
môn ngoại ngữ nói riêng
3.1.3 Lý luận khoa học sư phạm , những cách tiếp cận quản lý và 67
các th ể c h ế - quy c h ế chuyên môn
3.2 Những biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn 68 tiếng Anh ở trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I
3.2.4 Xây dựng k ế hoạch bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên 76
môn, nghiệp vụ cho đội ngủ giáo viên
3.2.5 Quản lý các hoạt động sư phạm của giáo viên 78
3.2.7 Cải tiến công tác kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của H SSV 82
3.2.8 Táng cường trang bị cơ sở vật chất và thiết bị thiết yếu phục 87
vụ cho việc dạy học nói chung và môn tiếng A n h nói riêng
3.4 Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 91
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hom bao giờ hết thế giới ngày nay đang chứng kiến sự biến đổi vô cùng to lớn của xã hội loài người với đặc trưng là: toàn cầu hoá, công nghệ thông tin, xã hội học tập Có thể nói, sự toàn cầu hoá, sự đổi mới công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và nhu cầu học tập suốt đời đã thôi thúc và giúp chúng ta tổ chức lại một cách cơ bản đời sống xã hội, đưa loài người đến một nền kinh tế trí thức, bước vào nền văn minh trí tuệ Sự biến đổi này đang có những tác động không nhỏ đến sự phát triển giáo dục Trong bối cảnh này, giáo dục phải vừa đảm bảo nhiệm vụ đào tạo người công dân tốt cho đất nước, vừa đảm bảo đào tạo người thành viên tốt của cộng đồng nhân loại Riêng nhà trường cao đẳng, đại học, cần phải đào tạo được những người có khả năng tạo ra việc làm trong một thị trường thế giới đang biến đổi nhanh chóng
Nhận thức rõ bối cảnh và xu thế phát triển của thời đại ngày nay, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng ta đã xác định mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001-2010) là: “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản,
vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao
Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến việc dạy học ngoại ngữ trong nhà trường Tiếng Anh là một trong những ngoại ngữ bắt buộc được đưa vào dạy học ở nhiều bậc học khác nhau trong hệ thống giáo dục quốc dân
Ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng được coi là điều kiện tiên quyết, là một công cụ, phương tiện đắc lực và hữu hiệu trong quá trình
Trang 9hội nhập và phát triển Vấn đề ngoại ngữ đã trở nên cấp thiết hơn và quyết liệt hơn trong những năm gần đây.
Trong báo cáo của Chính phủ về tình hình giáo dục của nước ta đã nêu một cách khái quát các nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp nhằm phát triển giáo dục vững chắc và mạnh mẽ hơn trong thời gian tới Một trong những nhiệm vụ, giải pháp đó là đổi mới việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, cụ thể: Đổi mới việc dạy và học ngoại ngữ trong
hộ thống giáo dục quốc dân theo hướng cung cấp cho thế hệ trẻ một phương tiện giao tiếp, học tập và làm việc hữu hiệu trong môi trường đa ngôn ngữ của xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, đáp ứng yêu cầu Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá đất nước Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã có Đề án Giảng dạy, học tập ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam giai đoạn 2004 - 2015 (Dự thảo 9/2004)
Trường Cao Đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I được thành lập theo Quyết định số 478/TTg ngày 24 tháng 7 năm 1996 của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở nâng cấp Trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp nhẹ - tiền thân là Trường Trung cấp Kỹ thuật III được thành lập năm
1956 Trường có đội ngũ trên 300 giáo viên chính thức, trong đó có 45% giáo viên có trình độ thạc sĩ và tiến sĩ Nhà trường được giao nhiệm vụ: Đào tạo nguồn nhân lực cho ngành Công nghiệp từ công nhân kỹ thuật, trung học chuyên nghiệp đến cao đẳng và đào tạo lại, bồi dưỡng cán bộ công nhân viên; Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, phục vụ phát triển kinh tế xã hội Nhà trường đã có bề dày kinh nghiệm trong đào tạo cán
bộ kỹ thuật và kinh tế trình độ cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật chất lượng cao Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế cùng với sự đổi mới về công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, Nhà trường đang phải đối mặt với những thách thức vô cùng to lớn Việc tiếp nhận, ứng dụng các công nghệ mới đã tạo nên sự thay đổi quan trọng về trình độ công nghệ của toàn ngành Công nghiệp, đòi hỏi cần nâng cao kỹ năng, trình độ của đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và cán bộ quản
Trang 10lý Ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng là công cụ để giúp họ nâng cao kỹ năng và trình độ của mình.
Trên thực tế, mặc dù tiếng Anh được giảng dạy khá lâu và đặc biệt được quan tâm ở Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I, song kếl quả thì chưa khả quan: HSSV sau khi hoàn thành môn tiếng Anh ở nhà trường không sử dụng được ngôn ngữ này như một phương tiện giao tiếp và cũng chưa đọc được tài liệu chuyên ngành
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, ví dụ: giáo viên không được đào tạo lại hay không được đào tạo tiếng Anh chuyên ngành một cách bài bản, cơ sở vật chất còn thiếu, chưa có các phương pháp dạy và học thích hợp, v.v Song để đảm bảo và nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng Anh, tôi nghĩ cần phải đánh giá đúng thực trạng, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch dạy học và các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh khả thi, tạo nên sự đổi mới trong việc dạy học ngoại ngữ nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội và phát triển đất nước
Với lí do trên tôi chọn đề tài: “N hững biện pháp quản lý hoạt động
dạy học môn tiếng A nh tại Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp / ” với hy vọng xây dựng một hướng đi đúng để đưa Bộ môn tiếng
Anh của Nhà trường lên một vị thế mới đáp ứng được các nhu cầu phát triển của sự nghiệp đào tạo cán bộ kỹ thuật viên của Nhà trường nói riêng và góp phần phát triển ngành Công nghiệp Việt Nam nói chung
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn để đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng Anh tại Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại Trường Cao đẳng Kinh
Trang 11tế Kỹ thuật Công nghiệp I.
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của công tác quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ
4.2 Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý và các hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I
4.3 Nghiên cứu, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh của Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I
5 Giả thuyết khoa học
Chất lượng của môn tiếng Anh ở trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I còn có nhiều hạn chế Nếu xây dựng và áp dụng một cách linh hoạt, sáng tạo và đồng bộ các biện pháp quản lý mang tính hê thống có tính khả thi và hiệu quả sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn này
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Tìm hiểu khái niệm, thuật ngữ có liên quan
- Nghiên cứu các văn bản, các chủ trương, chính sách của Nhà nước,
Trang 12Bộ, Ngành, Địa phương có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
- Tham khảo các bài luận văn cùng chuyên ngành và các bài giảng của các giáo sư, tiến sĩ về quản lý giáo dục
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát (công việc dạy- học của giáo viên và HSSV)
- Phương pháp điều tra: Sử dụng mẫu phiếu điều tra với HSSV, giáo viên, cán bộ quản lý, về công tác quản lý hoạt động dạy học của Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I
- Thống kê, phân tích các số liệu đạt được
- Các phương pháp nghiên cứu hỗ trợ: Lấy ý kiến của các chuyên gia
về lĩnh vực nghiên cứu
8 Giới hạn đề tài
Để tài tập trung nghiên cứu và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo
Luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I
Chương 3: Những biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng Anh tại Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 13CHƯƠNG 1
C ơ SỞ LÝ LUẬN VỂ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
DẠY HỌC NGOẠI NGỮ
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Ngày nay, thế giới đang tồn tại và phát triển trong muôn vàn mối quan hệ chằng chéo giữa các nước khác nhau trong tất cả các lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế, khoa học, kĩ thuật, văn hoá, giáo dục v.v Trong bối cảnh toàn cầu hoá và xu thế hội nhập quốc tế, sự hiểu biết tiếng nói của nhau đã trở thành một điều kiện không thể thiếu được để phát triển các mặt hoạt động kể trên của mỗi đất nước Do đó việc dạy học ngoại ngữ nói chung và việc đưa tiếng nước ngoài vào chương trình giáo dục phổ thông nói riêng đang là một nhu cầu cấp bách của mỗi nước
Nhận thức được tầm quan trọng của ngoại ngữ, từ cuối những năm
60, đầu những năm 70, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến dạy học ngoại ngữ trong nhà trường và đã có nhiều chỉ thị đẩy mạnh việc dạy học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân nước ta nhằm đáp ứng được nhu cầu xã hội
Ngày 11 tháng 4 năm 1968, Thủ tướng Chính phủ đã ra chỉ thị số 43/TTg về phương hướng và nhiệm vụ dạy học ngoại ngữ ở các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và các trường phổ thông
Ngày 7 tháng 9 năm 1972, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 251-TTg về việc cải tiến và tăng cường công tác dạy học ngoại ngữ ở các trường phổ thông
Điều 7 của Luật Giáo dục (2005) cũng khẳng định vị trí quan trọng của ngoại ngữ trong nội dung học vấn phổ thông và đề ra yêu cầu bảo đảm cho học sinh có kiến thức cơ bản về ngoại ngữ
Nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội khoá 10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã yêu cầu xây dựng đề án dạy học ngoại
Trang 14ngữ ở trường phổ thông đến năm 2010.
Ngày 11 tháng 6 năm 2001, Thủ tướng Chính phủ đã ra chỉ thị số 14/2001/CT-TTg về đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông, trong đó yêu cầu xây dựng đề án “Giảng dạy, học tập ngoại ngữ trong trường phổ thông”
Những năm gần đây, các nhà khoa học, các nhà quản lý và các giáo viên đã đề cập nhiều đến thực trạng việc dạy và học ngoại ngữ và đổi mới các PPDH nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học ngoại ngữ Trong số đó có thể kể đến các bài:
- Bùi Hiền Phương pháp hiện đại dạy học ngoại ngữ Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, tháng 9/1999
- Nguyễn Đức Chính (1998) Một số vấn đề dạy học lấy người học làm trung tâm Ngoại ngữ Đặc san Số 2
- Phạm Minh Hiền & Phạm Mai Hương (1999) Dạy đọc hiểu theo đường hướng lấy người đọc làm trung tâm Đặc san Ngoại ngữ số 1
- Hoàng Văn Vân (2000) Đường hướng lấy người học làm trung tâm trong dạy học ngoại ngữ Tạp trí Khoa học Số 2
- Hoàng Văn Vân (2001) Nghiên cứu giảng dạy các kĩ năng lời nói tiếng Anh ở giai đoạn nâng cao theo đường hướng lấy người học làm trung tâm Đề tài khoa học cấp Đại học Quốc gia 2000-2001
- Hoàng Văn Vân (2004) Phương pháp giảng dạy ngoại ngữ hợp lí và
có hiệu quả ở Việt Nam đầu thế kỉ thứ XXI Tạp chí Ngôn ngữ Số 9
Mặc dù lãnh đạo Nhà trường rất quan tâm đến việc dạy học ngoại ngữ Song, để đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục ngoại ngữ đáp ứng được các nhu cầu phát triển của sự nghiệp đào tạo cán bộ kỹ thuật viên của Nhà trường nói riêng và góp phần phát triển ngành Công nghiệp Việt Nam nói chung, tác giả cho rằng cần phải đánh giá đúng thực trạng hoạt động dạy học ngoại ngữ của nhà trường Nhưng, cho đến nay, Trường Cao đẳng KTKTCNI cũng chưa có một công trình nghiên cứu nào về vấn đề này Vận dụng các
Trang 15kiến thức đã tiếp thu được sau quá trình học tập chuyên ngành QLGD, trong luận văn này tác giả sẽ nghiên cứu một cách hệ thống để đưa ra được các biện pháp quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ tại đơn vị của mình.
1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.2.1 Quản lý
Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người Có rất nhiều định nghĩa về quản lý nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất bởi khi các tác giả đưa ra định nghĩa của mình họ đều dựa trên lĩnh vực quản lý mà họ hướng tới Theo C.Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản suất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng.” [61, tr.23]
* Quan niệm về quản lý của các tác giả nước ngoài:
- Nhà thực hành quản lý lao động và nghiên cứu quá trình lao động F.Taylor cho rằng: "Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất" [21, tr.100]
- Với nhà lý luận quản lý kinh tế người Pháp, H Fayol thì "Quản lý
là sự dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra Đó chính là các chức năng cơ bản của nhà quản lý" [21, tr.106]
- Theo tác giả người Mỹ, H.Koontz và những người khác: “Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm, có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định” [62, tr 19]
* Quan niệm về quản lý của các tác giả Việt nam
- Theo PGS.TS Nguyên Thị Mỹ Lộc và TS Nguyễn Quốc Chí định
Trang 16nghĩa về quản lý là "tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản
lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ
chức- nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích tổ chức" [7,
tr.l] Hiện nay, khái niệm này được định nghĩa một cách rõ hơn: "Quản lý
là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động
(chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra." [7, tr.l]
- Theo GS Nguyễn Ngọc Quang định nghĩa quản lý như sau: "Quản
lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể
những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được
những mục tiêu đã dự kiến." [45, tr.24]
Khái niệm về quản lý được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau
song có thể hiểu quản lý là hoạt động có mục đích của con người và quản lý
chính là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của
những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn
Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật Quản lý mang
tính khoa học vì các hoạt động của quản lý có tổ chức, có định hướng đều
dựa trên những quy luật, những nguyên tắc và những phương pháp hoạt
động cụ thể, đồng thời quản lý mang tính nghệ thuật vì nó vận dụng một
cách linh hoạt và sáng tạo vào những điều kiện cụ thể trong sự kết hợp và
tác động nhiều mặt của các yếu tố khác nhau trong đời sống xã hội
1.2.2 B ản chất, biện pháp và chức năng của quản lý
ỉ 2.2.1 Bản chất của quản lý
Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều
khiển, chỉ huy) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý
trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn
và đạt mục tiêu đề ra
ỉ 2.2.2 Biện pháp quản lý
Nghiên cứu về khoa học quản lý, tác giả Trần Quốc Thành nêu ra 4
biện pháp quản lý chính Đó là: Biện pháp thuyết phục; Biện pháp hành
Trang 17chính-tổ chức; Biện pháp kinh tế; Biện pháp tâm lý- giáo dục.
- Biện pháp thuyết phục: là cách tác động của chủ thể QL vào đối
tượng QL bằng lý lẽ làm cho họ nhận thức đúng đắn và tự nguyện thừa nhận các yêu cầu của nhà quản lý, từ đó có thái độ và hành vi phù hợp với các yêu cầu này Đây là biện pháp cơ bản để giáo dục con người Biện pháp thuyết phục gắn với tất cả các biện pháp quản lý khác và phải được người quản lý sử dụng trước tiên vì nhận thức là bước đầu tiên trong hoạt động của con người
- Biện pháp hành chính - tổ chức: là cách tác động của chủ thể QL
vào đối tượng QL trên cơ sở quan hệ quyền lực tổ chức, quyền hạn hành chính Cơ sở của biện pháp này là dựa vào quy luật tổ chức, bởi lẽ bất cứ một hệ thống nào cũng có quan hệ tổ chức Trong đó người ta sử dụng quyền uy và sự phục tùng trong bộ máy này Khi sử dụng biện pháp hành chính-tổ chức, chủ thể QL phải nắm chắc các văn bản pháp lý, biết rõ giới hạn, quyền hạn trách nhiệm Các quy định phải bảo đảm tính khoa học và thực tiễn, phải kiểm tra và nắm được thông tin phản hồi
- Biện pháp kinh tế: là cách tác động của chủ thể QL vào đối tượng
QL thông qua lợi ích kinh tế Cơ sở của biện pháp này là dựa vào quy luật kinh tế, thông qua quy luật này để tác động tới tâm lý của đối tượng Nội dung của biện pháp này là nhà quản lý đưa ra các nhiệm vụ, kế hoạch tương ứng với các mức lợi ích kinh tế Đối tượng bị QL có thể lựa chọn phương án thích hợp để vừa đạt được mục tiêu của tập thể vừa đạt được lợi ích kinh tế của cá nhân Khi sử dụng biện pháp này cần tránh dẫn đến chủ nghĩa thực dụng hay sự mất đoàn kết nếu thiếu công bằng
- Biện pháp tâm lý -giáo dục: là cách tác động vào đối tượng QL thông qua
tâm lý, tình cảm, tư tưởng con người Cơ sở của biện pháp này dựa vào quy luật tâm lý con người và chức năng tâm lý của con người Nội dung của biện pháp này
là kích thích tinh thần tự giác, sự say mê của con người Muốn QL thành công người QL cần phải hiểu rõ tâm lý của bản thân mình và của đối tượng QL
Trang 18Tóm lại, quản lý vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật
Các nhà quản lý cần phải biết vận dụng các biện pháp quản lý một cách linh hoạt, sáng tạo và mềm dẻo để xử lý các tình huống cụ thể trong một môi trường luôn biến đổi Điều này đòi hỏi sự khôn ngoan, tinh tế của các nhà
QL để đạt được mục đích Ngày nay, trước yêu cầu đổi mới của nền kinh tế
- xã hội nói chung, càng đòi hỏi các nhà quản lý phải đưa ra được các biện pháp quản lý sự thay đổi một cách tài tình, khéo léo
1.2.2.3 Các chức năng của quản lý
Chức năng quản lý là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu của chủ thể quản lý nảy sinh từ sự phân công, chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý nhằm thực hiện mục tiêu Quản lý phải thực hiện nhiều chức năng khác nhau, từng chức năng có tính độc lập tương đối nhưng chúng được liên kết hữu cơ trong một hộ thống nhất quán
Mặc dù có quan điểm khác nhau, song hoạt động quản lý có 4 chức năng cơ bản: Kế hoạch hoá; Tổ chức; Chỉ đạo và Kiểm tra
- K ế hoạch hoá là chức năng cơ bản nhất trong số các chức năng
quản lý, nhằm xây dựng quyết định về mục tiêu, chương trình hành động và bước đi cụ thể trong một thời gian nhất định
Mục đích của kế hoạch hoá là hướng mọi hoạt động của hệ thống vào các mục tiêu để tạo khả năng đạt mục tiêu một cách hiệu quả và cho phép người quản lý có thể kiểm soát được quá trình tiến hành nhiệm vụ
Chức năng kế hoạch hoá có 3 nội dung cơ bản sau:
+ Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức.+ Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này
+ Quyết định xem hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó
- T ổ chức là quá trình hình thành cấu trúc các quan hệ giữa các thành
viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Nhờ việc tổ chức
Trang 19có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hom các nguồn vật
lực và nhân lực Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng
lực của người quản lý trong việc sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu
quả và có kết quả
Emest Dale mô tả chức năng tổ chức như một quá trình gồm 5 bước:
+ Lập danh sách các công việc cần phải hoàn thành để đạt được mục
tiêu của tổ chức
+ Phân chia toàn bộ công việc thành những nhiệm vụ để các thành
viên hay các bộ phận (nhóm) trong tổ chức thực hiện một cách thuận lợi và
hợp lôgíc Đây gọi là bước phân công lao động
+ Kết hợp các nhiệm vụ một cách lôgíc và hiệu quả Đây là bước
phân chia bộ phận
+ Thiết lập một cơ chế điều phối Sự liên kết hoạt động của các cá
nhân, các nhóm, các bộ phận một cách hợp lý sẽ tạo điều kiện giúp đạt
được các mục tiêu của tổ chức một cách dễ dàng và hiệu quả hơn
+ Theo dõi đánh giá tính hiệu nghiệm của cấu trúc tổ chức và tiến
hành những điều chỉnh cần thiết
- Chỉ đạo còn có tên gọi khác là quá trình chỉ đạo hay tác động Dù
dưới tên gọi nào thì chỉ đạo bao gồm việc liên kết, liên hệ với người khác và
động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được các mục
tiêu của tổ chức, hay nói cách khác, chỉ đạo là khả năng gây ảnh hưởng,
động viên và chỉ dãn/chỉ thị người khác nhằm đạt đến mục tiêu mong
muốn Tất nhiên, việc chỉ đạo không chỉ bắt đầu khi việc lập kế hoạch và
thiết kế bộ máy đã hoàn tất, mà nó thấm sâu, ảnh hưởng quyết định tới hai
chức năng kia
Chỉ đạo tập trung vào các ưu tiên sau:
+ Nhận thức, lĩnh hội quan điểm, xây dựng tầm nhìn, lý tưởng, sứ
mệnh của hệ thống
+ Làm sáng tỏ được thực trạng vận động của hệ thống (gồm phân tích
Trang 20các mâu thuẫn quá trình phát triển), phát hiện ra nhân tố mới.
+ Tổng kết được quy luật, tính quy luật xu thế phát triển của hệ thống.+ Đề xuất các phương án chiến lược phát triển hệ thống
- Kiểm tra là chức năng cuối cùng trong 4 chức năng cơ bản của quản
lý Kiểm tra đề cập đến các phương pháp và cơ chế được sử dụng để đảm bảo rằng các hành vi/hoạt động và thành tựu phải tuân thủ phù hợp với mục tiêu, kế hoạch và chuẩn mực của tổ chức
Kiểm tra trong hoạt động quản lý là một nỗ lực có hộ thống nhằm xác định những chuẩn mực (tiêu chuẩn) thành tựu khi đối chiếu với các mục tiêu đã được kế hoạch hoá; thiết kế một hệ thống thông tin phản hồi; so sánh thành tựu hiện thực với các chuẩn mực đã định; xác định những lệch lạc và có đo lường mức độ của chúng; tiến hành những hành động cần thiết
để đảm bảo rằng những nguồn lực của tổ chức được sử dụng một cách hiệu quả để đạt được mục tiêu của tổ chức
Robert J Mockler chia kiểm tra thành 4 bước:
+ Xác định tiêu chuẩn (chuẩn mực) và phương pháp đo lường thành tựu: Các tiêu chuẩn thành tựu phải đủ tường minh để các thành viên liên quan lĩnh hội được một cách dễ dàng, thống nhất Phương pháp đo lường chuẩn mực phải đảm bảo so sánh chính xác và công bằng giữa thành tựu với chuẩn mực đặt ra
+ Đo lường thành tựu là một quá trình lặp đi lặp lại và diễn biến liên tục với tần suất thực hiện phụ thuộc vào các dạng hoạt động và cấp độ quản
Trang 21tổ chức, hoặc là sửa đổi các chuẩn mực thành tựu nếu thấy chúng không thể thực hiện được.
Bốn chức năng quản lý trên có quan hệ hữu cơ/biện chứng với nhau, đều được triển khai khi tiến hành hoạt động quản lý Bất cứ người quản lý nào cũng phải làm công việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
1.2.3 Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là một loại hình của quản lý xã hội bởi lẽ giáo dục là một hiện tượng xã hội, một chức năng của xã hội loài người được thực hiện một cách tự giác Cũng giống như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, giáo dục cũng cần được quản lý Quản lý giáo dục có thể được hiểu là quản
lý quá trình GD-ĐT trong đó bao gồm quá trình dạy học diễn ra ở các cơ sở giáo dục khác nhau hay là quản lý một hệ thống các cơ sở giáo dục đóng trên địa bàn dân cư Có nhiều định nghĩa về quản lý giáo dục như sau:
- Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc - Nguyễn Quốc Chí cho rằng: "Quản
lý giáo dục là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của các cấp quản lý giáo dục tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt được mục tiêu của nó" [5]
- Theo GS Nguyễn Ngọc Quang, “Quản lý giáo dục là hệ thống có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý của Đảng thể hiện được tính chất của nhà trường XHCN Việt nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học-giáo dục thế hệ trẻ; đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới
về chất" [45, tr.35]
Tóm lại, quản lý giáo dục có thể được hiểu một cách đơn giản là quá trình vận dụng những nguyên lý, phương pháp, khái niệm , của khoa học quản lý vào một lĩnh vực hoạt động cụ thể, một ngành chuyên biệt - ngành giáo dục Hệ thống quản lý giáo dục bao gồm các thành tố:
- Chủ thể quản lý giáo dục: Là hệ thống quản lý giáo dục các cấp từ trung ương đến địa phương
Trang 22- Đối tượng/ Khách thể quản lý giáo dục:
+ Điều kiện cơ sở vật chất, nguồn lực cho giáo dục
+ Quá trình giáo dục
+ Con người tham gia hoạt động giáo dục
- Cơ chế quản lý giáo dục, gồm các cơ chế chính thức và không chính thức:+ Cơ chế chính thức là những quy định đã thành văn bản mang tính pháp lý, được thực hiện nhằm duy trì quan hệ giữa chủ thể và khách thể do Nhà nước, Bộ Giáo dục - Đào tạo và các cơ quan chức năng có thẩm quyền được Bộ uỷ quyền ban hành
+ Cơ chế không chính thức là những quy định không thành văn bản nhưng được sử dụng nhằm duy trì quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản
lý được mọi thành viên trong hệ thống quản lý thừa nhận và tôn trọng
- Mục tiêu của quản lý giáo dục: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ nhân lực có tri thức và có tay nghề,
có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội”
Quản lý nói chung và quản lý giáo dục nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển xã hội và sự phát triển của ngành giáo dục Trong bài phát biểu tại buổi khai mạc hội thảo về quản lý giáo dục tại trường Quản lý Cán bộ Giáo dục Trung ương I ngày 26/3/1996, Bộ trưởng
Bộ Giáo dục - Đào tạo Nguyễn Minh Hiển đã khẳng định: “Quản lý giáo dục là yếu tố quan trọng để tạo ra nội lực cho ngành trong điều kiện đất nước còn nghèo”
1.2.4 Quản lý nhà trường
Nhà trường là một tổ chức giáo dục cơ sở, trực tiếp làm công tác đào tạo, thực hiện việc giáo dục toàn diện đối với thế hệ trẻ Thành tích tập trung nhất của nhà trường là chất lượng và hiệu quả giáo dục, được thể hiện
ở sự tiến bộ của HSSV, ở việc đạt mục tiêu giáo dục của nhà trường
Trang 23“Nhà trường là vầng trán của cộng đồng” và đến lượt mình “cộng đồng là trái tim của nhà trường” Từ nhà trường, hai quá trình “xã hội hoá giáo dục” và “giáo dục hoá xã hội” quyện chặt với nhau để hình thành “xã hội học tập”, tạo nên sự đồng thuận xã hội, tăng trưởng kinh tế cho mỗi quốc gia với mục tiêu phát triển nhân văn đưa giáo dục cho mỗi người và huy động tiềm năng, nguồn lực của xã hội cho giáo dục.
Quản lí xã hội lấy tiêu điểm là quản lí giáo dục thì giáo dục phải coi nhà trường là nút bấm và quản lí nhà trường phải lấy quản lí việc dạy học là khâu cơ bản, việc dạy học phải xuất phát và hướng vào người học QLNT và những đổi mới trong QLNT đang được chính phủ rất quan tâm và tạo điều kiện phát triển Thực chất của quá trình QLNT là quá trình tổ chức, chỉ đạo, điều hành, kiểm tra hoạt động giảng dạy của thầy và hoạt động học tập của trò, đồng thời quản lý những điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật và tinh thần cho quá trình dạy- học nhằm đạt được mục đích của giáo dục đào tạo
Quá trình giảng dạy, học tập trong nhà trường cần được vận hành đồng bộ trong sự kết hợp chặt chẽ các thành tố chủ yếu của nhà trường với nhau trong môi trường nhà trường và môi trường xã hội Do vậy, cho dù chỉ quản lý việc thực hiện phương pháp giảng dạy trong trường, nhà quản lý vẫn cần phải quan tâm đến các thành tố khác trong hệ thống nhà trường
Dưới đây là mô hình khái quát các thành tố trong một nhà trường,
dựa trên tập bài giảng Phát triển nhà trường: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của PGS.TS Đặng Quốc Bảo.
Tóm lại, “Quản lý nhà trường là một quá trình tác động có ý thức (Tác động thông qua các chức năng quản lý, theo các nguyên tắc định hướng vào mục tiêu giáo dục, bằng các biện pháp quản lý hợp với các đối tượng quản lý ) của bộ máy quản lý nhà trường lên khách thể quản lý (Mọi người tham gia quá trình giáo dục và đào tạo của nhà trường, các nguồn lực, điều kiện cho hoạt động giáo dục đào tạo của nhà trường)” làm cho các thành
Trang 24tố trong một nhà trường vận hành, liên kết chặt chẽ với nhau nhằm đưa những
kết quả quản lý đạt được mục đích và chất lượng, hiệu quả mong muốn
Sơ đổ 1.1 Các thành tố trong quản lý nhà trường
(M: Mục tiêu, N: Nội dung, P: Phương pháp, Th: Thầy, Tr: Trò)
Mỏi trường quốc tế
Môi trường: Kt, Vh, Xh, Gia đình, sx, Kinh doanh
1.2.5 Quản lý quá trình dạy học
1.2.5.1 Quá trình dạy học
Quá trình dạy học là một quá trình xã hội, một quá trình sư phạm đặc
thù Nó tồn tại như "một hệ thống toàn vẹn bao gồm hoạt động dạy và hoạt
động học Hai hoạt động này luôn tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau,
sinh thành ra nhau Sự tương tác giữa dạy và học mang tính chất cộng tác
(cộng đồng và hợp tác) trong đó hoạt động dạy giữ vai trò chủ đạo"
1.2.5.2 Cấu trúc của quá trình dạy học
1) Quá trình dạy học là một hệ thống toàn vẹn gồm ba thành tố cơ bản: khái niệm khoa học, học và dạy
Trang 25a Khái niệm khoa học là nội dung của bài học và là đối tượng của sự
lĩnh hội bởi học sinh; nó là một trong hai yếu tố khách quan, quyết định
lôgíc của bản thân quá trình dạy học về mặt khoa học
b Hoạt động học là yếu tố khách quan thứ hai quy định lôgíc của quá
trình dạy học về mặt lý luận dạy học; nghĩa là trình độ trí dục và quy luật
lĩnh hội của học sinh (quy ước gọi là tâm lý học lĩnh hội) có ảnh hưởng
quyết định đến việc tổ chức quá trình dạy học; nó bao gồm hai chức năng
thống nhất với nhau; lĩnh hội và tự điều khiển
c Hoạt động dạy gồm hai chức năng truyền đạt và điều khiển, luôn
luôn tương tác và thống nhất với nhau Dạy phải xuất phát từ lôgíc khoa học
của khái niệm và lôgíc sư phạm của tâm lý học lĩnh hội
2) Cấu trúc của quá trình dạy học có thể diễn tả trực quan bằng sơ đồ dưới đây:
Sơ đổ 1.2 Cấu trúc chức năng của quá trình dạy học
Cấu trúc chức năng của quá trình dạy học
KHÁI NIỆM KHOA HỌC
1.2.5.3 Quản lý quá trình dạy học
Quản lý QTDH là quản lý một quá trình xã hội, một quá trình sư phạm
đặc thù, nó tồn tại như là một hệ thống bao gồm nhiều thành tố cấu trúc
Quản lý quá trình dạy học là "hệ thống những tác động có mục đích,
có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho quá trình dạy
học vận hành theo đường lối của Đảng, Nhà nước, thực hiện được những
yêu cầu của nền giáo dục xã hội trong việc đào tạo con người theo tiêu
Trang 26chuẩn của thời đại, tập trung vào hoạt động dạy học và giáo dục đưa hệ vận động từ trạng thái ban đầu đến mục tiêu".
- Mục tiêu quản lý quá trình dạy học
Mục tiêu quản lý quá trình dạy học là chất lượng dạy học toàn diện cho HSSV với các tiêu chuẩn về chính trị, tư tưởng, đạo đức, văn hoá, khoa học kỹ thuật, thể chất được quy định trong mục tiêu giáo dục Một cách chung nhất, mục tiêu quản lý quá trình dạy học là:
+ Bảo đảm thực hiện các mục tiêu, kế hoạch đào tạo, nội dung chương trình giảng dạy theo đúng tiến độ, thời gian quy định
+ Bảo đảm quá trình dạy học đạt chất lượng, hiệu quả cao
- Nội dung quản lý quá trình dạy học
Quản lý quá trình dạy học bao gồm các vấn đề sau:
+ QL mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo
+ QL hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của HSSV
+ QL chất lượng dạy học
+ QL kiểm tra, đánh giá
+ QL các hoạt động giáo dục ngoài lớp, ngoài nhà trường
Như vậy, quản lý việc thực hiện phương pháp giảng dạy cũng là một nội dung quản lý quan trọng trước yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay Để đưa ra được các biện pháp quản lý hiệu quả cho hoạt động này việc tìm hiểu và nắm vững các cơ sở lý luận về QLGD, QLNT, QLQTDH là thực sự cần thiết
1.3 Quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ ở các trường Cao đẳng và Đại học
1.3.1 Hoạt động dạy học ngoại ngữ
1.3.1.1 Bản chất và mục đích của quá trình dạy học ngoại ngữ
- Bản chất của quá trình dạy học ngoại ngữ
V.I Lê-nin định nghĩa về ngôn ngữ như sau: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người ” ở đây V.I.Lê-nin chỉ ra chức
Trang 27năng giao tiếp là thuộc tính quan trọng nhất, là bản chất của ngôn ngữ Với quan điểm này giúp ta lí giải đúng đối tượng của môn học ngoại ngữ (dạy học ngoại ngữ nhằm mục đích nắm vững và sử dụng được công cụ giao tiếp ấy), nội dung cơ bản của môn học (dạy học ngoại ngữ là dạy học hoạt động giao tiếp bằng tiếng nước ngoài ở bốn dạng cơ bản của giao tiếp: nghe, nói, đọc, viết), phương pháp dạy học ngoại ngữ (đó là phương pháp thực hành giao tiếp, nghĩa là phải thông qua rèn luyện thực hành các kỹ xảo và kỹ năng giao tiếp mà chiếm lĩnh công cụ giao tiếp).
- Mục đích của quá trình dạy học ngoại ngữ
Ngoại ngữ được đưa vào chương trình giáo dục nhằm đạt ba mục đích: thực hành giao tiếp, nâng cao trình độ văn hoá và bồi dưỡng phẩm chất đạo đức Việc dạy học ngoại ngữ cũng nhằm nắm được ngoại ngữ được học như một công cụ giao tiếp
1.3.1.2 Nội dung dạy học ngoại ngữ
Xuất phát từ mục đích, yêu cầu và dựa trên cơ sở lí luận dạy học, bộ môn ngoại ngữ trong chương trình giáo dục nói chung qui định những nội dung thiết yếu nhất trên các mặt: giáo dục tư tưởng đạo đức, bồi dưỡng tri thức văn hoá và rèn luyện kỹ năng giao tiếp bằng ngoại ngữ Các nội dung này liên quan chặt chẽ với nhau, hợp thành một thể thống nhất với hạt nhân trung tâm là kỹ năng giao tiếp để thông qua hoạt động dạy học tạo nên ở mỗi HSSV khả năng giao tiếp bằng ngoại ngữ
- Nội dung kỹ năng giao tiếp
Nội dung kỹ năng giao tiếp bằng tiếng nước ngoài bao gồm bốn dạng hoạt động giao tiếp là: nghe, nói, đọc, viết Cả bốn nội dung này đều có mặt thường trực trong suốt quá trình dạy học tiếng nước ngoài Nội dung kĩ năng thực hành giao tiếp được thể hiện dưới dạng hệ thống các bài tập tương ứng với yêu cầu hình thành kĩ năng nghe nói đọc hiểu
- Nội dung tri thức văn hoá
Nội dung tri thức văn hoá của bộ môn ngoại ngữ bao gồm hai phần:
Trang 28Tri thức ngôn ngữ học và tri thức đất nước học.
- Nội dung tư tưởng đạo đức
Là một môn văn hoá cơ bản, ngoại ngữ có khả năng góp phần hình thành thế giới quan và nhân sinh quan tiến bộ cho thế hệ trẻ thông qua các bài học với những nội dung hết sức đa dạng và phong phú giúp HSSV xây dựng cho mình từ những thói quen đạo đức và hành vi văn minh cần thiết nhất trong cuộc sống xã hội đến những quan niệm và những chính kiến khoa học về tự nhiên, về xã hội, về lối sống cao đẹp của những con người đang xây dựng xã hội chủ nghĩa
1.3.1.3 Phương pháp dạy học ngoại ngữ
Ngày nay trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, việc dạy học ngoại ngữ đều theo đường hướng dạy ngôn ngữ giao tiếp Nó đáp ứng được những nhu cầu giao tiếp bằng ngoại ngữ qua hai kênh khẩu ngữ (nghe
và nói) và bút ngữ (đọc và viết)
- Phương pháp dạy học nghe hiểu
Theo các nhà giáo học pháp ngoại ngữ (Howatt & Dakin 1974, Willis 1981), nghe là khả năng xác định và hiểu những gì người khác đang nói Điều này bao gồm việc hiểu giọng điệu hay cách phát âm của người nói, ngữ pháp và từ vựng của họ, và quan trọng hơn là hiểu được ý nghĩa của họ
Có hai quan điểm về quá trình nghe hiểu: nghe từ dưới lên (nghĩa là, người nghe quan tâm đến thông điệp từ những đơn vị nhỏ nhất-âm đến đon
vị lớn nhất-văn bản) và quan điểm nghe hiểu từ trên xuống (nghĩa là, việc
sử dụng kiến thức trong đầu hay là kiến thức không được nhập mã trực tiếp trong ngôn từ) Ngày nay cả hai quan điểm này đều được công nhận rộng rãi và phải được tích hợp lại và sử dụng trong giảng dạy thì mới có thể nâng cao khả năng và hiệu quả nghe của HSSV Tuy nhiên, lúc nào sử dụng mô hình này nhiều hơn hay mô hình kia phụ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể Đường hướng ngôn bản chính là nơi hai hình thức nghe từ dưới lên và nghe
từ trên xuống gặp nhau và là nơi sử lí cùng một lúc thông tin nền, thông tin
Trang 29ngôn cảnh và thông tin ngôn ngữ cho phép quá trình nghe hiểu và giải thích xảy ra Để kỹ năng nghe được dạy có hiệu quả, cần phải chia bài nghe làm
ba giai đoạn: a) Giai đoạn trước khi nghe; b) Giai đoạn trong khi nghe; c) Giai đoạn sau khi nghe
- Phương pháp dạy học nói
Trong việc học ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng, nói dường như là kĩ năng quan trọng nhất và khó phát triển nhất Trong tiếng Anh, những người biết một ngôn ngữ được gọi là những “người nói của ngôn ngữ đó” (speaker of the language) Chính vì vậy mà các hoạt động phát triển khả năng tự diễn đạt của người học thông qua nói dường như là một thành phần quan trọng nhất trong việc học ngoại ngữ Giống như kĩ năng nghe, kĩ năng nói cũng được chia ra làm ba giai đoạn: a) Giai đoạn trước khi nói; b) Giai đoạn trong khi nói; c) Giai đoạn sau khi nói
“đọc là sự hiểu tư duy của tác giả” (Smith 1985: 102)
Trong học ngoại ngữ, đọc có vai trò đặc biệt quan trọng vì nó cung cấp kiến thức về ngôn ngữ và xã hội cho các kĩ năng khác như viết, nói và nghe Có nhiều kiểu đọc và và các kiểu đọc này được phân chia dựa vào hai thông số chính: (i) đọc theo phong cách và (ii) đọc theo mục đích Đọc theo phong cách bao gồm đọc to và đọc thầm Đọc theo mục đích bao gồm đọc rộng, đọc sâu, đọc lướt, đọc quét
Trang 30Để đọc có hiệu quả, kĩ năng đọc hiểu được chia làm ba giai đoạn: a) Giai đoạn trước khi đọc; b) Giai đoạn trong khi đọc; c) Giai đoạn sau khi đọc.
- Phương pháp dạy học viết
Viết là một kĩ năng vô cùng phức tạp Trong khi viết, người viết phải có kiến thức và phải quan tâm đến nhiều nội dung như cú pháp (cấu trúc câu, danh giới câu, lựa chọn văn phong), ngữ pháp (thì, thể, thức, và thái của động từ, sự hoà hợp giữa chủ ngữ, và động từ, mạo từ, đại từ), nội dung bài viết (lấy ý, bắt đầu viết, viết nháp, viết lại ), độc giả (ai sẽ là người đọc bài viết?) mục đích viết (viết để làm gì?), chọn từ ngữ, tổ chức bài viết, các khía cạnh cơ học Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh vào những đặc điểm của viết kết hợp với việc nghĩ viết
có thể được học như thế nào để phát triển đường hướng dạy viết cho lớp học ngoại ngữ Có một số đường hướng dạy viết như: viết từ kiểm soát đến tự do, viết tự do, viết theo mẫu đoạn văn, viết theo tổ chức ngữ pháp-cú pháp, viết theo đường hướng giao tiếp, viết theo quá trình
Mục tiêu của dạy viết nhằm phục vụ các nhu cầu giao tiếp cá nhân và
xã giao như viết thư cho bạn bè, viết các thiếp mừng, thiếp mời sinh nhật ; viết một đoạn văn có liên quan đến các chủ đề đã học trong phạm vi nội dung ngôn ngữ được qui định trong chương trình
Phương pháp thực hành dạy viết tiếng Anh là sự kết hợp của nhiều đường hướng trong đó đường hướng viết giao tiếp và đường hướng viết theo quá trình được xem là chủ đạo Đường hướng này được dựa trên bốn điểm quan trọng như: tại sao lại viết?; người ta viết để giao tiếp với độc giả; người ta viết để hoàn thành những mục đích cụ thể; viết là một quá trình phức tạp Với quan điểm này, viết được xem như là một hành động giao tiếp
Theo I.Malcolm và K.Malcolm, dạy viết có hiệu quả nên đi theo qui trình gồm sáu bước: (i) lập kế hoạch, (ii) viết nháp, (iii) sửa lại, (iv) gọt giũa, (v) biên tập, (vi) chia sẻ Còn theo Brown, để thực hành dạy viết có hiệu quả giáo viên nên đi theo một qui trình lên lớp gồm hai giai đoạn: a) giai đoạn trước khi viết và b) giai đoạn trong khi viết
Trang 311.3.1.4 Kiểm tra và đánh giá
Trong quá trình dạy học ngoại ngữ, kiểm tra và đánh giá có một ý nghĩa hết sức quan trọng cả về mặt giáo dục lẫn giáo dưỡng Kiểm tra trước hết đảm bảo mối liên hệ ngược trong quá trình điều khiển hoạt động dạy và học giúp cho thầy và trò nắm được chính xác kết quả của từng khâu, từng giai đoạn, do đó có được những biện pháp điều chỉnh kịp thời để hoạt động đúng mục tiêu và đem lại kết quả cao Việc đánh giá học tập bằng số điểm cho sau mỗi lần kiểm tra có tác dụng nâng cao ý thức trách nhiệm, duy trì
sự yêu thích thường xuyên với môn học, làm cho người dạy và người học thấy rõ được hiệu quả lao động của mình trước sự mong muốn và đòi hỏi của xã hội, nhà trường và gia đình
- Kiểm tra kĩ năng nghe
Để đánh giá khả năng nghe có thể sử dụng tất cả các hình thức kiểm tra trên Song hình thức có hiệu quả và phản ánh chính xác hơn cả khả năng nghe hiểu lời nói tiếng nước ngoài là kiểm tra song ngữ: nghe bằng tiếng nước ngoài rồi truyền đạt lại nội dung bằng tiếng Việt Hình thức kiểm tra đơn ngữ có thể áp dụng nghe rồi trả lời bằng tiếng nước ngoài những câu hỏi của giáo viên dựa theo nội dung chính của câu truyện, c ả hai hình thức song ngữ và đơn ngữ đều có thể kiểm tra cá thể và đồng loạt
Cũng có thể sử dụng cả hai hình thức nói và viết để kiểm tra kĩ năng nghe Hình thức nghe ghi rất thích hợp với yêu cầu kiểm tra đồng loạt định
kỳ vào cuối học kỳ hoặc cuối năm Còn hình thức nghe nói thường áp dụng trong kiểm tra thường xuyên đối với từng HSSV
- Kiểm tra k ĩ năng nói
Hình thức kiểm tra nói có thể tiến hành theo phương thức cá thể hoặc đồng loạt Kiểm tra nói đồng loạt chủ yếu thực hiện dưới sự điều khiển của giáo viên bằng cách đặt câu hỏi chung cho cả lớp rồi chỉ định từng HSSV trả lời Hình thức đối thoại đồng loạt như thế chỉ phù hợp với kiểm tra thường xuyên còn kiểm tra định kì phải dùng hình thức đối thoại tay đôi
Trang 32giữa giáo viên với từng HSSV hoặc giữa HSSV với nhau Hình thức viết cũng có thể dùng để kiểm tra kĩ năng nói độc thoại bằng cách yêu cầu HSSV trình bày ý kiến về một chủ đề, miêu tả một bức tranh Muốn đánh giá đúng khả năng nói độc thoại cần tiến hành kiểm tra từng HSSV bằng cách thuyết trình theo chủ đề có chuẩn bị Hình thức này thông thường chỉ
áp dụng cho các đợt kiểm tra định kì, nhất là thi cuối năm
- Kiểm tra kĩ năng đọc
Kĩ năng đọc cần phân biệt rõ hai loại: đọc diễn cảm và đọc hiểu Đọc diễn cảm cần tiến hành kiểm tra với từng cá nhân từng đoạn văn được chuẩn
bị tại chỗ hoặc chuẩn bị trước Hình thức này có thể áp dụng trong kiểm tra thường xuyên và định kì ở các lớp chuyên ngữ
Đọc hiểu có mục đích tự mình nắm lượng thông tin qua các văn bản viết Đây là mục đích chủ yếu nhất của việc dạy học ngoại ngữ nên kĩ năng đọc hiểu cần được kiểm tra thường xuyên, định kì cá thể lẫn đồng loạt, cả đơn ngữ lẫn song ngữ, cả nói lẫn viết
- Kiểm tra kĩ năng viết
Đánh giá khả năng diễn đạt bằng viộc nhất thiết phải sử dụng hình thức viết tiếng nước ngoài Hình thức này có thể dùng để kiểm tra cá thể, song chủ yếu là để kiểm tra đồng loạt vào cuối tháng, cuối học kỳ hoặc cuối năm Về nội dung có thể yêu cầu HSSV ghi lại câu trả lời hoặc lời đối thoại của mình, tường thuật lại mẩu truyện mới nghe hoặc mới đọc, kể lại sinh hoạt và học tập của mình
1.3.1.5 T ổ chức quá trình dạy học ngoại ngữ
Tổ chức quá trình dạy học là khâu rất quan trọng để làm cho việc dạy học ngoại ngữ đạt được chất lượng và hiệu quả
- K ế hoạch phân bổ quĩ thời gian
Thời gian là một điều kiện đầu tiên ảnh hưởng tới chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học Để đạt được mục đích cuối cùng hoặc mục tiêu
Trang 33cụ thể của từng giai đoạn đều phải có một quỹ thời gian tương ứng dùng vào việc luyện tập hình thành các kĩ năng giao tiếp theo yêu cầu của mục tiêu.
- Phân bổ nội dung
Sau khi đã xác định rõ các giai đoạn và phân bố thời gian cho từng giai đoạn, việc tiếp theo là phải phân bố nội dung chương trình cho phù hợp với thời gian của từng giai đoạn Bài học ngoại ngữ là một đơn vị cơ bản trong quá trình dạy học Mỗi bài học đều phải có mục đích, yêu cầu cụ thể
để hình thành những kĩ năng giao tiếp bằng tiếng nước ngoài
Việc phân bổ nội dung bài học và thời gian càng chi tiết và khoa học thì hiệu quả dạy học càng cao
1.3.1.6 Làm th ế nào đ ể có được một quá trình dạy học ngoại ngữ tối ưu?
Theo các nhà nghiên cứu như Spolsky (2002), Gatenby (1965), Kennedy (1973), và Willis (1966) đã nhận thấy rằng để cho bất kỳ ai học một ngôn ngữ nói chung và một ngoại ngữ nói riêng có hiệu quả cũng phải
đáp ứng ba điều kiện; tiếp xúc, sử dụng, và động cơ Ngoài ra, cần phải có một điều kiện bắt buộc đó là giảng dạy Bốn điều kiện cơ bản này được
trình bày trong hình dưới đây
Sơ đổ 1.3 Các điều kiện cơ bản để học ngoại ngữ (Nguồn: Willis 1996:11)
Với đầu vào
Nghe và đọc, nói và viết ngoại ngữ
Bằng ngoại ngữ (nghĩa là cơ hội
để tập trung vào hình thức ngôn ngữ)
Trang 341.3.2 Quản lý quá trình dạy học môn tiếng Anh ở các trường Cao đẳng và Đ ại học
Có thể nói hoạt động dạy học trong nhà trường cao đẳng và đại học luôn đi theo chu trình như thể hiện trong sơ đồ do GS Nguyễn Đức Chính xây dựng sau đây:
Sơ đồ 1.4 Hoạt động dạy học trong nhà trường Cao đẳng và Đại học
ỉ 3.2.1 Yêu cầu xã hội
Đại hội toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: “Con người và nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá, cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo” Giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu để thực hiện mục tiêu đó, nhiệm vụ của nhà trường cao đẳng và đại học đào tạo ra nguồn
Trang 35nhân lực có chất lượng cao đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nguồn nhân lực này chính là những người có khả năng thường xuyên cập nhật được kiến thức của mình, chiếm lĩnh được những trình độ chuyên môn mới, và không những có khả năng tìm được việc làm mà còn có khả năng tạo ra được việc làm trong một thị trường sức lao động đầy biến động.
Trong xu hướng toàn cầu hoá kinh tế, Việt Nam đã và đang bước vào hội nhập với khu vực và quốc tế Trong những điều kiện cần thiết để hội nhập và phát triển thì ngoại ngữ là điều kiện tiên quyết, là một công cụ, phương tiện đắc lực và hữu hiệu Biết ngoại ngữ có thể giúp được chúng ta học hỏi kinh nghiệm hay của các nước đi trước, rút ngắn quãng đường phải mẩy mò, tránh lặp lại những bước đi không cần thiết trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, mặt khác cũng tạo ra cơ hội cho từng người dân có thể lựa chọn, tìm kiếm việc làm trong nước và nước ngoài, giúp con người phát triển những giá trị nhân văn , đặc biệt là tạo cơ hội cho thế hệ trẻ của nước ta có thể theo học , nghiên cứu mở mang kiến thức
ở bất cứ nơi đâu hứa hẹn một tương lai tốt đẹp cho cá nhân họ và những cống hiến thực sự cho đất nước Để hoà nhập vào sự phát triển chung của xã hội, tìm cho mình một chỗ đứng thực sự trong thế giới ngày nay Chúng ta phải đặc biệt quan tâm đến việc dạy và học ngoại ngữ trong nhà trường
Xuất phát từ những yêu cầu cấp bách của thực tiễn, Đảng và Chính phủ đã có nhiều chỉ thị đẩy mạnh việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân nước ta nhằm phục vụ tích cực hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Ngày 11 tháng 4 năm 1968, Thủ tướng Chính phủ đã ra chỉ thị số 43/TTg về phương hướng và nhiệm vụ dạy và học ngoại ngữ ở các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và các các trường phổ thông
N gày 7 tháng 9 năm 1972, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định
số 251-TTg về việc cải tiến và tăng cường công tác dạy học ngoại ngữ trong các trường phổ thông
Trang 36Điều 40 luật giáo dục (2005) cũng khẳng định vị trí quan trọng của ngoại ngữ trong nội dung học vấn cao đẳng và đại học.
Ngày 11/5/2001, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Thông tư số 3668/V P về “K ế hoạch triển khai Nghị quyết số 40/2000/Q H 10 của Quốc hội khoá 10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông” , và giao cho Viện Khoa học giáo dục (nay là viện Chiến lược và Chương trình giáo dục) chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng của Bộ
dự thảo đề án “Giảng dạy học tập ngoại ngữ trong trường phổ thông”
Tháng 9/2004, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Dự thảo “Đề án Giảng dạy, học tập ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam giai đoạn 2004 - 2015”
1.3.2.2 Quản lý mục tiêu dạy học ngoại ngữ ở các trường Cao đẳng và Đại học
Yêu cầu của xã hội ngày nay đối với người tốt nghiệp đại học là phải
sử dụng được ít nhất một ngoại ngữ ở trình độ nhất định Tháng 9/2004, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Dự thảo “Đề án Giảng dạy, học tập ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam giai đoạn 2004 - 2015” Theo
Dự thảo này, mục tiêu dạy học ngoại ngữ đối với giáo dục cao đẳng, đại học không chuyên ngữ là:
Tiếp tục nâng cao trình độ ngoại ngữ (tiếng Anh) của sinh viên cao đẳng, đại học để họ có thể sử dụng tiếng nước ngoài để làm việc và học tập theo yêu cầu của lĩnh vực chuyên môn được đào tạo ở bậc cao HSSV các trường cao đẳng và đại học không chuyên ngoại ngữ phải học và sử dụng thành thạo tiếng Anh trong công việc Sau khi tốt nghiệp Cao đẳng và Đại học, trình độ Anh văn của sinh viên có thể xấp xỉ đạt như sau:
Bảng 1.5 Trình độ Anh văn của sinh viên không chuyên ngoại ngữ sau khi
tốt nghiệp các trường Cao đẳng và Đại học
Đầu vào của sinh viên Trình độ cần đạt được
Đại học/cao đẳng với đầu vào là HSSV
chương trình 7 năm
Bâc 3 đối với ĐH hoăc thấp hơn đối vối CĐ
Đại học/cao đẳng với đầu vào là HSSV
chương trinh 10 năm
Bâc 4 đối với ĐH hoăc thấp hơn đối với CĐ
Trang 371.3.2.3 Quản lý nội dung dạy học ngoại ngữ ở các trường Cao đẳng và Đại học
Nội dung dạy học luôn theo sát mục tiêu, là công cụ để thực hiộn mục tiêu Nội dung dạy học môn tiếng Anh ở các trường cao đẳng và đại học bao gồm: tiếng Anh cơ bản và tiếng Anh chuyên ngành Nội dung học liêu tiếng Anh cơ bản và tiếng Anh chuyên ngành phải đảm bảo ba nội
dung cơ bản như đã trình bày ở trên: giáo dục tư tưởng đạo đức, bồi dưỡng
tri thức văn hoá và rèn luyện kỹ năng giao tiếp bằng ngoại ngữ Hiện chưa
có giáo trình ngoại ngữ không chuyên chung cho các trường Các trường tự lựa chọn cho mình tài liệu dạy học tiếng Anh cơ bản để đạt được mục tiêu
đã đưa ra ở trên Ở bất cứ cửa hiệu sách nào ta cũng dễ dàng bắt gặp các loại sách học tiếng Anh có ghi rõ cấp độ: sơ cấp, tiền trung cấp, trung cấp hoặc cao cấp Sách dạy tiếng Anh chuyên ngành tự các trường biên soạn
Ngoài sách vở ra, sinh viên ngày nay còn có thể tiếp cận với rất nhiều các
phương tiện hỗ trợ khác như: mạng internet, băng, đĩa, từ điển điện tử Vấn đề đặt ra ở đây là lựa chọn nội dung, chương trình, học liệu như thế nào cho phù hợp với mục tiêu và quỹ thời gian của môn học
ỉ 3.2.4 Phương pháp dạy học ngoại ngữ ở các trường Cao đẳng và Đại học
Xuất phát từ bản chất của ngôn ngữ là công cụ giao tiếp và từ mục đích dạy học là nắm vững ngoại ngữ như một công cụ giao tiếp, sự thống nhất hữu cơ về mục đích, nội dung và phương pháp trên cơ sỏ chức năng giao tiếp là điều kiện tiên quyết cho việc dạy học ngoại ngữ đạt kết quả cao
Vì vậy, phương pháp dạy học ngoại ngữ ở các trường cao đẳng và đại học đều theo đường hướng giao tiếp và lấy người học làm trung tâm Đường hướng này luôn căn cứ vào nội dung dạy học và có định hướng là mục tiêu Tuỳ theo từng kĩ năng nghe, nói, đọc, viết ta có thể lựa chọn các thủ thuật dạy học cho phù hợp (phương pháp dạy học các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết của môn tiếng Anh đã được trình bày cụ thể ở mục 1.2.7) Ngoài ra, có thể
sử dụng một số phương pháp rất phổ biến trong quá trình dạy học ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng như: phương pháp Ngữ pháp - Dịch,
Trang 38phương pháp Trực tiếp, phương pháp Tinh huống, phương pháp Nhận thức,
phương pháp Dựa vào tri thức
1.2.2.5 Kiểm tra - đánh giá hoạt động dạy học ngoại ngữ ỏ các trường Cao
đẳng và Đại học
Khâu cuối cùng của quá trình, dạy học trong nhà trường là kiểm tra -
đánh giá Như người Anh thường nói “last but not least”, nghĩa là cuối cùng
nhưng không phải là kém quan trọng nhất Chỉ có thông qua kiểm tra - đánh
giá mới biết được mục tiêu đề ra có đạt được hay không và đạt được bao
nhiêu, từ đó có những điều chỉnh thích hợp để đạt được mục tiêu một cách
toàn diện hơn
* Các mục đích chính của việc đánh giá:
Mục đích của việc đánh giá (lượng giá) là thu thập các phản hồi từ
phía người học (student ‘s íeedback) Các phản hồi này được sử dụng cho
các mục đích cụ thể sau:
- Cải tiến việc học tập: Các phản hồi sau đánh giá/lượng giá (như:
điểm, các nhận xét của giáo viên và tự nhận xét của học viên ) sẽ giúp cho
học viên học tập tự giác hơn và có định hướng đúng hơn Phản hồi chính là
“nhiên liệu” của động cơ học tập và là “la bàn” để dẫn đường cho việc tự học
Để nâng cao chất lượng học tập và “biến đào tạo thành tự đào tạo”
các phản hồi phải:
+ Đủ (nghĩa là đạt tới một định lượng tối thiểu, không quá ít ỏi)
Thí dụ: Quy định môn học phải có mấy lần lượng giá, hoặc sau 10-15
tiết học phải có 1 điểm kiểm tra
+ Thường xuyên (nghĩa là không quá thưa thớt, đứt quãng)
Thí dụ: Mỗi lượt học, bài học phải thu được phản hồi, không nên chỉ
đánh giá định kỳ hoặc đánh giá cuối cùng
+ Tức thời (nghĩa là có kết quả ngay để điều chỉnh kịp thời) Một vài
cách lượng giá kiểu truyền thống thường cho kết quả quá muộn nên không
còn tác dụng điều chỉnh
Trang 39+ Bao phủ (nghĩa là kiểm tra mọi mục tiêu, không để lọt các nội dung học tập).
+ Tự thân hay nội sinh (self-feedback): Học viên tự lượng giá được, khổng ỷ lại vào các phản hồi từ giáo viên Các phản hồi tự thân này (do học viên tự học, tự lượng giá, tự phát hiện và tự điều chỉnh) có vai trò quyết định trong việc tự học
Các công cụ đánh giá kiểu trắc nghiệm khách quan (objective tests)
có thể đáp ứng được nhiều yêu cầu nêu trên
- Cải tiến việc giảng dạy: Qua các phản hồi thu thập được từ học
viên, giáo viên và nhà trường có thể xem xét lại quá trình giảng dạy và điều chỉnh cho tốt hơn
- Bảo vệ xã hội: Không cho phép hành nghề, không chứng nhận cho
những người không đảm bảo phẩm chất
* Cúc thời điểm đánh giá học viên
Việc đánh giá học viên có thể được tiến hành vào các thời điểm khác nhau, với các chức năng khác nhau
- Đánh giá trước khi học: Chức năng của đánh giá trước khi học là
điều tra nhu cầu học tập, để đáp ứng cho đúng và dạy học sát với đối tượng
Người ta có thể tiến hành cuộc điều tra đầy đủ hoặc làm tiền trắc nghiệm (pretest) ngay trước các buổi học (thường được tiến hành trong các lớp đào tạo lại)
- Đánh giá trong khi học: Chức năng của các kỳ đánh giá này là phát
hiện các phản hồi tức thời cho học viên và giáo viên để điều chỉnh kịp thời việc học và việc dạy
- Đánh giá sau khỉ học: Chức năng của đánh giá cuối cùng hoặc đánh
giá đầu ra là xử lý hoặc chứng nhận Lúc này thường thu được các phản hồi đầy đủ hơn, nhưng thường quá muộn, không còn tác dụng điều chỉnh
Một loại đánh giá sau khi học, được tiến hành khi học viên đã ra trường và đang làm việc, thường được gọi là đánh giá hiệu quả (outcome)
Trang 40hoặc đánh giá tác động (impact) Chức năng của loại đánh giá này gần giống như đánh giá trước khi học, đồng thời để xem xét tổng thể các hiệu quả của việc dạy học trong thực tế xã hội - nghề nghiệp Ở một số nước, cách đánh giá này dùng để tái cấp chứng chỉ hành nghề (recertification).
1.3.2.6 T ổ chức quá trình dạy học ngoại ngữ
- K ế hoạch phân bổ quỹ thời gian
Tháng 9/2004, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Dự thảo “Đế án Giảng
dạy, học tập ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam giai đoạn 2004 - 2015 Theo Dự thảo, thời lượng dành cho học ngoại ngữ của các loại trường cao đẳng, đại học không chuyên ngữ là:
Bảng 1.6 Thời lượng dành cho học ngoại ngữ của các trường cao đẳng/đại học
Hệ đào tạo Không chuyên Không chuyên có yêu cầu cao
về ngoại ngữ
- Phân bổ nội dung
Việc phân bố nội dung căn cứ vào mục tiêu, vào quĩ thời gian và nội dung của học liệu
1.3.3 Quản lý cơ sở vật chất và thiết bị thiết yếu cho việc dạy học ngoại ngữ
Cơ sở vật chất luôn là một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện tốt mục tiêu môn học Cơ sở vật chất cũng được coi như là phương tiện
để phục vụ việc đổi mới phương pháp dạy học ngoại ngữ theo xu hướng giao tiếp, nâng cao hiệu quả quá trình dạy học ngoại ngữ và tạo cơ hội cho HSSV “đắm mình” vào môi trường ngoại ngữ đang học Quản lí cơ sở vật chất có nghĩa là quản lí:
- Thực trạng trang thiết bị dạy học ngoại ngữ hiện có.
- Xây dựng danh mục thiết bị và xây dựng phòng học ngoại ngữ với các thiết bị đạt tiêu chuẩn