Chủ nghĩa MácLênin “là hệ thống quan điểm và học thuyết” khoa học của K.Marx, F.Engels và sự phát triển của V.I.Lênin; là sự kế thừa và phát triển những giá trị của lịch sử tư tưởng nhân loại, trên cơ sở thực tiễn của thời đại; là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động và giải phóng con người; là thế giới quan và phương pháp luận phổ biến của nhận thức khoa học
Trang 1Chương mở đầu
NHẬP MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN
CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
I KHÁI LƯỢC VỀ CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
1 Chủ nghĩa Mác-Lênin và ba bộ phận lý luận cấu thành
a Chủ nghĩa Mác-Lênin
Chủ nghĩa Mác-Lênin “là hệ thống quan điểm và học thuyết” khoa học củaK.Marx, F.Engels và sự phát triển của V.I.Lênin; là sự kế thừa và phát triển những giátrị của lịch sử tư tưởng nhân loại, trên cơ sở thực tiễn của thời đại; là khoa học về sựnghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động và giải phóng conngười; là thế giới quan và phương pháp luận phổ biến của nhận thức khoa học
b Ba bộ phận lý luận cơ bản cấu thành chủ nghĩa Mác-Lênin
Chủ nghĩa Mác-Lênin bao gồm hệ thống tri thức phong phú về nhiều lĩnh vực,nhưng trong đó có ba bộ phận lý luận quan trọng nhất là: triết học, kinh tế chính trị học
và chủ nghĩa xã hội khoa học
- Triết học Mác-Lênin có đối tượng nghiên cứu là những quy luật chung nhất
của tự nhiên, xã hội và tư duy Triết học, dù theo trường phái nào, thì cũng đều là thếgiới quan và nhân sinh quan của con người; khi xã hội có giai cấp thì thế giới quan vànhân sinh quan mang tính giai cấp Triết học Mác-Lênin là thế giới quan, nhân sinhquan của giai cấp công nhân hiện đại, đại biểu cho toàn thể nhân dân lao động trongthởi đại ngày nay
- Kinh tế chính trị học Mác-Lênin là khoa học xã hội, đối tượng nghiên cứu
của nó là mặt xã hội của sản xuất, tức là quan hệ sản xuất hay là quan hệ kinh tế giữangười với người trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng của cải vậtchất Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị là quan hệ sản xuất nhưng quan hệ sảnxuất lại tồn tại và vận động trong sự tác động qua lại với lực lượng sản xuất Mặt khác,quan hệ sản xuất tức là cơ sở hạ tầng xã hội cũng tác động qua lại với kiến trúc thượngtầng, nhất là các quan hệ về chính trị, pháp lý có tác động trở lại mạnh mẽ với quan
hệ sản xuất Vậy, đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị là quan hệ sản xuất trong
sự tác động qua lại với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng
- Chủ nghĩa xã hội khoa học: Những quy luật và tính quy luật chính trị - xã hội
của quá trình phát sinh, hình thành và phát triển hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủnghĩa; những nguyên tắc cơ bản, những điều kiện, con đường, hình thức và phương phápđấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân để thực hiện quá trình chuyển biến từ chủ nghĩa
tư bản lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản
- Như vậy, ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác-Lênin đều có đối tượng
nghiên riêng nhưng đều nằm trong một hệ thống khoa học lý luận thống nhất – đó làkhoa học về giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi áp bức bóclột, tiến tới giải phóng con người
2 Khái lược quá trình hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin
a Những điều kiện, tiền đề của sự ra đời chủ nghĩa Marx
- Điều kiện kinh tế-xã hội:
Trang 2Chủ nghĩa Marx ra đời trong những năm 40 của thế kỷ XIX Trong thời giannày, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển ở nhiều nước châu Âu, mâuthuẫn cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã bộc lộ ra một cách gay gắt.
Đó là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa của nền sản xuất với tính chất tư bản chủnghĩa của sự chiếm hữu về tư liệu sản xuất và về sản phẩm xã hội Mâu thuẫn này biểuhiện thành sự đối kháng giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản Nhiều cuộc đấu tranhcủa công nhân nổ ra ở Pháp, Đức, Anh
Cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản đề ra nhu cầu phải có lý luận cáchmạng thật sự khoa học để giải thích đúng đắn bản chất của chủ nghĩa tư bản, vai tròlịch sử của giai cấp vô sản, triển vọng của phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản vàtương lai của xã hội loài người nói chung Chủ nghĩa Marx ra đời gắn liền với cuộc đấutranh của giai cấp vô sản và trở thành vũ khí lý luận của cuộc đấu tranh đó
Mặt khác, sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa cho phépkhái quát nhiều nguyên lý quan trọng của chủ nghĩa duy vật lịch sử: về vai trò của sảnxuất vật chất đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, vai trò của cơ sở hạtầng đối với kiến trúc thượng tầng, vai trò của đấu tranh giai cấp trong lịch sử, vai tròcủa quần chúng nhân dân trong sự phát triển lịch sử; trên cơ sở đó, Marx đưa ra những
dự kiến khoa học về khả năng xóa bỏ giai cấp, khả năng tiến tới một xã hội tốt đẹptrong tương lai
- Tiền đề lý luận: Chủ nghĩa Marx có 3 nguồn gốc lý luận: Triết học cổ điển đức, Kinh
tế học chính trị Anh và Chủ nghĩa xã hội Pháp, Anh, trong đó Triết học cổ điển Đức làtiền đề lý luận trực tiếp
K.Marx và F.Engels kế thừa hạt nhân hợp lý trong Phép biện chứng của Hegel là
lý luận về sự phát triển, loại bỏ cái vỏ duy tâm của nó, đưa nó về với quan điểm duyvật về tự nhiên và lịch sử Đồng thời K.Marx kế thừa chủ nghĩa duy vật và tư tưởng vôthần của Feuerbach, khắc phục những chế siêu hình của nó Trên cơ sở đó, K.Marxsáng lập nên chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật
Sự ra đời của chủ nghĩa Marx là một tất yếu lịch sử Những điều kiện lịch sử đãchín muồi cho phép các nhà khoa học đi đến những kết luận duy vật biện chứng về thếgiới nói chung và về xã hội loài người nói riêng Chủ nghĩa Marx không thể ra đời sớmhơn khi chưa có đủ những tiền đề vật chất và tư tưởng cần thiết Mặt khác, nó cũngkhông thể không ra đời được Sự thật cho thấy rằng trong thời điểm này, đã có một sốnhà tư tưởng khác cũng đi đến những kết luận duy vật lịch sử một cách độc lập vớiK.Marx và F.Engels
- Tiền đề khoa học tự nhiên
Chủ nghĩa duy vật biện chứng của Marx là kết quả của sự tổng kết những thànhtựu tư tưởng của nhân loại, được chứng minh và phát triển dựa trên những kết luận mớinhất của khoa học tự nhiên, trong đó có 3 phát minh quan trọng nhất:
- Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng (Năng lượng không tự sinh
ra mà cũng không tự mất đi, nó chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác mà thôi).
Đây là cơ sở khoa học để khẳng định rằng vật chất và vận động của vật chất không thể
do ai sáng tạo ra và không thể bị tiêu diệt Chúng chỉ chuyển hóa từ dạng này sangdạng khác, hình thức này sang hình thức khác mà thôi
Trang 3- Thuyết tiến hóa của Darwin Darwin đã kế thừa những thành tựu của Lamax
để viết nên tác phẩm Nguồn gốc các loài vào năm 1859 Học thuyết tiến hóa của ông
đã luận chứng về quá trình đấu tranh sinh tồn của muôn loài, qua sự chọn lọc tự nhiên,dần dần sản sinh ra những giống loài mới Từ đó ông đưa ra lý luận về sự tiến hoá củasinh vật mà hạt nhân là sự chọn lọc tự nhiên, vén bức màn bí ẩn về sự tiên hoá của cácloài trong tự nhiên Lý luận tiến hoá sinh vật đã áp dụng quan điểm lịch sử vào lĩnh vựcsinh vật học Nó luận chứng về quá trình lịc sử của giới hữu cơ, chứng minh rằng, thựcvật, động vật, bao gồm cả loài người đều là sản phẩm phát triển của lịch sử
- Học thuyết tế bào: Học thuyết tế bào do GS M.Slaiđen (trường Đại học Gana,
ở Đức) xây dựng năm 1838 Ông cho rằng, tế bào là đơn vị sống cơ bản nhất trong kếtcấu của mọi thực vật Qúa trình phát dục của thực vật là quá trình hình thành và pháttriển của tế bào Sau đó, vào năm 1839 GS T.Svannơ (GS phẫu thuật người của trườngĐại học Ruăng ở Đức) đã mở rộng học thuyết tế bào từ giới thực vật sang giới độngvật, khiến loài người nhận thức được rằng, tế bào là đơn nguyên kết cấu chung của mọi
cơ thể sinh vật Những phát hiện nêu trên đã vạch ra quá trình biện chứng của sự vậnđộng, phát triển, chuyển hoá không ngừng của bản thân giới sinh vật
b Giai đoạn hình thành và phát triển chủ nghĩa Marx
K.Marx (Karl Marx, 1818-1883)
K.Marx sinh ở Trier (Đức), học Đại học ở Bonn,Berlin Ông có bằng tiến sĩ triết học Năm 1842 viếtbáo và trở thành chủ bút tờ Rheinische Zeitung Năm
1843, tờ báo bị đóng cửa và Marx bị trục xuất Ôngsang Paris (Pháp), Brussels (Bỉ) và cư trú lâu dài ởLuân Đôn (Anh) Năm 1844 K.Marx và F.Engelsgặp nhau và trở thành đôi bạn thân thiết, cùng cộngtác với nhau suốt cuộc đời làm khoa học và hoạt độngcách mạng
Những tác phẩm chủ yếu của K.Marx và F.Engels: Phê phán triết học pháp quyền Hegel (1843); Bản thảo kinh tế - triết học 1844; Hệ tư tưởng Đức (1844); Gia đình thần thánh (1845 - 1846); Tuyên ngôn Đảng cộng sản (1848); Phê phán Kinh tế học chính trị (1859); Nội chiến ở Pháp (1871); Phê phán cương lĩnh Gotha (1875); Tư bản (xuất bản thành 3 quyển trong những năm 1867- 1895)
F.Engels (Friedrich Engels, 1820-1895)
F.Engels sinh ở Barmen (nay là Wuppertal) Bốcủa ông là một nhà doanh nghiệp lớn ở Đức lúcbấy giờ Tuy nhiên, F.Engels lại say mê nghiên cứukhoa học và triết học và cùng với Marx hoạt độngtrong phong trào cách mạng của giai cấp công nhân
và trở thành một trong những lãnh tụ của giai cấp
vô sản thế giới
Trang 4Ngoài những tác phẩm viết chung với Marx, F.Engels còn viết: Tình cảnh giai cấp công nhân Anh, (1844); Chống Duhring, (1878); Nguồn gốc của gia đình, sở hữu tư nhân và nhà nước, (1884); Biện chứng của tự nhiên, (1872-1882); L.Feuerbach và sự cáo chung của triết học cổ đển Đức, (1886-1888); Sự phát triển của chủ nghĩa xã hội
từ không tưởng đến khoa học, (1892)….
* Giai đoạn hình thành chủ nghĩa Marx
- Thời gian từ 1842 về trước: K.Marx và F.Engels là những thanh niên đầy nhiệttình và lòng nhân đạo, say mê nghiên cứu triết học, nhưng chưa thoát khỏi lập trườngtriết học duy tâm và lập trường dân chủ cách mạng
- Thời kỳ hình thành triết học Marx diễn ra từ 1842 đến 1848
+ Bước chuyển từ lập trường duy tâm và dân chủ cách mạng sang lập trườngduy vật và chủ nghĩa xã hội khoa học bắt đầu từ khi Marx làm việc ở báo Sông Ranh từtháng 5-1842
+ Năm 1843, sau khi báo Sông Ranh bị đóng cửa, Marx bắt tay viết tác phẩm
Phê phán triết học pháp quyền Hegel
+ Từ 1844, K.Marx và F.Engels cộng tác với nhau từng bước xây dựng triết họcduy vật biện chứng và duy vật lịch sử
+ Năm 1844, Marx viết tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học 1844, nói lên vai
trò của lao động sản xuất vật chất trong việc sáng tạo ra bản thân con người và loàingười, vạch ra những biểu hiện và nguyên nhân của sự tha hóa của người công nhândưới chủ nghĩa tư bản
+ Cũng trong năm 1844, F.Engels viết tác phẩm Tình cảnh giai cấp công nhân Anh + Cuối năm 1844, K.Marx và F.Engels viết tác phẩm Gia đình thần thánh để
phê phán thế giới quan duy tâm của các đại biểu trong nhóm Hegel trẻ, qua đó trìnhbày những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
+ Năm 1845, Marx viết Luận cương về Feuerbach, vạch ra những hạn chế của
Feuerbach trong quan niệm về con người và làm rõ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
+ Năm 1845-1846, hai ông viết tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, tiếp tục phê phán
Hegel và chủ nghĩa duy tâm nói chung, phê phán những hạn chế của chủ nghĩa duy vậttrước Marx, đặc biệt là quan điểm duy tâm về lịch sử của Feuerbach Đồng thời trongtác phẩm này hai ông cũng trình bày một cách có hệ thống những nguyên lý của chủnghĩa duy vật lịch sử và tính tất yếu của chủ nghĩa cộng sản
+ Năm 1847, hai ông viết tác phẩm Sự khốn cùng của triết học, phê phán tính
chất duy tâm, siêu hình trong quan niệm về các phạm trù kinh tế của P.Prudhon, pháttriển phương pháp biện chứng duy vật, những nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoahọc, của kinh tế học chính trị
+ Cuối 1847 đầu 1848 K.Marx và F.Engels viết tác phẩm Tuyên ngôn Đảng Cộng sản Hai ông trình bày một cách hoàn chỉnh lý luận về giai cấp và đấu tranh giai
cấp, vai trò lịch sử của giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, cương lĩnh cách mạng của
giai cấp vô sản Bằng luận cứ khoa học và xác đáng, Tuyên ngôn đã vạch ra tính tất
yếu của xã hội cộng sản, trong đó, khi sự đối kháng giai cấp bị xóa bỏ thì sự thù địchgiữa các dân tộc cũng không còn “Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp vàđối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của
Trang 5mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” (Toàn tập, t.4,tr.628)
* Giai đoạn phát triển chủ nghĩa Marx
- Sau 1848 là thời kỳ K.Marx và F.Engels bổ sung và phát triển triết học của mình.Trong thời kỳ này, K.Marx và F.Engels tham gia phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản vàtriết học của các ông trở thành hệ tư tưởng của giai cấp vô sản ở các nước lớn ở châu Âu vàchâu Mỹ
- Từ 1848 đến Công xã Paris năm 1871, K.Marx và F.Engels viết nhiều tác phẩm
để tổng kết phong trào đấu tranh giai cấp ở Pháp như tác phẩm Đấu tranh giai cấp ở Pháp (1848-1850), Ngày 18 tháng Sương mù của Lui Bônapac (1851-1852), Cách mạng và phản cách mạng ở Đức (do F.Engels viết 1851-1852) Bộ Tư bản cũng được
Marx viết trong thời kỳ này
- Từ 1871 trở đi, K.Marx và F.Engels có thêm kinh nghiệm của Công xã Pari.Những tác phẩm hai ông viết trong thời kỳ này tiếp tục khái quát kinh nghiệm đấutranh giai cấp của giai cấp công nhân, phát triển ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Marx
và làm phong phú thêm những nguyên lý của chủ nghĩa Marx Marx tiếp tục viết tác
phẩm Tư bản, còn F.Engels viết các tác phẩm Chống Duhring (1876-1878), biện
chứng của tự nhiên (1873-1883) Sau khi Marx qua đời năm 1883, F.Engels hoàn thành
việc xuất bản bộ Tư bản của Marx, đồng thời tiếp tục lãnh đạo phong trào giai cấp công nhân và viết một số tác phẩm như: Nguồn gốc của gia đình, sở hữu tư nhân và nhà nước (1884), L.Feuerbach và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức (1886)
c Giai đoạn bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Marx
Triết học Marx được V.I.Lênin phát triển và vận dụng trong cách mạng vô sảnnên được gọi là triết học Mác-Lênin
Vlađimir Ilich Lênin (1870-1924) sinh ởSimbirsk Lênin là người vận dụng vàphát triển chủ nghĩa Marx nói chung vàtriết học Marx nói riêng
Lênin phát triển chủ nghĩa duy vật vàphép biện chứng; lý luận nhận thức; lýluận về giai cấp và đấu tranh giai cấp; lýluận về nhà nước và cách mạng vô sản,
về chuyên chính vô sản, về đảng kiểumới của giai cấp vô sản
* Bối cảnh lịch sử mới và nhu cầu bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Marx
- Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã bước sang một giai đoạn
mới: chủ nghĩa tư bản độc quyền, chủ nghĩa đế quốc, là giai đoạn cao của chủ nghĩa tư
bản Các nước tư bản chia nhau thị trường thế giới và gây ra cuộc chiến tranh thế giới1914-1918
- Cách mạng vô sản đã trở thành nhiệm vụ trực tiếp
- Sau khi F.Engels qua đời, các phần tử cơ hội trong Quốc tế II xuyên tạc chủnghĩa Marx Tình hình đó đòi hỏi Lênin phải tiến hành đấu tranh bảo vệ và phát triểnchủ nghĩa Marx
Trang 6- Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong khoa học tự nhiên, nhất là trong vật lýhọc, có một loạt phát minh khoa học làm đảo lộn quan niệm siêu hình về vật chất vàvận động, gây ra cuộc khủng hoảng về thế giới quan trong vật lý học Chủ nghĩa duytâm lợi dụng tình trạng khủng hoảng này để tấn công và bác bỏ chủ nghĩa duy vật.Lênin phải tiến hành đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm và bảo vệ và phát triển chủnghĩa duy vật.
* Vai trò của V.I Lênin đối với việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Marx trong điều kiện lịch sử mới
Trước năm 1907, Lênin lãnh đạo phong trào công nhân Nga, tiến hành đấu tranh
chống phái dân túy Lênin viết các tác phẩm như: Những người bạn dân là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ - xã hội ra sao (1894); Nội dung kinh tế của chủ nghĩa dân túy và sự phê phán trong cuốn sách của ông Stơruvê về nội dung đó (1894); Làm gì (1902); Hai sách lược của Đảng dân chủ - xã hội trong cách mạng dân chủ
(1905)
Sau thất bại của cuộc cách mạng 1905-1907, Lênin viết tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (1908); Bút ký triết học (1914-1916); Ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Marx; tác phẩm K.Marx; Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản (1916); Nhà nước và cách mạng (1917) Trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, Lênin phê phán chủ
nghĩa duy tâm chủ quan và phát triển chủ nghĩa duy vật, phát triển lý luận nhận thức duy
vật biện chứng Trong tác phẩm Bút ký triết học, Lênin tổng kết và phát triển phép biện
chứng duy vật
Lênin đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Marx vào hoàn cảnh cụ thể của nước Nga
và lãnh đạo thành công cuộc cách mạng Tháng Mười Nga, mở ra cho nhân loại mộtthời đại mới: thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toànthế giới
Sau Cách mạng Tháng Mười, Lênin nghiên cứu giải quyết các vấn đề của cáchmạng vô sản, xây dựng cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ, vấn
đề xây dựng đảng và nhà nước Những tác phẩm trong thời kỳ này là: Những nhiệm
vụ trước mắt của chính quyền Xô viết (1918); Bệnh ấu trĩ tả khuynh và tính tiểu tư sản (1918); Bệnh ấu trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản (1820); Về Chính sách kinh tế mới (1921); Về tác dụng của chủ nghĩa duy vật chiến đấu (1922) Đặc biệt, trong chính sách kinh tế mới, Lênin nêu lên tư tưởng về nền kinh tế nhiều thành phần
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
d Chủ nghĩa Mác-Lênin và thực tiễn phong trào cách mạng thế giới
Chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới.
- Cách mạng tháng Mười mở ra cho nhân loại thời đại quá độ từ chủ nghĩa tưbản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới:
+ Sau cuộc cách mạng Tháng Mười thì chủ nghĩa xã hội từ lý luận đã trở thành thựctiễn, lịch sử phát triển của xã hội loài người xuất hiện hình thái kinh tế - xã hội mới đối lậpvới hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa
Trang 7+ Chiều hướng phát triển chủ yếu, trục chuyển động xuyên suốt của lịch sử từ sauCách mạng Tháng Mười Nga là đấu tranh xoá bỏ trật tự tư bản chủ nghĩa và xây dựng chủnghĩa xã hội.
+ Từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga, các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào Cộngsản và công nhân quốc tế trở thành lực lượng nòng cốt, đi đầu trong cuộc đấu tranh vì hoàbình, dân chủ và tiến bộ xã hội trên phạm vi thế giới
+ Sau Cách mạng Tháng Mười, cách mạng giải phóng dân tộc nằm trong phạm trùcách mạng xã hội chủ nghĩa, nhiều quốc gia sau khi giành được độc lập dân tộc đã đi theocon đường xã hội chủ nghĩa
- Sau khi Lênin qua đời, Đảng Cộng sản Liên Xô và các đảng cộng sản trên thếgiới tiếp tục phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và vận dụng nó trong công cuộc xây dựngchủ nghĩa xã hội
+ Chủ nghĩa xã hội đã đem lại những thành tựu to lớn ở Liên Xô, đưa nước Nga
từ một nước tư bản lạc hậu thành một trong những nước có công nghiệp và khoa họctiên tiến nhất thế giới Sức mạnh của chủ nghĩa xã hội đã góp phần tiêu diệt chủ nghĩaphát xít, cổ vũ và ủng hộ phong trào đấu tranh vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội trêntoàn thế giới Không phải ngẫu nhiên mà nhiều dân tộc bị áp bức và lạc hậu trên thếgiới hướng về Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa như là ngọn cờ tiêu biểu cho độclập, dân chủ và công bằng xã hội Tuy nhiên, các đảng cộng sản cầm quyền ở các nước
đã mắc phải sai lầm trong việc nhanh chóng xóa bỏ kinh tế thị trường, xóa bỏ các thànhphần kinh tế tư nhân, đồng nhất hợp tác hóa với tập thể hóa, duy trì quá lâu hệ thốngquan liêu bao cấp khi tình hình thế giới đã có những biến đổi lớn lao
- Trong những năm đầu thập kỷ 80, chủ nghĩa xã hội bắt đầu lâm vào cuộckhủng hoảng: sản xuất rơi vào tình trạng trì trệ, hiệu quả và tính tích cực xã hội giảmsút Do sai lầm trong cải tổ, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ
Tuy nhiên, sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu không đồng nhất với sựsụp đổ của chủ nghĩa xã hội nói chung Một số nước xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc,Việt Nam thực hiện thành công công cuộc đổi mới chủ nghĩa xã hội, chẳng những đã
có thể ra khỏi khủng hoảng, mà còn thực hiện tốt hơn những mục tiêu của công cuộcxây dựng chủ nghĩa xã hội
- Sự tan rã của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu không phải là thất bại củachế độ và nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa xã hội, mà chỉ là sự thất bại của một môhình thực tiễn nhất định, tức mô hình Liên Xô của chủ nghĩa xã hội Việc đổi mớithành công chủ nghĩa xã hội ở một số nước đã mở ra cho nhân loại nhiều triển vọngmới Nhân loại chẳng những không từ bỏ chủ nghĩa xã hội, mà trái lại, tìm kiếm một
mô hình mới của chủ nghĩa xã hội phù hợp với tình hình mới
- Công cuộc đổi mới ở nước ta do Đảng ta phát động và lãnh đạo không cónghĩa là từ bỏ mà là nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giữ vững sự lãnh đạo của Đảng; kiên trì mục tiêu chủnghĩa xã hội; nghiên cứu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng HồChí Minh cho phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước ta và trên thế giới trong tìnhhình hiện nay
II ĐỐI TƯỢNG, MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU VỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP, NGHIÊN CỨU NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
Trang 81 Đối tượng và mục đích của việc học tập, nghiên cứu
- Đối tượng học tập, nghiên cứu “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
Mác-Lênin” là: “những quan điểm và học thuyết” của K.Marx, F.Engels và V.I Lênin trong
phạm vi những quan điểm, học thuyết cơ bản nhất thuộc ba bộ phận cơ bản cấu thànhchủ nghĩa Mác-Lênin
- Mục đích của việc học tập, nghiên cứu Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
Mác-Lênin là để xây dựng thế giới quan, phương pháp luận khoa học và vận dụng sángtạo những nguyên lý đó trong hoạt động nhận thức và thực tiễn Đồng thời hiểu rõ cơ
sở lý luận quan trọng nhất của Tư tưởng Hồ Chí Minh và Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam; nền tảng tư tưởng của Đảng; xây dựng niềm tin, rèn luyện
và tu dưỡng đạo đức nhằm đáp ứng được với tình hình mới
2 Một số yêu cầu cơ bản về phương pháp học tập, nghiên cứu
- Thứ nhất, những luận điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là lý luận
“chết cứng”, một chiều mà nó luôn luôn vận động và phát triển cùng với tiến trình pháttriển của lịch sử nhân loại Do đó, khi học tập và nghiên cứu những nguyên lý cơ bảncủa chủ nghĩa Mác-Lênin cần phải hiểu đúng tinh thần, thực chất của nó; tránh bệnhkinh viện, giáo điều trong quá trình học tập, nghiên cứu và vận dụng các nguyên lý cơbản đó trong thực tiễn
- Thứ hai, sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa Mác-Lênin là một quá trình.
Trong quá trình ấy, những luận điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin có mối quan hệ mậtthiết với nhau, bổ sung và hỗ trợ nhau Vì vậy, học tập, nghiên cứu mỗi luận điểm củachủ nghĩa Mác-Lênin chúng ta phải đặt trong mối quan hệ với các luận điểm khác, ởcác bộ phận cấu thành khác, có như vậy mới thấy được sự thống nhất trong tính đadạng và nhất quán của chủ nghĩa Mác-Lênin
- Thứ ba, học tập và nghiên cứu những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
Mác-Lênin để hiểu rõ cơ sở lý luận quan trọng nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lốicách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam Vì vậy, phải gắn những luận điểm của chủnghĩa Mác-Lênin với điều kiện thực tiễn của Việt Nam và bối cảnh của thời đại, có nhưvậy mới thấy được sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin mà Chủ tịch Hồ ChíMinh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực hiện trong từng giai đoạn lịch sử
- Thứ tư, chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là một hệ thống khép kín, nhất thành
bất biến, trái lại, đây là một hệ thống lý luận không ngừng vận động và phát triển trên
cơ sở những thành tựu của văn minh nhân loại Vì vậy, việc học tập, nghiên cứu nhữngnguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin đồng thời cũng là quá trình tổng kết, đúckết kinh nghiệm để góp phần phát triển tính khoa học, tính cách mạng và nhân văn vốn
có của nó Mặt khác, việc học tập, nghiên cứu các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩaMác-Lênin cũng cần phải đặt nó trong tiến trình phát triển của lịch sử tư tưởng nhânloại, có như vậy chúng ta mới đảm bảo được tính khoa học và tính cách mạng của chủnghĩa Mác-Lênin
Trang 9PHẦN THỨ NHẤT
THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRIẾT HỌC
CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
Thế giới quanh ta là gì? Nó có bắt đầu và có kết thúc hay không? Sức mạn nàochi phối sự tồn tại và biến đổi của thế giới?
Con người là gì? Nó được sinh ra từ đâu? Quan hệ giữa con người với thế giớibên ngoài ra sao? Vì sao có người tốt kẻ xấu? Cuộc sống của con người có ý nghĩa gì?
Trong mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên thì vị trí, vai trò của conngười đối với giới tự nhiên như thế nào? Trong mối quan hệ giữa con người với giới tựnhiên thì khả năng nhận thức của con người với giới tự nhiên ra sao?
Những câu hỏi như trên được đặt ra với những mức độ khác nhau đối với conngười từ thời nguyên thuỷ cho đến ngày nay và mai sau
Toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, về vị trí và vai trò của conngười trong thế giới đó, về chính bản thân cuộc sống của con người hợp thành thế giớiquan của con người, cộng đồng người trong một tời đại nhất định
Vậy thế giới quan là gì?
Thế giới quan là toàn bộ hệ thống những quan niệm chung nhất của con người
về thế giới, về vị trí của con người trong thế giới nhằm giải đáp những vấn đề về mục đích, ý nghĩa cuộc sống của con người.
Nhân sinh quan là gì?
Nhân sinh quan tức toàn bộ những quan niệm về cuộc sống của con người và loài người.
Bản thể luận là gì?
Bản thể luận theo tiếng Hy Lạp nó bắt nguồn từ từ “On” Ontos và “Logos”: Khoa học; tồn tại Đây là một danh từ của triết học chỉ khoa học về tồn tại.
Nhận thức luận là gì?
Nhận thức luận theo tiếng Hy Lạp là “Gnonis” và “Logos” : Tri thức, lời nói,
học thuyết Hay còn gọi là lý luận về nhận thức Học thuyết triết học về con người có khả năng nhậnh thức được hiện thực, tìm ra chân lý; lý luận về những nguồn gốc của nhận thức và về những hình thức của quá trình nhận thức.
Trong lịch sử nhân loại đã tồn tại 3 hình thức thế giới quan cơ bản là:
- Thế giới quan thần thoại Đây là hình thức thế giới quan của người nguyênthuỷ trong giai đoạn sơ khai của lịch sử và nó còn tồn tại lâu dài đến nhiều thế kỷ sau
đó Đặc trưng của thế giới quan thần thoại, nó phản ánh những kết quả cảm nhận banđầu của con người về thế giới mà trong đó các yếu tố hiện thực và tưởng tượng, cái cóthật và cái hoang đường, tư duy và xúc cảm hoà quyện vào nhau
- Thế giới quan tôn giáo: Đó là sự phản ánh hiện thực một cách hư ảo, đặc trưngcủa thế giới quan tôn giáo là niềm tin vào sự tồn tại và sức mạnh của một đấng siêunhiên, của thần thánh Tôn giáo tin vào lực lượng trên trời, vào đấng sáng thế
Ôguytxtanh (350 – 430) đã nói, Chúa hoàn toàn làm chủ và định đoạt số phậncủa con người và số phận của thế giới Chúa ban phát cho con người nguồn sống Vì
Trang 10vậy, con người không thể kỳ vọng vào điều gì khác ngoài sự ân sảng của chúa “Conngười chỉ là kẻ bộ hành trên trái đất, là cây nêu trước gió mạnh”.
- Thế giới quan triết học: (Như khái niệm trên)
+ Nguyên nhân của mưa là gì? Nó thuộc vấn đề của khí tượng học Nhưng cái
gì là nguyên nhân và kết quả của mưa thì lại thuộc về vấn đề triết học
+ Trái đất vận động như thế nào? Thuộc về vấn đề của vật lý địa cầu Nhưngtrái đất vận động là do nó tự vận động hay là do cái hích bên ngoài, có hay không lựcthúc đẩy thì đây lại thuộc về vấn đề của triết học
Quan niệm của người Trung Quốc hiện đại về Cuộc đời:
1 trung tâm: Sức khoẻ
2 một chút: Thoải mái một chút, Hồ đồ một chút
3 quên: Quên tuổi tác, quên bệnh tật, quên hận thù
4 có: Có bạn tri âm, có bạn đời, có nhà ở, có sổ tiết kiệm,
5 phải: Phải vận động, phải biết hoà nhã lịch sự, phải biết cười, phải biết kể chuyện, phải biết mình là người bình thường.
Triết học là gì?
Triết học: Nguyên trong tiếng Hy Lạp Philosophie Philos có nghĩa là “người
yếu quý” “người bạn” và sophie có nghĩa là “trí khôn”, “khôn khéo”, “khôn ngoan”.
Mấy nghĩa này không hoàn toàn khác nhau vì theo người Hy Lạp ngày xưa cóhiểu biết thời đại mới là không ngoan, nhờ đó mà có thể hành động khôn khéo, khônghiểu biết thì không thể thành công
Khái niệm triết học thay đổi theo lịch sử Đông – Tây, nhưng thường có hai yếutố:
- Yếu tố nhận thức
Tri thức về vũ trụ và con người, giải thích bằng một hệ thống tư duy
- Yếu tố nhận định
Đánh giá về mặt đạo lý để có thái độ, hành động
“Triết học là một hệ thống quan điểm chung về thế giới (Tự nhiên, xã hội)
và vai trò của con người trong thế giới đó”.
“Triết học là một trong những hình thái ý thức xã họi; là hệ thống những quan
điểm, quan niệm chung nhất của con người về thế giới; về mối quan hệ giữa tồn tại và nhận thức; về vị trí và vai trò của con người trong thế giới đó; về những quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy”.
Trang 11Chương I
CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
I CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
1 Sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học
Triết học với tư cách là thế giới quan bao gồm vấn đề của rất nhiều lĩnh vực (tựnhiên, xã hội và tư duy nhân loại), rất nhiều phương diện (bản thể luận, nhận thứcluận, giá trị luận, nhân sinh quan, phương pháp luận), nhưng trong đó có một vấn đềxuyên suốt các lĩnh vực và phương diện quyết định toàn bộ tính chất hệ thống triết học
và có tác dụng chi phối đối với việc giải quyết các vấn đề triết học, đó chính là vấn đề
cơ bản của triết học
a Nội dung và ý nghĩa của vấn đề cơ bản của triết học
Trong tác phẩm “L.Feuerbach và sự cáo chung của Triết học cổ điểm Đức” F.Engels đã chỉ rõ: “Vấn đề cơ bản lớn nhất của mọi triết học, đặc biệt là triết
học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại” (Toàn tập, t21,tr.403)
Trong thế giới có vô vàn hiện tượng nhưng chung qui lại chúng ta chỉ phân làm
hai loại, một là, những hiện tượng vật chất (tồn tại, tự nhiên), hai là, những hiện tượng
tinh thần (tư duy, ý thức) Do vậy, vấn đề về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức được
goi là “vấn đề cơ bản lớn nhất” hay “vấn đề tối cao” của triết học Vì việc giải quyết
vấn đề này là cơ sở và là điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học
- Vật chất và ý thức là hai hiện tượng rộng lớn nhất của đời sống con người
- Đây là vấn đề xuyên suốt trong mọi hệ thống triết học
- Giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức nó là cơ sơ để phân định lậptrường triết học của các trường phái, các khuynh hướng, các hình thức của triết học
Vấn đề cơ bản của triết học gồm hai mặt:
- Mặt thứ nhất (mặt bản thể luận) trả lời câu hỏi: trong mối quan hệ giữa tư duy
và tồn tại, giữa ý thức và vật chất thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào sinh ra
cái nào, cái nào quyết định cái nào? (Trong mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên thì vị trí và vai trò của con người đối với giới tự nhiên như thế nào?)
- Mặt thứ hai (mặt nhận thức luận) trả lời câu hỏi: tư duy con người có khả năng nhận thức thế giới chung quanh hay không? (Trong mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên thì khả năng nhận thức của con người với giới tự nhiên ra sao?)
Trang 12b Sự đối lập giữa hai quan điểm duy vật và duy tâm trong việc giải quyết vấn đề
cơ bản của triết học
- Chủ nghĩa duy vật là trào lưu triết học cho rằng tồn tại (tự nhiên, vật chất) có
trước tư duy (tinh thần, ý thức), và quyết định ý thức
Chủ nghĩa duy vật có những hình thức lịch sử cơ bản: chủ nghĩa duy vật ởphương Đông và Hy Lạp cổ đại, chủ nghĩa duy vật Tây Âu thế kỷ XVII, XVIII và chủnghĩa duy vật biện chứng do K.Marx và F.Engels sáng lập
- Chủ nghĩa duy tâm là trào lưu triết học cho rằng tư duy, ý thức có trước vật
chất, sinh ra và quyết định vật chất
Chủ nghĩa duy tâm có hai hình thức: Chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ
nghĩa duy tâm chủ quan Chủ nghĩa duy tâm khách quan cho rằng có một lực lượng
siêu tự nhiên (ý niệm, ý niệm tuyệt đối, tinh thần thế giới, Trời, Thượng đế) có trước,sinh ra và quyết định thế giới vật chất Những đại biểu của trào lưu này là Platon,G.V.Hegel, Thomas Aquinas (Tômát Đacanh), v.v Chủ nghĩa duy tâm chủ quan chorằng cảm giác, ý thức quyết định vật chất, vật chất không tồn tại độc lập mà phụ thuộcvào cảm giác, ý thức Những đại biểu của trào lưu này là George Berkeley (Beccơli),David Hume (Đavít Hium)
2 Các hình thức phát triển của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử
Trong lịch sử, cùng với sự phát triển của khoa học và thực tiễn, chủ nghĩa duyvật đã được hình thành và phát triển với ba hình thức cơ bản là: chủ nghĩa duy vật chấtphác chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy vật biện chứng
a Chủ nghĩa duy vật chất phác
Chủ nghĩa duy vật chất phác là kết quả nhận thức của các nhà triết học duy vật
thời cổ đại Trong khi thừa nhận tính thứ nhất của vật chất, chủ nghĩa duy vật giaiđoạn này đã đồng nhất vật chất với một hay một số chất cụ thể, coi đó là thực thể đầutiên, là bản nguyên của vũ trụ
Mặt thứ nhất
CNDV
CNDT
Nhất nguyên monism – monos (duy nhất )
Nhị nguyên dualism – dualis (2 mặt)
Đa nguyên Pluralism – plulis (nhiều)
Trang 13Tuy còn nhiều hạn chế nhưng chủ nghĩa duy vật thời kỳ cổ đại đã có nhiềuđóng góp cho lịch sử phát triển của tư tưởng nhân loại vì nó đã lấy bản thân giới tựnhiên để giải thích giới tự nhiên, nó không viện đến thần linh hay một đấng sáng tạonào để giải thích thế giới.
b Chủ nghĩa duy vật siêu hình
Chủ nghĩa duy vật siêu hình xuất hiện từ khoảng thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII
và đạt đỉnh cao vào thế kỷ XIX Đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của cơ học vì vậy
nó đã ảnh hưởng lớn tới quan điểm của các nhà triết học thời kỳ này Chủ nghĩa duyvật trong giai đoạn này chịu sự tác động mạnh mẽ của phương pháp tư duy siêu hình,máy móc của cơ học cổ điển Họ nhận thức thế giới như một cỗ máy cơ giới khổng lồ
mà mỗi bộ phận tạo nên nó luôn ở trong trạng thái biệt lập, tĩnh tại; nếu có biến đổi thì
đó chỉ là sự tăng, giảm đơn thuần về số lượng và do những nguyên nhân bên ngoài gâynên
c Chủ nghĩa duy vật biện chứng
Chủ nghĩa duy vật biện chứng do K.Marx và F.Engels xây dựng, sau đó được
V.I.Lênin và những người kế tục bảo vệ và phát triển Kế thừa những tinh hoa trong lịch
sử triết học của nhân loại và vận dụng những thành tựu của khoa học tự nhiên đương thờiK.Marx và F.Engels đã xây dựng nên những quan điểm, nguyên lý, quy luật cơ bản nhấtcủa chủ nghĩa duy vật biện chứng Trên cơ sở phản ánh đúng đắn hiện thực khách quantrong mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã cung cấpcông cụ vĩ đại cho hoạt động nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn
II QUAN ĐIỂM DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ VẬT CHẤT, Ý THỨC VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
1 Vật chất
a Phạm trù vật chất
Việc khám phá ra bản chất và cấu trúc tồn tại của thế giới xung quanh ta, mà trướchết là thế giới của những vật hữu hình là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong lịch sửnhận thức của nhân loại Hầu hết các trường phái triết học đều bằng cách này hay cáchkhác giải quyết vấn đề này Và bởi vậy trong triết học phạm trù vật chất xuất hiện
Phạm trù là gì? Phạm trù là khái niệm rộng nhất, phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ chung cơ bản của các sự vật, hiện tượng thuộc một lĩnh vực hiện thực nhất định gọi là phạm trù.
* Khái quát quan niệm của chủ nghĩa duy vật trước Marx về vật chất
- Chủ nghĩa duy tâm: phủ nhận vật chất với tính cách là thực tại khách quan Chorằng thế giới vật chất là tạo vật của thượng đế, hoặc là “sự kết hợp” những cảm giáccủa con người
- Chủ nghĩa duy vật cổ đại: đồng nhất vật chất với những dạng tồn tại cụ thể của vậtchất:
+ Thales (Talét): nước
+ Anaximenus (Anaximen): Không khí
+ Heraclitus: Lửa
+ Anaximanđrơ cho rằng, thực thể của thế giới là một bản nguyên không xác địnhđược về mặt chất và vô tận về mặt lượng
Trang 14+ Lơxíp và Democrite: Nguyên tử Các ông coi đây phần tử cực kỳ nhỏ, cứng, truyệtđối không thâm nhập được, không quan sát được và nói chung không cảm giác được, chỉ
có thể nhận biết nhờ tư duy Democrite hình dung nguyên tử có nhiều loại, sự kết hợphoặc tách rời giữa chúng theo các trật tự khác nhau của không gian sẽ tạo nên toàn bộ thếgiới
+ Triết học Ấn Độ: Đất, nước, lửa, gió
+ Thuyết Âm dương - Ngũ hành: Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ
- Chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII - XVIII đồng nhất vật chất với nguyên tử vàkhối lượng
- Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, một loạt phát minh khoa học như:
+ Năm 1895 W.Conrad Roentgen (1845 – 1923) phát hiện ra tia X, một loại
sóng điện từ có bước sóng từ 0,01 đến 100.10-8 cm
+ Năm 1896 Antoine Henri Becquerel (1852-1908) phát minh ra hiện tượng phóng xạ trong chất uranium và sau đó Marie Curie (1867-1934) tiếp tục phát triển Với phát hiện này,
người ta hiểu ra rằng quan niệm về sự bất biến của nguyên tử là không chính xác
+ Năm 1897 Sir Joseph Thomson (1856 – 1940) phát hiện ra điện tử và chứng
minh được rằng điện tử là một trong những thành phần cấu tạo nên nguyên tử Nhờphát minh này, lần đầu tiên trong khoa học sự tồn tại của nguyên tử được chứng minh
+ Năm 1901 Kaufman, nhà bác học người Đức đã chứng minh được khối lượng
của điện tử không phải là khối lượng tĩnh mà nó sẽ thay đổi theo tốc độ vận động củađiện tử
+ Năm 1905 Albert Eisntein (1879-1955) đã phát minh ra thuyết tương đối hẹp
(E = mc2) là nền tảng cho sự phát triển năng lượng nguyên tử và là một trong những cơ
sở khoa học của các lý thuyết hiện đại về vũ trụ
Các phát minh khoa học này gây ra cuộc khủng hoảng về thế giới quan trongvật lý học Một số các nhà vật lý học giải thích một cách duy tâm các hiện tượng vậtlý: vật chất tiêu tan mất Các nhà triết học duy tâm chủ quan đã lợi dụng quan điểmnày để tấn công, phủ nhận vật chất và chủ nghĩa duy vật Tình hình đó đòi hỏi Lêninphải đấu tranh bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật
Tóm lại, các nhà triết học trước Marx đại đều không trả lời được câu hỏi, bản
chất của thế giới là gì? Mà họ lại đi vào nghiên cứu, tìm hiểu cấu tạo của vật chất Dovậy, họ đã khẳng định vật chất là cái bất biến, cái cụ thể nào đó Quan niệm này đã tồntại suốt nhiều thế kỷ trong lịch sử triết học
* Quan niệm của K.Marx và F.Engels về vật chất
K.Marx và F.Engels cho rằng, vật chất là cái tồn tại khách quan, độc lập với ýthức con người Thế giới vật chất luôn luôn vận động, biến đổi không ngừng, ở đâu cóvật chất là có vận động và vận động không ngừng
* Định nghĩa của V.I.Lênin về vật chất; nội dung và ý nghĩa.
Trang 15“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” (Tập 18, tr.151)
* Những nội dung cơ bản
- Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan
Phạm trù vật chất là phạm trù khái quát nhất, rộng nhất của lý luận nhận thức Dođó:
+ Phạm trù vật chất phải được xem xét dưới góc độ triết học chứ không phảidưới góc độ của các khoa học cụ thể Điều này sẽ giúp chúng ta tránh được sai lầm khiđồng nhất phạm trù vật chất trong triết học với các khái niệm vật chất thường dùngtrong các khoa học cụ thể hoặc đời sống hàng ngày
+ Chúng ta không thể định nghĩa phạm trù vật chất theo phương pháp thôngthường Về mặt nhận thức luận, theo V.I.Lênin, chỉ có thể định nghĩa phạm trù vậtchất trong mối quan hệ đối lập với nó, đó là phạm trù ý thức
Khi định nghĩa phạm trù vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thựctại khách quan, V.I.Lênin đã bỏ qua những thuộc tính riêng lẻ, cụ thể, nhiều màu,nhiều vẻ của các sự vật, hiện tượng mà nêu bật đặc tính nhận thức luận cơ bản nhất,
phổ biến nhất có ở tất cả các sự vật, hiện tượng trong thế giới hiện thực khách quan.
Đó chính là “thực tại khách quan”
Thực tại khách quan đó chính là tất cả những gì tồn tại ở bên ngoài và không lệthuộc vào ý thức của con người Đặc tính này là dấu hiệu cơ bản để phân biệt cái gì làvật chất, cái gì không phải là vật chất Vật chất – cái tồn tại khách quan bên ngoài ýthức và không lệ thuộc vào ý thức
Phạm trù vật chất trong định nghĩa của V.I.Lênin phải được hiểu là bao gồmtất cả những gì tồn tại và không lệ thuộc vào ý thức
Như vậy, vật chất với tư cách là phạm trù triết học, nó chỉ thực tại khách quan
nói chung, nó là vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi Còn vật chất với tư cách
là một phạm trù khoa học cụ thể, đó là những dạng tồn tại cụ thể của vật chất, đều cógiới hạn, sinh ra mất đi để chuyển hoá thành cái khác Vì vậy, không thể qui vật chất
về vật thể, không thể đồng nhất vật chất với những dạng cụ thể của vật chất giống nhưquan niệm của các nhà triết học trước Marx
- “Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác”
Điều này khẳng định với chúng ta rằng, vật chất là cái có trước, cảm giác (ýthức) là cái có sau, vật chất là cái đóng vai trò quyết định đến nguồn gốc và nội dungkhách quan của ý thức Bởi vì, thực tại khác quan (vật chất là thực tại khách quan) đưalại cảm giác cho con người chứ không phải cảm giác (ý thức) sinh ra thực tại kháchquan Đến đây định nghĩa vật chất của V.I.Lênin đã giải quyết được mặt thứ nhất vấn
đề cơ bản của triết học trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng
- “Thực tại khách quan được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
Điều này đã khẳng định rằng, con người có khả năng nhận thức được thế giớihiện thực khách quan Đến đây định nghĩa vật chất của V.I.Lênin tiếp tục giải quyếtđược mặt thứ hai trong vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường của chủ nghĩa duyvật biện chứng Điều này chứng minh rằng:
Trang 16+ Vật chất không tồn tại một cách vô hình, thần bí mà tồn tại một cách hiệnthực, được biểu hiện dưới các dạng sự vật, hiện tượng cụ thể mà giác quan của chúng
ta có thể nhận biết một cách trực tiếp hay gián tiếp Do đó, về nguyên tắc không có đốitượng vật chất không thể nhận thức được, mà chỉ có những đối tượng vật chất chưa thểnhận thức được mà thôi
+ Nguồn gốc của cảm giác là từ thế giới bên ngoài, khi sự vật tác động vào giácquan của con người thì con người có cảm giác về chúng Bằng các phương pháp nhậnthức khác nhau (chép lại, chụp lại, phản ánh) con người có thể nhận thức được thế giớivật chất
Như vậy, định nghĩa vật chất của V.I.Lênin đã bác bỏ thuyết không thể biết, đồng
thời chỉ ra rằng, vật chất phải được hiểu là tất cả những gì tồn tại khách quan bên ngoài ýthức, bất kể sự tồn tại ấy con người đã nhận thức được hay chưa nhận thức được
* Ý nghĩa định nghĩa vật chất của V.I.Lênin
- Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin đã giải quyết một cách đúng đắn vấn đề cơbản của triết học trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, đồng thời đã khắcphục được tính trực quan, siêu hình, máy móc trong quan niệm về vật chất của chủnghĩa duy vật trước Marx, chống lại chủ nghĩa duy tâm và thuyết không thể biết
- Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin là cơ sở thế giới quan khoa học và phươngpháp luận đúng đắn cho các nhà khoa học trong nghiên cứu thế giới vật chất, định hướng
và cổ vũ họ ở khả năng nhận thức của con người, tiếp tục đi sâu vào khám phá nhữngthuộc tính mới của thế giới vật chất, tìm kiếm các dạng hoặc các hình thức mới của vật thểtrong thế giới
- Định nghĩa này còn là cơ sở khoa học cho việc xây dựng quan điểm duy vậtbiện chứng trong lĩnh vực xã hội, đó là chủ nghĩa duy vật lịch sử
b Phương thức vận động, hình thức tồn tại của vật chất
Vận động là phương thức tồn tại của vật chất
“Vận động là phương thức tồn tại của vật chất Bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào
cũng không có và không thể có vật chất mà không có vận động” (F.Engels)
+ Vật chất chỉ có thể tồn tại trong vận động, bằng cách vận động, không thể cóvật chất không vận động, cũng như không thể có vận động ngoài vật chất
“Vật chất không có vận động, cũng như vận động không có vật chất, đều là điềukhông thể hình dung nổi” (Tập 20, tr 89)
+ Các thuộc tính của vật chất chỉ biểu hiện thông qua vận động
Ví dụ: Thuộc tính của kim loại là: dẫn điện, dẫn nhiệt, có khả năng dát mỏng,
kéo thành sợi Nhưng những thuộc tính này chỉ được biểu hiện thông qua sự vậnđộng của sự vật đó là: Thuộc tính dẫn điện của kim loại chỉ được bộc lộ ra khi chúng
Trang 17ta đặt nó trong sự chênh lệch về điện áp Thuộc tính dẫn nhiệt của sự vật chỉ được bộc
lộ ra khi chúng ta đặt nó trong sự chênh lệch về nhiệt độ
Tiền chỉ đẻ ra tiền khi chúng ta đưa nó vào trong quá trình sản xuất (Bản thântiền không tự đẻ ra tiền, ngay cả khi chúng ta đưa nó vào quá trình lưu thông)
“Các hình thức và các dạng khác nhau của vật chất chỉ có thể nhận thức đượcthông qua vận động; thuộc tính của vật thể chỉ bộc lộ qua vận động; về một vật thểkhông vận động thì không có gì mà nói cả” (F.Engels, Tập 20, tr 743)
- Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất
+ Vận động là cái vốn có của vật chất, gắn liền với vật chất, không do ai sinh ra
và không bao giờ bị tiêu diệt
+ Vận động được bảo toàn cả về lượng và về chất
F.Engels khẳng định: “Cần phải hiểu tính bất diệt của vận động không chỉ đơnthuần về mặt số lượng mà cần phải hiểu cả về mặt chất lượng nữa” (Tập 20, tr 479)
* Các hình thức vận động của vật chất
Theo F.Engels, có 5 hình thức vận động cơ bản:
- Vận động cơ giới là sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian.
- Vận động vật lý (thay đổi trạng thái vật lý) là vận động của phân tử, của các hạt
cơ bản, vận động của nhiệt, ánh sáng, điện, trường, âm thanh
- Vận động hóa học (thay đổi trạng thái hóa học) là sự vận động của các nguyên
tử; sự hóa hợp và phân giải của các chất
- Vận động sinh vật: vận động của các cơ thể sống như sự trao đổi chất, đồng
hóa, dị hóa, sự tăng trưỏng, sinh sản, tiến hóa
- Vận động xã hội: mọi hoạt động xã hội của con người; sự thay thế các hình
thái kinh tế -xã hội từ thấp đến cao
* Vận động và đứng im:
Vận động là tuyệt đối, đứng im là tương đối vì:
- Đứng im chỉ xảy trong một quan hệ nhất định, chứ không phải trong tất cả mọiquan hệ
- Đứng im chỉ xảy trong một hình thức vận động nhất định (vận động cơ giới)
- Đứng im là một trạng thái vận động (vận động trong thăng bằng)
* Ý nghĩa của việc nghiên cứu sự vận động
- Xác định quan điểm duy vật biện chứng; xem xét sự vật, hiện tượng trong trạngthái vận động, biến đổi không ngừng Đứng im chỉ là tạm thời, tương đối
- Hiểu vận động là cái vốn có của vật chất, không do ai tạo ra và không bao giờ
bị tiêu diệt Chống lại các quan điểm duy tâm siêu hình
- Nắm vững các hình thức vận động của vật chất để hiểu tính đa dạng, phong phúcủa vận động
- Sự vật có nhiều hình thức vận động nhưng bao giờ cũng được đặc trưng bằngmột hình thức vận động nhất định Không thể quy hình thức vận động cao về hình thứcvận động thấp hoặc ngược lại Phê phán sai lầm của thuyết Darwin xã hội (SocialDarwinism)
c Không gian và thời gian với tư cách là hình thức tồn tại của vật chất
Trang 18- Quan điểm siêu hình coi không gian là một cái hòm rỗng trong đó chứa vật coi không gian là một cái hòm rỗng trong đó chứachất Có không gian và thời gian không có vật chất Có sự vật, hiện tượng không tồntại trong không gian và thời gian.
- Quan điểm duy vật biện chứng:
+ Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất, gắn liền với
sự vận động của vật chất
+ Không có không gian và thời gian không có vật chất cũng như không thể có
sự vật, hiện tượng tồn tại ngoài không gian và thời gian
“Vì các hình thức cơ bản của mọi tồn tại là không gian và thời gian; tồn tạingoài thời gian thì cũng hết sức vô lý như tồn tại ở ngoài không gian” (Tập 20, tr78)
+ Không gian vô tận Thời gian không có khởi đầu và kết thúc
+ Không gian có 3 chiều Thời gian có một chiều
+ Không gian và thời gian có tính tương đối
Như vậy, trong thế giới không có gì khác hơn là vật chất đang vận động Tinhthần chỉ có trong đầu óc con người và là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chứccao Không có bằng chứng về thế giới tinh thần tồn tại bên ngoài thế giới vật chất(Thiên đường, địa ngục, Niết bàn)
Carl Edward Sagan (1934-1996), nhà thiên văn học Mỹ nói: Chúng ta sống trên
một lớp đất đá và kim loại bao bọc một ngôi sao buồn tẻ; nó là một trong 400 tỷ ngôisao khác tạo nên Ngân hà của chúng ta; và Ngân hà của chúng ta lại là một trong hàng
tỷ thiên hà khác tạo nên vũ trụ; và vũ trụ của chúng ta có lẽ là một trong con số vô tậnnhững vũ trụ khác”
Stephen Hawking (1942- ), nhà vật lý lý thuyết và toán học Anh, Giáo sư Đại
học Cambridge viết:
“Nếu mà vũ trụ mà có khởi đầu, chúng ta mới có thể giả định rằng có một đấngsáng thế Nhưng nếu vũ trụ là thực sự tự nó chứa đựng trong nó, không có ranh giới vàđường biên, thì nó sẽ không có khởi đầu và không có kết thúc; nó chỉ đơn giản là tồntại Vậy thì có chỗ nào cho một đấng sáng thế”?
Thomas Edison (1847-1931), nhà sáng chế nổi tiếng người Mỹ nói: “Tôi không
thấy một mảy may bằng chứng khoa học nào cho những lý thuyết tôn giáo về thiênđường và địa ngục, về kiếp sau của cá nhân, hoặc về một cá nhân Thượng đế”
Trang 19Richard Dawkins viết: “Vũ trụ mà chúng ta quan sát được thực sự chỉ có những
thuộc tính mà chúng ta có thể biết: về cơ bản là nó không có thiết kế, không có mụcđích, không có thiện, không có ác, không có gì ngoài sự lãnh đạm vô tình mù quáng”.Các hình thức và các dạng tồn tại của vật chất và vận động có thể chuyển hóa lẫnnhau trong những điều kiện nhất định
Vật chất vận động tuân theo những quy luật nhất định Có những quy luật riêngchi phối một lĩnh vực cụ thể Có những quy luật phổ biến chi phối tất cả sự vật, hiệntượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy
2 Ý thức
a Nguồn gốc của ý thức
Vấn đề nguồn gốc, bản chất của ý thức là một vấn đề hết sức phức tạp củatriết học, là trung tâm của cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duytâm trong lịch sử triết học Trên cơ sở của những thành tựu triết học duy vật, củakhoa học, của thực tiễn xã hội triết học Mác-Lênin đã cho chúng ta nhận thức rõđược về nguồn gốc và bản chất của ý thức
* Quan điển triết học ngoài Mácxít về ý thức
- Quan điểm duy tâm khách quan: tìm nguồn gốc của ý thức từ một lực lượng
siêu tự nhiên (ý niệm, Brahman, Thượng đế, Trời, v.v.)
- Quan điểm duy tâm chủ quan: ý thức là cái vốn có của con người, không do
thần thánh ban cho, cũng không phải là sự phản ánh thế giới bên ngoài
- Quan điểm vật hoạt luận: mọi dạng vật chất đều có ý thức.
- Quan điểm duy vật tầm thường: ý thức là một dạng vật chất; “óc tiết ra ý thức
cũng như gan tiết ra mật”
* Quan điểm duy vật biện chứng về ý thức
Ý thức ra đời là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên và xã hội
+ Thuộc tính phản ánh của vật chất có quá trình phát triển lâu dài từ thấp đếncao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện hơn
Hình thức phản ánh đơn giản nhất, đặc trưng cho giới tự nhiên vô sinh là phảnánh vật lý, hoá học Các hình thức này có tính chất thụ động, chưa có sự định hướng,chưa có sự lựa chọn
Hình thức phản ánh sinh học đặc trưng cho cho giới tự nhiên sống, là sự pháttriển mới về chất trong hình thức phản ánh của vật chất
Hình thức phản ánh của cá thể sống đơn giản nhất là tính kích thích, là sự trảlời của cơ thể đối với những tác động của môi trường
Trang 20 Hình thức phản ánh tiếp theo của các động vật chưa có hệ thần kinh, là tínhcảm ứng, tính nhạy cảm đối với sự thay đổi của môi trường.
Hình thức phản ánh của các động vật có hệ thần kinh là các phản xạ
Hình thức phản ánh ở động vật bậc cao khi có hệ thần kinh trung ương xuấthiện là tâm lý Tâm lý động vật chưa phải là ý thức, nó mới chỉ là sự phản ánh có tínhchất bản năng do nhu cầu trực tiếp của sinh lý cơ thể và do quy luật sinh học chi phối
Ý thức chỉ nảy sinh ở trong giai đoạn phát triển cao của thế giới vật chất cùngvới sự xuất hiện con người Ý thức là ý thức của con người, nằm trong con người,không thể tách rời con người
Nội dung của ý thức là thông tin về thế giới bên ngoài ý thức là sự phản ánh
thế giới bên ngoài vào đầu óc con người
Bộ óc của con người là cơ quan phản ánh, nhưng chỉ với riêng bộ óc thì chưathể có ý thức Không có sự tác động của thế giới bên ngoài lên giác quan và qua đó lên
bộ óc thì hoạt động ý thức không thể xảy ra
Như vậy, bộ óc cùng với thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc, đó là nguồn gốc
tự nhiên của ý thức
* Nguồn gốc xã hội:
Để cho ý thức ra đời, nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng, không thể thiếu được,nhưng chưa đủ, điều kiện quyết định cho sự ra đời của ý thức là nguồn gốc xã hội, đóchính là lao động và ngôn ngữ
+ Lao động là hoạt động có tính mục đích, tác động vào thế giới khách quannhằm thoả mãn nhu cầu của con người Do đó, ý thức con người phản ánh một cáchtích cực, chủ động và sáng tạo Như vậy, không phải ngẫu nhiên mà thế giới kháchquan tác động vào bộ óc con người để con người có ý thức, mà trái lại con người có ýthức chính là con người chủ động tác động vào thế giới khách quan thông qua hoạtđộng thực tiễn để cải tạo thế giới Hay nói cách khác, lao động giúp con người cải tạothế giới và hoàn thiện chính mình Thông qua quá trình lao động, bộ óc của con ngườiphát triển và ngày càng hoàn thiện, làm cho khả năng tư duy trừu tượng của con ngườicũng ngày càng phát triển
+ Lao động ngay từ đầu đã liên kết mọi thành viên trong xã hôi lại với nhau, làmnảy sinh ở họ nhu cầu giao tiếp Vì vậy, ngôn ngữ ra đời và không ngừng phát triểncùng với lao động
- Ngôn ngữ.
F.Engels đã viết: “Đem so sánh con người với loài vật, người ta sẽ thấy rõ ràngngôn ngữ bắt nguồn từ lao động và cùng phát triển với lao động, đó là cách giải thíchduy nhất đúng về ngôn ngữ”
Trang 21+ Ngôn ngữ do nhu cầu của lao động và nhờ lao động mà hình thành Nó là hệthống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức Không có ngôn ngữ thì ý thức không thểtồn tại và thể hiện được Ngôn ngữ, theo K.Marx, nó chính là cái vỏ vật chất của tưduy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, không có ngôn ngữ con người không thể có ýthức.
+ Ngôn ngữ (tiếng nói và chữ viết) vừa là phương tiện giao tiếp trong xã hội, vừa
là công cụ của tư duy nhằm khái quát hoá, trừu tượng hoá hiện thực Nhờ ngôn ngữ màcon người có thể tổng kết được thực tiễn, trao đổi thông tin, truyền lại những tri thức
từ thế hệ này sang thế hệ khác
Ý thức không phải là một hiện tượng thuần tuý cá nhân mà là một hiện tượng cótính chất xã hội, do đó, không có phương tiện trao đổi về mặt ngôn ngữ thì ý thứckhông thể hình thành và phát triển được
Như vậy, nguồn gốc trực tiếp và quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát
triển của ý thức là lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ
Như F.Engels đã chỉ rõ: “Trước hết là lao động, sau lao động và đồng thời vớilao động là ngôn ngữ; đó là hai sức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc convượn, làm cho bộ óc đó dần dần biến chuyển thành bộ óc của con người” (Tập 20,tr646)
b Bản chất và kết cấu của ý thức
* Bản chất của ý thức
- Do chịu ảnh hưởng của quan điểm siêu hình nên nhiều nhà duy vật trước Marx
đã coi ý thức là sự phản ánh thụ động, giản đơn, máy móc, mà không thấy được tínhnăng động, sáng tạo của ý thức, tính biện chứng của quá trình phản ánh
- Trái lại, các nhà duy tâm lại cường điệu tính năng động, sáng tạo của ý thức đếnmức coi ý thức sinh ra vật chất chứ không phải sự phản ánh của vật chất
- Khác với những quan điểm trên, chủ nghĩa duy vật biện chứng dựa trên quanđiểm lý luận phản ánh, coi ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óccon người một cách năng động và sáng tạo
+ Thứ nhất, để hiểu được bản chất của ý thức chúng ta phải thừa nhận cả vật
chất và ý thức đều tồn tại, nhưng giữa chúng có sự khác nhau mang tính đối lập:
Vật chất là cái được phản ánh, tồn tại khách quan ở ngoài và độc lập với cáiphản ánh tức là ý thức
Cái phản ánh là ý thức, là hình ảnh tinh thần của sự vật khách quan, bị sự vậtkhách quan quy định Vì vậy, không thể đồng nhất hoặc tách rời cái được phản ánh(vật chất) với cái phản ánh (ý thức)
+ Thứ hai, khi nói ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan thì đó
không phải là hình ảnh vật lý hay hình ảnh tâm lý động vật về sự vật Ý thức là củacon người, ra đời trong quá trình con người hoạt động cải tạo thế giới, cho nên ý thứccon người mang tính năng động, sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu thực tiễn xã hội.Theo K.Marx, ý thức, “chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu
óc con người và được cải biến đi trong đó”
+ Thứ ba, tính sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú và đó là sự
thống nhất của ba mặt:
Trang 22 Một là, trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh Sự trao đổi này
mang tính chất hai chiều, có chọn lọc các thông tin cần thiết
Hai là, mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần
Ba là, chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan, tức là quá trình hiện
thực hoá tư tưởng thông qua hoạt động thực tiễn
Tính sáng tạo của ý thức không có nghĩa là ý thức đẻ ra vật chất Sáng tạo của ýthức là sáng tạo của sự phản ánh theo quy luật và trong khuôn khổ của sự phản ánh,
mà kết quả bao giờ cũng là những khách thể tinh thần
+Thứ tư, Ý thức không phải là một hiện tượng tự nhiên thuần tuý mà là một hiện
tượng xã hội Ý thức chỉ được nảy sinh trong lao động, trong hoạt động cải tạo thế giớicủa con người Hoạt động đó không thể là hoạt động đơn lẻ, mà là hoạt động xã hội,
do đó, ý thức ngay từ đầu đã là sản phẩm của xã hội, và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại.
* Kết cấu của ý thức
Ý thức là một hiện tượng xã hội – tâm lý có kết cấu hết sức phức tạp Tuỳ theocách tiếp cận mà có nhiều cách phân chia khác nhau
- Theo chiều dọc, thì ý thức chính là lát cắt nội tâm của con người, nó bao gồm
các yếu tố: tự ý thức, tiềm thức, vô thức
- Theo chiều ngang: ý thức bao gồm các yếu tố: tri thức, tình cảm, niềm tin, lý
trí Trong đó tri thức là yếu tố cốt lõi Tri thức đóng vai trò là phương thức tồn tại của
ý thức Điều này có nghĩa là không có ý thức thì sẽ không có ý thức
Nếu chỉ có tri thức không thôi thì đó là một ý thức phát triển không toàn diện,
sơ cứng Tri thức được xem là vốn hiểu biết của con người nhưng nếu biến cái tri thức
đó thành hành động thì đó là một quá trình lâu dài Tuy nhiên, sự tác động của thế giớibên ngoài đến con người không chỉ đem lại sự hiểu biết về thế giới mà còn đem lạitình cảm của con người đối với thế giới Tình cảm là một thình thái đặc thù của sự tồntại, nó phản ánh quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thế giớikhách quan Tình cảm tham gia vào mọi hoạt động của con người và là một trongnhững động lực quan trọng của hoạt động con người Tri thức có biến thành tình cảmmãnh liệt mới sâu sắc và thông qua hành động thì tri thức mới biến thành hành độngthực tế, mới phát huy được sức mạnh của mình
3 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
a Vai trò của vật chất đối với ý thức
- Trong tồn tại xã hội, ý thức chỉ là sự phản ánh tồn tại xã hội, tồn tại xã hội thayđổi thì ý thức xã hội sớm muộn cũng phải thay đổi theo Tồn tại xã hội quyết định ý thức
xã hội
- Ý thức xã hội không tồn tại tự nó, nó chỉ có thể hình thành và phát triển trên
cơ sở hoạt động thực tiễn của con người
Trang 23b Tính độc lập tương đối của ý thức
Vai trò của ý thức đối với vật chất chính là vai trò của con người trong quá trìnhcải tạo thế giới khách quan
- Ý thức có tính năng động, sáng tạo nên thông qua hoạt động thực tiễn của conngười có thể thúc đẩy hoặc kìm hảm ở một mức độ nhất định các điều kiện vật chất,góp phần cải biến thế giới khách quan
+ Ý thức phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan nó sẽ góp phần thúc đẩyhiện thực khách quan phát triển
+ Ngược lại, ý thức khi không phản ánh đúng hiện thực khách quan thì nó sẽ trởthành lực cản đối với sự phát triển của hiện thực khách quan
- Sự tác động trở lại của ý thức xã hội đối với thế giới hiện thực khách quan(vật chất) phải dựa trên sự phản ánh thế giới vật chất và các điều kiện khách quan nhấtđịnh
Như vậy, tri thức khoa học giúp con người hiểu biết được những mối liên hệ và
quy luật khách quan nhờ đó mà cải tạo được tự nhiên và xã hội Trình độ nhận thứcquy luật càng cao thì khả năng cải tạo tự nhiên và xã hội càng lớn
c Ý nghĩa phương pháp luận
- Khẳng định vật chất là nguồn gốc khách quan, là cơ sở sản sinh ra ý thức, còn
ý thức chỉ là sản phẩm, là sự phản ánh thế giới khách quan Trong nhận thức và hànhđộng con người phải xuất phát từ hiện thực khách quan, tôn trọng và hành động theohiện thực khách quan, chống chủ nghĩa duy tâm và chủ quan duy ý chí
- Khẳng định ý thức có vai trò tích cực trong sự tác động trở lại đối với vật chất,phép biện chứng duy vật yêu cầu trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn conngười cần phải nhận thức và vận dụng quy luật khách quan một cách chủ động, sángtạo, chống lại thái độ tiêu cực, thụ động
- Sức mạnh của ý thức con người không phải là ở chỗ tách rời những điều kiệnvật chất mà phải biết dựa vào đó, phản ánh đúng quy luật khách quan để cải tạo thếgiới khách quan một cách chủ động, sáng tạo với ý trí và nhiệt tình cao Ý thức củacon người phản ánh càng đầy đủ và chính xác thế giới khách quan thì càng cải tạo thếgiới khách quan có hiệu quả Vì vậy, phải phát huy tính năng động, sáng tạo của ýthức, phát huy vai trò nhân tố con người để tác động, cải tạo thế giới khách quan.Đồng thời phải khắc phục bệnh bảo thủ, trì trệ, thái độ tiêu cực, thụ động, ỷ lại
Trang 24Chương II
PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
I PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
Chúng ta không chỉ cần biết thế giới có tính vật chất tồn tại khách quan mà cònphải biết nó tồn tại như thế nào Điều này cần phải học phép biện chứng Có nhiềungười cảm thấy để nắm vững được phép biện chứng là muôn phần kỳ diệu và khókhăn Bởi vì, giữa phép biện chứng và chủ nghĩa tương đối, giữa phép biện chứng vàthuật nguỵ biện thường chỉ có một khoảng cách rất nhỏ; những người của chủ nghĩatương đối và nguỵ biện thường xuất hiện với bộ mặt của phép biện chứng Điều đócàng tăng thêm sự khó khăn đối với việc lý giải phép biện chứng Kỳ thực, phép biệnchứng không hề thần bí Phép biện chứng vốn có trong sự vận động của thế giới kháchquan và trong hoạt động nhận thức của con người Khi mới ra đời, triết học loài người
đã xuất hiện hình thức biện chứng giản đơn Còn phép biện chứng của chủ nghĩa Marxkhông phải là phép biện chứng giản đơn, mà là phép biện chứng khoa học, tự giác saukhi đã phủ định phương thức siêu hình, là phép biện chứng duy vật mới sau khi sau khi
đã kế tục phép biện chứng chủ quan và phép biện chứng giản đơn Hạt nhân của phépbiện chứng là quy luật đấu tranh và thống nhất của các mặt đối lập Mâu thuẫn khôngnhững là động lực bên trong của sự vận động của thế giới khách quan, mà còn thúcđẩy sự phát triển nhận thức của con người và nhận thức quy luật cơ bản của thế giới.Phép biện chứng không chỉ là thế giới quan mà còn là phương pháp luận Biết rõ phépbiện chứng không bằng hiểu biết thực sự phép biện chứng
1 Phép biện chứng và các hình thức cơ bản của phép biện chứng
a Phép biện chứng
* Khái niệm phép biện chứng
- Biện chứng là bản tính của thế giới tự nhiên, xã hội, tư duy; biện chứng chính
là tính thống nhất trong vận động và phát triển của thế giới.
Biện chứng gồm hai bộ phận:
- Biện chứng khách quan là phạm trù dùng để chỉ biện chứng của bản thân các
sự vật, hiện tượng, quá trình tồn tại độc lập và bên ngoài ý thức con người.
- Biện chứng chủ quan là phạm trù dùng để chỉ tư duy biện chứng và biện
chứng của chính quá trình phản ánh biện chứng khách quan vào đầu óc của con người.
- Phép biện chứng là khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất của mọi
sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy con người.
Phép biện chứng gồm hai bộ phận: Lý luận biện chứng (chủ quan – hữu hạn) phản ánh biện chứng của thế giới (khách quan – vô hạn), và nguyên tắc nhận thức vàthực tiễn
- Phương pháp biện chứng là cái được rút ra từ phép biện chứng, nó tồn tại
dưới dạng nguyên tắc, các công thức, thủ thuật, thủ đoạn và được con người sử dụng như những công cụ, phương tiện trong hoạt động nhận thức.
b Các hình thức cơ bản của phép biện chứng
- Phép biện chứng chất phác thời cổ đại
Trang 25Thời cổ đại Hy Lạp, một số nhà triết học duy tâm (Platon) coi phép biện chứng lànghệ thuật tranh luận để tìm ra chân lý Arixtôt đồng nhất phép biện chứng với lôgíc học.Một số nhà triết học duy vật có tư tưởng biện chứng về sự vật (biện chứng kháchquan) Heraclit coi sự biến đổi của thế giới như một dòng chảy Ông nói: “Mọi vật đềutrôi đi, mọi vật đều biến đổi” “Người ta không thể tắm được hai lần trong cùng mộtdòng sông”.
- Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức
G.V.Hegel, là người xây dựng phép biện chứng tương đối hoàn chỉnh với một hệthống khái niệm, phạm trù, quy luật Tuy nhiên, phép biện chứng G.V.Hegel là phépbiện chứng duy tâm, là phép biện chứng ngược đầu; ông coi biện chứng của ý niệmsinh ra biện chứng của sự vật, chứ không phải ngược lại
- Phép biện chứng duy vật
K.Marx và F.Engels, kế thừa có phê phán hạt nhân hợp lý trong phép biện chứngcủa G.V.Hegel và sáng tạo ra phép biện chứng duy vật, là phép biện chứng dựa trên nềntảng của chủ nghĩa duy vật, xuất phát từ biện chứng khách quan của tự nhiên và xã hội Theo F.Engels : “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quyluật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người vàcủa tư duy” (Tập 20, tr.201)
F.Engels phân biệt biện chứng khách quan (biện chứng của tự nhiên và xã hội )
và biện chứng chủ quan (biện chứng của tư duy)
“Biện chứng gọi là khách quan thì chi phối trong toàn bộ giới tự nhiên, còn biệnchứng gọi là chủ quan, tức là tư duy biện chứng, thì chỉ là phản ánh sự chi phối, trongtoàn bộ giới tự nhiên ” (Tập 20, tr.694)
2 Phép biện chứng duy vật
a Khái niệm phép biện chứng duy vật
Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất giữa lý luận và phương pháp
- Lý luận là gì? Lý luận là hệ thống những khái niệm, phản ảnh bản chất,
những mối liên hệ tất yếu, những quy luật hoạt động và phát triển của đối tượng nghiên cứu.
- Phương pháp là gì? Thuật ngữ “phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là
methodos, theo nghĩa thông thường dùng để chỉ những cách thức, thủ đoạn nhất định,được chủ thể hành động sử dụng để thực hiện những mục đích đã vạch ra Còn theonghĩa chặt chẽ và khoa học, phương pháp là hệ thống những nguyên tắc được rút ra từtri thức về các quy luật khách quan để điều chỉnh hoạt động nhận thức và thực tiễnnhằm thực hiện mục đích nhất định
- Phương pháp luận là gì? Phương pháp luận là tổng thể những nguyên tác
chung chỉ đạo việc thiết kế và sử dụng các nghiên cứu của một số ngành khoa học.
- Phương pháp luận triết học là gì? Phương pháp luận triết học là cấp độ lý luận
cao nhất của phương pháp Nó thiết lập nên các nguyên tắc chung nhất của nhận thức và hoạt động thực tiễn, từ đó định ra các phương pháp phổ biến đặc trưng cho triết học.
- Phép biện chứng duy vật là gì?
F.Engels cho rằng “Phép biện chứng là môn khoa học về những quy luật phổbiến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”(Toàn tập, tập 20, tr.201)
Trang 26Phép biện chứng duy vật là một hệ thống các nguyên lý, nguyên tắc, quy luật
và phạm trù: một mặt giải thích thế giới như một chỉnh thể, mặt khác định hướng cho sự phát triển của khoa học chuyên ngành và hoạt động thực tiễn của con người Nó là một chỉnh thể các hình thức logíc với các yếu tố có chức năng nhất định liên hệ qua lại với thực tiễn; đồng thời nó cũng là một hệ thống mở, đang phát triển.
- Mối quan hệ giữa lý luận và phương pháp trong phép biện chứng duy vật.
Giữa lý luận và phương pháp có mối liên hệ hưu cơ với nhau thể hiện ở chỗ:các nội dung lý luận xác định yêu cầu, những nguyên tắc của phương pháp; cònphương pháp lại đảm bảo thu được những kết quả lý luận tương ứng, xây dựng lý luận
có khả năng thâm nhập vào bản chất của đối tượng được nghiên cứu Nhưng lý luận vàphương pháp cũng không hoà vào nhau, mà là những hình thức tương đối
b Đặc trưng cơ bản và vai trò của phép biện chứng duy vật
Xét từ góc độ kết cấu nội dung, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Lênin có hai đặc trưng cơ bản sau đây:
Mác Thứ nhất, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa MácMác Lênin là phép biện
chứng được xác lập trên nền tảng của thế giới quan duy vật khoa học
- Thứ hai, trong phép biện chứng duy vật có sự thống nhất giữa nội dung thế giới
quan (duy vật biện chứng) và phương pháp luận (biện chứng duy vật), do đó nó khôngdừng lại ở sự giải thích thế giới mà còn là công cụ để nhận thức và cải tạo thế giới
“Các nhà triết học giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song điều quantrọng là cải tạo thế giới”
II CÁC NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
a Khái niệm mối liên hệ và mối liên hệ phổ biến
Thế giới là một chỉnh thể thống nhất, các sự vật, hiện tượng và các quá trình cấuthành thế giới đó vừa tách biệt nhau, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hoálẫn nhau
- Khái niệm mối liên hệ: Mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy
định, sự tác động qua lại, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữacác mặt của một sự vật hiện tượng trong thế giới
Liên hệ là sự ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau, ảnh hưởng, quy định lẫn nhau, tácđộng, chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt bên trong sự vật hoặc giữa các sự vật khácnhau
- Khái niệm mối liên hệ phổ biến: là khái niệm dùng để chỉ tính phổ biến của
các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trong thế giới mà ở đó các sự vật, hiệntượng hoặc các mặt bên trong sự vật có mối liên hệ ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau, ảnhhưởng, quy định lẫn nhau, tác động, chuyển hóa lẫn nhau
b Tính chất của các mối liên hệ
Những người theo chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ nghĩa duy tâm chủquan cho rằng, cái quyết định mối liên hệ, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật,
hiện tượng là một lực lượng siêu tự nhiên hay ở ý thức, cảm giác của con người.
Chẳng hạn, G.W.F Hegel đứng trên lập trường duy tâm khách quan đã cho rằng, “ý
Trang 27niệm tuyệt đối là nền tảng của mối liên hệ còn George Berkeley người theo lập trườngduy tâm chủ quan cho rằng, “cảm giác là nền tảng của mối liên hệ giữa các sự vật, hiệntượng”
Trái lại, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định, tính chất của mối liên hệ phổbiến bao gồm: tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng
- Tính khách quan của mối liên hệ
Mối liên hệ mang tính khách quan Bởi, các sự vật, hiện tượng tạo thành thếgiới đa dạng, phong phú, khác nhau Song chúng đều là những dạng vật thể của thếgiới vật chất Và chính tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ.Nhờ có tính thống nhất đó, các sự vật, hiện tượng, không thể tồn tại biệt lập, tách rờinhau, mà trong sự tác động qua lại chuyển hoá lẫn nhau
Các sự vật, hiện tượng trong thế giới chỉ biểu hiện sự tồn tại của mình thôngqua sự vận động, tác động qua lại lẫn nhau Bản chất, tính quy luật của sự vật, hiệntượng cũng chỉ bộc lộ thông qua sự tác động của chúng với các sự vật, hiện tượngkhác
- Tính phổ biến của các mối liên hệ:
+ Thứ nhất, bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật, hiện tượng
khác Không có sự vật hiện tượng nằm ngoài mối liên hệ Mối liên hệ cũng có ở mọilĩnh vực: tự nhiên, xã hội, tư duy
+ Thứ hai, mối liên hệ biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt, tuỳ theo điều
kiện nhất định Nhưng dù dưới hình thức nào, chúng cũng chỉ là biểu hiện của mối liên
hệ phổ biến nhất, chung nhất
- Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ
Có rất nhiều loại liên hệ khác nhau:
+ Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài;
+ Mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp;
+ Mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu;
+ Mối liên hệ cơ bản và mối liên hệ không cơ bản;
+ Mối liên hệ cụ thể, mối liên hệ chung, mối liên hệ phổ biến
Chính tính đa dạng trong quá trình vận động, tồn tại và phát triển của bản thân
sự vật, hiện tượng quy định tính đa dạng của mối liên hệ Vì vậy, trong sự vật có nhiềumối liên hệ, chứ không phải có một cặp mối liên hệ
Mối liên hệ bên trong là sự tác động qua lại, sự quy định, chuyển hóa lẫn nhau
giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt của một sự vật Mối liên hệ này giữ vai tròquyết định tới sự tồn tại và phát triển của sự vật
Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng với nhau, mối
liên hệ này nhìn chung không giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động, pháttriển của sự vật Và nếu có nó thường phải thông qua mối liên hệ bên trong mới thựchiện được
Ví dụ: Sự lĩnh hội tri thức của người học trước hết và chủ yếu được quyết định
bởi chính người đó (nghệ thuật, truyền thụ tri thức ) dù có tốt, có đầy đủ mà ngườihọc không chịu học, không chịu tiếp nhận thì tri thức cũng không thể tự nó có đượctrong đầu óc người đó
Trang 28Các cặp mối liên hệ khác nhau cũng có mối liên hệ biện chứng với nhau.Đương nhiên mỗi cặp liên hệ có đặc trưng riêng Tuy nhiên, vai trò quyết định của cácmối liên hệ trong từng cặp phụ thuộc vào quan hệ hiện thực xác định.
Sự phân chia từng cặp mối liên hệ chỉ có ý nghĩa tương đối, vì mỗi loại liên hệchỉ có một hình thức, một bộ phận, một mắt xích của mối liên hệ hổ biến Mỗi loại liên
hệ trong từng cặp có thể chuyển hoá lẫn nhau tuỳ theo phạm vi bao quát của mối liên
hệ hoặc do kết quả vận động và phát triển của chính các sự vật
Con người phải nắm bắt đúng các mối liên hệ đó để có các tác động phù hợpnhằm đưa lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của mình
d Ý nghĩa phương pháp luận
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện.
- Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải xem xét sự vật, hiện tượng với tất
cả các mặt, các mối liên hệ; đồng thời phải đánh giá đúng vai trò, vị trí của từng mặt,từng mối liên hệ; nắm được mối liên hệ chủ yếu có vai trò quyết định
- Quan điểm toàn diện bao hàm quan điểm lịch sử cụ thể Quan điểm lịch
sử cụ thể đòi hỏi phải nhận thức đầy đủ các mối liên hệ của sự vật, nắm được bảnchất bên trong, trực tiếp, đồng thời phải nhận thức được không gian, thời gian,điều kiện cụ thể của sự tồn tại và xuất hiện các mối liên hệ, trên cơ sở đó mới nắmbắt được xu hướng biến đổi của các sự vật, hiện tượng
- Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiếm diện Quan điểm phiếmdiện là cách xem xét từng mặt, từng mối liên hệ tách rời nhau, không thấy được mốiliên hệ nhiều vẻ, đa dạng của sự vật
2 Nguyên lý về sự phát triển
a Khái niệm “Vận động” và “phát triển”
* Vận động là mọi biến đổi nói chung, chưa nói lên khuynh hướng cụ thể: đi lên hay đi xuống, tiến bộ hay lạc hậu
Nói cách khác, vận động là biến đổi nói chung, bao gồm hai khuynh hướng:
- Sự vật, hiện tượng cụ thể đều có bước khởi đầu và sự diệt vong
- Xem xét trong tính hệ thống, thì đó là sự kế thừa ngày càng hoàn thiện hơn và
có tính hệ thống hơn
* Phát triển là sự vận động theo hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện.
Như vậy, phát triển không phải là bản thân sự vận động, phát triển chỉ là
khuynh hướng tất yếu của vận động, phát triển nó chỉ khái quát những sự vận động đilên, đó là quá trình không ngừng gia tăng về trình độ, về kết cấu phức tạo của sự vật và
do đó làm nảy sinh tính quy định cao hơn về chất
Nói cách khách phát triển là quá trình làm xuất hiện cái mới, cái tiến bộ thaythế cái cũ, cái lạc hậu
b Nội dung của nguyên lý phát triển
- Phép biện chứng duy vật khẳng định, đổi mới là quá trình diễn ra khôngngừng trong tự nhiên, xã hội và tư duy của con người
+ Trong giới hữu sinh sự phát triển biểu hiện ở khả năng tăng cường thích nghicủa cơ thể trước sự biến đổi của môi trường, ở khả năng sản sinh và hoàn thiện chính
Trang 29mình, ở khả năng hoàn thiện về quá trình trao đổi chất giữa cơ thể sống với môitrường.
+ Trong xã hội, sự phát triển biểu hiện ở khả năng nhận thức, cải biến tự nhiên
và xã hội theo quy luật thông qua hoạt động thực tiễn của con người
+ Trong tư duy, sự phát triển biểu hiện ở khả năng nhận thức ngày càng sâu sắc,đầy đủ hơn về tự nhiên, xã hội và nhận thức chính bản thân con người
- Phép biện chứng duy vật khẳng định, phát triển là khuynh hướng chung củacác sự vật hiện tượng nhưng không diễn ra một cách trực tiếp mà nó quanh co, phức
tạp theo hình “xoáy ốc”, trong đó có thể có những bước thụt lùi tương đối
- Ngược lại, quan điểm siêu hình xem xét sự phát triển chỉ là sự tăng lên haygiảm đi tương đối, không có sự thay đổi gì về mặt chất của sự vật Những người theoquan điểm siêu hình còn coi tất cả chất của sự vật không có sự thay đổi gì trong quátrình tồn tại của chúng Sự vật ra đời với những chất như thế nào thì toàn bộ quá trìnhtồn tại của nó vẫn được giữ nguyên hoặc nếu có thay đổi nhất định về chất thì cũng chỉdiễn ra theo một vòng khép kín Họ cũng coi sự phát triển cũng chỉ là sự thay đổi vềmặt lượng của từng loại mà sự vật đang có, chứ không có sự sinh thành ra cái mới vớinhững chất mới Như vậy, sự phát triển được xem như một quá trình tiến lên liên tục,không có những bước thụt lùi, quanh co, phức tạp
- Về nguồn gốc của sự phát triển, theo quan điểm duy tâm là từ những lựclượng siêu tự nhiên hay ở ý thức của con người Hegel cho rằng, sự phát tiển của giới
tự nhiên, của xã hội đều đã được thiết định trước từ sự vận động của ý niệm tuyệt đối
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định, nguồn gốc của sự phát triển nằmngay trong bản thân sự vật, từ cấu trúc của sự vật, do mâu thuẫn bên trong của sự vậtquy định Do đó, phát triển là tự thân phát triển, là kết quả giải quyết mâu thuẫn bêntrong của sự vật Phát triển là quá trình cái mới ra đời phủ định cái cũ, đồng thời kếthừa những giá trị của cái cũ, tạo ra vòng khâu liên hệ giữa cái cũ và cái mới, tạo rakhuynh hướng phát triển theo đường xoáy ốc, nghĩa là, trong quá trình phát triểndường như có sự quay trở lại điểm xuất phát nhưng trên mộ cơ sở cao hơn
c Tính chất cơ bản của sự phát triển
- Sự phát triển mang thính khách quan Bởi vì, nguồn gốc của sự phát triển
nằm ngay trong bản thân sự vật, do mâu thuẫn trong chính sự vật quy định Đó là quátrình giải quyết liên tục những mâu thuẫn trong bản thân sự vật Sự phát triển như vậykhông phụ thuộc vào ý muốn, nguyện vọng, ý chí, ý thức của con người Dù con người
có muốn hay không muốn, sự vật vẫn luôn phát triển theo khuynh hướng chung củathế giới vật chất
- Sư phát triển mang tính phổ biến Tính phổ biến ở đây được hiểu là nó diễn
ra trong mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy Ở bất cứ sự vật và hiện tượng nàocủa thế giới khách quan
- Sự phát triển còn mang tính đa dạng, phong phú: khuynh hướng phát triển
là khuynh hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng Song mỗi sự vật, hiện tượng lại cóquá trình phát triển khác nhau, tồn tại ở không gian và thời gian khác nhau, sự pháttriển sẽ khác nhau Đồng thời, trong quá trình phát triển, sự vật còn chịu tác động củacác sự vật, hiện tượng khác, của các điều kiện có thể thúc đẩy hoặc kìm hảm sự phát
Trang 30triển của sự vật, đôi khi có thể làm thay đổi chiều hướng phát triển của sự vật, thậmchí có thể làm sự vật thụt lùi
d Ý nghĩa phương pháp luận
Nghiên cứu nguyên lý về sự phát triển giúp chúng ta rút ra được phương phápluận khoa học để nhận thức và cải tạo thế giới
- Giới tự nhiên, xã hội và tư duy đều trong quá trình vận động và phát triểnkhông ngừng Bản chất khách quan của các quá trình hiện thực đòi hỏi nhận thứcmuốn phản ánh đúng hiện thực khách quan thì cần phải có quan điểm phát triển
- Quan điểm phát triển yêu cầu khi xem xét các sự vật hiện tượng phải đặt nótrong sự vận động, trong sự phát triển, phải phát hiện ra các xu hướng biến đổi, chuyểnhoá của chúng
- Quan điểm phát triển đối lập với quan điểm bảo thủ, trì truệ, việc tuyệt đối hoátri thức là kết quả của sự nhận thức về sự vật trong một hoàn cảnh cụ thể và xem xét
nó như là tri thức đúng cho cả quá trình phát triển của sự vật
- Quan điểm phát triển đòi hỏi phải nhận thức các sự vật, hiện tượng trong thực
tế, và xem đó là quá trình biện chứng đầy mâu thuẫn Do đó, hoạt động thực tiễn làquá trình tìm ra mâu thuẫn, phân tích mâu tuẫn và tìm ra giải pháp để giải quyết mâuthuẫn Chỉ bằng cách đó chúng ta mới góp phần tích cực vào sự phát triển V.I.Lênincho rằng, để có tri thức đúng về sự vật “bản thân sự vật phải được xem xét trongnhững quan hệ của nó và trong sự phát triển của nó” Điều này còn có ý nghĩa là, trongcác hoạt động của con người chúng ta cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể Quanđiểm này đòi hỏi khi nhận thức và tác động vào sự vật phải chú ý đến điều kiện, hoàncảnh lịch sử cụ thể, môi trường cụ thể trong đó sự vật sinh ra, tồn tại và phát triển
- Quan điểm phát triển đòi hỏi khi xem xét sự vật, hiện tượng phải nhìn thấykhuynh hướng biến đổi trong tương lai của chúng: cái cũ, cái lạc hậu sẽ mất đi; cáimới, cái tiến bộ sẻ ra đời thay thế cái cũ, cái lạc hậu Phải có thái độ lạc quan tin tưởng
ở sự tất thắng của cái mới, cái tiến bộ
III CÁC CẶP PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
- Định nghĩa khái niệm:
Khái niệm là hình thức tư duy phản ánh những mặt, những thuộc tính quan
trọng nhất của một lớp sự vật, hiện tượng nhất định
Tuỳ thuộc vào số lượng của sự vật, hiện tượng được khái niệm phản ánh mà ta
có các khái niệm rộng hẹp khác nhau
Định nghĩa phạm trù:
Khái niệm rộng nhất, phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên
hệ chung, cơ bản nhất của các sự vật, hiện tượng thuộc một lĩnh vực hiện thực nhất
định được gọi là phạm trù.
Mỗi một môn khoa học riêng đều có phạm trù riêng của mình
Ví dụ: các phạm trù năng lượng, khối lượng, sóng, hạt, điện từ, từ trường
trong vật lý học; biến dị - di truyền, đồng hoá - dị hoá trong sinh học; hàng hoá, giátrị trong kinh tế học v.v
Khác với các phạm trù trên đây các phạm trù của phép biện chứng duy vật như:vật chất, ý thức, lượng, chất, mâu thuẫn, nguyên nhân, kết quả, tất nhiên, ngẫu nhiên
Trang 31là những khái niệm chung nhất phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên
hệ cơ bản, phổ biến nhất của toàn bộ thế giới hiện thực (tự nhiên, xã hội và tư duy)
* Lý luận về phạm trù có ngay từ thời cổ đại, nhưng các trường phái triết họckhác nhau đã giải đáp vấn đề bản chất của phạm trù theo những cách khác nhau:
- Những người của phái duy thực coi phạm trù là những bản chất của ý niệm,tồn tại ở bên ngoài và độc lập với ý thức của con người Ngược, lại những người theotrường phái duy danh lại coi phạm trù chỉ là những từ trống rỗng, không thể hiện mộtcái gì cả
- Imanuel Kant và những người thuộc phái của ông lại coi phạm trù là sự phảnánh những mặt nào đó của hiện thực, mà những hình thức nhận biết tồn tại vốn có sẵncủa tư duy con người, có trước mọi kinh nghiệm và không phụ thuộc vào kinh nghiệm,được lý trí của con người đưa vào giới tự nhiên
- Ngược lại với những quan điểm trên đây, chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng:+ Các phạm trù được hình thành trong quá trình nhận thức và hoạt động thựctiễn Mỗi phạm trù là kết quả của giai đoạn nhận thức trước đó, đồng thời là điểm tựacủa giai đoạn nhận thức kế tiếp của con người trong quá trình đi sâu vào tìm hiểu bảnchất của sự vật Vì vậy, V.I.Lênin cho rằng, các phạm trù là bậc thang của quá trìnhnhận thức
+ Là kết quả của hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn, các phạmtrù phản ánh những thuộc tính, những mối liên hệ tương ứng vốn có sẵn trong bản thânhiện thực Vì vậy, nội dung của chúng mang tính khách quan, bị thế giới khách quanquy định, mặt dù hình thức tồn tại của chúng là chủ quan Do đó, các phạm trù chính làhình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
+ Vì là những hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, mà bản thân thế giớikhách quan lại ở trong trạng thái vận động biến đổi không ngừng; mặt khác, sự nhậnthức của con người về thế giới đó ngày càng trở nên sâu sắc hơn cho nên, các phạm trùphản ánh chúng cũng phát triển theo và hệ thống các phạm trù của triết học cũng ngàycàng được bổ sung bằng những phạm trù mới hơn
1 Cái chung và cái riêng
a Phạm trù cái chung và cái riêng; cái đơn nhất
* Định nghĩa cái riêng
Trong Bút ký triêt học V.I.Lênin đã nhận xét rằng, “bất cứ cái riêng nào cũngthông qua hàng nghìn sự chuyển hoá mà liên hệ với cái riêng thuộc loại khác” (sự vật,hiện tượng, quá trình)
Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiệng tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định.
Ví dụ: + 2 bông hoa hồng của cùng một cây cũng khác nhau về số lượng cánh,
chiều dài cánh hoa, vị trí tương quan giữa các cánh hoa, màu sắc
+ 2 người cùng giới, thậm chí là song sinh cũng có những khác nhau vềmột loạt tham số: trọng lượng, màu da, chiều cao, tính cách
Tất cả những điểm khác nhau đó gọi là cái riêng của một sự vật hiện tượng,
một quá trình riêng lẻ nhất định
* Định nghĩa cái chung
Trang 32Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính chung không những chỉ có ở một kết cấu vật chất nhất định mà còn được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác.
Ví dụ: + Nguyên tử của bất cứ nguyên tố hoá học nào cũng có nhân ở giữa và
các điện tử quay xung quanh nhân Nhân nguyên tử của mọi nguyên tố hó học đềuđược tạo bởi 2 loại hat: nơtron và proton
+ Tất cả giới sinh vật (từ sinh vật có 1 tế bào (đơn bào) đến thực vật,động vật và cả con người) đều tòn tại quá trình đồng hoá và dị hoá, đây là đặc trưngcủa sự sống
* Định nghĩa cái đơn nhất
Cái đơn nhất là phạm trù triết học dùng để chỉ những nét, những mặt, những thuộc tính chỉ có ở một kết cấu vật chất nhất định nào đó và không được lặp lại ở bất kỳ một kết cấu vật chất nào khác
Ví dụ: Vân tay, tính cách của mỗi con người không ai giống ai
* Định nghĩa cái đặc thù
Cái đặc thù là phạm trù dùng để chỉ những thuộc tính, những đặc điểm, những bộ phận giống nhau tồn tại ở một số sự vật, hiện tượng (không tồn tại ở tất
cả các sự vật hiện tượng).
Ví dụ: lao động, tư duy là những cái vốn chỉ tồn tại ở con người (động vật cấp
cao) chứ nó không tồn tại ở các loài sinh vật khác
* Định nghĩa cái phổ biến
Cái phổ biến không chỉ nói lên tính chất của bản chất mà còn nói lên cái không có tính chất bản chất và tồn tại ở rất nhiều sự vật hiện tượng
Ví dụ: Trong đào tạo theo tín chỉ sinh viên bỏ giờ rất nhiều và kết quả học tập
của nhiều sv không cao Đây là tình trạng chung – “cái chung” nhưng nó lại khôngmang tính chất bản chất (phổ biến) của sinh viên
b Tính chất và mối quan hệ biện chứng giữa cái chung, cái riêng và cái đơn nhất
Vấn đề mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng là một trong những vấn đề quantrọng nhất, khó khăn nhất của triết học nói riêng của sự nhận thức nhân loại nói chung.Trong quá trình tìm lời giải cho vấn đề này, trong lịch sử triết học đã hình thành haiphái rõ rệt đó là: phái duy thực và duy danh
- Phái duy thực cho rằng, cái chung tồn tại độc lập không phụ thuộc vào cái
riêng còn cái riêng hoặc không tồn tại, hoặc nếu có tồn tại cũng là do cái chung nảysinh ra và chỉ là tạm thời trong một thời gian nhất định rồi sau đó mất đi, trong khi đócái chung tồn tại vĩnh viễn, không trải qua một biến đổi nào cả
- Phái duy danh lại phát triển một quan điểm ngược lại Họ cho rằng, cái riêng
tồn tại thực sự, còn cái chung chỉ là những tên gọi do lý trí đặt ra chứ không phản ánhmột cái gì trong hiện thực
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, cái riêng, cái chung và cái đơn nhất
đều tồn tại và khẳng định:
+ Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng để biểu hiện sự tồn
tại của mình Điều này có nghĩa là không có cái chung trừu tượng, thuần tuý tồn tạiđộc lập ở bên ngoài cái riêng
Trang 33Ví dụ: Chúng ta sẽ không có khái niệm sinh viên nếu không có từng sinh viên cụ
thể
+ Cái riêng chỉ tồn tại trong mối quan hệ đưa đến cái chung Điều này có nghĩa
là cái riêng tồn tại độc lập nhưng sự tồn tại độc lập đó không có nghĩa là cái riêng hoàntoàn cô lập với cái khác Ngược lại, bất cứ một cái riêng nào bao giờ cũng tham giavào các mối quan hệ, liên hệ qua lại hết sức đa dạng với các sự vật hiện tượng khácxung quanh mình Không có cái riêng nào là tồn tại vĩnh viễn
+ Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, còn cái chung là cái bộ
phận nhưng là cái sâu sắc hơn cái riêng (ta nói cái chung là bộ phận của cái riêngnhưng đây là bộ phận có tính chất bản chất chứ không phải là bộ phận hợp thành củacái riêng, nó được xác định trong mối quan hệ cụ thể)
+ Trong quá trình vận động và phát triển liên tục của sự vật, hiện tượng, trongnhững điều kiện nhất định cái đơn nhất, cái chung (phổ biến) có thể chuyển hoá cho nhau
Có điều này là bởi vì, trong hiện thực, cái mới không bao giờ xuất hiện đầy đủ ngay mộtlúc mà lúc đầu nó xuất hiện dưới dạng cái đơn nhất, cái cá biệt Nhưng theo quy luật của
sự phát triển, cái mới nhất định sẽ phát triển mạnh lên, ngày càng trở nên hoàn thiện tiếntới hoàn thoàn thắng cái cũ Ngược lại, cái cũ ngày càng mất đi từ chỗ là cái chung nóbiến thành cái đơn nhất
c Ý nghĩa phương pháp luận
- Khẳng định cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng để biểu
hiện sự tồn tại của mình Phép biện chứng duy vật yêu cầu chhúng ta muốn tìm cáichung, nhận thức cái chung thì phải bắt đầu từ việc nhận thức từng cái riêng cụ thể, đểkhái quát những đặc điểm chung giống nhau giữa các sự vật, hiện tượng riêng lẻ đó
- Cái cung là cái bản chất, là cái sâu sắc hơn cho nên trong hoạt động thực tiễncần phải lấy cái chung làm định hướng cho mọi hoạt động, mặt khác để cho sự vậndụng có hiệu quả tích cực thì cần phải cá biệt hoá cái chung một cách phù hợp chotừng điều kiện cụ thể của từng cái riêng cụ thể
- Khẳng định tính phong phú của cái tiêng so với cai chung, trong hoạt độngthực tiễn cần phải phát huy những đặc điểm riêng của từng cái riêng nhằm tạo nênnhiều lực lượng cho sản xuất phát triển
- Trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn cần phải nhận thức vàhành động đầy đủ mối quan hệ gữa cái riêng và cái chung, cần tránh và chống:
+ Chủ nghĩa giáo điều, tả khunynh: vận dụng cái chung một cách máy móc,không có chọn lọc Ngược lại, xem thường cái riêng, chỉ chú ý đến cái đơn nhất, tuyệtđối hoá cái đơn nhất thì sẽ rơi vào sai lầm của những người hữu khuynh xét lại
+ Chủ nghĩa kinh nghiệm, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi: vì cái riêng gắn bó chặtchẽ với cái chung Cho nên để giải quyết những vấn đề riêng một cách có hiệu quả thìkhông thể lãng tránh được việc giải quyết những vấn đề chung Những vấn đề lý luậnliên quan đến vấn đề đó Nếu không giải quyết được những vấn đề lý luận chung thì sẽkhông tránh khỏi xa vào tình trạng mò mẫm, tuỳ tiện, kinh nghiệm chủ nghĩa
2 Bản chất và hiện tượng
a Phạm trù bản chất, hiện tượng
Trang 34- Bản chất là một phạm trù dùng để chỉ sự tổng hợp tất cả những thuộc tính, những mối liên hệ tất nhiên, hợp thành một tổng thể thống nhất hữu cơ bên trong quy định sự vận động và phát triển của sự vật
- Hiện tượng là một phạm trù dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, nhữn mối liên hệ biểu hiện ra bên ngoài của một bản chất nhất định
b Tính chất và mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng
* Tính chất
- Phạm trù bản chất gắn bó hết sức chặt chẽ với phạm trù cái chung Cái tạo nên bảnchất của một lớp sự vật nhất định, đồng thời là cái chung của sự vật đó Tuy nhiên, khôngphải cái chung nào cũng là cái bản chất, vì bản chất chỉ là cái chung tất yếu, quyết định sự tồntại và phát triển của sự vật
- Cái bản chất cũng đồng thời là cái có tính quy luật Nói đến bản chất của sựvật là nói đến tổ hợp những quy luật quyết định sự vận động và phát triển của nó Vìvậy, bản chất là phạm trù cùng bậc với quy luật Tuy bản chất và quy luật là nhữngphạm trù cùng bậc nhưng chúng không hoàn toàn đồng nhất với nhau Quy luật là mốiliên hệ tất nhiên, phổ biến, lặp đi, lặp lại và ổn định giữa các hiện tượng hay giữa cácmặt của chúng Còn bản chất là tổng hợp các mối liên hệ tất nhiên tương đối ổn định ởbên trong sự vật, nghĩa là ngoài những mối liên hệ tất nhiên, phổ biến chung cho nhiềuhiện tượng nó còn bao gồm cả những mối liên hệ tất nhiên, không phổ biến, cá biệtnữa Như vậy, phạm trù bản chất rộng lớn và phong phú hơn phạm trù quy luật
* Mối liên hệ giữa bản chất và hiện tượng
- Bản chất và hiện tượng tồn tại khách quan Bản chất và hiện tượng trong quátrình tồn tại của mình, vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn lẫn nhau Bản chất bao giờ cũngđược bộc lộ ra thông qua hiện tượng Còn hiện tượng bao giờ cũng là sự tồn tại thôngqua cái bản chất Không thể có hiện tượng và bản chất tồn tại tách rời nhau
- Tính thống nhất giữa bản chất và hiện tượng Mỗi sự vật là một sự thống nhấtgiữa bản chất và hiện tượng Khi bản chất thay đổi thì hiện tượng cũng thay đổi theo
- Sự đối lập giữa bản chất và hiện tượng:
+ Bản chất là cái bên trong đối lập với hiện tượng là cái bên ngoài Tuy nhiên,không phải lúc nào cái bên ngoài cũng phản ánh cái bên trong, thậm chí có lúc nókhông chỉ phản ánh không đúng mà còn xuyên tạc bản chất (đây gọi là hiện tượng giả)
+ Bản chất là cái tương đối ổn định và hiện tượng là cái thường xuyên biến đổi.+ Bản chất là cái sâu sắc hơn hiện tượng và hiện tượng là cái phong phúhơn bản chất
c Ý nghĩa phương pháp luận
- Khẳng định bản chất là cái bên trong tương đối ổn định, còn hiện tượng là cái
bên ngoài thường xuyên biến đổi, phép biện chứng duy vật yêu cầu chúng ta trongnhận thức không được dừng lại ở cái hiện tượng mà phải căn cứ, đi sâu vào bản chất
- Khẳng định bản chất bao giờ cũng được bộc lộ ra thông qua cái hiện tượng, chonên muốn nhận thức được bản chất thì phải bắt đầu nhận thức cái hiện tượng Tuynhiên, để nhận thức đúng cái bản chất thì cần phải phân loại các hiện tượng để gạt bỏ
các hiện tượng không phản ánh đúng bản chất, loại bỏ các hiện tượng giả
3 Tất nhiên và ngẫu nhiên
a Phạm trù tất nhiên và ngẫu nhiên
Trang 35- Tất nhiên là phạm trù dùng để chỉ cái do những nguyên nhân cơ bản bên trong
của kết cấu vật chất quyết định và trong những điều kiện nhất định phải xảy ra đúng như thế chứ không phải khác.
- Ngẫu nhiên là phạm trù dùng để chỉ cái không phải do bản thân kết cấu của sự vật mà do các nguyên nhân bên ngoài, do sự ngẫu hợp của nhiều hoàn cảnh bên ngoài quyết định Do đó, nó có thể xuất hiện, có thể không xuất hiện, có thể xuất hiện như thế này, cũng có thể xuất hiện như thế khác.
b Tính chất và mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên
- Phạm trù cái tất nhiên - ngẫu nhiên với tính nhân quả Như đã nói ở trên, bất kỳhiện tượng nào cũng có nguyên nhân Vì vậy, cái tất nhiên lẫn cái ngẫu nhiên đều cónguyên nhân Sự khác nhau giữa chúng chỉ là ở chỗ, cái tất nhiên gắn liền với nguyênnhân cơ bản nội tại của sự vật, còn cái ngẫu nhiên là kết quả tác động của một sốnguyên nhân bên ngoài
- Mối quan hệ giữa tất nhiên và ngẫu nhiên với tính quy luật
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, những hiện tượng nào là tất nhiên thì phải tuân theoquy luật, còn những hiện tượng nào là ngẫu nhiên thì không tuân theo quy luật Quan điểmnày thật ra không đúng Trên thực tế, cả cái tất nhiên và cái ngẫu nhiên đều tuân theo quyluật Sự khác nhau giữa chúng chỉ là ở chỗ, cái tất nhiên tuân theo quy luật được gọi là cáiquy luật động lực, còn cái ngẫu nhiên tuân theo quy luật khác được gọi là quy luật thống kê
Quy luật động lực là gì? Quy luật động lực là quy luật mà trong đó mối quan hệ
qua lại giữa nguyên nhân và kết quả là mối quan hệ đơn trị, nghĩa là ứng với một nguyênnhân thì có một kết quả xác định
Quy luật thống kê là gì? Quy luật thống kê là quy luật mà trong đó mối quan hệ
giữa nguyên nhân và kết quả là mối quan hệ đa trị, nghĩa là ứng với một nguyên nhân thì cóthể có kết quả như thế này, cũng có thể có kết quả như thế khác
* Mối quan hệ giữa tất nhiên và ngẫu nhiên
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, cả tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại kháchquan, ở bên ngoài và độc lập với ý thức của con người
K.Marx đã viết, “lịch sử sẽ mang tính thần bí nếu những cái ngẫu nhiên không có tácdụng gì cả Những cái ngẫu nhiên này chính là một bộ phận trong tiến trình phát triểnchung, và sự phát triển diễn ra nhanh hay chậm phụ thuộc rất nhiều vào cái ngẫu nhiên, kể
cả những cái ngẫu nhiên rất nhỏ” (Ví dụ: cá tính của những người lãnh đạo phong trào)
- Tất nhiên và ngẫu nhiên bao giờ cũng tồn tại trong sự thống nhất hữu cơ Song, sựthống nhất hữu cơ đó thể hiện ở chỗ, cái tất nhiên bao giờ cũng vạch đường đi cho mìnhxuyên qua vô vàn cái ngẫu nhiên, còn cái ngẫu nhiên là hình thức biểu hiện của cái tấtnhiên, đồng thời là cái bổ sung cho cái tất nhiên Điều này giúp ta khẳng định, cái tất nhiên
Trang 36là khuynh hướng của sự phát triển, nhưng khuynh hướng ấy mỗi khi bộc lộ mình thì baogiờ cũng phải bộc lộ ra dưới hình thức ngẫu nhiên nào đó so với chiều hướng chung
F.Engels viết: “Cái mà người ta quả quyết cho là tất yếu lại hoàn toàn do những ngẫunhiên thuần tuý cấu thành, và cái được coi là ngẫu nhiên lại là hình thức, dưới đó ẩn nấp cáitất yếu”
- Tất nhiên và ngẫu nhiên không phải tồn tại vĩnh viễn ở trạng thái cũ mà thườngxuyên thay đổi, phát triển và trong những điều kiện nhất định chúng chuyển hoá lẫn nhau,tất nhiên biến thành ngẫu nhiên và ngược lại
Chú ý: Ranh giới giữa cái tất nhiên và cái ngẫu nhiên chỉ có tính tương đối Thông qua
những mặt này cua quan hệ này thì biểu hiện là ngẫu nhiên nhưng thông qua những mặtkhác hay mối quan hệ khác thì lại biểu hiện là tất nhiên và ngược lại Do vậy, chúng ta cầntránh cái nhìn cứng nhắc khi xem xét sự vật và hiện tượng
c Ý nghĩa phương pháp luận
- Trong hoạt động thực tiễn ta cần dựa vào cái tất nhiên chứ không thể dựa vào cáingẫu nhiên Nhưng không phải vì thế mà bỏ qua cái ngẫu nhiên, vì, tuy cái ngẫu nhiênkhông chi phối sự phát triển của sự vật nhưng nó vẫn có ảnh hưởng đến sự phát triển ấy,đôi khi có thể làm cho tiến trình phát triển bình thường của sự vật đột ngột biến đổi
- Trong hoạt động thực tiễn ta cần dựa vào cái tất nhiên, thì nhiệm vụ của nhậnthức nói chung, của nhận thức khoa học nói riêng cần phải nhận thức cái tất nhiên
- Vì cái tất nhiên không tồn tại dưới dạng thuần tuý mà bao giờ cũng bộc lộ rabên ngoài thông qua cái ngẫu nhiên, cho nên muốn nhận thức cái tất nhiên cần bắt đầu
từ cái ngẫu nhiên
- Cái ngẫu nhiên cũng không tồn tại một cách thuần tuý mà bao giờ cũng là hìnhthức trong đó ẩn nấp cái tất nhiên Cho nên, trong hoạt động nhận thức cũng như tronghoạt động thực tiễn không nên bỏ qua cái ngẫu nhiên mà bao giờ cũng phải chú ý tìm
ra cái tất nhiên ẩn dấu đằng sau cái ngẫu nhiên đó
- Không phải cái chung nào đồng thời cũng là cái tất nhiên, cho nên vạch ra đượccái chung chưa có ý nghĩa là đã vạch ra được cái tất nhiên Đó mới chỉ là một bướctrên con đường vạch ra cái tất nhiên mà thôi
- Trong những điều kiện nhất định, cái tất nhiên có thể biến thành cái ngẫu nhiên
và ngược lại Cho nên cần chú ý tạo ra những điều kiện cần thiết hoặc để ngăn trở hoặc
để sự chuyển hoá đó diễn ra tuỳ theo yêu cầu của hoạt động thực tiễn
4 Nguyên nhân và kết quả
a Phạm trù nguyên nhân và kết quả
- Nguyên nhân là phạm trù để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một
sự vật hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau gây ra một biến đổi nhất định.
- Kết quả là phạm trù dùng để chỉ những biến đổi do sự tác động lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hoặc các mặt trong cùng một sự vật, hiện tượng gây ra Kết quả chỉ sự biến đổi do nguyên nhân gây ra
b Tính chất và mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
* Tính chất:
- Tính khách quan: Sự vật, hiện tượng tồn tại ngoài ý muốn của con người,
không phụ thuộc vào việc ta có nhận thức được nó hay không
Trang 37- Tính phổ biến: Tất cả mọi sự vật, hiện tượng đều có nguyên nhân nhất định,
không có hiện tượng nào là không có nguyên nhân, chỉ có điều nguyên nhân đó đượcphát hiện hay chưa mà thôi
- Tính tất yếu: Kết quả là do nguyên nhân gây ra và phụ thuộc vào những điều
kiện nhất định Một nguyên nhân nhất định trong một hoàn cảnh nhất định chỉ có thểgây ra một kết quả nhất định
Ví dụ: Nước ở áp suất 1 ápmốtphe luôn luôn sôi ở 1000c Thóc khi reo xuốngruộng chỉ có thể ra lúa chứ không thể ra ngô hay khoai
- Nguyên nhân khác nguyên cớ.
Nguyên cớ mang tính chủ quan dùng để che đậy những nguyên nhân Nguyên cớ
là điều kiện là cái rất cần thiết để chuyển hoá nguyên nhân thành kết quả
* Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả:
- Nguyên nhân quyết định kết quả
- Nguyên nhân có trước, sinh ra kết quả
- Nguyên nhân thế nào thì sinh ra kết quả thế ấy Một nguyên nhân có thể gâynên nhiều kết quả và ngược lại, một kết quả cũng có thể do nhiều nguyên nhân gây ra
Mối quan hệ nhân quả không chỉ đơn thuần là sự đi kế tiếp nhau về thời gian(cái này có trước cái kia), mà là mối liên hệ sản sinh: cái này tất yếu sinh ra cái kia
Cùng một nguyên nhân sinh ra nhiều kết quả và ngược lại, một kết quả do nhiềunguyên nhân sinh ra Do đó, mối quan hệ nhân quả rất phức tạp Trong trường hợpnhiều nguyên nhân cùng tham gia sinh ra một kết quả, người ta chia ra các loại nguyênnhân:
+ Nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài
+ Nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân gián tiếp
+ Nguyên nhân cơ bản và nguyên nhân không cơ bản
+ Nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu
+ Nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan
+ Kết quả tác động trở lại nguyên nhân
Kết quả có tác động trở lại nguyên nhân theo hai hướng:
+ Thúc đẩy nguyên nhân
c Ý nghĩa phương pháp luận
- Cặp phạm trù nguyên nhân - kết quả của phép biện chứng duy vật là cơ sở lýluận để giải thích một cách đúng đắn mối quan hệ nhân - quả; chống lại các quan điểmduy tâm, tôn giáo về những nguyên nhân thần bí
Trang 38- Vì nguyên nhân quyết định kết quả nên muốn có một kết quả nhất định thìphải có nguyên nhân và điều kiện nhất định Muốn khắc phục một hiện tượng tiêu cựcthì phải tiêu diệt nguyên nhân sinh ra nó.
- Phân loại nguyên nhân, tìm ra nguyên nhân cơ bản, nguyên nhân chủ yếu giữvai trò quyết định đối với kết quả
- Biết sử dụng sức mạnh tổng hợp của nhiều nguyên nhân để tạo ra kết quả nhất định
- Biết sử dụng kết quả để tác động lại nguyên nhân, thúc đẩy nguyên nhân tích
cực, hạn chế nguyên nhân tiêu cực
b Tính chất và mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức
+ Nội dung và hình thức gắn bó với nhau trong mỗi sự vật Không có nội dungnào lại không có một hình thức nhất định Cũng không có một hình thức nào lại khôngchứa đựng một nội dung nhất định
+ Nội dung quyết định hình thức Bởi vì, mối liên hệ giữa những mặt, nhữngyếu tố, những bộ phận thì do chính những mặt, những yếu tố, bộ phận đó quyết định
Hình thức phải phù hợp với nội dung Tuy nhiên, sự phù hợp giữa hình thức vớinội dung không cứng nhắc Cùng một nội dung nhưng trong những điều kiện tồn tạikhác nhau có thể có nhiều hình thức khác nhau
+ Hình thức có tác động trở lại nội dung Nếu hình thức phù hợp với nội dung
sẽ tạo điều kiện cho nội dung phát triển Ngược lại, nếu hình thức không phù hợp vớinội dung sẽ cản trở sự phát triển của nội dung
Ví dụ: sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đến sự phát triển của lực lượng
sản xuất
+ Khi hình thức cũ, lỗi thời mâu thuẫn với nội dung mới Cuộc đấu tranh giữanội dung và hình thức sẽ dẫn đến xóa bỏ hình thức cũ, thay bằng hình thức mới chophù hợp với nội dung mới Đồng thời nội dung cũng được cải tạo lại Lênnin: “Đấutranh giữa nội dung với hình thức, vứt bỏ hình thức, cải tạo nội dung”
c Ý nghĩa phương pháp luận
- Trong hoạt động thực tiễn, cần tránh sự tách rời giữa nội dung và hình thức
- Vì nội dung quyết định hình thức cho nên khi xem xét sự vật, hiện tượng,trước hết cần căn cứ vào nội dung của nó
- Trong hoạt động thực tiễn, cần phải biết sử dụng nhiều hình thức để phục vụcho một nội dung nhất định
Trang 39- Cần thường xuyên đổi mới nội dung và hình thức hoạt động cho phù hợp vớitình hình mới.
6 Khả năng và hiện thực
a Định nghĩa
- Khả năng là cái chưa có, chưa tới, nhưng sẽ có, sẽ tới trong những điều kiện nhất định.
- Hiện thực là cái đang tồn tại trong thực tế
Hiện thực có hiện thực vật chất và hiện thực tinh thần
Khả năng có khả năng tất nhiên và khả năng ngẫu nhiên Khả năng còn được chiara: khả năng gần và khả năng xa
b Tính chất và mối quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực
- Khả năng và hiện thực không tách rời nhau; chúng làm tiền đề cho nhau,chuyển hóa lẫn nhau
- Khả năng trong những điều kiện nhất định thì biến thành hiện thực Hiện thựcmới lại mở ra khả năng mới
- Cùng một điều kiện nhất định có thể tồn tại nhiều khả năng, chớ không phải chỉ
có một khả năng
- Khả năng biến thành hiện thực cần phải có những điều kiện nhất định
- Sự chuyển hóa khả năng thành hiện thực trong tự nhiên diễn ra một cách tựphát, không cần có sự tham gia của con người Trái lại, trong đời sống xã hội, khảnăng biến thành hiện thực phải thông qua hoạt động của con người
c.Ý nghĩa phương pháp luận
+ Khả năng và hiện thực không tách rời nhau, nên trong hiện thực cần xác địnhkhả năng phát triển của sự vật, lựa chọn khả năng tất yếu và tạo điều kiện để thúc đẩy
sự vật tiến lên Tranh thủ khả năng có lợi, đề phòng khả năng có hại
+ Phân biệt khả năng với cái không khả năng; khả năng với hiện thực để tránhrơi vào ảo tưởng
+ Trong đời sống xã hội, để khả năng biến thành hiện thực cần phát huy tối đatính năng động chủ quan của con người Cần có chính sách thích hợp để phát huy mọitiềm năng sáng tạo của nhân dân
IV CÁC QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
Quy luật là gì? Vai trò của con người đối với quy luật
* Quy luật là gì?
+ Theo quan điểm duy tâm, tôn giáo, quy luật là sự an bài của một lực lượng siêu
tự nhiên (Trời, Thượng đế) hoặc là mối liên hệ lặp đi lặp lại của những cảm giác củacon người
+ Quan điểm duy vật biện chứng:
Quy luật là mối liên hệ bản chất, tất nhiên, tương đối ổn định và lặp đi lặp lại của các mặt bên trong sự vật hoặc giữa các sự vật, hiện tượng.
- Quy luật không phải là cái gì từ bên ngoài giới tự nhiên, từ bên ngoài sự vật ápđặt cho sự vật, mà chính là mối liên hệ của sự vật, hiện tượng
- Quy luật là mối liên hệ bản chất, chứ không phải bất cứ mối liên hệ nào Mốiliên hệ hiện tượng không phải là quy luật
- Quy luật là mối liên hệ tương đối ổn định
Trang 40* Các loại quy luật:
- Xét trong từng lĩnh vực khác nhau của thế giới, người ta chia ra:
+ Quy luật tự nhiên
+ Quy luật xã hội
+ Quy luật tư duy
Quy luật tự nhiên và quy luật xã hội đều là quy luật khách quan không phụ thuộc
ý muốn chủ quan của con người Tuy nhiên, quy luật tự nhiên, quy luật xã hội và quyluật của tư duy có sự khác nhau:
Quy luật tự nhiên phát huy tác dụng một cách mù quáng, không có ý thức, không
có mục đích
Quy luật xã hội chỉ phát huy tác dụng thông qua hoạt động có ý thức, có mụcđích của con người Tuy nhiên, quy luật xã hội cũng không phụ thuộc ý thức chủ quancủa con người
Quy luật của tư duy là phản ánh quy luật khách quan vào trong đầu óc con người
- Xét về phạm vi tác động của quy luật:
+ Quy luật đặc thù
+ Quy luật chung
+ Quy luật phổ biến
Các khoa học cụ thể nghiên cứu những quy luật đặc thù và quy luật chung Phépbiện chứng nghiên cứu những quy luật phổ biến, tức những quy luật chung nhất trong
tự nhiên, xã hội và tư duy
* Vai trò của con người đối với quy luật
Con người không thể tạo ra hay xóa bỏ quy luật khách quan, không thể bất chấphay làm trái quy luật khách quan
Con người có thể nhận thức được quy luật và hành động phù hợp với quy luật
Con người có thể vận dụng được quy luật một cách có kế hoạch, hạn chế mặttiêu cực, phát huy mặt tích cực của quy luật, hướng quy luật tự nhiên và xã hội vàophục vụ sản xuất và cuộc sống của con người
* Quan hệ giữa việc tuân theo quy luật khách quan và hoạt động tự do, sáng tạo của con người (quan hệ giữa tất yếu và tự do)
Trong hoạt động, con người vừa phải tuân theo quy luật khách quan, vừa có tự dosáng tạo trong hoạt động của mình
Tự do sáng tạo không phải là làm trái với quy luật khách quan mà phải phù hợpvới chúng
Khi con người chưa nhận thức được quy luật thì con người bị chi phối bởi cái tấtyếu mù quáng (tính quy luật khách quan mà con người chưa nhận thức được, nênnhiều khi quy về thần thánh, số mệnh)
Càng nhận thức và vận dụng được quy luật khách quan thì con người càng thoátkhỏi sự chi phối của cái tất yếu mù quáng, càng phát huy được sự tự do sáng tạo tronghoạt động của mình; thực hiện bước nhảy từ vương quốc của tất yếu sang vương quốccủa tự do
1 Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại